Bảo Vệ Rừng Ngập Mặn

--- Bài mới hơn ---

  • Bí Thư Tỉnh Ủy Nguyễn Văn Đọc::có Giải Pháp Bảo Vệ, Khôi Phục Hệ Sinh Thái Rừng Ngập Mặn Vùng Cửa Sông Tiên Yên
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Bảo Vệ Rừng
  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon Năm 2022
  • 5 Cách Giải Cứu Rừng Amazon Từ Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên Wwf: Hãy Đọc Ngay Để Biết Bạn Nên Làm Gì Lúc Này
  • Thực Trạng Cháy Rừng Ở Việt Nam, Vai Trò Của Các Hệ Sinh Thái Rừng
  • (WIP) – Rừng ngập mặn không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển, đồng thời là nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển.

    Tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với môi trường sinh thái đã được các nhà khoa học khẳng định từ lâu. Đặc biệt trong tương lai, rừng ngập mặn còn là cứu cánh của con người trong việc ứng phó với sự biến đổi khí hậu, khi mực nước biển dâng cao. So với các tỉnh miền Tây Nam bộ, diện tích rừng ngập mặn của Quảng Ngãi không nhiều nhưng nó có một vai trò quan trọng đối việc bảo vệ môi trường ven biển. Mặc dù vậy, nhưng lâu nay rừng ngập mặn lại ít được quan tâm khôi phục, bảo vệ và phát triển. Ở Quảng Ngãi diện tích rừng ngập mặn ngày càng thu hẹp lại do sự tàn phá của con người.

    Quảng Ngãi có chiều dài bờ biển 130 km. Do đặc điểm tự nhiên nên tỷ lệ diện tích rừng ngập mặn rất ít, phần lớn rừng hiện có ở các huyện ven biển là rừng phòng hộ ven biển (trên 18.000 ha). Tuy nhiên, cả hai loại rừng này đều không được quan tâm đúng mức của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Bên cạnh sự xâm hại nghiêm trọng từ việc phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát của người dân cũng như do sự tác động tiêu cực của việc biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao dẫn đến tình trạng sạt lở bờ biển, cửa biển và các khu dân cư ven biển ngày càng nghiêm trọng.

    Khu vực bờ tràn, giáp ranh giữa xã Tịnh Hòa và Tịnh Khê (huyện Sơn Tịnh), cách đây khoảng 12 năm, quần thể động thực vật nơi đây vô cùng phong phú với loài chiếm ưu thế là cây bần. Khi nghề nuôi tôm nước lợ bắt đầu xuất hiện cũng là lúc quần thể sinh vật này bị đe dọa, tiêu diệt. Không biết bao nhiêu cây bần đã bị chặt phá để nhường chỗ cho các ao nuôi tôm,… kéo theo đó là sự biến mất của rất nhiều loài động, thực vật khác. Mất đi cây bần, có nghĩa là mất đi thức ăn tự nhiên cho tôm, mất đi những vi sinh vật trong tự nhiên giúp tôm kháng bệnh. Cây bần bị mất đi, nghề nuôi tôm nước lợ cũng bị khốn đốn. Những năm gần đây, các hồ tôm này cũng lại bị bỏ hoang và môi trường sinh thái nơi đây bị hủy hoại. Bởi lẽ người ta đã không biết rằng, chính môi trường tự nhiên trước kia mới là điều kiện thuận lợi để con tôm phát triển.

    Tại Quảng Ngãi, rừng ngập mặm bị tàn phá, nhường chỗ cho những đìa tôm, ao cá không phải là ít. Hiện chưa có số liệu thống kê về diện tích rừng ngập mặn đã bị tàn phá bởi chính bàn tay con người và của quá trình công nghiệp hóa.

    Theo quy luật tự nhiên, thực vật ngập mặn phát triển ở nơi giao nhau giữa sông và biển, nơi thường xuyên có sự biến đổi mực nước, độ mặn cũng như môi trường theo thay đổi của thủy triều. Do đó, động thực vật ở đây đa dạng, phong phú, vừa sống được dưới nước, vừa sống được trên cạn, lại thích nghi với môi trường nước lợ. Nhiều loài cá đều trải qua một phần thời gian sinh trưởng trong vòng đời của mình ở rừng ngập mặn. Những loài giáp xác như tôm, cua sinh ra ở biển khơi, ấu trùng của chúng được dòng chảy trong đại dương đưa chúng vào rừng ngập mặn, nơi đây chúng sinh trưởng đến lúc sinh sản chúng lại di cư trở lại ở vùng nước sâu để đẻ. Nhiều loài chim đến rừng ngập mặn theo mùa để kiếm ăn hoặc trú ẩn và có thể hình thành các đàn lớn. Mất đi rừng ngập mặn cũng đồng nghĩa với việc mất đi nguồn sống của bà con ngư dân đánh bắt hải sản ven bờ.

    Bên cạnh các giá trị về đa dạng sinh học, rừng ngập mặn còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, hạn chế bão lũ, triều cường. Rừng ngập mặn có khả năng hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm. Hệ rễ cây chằng chịt trên mặt đất làm giảm cường độ của sóng nên hạn chế dòng chảy vào nội địa khi triều cường. Khi mực nước biển dâng cao, chúng ta phải đối diện với nguy cơ mất đất ở, đất sản xuất, đồng thời nước ngầm cũng sẽ bị nhiễm mặn. Trong khi đó, rừng ngập mặn lại có khả năng giữ và cố định vật chất lơ lửng, phù sa, từ đó sẽ tạo nên một vùng đất mới. Nhờ có hệ rễ dày đặc trên mặt đất, cây rừng ngập mặn còn góp phần vào việc giảm tốc độ dòng chảy của thuỷ triều, giảm sự xói lở do sóng biển gây ra. Hạt nảy mầm khi còn ở trên cây, mầm rơi xuống nước và trôi đến chỗ cạn, nếu gặp điều kiện thuận lợi cho hệ rễ phát triển thì nơi đó bắt đầu cho sự hình thành một hòn đảo mới. Nhờ cây con, quả, hạt có khả năng sống dài ngày trong nước cho nên cây ngập mặn có thể phát tán rộng vào đất liền. Nước biển dâng đến đâu thì cây mọc đến đó.

    Có thể thấy những lợi ích, hiệu quả mà rừng ngập mặn mang lại. Rừng ngập mặn có thể được xem như “vị cứu tinh” của con người khi mực nước biển dâng cao. Song những diễn biến phức tạp, khó lường của thiên tai, nhiệt độ trái đất đang ấm dần lên, mực nước biển dâng lên ngày càng cao,…vấn đề đặt ra là hiện nay là làm thế nào để bảo vệ, khôi phục và trồng lại những khu rừng ngập mặn đã bị tàn phá, tiếp tục mở rộng diện tích trồng rừng mới vẫn đang là bài toán khó. Vì lợi ích kinh tế, vì kế sinh nhai, rừng vẫn có thể bị chặt phá nếu không được trông coi, giám sát chặt chẽ.

    Theo ông Nguyễn Quốc Tân- Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, Tuy vai trò của rừng ngập mặn đã được khẳng định từ lâu nhưng thực tế, chúng ta vẫn chưa quan tâm nhiều đến rừng ngập mặn. Trước kia có bao nhiêu, mất bao nhiêu thì cũng chưa có thống kê cụ thể. Còn hay mất gì thì cũng không ai quan tâm. Quảng Ngãi cũng là một trong những địa phương sẽ chịu hậu quản nặng nề do sự biến đối khí hậu. Và rừng ngập mặn đóng vai trò lớn giúp chúng ta chống chọi với vấn nạn này. Từ trước đến nay, chúng chỉ đề cập đến rừng ngập mặn về tính ta dạng sinh học chứ ít nói đến vấn đề này. Đặc tính của rừng ngập mặn là hướng ra biển, do đó, chúng sẽ là một bức tường thành vững chắc bảo vệ con người.

    Đề án “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ven biển, giai đoạn 2008-2015” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu thiết lập hệ thống rừng ngập mặn để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường một cách ổn định. Trong giai đoạn đầu, sẽ trồng và nâng cao chất lượng rừng với diện tích trên 32.800 ha, trồng thêm hơn 97.500 ha, nâng tổng diện tích rừng ngập mặn cả nước lên trên 307.200 ha vào năm 2022.

    Tại Hội nghị quốc gia “Khôi phục và phát triển rừng ngập mặn Việt Nam nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu” tổ chức tại TP Hồ Chí Mịnh vào tháng 11/2008, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT phát biểu: “Với bờ biển dài và những đồng bằng dài có nhiều sông ngòi, Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu”. Hơn 1/3 dân số và khoảng 16% diện tích đất sẽ bị ảnh hưởng nếu mực nước biển dâng cao. Hàng trăm loài động thực vật sẽ bị đe doạ tuyệt chủng bởi sự suy giảm các dải san hô ngầm hay sự thu hẹp các khu rừng ngập mặn.

    Việc khôi phục và phát triển rừng ngập mặn ở Quảng Ngãi là vấn đề hết sức cấp thiết và bảo vệ môi trường ven biển bền vững. Tuy nhiên, việc khôi phục và trồng lại những khu rừng ngập mặn là vô cùng khó khăn, tốn kém. Nhưng với quyết tâm cao, những khó khăn trở ngại từ nhận thức của người dân đến công tác chỉ đạo, triển khai, tuyên truyền, vận động trồng và bảo vệ rừng sẽ được tháo gỡ và dự án sẽ phát huy tác dụng nhiều mặt, đặc biệt là phòng ngừa thảm họa thiên tai.

    Trích nguồn: www.agroviet.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Địa Lí 12
  • Bình Thuận: Tăng Cường Bảo Vệ Rừng Phòng Hộ Đầu Nguồn
  • Biện Pháp Bảo Vệ Rừng Đầu Nguồn
  • Bảo Vệ, Chăm Sóc Rừng Đặc Dụng
  • Đề Xuất Giải Pháp Để Quản Lý Bảo Vệ Rừng Có Hiệu Quả Rừng Phòng Hộ
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon?
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • Ba Biện Pháp Chống Suy Thoái Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • 1Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng Dùng Các …
  • Bài 14. Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên (Địa Lý 12)
  • Rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh có ý nghĩa quan trọng bảo vệ các tuyến đê biển và ngăn thủy triều dâng cao, xâm thực mặn, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của người dân khu vực ven biển. Xác định được tầm quan trọng đó, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều biện pháp quản lý, bảo vệ, kiên quyết không chuyển đổi sai mục đích đối với những cánh rừng ngập mặn.

    Lực lượng kiểm lâm Tiên Yên cùng người dân xã Đồng Rui trao đổi về công tác quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn.

    Nếu như năm 2022, trên địa bàn tỉnh có trên 19.370ha rừng ngập mặn, thì đến hết năm 2022 tăng lên thành 19.740ha. Sở dĩ có kết quả đó  là do những năm gần đây công tác bảo vệ rừng đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức, cá nhân quan tâm, thực hiện tốt. Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng nói chung và rừng ngập mặn nói riêng. Trong đó, nổi bật là thông báo Kết luận số 998-TB/TU ngày 08/8/2018 của Thường trực Tỉnh ủy về công tác quản lý bãi triều và rừng ngập mặn; Quyết định số 3722/QĐ-UBND ngày 19/9/2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 3812/QĐ-UBND ngày 25/9/2018 của UBND tỉnh về quy định mức khoán, hỗ trợ quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2022-2020 thuộc Chương trình Mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh.

    Theo thống kê, hiện có 11/14 địa phương của tỉnh có diện tích rừng ngập mặn (trừ 3 địa phương Ba Chẽ, Bình Liêu, Đông Triều). Trong đó, một số địa phương có diện tích rừng ngập mặn lớn, như: Tiên Yên (3.926ha), Móng Cái (gần 3.700ha), Quảng Yên (trên 2.740ha), Đầm Hà (trên 2.530ha), Vân Đồn (trên 2.530ha). Ở những địa phương có diện tích rừng ngập mặn, công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng được các ngành, các cấp quản lý chặt chẽ. Bên cạnh việc thành lập các tổ quản lý, bảo vệ rừng, các địa phương còn được UBND tỉnh cấp nguồn ngân sách hàng năm để khoán bảo vệ, với tổng diện tích gần 4.260ha, chiếm gần 22% tổng diện tích rừng ngập mặn toàn tỉnh.

    Ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết: Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng năm, các địa phương của tỉnh đã bố trí thêm nguồn vốn trồng rừng thay thế và nhiều nguồn vốn hợp pháp khác để trồng mới thêm trên 53ha rừng ngập mặn. Đặc biệt, nhiều tổ chức nước ngoài đã hỗ trợ kinh phí, trồng mới nhiều diện tích rừng ngập mặn tại xã Đồng Rui (Tiên Yên).

    Cánh rừng ngập mặn trải dài, xa tít tắp tại xã Quan Lạn (Vân Đồn) bao bọc, chắn gió bão, sóng to cho dân làng.

    Huyện Tiên Yên, một trong những địa phương có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất tỉnh (3.926ha). Diện tích rừng ngập mặn ở đây được bảo vệ nghiêm ngặt, với sự vào cuộc của lực lượng Hạt kiểm lâm, Phòng NN&PTNT, chính quyền địa phương và người dân. Trong đó vai trò của người dân ở khu vực ven biển luôn được coi trọng hàng đầu.

    Ông Nguyễn Tuấn Bằng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tiên Yên, cho biết: Hiện nay, lực lượng kiểm lâm địa bàn của đơn vị mỏng, song diện tích rừng trực tiếp tham gia, quản lý, bảo vệ lại rộng, do vậy công tác quản lý, bảo vệ, phát hiện các vụ việc vi phạm chủ yếu nhờ vào người dân là chính. Do đó, đơn vị thường xuyên tổ chức lực lượng xuống khu dân cư tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng, cung cấp số điện thoại của ngành chức năng cho nhân dân biết để kịp thời báo cáo các vụ việc vi phạm.

    Ông Đoàn Quang Quản, thôn Thượng, xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, cho biết: Người dân chúng tôi đã gắn bó lâu đời với cánh rừng ngập mặn nguyên sinh trên địa bàn, nó như một bức tường thành vững chắc ngăn sóng to, gió lớn, bảo vệ dân làng và tạo sinh kế. Vì thế người dân chúng tôi rất trân trọng và ra sức bảo vệ. Hiện người dân trong thôn đã có hẳn hương ước về công tác quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn. Nếu ai vi phạm sẽ bị phê bình trước toàn dân và nộp phạt 50.000 đồng/cây nhỏ, 100.000 đồng/cây to bị chặt.

    Để duy trì hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển ổn định, bền vững, hiện tỉnh đang tích cực chỉ đạo các ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch 3 loại rừng đã được phê duyệt; tiếp tục rà soát theo hướng không đưa ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng đối với rừng tự nhiên hiện có, rừng đặc dụng, rừng chắn sóng ven biển, nhất là đối với khu vực biển đảo, biên giới. Kiên quyết không chuyển diện tích rừng tự nhiên hiện có sang mục đích khác trừ các dự án phục vụ quốc phòng – an ninh hoặc các dự án đặc biệt, cấp thiết được cấp có thẩm quyền cho phép.

    Mạnh Trường

    [links()]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn
  • Nguyên Nhân Gây Mất Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Vấn Đề An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiện Nay
  • Xác Định Những Mối Nguy Gây Mất An Toàn Thực Phẩm (Attp) Thủy Sản Và Các Biện Pháp Cần Kiểm Soát
  • Áp Dụng Hệ Thống Haccp Giúp Phòng Ngừa Hiệu Quả Nguy Cơ Gây Ô Nhiễm Thực Phẩm
  • Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn
  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon?
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • Ba Biện Pháp Chống Suy Thoái Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • 1Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng Dùng Các …
  • Rừng ngập mặn Khánh Hòa đang đứng trước nguy cơ xóa sổ. Các nhà quản lý và khoa học đang tìm biện pháp bảo tồn.

     

     

    Nguy cơ xóa sổ

     

     

    Theo số liệu khảo sát về rừng ngập mặn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2022, rừng ngập mặn Khánh Hòa chỉ còn hơn 60ha. Trong khi đó số liệu trước năm 1975 là 2.500ha. Điều đó cho thấy, rừng ngập mặn Khánh Hòa đã bị tàn phá nghiêm trọng. 

     

     

    Các nhà quản lý và khoa học cùng nhận định, thời kỳ mất rừng nhiều nhất là giai đoạn 1990 – 2000, khi con tôm “lên ngôi”, nhiều khu rừng ngập mặn bị tiêu diệt để làm đìa nuôi tôm. Toàn tỉnh bị mất rừng hàng ngàn héc-ta, đặc biệt là những khu vực có nguồn lợi to lớn như: đầm Nha Phu, Thủy Triều, rừng Tuần Lễ, khu vực Vĩnh Thái – Phước Đồng (TP. Nha Trang)… Rừng mất đồng nghĩa với sinh thái biến đổi, một thời gian sau con tôm bị dịch bệnh triền miên. Người nuôi tôm thua lỗ, không còn đủ sức duy trì con tôm, khi nhận thức được quay lại giữ rừng thì đã muộn. Diện tích rừng ngập mặn phục hồi không đáng kể so với trước. 

     

     

    Không chỉ phá rừng ngập mặn nuôi tôm, các dự án phát triển kinh tế – xã hội cũng ảnh hưởng tới việc thu hẹp rừng ngập mặn. Điển hình như việc xây dựng đường Cổ Mã – Đầm Môn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến rừng bần Tuần Lễ (xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh) cả trăm năm tuổi. “Việc ngăn nước mặn vào các ô rừng bần sau khi làm đường đã tác động xấu tới rừng bần khiến nhiều cây bần bị chết do điều kiện sống thay đổi. Cây bần – một cây điển hình của rừng ngập mặn, không thể sống khi thiếu nước mặn”, Kỹ sư Trần Giỏi – Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường cho hay. 

     

     

    Thời gian gần đây, một số tổ chức, cá nhân nhận thức được vấn đề về môi trường, vai trò của rừng ngập mặn đã gầy lại rừng. Song việc gây rừng cũng như “muối bỏ biển”. Năm 2013, Nhà máy Đường Cam Ranh phối hợp Viện Hải dương học Nha Trang trồng lại rừng sau nhà máy tiếp giáp với đầm Thủy Triều. Đơn vị đã cố gắng gầy lại rừng vừa tạo sinh cảnh vừa giúp thanh thải những chất không có lợi đến môi trường. Tuy nhiên, hiện nay, rác thải nhựa đã uy hiếp sức sống của cánh rừng này. Rác thải nhựa đang bủa vây, bấu víu, bám vào thân cây mấm, gây tác động không tốt đến sức sinh trưởng và phát triển của cây mấm. 

     

     

    Rừng ngập mặn của Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú.

     

     

    Tìm giải pháp bảo tồn

     

     

    Theo các nhà khoa học, rừng ngập mặn trên bán đảo Hòn Hèo rất đa dạng, phong phú với 54 loài (19 loài thực thụ và 35 loài tham gia thuộc 34 họ, 50 chi). Không chỉ đa dạng về thành phần loài mà rừng ngập mặn Hòn Hèo còn đa dạng về giá trị sử dụng như: làm gỗ, dược liệu, tinh dầu, tanin, thực phẩm, cây cảnh… Tổng diện tích rừng ngập mặn Hòn Hèo chỉ còn khoảng 30ha. Nhiều loài có nguy cơ cần khẩn cấp nhân giống bảo tồn. Các loài cây ưu tiên là: Bát nha, Bàng vuông, Phong ba, Hếp, Bằng phi, Tâm mộc tim, Đa tử biển, Vẹt dù…

    Ông Lê Đình Quế – Kiểm lâm viên địa bàn Ninh Phú, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa cho biết, việc phục hồi rừng ngập mặn nói riêng hay rừng nói chung bằng cách giao rừng cho người nghèo, người khó khăn không còn phù hợp. Bởi, hộ nghèo không có điều kiện chăm sóc, bảo vệ rừng, dẫn đến rừng tiếp tục bị tàn phá. Cần xem xét giao rừng cho những hộ có điều kiện, để họ thuê mướn người nghèo làm việc, việc giữ rừng mới có hiệu quả. Một khó khăn hiện nay của lực lượng kiểm lâm là thiếu kinh phí và phương tiện giữ rừng. Việc khoán gọn định mức kinh phí không còn phù hợp để kiểm lâm có thể thường xuyên tuần tra, bảo vệ rừng, chưa kể nhiều nơi còn thiếu phương tiện để tuần tra rừng (cụ thể như tuần tra rừng ngập mặn phải có phương tiện thủy).  

     

    Sự chung tay bảo vệ rừng ngập mặn rất cần sự trợ sức của các doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái. Ông Nguyễn Văn Hưởng – Trưởng phòng Tổ chức, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển, Công ty Cổ phần Du lịch Long Phú cho biết, kể từ khi đơn vị chuyển sang hình thức cổ phần hóa đã định hướng phát triển du lịch sinh thái. 2 đảo Hoa Lan và đảo Khỉ do đơn vị quản lý phát triển mạnh loại hình này. Trong đó, đảo Hoa Lan có rừng ngập mặn, đơn vị tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt và không ngừng phát triển mở rộng, hiện nay là 4,3ha, tương lai 10ha. “Việc huy động các doanh nghiệp tham gia bảo vệ phát triển rừng ngập mặn là hướng đi đúng. Hiện nay có nhiều đơn vị đã làm. Tỉnh cần có cơ chế phát huy, khuyến khích…”, ông Hưởng nói. 

     

     

    Theo Tiến sĩ Lưu Hồng Trường – Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, Khánh Hòa cần khẳng định giá trị của rừng ngập mặn đối với phát triển kinh tế – xã hội – môi trường. Việc tỉnh xây dựng đề tài nghiên cứu khảo sát rừng ngập mặn Hòn Hèo thể hiện sự quan tâm và định hướng cho sự phát triển bảo tồn nguồn gen quý của rừng ngập mặn. Do đó, tỉnh cần có nghiên cứu tổng thể về rừng ngập mặn toàn tỉnh, từ đó có kế hoạch bảo vệ toàn diện. Bảo vệ, bảo tồn đi đôi với tuyên truyền, quản lý, nâng cao nhận thức cộng đồng, đồng thời có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm hành vi xâm hại. Ngoài ra, tỉnh cần nghiên cứu xây dựng vườn bảo tồn cây giống rừng ngập mặn, đặc biệt là các loài cây quý hiếm, có nguy cơ bị xâm hại để làm cơ sở phục hồi rừng ngập mặn căn cơ, bền vững. 

     

     

    V.LẠC

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Gây Mất Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Vấn Đề An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiện Nay
  • Xác Định Những Mối Nguy Gây Mất An Toàn Thực Phẩm (Attp) Thủy Sản Và Các Biện Pháp Cần Kiểm Soát
  • Áp Dụng Hệ Thống Haccp Giúp Phòng Ngừa Hiệu Quả Nguy Cơ Gây Ô Nhiễm Thực Phẩm
  • Các Mối Nguy Trong Haccp
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Cần Giờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ba Biện Pháp Chống Suy Thoái Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • 1Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng Dùng Các …
  • Bài 14. Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên (Địa Lý 12)
  • Bài 38. Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật Việt Nam (Địa Lý 8)
  • Cách Nào Giữ Được Rừng Tây Nguyên?
  • Moitruong.net.vn

    – Chung sức bảo tồn và phát triển Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ trước các tác động của đô thị hóa và biến đổi khí hậu chính là để bảo vệ môi trường TP.HCM.

    Ngày 23/7, UBND chúng tôi đã tổ chức Hội thảo kỷ niệm 20 năm quản lý và phát triển Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (2000 – 2022). Theo đó, vấn đề trọng tâm được đặt ra là chung sức bảo tồn và phát triển Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ trước những tác động của đô thị hoá cũng như biến đổi khí hậu.

    Sau gần 20 năm khôi phục và phát triển, từ những cánh rừng hoang sơ ban đầu, Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành “lá phổi xanh” của chúng tôi có chức năng điều hòa không khí, giảm ô nhiễm môi trường.

    Cần Giờ là một trong những rừng ngập mặn được trồng lại lớn nhất trên thế giới

    Được biết, rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn.

    Một trong những vai trò quan trọng của rừng ngập mặn Cần Giờ chính là hạn chế thiệt hại do bão lũ, giảm thiểu đến 50% năng lượng tác động từ sóng biển; ngăn ngừa nước biển dâng cao cũng như góp phần bảo vệ dân cư và cơ sở hạ tầng ven biển.

    Bên cạnh đó, cây rừng còn cung cấp củi, gỗ được dùng làm bột giấy, ván dăm, ván ghép; có thể khai thác lâu dài vì cây có khả năng phục hồi nhanh. Vỏ cây dùng để sản xuất chất tanin dùng nhuộm vải lưới, làm keo dán; lá cây mắm được dùng làm thức ăn cho gia súc.

    Theo Phó giáo sư, tiến sỹ Viên Ngọc Nam, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông lâm chúng tôi rừng ngập mặn Cần Giờ có nguồn lợi chính về thủy, hải sản. Trong đó, rừng có nhiều loại tôm, cá có giá trị kinh tế cao như cá chẽm, cá mú, cá ngát, tôm sú, tôm thẻ, sò huyết…

    Phương án bảo tồn và phát triển bền vững

    Hiện nay, Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ được chúng tôi quy hoạch, phát triển thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn du khách với sự hoàn thiện về hệ thống cầu, đường bộ, kênh mương, lối đi trong rừng.

    Sắp tới, UBND huyện Cần Giờ cho biết sẽ tập trung đầu tư phát triển hoàn chỉnh và tổ chức khai thác có hiệu quả không gian du lịch rừng trên cơ sở từng bước khép kín và kết nối với các không gian du lịch khác trong khu vực.

    Phương tiện chính để người dân đi lại trong rừng ngập mặn Cần Giờ là phà

    Về công tác quản lý tài ngyên rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ cho biết, hiện đơn vị này đã triển khai nhiều chương trình nghiên cứu, quan trắc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng nhằm định hướng công tác quản lý tài nguyên rừng, hướng đến phát triển bền vững, gia tăng diện tích rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.

    Ngoài ra, nhằm xây dựng những hạt nhân trong quản lý, bảo vệ rừng, từ năm 1994 đến nay, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đã tiến hành giao khoán bảo vệ rừng cho 144 hộ gia đình tại địa phương và 12 cơ quan, đơn vị. Mô hình này đã phát huy hiệu quả tốt khi các hộ giữ rừng đã yên tâm gắn bó và tích cực tham gia công tác bảo vệ rừng.

    Huyền Nhung (T/h)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon?
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn
  • Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn
  • Nguyên Nhân Gây Mất Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Vấn Đề An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiện Nay
  • Ba Biện Pháp Chống Suy Thoái Rừng Ngập Mặn Cần Giờ

    --- Bài mới hơn ---

  • 1Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng Dùng Các …
  • Bài 14. Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên (Địa Lý 12)
  • Bài 38. Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật Việt Nam (Địa Lý 8)
  • Cách Nào Giữ Được Rừng Tây Nguyên?
  • Vai Trò Của Rừng Đối Với Môi Trường Sống Của Chúng Ta!
  • Dự án 💖 New Big 5 💖 được sáng lập bởi Graeme Green, một nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Anh. Theo đó anh cùng các nhiếp ảnh gia và nhà bảo tồn động vật đã tổ chức bình chọn toàn cầu từ tháng 4/2020 để tìm ra loài động vật mà công chúng tò mò và muốn được chiêm ngưỡng đa chiều qua ảnh chụp nhiều nhất. Và kết quả thắng cuộc đã thuộc về loài voi 🐘, sư tử 🦁, hổ 🐅 khỉ đột 🦍 và gấu Bắc cực. Năm loài động vật mang tính biểu tượng này sẽ trở thành các “đại sứ toàn cầu”, đại diện cho những loài động vật hoang dã khác đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Thật tuyệt khi giờ đây chúng ta không còn săn bắn động vật hoang dã bằng súng mà thay vào đó là đi săn bằng máy ảnh phải không nào. Hi vọng dự án sẽ phần nào khiến cộng đồng chú ý và có trách nhiệm hơn với những gì đang xảy ra trong thế giới động vật hoang dã. Theo newbig5.com

    Nếu khi xưa thuật ngữ “Big 5” dùng để chỉ 5 loài động vật hoang dã có giá trị nhất trong trò chơi săn bắn của con người những năm 1800 thì giờ đây “New Big 5” đã ra đời với một ý nghĩa nhân văn hơn cả: tôn vinh và bảo tồn các loài động vật hoang dã.Dự án 💖 New Big 5 💖 được sáng lập bởi Graeme Green, một nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Anh. Theo đó anh cùng các nhiếp ảnh gia và nhà bảo tồn động vật đã tổ chức bình chọn toàn cầu từ tháng 4/2020 để tìm ra loài động vật mà công chúng tò mò và muốn được chiêm ngưỡng đa chiều qua ảnh chụp nhiều nhất. Và kết quả thắng cuộc đã thuộc về loài voi 🐘, sư tử 🦁, hổ 🐅 khỉ đột 🦍 và gấu Bắc cực. Năm loài động vật mang tính biểu tượng này sẽ trở thành các “đại sứ toàn cầu”, đại diện cho những loài động vật hoang dã khác đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.Thật tuyệt khi giờ đây chúng ta không còn săn bắn động vật hoang dã bằng súng mà thay vào đó là đi săn bằng máy ảnh phải không nào. Hi vọng dự án sẽ phần nào khiến cộng đồng chú ý và có trách nhiệm hơn với những gì đang xảy ra trong thế giới động vật hoang dã.Theo newbig5.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Tồn Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon?
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn
  • Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn
  • Nguyên Nhân Gây Mất Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Giải Pháp Phục Hồi Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Nam Trung Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đất Phèn Và Việc Bón Cải Tạo
  • Giáo Án Tin Học 11
  • Biện Pháp Cải Thiện Đất Đai, Hướng Đến Nông Nghiệp Bền Vững
  • Hướng Dẫn Cách Cải Tạo Đất Sét Để Trồng Cây
  • Tìm Hiểu Về Đất Sét Và Cách Làm Tơi Đất Sét Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Nam Trung Bộ là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, có tiềm năng phát triển các ngành nghề du lịch, khai thác và nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hàng hải và ngành công nghiệp chế xuất.

    Tuy vậy, các hiện tượng thiên tai, bão, lũ thường gây thiệt hại nặng nề cho khu vực này. Đặc biệt, do điều kiện địa hình dốc, lũ lụt diễn ra nhanh chóng và thất thường.

    Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan như thay đổi lượng mưa, nhiệt độ… diễn ra ngày càng phức tạp, nhất là vùng duyên hải ven biển, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của rừng ngập mặn nơi đây.

    Đánh giá hiện trạng

    Theo kết quả điều tra, khảo sát thực địa của nhóm các nhà khoa học Đỗ Quý Mạnh, Nguyễn Quốc Huy, Lê Văn Tuất thuộc Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, diện tích rừng ngập mặn tại khu vực Nam Trung Bộ trên 360ha (đất ngập mặn trên 465ha), phân bố tập trung ở vùng đầm, vùng cửa sông bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

    Thành phần loài thực vật đơn giản, chủ yếu là một số loài mắm trắng, mắm biển, đước đôi, bần chua và bần trắng… nhưng thay đổi mạnh theo thời gian và không gian và do phương thức sử dụng… nên biến động lớn về diện tích và chất lượng. Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn khu vực Nam Trung Bộ là cần thiết, qua đó đề xuất các giải pháp tác động tích cực vào rừng ngập mặn, lựa chọn loài cây trồng, xây dựng bản đồ lập địa ngập mặn, trồng rừng ngập mặn trong điều kiện địa hình, khí hậu khó khăn và rất khó khăn hiện nay.

    Khu vực ven biển Nam Trung Bộ có tổng chiều dài trên 1.200km, là nơi thường xuyên phải gánh chịu nhiều thiên tai, gió bão, lũ lụt, sóng lớn, triều cường; đặc biệt là hiện tượng nước biển dâng do tác động của biến đổi khí hậu.

    Khu vực có đặc trưng khí hậu gió mùa mang tính chất cận xích đạo; chế độ thủy triều thuộc dạng chế độ nhật triều không đều. Độ cao thủy triều trong kỳ nước cường trung bình 1,2-2m và tăng dần về phía Nam.

    Với đặc trưng địa hình dốc lớn, bị chia cắt nhiều, hàm lượng phù sa ít, độ mặn cao làm cho diện tích rừng ngập mặn khu vực Nam Trung Bộ kém phát triển hơn các khu vực khác. Nhất là biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát sinh, sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn.

    Hiện tượng nước biển dâng kèm theo đó là thời gian ngập bãi tăng lên làm cho cây ngập mặn ngày một khó thích nghi hơn với điều kiện bãi bồi. Cùng với nước biển dâng là các hiện tượng gió bão, triều cường cũng tăng lên, mạnh mẽ hơn, công phá bờ biển nhiều hơn làm mất đi đáng kể bãi sinh trưởng của cây ngập mặn.

    Theo Kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2022 cho khu vực ven biển Nam Trung Bộ, cuối thế kỷ 21 nhiệt độ ở khu vực này có thể tăng 1,6 độ C, 2-3 độ C, 2,5-3,7 độ C tương ứng theo kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao.

    Lượng mưa hàng năm tăng phổ biến khoảng trên 6%, 2-7%, 2-10%; mực nước biển dâng tương ứng trong khoảng 49-64cm, 57-73cm và 78-95cm. Do đó, việc lựa chọn loài cây phù hợp với sự thay đổi của điều kiện tự nhiên như nhiệt độ, lượng mưa, sự thay đổi mực nước biển… là vấn đề cần được nghiên cứu và có giải pháp phù hợp đối với khu vực Nam Trung Bộ.

    Đề xuất giải pháp

    Diện tích đất quy hoạch cho trồng rừng ngập mặn khu vực Nam Trung Bộ hiện tại là hơn 824ha. Cơ cấu đất ngập mặn của khu vực rất đơn giản, diện tích đất trống còn ít, lại tập trung ở các khu vực ngập triều sâu, sóng lớn, dải đất hẹp… thuộc dạng lập địa rất khó khăn và khó khăn. Diện tích đất trống tập trung chủ yếu ở Bình Định trên 448ha, Quảng Nam trên 12ha và Ninh Thuận 5ha.

    Thành phần loài cây ngập mặn trong khu vực ven biển Nam Trung Bộ bước đầu đã xác định được 21 loài, thuộc 12 chi và 10 họ thực vật. Số lượng các loài cây ngập mặn biến động lớn.

    Các tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Khánh Hòa, Quảng Nam có số lượng trên 15 loài thực vật ngập mặn. Trong khi đó thành phố Đà Nẵng, tỉnh Phú Yên chỉ bắt gặp được 4 đến 5 loài thực vật ngập mặn.

    Điều này có thể nhận thấy đa dạng loài cây ngập mặn ở những vùng này rất nghèo nàn. Chỉ có những loài như đước đôi, mắm biển, cóc trắng,… đều có hầu hết trong khu vực. Điều này cho thấy biên độ sinh thái của ba loài này khá rộng, sinh trưởng trên nhiều dạng lập địa khác nhau.

    Các loài mắm biển, cóc trắng và đước đôi trong khu vực thuộc loại sinh trưởng trung bình và kém, nguyên nhân do đặc điểm đất về lý hóa tính trong khu vực thuộc loại đất nghèo dinh dưỡng, lượng phù sa bồi tụ hàng năm không được giữ lại, đất có hàm lượng dinh dưỡng các chất như đạm, lân, kali thuộc loại nghèo. Vì vậy cần có giải pháp để cải tạo đất, giữ lượng phù sa bồi tụ hằng năm, chống rửa trôi và xói mòn bề mặt thể nền.

    Mặt khác, một số diện tích rừng ngập mặn ở tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đã và đang bị một số loài động vật gây hại, làm suy giảm và gây chết rừng ngập mặn hàng chục ha, như khu vực đầm Thị Nại (Bình Định).

    Qua khảo sát đánh giá, các nhà khoa học Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình bước đầu xác định được loài sinh vật gây hại rừng bần trắng trên ba năm tuổi là một loài giáp xác chân đều, thuộc lớp mai mềm có tên khoa học là Sphaeroma terebrans Bate, 1866, thuộc họ Sphaeromatideae, bộ Chân đều Isopoda. Đây là một vấn đề mới cần được quan tâm nghiên cứu, để lựa chọn ra giải pháp hữu hiệu trong phòng trừ sinh vật gây hại rừng ngập mặn trong khu vực này.

    Trên cơ sở lựa chọn bảy tiêu chí phân chia lập địa ngập mặn cho khu vực, bao gồm loại đất ngập mặn, độ mặn nước biển, thời gian phơi bãi, độ thành thục của đất, tỷ lệ phần trăm hạt cát, cao trình đất ngập mặn, hiện trạng rừng và đất ngập mặn.

    Các nhà khoa học đã xác định được diện tích của từng nhóm dạng lập địa ngập mặn khu vực ven biển Nam Trung Bộ có ba nhóm. Đó là khu vực có điều kiện rất thuận lợi, khu vực có điều kiện thuận lợi và khu vực có điều kiện khó khăn.

    Nhóm lập địa I (rất thuận lợi) là dạng bãi triều đang được bồi tụ nên trồng mắm biển, đước đôi, bần trắng. Nhóm lập địa II (thuận lợi) dạng bãi triều xói mặt trồng mắm biển, mắm trắng, đước đôi; cần phải áp dụng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh như chọn loài, kỹ thuật trồng, chăm sóc kết hợp với các giải pháp về thủy lợi như xây dựng tường mềm giảm sóng, tạo bãi phù hợp, sau đó tiến hành trồng và chăm sóc rừng ngập mặn thì mới có khả năng thành công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Nghệ 10 Bài 10: Biện Pháp Cải Tạo, Sử Dụng Đất Mặn, Đất Phèn
  • Xử Lý Cải Tạo Đất Nhiễm Phèn
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ 10 Bài 9: Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Xám Bạc Màu, Đất Xói Mòn Mạnh Trơ Sỏi Đá
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Nghèo Thành Đất Trồng Rau
  • Hướng Dẫn Cách Cải Tạo Đất Bị Nhiễm Mặn, Nhiễm Phèn
  • Rừng Ngập Mặn Cần Giờ Lá Phổi Xanh Của Tphcm

    --- Bài mới hơn ---

  • Địa Lí 12 Bài 14: Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Em Phải Làm Gì Để Bảo Vệ Rừng?
  • Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng: Thực Hiện Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp
  • Tuyên Quang: Nhiều Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Giải Địa Lí 8 Bài 38: Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật Việt Nam
    • Cách trung tâm TPHCM khoảng 60km. Nằm ở tọa độ 10°22′ – 10°40′ độ vĩ Bắc và 106°46′ – 107°01′ kinh độ Đông.
    • Phía Bắc giáp Đồng Nai
    • Phía Nam giáp biển Đông
    • Phía Tây giáp giáp Tiền Giang, Long An.
    • Phía Đông giáp Vũng Tàu

    Tổng diện tích: 75.740 ha, bao gồm:

    • 4.721 ha vùng lõi
    • 41.139 ha vùng đệm
    • 29.880 ha vùng chuyển tiếp

    Rừng ngập mặn Cần Giờ có hệ sinh thái động thực vật đa dạng, điển hình là khỉ đuôi dài và nhiều loài chim, cò.

    Ngày 28/02/1978, Cần Giờ được chuyển từ Đồng Nai sáp nhập về TPHCM. CHo đến năm 1979, UBND TPHCM phát động chiến dịch trồng lại hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Đồng thời Lâm trường Duyên Hải cũng được thành lập để khôi phục lại hệ sinh thái của rừng.

    Sau năm đó, diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ đã được phủ xanh hơn 31.000 ha. Bao gồm: 20.000 ha rừng trồng, hơn 11.000 ha nuôi tái sinh tự nhiên và những loại rừng khác.

    Ngày 21/01/2000, khu rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, thuộc hệ thống những khu dự trữ sinh quyển thế giới.

    Hiện nay, rừng ngập mặn Cần Giờ trở thành một trong những khu du lịch trọng điểm của Việt Nam nói chung, TPHCM nói riêng.

    Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ

    Điều kiện môi trường của rừng ngập mặn Cần Giờ vô cùng đặc biệt. Hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực, giữa hệ sinh thái nước mặn và nước ngọt. Hiện nay, hệ sinh thái nơi đây rất phong phú và đa dạng với nhiều loại động thực vật trên cạn, dưới nước. Cụ thể:

    Có hơn 150 loài thực vật, loài vât đặc trưng là bần trắng, mầm trắng, đước đôi, bần chua, ô rô…

    Khảo sát năm 2007 ghi nhận, rừng ngập mặn Cần Giờ hiện có 220 loài thực vật bậc cao, 155 chi, 60 họ. Trong đó các họ có nhiều loài nhất như:

    • Họ Đước (Rhizophoraceae) 13 loài.
    • Họ Đậu (Fabaceae) 29 loài.
    • Họ Hòa thảo (Poaceae) 20 loài.
    • Họ Cói (Cyperaceae) 20 loài.
    • Họ thầu dầu (Euphorbiaceae) 9 loài.
    • Họ Cúc (Asteraceae) 8 loài.
    • Có trên 130 loài khu hệ cá.
    • Trên 700 loài hệ động vật thủy sinh không có xương sống.
    • Khi hệ động động có xương sống có 31 loài bò sát, 9 loài lưỡng cư và 4 loài động vật có vú. Đặc biệt, có đến 11 loài bò sát nằm trong sách đỏ Việt Nam cần bảo tồn như kỳ đã nước (varanus salvator), tắc kè (gekko gekko), rắn hổ chúa (ophiophagus hannah), cá sấu hoa cà (crocodylus porosus), răn gấm (python reticulatus)…
    • Có gần 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ thuộc khu hệ chim. Bao gồm: 79 loài chim không phải chim nước và 51 loài chim nước.

    Rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành “lá phổi” đồng thời là “quả thận” có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai – Sài Gòn đổ ra biển Ðông.

    Làm sạch không khí, nước thải

    Từ một “vùng đất chết” trong chiến tranh, hiện nay rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành “lá phổi xanh”, đồng thời là “quả thận” của TPHCM. Khu rừng đóng vai trò làm sạch không khí, nước thải từ thành phố, khu sản xuất công nghiệp. Đồng thời trả lại môi trường trong lành, giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho TPHCM và các tỉnh lân cận.

    Rừng ngập mặn Cần Giờ giúp hạn chế các thiệt hại do bão lũ. Đây cũng là cư trú, sinh trưởng và cung cấp nguồn thức ăn cho các loài động thực vật.

    Đây là khu rừng ngập mặn có nguồn thủy hải sản vô cùng phong phú. Gồm nhiều loại tôm cá có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm thẻ, cá mũ, cá chẽm, sò huyết…

    Cung cấp thức ăn cho động vật thủy sinh

    Lá cây, những bộ phận khác của cây khi rụng xuống nước phân hủy thành mùn bã hữu cơ trở thành nguồn thức ăn phong phú của các loài động vật thủy sinh.

    Từ năm 1993 đến nay, nghề nuôi tôm sú, nghêu sò là kết quả của việc phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờ.

    Nguyên liệu thuốc chữa bệnh

    Hệ thực vật trong rừng ngập mặn Cần Giờ phong phú như ô rô, cây lức, cây xu… còn có công dụng làm thuốc chữa trị nhiều loại bệnh. Trong chiến tranh, bộ độ thường dùng những loại cây rừng này để trị bệnh.

    • Cây rừng có thể sử dụng để làm củi đốt, làm bột giấy, ván ghép, ván răm. Hoặc vỏ vây được sử dụng để sản xuất thuốc nhuộm vải, keo dán.
    • Lá mắm còn được sử dụng để làm thức ăn cho gia súc.

    Ngăn ngừa biến đổi khí hậu

    Rừng ngập mặn Cần Giờ đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu.

    Giảm đến 50% năng lượng tác động từ sóng biển.

    Ngăn chặn nước biển dâng cao giúp bảo vệ cơ sở hạ tầng và người dân ở ven biển. Giảm độ cao của sóng biển khi đi qua rừng ngập mặn Cần Giờ. Mức biến đổi này rất lớn lên đến 80% tức từ 1,4m xuống chỉ còn 0,3m. Nhờ vậy mà bờ đầm, vùng đất văn bờ không bị xâm lấn, xói lở.

    Phát triển nghành nuôi trồng thủy sản

    Sau khu được khôi phục, sản lượng thủy hải sản được khai thắc ở rừng ngập mặn Cần Giờ ngày càng cao. Nghề nuôi trồng tôm sú, nghêu, sò cũng phát triển nhanh hơn. Nhờ vậy góp phần không nhỏ vào việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân.

    Hiện nay, rừng ngập mặn Cần Giờ được TPHCM quy hoạch, phát triển thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn du khách ở Việt Nam.

    Năm 2000, thành lập khu du lịch sinh thái Vàn Sát nằm trong vùng lõi của rừng ngập mặn Cần Giờ. Đến tháng 02/2003, khu du lịch Vàm Sát đã được công nhận là một trong hai khu du lịch sinh thái phát triển bền vững của thể giới.

    Hiện nay về khu vực phía Nam của rừng ngập mặn Cần Giờ được được xây dụng một khu sinh thái để trở thành khu du lịch hiện đại ở nước ta.

    Trong chiến tranh, rừng ngập mặn Cần Giờ là tuyến giao thông huyết mạch. Theo ghi chép lịch sử:

    • Từ năm 1966 – ngày 30/04/1975, tại rừng ngập mặn Cần Giờ đã diễn ra gần 400 trận đánh lớn nhỏ, loại bỏ 6000 lĩnh Mỹ và lính đồng minh.
    • Bắn rơi 29 máy bay trực thăng.
    • Làm cháy và đánh chính 356 tàu, thuyền chiến đầu, 145 giang thuyền và 13 tàu vận tải.
    • Là nơi hi sinh của hơn 1000 chiến sĩ bộ đội. Ngày nay, rừng ngập mặn Cần Giờ có một tưởng niệm bộ đội đặc công Rừng Sác và được coi là di tích lịch sử cấp quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng?trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng Và Hiện Trang Rừng Cùng Với Các Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Rừng Ở Nước Ta ?
  • Chủ Động Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Rừng
  • Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng? Dùng Các Biện Pháp Nào Để Bảo Vệ Rừng?
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Bí Thư Tỉnh Ủy Nguyễn Văn Đọc::có Giải Pháp Bảo Vệ, Khôi Phục Hệ Sinh Thái Rừng Ngập Mặn Vùng Cửa Sông Tiên Yên

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Luận Tiếng Anh Về Bảo Vệ Rừng
  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon Năm 2022
  • 5 Cách Giải Cứu Rừng Amazon Từ Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên Wwf: Hãy Đọc Ngay Để Biết Bạn Nên Làm Gì Lúc Này
  • Thực Trạng Cháy Rừng Ở Việt Nam, Vai Trò Của Các Hệ Sinh Thái Rừng
  • Bài 14. Sử Dụng, Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên Và Môi Trường
  • Tuy nhiên, trong nhiều năm trước do quá trình khai thác chặt phá rừng bừa bãi, khai thác các nguồn lợi hải sản dưới tán rừng không được kiểm soát dẫn đến đất ngập mặn, rừng ngập mặn bị suy thoái, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái, sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

    Để giữ gìn và khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn quan trọng này, trong những năm gần đây, huyện Tiên Yên đã thực hiện nhiều giải pháp và bước đầu khôi phục lại được một số diện tích rừng đã bị chết và thay đổi tư duy khai thác, nuôi trồng thủy sản của người dân địa phương theo hướng dựa vào rừng, phát triển bền vững.

    Khảo sát thực tế hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực này, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy ghi nhận các giải pháp thực hiện của huyện Tiên Yên trong bảo vệ và khôi phục diện tích rừng ngập mặn khu vực Đồng Rui, Hải Lạng.

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Ở các khu vực còn rừng ngập mặn thì những tác động của thiên tai do bão lũ, xói mòn, xâm nhập mặn được giảm thiểu đáng kể và đây là nơi nuôi dưỡng nguồn lợi thủy hải sản duy trì sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Trước đây hơn 1.000 ha rừng ngập mặn của Hải Lạng, Đồng Rui là vùng sinh thái ngập nước rất có giá trị của tỉnh. Do công tác quy hoạch, bảo vệ không tốt nên rừng bị suy giảm nhanh. Trước sự biến đổi về khí hậu, sự suy giảm về tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng buộc chúng ta phải xem xét, đánh giá lại và có giải pháp bảo vệ tốt nhất vốn tài sản thiên nhiên đã ban tặng. Vì vậy huyện Tiên Yên chủ động phối hợp với các sở, ngành và vận động nhân dân tiếp tục bảo vệ và khôi phục diện tích rừng ngập mặn đúng quy trình, đảm bảo chất lượng sống.

    Cùng với nhân rộng, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy gợi ý nghiên cứu gắn việc phát triển du lịch sinh thái bền vững ở khu vực này, tăng cường nhận thức cho du khách cho nhân dân về tầm quan trọng của việc bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững đa dạng sinh học.

    Cùng ngày, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cũng đi kiểm tra một số công trình dân sinh và các hoạt động chuẩn bị cho Tuần văn hóa, thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc trên địa bàn huyện Tiên Yên.

    Qua kiểm tra thực tế, đồng chí yêu cầu huyện Tiên Yên đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình đang xây dựng trên địa bàn, sớm ổn định đời sống cho dân cư; đảm bảo tốt các điều kiện về an ninh trật tự, PCCC, an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác trang trí khánh tiết, lễ tân hậu cần phục vụ cho Tuần văn hóa, thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc sẽ diễn ra vào đầu tháng 8 tới đây.

    Lan Hương- Hùng Sơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Rừng Ngập Mặn
  • Giải Bài Tập Địa Lí 12
  • Bình Thuận: Tăng Cường Bảo Vệ Rừng Phòng Hộ Đầu Nguồn
  • Biện Pháp Bảo Vệ Rừng Đầu Nguồn
  • Bảo Vệ, Chăm Sóc Rừng Đặc Dụng
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Rừng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Động Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng?trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng Và Hiện Trang Rừng Cùng Với Các Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Rừng Ở Nước Ta ?
  • Rừng Ngập Mặn Cần Giờ Lá Phổi Xanh Của Tphcm
  • Địa Lí 12 Bài 14: Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Em Phải Làm Gì Để Bảo Vệ Rừng?
  • Hiện nay phá rừng trái phép dưới nhiều hình thức và mục đích khác nhau đang diễn ra rất phức tạp, gây nhiều khó khăn cho các cấp chính quyền cũng như cơ quan chức năng trong vấn đề quản lý. Đây là vấn đề mang tính xã hội cao, để giải quyết vấn nạn này không đơn thuần là giải pháp riêng biệt của một ngành, một lĩnh vực mà cần có những giải pháp tổng hợp với sự tham gia của nhiều ngành chức năng. Những năm vừa qua, nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã được thực hiện như chương trình 132, 134, 135 đã có tác động tích cực, góp phần thay đổi bộ mặt của các vùng nông thôn, miền núi, song vẫn chưa giải quyết được triệt để nạn phá rừng. Với việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về quản lý bảo vệ rừng trong những năm gần đây, nhận thức của đa số người dân về hành vi này đã được nâng lên rõ rệt. Nhiều người dân đã biết phá rừng trái phép là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ gây hại về môi trường. Tuy nhiên, do tác hại của phá rừng không diễn ra ngay nên người dân thường chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không quan tâm đến cái hại lâu dài. Hơn nữa, các hình thức xử phạt và chế tài của luật pháp vẫn chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe, việc xử lý vi phạm gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều trường hợp người vi phạm là người dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn, không có khả năng chấp hành các quyết định xử phạt, dẫn đến nhiều vụ việc không xử lý triệt để, do vậy tính giáo dục và răn đe chưa được đề cao. Chính vì vậy, tình trạng phá rừng trái phép vẫn tiếp tục xảy ra dưới mọi hình thức. Vậy, giải pháp nào để ngăn chặn tình trạng này? Bài viết này muốn đưa ra một số giải pháp cùng trao đổi với bạn đọc cả nước để công cuộc bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả.

    Giải pháp về chính sách: Những năm qua, chúng ta đã thực hiện một số chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến lâm, giao đất giao rừng và thực hiện các chính sách hưởng lợi từ rừng cho người dân miền núi. Tuy nhiên, vẫn cần có các chính sách hỗ trợ khác như: Tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc, tạo đầu ra cho các sản phẩm nông lâm kết hợp, chế biến và bảo quản nông sản… Tiếp tục đổi mới hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp để đáp ứng nhu cầu cho công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Nhanh chóng xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp theo phương thức tiếp cận dựa vào cộng đồng, trong đó mọi người dân đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nông lâm kết hợp, từ đó sẽ tạo đòn bẩy thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng. Đó được xem như chính sách huy động tổng lực sức dân cho công tác bảo vệ rừng. Để làm được điều đó cần phải tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa 4 nhà: nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông. Cần phải có sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp với vai trò là bà đỡ cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nông lâm kết hợp cùng với các ngành như: khuyến nông khuyến lâm, các tổ chức đoàn thể như thanh niên, phụ nữ, nông dân.

    Về phía chính quyền, các ngành chức năng phải làm tốt công tác truyền thông, cung cấp cho người dân những hiểu biết, thông tin thiết thực phục vụ quá trình sản xuất, hướng dẫn để người dân áp dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

    Các ngành chức năng, nhất là những ngành tham gia trực tiếp vào quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ rừng như Kiểm lâm, Công an phải có chính sách phù hợp nhằm nâng cao năng lực thực thi nhiệm vụ. Cùng với tăng cường về biên chế, các trang thiết bị chuyên dụng phải chú trọng những kỹ năng cơ bản khác như tuyên truyền, vận động nhân dân, kỹ năng về khuyến nông khuyến lâm và các vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ khác. Nhà nước cũng cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm thu hút và khuyến khích cán bộ công chức ngành chức năng gắn bó với địa phương, yêu ngành yêu nghề, cống hiến hết mình cho sự nghiệp bảo vệ rừng.

    Những giải pháp về kinh tế, xã hội nêu trên với mục đích nâng cao đời sống kinh tế, xã hội cho người dân, giảm dần áp lực của người dân vào rừng, tạo cho người dân thói quen sử dụng các sản phẩm thay thế các sản phẩm truyền thống lâu nay vẫn lấy từ rừng, đồng thời, tạo sự phát triển bền vững cả về mặt sinh thái môi trường cũng như về kinh tế, giúp người dân hưởng lợi từ rừng một cách lâu dài và khoa học.

    Giải pháp về tổ chức thực hiện Các cấp chính quyền, các chủ rừng phải xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch hoạt động và phương án bảo vệ rừng từng năm, từng giai đoạn trên phạm vi địa phương mình quản lý. Các chủ rừng cần chú trọng tăng cường lực lượng và trang thiết bị đủ mạnh để bảo vệ rừng, đồng thời có biện pháp quản lý hiệu quả đối với diện tích rừng đã được giao. Lực lượng kiểm lâm cũng cần phải được củng cố và đổi mới hoạt động nhằm làm tốt công tác tham mưu giúp chính quyền cơ sở xây dựng và triển khai các phương án, biện pháp, kế hoạch bảo vệ rừng. Duy trì và tổ chức hoạt động của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng có hiệu quả. Các cấp chính quyền, các ngành chức năng cần nhanh chóng triển khai thực hiện các chính sách về hưởng lợi của người dân từ rừng. Các biện pháp bảo vệ rừng phải được xây dựng trên cơ sở gắn với các hoạt động phát triển rừng và hướng tới cộng đồng.

    Hệ thống các biện pháp bảo vệ rừng đang được áp dụng hiện nay và vẫn phát huy hiệu quả tốt đó là tuyên truyền, quy hoạch, hoạch quản lý và sử dụng đất đai, nhất là đất lâm nghiệp, tăng cường năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật, xây dựng và thực hiện tốt các phương án, kế hoạch bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng theo giai đoạn và theo từng năm, làm tốt chính sách giao đất, giao rừng, kết hợp chặt chẽ với khuyến nông khuyến lâm. Thực hiện tốt các dự án về xóa đói giảm nghèo, về bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế xã hội cho người dân miền núi. Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng. Làm tốt công tác phối kết hợp giữa 3 lực lượng kiểm lâm, quân đội và công an trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

    Một phương án bảo vệ rừng có tính khả thi, hợp lý và hiệu quả chính là biết lợi dụng nhiều yếu tố, kết hợp với nhiều bên tham gia, phương thức hoạt động đa dạng, chủ động, phù hợp với hoàn cảnh từng vùng, từng khu vực. Muốn vậy, phải xác định được các vùng trọng điểm, các điểm nóng về vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, về cháy rừng… để có phương án cụ thể. Các công trình phục vụ công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cũng cần được đầu tư xây dựng sao cho phù hợp với chiến lược thực hiện công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Tổ chức lực lượng bảo vệ rừng, chữa cháy rừng mang tính chuyên nghiệp, kịp thời ứng phó và xử lý mọi tình huống xảy ra. Lực lượng này có sự phối hợp từ nhiều ngành như Kiểm lâm, Quân đội, Công an và chính quyền địa phương ….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng? Dùng Các Biện Pháp Nào Để Bảo Vệ Rừng?
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Gắn Với Giảm Nghèo Bền Vững Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Tỉnh Yên Bái
  • Tây Nguyên: Giải Pháp Phát Triển Và Tạo Sinh Kế Bền Vững Từ Rừng
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng? Dùng Các Biện Pháp Nào Để Bảo Vệ Rừng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Rừng
  • Chủ Động Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng?trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng Và Hiện Trang Rừng Cùng Với Các Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Rừng Ở Nước Ta ?
  • Rừng Ngập Mặn Cần Giờ Lá Phổi Xanh Của Tphcm
  • Địa Lí 12 Bài 14: Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Tại sao phải bảo vệ rừng? Dùng các biện pháp nào để bảo vệ rừng?

    Trả lời:

    – Phải bảo vệ rừng vì:

    Rừng có tác dụng làm trong sạch không khí. Tán lá cản và giữ bụi. Lá cây tiết ra nhiều loại chất kháng khuẩn có tác dụng tiêu diệt vi trùng gây bệnh trong không khí.

    Rừng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Trong rừng có nhiều loại cây khác nhau. Ðây là nguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp và dược phẩm, là nguồn gen hoang dại có giá trị trong lai tạo giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi.

    Rừng bảo vệ và cải tạo đất. Nhờ có tán lá xoè rộng như chiếc ô, nước mưa không xối thẳng xuống mặt đất, nắng không đốt cháy mặt đất, nên lớp đất trên mặt khó bị rửa trôi theo nước mưa. Rừng nuôi đất, bồi bổ cho đất.

    Ðất rừng hầu như tự bón phân, vì cành lá rơi rụng từ cây sẽ bị phân huỷ, tạo thành các chất dinh dưỡng, làm tăng độ màu mỡ của đất. Ðất phì nhiêu, tơi xốp sẽ thấm tốt, giữ nước tốt và hạn chế xói mòn. Vùng bãi triều ven biển có các rừng sú, vẹt, đước, vừa chắn sóng, vừa giữ phù sa, làm cho bờ biển không những không bị xói, mà còn được bồi đắp và tiến ra phía trước.

    Rừng có tác dụng điều hoà dòng chảy trong sông ngòi và dưới đất. Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ lại nhiều hơn trong tán cây và trong đất, do đó lượng dòng chảy do mưa trong mùa lũ giảm đi. Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời gian không mưa. Do đó những vùng có nhiều rừng che phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt. Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà dòng chảy càng lớn hơn.

    Rừng có giá trị lớn về du lịch. Vì rừng có nhiều phong cảnh đẹp, với nhiều loại động thực vật hoang dã, lôi cuốn sự ham hiểu biết, trí tò mò của mọi người. Khí hậu trong rừng mát mẻ, điều hoà, không khí sạch sẽ còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

    – Các biện pháp bảo vệ rừng:

    – Nghiêm cấm mọi hành động phá rừng, gây cháy rừng, lấn chiếm rừng và đất rừng, mua bán lâm sản trái phép, săn bắn động vật rừng… Ai xâm phạm tài nguyên rừng sẽ bị xử lí theo luật pháp. Pháp lệnh bảo vệ rừng và phát triển rùng đã được Hội đồng Nhà nước thông qua và ban hành ngày 19-8-1991.

    – Chính quyền địa phương, cơ quan lâm nghiệp phai có kế hoạch và biện pháp về : định canh, định cư, phòng chống cháy rừng, chăn nuôi gia súc.

    – Cá nhân hay tập thể chỉ được khai thác rừng và sản xuất trên đất rừng khi được cơ quan lâm nghiệp cấp giấy phép, phải tuân theo các quy định về bảo vệ và phát triển rừng.

    – Biện pháp khoanh nuôi phục hồi rừng : thông qua các biện pháp bảo vệ, chăm sóc, gieo trồng bổ sung để thúc đẩy tái sinh rừng tự nhiên, phục hồi rừng có giá trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Các Giải Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Gắn Với Giảm Nghèo Bền Vững Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Tỉnh Yên Bái
  • Tây Nguyên: Giải Pháp Phát Triển Và Tạo Sinh Kế Bền Vững Từ Rừng
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Bảo Vệ, Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100