Top #10 ❤️ Đề Xuất Giải Pháp Cho Công Ty Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Sản Xuất Sạch Hơn Áp Dụng Cho Công Ty Cổ Phần Nông Sản Xuất Khẩu Sài Gòn

Đề Xuất Giải Pháp Dạy Và Học Tiếng Anh Cho Hs Người Khmer

Đề Xuất Kiến Nghị Những Giải Pháp Để Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết Trong Thời Gian Tới

Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii)

Giải Pháp Trong Thực Hiện Nghị Quyết Năm 2022

Chương Trình Phát Triển Thương Mại Miền Núi, Vùng Sâu, Vùng Xa Và Hải Đảo Giai Đoạn 2022

Đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa lấy phương châm “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới” làm mục tiêu cho sự phát triển. Cùng với sự phát triển là sự góp phần của ngành chế biến xuất khẩu nông sản thực phẩm Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta đã gia tăng nhanh chóng trong những năm qua. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng từ 2,4 tỷ USD trong năm 1990 lên trên 5,4 tỷ USD năm 1995, tăng 14,5 tỷ USD năm 2000, đến 32,5 tỷ USD trong năm 2006 và có khả năng đạt 47,5 tỷ USD trong năm 2007. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh : từ 30,8% năm 1990 lên 46,5 % năm 2000, lên trên 61,3% năm 2005, lên 65% năm 2006 và 67% năm 2007 – tỷ lệ tăng này thuộc loại cao so với các nước trong khu vực ( đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 khu vực châu á, và thứ 8 trên thế giới). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người cũng tăng từ 36,4 USD năm 1990, lên 75 USD năm 1995, lên 186,8 USD năm 2000, lên 391 USD năm 2005, lên 473,2 USD năm 2006 và khả năng năm 2007 đạt 557 USD.(Hiệp hội lương thực thành Phố năm 20007) Đồng hành với sự phát triển của ngnh chế biến xuất khẩu nơng sản thực phẩm là nhiều vấn đề về môi trường đặc biệc là ô nhiễm của môi trường không khí và môi trường nước do ngành chế biến xuất khẩu thực phẩm gây ra. Tuy vậy, việc xử lý ô nhiễm hiện nay vẫn chỉ là xử lý cuối đường ống, giải pháp này vừa tốn kém lại không lâu dài. Một cách tiếp cận có thể giải quyết các vấn đề ô nhiễm không tốn kém nhưng lại có hiệu quả lâu dài, đó là giải pháp sản xuất sạch hơn. Ap dụng SXSH không những cải thiện được môi trường mà còn mang lại hiểu quả kinh tế cho các doanh nghiệp. Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, nên yêu cầu thị trường nước ngoài về chất lượng sản phẩm rất khắc khe. Đây là một động lực cho các doanh nghiệp sản xuất cần quan tâm nhiều hơn nữa đến quy trình sản xuất sản phẩm. Vì vậy, việc triển khai áp dụng SXSH là rất cần thiết cho các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, đặc biệt là ngành chế biến xuất khẩu thực phẩm. Vì vậy, “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp Sản Xuất Sạch Hơn áp dụng cho công ty Cổ Phần Nông Sản Xuất Khẩu Sài Gòn” được triển khai nghiên cứu và đây cũng chính là nguyên nhân để chọn đề tài.

Đồ Án Nghiên Cứu Đề Xuất Các Giải Pháp Sản Xuất Sạch Hơn Áp Dụng Tại Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Thuỷ Sản Quảng Bình

Bức Xúc Thực Tế Về Hiện Trạng Thực Hành Di Sản Phi Vật Thể Trong Đời Sống Xã Hội Hiện Nay Và Đề Xuất Giải Pháp

Hãy Đề Ra Các Biện Pháp Luyện Tập Để Có Thể Có Một Hệ Hô Hấp Khỏe Mạnh: Vệ Sinh Hô Hấp

8 Bí Quyết Mạnh Khỏe Sống Lâu

Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát Của Cơ Quan Dân Cử Đối Với Việc Thực Thi Chính Sách, Pháp Luật Về An Sinh Xã Hội Ở Việt Nam

Đề Tài Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Sản Xuất Sạch Hơn Cho Công Ty Cổ Phần Kiềm Nghĩa (Phân Xưởng Củ Chi)

Đề Xuất Các Giải Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Dãy Trường Sơn Trong Bối Cảnh Bđkh

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Công Tác Giáo Dục Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên Và Môi Trường Cho Học Sinh Ở Trường Trung Học Cơ Sở

Các Biện Pháp Phòng Chống Béo Phì Cho Trẻ, Sáng Kiến Kinh

Skkn Các Biện Pháp Phòng Chống Béo Phì Cho Trẻ

Các Phương Pháp Điều Trị Thừa Cân Béo Phì Hiệu Quả

Sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người đã làm cho môi trường và tài nguyên thiên nhiên ngày càng chịu nhiều tác động tiêu cực. Ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, suy giảm tài nguyên, thay đổi khí hậu toàn cầu là hậu quả trực tiếp, gián tiếp của các tác động do các dự án, chính sách phát triển không thân thiện với môi trường. Nước ta đang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình này đã tạo ra những thay đổi lớn về mặt kinh tế nhưng đồng thời cũng để lại nhiều hậu quả về mặt môi trường. Đóng góp vào sự thay đổi đó chính là do sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu công nghiệp, các hoạt động sản xuất. Có thể nói các khu công nghiệp, các hoạt động sản xuất đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế cả nước. Thế nhưng, bên cạnh ưu điểm bao giờ cũng kèm theo các nhược điểm, thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng hiện nay phần lớn là do chất thải từ hoạt động sản xuất, khu công nghiệp. Chính vì thế, việc xây dựng và áp dụng biện pháp quản lý môi trường hiệu quả là một vấn đề rất cần thiết. Làm thế nào để vừa mang lại lợi ích kinh tế vừa cải thiện hiện trạng môi trường cho các doanh nghiệp. Đây chính là bài toán nan giải không chỉ riêng ở Việt Nam mà hiện nay các nước trên thế giới rất quan tâm đặc biệt trong xu thế mà thế giới đang tiến đến mục tiêu phát triển bền vững. Để giải quyết các vấn đề môi trường, giải pháp trước đây mà các cơ sở vừa và nhỏ thường tiếp cận là giải pháp xử lý cuối đường ống (End of pipe-EOP), tức là chỉ chú trọng xử lý các dòng thải sau khi nó được tạo ra. Cách tiếp cận này mang tính bị động, xử lý không đem lại hiệu quả cao và không mang lại lợi ích cho các cơ sở. Hiện nay sản xuất sạch hơn là một trong những phương pháp hữu hiệu để giúp cho một tổ chức vừa cải thiện kinh tế và môi trường cho công ty mình, tái sử dụng phần bán thành phẩm có giá trị, giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải, cải thiện sức khỏe nghề nghiệp và an toàn lao động, và đặc biệt là tạo nên hình ảnh công ty tốt hơn. Với triết lý kinh doanh “Chất lượng là sự sống còn của thương hiệu”, Kiềm Nghĩa luôn mong muốn trở thành một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp những dụng cụ, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp. Ngày nay làm đẹp là tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng cuộc sống, khi đời sống con người được nâng cao thì nhu cầu làm đẹp cho chị em phụ nữ là không thể thiếu. Nắm bắt nhu cầu trên không ít công ty, nhà máy ra đời. Vì thế để đứng vững trên thị thường đòi hỏi Kiềm Nghĩa phải không ngừng hoàn thiện, cải tiến thiết bị, xây dựng các biện pháp nhằm nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực trong hoạt động sản xuất kiềm đang là vấn đề cấp thiết, trong đó tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng là hướng đi tích cực nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho công ty. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp sản xuất sạch cho công ty Kiềm Nghĩa là hết sức cần thiết, là một trong những phương pháp hữu hiệu để cải thiện tình hình kinh tế và môi trường cho công ty. Từ những yêu cầu cấp thiết trong thực tế, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ” Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn cho công ty Cổ phần Kiềm Nghĩa (phân xưởng Củ Chi)”.

Đổi Mới Căn Bản Cách Tiếp Cận, Giải Quyết Công Việc, Nêu Gương Từ Thực Tiễn, Thực Hiện Thắng Lợi Các Chỉ Tiêu Đại Hội

Nêu Cao Tinh Thần Đoàn Kết, Nỗ Lực Vượt Qua Khó Khăn, Thực Hiện Thắng Lợi Các Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Đề Ra

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lần Thứ Xvi (Nhiệm Kỳ 2022

Nhiều Vấn Đề Trọng Tâm Nhằm Tạo Bước Đột Phá Trong Phát Triển Kinh Tế

Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Đảng Các Cấp

Chuyên Đề Giải Pháp Mở Rộng Thị Trường Xuất Khẩu Kính Xây Dựng Của Công Ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Viglacera

Giải Pháp Mở Rộng Vùng Phủ Sóng Wifi Hiệu Quả

Giải Pháp Cần Thiết Để Mở Rộng Sóng Wifi Fpt Trong Gia Đình Bạn

Mở Rộng Sóng Wifi Thông Qua Đường Dây Điện

Bộ Kích Sóng Wifi Cực Mạnh.giá Cực Sốc Chỉ Từ 189.000 Đồng

Bộ Phát Wifi Mở Rộng Sóng Tenda Nova Mw6 (500M²)

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU KÍNH XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIGLACERA 3

1.1. Lý luận chung về mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp 3

1.1.1 Thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp 3

1.1.1.1. Xuất khẩu 3

1.1.1.2. Thị trường 4

1.1.1.3. Thị trường xuất khẩu 5

1.1.2. Mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp 7

1.1.2.1. Khái niệm mở rộng thị trường xuất khẩu 7

1.1.2.2. Vai trò của mở rộng thị trường xuất khẩu với doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân 8

1.1.2.3. Các phương thức mở rộng thị trường xuất khẩu 9

1.1.2.4. Nội dung hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế 10

1.1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp 17

1.1.2.6. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp 19

1.2. Sự cần thiết phải mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera. 22

1.2.1. Vị trí của hoạt động xuất khẩu kính xây dựng trong cơ cấu kinh doanh của công ty 22

1.2.2. Tiềm năng xuất khẩu kính xây dựng của công ty 23

1.2.3. Tầm quan trọng của hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng đối với công ty 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM KÍNH XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIGLACERA 25

2.1 Khái quát chung về công ty cổ phần xuất nhập khẩu Viglacera 25

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 25

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của công ty 26

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 26

2.1.4 Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của công ty 28

2.1.4.1 Đặc điểm về sản phẩm 28

2.1.4.2 Đặc điểm vê lao động 32

2.1.4.3 Đặc điểm về vốn và nguồn vốn 34

2.1.5 Tình hình kinh doanh của công ty 35

2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty 38

2.2.1 Các nhân tố khách quan 38

2.2.2 Các nhân tố chủ quan 39

2.3 Thực trạng hoạt đông mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty 39

2.3.1 Các hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty 39

2.3.1.1 Nghiên cứu thị trường 39

2.3.1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu 40

2.3.1.3 Xác định chiến lược và phương thức mở rộng thị trường xuất khẩu 40

2.3.1.4 Đàm phán và kí kết hợp đồng 41

2.3.1.5 Hoạt động Marketing quốc tế trên thị trường xuất khẩu 41

2.3.2 Kết quả hoạt động mở rộng thị trường của công ty đến năm 2007 41

2.3.2.1 Số lượng thị trường xuất khẩu 41

2.3.2.2 Quy mô và cơ cấu thị trường xuất khẩu 42

2.3.3 Đánh giá khả năng thực hiện các chỉ tiêu mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty 47

2.4 Đánh giá hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty 49

2.4.1 Những ưu điểm trong hoạt động mở rộng thị trường kính xây dựng của công ty 49

2.4.2 Những tồn tại trong hoạt động mở rộng thị trường kính xây dựng của công ty 49

2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại 49

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU KÍNH XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIGLACERA 49

3.1 Phương hướng mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty đến năm 2010 49

3.1.1 Mục tiêu xuất khẩu kính xây dựng đến năm 2010 49

3.1.2 Định hướng mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng đến năm 2010 49

3.2 Một số giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu kính xây dựng của công ty 49

3.2.1 Giải pháp từ phía công ty 49

3.2.2 Kiến nghị đối với nhà nước 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Đề Tài Giải Pháp Mở Rộng Thị Trường Xuất Khẩu Hàng Dệt May

Hà Nội Tìm Giải Pháp Mở Rộng Thị Trường Trước Bối Cảnh Dịch Covid

Một Số Giải Pháp Nhằm Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Nhựa Xây Dựng Của Công Ty Cổ Phần Nhựa Đồng Nai Đến Năm 2022

Tài Liệu Một Số Giải Pháp Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Trà C2 Của Công Ty Tnhh Urc Việt Nam Đến Năm 2022 (Ppt)

Giải Pháp Mở Rộng Diện Tích Cây Bông Vải Tại Công Ty Cổ Phần Bông Việt Nam Đến Năm 2022

Đề Xuất Giải Pháp Xây Dựng Công Nghiệp Văn Hóa

Chiến Lược Phát Triển Các Ngành Công Nghiệp Văn Hóa

Phát Triển Các Ngành Công Nghiệp Văn Hóa: Cần Những Bước Đột Phá

Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Tâm Linh Tại Khu Di Tích Gò Tháp

Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Di Sản Văn Hóa

Đề xuất giải pháp xây dựng công nghiệp văn hóa

Uyên Huy 19/05/2017

Hoạt động văn hóa bao gồm quá trình sáng tạo, sản xuất, bảo quản phổ biến và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa.

Sản phẩm văn hóa bao gồm hai loại: Sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể. Sản phẩm văn hóa vật thể là loại sản phẩm văn hóa tồn tại hữu hình dưới dạng vật thể như các tác phẩm hội họa, điêu khắc, kiến trúc, thiết kế mỹ thuật, các tác phẩm văn học, các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, cổ vật bảo vật, các di tích khảo cổ học…

Sản phẩm văn hóa phi vật thể là loại sản phẩm văn hóa không hiện hữu một cách cố định. Nó tồn tại dưới dạng các quan niệm về giá trị và chuẩn mực xã hội, được ghi nhận và lưu truyền trong ký ức của xã hội.

Các sản phẩm văn hóa tác động đến cộng đồng thông qua các thiết chế văn hóa xã hội như gia đình, trường học, trung tâm văn hóa, bảo tàng, thư viện, cơ quan thông tin đại chúng… Đây là “cốt vật chất” để tổ chức và chuyển tải các giá trị văn hóa đến cộng đồng. Như vậy, đời sống văn hóa bao gồm toàn bộ các hoạt động của cá nhân và cộng đồng.

Giới mỹ thuật chúng tôi quan tâm đến dạng văn hóa vật thể, cụ thể là tranh tượng, sản phẩm thiết kế mỹ thuật, Bảo tàng, Nhà triển lãm, Gallery cũng như các điều kiện để hình thành và phát triển cái gọi là công nghiệp văn hóa nói chung và của TP. Hồ Chí Minh nói riêng.

Một góc trưng bày Triển lãm 10 năm Điêu khắc Toàn quốc, lần thứ 5

Sau 30 năm đổi mới, sự xuất hiện của tư nhân trong kinh doanh văn hóa nghệ thuật thì chúng ta nhận thấy có khi thành công và thất bại cũng không ít. Nhưng sự thua sút về kinh tế, chịu lỗ đều ở phía các sản phẩm văn hóa lại rơi nhiều vào khối doanh nghiệp Nhà nước. Trên thực tế, giữa phía Nhà nước và tư nhân thì mục tiêu, quy mô, nhịp độ, hình thái kinh doanh vốn không giống nhau. Một bên là thuần về kinh doanh, thương mại, nhanh nhẹn, quảng bá mạnh, cố bảo vệ thương hiệu, không thích thua lỗ và ứng dụng khoa học nghiên cứu thị trường giỏi; còn phía Nhà nước thì thường nặng về nội dung, quảng bá kém, cấp quản lý thiếu năng động, mang tư duy bao cấp.

Nói gì thì nói, xét về mặt bằng chung thì văn hóa nghệ thuật của cả nước chưa thể gọi là chuyên nghiệp và hiện đại. Vì thế nói tới “có công nghiêp văn hóa” thật khó thuyết phục. Chúng ta thường bị thua sút với bè bạn trong khu vực về sức thu hút của môi trường chuyên môn, tính chuyên nghiệp-hiện đại của các thiết chế văn hóa, trình độ quản lý, thiếu tính đa dạng trong sáng tạo, thiếu cập nhật, ứng dụng những thông tin mới; không đa dạng về quảng bá, công nghệ truyền thông yếu kém không chuyên nghiệp.

Các hội chuyên ngành là đoàn thể chính trị xã hội nghề nghiệp với kinh phí ít ỏi khó thu hút được lực lượng trẻ đang cần sự đầu tư quảng bá cho sự phát triển tài năng cá nhân. Cho nên, hiện nay một số các bạn trẻ đành nhận sự giúp đỡ của các gallery nước ngoài và họ chấp nhận đem tài năng của mình để góp phần tạo nên sự nổi tiếng cho chủ nhân của các thương hiệu kinh doanh văn hóa nghệ thuật đã chịu bỏ tiền ra giúp họ phát huy tài năng và quảng bá tác phẩm của mình! Giới trẻ hiện nay, không làm điều sai, họ luôn mong muốn được phát triển cá nhân với không gian sáng tạo nghệ thuật chuyên nghiệp, hiện đại có trình độ quốc tế…

Hoạt động giáo dục tương tác giữa nhà trường và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Ngày 08/09/2016 Thủ tướng Chính phủ ký, Quyết định số 1755/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam từ nay đến 2022, hướng tới tầm nhìn 2030. Trong Quyết định nói rõ là xây dựng ba trung tâm công nghiệp văn hóa lớn trong cả nước là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Đối với TP. Hồ Chí Minh, trước đó, ngày 10/8/2012 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2022. Văn nghệ sĩ Thành phố đã rất phấn khởi về sự quan tâm này.

Ngày 26/02/2015 Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 542/QĐ-BVNTTDL về Quy hoạch phát triển mỹ thuật Việt Nam đến 2022, tầm nhìn 2030.

Vậy TP. Hồ Chí Minh làm gì, làm như thế nào để trở thành một trong ba trung tâm công nghiệp văn hóa tiêu biểu của cả nước như sự định hướng của Quyết định 1755/QĐ-TTg và cả trong nội dung Quy hoạch mỹ thuật Việt Nam đến 2022, tầm nhìn 2030 cho địa phương này?.

TP. Hồ Chí Minh đang phải cố gắng phát triển công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa nghệ thuật trên cái nền của các thiết chế văn hóa yếu kém (bảo tàng mỹ thuật, nhà hát, nhà triển lãm…) mà ngân sách thành phố đã bị cắt giảm!.

Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh và một góc trưng bày. Ảnh: chúng tôi

Vậy vấn đề cốt lõi cần đặt ra khi nói về xây dựng chiến lược công nghiệp văn hóa và hoàn thiện thị trường này như sau:

1. Nhà nước cần xem xét thật kỹ cái nền của xã hội, thực lực, đặc điểm về đời sống, môi trường (quốc tế lẫn bản địa), các thiết chế văn hóa hiện có của các khu vực được cho là trọng tâm. Phải phân định rõ vai trò của nhà nước vĩ mô, với khả năng đầu tư, khả năng của các hội chuyên ngành và của văn nghệ sĩ và của địa phương. Đã nói đến chiến lược là phải thực hiện thật khoa học, thật chuyên nghiệp và khả thi chứ không phải chỉ là vận động với tư duy “có chi dùng nấy”, “liệu cơm gắp mắm”. Đặc biệt là phải xem lại tư tưởng “văn hóa nghệ thuật là thứ ăn theo là phi sản xuất”. Như vậy, cách tư duy, cách nhìn, tầm nhìn về mối quan hệ giữa quốc tế và quốc gia, giữa chính trị và văn hóa nghệ thuật có cần mở thoáng hơn hay không?

2. Phải xem xét, đánh giá khả năng, mức độ, trình độ, tần suất giao lưu quốc tế, khả năng quảng bá về văn học nghệ thuật trong hơn ba mươi năm đổi mới… ở đó có vai trò của Nhà nước và bản thân các văn nghệ sỹ.

3. Hình thành cơ quan giám định nghệ thuật để đánh giá, thẩm định, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả với sự thành lập lực lượng giám định viên chuyên nghiệp là các chuyên gia, nghệ sĩ thâm niên, giỏi nghề, có tinh thần trách nhiệm, công tâm, hiểu biết về luật sở hữu trí tuệ có thể kết nối với quốc tế. Tránh tình trạng như vụ Triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” tại Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM.

5. Nhà nước cần thành lập Hội đồng nghệ thuật với cơ cấu 2/3 là giới nghệ sĩ mỹ thuật giỏi chuyên môn, tư duy mở thoáng, có tầm nhìn về kinh tế thị trường, các xu hướng mới về nghệ thuật, giỏi về sản xuất. Tránh tình trạng những người không chuyên môn tham gia vào các Hội đồng nghệ thuật.

6. Phải quy chuẩn hóa, phân loại hệ thống gallery triển lãm mỹ thuật và quản lý rõ ràng thành hai dạng gallery: gallery chuyên kinh doanh trưng bày tranh gốc, độc bản và loại gallery chuyên kinh doanh tranh sao chép. Cả hai phải được cấp giấy hành nghề riêng biệt với những quy định riêng, rõ ràng. Người chủ đầu tư phải là người có học mỹ thuật.

9. Phải có hệ thống bảo tàng mỹ thuật, nhà triển lãm, nhà đấu giá, trung tâm hội chợ nghệ thuật chuyên nghiệp-hiện đại; có khả năng liên kết với quốc tế. Các đơn vị này phải được quản lý, điều hành bởi lực lượng chuyên gia cùng với bộ máy là những nhân viên được học và giỏi về nghiệp vụ.

Nhiều năm qua TP. Hồ Chí Minh cũng như nhiều nơi đang thiếu cách nhìn, sự quan tâm, đầu tư để có thể hình thành hệ thống thiết chế chuyên nghiệp-hiện đại này cho các chuyên ngành nghệ thuật. Trách nhiệm này thuộc các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, nơi luôn giữ vai trò hoạch định chính sách, đầu tư, quản lý và phát triển văn học nghệ thuật.

Bất cứ nơi nào, bất cứ ai không quan tâm hình thành cá́c hệ thống thiết chế này thì không thể nói đến hoạt động mỹ thuật chuyên nghiệp; không thể hình thành công nghiệp mỹ thuật hay “chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa”!.

10. Phải có các tạp chí chuyên nghiệp về các lĩnh vực mỹ thuật từ mỹ thuật tạo hình với mỹ thuật ứng dụng, trong đó có mỹ thuật dân gian và truyền thống. Phải xác định khách hàng mục tiêu của tạp chí này chính là sinh viên mỹ thuật, các nhà nghiên cứu, giảng dạy, lý luận phê bình nghệ thuật, tạp chí này phải kết nối được với các tạp chí quốc tế và các trung tâm đào tạo, quảng bá, đấu giá các tác phẩm mỹ thuật thế giới cũng như các đơn vị tổ chức các giải thưởng quốc tế về mỹ thuật.

11. Các trường mỹ thuật tạo hình lẫn mỹ thuật ứng dụng (nghệ thuật thiết kế công nghiệp, nghệ thuật thủ công, nghệ thuật dân gian) phải đổi mới nhiều hơn về nội dung phương pháp đào tạo. Tại đấy có nhà triển lãm chuyên nghiệp riêng trong mỗi trường. Các trường cần liên kết với các tổ chức xã hội trong việc phối hợp trong đào tạo, tổ chức các cuộc thi sáng tác mỹ thuật, giúp cho việc phát hiện, phát triển bồi dưỡng nhân tài…để đưa các ý tưởng, sản phẩm, tác phẩm vào sản xuất, vào đời sống thị trường chuyên nghiệp.

12. Giới nghệ sĩ phải luôn giữ được lòng tự trọng nghề nghiệp, uy tín cá nhân, uy tín quốc gia trong tư duy thực hành sáng tạo, giao lưu quốc tế; đặc biệt là trên thị trường nghệ thuật.

Tóm lại, giờ đây, chúng ta đã và đang và thấy nhìn rõ thực trạng văn học nghệ thuật của cả nước, trong đó có mỹ thuật.

Hơn bao giờ hết, chúng ta chờ mong có sự đổi mới hơn nữa cách tư duy về mối quan hệ giữa kinh tế với văn học nghệ thuật (trong đó có mỹ thuật); mong đợi phải phía Nhà Nước có sự quyết tâm đầu tư để xây dựng, hình thành cá́c thiết chế văn hóa, các trang thiết bị phục vụ cho đời sống mỹ thuật thật chuyên nghiệp-hiện đại. Làm được những điều này chính là cách thể hiện sự quan tâm đến phát triển công nghiệp văn hóa mỹ thuật.

Phát Triển Công Nghiệp Văn Hóa Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng

Cần Giải Pháp Thích Hợp Để Phát Triển Ngành Công Nghiệp Văn Hóa

Lạng Sơn Thực Hiện Các Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch

Nhiều Thách Thức Trong Bảo Tồn Phát Triển Văn Hóa Tây Nguyên

Giải Pháp Nào Bảo Tồn Văn Hóa Cồng Chiêng?

🌟 Home
🌟 Top