Top 14 # Giải Pháp Bảo Vệ Tài Chính / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Pháp Bảo Vệ Tài Chính Và Sức Khỏe Thời Covid / 2023

Giải pháp bảo vệ tài chính và sức khỏe thời Covid-19

Bảo hiểm- Giải pháp bảo vệ tài chính và sức khỏe được ưa chuộng thời dịch

Hơn 9 tháng chống Covid-19, ngoài các giải pháp cũng như nỗ lực của Chính Phủ. Người dân cũng đã nhận ra được họ cần chủ động vì sức khỏe bản thân. Đồng thời xây dựng một kế hoạch để bảo vệ tài chính của mình một cách hiệu quả.

Chị Lê Thanh Trang (34 tuổi, Hà Nội) cho biết: ” Thu nhập của gia đình tôi đang sụt giảm đáng kể do Covid-19. Vì thế chúng tôi đã tìm hiểu thêm nhiều giải pháp để phòng rủi ro. Em chồng tôi đã giới thiệu những gói bảo hiểm nhân thọ. Nên chúng tôi đang tích cực tìm hiểu”

Giải pháp của gia đình chị Trang cũng là chọn lựa của nhiều cư dân hiện nay. Theo như khảo sát của The Conference Board® và Nielsen, bước sang quý II/2020, Việt Nam đã lọt top 2 quốc gia có số người tiêu dùng chi tiêu nhiều cho những gói bảo hiểm có giá trị lớn.

Chính tâm lý lo lắng về dịch bệnh đã khiến nhiều người chủ động tìm tới giải pháp để bảo vệ tài chính lẫn sức khỏe. Bảo hiểm là chọn lựa của nhiều người.

Trong đó, chúng ta có thể kể tới sản phẩm “Pru – Bảo vệ tối ưu” của Prudential. Nó giúp giảm gánh nặng tài chính trước những rủi ro về sức khỏe. Cùng với đó là tính năng đầu tư hiệu quả và an toàn.

Tăng cường số hóa trong thời dịch Covid-19

Làm sao để khách hàng giao kết hợp đồng bảo hiểm, không cần phải tư vấn trực tiếp?

Trong bối cảnh những nhu cầu cho các gói bảo hiểm đang tăng mạnh như hiện nay. Sự bất ổn của dịch bệnh cùng yêu cầu giãn cách xã hội đã đặt ra cho ngành bảo hiểm nhân thọ một bài toán mới. Đó chính là làm sao để khách giao kết hợp đồng bảo hiểm không cần phải tư vấn trực tiếp.

Lời giải cho bài toán này là số hóa. Đồng thời đây cũng là xu hướng nổi bật của ngành bảo hiểm trong những năm gần đây.

Nhưng, tận dụng công nghệ, không làm mất sự kết nối con người mới là điều cần thiết nhất. Bởi trong ngành này, tư vấn, tương tác của những tư vấn viên chính là yếu tố quan trọng. Chúng giúp cho khách hàng an tâm, tin tưởng và đi đến quyết định.

Prudential cung cấp công cụ đặt lịch tư vấn qua Matchbook, Zalo, online

Prudential đã cung cấp công cụ đặt lịch tư vấn qua Matchbook, Zalo, online…. Việc này đã giúp người tiêu dùng thực hiện đúng lệnh giãn cách xã hội. Đồng thời còn tiết kiệm được thời gian.

Quy trình giải quyết các quyền lợi bảo hiểm trên Matchbook, Zalo đã tạo nhiều đột phá. Cụ thể trong nhiều trường hợp, thay vì đợi từ 10-15 ngày. Thì khách hàng của Prudential chỉ mất 20 giây là đã giải quyết được quyền lợi của mình.

Đại diện của hãng bảo hiểm nhấn mạnh: ” Những sáng kiến của Prudential không chỉ đem lại trải nghiệm tích cực, khác biệt cho khách hàng. Nó còn trao cho họ quyền chủ động trong việc chọn lựa cách thức tương tác với công ty ”

Chính cải tiến số cùng nỗ lực xây dựng một cộng đồng người Việt mạnh khỏe đã thúc đẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam.

Nguồn: https://aipcrquebec2010.org/

Giải Pháp Bảo Vệ Sức Khỏe Và Tài Chính Thời Dịch / 2023

Hơn 9 tháng chống dịch, bên cạnh những giải pháp và nỗ lực từ Chính phủ, người dân nhận ra họ cần chủ động hơn vì sức khỏe bản thân cũng như xây dựng kế hoạch bảo vệ tài chính hiệu quả. Chị Lệ Mai (37 tuổi, Hà Nội) chia sẻ: “Thu nhập của tôi và chồng đều sụt giảm đáng kể do dịch bệnh. Gia đình phải thắt chặt chi tiêu, chỉ ưu tiên sức khỏe và những khoản thiết yếu. Chúng tôi cũng tìm hiểu thêm những giải pháp dự phòng rủi ro. Bạn bè tôi gợi ý các gói bảo hiểm nhân thọ nên hai vợ chồng đang tích cực tìm hiểu”.

Giải pháp của gia đình chị Mai cũng là lựa chọn của nhiều người tiêu dùng. Theo khảo sát Niềm tin người tiêu dùng thực hiện bởi The Conference Board® và Nielsen cho thấy bước sang quý II/2020, Việt Nam nằm trong top 2 quốc gia có tỷ lệ người tiêu dùng chi tiêu nhiều nhất cho các gói bảo hiểm có giá trị lớn.

Tâm lý lo lắng dịch bệnh kéo dài cũng khiến người tiêu dùng chủ động tìm đến các giải pháp dự phòng rủi ro cho cả sức khỏe lẫn tài chính, trong đó bảo hiểm chính là lựa chọn của nhiều người. Trong đó, có thể kể đến “Pru – Bảo vệ tối ưu” của Prudential – sản phẩm giúp giảm thiểu gánh nặng tài chính trước các rủi ro về sức khỏe không lường trước, với phạm vi bảo vệ 99 bệnh lí nghiêm trọng. Kết hợp với tính năng đầu tư an toàn và hiệu quả, “Pru – Bảo vệ tối ưu” trở thành một trong những giải pháp phù hợp trong giai đoạn hiện nay.

Tăng cường số hóa thời dịch

Trong bối cảnh nhu cầu dành cho các gói bảo hiểm tăng mạnh, sự bất ổn của dịch bệnh và yêu cầu giãn cách xã hội đã đặt ra bài toán mới cho ngành bảo hiểm nhân thọ: Làm sao để khách hàng hiểu rõ, tin tưởng và giao kết hợp đồng bảo hiểm mà không cần tư vấn trực tiếp?

Lời giải cho câu hỏi trên là số hóa. Đây cũng xu hướng nổi bật trong những năm gần đây của ngành bảo hiểm.

Tuy nhiên, tận dụng công nghệ nhưng không làm mất đi sự kết nối con người là điều cần thiết bởi trong ngành bảo hiểm, sự tư vấn và tương tác của tư vấn viên là yếu tố quan trọng giúp khách hàng tin tưởng, an tâm đi đến quyết định.

Hiểu được điều đó, Prudential xây dựng lộ trình khép kín từ giai đoạn tìm hiểu đến chi trả quyền lợi bảo hiểm trên nền tảng số hóa. Điều này không chỉ mang lại sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng trong mọi giao dịch của khách hàng mà còn đảm bảo tính kết nối giữa doanh nghiệp, khách hàng và tư vấn viên.

Trong giai đoạn tìm hiểu, Prudential cung cấp công cụ cho khách hàng chủ động đặt lịch hẹn tư vấn cùng chuyên gia tài chính qua các ứng dụng Matchbook, Zalo và thực hiện việc tư vấn online. . Việc này giúp người tiêu dùng vừa hạn chế tiếp xúc trực tiếp, vừa chủ động thu xếp lịch hẹn và tiết kiệm thời gian.

Quy trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm trên Zalo cũng tạo ra những thay đổi mang tính đột phá. Trong nhiều trường hợp, thay vì phải đợi từ 10 đến 15 ngày theo quy định, khách hàng của Prudential chỉ mất khoảng 20 giây để nhận được kết quả giải quyết quyền lợi của mình. Nỗ lực cải tiến này của Prudential đã giúp khách hàng an tâm và phần nào giảm nhẹ gánh nặng tài chính.

“Các sáng kiến kỹ thuật số của Prudential không chỉ mang lại trải nghiệm khác biệt và tích cực cho khách hàng, mà còn trao quyền chủ động cho họ trong việc lựa chọn cách thức tương tác với công ty”, đại diện hãng bảo hiểm nhấn mạnh. Chính những cải tiến số nổi bật cùng nỗ lực xây dựng cộng đồng người Việt khỏe mạnh và thúc đẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam đã giúp Prudential năm thứ 2 liên tiếp được ghi nhận với loạt giải thưởng tại Insurance Asia Awards 2020, bao gồm Sáng kiến kỹ thuật số về bảo hiểm của năm tại Việt Nam, Sản phẩm bảo hiểm mới của năm tại Việt Nam và Công ty bảo hiểm nhân thọ quốc tế của năm tại Việt Nam.

Bảo Vệ Người Tiêu Dùng Tài Chính Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

2. Thực trạng bảo vệ người tiêu dùng tài chính trên thế giới và tại Việt Nam 2.1. Trên thế giới

Về thông lệ quốc tế: Hiện nay trên thế giới, việc thiết lập khung bảo vệ người tiêu dùng tài chính không có quy định bắt buộc chung nào cho tất cả các quốc gia. Một số tổ chức quốc tế lớn như OECD, Hội nghị Bộ trưởng các nước G20 hay WB đưa ra những thông lệ, nguyên tắc trong quá trình xây dựng khung bảo vệ người tiêu dùng để các quốc gia tham khảo và áp dụng sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của quốc gia mình. Cụ thể, sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, OECD đã phát triển các nguyên tắc cấp cao của G20 về bảo vệ người tiêu dùng tài chính (G20 High-Level Principles on Financial Consumer Protection) vào năm 2012. Các nguyên tắc này hiện nay được áp dụng bởi nhiều quốc gia trên thế giới và cũng đã đạt được các thành công nhất định. Tương tự như vậy, WB cũng công bố Các thông lệ tốt để bảo vệ người tiêu dùng tài chính (Good practices for Financial Consumer Protection) vào tháng 6/2012, phiên bản chỉnh sửa mới nhất là năm 2017.

Về khung pháp lý: Theo khảo sát của WB (2018), khung pháp lý về bảo vệ người tiêu dùng tài chính đã xuất hiện ở 118/124 quốc gia được khảo sát với nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Có 3 cách tiếp cận phổ biến với các quy định bảo vệ người tiêu dùng tài chính trên thế giới: (1) các quy định về bảo vệ người tiêu dùng nằm trong quy định cho các giao dịch trong ngành tài chính (ví dụ, Luật Ngân hàng); (2) các quy định về bảo vệ người tiêu dùng nằm trong luật bảo vệ người tiêu dùng nói chung nhưng có những tham chiếu riêng cho người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính; (3) có luật và quy định riêng, chuyên biệt dành cho bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính. Trong đó, phổ biến nhất là các quy định bảo vệ người tiêu dùng tài chính nằm trong các quy định/ luật chung về tài chính và ngân hàng với 94 quốc gia áp dụng, 42 quốc gia có luật bảo vệ người tiêu dùng chung trong đó có những tham chiếu rõ ràng cho người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính. Ít phổ biến nhất là quốc gia có những luật riêng biệt, độc lập về bảo vệ người tiêu dùng tài chính với 26 quốc gia. Ví dụ như Đạo luật Thị trường tài chính của New Zealand năm 2013 hay luật Giao dịch các công cụ tài chính của Nhật Bản năm 2000. Đây thường là các quốc gia có thị trường tài chính phát triển, có thu nhập cao và trung bình cao. Bên cạnh đó, một số quốc gia có các quy định chung về bảo vệ người tiêu dùng nhưng có những tham chiếu cho người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính, phổ biến ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Ngoài ra, một số rất ít quốc gia không có cả luật về bảo vệ người tiêu dùng nói chung và điều này thường chỉ xuất hiện ở các quốc gia có thu nhập thấp.

Về cơ quan quản lý, giám sát: Theo WB (2018), cơ quan quản lý chịu trách nhiệm về bảo vệ người tiêu dùng tài chính cũng rất khác nhau giữa các quốc gia. Nhìn chung các cơ quan quản lý được phân thành 5 mô hình:

(1) Mô hình có một cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm quản lý chung mọi mặt trong lĩnh vực tài chính (Integrated Single Financial Sector Authority), và trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng tài chính chỉ là một trong các chức năng của cơ quan này. Đây là loại hình được áp dụng tương đối phổ biến, với tỷ lệ 30% trong tổng 124 quốc gia được khảo sát.

(2) Mô hình cơ quan quản lý tài chính liên khu vực hợp nhất (Integrated Sectoral Financial Sector Authority Model). Theo mô hình này, trách nhiệm giám sát vấn đề bảo vệ người tiêu dùng tài chính thuộc về một số cơ quan quản lý trong lĩnh vực tài chính. Mỗi cơ quan chịu trách nhiệm quản lý tất cả các mặt của một loại hình tổ chức cung cấp dịch vụ nhất định (ví dụ ngân hàng, công ty tài chính…). Đây là mô hình phổ biến nhất (45% quốc gia trong khảo sát).

(3) Mô hình cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm riêng về vấn đề bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Đây là mô hình ít phổ biến nhất (3%) và mô hình này chỉ xuất hiện ở các quốc gia có thu nhập cao.

(4) Mô hình cơ quan bảo vệ người tiêu dùng chung (General Consumer Protection Authority Model). Theo đó, trách nhiệm quản lý và giám sát người tiêu dùng tài chính thuộc một hoặc một số cơ quan có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng chung cho các ngành nghề.

(5) Mô hình quản lý chia sẻ (Shared Financial Sector and General Consumer Pro- tection Authority Model). Đây là mô hình một hoặc một số cơ quan quản lý trong lĩnh vực tài chính và một hoặc một số cơ quan bảo vệ người tiêu dùng nói chung cùng chia sẻ trách nhiệm giám sát vấn đề bảo vệ người tiêu dùng tài chính. Mô hình (4) và (5) có mức độ phổ biến tương đương nhau (lần lượt là chiếm tỷ lệ 8% và 9% trong khảo sát).

2.2. Tại Việt Nam

Về khung pháp lý: Hiện nay tại Việt Nam khung pháp lý bảo vệ người tiêu dùng là Luật Bảo vệ người tiêu dùng nói chung, không có tham chiếu riêng cho người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính. Việt Nam chưa có một luật cụ thể, riêng biệt về bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính, trong khi các luật hay quy định về giao dịch trong lĩnh vực tài chính, ví dụ Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có một điều khoản quy định về việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng (Điều 10) nhưng cũng chung chung và chưa đầy đủ.

Ngoài ra, trách nhiệm giám sát đối với các vấn đề bảo vệ người tiêu dùng chưa có sự phân công và phối hợp giữa hợp lý giữa những cơ quan này. Theo Thạch Bình (2018), hoạt động bảo vệ người tiêu dùng tài chính ở Việt Nam được đánh giá là khá sơ sài. Cụ thể, trong 6 tiêu chí để đánh giá hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính thì Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 2 yếu tố là: có cơ quan quản lý khiếu nại và có hỗ trợ khách hàng bằng đường dây nóng. Các tiêu chí khác (như: phổ cập các chương trình về rủi ro tiêu dùng; xử lý trực tiếp khiếu nại; nhận báo cáo khiếu nại từ các tổ chức tài chính và kiểm soát chất lượng phục vụ…) đều được các quốc gia khác (Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Malaysia) áp dụng, nhưng chưa ghi nhận có áp dụng tại Việt Nam.

Hình 1: Khung bảo vệ người tiêu dùng tài chính

3. Một số giải pháp về bảo vệ người tiêu dùng tài chính

Dựa trên nghiên cứu lý luận về bảo vệ người tiêu dùng tài chính bao gồm: (1) Các nguyên tắc cấp cao của G20 về bảo vệ người tiêu dùng tài chính (OECD, 2012); (2) Các thông lệ tốt về bảo vệ người tiêu dùng tài chính (WB, 2017) kết hợp với nghiên cứu thực tiễn các mô hình quản lý khác nhau về bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới cũng như căn cứ vào thực trạng bảo vệ người tiêu dùng tài chính tại Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất khung bảo vệ người tiêu dùng tài chính với các giải pháp cụ thể, thể hiện ở Hình 2.

(1) Thành lập cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng tài chính và cơ quan giám sát tuân thủ

(2) Thành lập Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng tài chính

Việt Nam có Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng mới được thành lập năm 2018 (trên cơ sở tách ra từ Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam). Đây là một tổ chức chính trị xã hội, được thành lập nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng nói chung trong tất cả các lĩnh vực. Ngoài Hiệp hội này, Việt Nam cũng nên thành lập Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng tài chính hoạt động độc lập; để thực hiện các mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực này. Hiệp hội này vừa có thể là tổ chức cung cấp các kiến thức tài chính đến người tiêu dùng, giúp nâng cao giáo dục tài chính cho người tiêu dùng, đồng thời cũng là kênh đầu tiên tiếp nhận thông tin về những rủi ro của người tiêu dùng tài chính mang tính thời sự.

Ngoài ra, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng tài chính có thể thực hiện các trách nhiệm như: (1) Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn người tiêu dùng khi có yêu cầu; (2) Đại diện người tiêu dùng khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng; (3) Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông tin về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính; (4) Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng rủi ro của các dịch vụ tài chính mới, đặc biệt là các dịch vụ tài chính được cung cấp khi cơ quan nhà nước chưa kịp có văn bản hướng dẫn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính; (5) Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng tài chính…

– Một là, cần có quy định về cơ chế giải quyết khiếu nại đối với người tiêu dùng tài chính. Các quy định pháp lý cần đảm bảo rằng người tiêu dùng có quyền truy cập vào các cơ chế xử lý khiếu nại của tổ chức tài chính và các khiếu nại cần được giải quyết đầy đủ. Theo đó các nhà cung cấp dịch vụ tài chính cần xây dựng các cơ chế xử lý khiếu nại và công khai với khách hàng.

– Hai là, cần có quy định về trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính trong vấn đề bảo mật thông tin khách hàng trước bên thứ ba. Thông tin tài chính và cá nhân của người tiêu dùng cũng cần được bảo vệ bởi một cơ chế quản lý chặt chẽ. Cần xác định rõ mục đích của việc thu thập, xử lý, lưu trữ và sử dụng dữ liệu hay công khai cho bên thứ ba và ngưởi tiêu dùng cũng có quyền được thông báo về việc dữ liệu của mình được chia sẻ, tiếp cận, chỉnh sửa hoặc xoá bỏ các thông tin không chính xác.

– Ba là, có chế tài yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện các cam kết về vấn đề đối xử công bằng và bình đẳng, công khai và minh bạch thông tin với mọi đối tượng người tiêu dùng tài chính.

– Bốn là, khung pháp lý về bảo vệ người tiêu dùng tài chính cần nhấn mạnh và yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ tài chính hoạt động có trách nhiệm. Trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ tài chính không chỉ giúp bảo vệ người tiêu dùng tài chính khỏi các gian lận và rủi ro đạo đức mà còn giúp chính bản thân các tổ chức tài chính phát triển một cách bền vững.

Để đạt hiệu quả và thống nhất trong toàn hệ thống tài chính, vấn đề hoạt động có trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cần được thường xuyên giám sát bởi các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Theo OECD (2019), tại Bồ Đào Nha, Ngân hàng Trung ương yêu cầu các tổ chức tài chính trong suốt giai đoạn trước khi kí hợp đồng, thông tin cung cấp cho khách hàng phải đầy đủ kịp thời qua kênh internet hoặc mạng di động. Ngân hàng Trung ương Bồ Đào Nha có cơ chế giám sát thường xuyên để xác định cơ chế cung cấp thông tin tới khách hàng có đầy đủ và hiệu quả, đánh giá quy trình ký hợp đồng trên các kênh kỹ thuật số so với các phương tiện khác để làm rõ những nghi ngờ và thắc mắc của khách hàng. Các công cụ hỗ trợ khách hàng có thể là những cảnh báo, ghi chú, các câu hỏi thường gặp (FAQs), hỗ trợ điện thoại miễn phí, chatbox.

Theo OECD (2019), các nước phát triển đều có quy định tương tự. Ví dụ quy định của Ngân hàng trung ương Ý về minh bạch các điều khoản của hợp đồng cung cấp dịch vụ tài chính được áp dụng ngay cả khi các sản phẩm tài chính được cung cấp qua kênh số hoá. Hơn nữa, các quy định này còn yêu cầu thông tin đó phải dễ tiếp cận trên website của nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính và phải có sẵn, có thể tải về.

Đề Tài Bảo Vệ Nguồn Tài Nguyên Nước / 2023

LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các nhu cầu về khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng năng lượng ngày càng tăng. Sự phát triển kinh tế xã hội với sự xuất hiện hàng loạt các nhà máy xí nghiệp, các công trình xây dựng… đã tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái, môi trường xung quanh cũng như điều kiện sống của con người. Tài nguyên có xu thế cạn kiệt dần, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Sự biến đổi theo chiều hướng xấu của môi trường ảnh hưởng ngược trở lại đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi một nước. Và cùng với quá trình công nghiệp hóa, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng. Nhu cầu tài nguyên và năng lượng phục vụ cho người dân ngày càng lớn, các hoạt động kinh tế xã hội tạo nên rất nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Và một trong số tài nguyên mà nhân loại đang đề cập cấp bách nhất hiện nay chính là nguồn tài nguyên nước. Xuất phát từ vấn đề trên em chọn đề tài “Bảo vệ nguồn tài nguyên nước ” làm đề tài để nghiên cứu. NỘI DUNG I. Đặc điểm chung của tài nguyên nước ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên nước xếp vào loại trung bình khá trên thế giới nhưng có nhiều yếu tố không bền vững. Nước ta có khoảng 830 tỷ m3 nước mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ m3 được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ, chiếm 37%; còn 63% do lượng mưa ngoài lãnh thổ chảy vào. Tổng trữ lượng tiềm tàng nước dưới đất có khả năng khai thác, chưa kể phần hải đảo tính 60 tỷ m3/năm. Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt 4.400 m3/người/năm, so với thế giới là 7.400 m3/người/năm. Lượng nước sản sinh từ ngoài lãnh thổ chiếm gần 2/3 tổng lượng nước có được. Sự phân bố của cả nước mặt lẫn nước dưới đất không đều. Theo không gian, nơi có lượng mưa nhiều nhất là Bạch Mã 8.000mm/năm; Bắc Qang, Bà Nà khoảng 5.000mm/ năm, trong khi cửa Phan Rí chỉ đạt xấp xỉ 400mm/năm. Theo thời gian, mủa lũ chỉ kéo dài từ 3-5 tháng, nhưng chiếm tới 70 – 80% lượng nước cả năm. Mùa lũ, lượng mưa lớn nhất đạt trên 1.500mm/ ngày, song mùa cạn nhiều tháng lại không có mưa. Sự không thuận lợi của tài nguyên nước trong sử dụng và khai thác. Nước ta có khoảng 2.360 con sông có chiều dài hơn 10km. Trong số 13 lưu vực chính và nhánh có diện tích lớn hơn 10.000km2 thì đến 10/13 sông có quan hệ với nước láng giềng, trong đó 3/13 sông thượng nguồn ở Việt Nam, hạ nguồn chảy sang nước láng giềng; 7 sông thượng nguồn ở nước láng giềng, hạ nguồn ở Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam không những bị ràng buộc nguồn lợi về nước của quốc gia thứ hai, thứ ba chia sẻ, mà thường bị động. Sự cạn kiệt tài nguyên nước ngày càng tăng. Dân số tăng, chỉ số lượng nước trên đầu người giảm. Mặt khác, nạn phá rừng ngày một tăng cao để trồng cà phê, phá rừng để lấy gỗ để lấy gỗ, lấy củi, lấy đất làm nương rẫy,… khó kiểm soát đã làm nhiều sông, suối khô kiệt về mùa cạn; làm tăng tốc độ xói mòn đất, tăng tính trầm trọng của lũ lụt về mùa mưa. Ô nhiễm nước ngày một trầm trọng do tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày một tăng nhanh trong khi nước thải, rác thải chưa được kiểm soát chặt chẽ. Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học ngày một tăng, khó kiểm soát, ô nhiễm nước do nước thải, chất thải của các ao nuôi thủy sản xả trực tiếp không qua xử lý vào nguồn nước. Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đã trở thành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố, thị xã, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hải Phong, Hà Nội, vaft ại các khu công nghiệp. Ô nhiễm nước do hoạt động nông nghiệp cũng là vấn đề nghiêm trọng tại nhiều vùng nông thôn, đặc biệt tại châu thổ sông hồng và sông Cửu Long. Hiện tượng nhiễm mặn, hay chua do quá trinhg tự nhiên và do hoạt động của cong người đang là vấn đề nghiêm trọng ở vùng châu thổ sông Cửu Long. II. Thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay Tình hình khai thác và sử dụng nước Việt Nam là nước Đông Nam Á có chi phí nhiều nhất cho thủy lợi. Cả nước hiện có 75 hệ thống thủy nông, với 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ, đập nhỏ, 1.000 cống tiêu, trên 2.000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10.000 máy bơm các loại, có khả năng cung cấp 60 – 70 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, nhiều hệ thống thuỷ nông đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được 50 – 60% công suất thiết kế. Lượng nước sử dụng hàng năm cho nông nghiệp khoảng 93 tỷ m3, cho công nghiệp là 17,3 tỷ m3, cho dịch vụ là 2 tỷ m3, cho sinh hoạt là 3,09 tỷ m3. Dự tính tới năm 2030 dân số cả nước đạt 129 triệu trong đó dân thành phố lên 60 triệu, kinh tế tăng trưởng 10 lần, GDP đầu người tăng 7 lần, diện tích tưới tăng 3,4%/năm, chuẩn cấp nước tăng gấp đôi, 150 lít/ngày/người, 100% dân được cấp nước sạch vào năm 2020. Cơ cấu dùng nước sẽ thay đổi theo xu hướng nông nghiệp 75%, công nghiệp 16%, tiêu dùng 9%. Nhu cầu nước dùng sẽ tăng gấp đôi, chiếm khoảng 1/10 tổng lượng nước sông ngòi, 1/3 lượng nước nội địa, 1/3 lượng dòng chảy ổn định. Nước ta có trên 700 đô thị từ cấp I đến cấp V, nhu cầu cấp nước sinh hoạt trong các đô thị ngày càng gia tăng. Hiện nay, tiêu chuẩn cấp nước đô thị là 150 đến 200l/người dân. Trong số gần 2 triệu m3 nước cấp cho dân đô thị mỗi ngày, khoảng 30% lượng nước này được khai thác từ nguồn đất. Ở nông thôn, vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đang là vấn đề nan giải do những khó khăn tự nhiên và kinh tế xã hội của vùng. Có trên 50% hộ dân đang dùng nước giếng khơi, 25% dùng nước sông suối, trên 10% dùng nước mưa. Ước tính, mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn quốc gia. Cả khu vực nông thôn có khoảng 80% lượng nước được cấp với tiêu chuẩn 50 đến 80l/người dân. Tuy nhiên, cả đô thị lẫn khu vực nông thôn nguồn nước được cấp chỉ đảm bảo 50 đến 85%. Còn các hộ gia đình, cơ sở sản xuất phải tự tìm kiếm, khai thác nguồn nước và tự xử lý để sử dụng. Vì vậy sự tổn thất nước trong các hoạt động này rất lớn. Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là một trong 14 nước có tiềm năng thủy điện lớn. Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xuất khoảng 11 tỷ kWh, chiếm 72 đến 75% sản lượng điện cả nước. Với tổng chiều dài các sông và kênh khoảng 40.000km, đã đưa vào khai thác vận tải 15.00km, trong đó quản lý trên 8.00km. Những song suối tự nhiên, thác nước, … được sử dụng làm điểm tham quan, du lịch. Những vùng đất ngập nước, nơi quần tụ các loại động vật hoang dã là những nơi sinh thái lý tưởng… Về nuôi trồng thủy hải sản, nước ta có 1 triệu ha mặt nước ngọt, 400.000 ha mặt nước lợ và 1.470.000 ha mặt nước sông ngòi, có hơn 14 triệu ha mặt nước nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới sử dụng 12,5% diện tích mặt nước lợ, nước mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt. 2.Tình trạng ô nhiễm nguồn nước Ở Việt Nam hiện nay, mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta vào hàng thứ 12 trong số các quốc gia có số dân đông của thế giới. Với mức tăng dân nhanh như thế, mỗi năm nước ta tăng thêm 1,4 triệu người và dự báo đến năm 2015 sẽ là 100 triệu người. Dự báo đến năm 2020 sẽ có 50% số dân sống ở các vùng đô thị. Dân số tăng, nhu cầu nước cho mọi hoạt động sinh hoạt và phát triển kinh tế tăng lên, các nguồn chất thải tăng lên sự ô nhiễm môi trường nước cũng tăng lên. Hiện tượng suy giảm chất lượng nước cũng như số lượng nguồn nước mặt tăng lên do ô nhiễm từ các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thong vận tải thủy bộ, các khu dân cư, sự xói mòn rửa trôi trên xá bề mặt lưu vực sông suối. Đặc biệt là một số khu công nghiệp như Hải Phòng, Việt trì, Đà Nẵng, Biên Hòa,… và các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh gây ô nhiễm nguồn nước đang hàng ngày gia tăng. Tại Hà Nội tổng lượng nước thải ngày đêm là 300 – 400 ngàn m3, trong đó nước thải từ sản xuất công nghiệp là 85-90 ngàn m3, từ sinh hoạt là 1800-2000 m3/ngày đêm. Nhìn chung, các chất thải đều không qua xử lý nên gây ô nhiễm nặng, chỉ số ôxy sinh hóa vượt quá chỉ tiêu cho phép hàng trăm lần. Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục km. Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m3 nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống sông Hồng làm cho nước bị ô nhiễm đáng kể. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng ô nhiễm cũng đang ở mức báo động do nước thải sinh hoạt, nước thải của các ngành công nghiệp không qua xử lý hoặc xử lý rất sơ sài đang thải thẳng vào môi trường. Với lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải công nghiệp chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hàng ngày ở thành phố lớn, hơn nữa mức độ gây ô nhiễm của nước thải công nghiệp cao hơn rất nhiều so với nước thải sinh hoạt do chứa nhiều hóa chất độc hại và khó phân hủy. Do kinh phí còn hạn hẹp, điều kiện chưa cho phép nên hầu hết nước thải của các cơ sở sản xuất đều không qua khâu xử lý mà thải thẳng ra hệ thống kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm trầm trọng cho các nguồn này. Nước dùng sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị nước ta. Bên cạnh đó, nước ngầm cũng bị ô nhiễm do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm phèn, nhiễm mặn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sôngThái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung,… Ở nông thôn thì ý thức bảo vệ môi trường chưa tốt, việc xả tác thải sinh hoạt hàng ngày xuống các ao hồ tự nhiên vẫn còn khá phổ biến, gây ô nhiễm, đe doạ đến chất lượng nguồn nước ngầm do lượng nước thải không qua xử lý thấm xuống các tầng nước ngầm và mất mỹ quan môi trường sống. Ngoài ra, do không được đầu tư đúng mức nên hệ thống cống thoát nước chưa được xây dựng hoàn chỉnh, hầu hết các cống không có nắp nên ô nhiễm môi trường là không thể tránh khỏi. Mỗi gia đình có trung bình từ 4 – 5 người; chuồng lợn có từ 2 – 4 con; chuồng trâu, bò có từ 1 – 2 con; chuồng gà với khoảng 10 – 15 con, 10 – 20 con ngan vịt. Có một đến hai ao nhỏ để thả cá. Phần đất còn lại để trồng rau và cây ăn quả. Mặt khác, bà con nông dân sử dụng các chất dung dịch trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ đã làm tăng ô nhiễm đất và dư lượng hóa chất trong nông phẩm. Các kết quả điều tra đều cho biết do không có thiết bị xử lý nước thải nên các kênh, sông đều tiếp nhận nước thải bị ô nhiễm. 3. Các thách thức đối với tài nguyên nước hiện nay Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, sự bùng nổ dân số và nhu cầu về nước tăng lên đáng kể, sự phục vụ cho sinh hoạt và sự tăng trưởng kinh tế trong mấy năm qua đã nhanh chóng đẩy nước ta từ vị trí các cường quốc về tài nguyên nước xuống vị trí của một nước có mức bình quân đầu người về nước thuộc loại trung bình trên thế giới. Số dân nhập cư vào các đô thị là các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước khi các đô thị xây dựng hai bên bờ sông mà không có các dịch vụ thoát nước và vệ sinh. Các khu nhà xây dựng tạm, không quy hoạch và sự lấn chiếm sông hồ sẽ cản trở thoát nước, làm nghiêm trọng hơn vấn đề úng ngập. Nhiều thủy vực sẽ trở thành bể chứa nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Khủng hoảng cục bộ về nước trong một số năm có hạn hán ở một số khu vực của nước ta vừa qua có thể trở thành khủng hoảng về nước trên quy mô lớn và thường xuyên. Các vấn đề như ô nhiễm nước thải, chất thải rắn, ngập lụt, tắc nghẽn giao thông … phổ biến ở các trung tâm đô thị lớn. Sự khai thác thiếu khoa học các nguồn nước, sử dụng bừa bãi các loại phân hóa học, chất diệt cỏ trong nông nghiệp và do việc thải hàng tỉ mét khối nước thải và rác thải công nghiệp và sinh hoạt vào nguồn nước mà không qua xử lý tối thiểu. III. Các biện pháp đề xuất bảo vệ nguồn tài nguyên nước 1. Kiểm soát chất ô nhiễm trong nước thải Một trong những việc làm đầu tiên để bảo vệ chất lượng nước là loại bỏ những thành phần gây ô nhiễm có trong nước thải trước khi xả ra sông hồ, đó là xử lý nước thải. Trong nước thải có chứa các vật chất gây nhiễm bẩn hữu cơ và vô cơ, xử lý nước thải là làm giảm nồng độ các vật chất hữu cơ gây ô nhiễm vào đất nước. Để hạn chế lượng chất thải xả ra sông, hồ Nhà nước cần có các chính sách cụ thể hơn về việc quy định lượng chất thải và quấ trình xử lý nước thải trong các nhà máy, công xưởng. Các quy định về tiêu chuẩn sử dụng nguồn nước mặt, đánh giá chất lượng nước. Đề ra các văn bản, giấy phép xả thải để tránh việc thải khối khối lượng chất thải quá lớn ra môi trường. Đồng thời bố trí các hố thu gom nước xử lý cặn và bùn lắng để không gây hiện tượng bồi lắng vùng nước sông. Xây dựng các công trình xử lý nước thải như: bể tự hoại kiểu thấm, quy định bãi rác trung chuyển tạm thời tránh phóng uế, vứt rác sinh hoạt bừa bãi gây ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất và tiêu dùng gây ra. Và để bảo vệ nguồn nước mặt có hiệu quả, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng vệ sinh nước thải phải được kiểm tra chặt chẽ theo tiêu chuẩn. Trong ngành xây dựng, cần lựa chọn thời điểm thi công xây dựng chính vào các tháng mùa khô trong năm để hạn chế lượng chất bẩn sinh ra do nước mưa chảy tràn qua khu vực thi công xuống nước sông hồ. Phải có hệ thống thoát nước đảm bảo có lắng cặn và giữ lại các chất thải trong quá trình xây dựng như rác, vật liệu xây dựng trước khi chảy ra ngoài. Trong ngành Nông nghiệp, chất lượng các loại phân bón, thưốc trừ sâu, thước trừ cỏ … phải đạt đúng tiêu chuẩn mà nhà nước quy định và việc sử dụng phải phù hợp. 2. Tổ chức giám sát chất lượng nước nguồn Giám sát chất lượng nước các khu vực để đánh giá chất lượng nước, dự báo mức độ ô nhiễm nguồn nước. Đó là cơ sở để xây dựng các biện pháp bảo vệ có hiệu quả. Cần đánh giá các tác động do hoạt động của con người đối với nguồn nước và khả năng sử dụng nước vào các mục đích khác nhau; Xác định chất lượng nước tự nhiên; Giám sát nguồn gốc và đường di chuyển của các chất bẩn và chất độc hại đi vào nguồn nước; Xác định xu hướng thay đổi chất lượng ở phạm vi vĩ mô. Đồng thời, phải tổ chức hệ thống giám sát ở từng cơ sở, ở từng khu vực. Trạm đánh giá xu hướng thay đổi chất lượng nước có quy mô lớn ở từng khu vực. 3. Phân phối nước hợp lý Việc phân phối và cấp nước phải cố gắng đáp ứng nhu cầu với giá cả rẻ, không để xảy ra vấn đề cạnh tranh và mâu thuẫn trong sử dụng tài nguyên nước. Để làm được như vậy, cần phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn nước được cấp, phải có chiến lược kết hợp chặt chẽ giữa quản lý nhu cầu và sử dụng có hiệu quả hơn nguồn nước hiện được cấp với việc tăng nguồn nước cấp mới với chi phí thấp. Áp dụng các công nghệ sử dụng nước tiên tiến, sử dụng luân hoàn nước trong các xí nghiệp công nghiệp, xử lý nước thải và sử dụng lại nước thải đã xử lý, áp dụng công nghệ giảm đơn vị nước dùng cho công nghiệp, nông nghiệp, kết hợp nước mặt và nước ngầm, định giá thích hợp cho cấp nước và mức nhiễm bẩn cho phép đối với nước thải, bao gồm việc tăng tỷ suất khối và tỷ suất thành phần trong thời kỳ khô hạn. Các ngành sản xuất phải có công nghệ xử lý nước thải để quay lại sử dụng tái sản xuất, tiết kiệm trong việc sử dụng nước sạch. Người tiêu dùng dùng nước đúng vào mục đích, không nên lãng phí. 4. Một số biện pháp khác Thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, chương trình, dự án. Xác định mối quan hệ giữa tưới và sản xuất nông nghiệp cho từng tiểu vùng, từng hộ nông nghiệp. Cung cấp đủ kinh phí cho khâu vận hành, bảo dưỡng, duy trì các công trình, nhất là trong việc liên kết giữa sử dụng nước và đất trong việc quản lý các lưu vực, các hệ thông tưới. Đánh giá tác động của các dự án lên môi trường, đề xuất các biện pháp khắc phục ngay trong quá trình lập kế hoạch thiết kế và thực hiện cân đối giữa các mục tiêu kinh tế kinh tế xã hội và bảo vệ môt trường. Bảo đảm năng lượng thủy điện, bảo vệ đất, phòng ngừa hóa lầy và hóa mặn trong các hệ thống tưới. Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do biến đổi khí hậu toàn cầu, giảm nhẹ khí nhà kính theo kế hoạch hành động quốc gia. Hạn chế và giảm thiểu suy thoái tài nguyên nước do phát triển, sử dụng tài nguyên nước không hợp lý. Cải thiện, nâng cấp và mở rộng các hệ thống thoát lũ, tiêu úng. Nâng cấp các hệ thống cũ; quy hoạch, xây dựng bở dung hệ thống mới, độc lập với tưới nước, cấp nước và thực hiện nghiêm chỉnh các Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường,… bảo đảm thoát lũ; bảo vệ bờ sông, chỉnh trị dòng sồng, cửa sông; …Nâng cấp đê biển, đê cửa sông, củng cố, bồi trúc đê sông đảm bảo an toàn đê với mực nước thiết kế đã quy định. KẾT LUẬN Nước là một tài nguyên thiên nhiên vô giá, không thể thiếu đối với mọi sự hoạt động trong mọi ngành kinh tế quốc dân. Tuy nguồn nước có nhiều nhưng nước ở trạng thái thiên nhiên không đủ thỏa mãn được nhu cầu nước ngày càng to lớn của xã hội. Vì vậy nước là một trong những yếu tố quan trọng cần phải được xem xét trong quy hoạch của các ngành. Trong nông nghiệp, nước là biện pháp hàng đầu, trong công nghiệp ta khó hình dung được một nhà máy, một công trường nào mà lại không cần đến nước. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì hiện tượng thiếu nước và vấn đề sử dụng nước một cách có kế hoạch, hợp lý, tiết kiệm đã được đưa ra nghiên cứu, giải quyết. Và để khai thác những mặt lợi, ngăn chặn các tác hại của nước, con người đã phải can thiệp vào tự nhiên. Đó chính là nội dung của của bài tiểu luận ở trên. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU NỘI DUNG Đặc điểm chung của tài nguyên nước ở Việt Nam Thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay Bảo vệ tài nguyên nước. Quản lý tài nguyên nước. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Quản lý nguồn nước -Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội. NXB Nông Nghiệp năm 2005 Giáo trình Kinh tế tài nguyên – Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội. NXB Tài Chính năm 2009 Tạp chí kinh tế ( 24/08/2009). Bài viết ” Nguồn tài nguyên nước tại việt Nam và những vấn đề đặt ra” của tác giả NGUYỄN PHƯƠNG HÀ. Tạp chí Bảo Vệ Môi TrườngTạp chí Nước sạch vệ sinh môi trường Một số trang web: http:// chúng tôi chúng tôi www.vietnamnet.com