Đề Thi Học Sinh Giỏi Sinh Học 10

--- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Môn Sinh Học 12 Bài 1
  • Sự Khác Biệt Giữa Topoisomerase I Và Ii
  • Nhân Đôi Adn Nhan Doi Adn Ppt
  • Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Hóa Học Của Adn
  • Trình Bày Cấu Trúc Hóa Học Và Chức Năng Của Phân Tử Atp
  • HƯỚNG DẪN GIẢI

    1. Cấu trúc của ADN:

    + Được cấu tạo bởi 4 nguyên tốchủ yếu là c, H, o, N.

    + Đơn phân là nuclêôtit với 3 thành phần: Axit phôtphoric (H3PO4), đường deoxiribôzơ (C5H10O4), bazơ nitric (A hoặc T hoặc G hoặc X).

    + Có 4 loại đơn phân khác nhau bởi bazơ nitric là Ađênin (A); Timin (T); Guanin (G); Xitôzin (X).

    + Trên mạch đơn, các đơn phân nối nhau bằng liên kết phôtphodiestc.

    + Trên hai mạch, các nuclêôtit đứng đối diện nhau từng đôi, nôì nhau bằng liên kết hidrô yếu và theo nguyên tắc bổ sung sau:

    * Giữa A và T có 2 liên kết hidrô.

    * Giữa G và X có 3 liên kết hidrô.

    + Hai mạch ngược chiều nhau, xoắn phải, đường kính 20 A, mỗi vòng xoắn dài 34 A.

    + ở tế bào nhân thực, ADN có mạch thẳng; ở tế bào nhân sơ, ADN mạch vòng.

    2. Chức năng ADN:

    + ADN lưu trữ, bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền ở cấp độ phân tử.

    + Thông tin di truyền trộn mạch mã gốc của ADN qui định trình lự các

    ribônuclêôtit trên ARN, từ đó qui định trình tự các axit amin của prôtêin và biểu

    hiện thành tính trạng ở cơ thể sinh vật.

    Câu 8. Trình bày cấu trúc và chức năng của ARN.

    HƯỚNG DẪN GIẢI

    Cấu trúc của ARN:

    Được cấu tạo bởi 4 nguyên tô”chính: c, H, o, N.

    – Đơn phân là ribônuclêôtil với 3 thành phần: Axit phôtphoric (H3PO4), đường ribôzơ (C5H10O5), bazơ nitric (A hoặc u hoặc G hoặc X)

    – Có 4 loại ribônuclêôlit phân biệt nhau bởi bazơ nitric là: Ađênin (A); Uraxin (U); Guanin (G), Xlôzin (X).

    – Có 3 loại ARN là ARN thông tin (mARN); ARN vận chuyển (tARN) và ARN ribôxôm (rARN).

    – Các A

    RN đều chỉ có 1 mạch đơn.

    – mARN có từ hàng trăm đến hàng nghìn đơn phân.

    – tARN có từ 80 – 100 đơn phân, đầu mang bộ ba đôi mã, đầu kia mang bộ gắn với axit amin.

    – rARN có từ hàng trăm đến hàng nghìn đơn phân, trong đó có 70% ribônuclcôtit có liên kết bổ sung.

    2. Chức năng ARN:

    a) mARN: Truyền đạt thông tin di truyền từ nhân tế bào ra tế bào chất dưới dạng bản phiên mã.

    b) tARN: Vận chuyển axit amin đến ribôxôm.

    c) rARN: Là thành phần chủ yếu của ribôxôm, nơi tổng hợp prôtêin.

    Câu 9. So sánh ADN và mARN về cấu trúc và chức năng.

    HƯỚNG DẪN GIẢI

    – Đều được cấu tạo bởi 4 nguyên tố chính là c, H, o, N.

    – Đều là hợp chất cao phân tử sinh học, được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân.

    1 Đều là axit hữu cơ.

    – Đều có 4 loại đơn phân.

    – Mỗi đơn phân đều có 3 thành phần: Axit phôtphoric (H3PO4); đường pcntôxơ (có 5C); bazđ nitric giống nhau là A, G, X.

    – Trong mỗi chuỗi pôlinuclêôtit đều có liên kết phôtphodieste giông nhau.

    – Đều tham gia vào quá trình tổng hợp prôtêin cho tế bào.

    Những điểm khác nhau:

    a) về cấu trúc:

    ADN mARN

    – Gồm hai mạch đơn.

    – Đơn phân là nuclêôtit.

    – 4 loại nuclêôtit là A, T, G, X.

    – Mỗi đơn phân có đường C5H10O4

    – Có T không có u

    – Có liên kết hidrô và biểu hiện nguyên tắc bổ sung. – Một mạch đơn.

    – Đơn phân là ribônuclêôtit.

    – 4 loại rinuclêôtit là A, u, G, X.

    – Mỗi đơn phân có đường C5H10O5

    – Có u không có T

    – Không có.

    b) về chức năng:

    ADN mARN

    – Là bản mật mã có vai trò chủ đạo trong quá trình tổng hợp prôtêin qua cơ chế phiên mã.

    – Có khả năng tự nhân đôi, phân li và tổ hợp trong quá trình di truyền.

    – Gen tự nhân đôi cần enzim ADN pôlymêra và các ribônuclêôtit tự do – Là bản phiên mã có vai trò chủ động trong việc qui định trình tự các axit amin trong phân tử qua cơ chế dịch mã.

    – Không có.

    – ARN dịch mã cần ribôxôm tiếp xúc, nguyên liệu là axit amin, enzim và năng lượng là ATP.

    Câu 10. So sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa ADN và prôtêin về mặt cấu trúc và chức năng.

    Câu 11. Tại sao chỉ có 4 loại nuclêôtìt đã tạo ra vô số gen khác nhau?

    HƯỚNG DẪN GIẢI

    1. Gen là gì?

    – Gen là một đoạn ADN thực hiện chức năng di truyền.

    – Trong ADN có 3 loại gen: Gen cấu trúc, gen khởi động, gen điều hòa.

    – Gen cấu trúc là một đoạn ADN mang thông tin di truyền về cấu trúc một loại protein đặc trưng nào đó.

    – Gen có thể trong nhân hay tế bào chất, gen có thể trên NST thường hay NST giới tính, gen có thể trội hoặc lặn, trội hoàn toàn hay trội không hoàn toàn.

    – Gen có thể bị đột biến trở thành alen của gen đó, mỗi gen có thể có một hay vài alen.

    2. Chỉ số 4 lọai nuclêôtit tạo ra vô số gen:

    – Mã di truyền là mã bộ ba: cứ một dãy gồm 3 nuclêôtit kế tiếp nhau trong gen qui định 1 axit amin.

    * Nếu là mã bộ một: 4 loại nuclêôtit chỉ qui định được 4 loại axit amin (vô lí).

    * Nếu là mã bộ hai: 4 loại nuclêôtit sẽ có 42 = 16 tổ hợp các bộ 2, qui định 16 loại axit amin (vô lý).

    * Nếu là mã bộ ba: Từ 4 loại nuclêôtit có 43 = 64 tổ hợp các bộ ba dư thừa để qui định 20 loại axit amin. Do vậy có loại axit amin được nhiều bộ ba qui định.

    Ví dụ: Trong 20 loại axit amin có 2 loại được mã hóa bằng một bộ ba là Mêtiônin, Trytôphan, 5 loại axit amin được mã hóa bằng 4 bộ ba: Valin, Alanin, Glyxin, Prôtêinôlin, Trêồnin…

    – Sự tổ hợp 64 bộ ba theo thành phần, sô” lượng, trình tự khác nhau tạo ra vô số các loại gen khác nhau. Đây là cơ sở để giải thích tính đa dạng của protein.

    – Trong 64 bộ ba, bộ ba mở đầu là TAX, 3 bộ ba làm nhiệm vụ kết thúc là: ATT, ATX, AXT (trong mARN là ƯAA, UAG, UGA).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Do You Know Sự Khác Nhau Giữa Dna Và Rna? ·
  • Sự Giống Nhau Của Dna Và Rna. Đặc Điểm So Sánh Về Dna Và Rna: Bảng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna Và Rna (Bảng)
  • Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dna (2)
  • Nhận Định Đề Thi Văn Kỳ Thi Học Sinh Giỏi Thpt 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Thẩm Mỹ Của Các Đặc Điểm Ngôn Ngữ Và Ví Dụ / Văn Học
  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “văn Học Nghệ Thuật”
  • Phát Huy Vai Trò Của Văn Học Nghệ Thuật Trong Việc Bồi Đắp, Xây Dựng Đạo Đức Con Người Việt Nam Hiện Nay
  • 110 Nhận Định Hay Về Thơ Ca Cần Nhớ Để Trích Dẫn Vào Bài Làm Văn
  • Vh Hiện Thực Phê Phán
  • Cô Trịnh Thu Tuyết, giáo viên Ngữ văn, hệ thống giáo dục Học Mãi cho rằng, câu nghị luận xã hội khá thú vị bởi cách nhìn ra vấn đề độc đáo từ nhan đề một cuốn sách dịch “Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế” thay vì những danh ngôn, quan niệm, hay những câu chuyện… như phần lớn các đề quen thuộc.

    “Thành công” và “tử tế” là hai vấn đề thường xuất hiện độc lập trong nhiều đề thi, bài viết – sự kết nối giữa chúng với nhau trong mối quan hệ nhân quả chính là góc nhìn tạo hứng thú cho học trò trong thời đại của các trào lưu Startup và “việc tử tế” – đăc biệt khi người ta nói nhiều tới “việc tử tế” như một tín hiệu cho thấy cuộc sống đang thiếu vắng điều này, và nhiều thành công bất chấp cả đạo lý lẫn pháp lý.

    Câu lệnh yêu cầu trình bày “suy nghĩ của anh/chị về ‘con đường’ này” mở ra nhiều khả năng kiến giải – dù có thể thấy trước hướng khẳng định sẽ chiếm tuyệt đại đa số khi làm bài, bởi học trò không khó khăn để nhận ra tính đúng đắn của sự tử tế. Tuy nhiên, đề bài vẫn mở ra những khoảng trống của thử thách giúp phân loại bài viết nhằm tới cái đúng đương nhiên, an toàn với những bài viết thể hiện hiểu biết xã hội sâu rộng, thể hiện trăn trở suy tư thấu đáo trước mối quan hệ giữa lẽ phải với thực tế cuộc sống nhiều khi trái ngược. Học sinh sẽ thể hiện kiến thức đời sống xã hội, năng lực lý giải và nhất là bản lĩnh tự chủ của mình khi đặt được vấn đề về nghịch lý và hướng giải quyết nghịch lý khi sống tử tế, trung thực thường thua thiệt, thậm chí thất bại.

    Tuy nhiên, cũng vì nghịch lý này đang trở thành lẽ đương nhiên trong thưc tế cuộc sống nên nếu học sinh không có tầm nhìn sâu rộng, không có khả năng lý giải, lập luận đề bài dễ đưa tới những bài văn viết như nghị quyết hay bài giáo dục công dân.

    Câu nghị luận văn học đề cập vấn đề quen thuộc của lý luận văn học là chức năng văn học, đặt vấn đề cụ thể về khả năng của văn học nhằm “giúp con người hóa giải những áp lực” trong cuộc sống. Với yêu cầu này của đề bài, học trò phải nắm chắc và đề cập được tất cả chức năng của văn học, từ nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ cho tới giao tiếp, giải trí…

    Thử thách của đề bài không chỉ dừng lại ở phần kiến thức khá nặng của lý luận văn học vốn trừu tượng với các em mà còn hiện hữu chủ yếu ở cách xử lý mảng kiến thức ấy khi kết hợp với những minh chứng qua văn chương; thậm chí, khó khăn còn xuất hiện ngay trong mảng kiến thức đời sống khi các em đề cập tới những áp lực của đời sống tinh thần.

    Khoảng trống trong dư địa vấn đề của câu nghị luận văn học có phần rộng hơn câu nghị luận xã hội khi học sinh có thể đặt vấn đề phản biện về khả năng hóa giải áp lực tinh thần của văn chương, trong khi vấn đề về sự tử tế để thành công rất khó phản biện mà không chạm tới hàng rào đạo lý. Thậm chí, nếu một số em cảm thấy sự bất lực của văn học với những áp lực ngày càng nặng nề trong cuộc sống thời hiện đại, các em có thể đặt ra những vấn đề lớn hơn về môi trường sống, môi trường xã hội – cội nguồn của văn học.

    Hơn nữa xưa nay, dù được coi là phương tiện “chở đạo/ đâm gian”, văn chương vẫn chỉ là sự ánh chiếu cuộc sống, có thể phản ánh, khơi thức, dự báo… nhưng thật khó để hoá giải. Đây cũng là sự thật mà không nhiều học trò có thể đề cập.

    Thế Đan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Quốc Gia Nói Về “con Đường Thành Công Bằng Sự Tử Tế”
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Văn : Văn Học Làm Cho Con Người Thêm Phong Phú
  • Tổng Hợp Những Đoạn Trích Dẫn Hay Và Độc Đáo Trong Các Tác Phẩm Văn Học
  • 999+ Những Câu Nói Hay Về Gia Đình ❤️❤️❤️ Nên Đọc
  • Những Câu Nói Hay Về Văn Học: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Đề Thi Chọn Học Sinh Giỏi Môn: Ngữ Văn 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Chu Mạnh Trinh
  • Nêu Giá Trị Nội Dung Và Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Văn Bản Cổng Trường Mở Ra
  • Hướng Dẫn Soạn Người Lái Đò Sông Đà Dễ Hiểu
  • Giáo Án Ngữ Văn 6
  • UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ------------------------------ ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI MÔN: NGỮ VĂN LỚP 7 Thời gian : 120 phút ( Không kể thời gian giao đề) Câu 1 : ( 3 đ ) Trong văn bản mùa xuân của tôi của tác giả Vũ Bằng , nhà văn chủ yếu sử dụng các biện pháp nghệ thuật nào trong việc miêu tả mùa xuân ? nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó . Câu 2: (7 điểm) Đánh giá về ca dao, có ý kiến cho rằng: “Ca ngợi tình cảm gia đình đằm thắm, tình yêu quê hương đất nước thiết tha là một nội dung đặc sắc của ca dao”. Qua các bài ca dao đã học và những hiểu biết của em về ca dao, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. ------------------- Hết --------------------- UBND HUYỆN THỦY NGUYÊN PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO --------------------------- HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HSG MÔN : NGỮ VĂN LỚP 7 Câu Đáp án Điểm 1 Nhà văn Vũ Bằng sử dụng kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật trong khi miêu tả cảnh mùa xuân . Đầu tiên là phép lặp từ ngữ : đừng thương , ai cấm . Nhiều dấu phẩy và dấu chấm phẩy tạo các câu văn ngắn đầy cảm xúc , lời văn tha thiết , mềm mại để nhẫn mạnh tình cảm của con người dàn cho mùa xuân ; khẳng định tình cảm mùa xuân là qui luật không thể khác . -Tác giả dùng phép liệt kê để tả : đó là mùa xuân rất riêng , mùa xuân ở trong tôi , do tôi cảm nhận : có mưa riêu riêu , gió lành lạnh : Có tiếng nhận kêu ; Có trống chèo có câu hát huê tình Biện pháp liệt kê nhấn mạnh các đấ hiệu điển hình của mùa xuân đất Bắc . - Cuối cùng nhà văn sử dụng hình thức so sánh : So sánh giai điệu sôi nổi , êm ái thiết tha của mùa xuân để diễn tả sinh động hấp dẫn sức sống mùa xuân . Qua đó nhà văn thể hiện sự hân hoan , biết ơn thương nhớ mùa xuân đất Bắc . 1đ 1đ 1đ 2 1) Yêu cầu: a/ Về hình thức: Học sinh hiểu đúng yêu cầu của đề bài, biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí, diễn đạt tốt, trôi chảy, có cảm xúc. b/ Về nội dung: Học sinh trình bày trên cơ sở hiểu biết về ý nghĩa của ca dao, làm nổi bật được: “Tình cảm gia đình đằm thắm, tình yêu quê hương đất nước” trong ca dao. A. Mở bài : Dẫn dắt vấn đề - Trích dẫn ý kiến B. Thân bài : (6đ ) * Giải thích: Nước ta có một nền văn hóa nước lâu đời. Cuộc sống của nhân dân luôn gắn liền với làng quê, cây đa, bến nước, con đò và đồng quê thẳng cánh cò bay. Từ khi cất tiếng khóc chào đời người nông dân xưa đã gắn bó với làng quê và với họ ca dao là những câu hát dân gian phản ánh tâm tư, tình cảm trong đời sống , trong lao động, là “ bài ca sinh ra từ trái tim.” Qua ca dao, họ gửi trọn tình yêu cho những người thân ruột thịt của mình, cho ruộng đồng, lũy tre, cho quê hương, đất nước. * Chứng minh tình cảm trong ca dao được thể hiện: Tình cảm gia đình đằm thắm được ca dao thể hiện qua: + Lòng kính yêu với ông bà, cha mẹ. (dẫn chứng – phân tích) + Tình cảm anh em, tình nghĩa vợ chồng. (dẫn chứng – phân tích) Tình yêu quê hương đất nước được ca dao thể hiện qua: + Lòng tự hào yêu mến, gắn bó với xóm làng thân thuộc, với cảnh vật tươi đẹp của quê hương, đất nước. (dẫn chứng – phân tích) + Niềm tự hào, yêu mến, gắn bó với nếp sống, phong tục, tập quán tốt đẹp và những địa danh nổi tiếng của đất nước. (dẫn chứng – phân tích) Þ Đánh giá: Tình cảm gia đình đằm thắm và tình yêu quê hương đất nước được nhân dân ta thể hiện trong ca dao rất phong phú và đa dạng. Nó được thể hiện ở nhiều phương diên, nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Đọc ca dao ta không chỉ hiểu, yêu mến, tự hào về phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình, về cảnh đẹp làng quê, non sông đất nước mình mà còn cảm phục, trân trọng tình nghĩa sâu nặng, cao đẹp của người dân lao động. C. Kết bài : - Khẳng định ý nghĩa của ca dao . - Liên hệ cảm nghĩ bản thân . (Lưu ý: Học sinh phải biết lựa chọn và phân tích dẫn chứng phù hợp với luận điểm. Việc phân tích mỗi dẫn chứng phải thể hiện được các ý nhỏ trong luận điểm và thể hiện được khả năng cảm nhận văn học) 2) Thang điểm - Điểm 7: Đáp ứng được những yêu cầu nêu trên. Văn viết có cảm xúc, dẫn chứng phong phú, phân tích và bình giá tốt, làm nổi bật được trọng tâm, diễn đạt trong sáng. Có thể còn một vài lỗi nhỏ. - Điểm 6: Cơ bản đáp ứng được những yêu cầu nêu trên, phân tích và bình giá chưa thật sâu sắc. - Điểm 4: Bài làm có bố cục, có luận điểm nhưng dẫn chứng chưa phong phú, văn viết chưa hay, còn một vài lỗi về diễn đạt, dùng từ, đặt câu. - Điểm 2: Bài làm thể hiện được luận điểm nhưng dẫn chứng quá sơ sài hoặc chưa lấy được dẫn chứng, chỉ bàn luận chung chung, dẫn chứng mang tính liệt kê. Bố cục lộn xộn, mắc nhiều lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu. - Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc cả về nội dung và phương pháp. Các điểm 1,3, 5: Giám khảo cân nhắc các mức thang điểm trên cho điểm phù hợp. 0, 5 đ 1đ 1đ 1đ 1đ 1đ 1đ 0,5 đ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Khối 11
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Giúp Học Sinh Lớp 4 Học Thể Loại Văn Miêu Tả Đạt Hiệu Quả Cao
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 4 Viết Văn Miêu Tả
  • Soạn Bài Sóng Hay Và Chuẩn Nhất
  • Soạn Bài: Hịch Tướng Sĩ – Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Phương Pháp Ôn Thi Học Sinh Giỏi Môn Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Hỗ Trợ Giúp Học Sinh Học Tốt Phân Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tổ Chức Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Môn Ngữ Văn Khối 6 Ở Trường Thcs Đông Nam– Đông Sơn
  • Những Biện Pháp Được Cho Phép Để Di Chuyển Các Sản Phẩm Là Ký Chủ Của Ruồi Đục Trái Queensland (Qfly) Trong Phạm Vi Tiểu Bang
  • An Toàn Lao Động Và Những Biện Pháp Cần Biết Để Đảm Bảo An Toàn Trong Lao Động
  • Công Tác An Toàn Lao Động, Vệ Sinh Lao Động Tại Các Đơn Vị Trực Thuộc Bộ Y Tế, Một Số Vấn Đề Cần Quan Tâm – Vihema
  • gia su mon van là dành cho bạn. 

    Môn văn luôn là một trong những môn chính yếu trong suốt những năm học của học sinh. Phần lớn học sinh đều cho rằng đây là môn học khó dành được điểm cao nhưng vẫn có rất nhiều học sinh bộc lộ năng khiếu thông qua các kì thi cử ở trường và kì thi học sinh giỏi môn văn. Để có thể đạt được kết quả cao ở kì thi học sinh giỏi môn văn – nơi hội tụ rất nhiều bạn trẻ cùng có năng khiếu về bộ môn này như nhau, bạn cần phải có chiến lược và phương pháp ôn thi hiệu quả. Chính điều này sẽ góp phần giúp bạn vượt qua những thí sinh khác và đạt được mục tiêu như ý muốn. Nếu bạn đang muốn tìm hiểu về phương pháp ôn thi học sinh giỏi môn văn thì bài viết này củalà dành cho bạn.

     

    Cách ôn thi học sinh giỏi môn Văn hay

    Cách ôn thi học sinh giỏi môn Văn hay

     

    Xác định rõ mục tiêu ôn thi

     

    Chúng ta phải thừa nhận tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu khi làm bất kì điều gì đó. Việc xác định mục tiêu sẽ giúp bạn định hướng sẵn điều bạn muốn đạt được. Từ đó, bạn sẽ phải suy nghĩ cách để đạt được mục tiêu lớn ấy và tự động viên bản thân tuân thủ nghiêm ngặt cách thức đó. Đối với môn văn cũng tương tự như vậy. Bạn phải xác định rõ mục tiêu ngay từ đầu. Nếu bạn chỉ muốn tham gia kì thi này như một trải nghiệm nho nhỏ của bản thân thì bạn sẽ có cách ôn luyện vừa đủ để xem kì thi ấy như một sân chơi bổ ích. Còn nếu bạn xác định mục tiêu là đạt thành tích cao trong kì thi học sinh giỏi môn văn thì bạn cần nỗ lực ôn luyện và thực sự nghiêm túc trong suốt quá trình này.

     

    Ngoài việc xác định rõ mục tiêu, bạn còn cần chia nhỏ mục tiêu lớn ấy thành những mục tiêu chi tiết hơn. Tức là bạn cần có lịch trình để ôn luyện môn văn theo từng tháng, từng tuần, từng ngày. Mỗi cột mốc thời gian tương ứng với một phần kiến thức của môn văn nhất định. Việc chia nhỏ mục tiêu lớn thành những mục tiêu nhỏ hơn sẽ giúp bạn có thêm động lực để hoàn thành kế hoạch ôn thi này. Đồng thời, điều này còn giúp bạn sử dụng thời gian hợp lí và hiệu quả. Tránh tình trạng học dồn vào thời điểm cận thi khiến kết quả thi cử không đạt được như ý muốn và sức khỏe cũng không ổn định. 

     

    Kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn văn

    Kinh nghiệm ôn thi học sinh giỏi môn văn

     

    Xây dựng niềm tin cho bản thân mình

     

    Bạn sẽ không thể đạt được thành tích cao trong kì thi học sinh giỏi môn văn nếu như ngay chính bản thân bạn còn không tin rằng điều ấy sẽ xảy ra. Do đó, điều tiếp theo bạn nên làm là tin tưởng bản thân mình có thể đạt được mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra, việc tin tưởng vào bản thân còn giúp bạn có thêm sự tự tin và quyết tâm hoàn thành tốt bài thi học sinh giỏi môn văn của mình. Bạn chỉ cần cố gắng hết sức và không bỏ cuộc trong thời gian ôn luyện, cho dù bạn không đạt được thành tích cao đi nữa, bạn dường như đã thành công rồi đấy. 

     

    Chăm chỉ, cần cù

     

    Chắc rằng bạn đã luôn nghe câu nói “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Do đó, phương pháp ôn học sinh giỏi môn văn dù đặc thù như thế nào đi nữa thì vẫn phải đề cập đến sự chăm chỉ, cần cù trong thời gian ôn thi. Theo đó, bạn nên đi học đầy đủ tất cả các buổi ôn luyện để nắm bắt trọng tâm của bài học qua lời giảng của quý thầy cô. Đồng thời, chịu khó dành thời gian hoàn thành các yêu cầu của thầy cô giáo luyện thi cho bạn. Ngoài ra, bạn còn cần tìm thêm sách, báo, truyện, v.v… của nhiều tác giả để mở mang kiến thức cũng như cách hành văn, trau dồi thêm ngôn từ cho mình. Đặc biệt, bạn còn cần phải chăm viết. Thông qua mỗi lần viết, bạn sẽ nhận ra nhiều khuyết điểm trong bài văn của mình. Chẳng hạn về lỗi ngữ pháp, lỗi chính tả, thiếu ý, v.v…

     

    Cách học giỏi môn văn tại nhà

    Cách học giỏi môn văn tại nhà

     

    Học hiểu thay vì học thuộc lòng

     

    Những năm gần đây, trong giáo dục đã đề cao tầm quan trọng của sự học hiểu. Mặc dù học thuộc lòng để viết cũng không hẳn là sai nhưng nó khiến bạn chỉ thực sự nhớ về tác phẩm ấy trong một thời gian rất ngắn. Bên cạnh đó, nếu như bạn quên đi bất kì một đoạn văn nào đó trong bài, bạn sẽ rất khó để nhớ tiếp tục các đoạn văn còn lại. Trong khi đó, cuộc thi học sinh giỏi vô cùng áp lực nên sẽ có những giây phút bạn căng thẳng đến mức quên hết những gì đã học thuộc sẵn. Để khắc phục tình trạng này, bạn nên học hiểu vấn đề. Hiểu những chi tiết nhỏ nhặt trong tác phẩm. Chỉ khi bạn thực sự hiểu ý nghĩa của nó, bạn mới thăng hoa trong lúc phân tích tác phẩm ấy. Có như thế, bài làm của bạn mới chính là tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân của bạn. 

     

     

    Dành thời gian luyện đề thi các năm trước

     

    Việc giải đề thi sẽ giúp bạn ước chừng được năng lực của bản thân. Bạn có thể thấy rõ trong khoảng thời gian quy định, bạn có thể hoàn thành được đề thi đến mức độ nào. Ngoài ra, việc tham khảo nhiều đề thi còn giúp bạn nắm được cấu trúc, nội dung cần lưu ý. Dành thời gian luyện đề thi học sinh giỏi sẽ giúp bạn có thêm tự tin và kịp thời bổ sung những kiến thức cần phải tìm hiểu thêm. 

     

    Trịnh Hàn Kim Ngọc

     

    Phương pháp ôn thi học sinh giỏi môn văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Và Phương Tiện Tu Từ Thường Gặp Ôn Thi Thpt Quốc Gia Văn
  • 3. Rèn Luyện Cơ Thể Cho Trẻ Bằng Các Yếu Tố Tự Nhiên
  • Bài Văn Hay Tả Con Mèo Nhà Em
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Tại Trường Mầm Non Xuân Thượng
  • Tăng Cường Đảm Bảo Vệ Sinh Môi Trường Và An Ninh, An Toàn Cho Người Dân, Du Khách
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Câu Hỏi Lý Thuyết Phần Adn Và Gen

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna 1Dna Structure And Propeties Ppt
  • Bai 6. Axit Nucleic Bai6S10 Ppt
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dna (2)
  • Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna Và Rna (Bảng)
  • Đề thi:

    Câu 1: Trình bày cấu trúc và chức năng của ADN.

    Câu 2: Trình bày cấu trúc và chức năng của ARN.

    Câu 3: So sánh quá trình nhân đôi ADN với quá trình sao mã.

    Câu 4: Trình bày cấu trúc của Prôtêin.

    Câu 5: Trình bày chức năng của prôtêin.

    Đáp án:

    Câu 1: Trình bày cấu trúc và chức năng của ADN.

    Hướng dẫn trả lời

    • ADN là phân tử được cấu tạo từ các nguyên tố hoá học c, H, o, N, p.
    • ADN là một đại phân tử có cấu trúc đa phân, đơn phân là 4 loại nuclêôtit A, T, G, X.
    • Trong 4 loại nuclêôtit thì 2 loại A và G có kích thước lớn. Hai loại T và có kích thước bé.
    • ADN gồm 2 mạch pôlinuclêôtit chạy song song ngược chiều, xoắn đều theo chiều từ trái sang phải. Chiều rộng của chuỗi xoắn kép bằng 20Â, mỗi chu kỳ xoắn có 10 cặp nuclêôtit có chiều cao 34A.
    • Hai mạch của ADN liên kết bổ sung với nhau. A liên kết với T bằng 2 liên kết hiđrô, G liên kết với bằng 3 liên kết hiđrô.
    • ADN có kích thước và khối lượng lớn. ADN có tính đa dạng và đặc trưng cho loài.
    • ADN có chức năng lưu giữ, bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền.

    Câu 2: Trình bày cấu trúc và chức năng của ARN.

    Hướng dẫn trả lời

    • ARN là phân tử được cấu tạo từ các nguyên tố hoá học c, H, o, N, p.
    • ARN là một đại phân tử có cấu trúc đa phân, đơn phân là 4 loại nuclêôtit A, Ư, G, X.
    • Trong 4 loại nuclêôtit thì 2 loại A và G có kích thước lớn. Hai loại u và có kích thước bé.
    • ARN chỉ có 1 mạch pôlinuclêôtit.
    • ARN có kích thước và khối lượng lớn.
    • Có nhiều loại ARN với cấu tạo và chức năng khác nhau.

    + ARN thông tin (ARNm): Có chức năng mang thông tin để tổng hợp prôtêin.

    + ARN vận chuyển (ARNt): Có chức năng vận chuyển axit amin.

    + ARN ribôxôm (ARNr): có chức năng cấu trúc nên ribôxôm.

    Câu 3: So sánh quá trình nhân đôi ADN với quá trình sao mã.

    Hướng dẫn trả lời

    • Đều được tổng hợp dựa trên khuôn mẫu của phân tử ADN dưới tác dụng của các enzim.
    • Đều xảy ra ở kì trung gian, lúc NST ờ dạng sợi mảnh.
    • Đều có hiện tượng 2 mạch đơn ADN tách nhau ra.
    • Đều diễn ra sự liên kết giữa các nuclêôtit của môi trường nội bào với các nuclêôtit trên mạch ADN theo nguyên tắc bổ sung.

    Quá trình tự nhân đôi ADN

    Quá trình tổng họp ARN

    – Xảy ra trên toàn bộ phân tử ADN.

    – Cả 2 mạch của ADN đều làm mạch khuôn để tổng hợp nên mạch mới.

    – Nguyên liệu dùng để tổng hợp mạch mới là 4 loại nuclêôtit: A, T, G, X

    – Mạch mới được tổng hợp sẽ liên kết với mạch khuôn của ADN mẹ để tạo thành phân tử ADN con.

    – Mỗi lần nhân đôi tạo ra 2 phân tử ADN con giống nhau và giống với ADN mẹ.

    – Tổng hợp dựa trên 3 nguyên tắc là: nguyên tắc bổ sung, nguyên tắc khuôn mẫu và nguyên tắc bán bảo toàn.

    – Xảy ra trên 1 đoạn của ADN tương ứng với 1 gen nào đó.

    – Chỉ có 1 mạch của gen trên ADN làm mạch khuôn.

    – Nguyên liệu để tổng hợp là 4 loại nuclêôtit: A, u, G, X.

    – Mạch ARN sau khi được tổng hợp sẽ rời nhân ra tế bào chất để tham gia vào quá trình tổng hợp prôtêin.

    – Mỗi lần tổng hợp chỉ tạo ra 1 phân tử ARN.

    – Tổng hợp dựa trên 2 nguyên tắc là: nguyên tắc bổ sung và nguyên tắc khuôn mẫu.

    • Prôtêin là phân tử được cấu tạo từ các nguyên tố hoá học c, H, o, N.
    • Prôtêin là một đại phân tử có cấu trúc đa phân, đơn phân là 20 loại axit amin.
    • Các axit amin liên kết với nhau bằng liên kết peptit giữa nhóm -COOH của axit amin này với nhóm -NH2 của axit amin kế tiếp tạo nên chuỗi axit amin.
    • Mỗi prôtêin được cấu tạo từ 1 hay nhiều chuỗi axit amin.
    • Prôtêin có cấu trúc không gian tối đa 4 bậc.

    Hướng dẫn trả lời

    + Cấu trúc bậc 1: Các axit amin liên kết với nhau bởi liên kết peptit hình thành chuỗi polypeptit. Cấu trúc bậc 1 được duy trì và giữ vững nhờ liên kết peptit.

    + Cấu trúc bậc 2: Do cấu trúc bậc 1 xoắn anpha hoặc gấp nếp bêta tạo nên cấu hình mạch polypeptií trong không gian, cấu trúc bậc 2 được duy trì nhờ các liên kết hiđrô giữa các axit amin ở gần nhau.

    + Cấu trúc bậc 3: Do cấu trúc bậc 2 tiếp tục co xoắn theo kiểu đặc trưng cho mỗi loại prôtêin tạo nên phân tử prôtêin trong không gian ba chiều, cấu trúc bậc 3 được duy trì nhờ các liên kết hiđrô hoặc liên kết (-S-S-).

    + Cấu trúc bậc 4: Hai hay nhiều chuỗi polypeptit liên kết với nhau tạo nên cấu trúc bậc 4.

    Câu 5: Trình bày chức năng của prôtêin.

    Hướng dẫn trả lời

    • Là thành phần quan trọng cấu trúc nên tế bào, cơ thể.
    • Là thành phần tham gia vào các hoạt động sống của tế bào, cơ thể như:

    Prôtêin có các chức năng:

    + Là enzim làm nhiệm vụ xúc tác cho các phản ứng.

    + Là hooc môn điều hoà quá trình trao đổi chất.

    + Là kháng thể chống lại các vi sinh vật gây bệnh.

      Làm nhiệm vụ dự trữ năng lượng. Ví dụ prôtêin có trong trứng gà dự trữ năng lượng để nuôi phôi gà.

    + Làm nhiệm vụ vận chuyển các chất,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gen & Adn Bai17 Moiquanhegiuagenvaarn Ppt
  • Tìm Hiểu Về Nucleic Axit, Chức Năng Của Họ, Ví Dụ, Và Monomer ·
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Acid Nucleic
  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”
  • Một Số Phương Pháp Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Quốc Gia Nói Về “con Đường Thành Công Bằng Sự Tử Tế”

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Định Đề Thi Văn Kỳ Thi Học Sinh Giỏi Thpt 2022
  • Chức Năng Thẩm Mỹ Của Các Đặc Điểm Ngôn Ngữ Và Ví Dụ / Văn Học
  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “văn Học Nghệ Thuật”
  • Phát Huy Vai Trò Của Văn Học Nghệ Thuật Trong Việc Bồi Đắp, Xây Dựng Đạo Đức Con Người Việt Nam Hiện Nay
  • 110 Nhận Định Hay Về Thơ Ca Cần Nhớ Để Trích Dẫn Vào Bài Làm Văn
  • Đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2022-2020 môn Văn yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ về “con đường” trong cuốn sách “Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế” của doanh nhân người Nhật Inamori Kazuo.

    Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2022-2020 diễn ra từ ngày 27 đến ngày 29.12.2019.

    Ngày 27.12, học sinh đã thi viết các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc và thi lập trình trên máy vi tính môn Tin học.

    Với môn Văn, đề thi được nhận xét là khá thú vị khi yêu cầu học sinh nêu suy nghĩ về việc đi đến thành công bằng sự tử tế.

    Theo đó, đề thi Văn gồm 2 câu. Câu 1 (nghị luận xã hội), đề yêu cầu bày tỏ suy nghĩ về “con đường” trong nhan đề bản dịch tiếng Việt cuốn sách của Inamori Kazuo – một doanh nhân người Nhật, qua câu: “Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế”.

    Câu 2 (nghị luận văn học) đề yêu cầu trả lời cho câu chuyện, trong thời đại ngày nay, liệu văn học có khả năng giúp con người hóa giải được những áp lực trong đời sống tinh thần?

    Nhận định về đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm nay, cô Trịnh Thu Tuyết (từng là giáo viên dạy Văn, Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội), giáo viên hệ thống giáo dục HOCMAI – cho biết, cả hai câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học đều đặt ra những vấn đề quen thuộc mà không bao giờ nhàm chán của cuộc sống và văn chương.

    Câu nghị luận xã hội khá thú vị bởi nhiều lẽ. Trước hết là cách nhìn ra vấn đề khá độc đáo từ nhan đề một cuốn sách dịch “Con đường đi đến thành công bằng sự tử tế” thay vì những danh ngôn, quan niệm, hay những câu chuyện… như phần lớn các đề quen thuộc. Với câu hỏi này, học sinh có nhiều cách viết, kể cả góc nhìn phản biện.

    “Thành công và “tử tế” là hai vấn đề thường xuất hiện độc lập trong rất nhiều đề thi. Vì vậy, khi kết nối chúng với nhau trong mối quan hệ nhân quả sẽ tạo hứng thú cho học trò, đặc biệt trong thời đại của các trào lưu Startup và “việc tử tế” đang lên ngôi.

    Khi người ta nói nhiều tới “việc tử tế” như một tín hiệu cho thấy cuộc sống đang thiếu vắng sự tử tế và nhiều thành công bất chấp cả đạo lí lẫn pháp lí.

    Với đề thi này, học sinh sẽ thể hiện kiến thức đời sống xã hội, năng lực lí giải” – cô Trịnh Thu Tuyết cho biết.

    Với câu nghị luận văn học, đề thi nói đến vấn đề quen thuộc của lí luận văn học là chức năng văn học, đặt vấn đề cụ thể về khả năng của văn học nhằm “giúp con người hóa giải những áp lực” trong cuộc sống. Với yêu cầu này của đề bài, học trò phải nắm chắc và đề cập được tất cả các chức năng của văn học, từ nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, cho tới giao tiếp, giải trí…

    Với đề bài này, cô Tuyết cho rằng về cơ bản có khả năng khơi gợi hứng thú và suy nghĩ độc lập cho học trò, dù vẫn có khả năng tạo ra một loạt những bài viết… “như chân lí”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Văn : Văn Học Làm Cho Con Người Thêm Phong Phú
  • Tổng Hợp Những Đoạn Trích Dẫn Hay Và Độc Đáo Trong Các Tác Phẩm Văn Học
  • 999+ Những Câu Nói Hay Về Gia Đình ❤️❤️❤️ Nên Đọc
  • Những Câu Nói Hay Về Văn Học: 50+ Danh Ngôn Hay
  • Lí Luận Vh: Chức Năng Của Văn Nghệ
  • Báo Cáo Chuyên Đề; Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi, Hs Năng Khiếu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Giúp Học Sinh Ham Thích Đọc Sách
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 2 Hứng Thú Và Ham Thích Đọc Sách
  • Kể Tên Và Nêu Ưu Nhược Điểm Của Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Các Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học *
  • Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Báo cáo

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Đổi mới hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi HS năng khiếu qua môn Toán, Âm nhạc.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Việc xây dựng và tổ chức các chuyên đề cho các môn học là một biện pháp tích cực, nhằm tích hợp những ý tưởng hay, những hình thức dạy học linh hoạt, sáng tạo, phù hợp có tính hiệu quả cao. Trong những năm qua phòng GD đã quan tâm chỉ đạo tích cực cho các trường TH trong huyện để các thầy cô giáo thể hiện và tiếp thu những ý tưởng hay, những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Tổ chức và thực hiện chuyên đề hôm nay, TM BGH nhà trường tôi xin phép được báo cáo trước hội nghị về việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu ở các môn học nói chung và môn Toán, Âm nhạc nói riêng.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Nội dung: Gồm 4 phần

    Phần 1: Nhận thức.

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện.

    Phần 3: Những biện pháp thực hiện.

    Phần 4: Dự kiến kết quả đạt được.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    – Năm học 2008-2009 là năm học ngành GD tiến hành giai đoạn 2 của đổi mới Giáo dục nhằm từng bước củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy của thầy và trò; là năm thứ 3 thực hiện cuộc vận động hai không với 4 nội dung.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ năm học đòi hỏi mỗi giáo viên và cán bộ quản lí chuyên môn phải xác định rõ vai trò của mình trong việc chỉ đạo chuyên môn và trong việc tổ chức giảng dạy, học tập. Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới hình thức tổ chức để phù hợp với mục tiêu của chương trình sách giáo khoa hiện nay, phù hợp với các đối tượng học sinh (Giỏi-Yếu).

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Vận dụng linh hoạt vào việc soạn giảng có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy thực, học thực của nhà trường là một việc làm cần thiết và được diễn ra thường xuyên trong giai đoạn hiện nay. (Đây là vấn đề đã được nhiều hội nghị quan tâm, nhiều văn bản chỉ đạo tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn những khó khăn, vướng mắc nên việc chuyển biến kết quả đạt được chưa cao)

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Trong chương trình SGK Tiểu học hiện nay nói chung và môn Toán – Âm nhạc nói riêng được xây dựng theo đường tròn đồng tâm từ lớp 1 đến lớp 5, các đơn vị kiến thức được lập lại, bổ sung và nâng cao dần ở từng bài, từng chương, mỗi lớp, mỗi bậc học.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    ở các lớp 1, 2, 3 các em được làm quen với những kiến thức đơn giản, ở mức độ nhận biết qua các sự vật, hiện tượng đơn giản như các em được nhìn, được nghe, được cầm nắm sau đó là ghi nhớ các sự vật đó.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Sang giai đoạn 2 (đối với các lớp 4, 5) đây là giai đoạn HS có khả năng phân tích, tổng hợp khái quát hoá những sự vật, hiện tượng trừu tượng thành những khái niệm, công thức phức tạp hơn, đồng thời các em có những nhận xét đánh giá, cảm thụ ở mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn, biết liên hệ và vận dụng vào thực tế cuộc sống, có ý thức trân trọng giữ gìn bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên, của con người tạo ra.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Cũng như các môn học khác, môn Âm nhạc và môn Toán là 2 môn tưởng chừng như tách rời nhau vì mỗi môn đều có đặc trưng riêng như môn Âm nhạc mang tính nghệ thuật cao không những đòi hỏi người dạy và người học có kiến thức mà còn phải có năng khiếu, Toán học lại là môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao, rèn luyện sự nhanh nhẹn, thông minh cho HS.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Do vậy, hai môn học này luôn có mối quan hệ qua lại với nhau, bổ sung cho nhau, nếu giáo viên phát huy khả năng và tính sáng tạo của HS ở các bộ môn này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS (Đức – Trí – Lao – Thể – Mỹ)

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 1: Nhận thức đối với việc đổi mới hình thức bồi dưỡng HS giỏi-HS năng khiếu.

    Do vậy, trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá, dạy học phù hợp với đối tượng đặc biệt là việc phát hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS có năng khiếu là một việc làm hết sức cần thiết để tạo ra những con người phát triển toàn diện, nhân tài cho đất nước.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    1. Thuận lợi

    a. Cơ sở vật chất

    Trường Tiểu học Liên Hoà có 26 lớp và 710 HS. Có cơ sở vật chất tương đối khang trang, có đủ phòng học, bàn ghế đồ dùng thiết bị phục vụ cho dạy và học, được Phòng GD, địa phương quan tâm trang bị tương đối đầy đủ, hiện đại như: đèn chiếu, phòng vi tính, phòng chức năng nhạc hoạ…

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    b. Học sinh

    HS ngoan, đồng đều về độ tuổi; Các em được học đầy đủ các môn trong chương trình và môn tự chọn phù hợp với xu thế phát triển chung như: Tin học, Ngoại ngữ. Có giáo viên được đào tạo cơ bản dạy các môn năng khiếu. Do đó, các em được học một cách bài bản mang tính chuyên sâu.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    c. Giáo viên

    Trường có 36 đ/c giáo viên trực tiếp giảng dạy. Trong đó:

    + Dạy văn hoá: 29 đ/c

    + Các môn nghệ thuật: 5 đ/c

    + Tiếng Anh: 1 đ/c

    + Trình độ chuẩn: 36/36 đ/c đạt 100%

    + Trình độ trên chuẩn: 21/36 đ/c đạt 58%

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    Về cơ bản GV đều có lòng yêu nghề mến trẻ, có năng lực chuyên môn và ý thức học hỏi đồng nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có nhiều đ/c đạt danh hiệu GV giỏi; CSTĐ đây là lực lượng lòng cốt tích cực góp phần nâng cao chất lượng dạy-học của trường.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    2. Khó khăn

    a. Về học sinh: Đa số HS của trường hầu hết là con em gia đình nông nghiệp, đi biển… trình độ dân trí thấp; ít được quan tâm của gia đình đến việc học hành; phó mặc việc học hành cho nhà trường.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    Đặc biệt nhiều gia đình có con em có khả năng học tốt nhưng lại không có điều kiện cho học sinh tham gia vào những lớp bồi dưỡng năng khiếu, vào CLB yêu thích; không có điều kiện mua các đồ dùng học tập như bút vẽ, giá vẽ, đàn và các tài kiệu nâng cao, tài liệu tham khảo khác.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    b. Về đội ngũ giáo viên

    – Đội ngũ giáo viên tuy đủ về số lượng nhưng chất lượng không đồng đều. Một số bộ phận GV được đào tạo còn chưa mang tính chuyên môn cao cộng với bản thân chưa thực sự cố gắng dẫn đến việc giảng dạy còn hạn chế, một số đ/c trẻ mới ra trường tuy có sự nhiệt tình, năng động song kinh nghiệm trong công tác giảng dạy chưa nhiều.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    Còn hiện tượng dạy tray, không sử dụng đồ dùng dạy học khi lên lớp; chậm áp dụng việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (sử dụng phương tiện dạy học hiện đại: đàn, máy chiếu);

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    GV chỉ quan tâm đến việc giải quyết hết số bài tập trên lớp, chỉ cần tìm ra cách giải và kết quả đúng với cách của cô mà không khuyến khích HS tìm ra cách giải khác mang tính sáng tạo (nhanh hơn, thông minh hơn). Nhiều giáo viên còn mang tính áp đặt trong việc trả lời, giải quyết các bài tập, chưa mang tính sáng tạo trong nghệ thuật.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 2: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    – CSVC: Trường chia làm 2 khu ở cách xa nhau nên phần nào ảnh hưởng tới quá trình chỉ đạo của BGH nhà trường của tổ chuyên môn tới GV.

    Mặc dù CSVC của trường tương đối đầy đủ song trường vẫn còn thiếu những phương tiện dạy học hiện đại: Máy quét tranh, máy tính cho các tổ, máy chiếu khu Trung Bản…

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 3: Những biện pháp chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    1. Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ, biên chế lớp.

    – Để đề ra những biện pháp bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu, ngay từ đầu năm nhà trường đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Toán và Tiếng Việt (đối với môn Âm nhạc lấy kết quả cuối HKII) cụ thể như sau:

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 3: Những biện pháp chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    * Môn Toán: Giỏi 147 em đạt % chia ra:

    + Khối 1: em đạt %

    + Khối 2: em đạt %

    + Khối 3: em đạt %

    + Khối 4: em đạt %

    + Khối 5: em đạt %

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 3: Những biện pháp chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    * Môn Âm nhạc: Giỏi(A+) em đạt % + Khối 1: em đạt %

    + Khối 2: em đạt %

    + Khối 3: em đạt %

    + Khối 4: em đạt %

    + Khối 5: em đạt %

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 3: Những biện pháp chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    Đặc trưng của ngành GD là đòi hỏi mỗi người GV phải thường xuyên học tập, vừa dạy vừa học; phải là người luôn tiếp cận với những vấn đề mới mẻ, phương tiện dạy học hiện đại. Đặc biệt là việc dạy học, bồi dưỡng cho HS giỏi. HS năng khiếu thì người GV lại càng trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, phải luôn bồi dưỡng các kiến thức về cuộc sống, về thế giới xung quanh để luôn đạt được mục tiêu.

    Trường Tiểu học Liên Hoà

    Phần 3: Những biện pháp chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng HS giỏi, HS năng khiếu.

    Biết 10 dạy 1 vì còn có GV khi HS đưa ra những cách giải quyết khác GV không dám khẳng định vì sợ không chính xác; không hướng HS vào ván đề sáng tạo dẫn đến GV thiếu chủ động, thiếu tự tin trong tiết dạy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Phát Hiện Học Sinh Có Năng Lực Trở Thành Học Sinh Giỏi Hoá Học Ở Trường Ptth
  • Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Bậc Thcs
  • Các Biện Pháp Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Tiếng Việt Lớp 5 Ở Các Trường Tiểu Học Quốc Tế Tại Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Việt
  • Skkn Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Việt
  • Đề Tự Luận Thi Giáo Viên Dạy Giỏi Cấp Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tai Lieu Tap Huan 2012
  • Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Đề Thi +Đáp Án Hp Khoa Học Qlgd
  • Quản Lý Giáo Dục Mầm Non Thời Kì Cách Mạng 4.o
  • Ý Thức Đạo Đức Phản Ánh Lĩnh Vực Nào Của Đời Sống Xã Hội
  • Bộ đề tự luận thi giáo viên dạy giỏi

    Bộ đề tự luận thi giáo viên dạy giỏi cấp tiểu học

    BỘ ĐỀ TỰ LUẬN

    HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TIỂU HỌC

    Đề số 1: GVCN lớp có mấy chức năng, là những chức năng nào? Nêu rõ chức năng quản lý giáo dục toàn diện học sinh và việc áp dụng kỹ năng này vào tình hình thực tế của lớp mình phụ trách.

    Gợi ý hướng dẫn chấm

    1. GVCN lớp có 4 chức năng: (2,0 điểm)

    – GVCN lớp là người quản lý giáo dục toàn diện HS một lớp;

    – GVCN là tổ chức tập thể HS hoạt động tự quản nhằm phát huy tiềm năng tích cực của mọi HS;

    – GVCN là cầu nối giữa tập thể HS với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường; là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục;

    – GVCN là đánh giá khách quan kết quả rèn luyện của mỗi HS và phong trào chung của lớp.

    b. GVCN lớp là người quản lý giáo dục toàn diện HS một lớp: (4,0 điểm)

    – Quản lý giáo dục không chỉ nắm được những chỉ số quản lý hành chính như: tên, tuổi, số lượng, gia cảnh trình độ HS về học lực, và đạo đức … mà còn phải dự báo xu hướng phát triển nhân cách của HS trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi HS. (1,5 điểm)

    – Muốn thực hiện chức năng quản lý giáo dục toàn diện, đòi hỏi GVCN phải có: (1,5 điểm)

    + Những tri thức cơ bản về tâm lý học, giáo dục học.

    + Các kĩ năng sư phạm như: Kĩ năng tiếp cận đối tượng HS; Kĩ năng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, xã hội; Kĩ năng đánh giá; Kĩ năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp.

    + Nhạy cảm sư phạm: để dự đoán đúng, chính xác sự phát triển nhân cách của HS; Định hướng giúp các em lường trước những khó khăn, thuận lợi, vạch ra những dự định để tự hoàn thiện về mọi mặt.

    – Quản lý học tập và quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách có quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau: giáo dục đạo đức có tác động mạnh mẽ đến chất lượng học văn hóa nhất là trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế thị trường, KHKT… (1,0 điểm)

    c. Liên hệ thực tế: (4,0 điểm)

    Đưa ra được các hình thức, biện pháp, giải pháp cụ thể ứng với 3 nội dung của chức năng quản lý giáo dục toàn diện. ( mỗi nội dung đạt 1,0 điểm)

    Đề số 2: Một trong những mục đích quan trọng khi ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học là “Giúp giáo viên tiểu học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực nghề nghiệp. Từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ”.

    Hãy nêu ý kiến của mình về mục đích trên và trình bày kế hoạch phấn đấu, rèn luyện để có thể đạt được những tiêu chuẩn nghề nghiệp của cấp tiểu học.

    Gợi ý hướng dẫn chấm

    1. Nêu được khái niệm chuẩn NNGVTH là gì? (1,0 đ)

    Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, kiến thức, kĩ năng sư phạm mà giáo viên tiểu học cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo dục tiểu học.

    2. Nêu được sự cần thiết của việc ban hành Chuẩn nghề nghiệp: (1,5 đ)

    Do GV được đạo tạo không đồng bộ

    Việc đổi mới nội dung, chương trình, PP giáo dục đòi hỏi người GVTH phải có những yêu cầu nhất định, đặc trưng thuộc mỗi lĩnh vực của Chuẩn đòi hỏi người giáo viên phải đạt được để đáp ứng mục tiêu của giáo dục tiểu học ở từng giai đoạn. Do vậy việc ban hành “Chuẩn nghề nghiệp GVTH” là rất cần thiết

    3. Nêu được ý nghĩa của việc đánh giá Chuẩn NNGVTH ? (1,5 đ)

    Nhờ có chuẩn, mỗi giáo viên tự đánh giá mình, từ đó tự đề ra kế hoạch rèn luyện phấn đấu, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất năng lực nghề nghiệp.

    Với chuẩn nghề nghiệp giúp cho các cấp quản lý đánh giá, phân loại đội ngũ giáo viên tiểu học chính xác để phục vụ công tác quy hoạch, sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.

    4. Nêu được kế hoạch phấn đấu theo 3 lĩnh vực: phẩm chất, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng: (6,0 đ)

    – Nêu được kế hoạch phấn đấu theo mỗi lĩnh vực đạt 2,0 đ

    – Yêu cầu: Mỗi lĩnh vực gồm đủ 5 yêu cầu và 4 tiêu chí (cần chú trọng đến biện pháp thực hiện).

    Đề số 3: Ngành Giáo dục đã và đang quyết tâm không để tình trạng học sinh không đạt chuẩn lên lớp theo tinh thần cuộc vận động Hai không. Thầy (Cô) hãy nêu kế hoạch của bản thân để thực hiện có hiệu quả nội dung trên.

    Gợi ý hướng dẫn chấm

    Bài tự luận nêu được những nội dung trọng tâm sau:

    1. Khái quát tình hình thực hiện: (2,0 đ)

    2. Kế hoạch của bản thân: (7 điểm)

    Nêu được những ý chính:

    – Thực hiện nghiêm túc chương trình, quy chế chuyên môn; đảm bảo kế hoạch giáo dục của nhà trường, của tổ khối; không tuỳ tiện cắt xén chương trình,… (1,0 đ)

    – Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học; quyết tâm thực hiện việc dạy thật – học thật, vì đây là cái gốc của chống tiêu cực và thực hiện hiệu quả hoạt động đổi mới giáo dục. (1,0 đ)

    – Công tác kiểm tra, đánh giá học sinh luôn hướng đến tính trung thực, “Học gì thi nấy”, cho điểm sát với kết quả của học sinh; tuyệt đối không để xảy ra hiện tượng nâng đỡ về điểm số, cấy điểm tuỳ tiện, làm sai lệch thực tế năng lực và chất lượng học tập; có nhiều biện pháp hữu hiệu, phù hợp trong kiểm tra, đánh giá, chống hành vi gian lận trong kiểm tra, thi cử, quay cóp,… (2,0 đ)

    – Trên cơ sở xác định đúng thực chất năng lực học sinh, phát huy vai trò giáo viên chủ nhiệm trong lập kế hoạch phụ đạo học sinh yếu, kém. Thường xuyên quan tâm đối tượng học sinh cá biệt để có biện pháp giáo dục phù hợp. (1,0 đ)

    – Có sự phối hợp đồng bộ với đồng nghiệp và các hoạt động giáo dục khác trong hoạt động giáo dục. Đặc biệt chú ý mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng nhằm làm tốt công tác giáo dục toàn diện HS trong và ngoài nhà trường. (1,0 đ)

    – Bản thân mỗi giáo viên phải có kế hoạch giáo dục (dạy học) ngay từ đầu năm học, luôn tự tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ nghiệp vụ, kiến thức và phẩm chất đạo đức, xứng đáng là tấm gương cho học sinh. (1,0 đ)

    Hướng dẫn cho điểm:

    – Nêu được những ý trên, đạt từ 8 – 9 điểm;

    – Trình bày được kế hoạch với những ý như trên nhưng còn chung chung, chưa nêu được yêu cầu cần đạt: 6,5 – 7,5 điểm;

    – Hiểu yêu cầu nhưng cách trình bày chưa rõ ràng, còn dàn trải, nặng về hình thức: 5 – 6,25 điểm;

    – Trình bày kế hoạch bản thân không rõ ràng, chung chung, có sự lúng túng trong nhận thức, không hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của bản thân: dưới 5 điểm;

    – 1 điểm dành cho chữ viết đẹp. Trường hợp viết sai nhiều lỗi chính tả, trừ 50 % trên tổng số điểm.

    * Đề bài 4:

    ” Chất lượng giáo dục” là đạo đức nghề nghiệp của mỗi nhà giáo. Là người đang trực tiếp giảng dạy, thầy (cô) hãy trình bày hiểu biết, quan điểm của bản thân để nâng cao chất lượng của lớp mình.

    YÊU CẦU – HƯỚNG DẪN CHẤM BÀI

    I. Hình thức: (2 điểm)

    – Bài viết có đủ 3 phần: mở bài, thân bài (phát triển) và kết luận.

    – Chữ viết chân phương, rõ ràng.

    – Không có nhiều hơn 3 lỗi chính tả hoặc lỗi dùng từ.

    II. Nội dung: Trình bày đủ các phần theo đề bài như sau: (8 điểm)

    1. Hiểu biết về khái niệm chất lượng giáo dục. (1 điểm)

    – Chất lượng là sản phẩm làm ra phù hợp với mục tiêu.

    – Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng yêu cầu về mục tiêu giáo dục.

    – Nhận thức rõ chất lượng chuyên môn của giáo viên quyết định đến chất lượng giáo dục.

    2. Trình bày được những biện pháp đã và cần áp dụng để nâng cao chất lượng giáo dục (2,5 điểm)

    – Thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.

    – Thực hiện tốt việc điều chỉnh nội dung dạy học.

    – Đổi mới phương pháp dạy học. Sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

    – Phụ đạo hs yếu để củng cố kiến thức.

    – Quan tâm đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

    – Xây dựng cho hs tình cảm yêu trường, mến bạn tạo động lực để các em hăng hái thi đua học tập. Giáo dục kĩ năng sống cho hs.

    – Kiểm tra đánh giá kết quả giảng dạy của gv và học tập của hs.

    – Điều kiện cơ sở vật chất trường, lớp….

    3. Dẫn chứng cách thức thực hiện và việc làm cụ thể. (3 điểm)

    – Duy trì sĩ số.

    – Thực tiễn giảng dạy trong tiết học.

    – Khảo sát, thống kê đối tượng học sinh.

    – Phân tích chất lượng học sinh.

    – Tiến hành phụ đạo, bồi dưỡng.

    – Lập sổ theo dõi.

    – Sau mỗi đợt kiểm tra định kì có phân tích chất lượng học sinh. Đối chiếu, so sánh qua từng giai đoạn. Nhận xét, đánh giá.

    – Tham gia dự giờ, thăm lớp, rút kinh nghiệm nâng cao tay nghề.

    – Phát huy lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo.

    – Liên hệ với PHHS kịp thời về kết quả học tập của các em.

    – Phối hợp chặt chẽ giữa ba lực lượng: Nhà trường – gia đình – xã hội.

    – Nêu được kết quả của việc thực hiện – Minh chứng.

    4. Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục. ( 1,5 điểm )

    – Gv có ảnh hưởng lâu dài đến thành tích học tập của hs.

    – Người gv phải có các kĩ năng cơ bản, có khối lượng kiến thức chung và việc thực hiện giảng dạy đúng yêu cầu, phải tự học tập, rèn luyện nâng cao tay nghề.

    – Đội ngũ gv chuẩn về nghề nghiệp, tốt về đạo đức, giỏi về chuyên môn, tận tâm với nghề và vững vàng về chính trị…..

    * Đề bài 5:

    Anh (chị) hãy cho biết thế nào là dạy học phát huy tính tích cực của học sinh?

    Để dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, cần tiến hành các hoạt động nào ? Những hoạt động này có đặc trưng gì ? Anh (chị) đã vận dụng việc dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở lớp mình như thế nào?

    Đáp án

    Ý 1 (3 điểm): Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là thay đổi cách dạy và cách học, chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm. Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Dạy và học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập. (2 điểm)

    – Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác, với một động cơ nhận thức đúng đắn. Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. (1 điểm)

    Ý 2 (3 điểm): Để dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh giáo viên thường sử dụng các hoạt động:

    – Đàm thoại khi giảng bài; (0,5 điểm)

    – Đặt ra những câu hỏi gợi mở, gợi ý nhằm khuyến khích HS suy nghĩ tích cực học tập; (0,5 điểm)

    – Thực hành (theo mẫu trong lớp hay ngoài lớp); (0,5 điểm)

    – Tổ chức hoạt động để HS tìm tòi, khám phá, tự phản ánh việc học và tự đánh giá kết quả học tập của mình,…(1 điểm).

    Ý 3 (2 điểm): Dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực:

    – Người học được cuốn hút tham gia vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá, tìm tòi kiến thức không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của giáo viên. (1 điểm)

    Ý 4 (2 điểm): Vận dụng: Giáo viên nêu được dẫn chứng cụ thể trong thực tế giảng dạy về việc vận dụng dạy học phát huy tính tích cực của học sinh./.

    * Đề bài 6:

    Câu 1: (2 điểm)

    Chuẩn kiến thức, kỹ năng là gì? (GV chỉ trình bày theo dạng : trả lời trực tiếp – gạch đầu dòng – liệt kê)

    Câu 2: (8 điểm)

    Ngày 01 tháng 9 năm 2011 Bộ GD-ĐT có công văn 5842/BGDĐT-VP về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT.

    Đây là một trong những chỉ đạo quan trọng của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm tiếp tục thúc đẩy nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng dạy học và chất lượng thực hiện chương trình giáo dục tiểu học.

    Anh (Chị) hãy trình bày hiểu biết, quan điểm của bản thân về chủ trương này; dẫn chứng cách thức thực hiện và nêu kết quả học tập, rèn luyện của học sinh.

    II. Đáp án bài tự luận: GV phải nêu được các nội dung sau:

    * Câu 1: (2 điểm) Chuẩn kiến thức kĩ năng.

    a- Là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức và kĩ năng của môn học, hoạt động GD mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập. (0,5đ)

    c- Là cơ sở để biên soạn SGK, quản lý dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi của chương trình, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình GD ở tiểu học. (1đ)

    * Câu 2: (8 đ)

    1. Phần mở bài: (1đ)

    – Nêu được lí do vì sao Bộ GD-ĐT có công văn trên và thời gian thực hiện từ năm học 2011-2012.

    2. Phần thân bài: Nêu được 3 vấn đề (6đ)

    a. GV nhận thức được việc thực hiện công văn 5842 của Bộ nhằm: (2,5đ)

    – Để dạy và học phù hợp với chuẩn kiến thức kỹ năng, phù hợp với thời lượng dạy học và điều kiện thực tế các nhà trường. (0,5đ)

    – Điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng cắt giảm các nội dung quá khó, trùng lặp, chưa thực sự cần thiết đối với học sinh, các câu hòi, bài tập đòi hỏi phải khai thác quá sâu kiến thức lý thuyết, để GV, HS dành thời gian cho các nội dung khác, tạo thêm điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu của chương trình cấp học. (1đ)

    – Không tổ chức kiểm tra đánh giá vào các nội dung, yêu cầu đã giảm bớt. Giáo viên tiểu học phải nắm vững hướng dẫn điều chỉnh các nội dung các môn học cấp tiểu học để thực hiện trong quá trình dạy học. (0,5đ)

    b. GV trình bày những việc làm cụ thể để thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học ở lớp mình trực tiếp giảng dạy: (2,5đ)

    – GV phải nắm vững yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cơ bản được quy định trong chương trình tiểu học đối với từng môn học của khối lớp đang trực tiếp giảng dạy sẽ giúp giáo viên điều chỉnh dạy và học phù hợp với mức độ của HS nhưng vẫn đảm bảo HS phải nắm được chuẩn kiến thức. (1đ)

    – Phải tổ chức khảo sát chất lượng học sinh đầu năm học để nắm được khả năng học tập của từng HS trong lớp. Từ đó xác định nội dung cụ thể của bài học trong sách giáo khoa cần hướng dẫn cho từng nhóm đối tượng học sinh. (0,5đ)

    – GV xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể của mình, báo cáo cho tổ trưởng chuyên môn, ban giám hiệu và ghi vào kế hoạch dạy học tuần (lịch báo giảng). (1đ)

    c. GV nêu kết qủa chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh sau khi GV thực hiện điều chỉnh việc dạy và học ( kết quả chất lượng HK I hoặc HK II so với chất lượng khảo sát đầu năm) (1,đ)

    3. Phần kết luận: (1đ)

    – GV nêu quan điểm của mình về công văn 5842 của Bộ GD-ĐT, hoặc kiến nghị với các cấp quản lý giáo dục nhắm giúp GV thực hiện điều chỉnh dạy và học được thuận lợi ./.

    Lưu ý : Bài viết nhiều lỗi chính tả, chữ viết cẩu thả khó đọc, trình bày bài chưa khoa học, không rõ bố cục… Giám khảo trừ từ 0,5 đến1,5 điểm cho toàn bài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Giáo Dục Toàn Diện Cho Thanh Niên, Học Sinh
  • Tài Liệu Lý Thuyết Thi Giáo Viên Dạy Giỏi
  • Quản Lý Hoạt Động Dạy Học Ở Trường Trung Học Cơ Sở Thuộc Thành Phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau Hiện Nay
  • Hn Dn: Stgt Các Chức Năng Của Qlgd
  • Hn Dn: Stgt Các Chức Năng Của Qlgd St Cac Chuc Nang Qlgd Ppt
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Địa Lý Lớp 10 Chuyên Đề Cơ Cấu Dân Số (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhật Bản: Hệ Lụy Từ Cơ Cấu Dân Số Già
  • Phó Thủ Tướng Thường Trực Chính Phủ Trương Hòa Bình Yêu Cầu::tăng Cường Siết Chặt Các Biện Pháp Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Tăng Cường Siết Chặt Các Biện Pháp Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Cao Bằng: Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp Đảm Bảo Trật Tự Atgt
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông Đường Thủy Nội Địa
  • ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN

    Câu 1. Cơ cấu dân số theo giới là gì? Nếu dân số Việt Nam năm 2004 là 82,07 triệu người, trong đó số nam là 40,33 triệu, số nữ là 41,74 triệu. Hãy tính tỉ số giới tính và tỉ lệ giới tính của dân số Việt Nam.

    Đáp án

    – Cơ cấu dân số theo giới biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với tổng số dân. Đơn vị tính bằng phần trăm (%).

    – Tỉ số giới tính = 40,33 triệu X 100: 41,74 triệu = 96,6%.

    Nghĩa là trong dân số Việt Nam năm 2004, trung bình cứ 100 nữ thì có 96,6 nam, dân số nam ít hơn dân số nữ và chiếm 49,14%.

    Câu 2. Nêu các nhân tố ảnh hưởng và ý nghĩa của cơ cấu dân số theo giới.

    Đáp án

    – Cơ cấu dân số theo giới biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc so với tổng số dân. Đơn vị tính bằng phần trăm (%).

    – Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu dân số theo giới:

    + Tự nhiên: tuổi thọ trung bình của nữ thường cao hơn nam,…

    + Kinh tế – xã hội: trình độ phát triển kinh tế – xã hội, chiến tranh, tai nạn, chuyển cư, việc chăm bà mẹ và bé gái chưa tốt, phong tục tập quán,…

    – Ý nghĩa của cơ cấu dân số theo giới:

    + Ảnh hưởng đến phân bố sản xuất, tể chức đời sống xã hội và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia.

    + Khi phân tích cơ cấu dân số theo giới, người ta không chỉ chú ý tới khía cạnh sinh học, mà còn quan tâm tới khía cạnh xã hội như vị thế, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của giới nam và giới nữ.

    Câu 3. Phân biệt tỉ số giới tính và tỉ lệ giới tính và cho ví dụ chứng minh.

    Đáp án

    – Tỉ số giới tính cho biết trung bình cứ 100 nữ thì có bao nhiêu nam.

    Ví dụ: Tỉ số giới tính là 96%, nghĩa là trung bình cứ 100 nữ thì có 96 nam.

    – Tỉ lệ giới tính cho biết dân số nam hoặc dân số nữ chiếm bao nhiêu phần trăm (%) trong tổng số dân.

    Ví dụ: Tỉ lệ nam trong tổng số dân là 49,6%, còn lại nữ chiếm 50,4%.

    Câu 4. Tại sao các nước đang phát triển thường có số dân nam nhiều hơn nữ?

    Đáp án

    Các nước đang phát triển thường có số dân nam nhiều hơn nữ vì:

    – Ở độ tuổi dưới 15, nam giới chiếm tỉ lệ lớn hơn nữ giới; từ 65 tuổi trởlên, nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với nam giới. Các nước đang phát triển có cơ cấu dân số trẻ, số người trong nhóm tuổi 0-14 nhiều, trên 65 tuổi ít, do đó nam nhiều hơn nữ.

    – Trình độ phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe giới, phong tục tập quán và tâm lí xã hội, kĩ thuật y tế,… tác động đến tỉ số giới.

    Câu 5. Tại sao các nước phát triển tỉ lệ nữ cao hơn nam?

    Đáp án

    Các nước phát triển tỉ lệ nữ cao hơn nam vì:

    – Độ tuổi dưới 15 nam nhiều hơn nữ, từ 60 tuổi trở lên thì nữ nhiều hơn nam.

    – Các nước phát triển có cơ cấu dân số già nên số người dưới 15 tuổi ít, số người trên 65 tuổi nhiều.

    – Tác động đến tỉ số giới tính phụ thuộc vào nhiều nhân tố: trình độ phát triển kinh tế, tâm lí, phong tục tập quán, chế độ chăm sóc sức khỏe.

    Câu 6. Phân biệt cơ cấu dân số già và cơ cấu dân số trẻ? Đánh giá thuận lợi, khó khăn, biện pháp khắc phục của cơ cấu dân số già và cơ cấu dân số trẻ.

    Đáp án

    * Phân biệt dân số một quốc gia là già hay trẻ:

    * Đánh giá

    – Dân số già: tập trung ở các nước phát triển.

    + Thuận lợi: số người trong độ tuổi lao động nhiều, tỉ lệ dân số phụ thuộc ít.

    + Khó khăn: thiếu nguồn lao động bổ sung cho tương lai, tăng chi phí chăm sóc cho người già.

    + Biện pháp: khuyến khích lập gia đình, sinh con và cần nhập cư hợp pháp.

    – Dân số trẻ: tập trung ở các nước đang phát triển.

    + Thuận lợi: có nguồn dự trữ lao động dồi dào trong tương lai và thị trường tiêu thụ rộng lớn.

    + Khó khăn: gây sức ép cho việc phát triển kinh tế, xã hội, môi trường.

    + Biện pháp: thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, phát triển kinh tế -xã hội và xuất khẩu lao động.

    Câu 7. Thế nào là cơ cấu “dân số trẻ ” và cơ cấu “dân số già “? Tại sao các nước dân số già có tỉ lệ phụ thuộc ít? Nước ta hiện nay là nước có dân số trẻ hay già? Vì sao?

    Đáp án

    a) Khái niệm

    – Cơ cấu “dân số trẻ

    + Tỉ lệ người dưới 15 tuổi vượt quá 35% tổng số dân.

    + Tỉ lệ người trên 60 tuổi ở dưới mức 10% tổng số dân.

    – Cơ cấu “dân số già

    + Tỉ lệ người dưới 15 tuổi dưới 25% tổng số dân.

    + Tỉ lệ người trên 60 tuổi chiếm từ 15% trong tổng số dân trở lên.

    b) Các nước dân số già có tỉ lệ phụ thuộc ít vì

    – Tỉ lệ phụ thuộc là tương quan giữa số trẻ em và người già so với số người trong độ tuổi lao động.

    – Các nước dân số già có tỉ lệ trẻ em thấp < 25% và đang tiếp tục giảm do mức sinh thấp và tiếp tục giảm; mức sống cao, chăm sóc người già, y tế tiến bộ đã kéo dài tuổi thọ của dân cư làm tăng số người trên 65 tuổi.

    c) Nước ta hiện nay là nước có cơ cấu dân số trẻ nhưng đang già hóa vì tỉ lệ trẻ em đang giảm dần, tỉ lệ người già tăng.

    Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của nước ta năm 1999 và năm 2005(%)

    Một số chuyên mục hay của Địa lý lớp 10:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kích Hoạt Các Sự Kiện Kích Cầu Tiêu Dùng
  • Định Hướng Xuất Khẩu Làm Khó Chính Sách Kích Cầu Tiêu Dùng Nội Địa
  • Quảng Ninh Phát Động Triển Khai Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Chính Phủ Đang Kích Cung Nhiều Hơn Kích Cầu?
  • Du Lịch Nga Kỳ Vọng Vào Kích Cầu Nội Địa
  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Văn Học Việt Nam 1975
  • Dẫn Chứng Cho Nghị Luận Xã Hội
  • Văn Học Dân Gian Van Hoc Dg Doc
  • Bàn về việc học văn của các bạn trẻ hiện nay

    Từ xưa đến nay, môn Văn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đạo học. Văn chương giúp đời sống tinh thần của con người thêm phong phú hơn, giúp ta ứng xử lịch sự, văn minh hơn. Nhưng bây giờ chúng ta đang bước vào thế kỉ XXI-thế kỉ của khoa học, công nghệ hiện đại- do đó vì thế vị trí của môn Văn trong các trường đã bị suy giảm. Nhiều phụ huynh học sinh thích chạy theo những môn học thời thượng như các môn tự nhiên: Toán, Lí, Hóa và môn xã hội Anh, Tin học mà không thích con mình học môn Văn, vì theo tư tưởng của họ cho rằng thế kỉ XXI là thế kỉ hiện đại, các quốc gia, dân tộc đang cố gắng phát triển để hội nhập với toàn thế giới. Là một học sinh đang cắp sách đến trường như em không đồng tình với họ.

    Văn chương là một phần không thể thiếu trong cuộc sống mỗi con người. Trong xã hội phong kiến thời xưa, văn chương là môn thi duy nhất để các sĩ tử khẳng định mình trong các khoa thi. Đã có rất nhiều người thành đạt trên con đường văn chương như đại thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hương…Họ đã để lại sự nghiệp văn chương đồ sộ khi ai từng đọc qua thì cảm động, ngưỡng mộ, thông cảm cho cuộc đời của những người nông dân dưới thời phong kiến và lên án bọn địa chủ độc ác.

    Còn trong xã hội ngày nay, việc học Văn càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Nhất là trong trường học, nó giúp con người nhận thức được cái hay, cái đẹp chuẩn mực trong cuộc sống. Vì văn học là những tinh hoa văn hòa nhân loại, lưu truyền những cái tốt đẹp của con người qua các thời đại. Văn chương dẫn chúng ta vào một thế giới mà sự cho đi không đòi hỏi sự đáp lại. Văn chương chân chính dù ở bất kì thời đại nào cũng đều dề cao tình yêu thương, lòng nhân ái, sự công bằng. Giúp em nhận thấy thế giới này sẽ đẹp hơn nhiều từ những điều giản dị nhất, có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lối sống đúng đắn, lành mạnh. Chẳng hạn đọc tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, ta thấy được một bức tranh xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công đen tối. Hay là đọc bài thơ Bánh trôi nước của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, ta lại thấy được số phận lênh đênh chìm nổi của người phụ nữ…

    Không những thế văn chương còn làm cho thế giới ngôn ngữ của mỗi con người thêm phong phú hơn, trong sáng hơn. Nó trau dồi lời ăn, tiếng nói của mỗi con người trong cuộc sống hằng ngày.

    Mỗi môn học, mỗi một lĩnh vực đều có một sứ mệnh riêng của nó. Đi sâu vào đời sống tình cảm của con người, làm thế giới tình cảm phong phú hơn, sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn cho tâm hồn, cho trái tim của mỗi con người rung lên là sứ mệnh của văn chương.

    Như vậy văn chương là không thể thiếu trong cuộc sống xưa và nay. Thế mà trong xã hội ngày nay, việc học Văn lại bị xem nhẹ. Nếu như một ngày nào đó, môn Văn dần dần bị lãng quên thì xã hội của chúng ta sẽ buồng tẻ, nhàm chán và khô khan, hạn hẹp đến thế nào?

    Chẳng hạn, một người thành đạt bộ môn khoa học tự nhiên đẻ ra rất nhiều tiền hoặc một bạn nói tiếng Anh như gió, giao tiếp với người nước ngoài lưu loát, trôi chảy nhưng khi giao tiếp với người Việt thì ấp a ấp úng, từ ngữ khi giao tiếp thiếu chính xác. Vì sao lại vậy? Vì bạn không có vốn hiểu biết về văn chương, vốn từ không phong phú, có khi họ chỉ muốn xuất ngoại nên họ đã không tôn trọng nền văn học văn hóa Việ Nam. Có rất nhiều bạn phải tốn hàng tiếng đồng hồ để viết một bức thư cho người thân. Ở thời đại này đã xuất hiện những máy vi tính, họ làm việc, viết thư, đánh chữ thay cho việc viết bằng tay. Nhiều người cho rằng đánh máy cho nhanh, kiểu chữ trên máy tính dễ đọc, dễ nhìn hơn là viết tay. Trên mạng thì có thêm ngôn ngữ “chat” mà nhiều bạn trẻ hiện nay rất ưa chuộng. Em cũng là giới trẻ nên cũng nằm trong trường hợp trên. Nó có thể viết nhanh, gọn nhưng nó lại làm cho chúng ta dần dần quên đi ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

    Vì vậy, Văn học dạy em biết yêu quý tiếng nói dân tộc mình, đất nước mình vì đó là nguồn cội của chính mỗi con người dân Việt. Làm em nhớ về những bài thơ về chữ cái vào lần đầu tiên em tập viết:” o tròn như quả trứng gà, ô thì đội mũ, ơ thì có râu”…Cho nên Văn học rất quan trọng nếu không chúng ta sẽ rơi vào bi kịch như một nhà văn Mê-hi-cô đã từng nói: Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tuệ, thiếu tâm hồn. Chúng ta phải công nhận rằng Toán, Lí, Hóa, Anh, Tin học là rất quan trọng trong xã hội ngày nay nhưng đừng vì thế mà xem thường môn Văn.

    Môn Văn là môn thuộc nhóm công cụ, học Văn tốt sẽ có tác động tích cực đến các môn khác. Chẳng hạn như là muốn soạn thảo một văn bản bạn phải có vốn hiểu biết Ngữ Văn, học tốt phần Tiếng Việt, Tập làm văn trong ghế nhà trường. Do vì lối sống, suy nghĩ thực dụng của học sinh, phụ huynh muốn con em mình học bộ môn đó để làm ra tiền hoặc do đội ngũ giáo viên dạy nghề càng thiếu tâm huyết, nhiều thầy cô là do gánh nặng cuộc sống làm mất đi niềm say mê văn học vốn có. Trường học thì chưa có đầu tư, bồi dưỡng giáo viên, chưa có hoạt động ngoại khóa văn chương để thu hút học sinh, sinh viên… Đó là nguyên nhân đẫn đến hiện tượng học sinh, sinh viên không thích học Văn.

    Nếu như vậy thì cần có sự quan tâm hợp sức của toàn xã hội nhất là trong gia đình, nhà trường hướng học sinh chú ý đến vai trò và ý nghĩa của việc học Văn. Cần có những giải thưởng tôn vinh tài năng văn học của một số học sinh yêu thích bộ môn này. Mở rộng ngành nghề cho khối thi các bộ môn xã hội… Đó là một số phương pháp giúp việc học Văn của bạn trẻ hiện nay sẽ tốt hơn, phát triển hơn.

    Như vậy, văn chương là một phần tất yếu trong cuộc sống, giúp chúng ta trong mọi lĩnh vực. Vì vậy, các bạn và các bậc phụ huynh đừng xem nhẹ môn Văn. Đừng có nghĩ một cách nông cạn mà cho rằng môn Ngữ Văn là không cần thiết, không ứng dụng nhiều trong xã hội hiện nay.

    Nguyễn Lê Mỹ Ngân (lớp 10A9 – THPT Phú Nhuận)

    Sự thật là học trò học Văn chỉ để thi, không vì một mục đích nào khác

    Đã từ lâu, đã có một hiện thực đang tồn tại ở rất nhiều trường phổ thông hiện nay đó là một bộ phận học sinh không thích học văn, ngán học văn.

    Các em học Văn chỉ vì môn học này được sử dụng để thi tuyển sinh vào lớp 10 và thi tốt nghiệp trung học Quốc gia. Vì thế, việc cảm thụ các tác phẩm văn học trong nhà trường bị hạn chế.

    Nhiều tiết học, thầy cô dạy còn hời hợt, học trò thì học theo kiểu đối phó nên những tiết học tẻ nhạt cứ diễn ra một cách máy móc, khiên cưỡng.

    Vậy vì sao lại có hiện tượng này?

    Chúng ta đều biết, môn Văn là một môn học rộng bao gồm ba phân môn nhỏ là Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn.

    Môn học này đang chiếm thời lượng nhiều nhất nên số lượng tiết học dao động từ 4-5 tiết/tuần. Vì lượng kiến thức rộng, đòi hỏi người dạy và học có sự khái quát cao mới cảm nhận hết được.

    Trong khi đó, trải qua nhiều lần chỉnh sửa sách giáo khoa chúng ta phải thừa nhận rằng cách viết sách hiện nay vẫn dài dòng, rườm rà.

    Đặc biệt là phân môn Tập làm văn, nhiều bài nhập nhằng vào nhau và diễn đạt một cách chủ quan theo người viết sách.

    Nội dung phản ánh của môn học rộng, chẳng hạn như môn Văn học gồm các tác phẩm Văn học trong nước, nước ngoài nhưng lại không sắp xếp theo trình tự thời gian mà hướng người dạy, người học theo hướng tích hợp cả ba phân môn.

    Chính vì vậy mà đang Văn học trung đại lại nhảy sang Văn học hiện đại, hay Văn học nước ngoài .

    Vì thế, nếu học sinh không chú tâm sẽ rất khó nhớ được tác phẩm văn học nào là hiện đại, tác phẩm nào là trung đại và không có một mạch cảm xúc xuyên suốt.

    Đồng thời, sách giáo khoa cũng bố trí quá nhiều văn bản nhật dụng vào môn học nên giảm đi đặc trưng của văn học.

    Trong khi đó, nhiều thầy cô dạy Văn không chịu làm mới mình. Một số thầy cô vẫn chủ quan cho rằng mình dạy lâu năm có nhiều kinh nghiệm, lên lớp cứ thao thao từ năm này qua năm khác với chừng ấy kiến thức.

    Phần văn học trung đại là phần đòi hỏi phải có nhiều kiến thức Lịch sử, Triết học, sự hiểu biết về chữ Hán, Nôm thì mới thẩm thấu hết được, đằng này chỉ bám vào phần dịch thơ, hay văn bản tiếng Việt.

    Chúng ta biết rằng nhiều bài thơ dịch không thể sát với nguyên bản tiếng Hán bởi người dịch phải dịch theo thể thơ, theo vần điệu…

    Nhiều thầy cô chỉ bám vào hướng dẫn của sách giáo viên và thiết kế bài giảng đã có sẵn nên bài giảng cứng nhắc, rập khuôn.

    Môn Văn lại luôn cần sự sáng tạo, luôn cần cái riêng để khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương.

    Từ lâu, khi kinh tế đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều ngành nghề mới được mở, khả năng sau khi ra trường kiếm được thu nhập cao hơn, cơ hội xin việc dễ hơn.

    Trong khi môn Văn chỉ thi được một số ngành mà cơ hội việc làm lại thấp. Vì thế, các môn tự nhiên là đối tượng các em yêu thích hơn, đầu tư nhiều hơn.

    Các bậc cha mẹ cũng hướng con mình đến những môn học tự nhiên, những môn học có thể thi được nhiều ngành nghề nhằm sau khi học xong có thể dễ xin việc làm.

    Nhiều người quan niệm: môn Văn được là môn học viển vông, lãng mạn, lạc hậu với xu thế thời đại. Điều này dẫn tới các em không chú trọng đối với môn Văn cũng là điều dễ hiểu.

    Một điều khó khăn nữa là một số hướng dẫn hiện hành mang tính cứng nhắc. Bởi từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục phát hành quyển Chuẩn kiến thức môn Ngữ văn.

    Vì thế, trong quá trình dạy phải hướng học sinh tới cái “chuẩn” đã quy định. Nhất là phần nghệ thuật và ý nghĩa phải giống nhau nên tạo nên những máy móc bắt buộc.

    Ai cũng phải thực hiện các mục này giống nhau. Nếu không giống thì bị bắt bẻ khi có giáo viên, Hội đồng bộ môn hay Ban giám hiệu dự giờ. Trong khi hai phần này gần như đều đã nằm trong ghi nhớ của bài học.

    Chúng ta cũng cần thiết có một cái chuẩn chung cho mọi đối tượng học sinh. Nhưng, việc bắt buộc người dạy, người học phải đi qua chừng ấy các đề mục là điều không cần thiết.

    Văn chương trước hết phải là văn chương, không nên gò bó hàng triệu mái đầu vào cùng chung một suy nghĩ của một người viết “chuẩn kiến thức”.

    Trong những năm gần đây, việc thay đổi liên tục về phương pháp, cách tiếp cận, cách ra đề kiểm tra, đề thi cũng là một trong những nguyên nhân làm cho môn Văn không còn được nguyên vẹn như trước.

    Mãi đến giữa học kì 1 của lớp 9 các em mới bắt đầu tiếp cận với phần nghị luận văn học nhưng cách định hướng kiểm tra cho phần cảm thụ văn học không nhiều, chủ yếu mới dừng lại ở phần “vận dụng thấp”…

    Theo quy định hiện hành mỗi học kì giáo viên phải dự giờ một số tiết theo quy định, đặc biệt là thỉnh thoảng chúng tôi được dự một số tiết thao giảng của các trường trong huyện, tỉnh hoặc một số tiết dạy mẫu trong các đợt tập huấn.

    Mặc dù, những tiết dạy mẫu có sự đầu tư của nhiều người cho tiết thao giảng, hay là sự báo trước cho chuẩn bị của các giáo viên trong trường, chúng tôi vẫn cảm thấy tiết dạy nhạt nhẽo và nhiều lỗi.

    Nhiều tiết giảng văn mà giống như giảng bài môn học Giáo dục công dân. Êm đều, không có một điểm nhấn, cách đọc thơ vô hồn rất khó chấp nhận của một người giảng văn. Chất văn trong mỗi giờ học rất ít có.

    Có lẽ, muốn cho học sinh yêu thích học môn Văn, thiết nghĩ không phải là điều quá khó đối với mỗi người thầy.

    Chúng ta phải đặt mình trong vị trí người học. Nếu như một tuần có từ 4-5 tiết Văn mà người thầy cứ vào dạy một cách máy móc thì học sinh sẽ rất mau nhàm chán.

    Từng buổi học, chúng ta phải tự làm mới mình bằng nhiều phương pháp khác nhau.

    Người thầy phải chuẩn bị chu đáo từng câu hỏi, từng bài để gợi mở cho các em tìm tòi, khám phá.

    Chúng ta tận dụng tối đa những điểm nhấn của công nghệ thông tin về tranh, phim ảnh, về những bài ngâm thơ mẫu để tạo cho các em sự hứng thú và tái tạo lại bối cảnh lịch sử qua từng tác phẩm để các em đối chiếu tác phẩm văn học qua từng giai đoạn lịch sử.

    Những bài dài như phân môn Tập làm văn phải biết cô đọng lại bài để 45 phút của tiết học các em phải hệ thống được kiến thức bài giảng và đặc biệt là giúp các em nắm được các kĩ năng làm bài Văn .

    Dù ở thời đại nào thì môn Văn cũng là một môn học quan trọng trong trường phổ thông bởi môn học này không chỉ giúp các em nắm được các kĩ năng cảm thụ văn học, kĩ năng viết bài, nắm được sự giàu đẹp của tiếng Việt mà đây còn là môn học định hướng nhân cách, đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão cho học trò.

    Vì thế, môn Văn có một vị trí vô cùng quan trọng trong trường phổ thông và đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn nhận lại cách dạy và học của môn học này.

    (Nguồn: https://giaoduc.net.vn)

    Khắc phục tình trạng coi nhẹ môn Ngữ văn hiện nay

    Có một thực trạng đáng buồn hiện nay là khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thi một bộ phận học sinh coi nhẹ môn Ngữ văn và các môn xã hội, nhân văn nói chung.

    Các em chỉ quan tâm học Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên. Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ. Do đó, không quá khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên như là một sự bảo đảm cho tương lai. Nhưng thật sai lầm khi học sinh loại bỏ môn Văn ra khỏi hành trang tri thức khi bước vào đời.

    Nếu đã từng thực sự biết khám phá, hiểu sâu và lĩnh hội hết những giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của những tác phẩm văn học, chắc hăn ai cũng có thể nhận thấy những chức năng đặc thù của văn học trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách học sinh.Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ có Văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn. Tâm hồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời diễn ra xung quanh mình hàng ngày, trước thiên nhiên và tạo vật. Điều này càng quan trọng khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại. Văn học bồi đắp cho học sinh lòng yêu nước, thái độ trân trọng truyền thống, và ngôn ngữ Mẹ đẻ… Thời nào cũng vậy, tác phẩm Văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người “gần người hơn”. Đọc Truyện Kiều, ta xót xa thương cảm cho số phận cay đắng, nghiệt ngã của người con gái tài sắc, Đọc truyện ngắn Chí Phèo ta thấy rưng rưng trước mối tình có một không hai giữa Chí Phèo và Thị Nở, ấy là dấu hiệu của một tâm hồn nhân ái, giàu lòng trắc ẩn. Môn Ngữ văn còn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập các loại văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trong cuộc sống.

    Mặc dầu có vị trí, chức năng quan trọng đặc biệt như vậy nhưng hiện nay đang xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn. Tỉ lệ học sinh thi vào các trường khối C càng ngày càng ít. Một số học sinh chọn thi khối C không phải vì thích hoặc có khả năng học các môn khoa học xã hội mà chỉ vì họ không đủ khả năng để thi vào khối nào khác. Nhiều bậc phụ huynh cũng than phiền về việc con em mình không thích đọc sách văn học bằng các loại truyện tranh chỉ mang ý nghĩa giải trí đơn thuần. Qua các kỳ thi, các bài kiểm tra môn Ngữ văn, có thể nhận thấy có nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, không chú trọng kỹ năng diễn đạt, dùng câu, từ… Từ khi thực hiện chương trình SGK mới, ở các khối A, B môn Ngữ văn không còn được tính điểm hệ số 2. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, học sinh còn có cơ hội để quay cóp, trao đổi bài, sử dụng tài liệu nên có điểm cao mặc dù không chịu học. Thực tế trên đã khiến cho nhiều học sinh vốn đã không thích học môn Ngữ văn, nhất là những học sinh thi các khối thi có các môn khoa học tự nhiên, càng có “cớ” để lạnh nhạt, hờ hững với môn học này.

    Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà còn tác động tiêu cực đến người dạy. Nhiều thầy cô giáo dạy văn đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy. Thực tế cho thấy, bên cạnh năng lực chuyên môn, tình yêu văn chương và tâm huyết của các thầy cô giáo có thể cảm hoá được học sinh, để lại trong học sinh nhiều ấn tượng sâu đậm, từ đó gieo vào học sinh niềm say mê khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Môn Ngữ văn chỉ thực sự hấp dẫn đối với học sinh khi giờ dạy của giáo viên thực sự có “lửa”, khi người giáo viên nhập thân hết mình vào bài giảng.

    Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp giảng dạy của thầy, ý thức, thái độ học tập của trò. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt. Có thể khẳng định, đổi mới phương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay. Cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niếm say mê, tình yêu văn học của học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn. Cần tiến hành thi cử nghiêm túc, đánh giá chính xác, khách quan năng lực học tập thực sự của học sinh đối với môn học này để có những điều chỉnh kịp thời. Về lâu dài, Bộ GD&ĐT có thể xem xét phương án đưa môn Ngữ Văn có mặt trong tất cả khối thi của kỳ thi ĐH, CĐ. Theo đó, những khối thi khoa học tự nhiên (A, B) môn Ngữ văn có thể được tính hệ số 1. Được biết, việc đưa môn Ngữ văn vào tất cả các khối, ngành thi của kỳ thi ĐH đã được Trung Quốc thực hiện từ lâu bởi tính thiết thực và nhân văn của nó. Nếu biện pháp này được mạnh dạn áp dụng, chắc chắn chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở các trường phổ thông sẽ có những biến chuyển tích cực. Từ đó, môn Ngữ văn sẽ có vị trí xứng đáng – như nó cần có, trong hành trang tri thức của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100