Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Và Trách Nhiệm Của Du Khách

--- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Bảo Tồn Tài Nguyên Du Lịch Nhân Văn Tỉnh Bình Dương
  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Rừng Tràm Trà Sư
  • Tài Liệu Đánh Giá Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Và Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Bền Vững Tỉnh Phú Yên
  • Luận Văn Khóa Luận Đánh Giá Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Và Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Bền Vững Tỉnh Phú Yên
  • Luận Văn Thạc Sỹ Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Tỉnh Lâm Đồng
  • Lượng rác thải lớn khiến các công nhân vệ sinh vô cùng vất vả. Hình ảnh Đà Lạt ngập rác trong những ngày Tết được chia sẻ trên mạng xã hội đã gây bức xúc cho nhiều người yêu mến Đà Lạt, làm ảnh hưởng đến hình ảnh, thương hiệu Đà Lạt.

    Xả rác, phóng uế, đốt vàng mã, ném tiền lẻ bừa bãi; tự ý vẽ, bôi bẩn lên các công trình, di tích văn hóa, lịch sử; dẫm đạp lên tượng, lên cỏ; bẻ hoa và cây xanh… là những hành vi phản văn hóa. Năm nào đến mùa lễ hội, du lịch cao điểm, những hành vi kém văn minh này cũng xảy ra khắp nơi. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm, xuống cấp của các di tích, khu, điểm du lịch; ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh và sự phát triển bền vững của ngành.

    Thời gian qua, bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục; bố trí lực lượng hướng dẫn, nhắc nhở du khách; tăng cường hệ thống biển báo, thùng rác, nhà vệ sinh tại các khu, điểm du lịch, nhiều địa phương cũng đã có nhiều giải pháp sáng tạo và quyết liệt. Thành phố Đà Nẵng đã ban hành kế hoạch kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp xả rác ra bãi biển, các khu nhà tắm nước ngọt và bãi tắm công cộng trên địa bàn, với mức tiền phạt từ 50.000 đến 500.000 đồng/người/lần. Tỉnh Ninh Thuận ban hành bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động du lịch, trong đó có nội dung yêu cầu du khách khi tới địa phương du lịch phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường; không vứt rác, khạc nhổ bừa bãi; đi vệ sinh đúng nơi quy định; không hái hoa, bẻ cành, dẫm đạp lên cỏ, chọc phá thú nuôi tại các khu, điểm du lịch và nơi công cộng; không viết, vẽ, khắc lên tường, tượng, cây xanh. Tỉnh Lâm Đồng kêu gọi du khách khi tới địa phương tham quan “không để lại gì ngoài những dấu chân” và tổ chức tour du lịch vì môi trường “Trồng cây lưu dấu, góp xanh đại ngàn”. Những biện pháp này bước đầu đã phát huy tác dụng, tuy nhiên, hiệu quả mới chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp, tại nhiều địa phương, công tác tuyên truyền, ngăn chặn và xử lý những hành vi thiếu ý thức của du khách vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

    Ngành du lịch của Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng lớn. Tại diễn đàn bộ trưởng các nước ACMECS được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh cuối năm 2022, đại diện các quốc gia trong đó có Việt Nam đã thông qua tuyên bố về “Du lịch có trách nhiệm” với nội dung then chốt chính là du lịch gắn với bảo vệ môi trường. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho du khách chính là góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch, xây dựng hình ảnh con người Việt Nam văn minh, bảo đảm cho ngành du lịch Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững…

    VŨ ĐÌNH ĐÔNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Thơ Xây Dựng Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Khí
  • Làm Sao Để Bầu Không Khí Xung Quanh Được Trong Lành
  • Bài 40. Bảo Vệ Bầu Không Khí Trong Sạch
  • Tin Tức Thời Sự : Dùng Mọi Biện Pháp Có Thể Để Bảo Vệ Biển Đông!
  • Quốc Hội Đề Nghị Đánh Giá Tình Hình, Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Ở Biển Đông
  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam Luận Văn Ths. Luật
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam, Hay
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Tài Nguyên Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Vườn Quốc Gia Phước Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Tài nguyên du lịch được coi là một phân hệ du lịch quan trọng, mang tính quyết định của hệ thống lãnh thổ du lịch, là mục đích khám phá của du khách, là cơ sở quan trọng để hình thành, phát triển du lịch ở một khu, điểm du lịch ở các địa phương hoặc quốc gia.

    Tổng quan về tài nguyên du lịch

    Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005 thì Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

    Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

    Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với du khách; tài nguyên du lịch là những tài nguyên gồm hai giá trị: giá trị hữu hình và giá trị vô hình; tài nguyên du lịch thường dễ khai thác; tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau; tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch; tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần.

    Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch

    Để khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn cần đánh giá hiện trạng khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo ngành và theo lãnh thổ, đưa ra một số nguyên tắc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững.

    Một số dấu hiệu nhận biết khai thác và bảo vệ hiệu quả tài nguyên du lịch: Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ; số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch; áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý; cường độ hoạt động tại các khu, điểm du lịch được quản lý; mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nỗ lực bảo tồn phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường.

    Để khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển du lịch bền vững chúng ta cần thực hiện một số giải pháp:

    Một là: khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lý và giảm thiểu chất thải ra môi trường.

    Hai là: phát triển du lịch phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên.

    Ba là: phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội vì du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng cao nên mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch chuyên ngành nói riêng và quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương.

    Bốn là: nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm, sự tham gia, ý kiến đóng góp của các đối tượng tham gia du lịch trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch.

    Năm là: tăng cường tính có trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch.

    ( Nguồn: LV)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tp. Điện Biên Phủ: Giải Pháp Nào Cho ‘bài Toán’ Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị Điện Biên
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Môi Trường
  • 5 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Thể Không Làm
  • Thuyết Trình Về Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển Nước Ta Hiện Nay Câu Hỏi 335339
  • Những Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 14: Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Những Biện Pháp Phòng Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Giải Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn Tại Công Trình Công Cộng
  • Những Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn Hiệu Quả Nhất
  • Các Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn Hay, Chi Tiết
  • Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố được chứa đựng trong môi trường và có vai trò cực kỳ quan trọng đối với con người chúng ta. Tài nguyên thiên nhiên không chỉ là nguồn lực quan trọng của quá trình sản xuất, là cơ sở phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp mà còn là nhân tố giúp giữ vững sự phát triển ổn định của đất nước. Tuy nhiên, thực trạng tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam nói riêng cũng như các nước khác trên thế giới nói chung đang ngày càng có xu hướng diễn biến tiêu cực, bị thu hẹp cả về chất lượng lẫn số lượng. Chính vì vậy những biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cần phải được tích cực đề xuất và thực hiện trong giai đoạn hiện nay.

    Tài nguyên thiên nhiên bao gồm những gì?

    Để có thể bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trước hết chúng ta cần biết tài nguyên thiên nhiên bao gồm những gì? Tài nguyên thiên nhiên có rất nhiều loại khác nhau và được gom thành ba nhóm chính đó là:

    Tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo: Bao gồm đất, nước, sinh vật, rừng,….Những tài nguyên này nếu được sử dụng và khai thác hợp lý sẽ có khả năng tự tái tạo sau một thời gian. Tuy nhiên, những tài nguyên thuộc nhóm này có thể bị suy thoái và xếp vào nhóm tài nguyên không tái tạo được.

    Tài nguyên không tái tạo được: Bao gồm các loại khoáng sản, gen di truyền,…Những tài nguyên này là hữu hạn, sau một thời gian bị khai thác có thể bị biến đổi, mất đi hoặc cạn kiệt hoàn toàn.

    Tài nguyên thiên nhiên vĩnh cửu: Bao gồm năng lượng gió, ánh sáng mặt trời, sóng biển,….Những tài nguyên này là vô hạn và không bao giờ bị cạn kiệt.

    Những giải pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hiện nay

    Có thể thấy, tài nguyên thiên nhiên có rất nhiều loại với đặc tính khác nhau. Để những tài nguyên này không bị suy giảm về số lượng lẫn chất lượng, góp phần giữ vững sự phát triển ổn định của đất nước, chúng ta cần phải có những biện pháp sử dụng và bảo vệ hiệu quả, cụ thể:

    1. Nâng cao ý thức trách nhiệm khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên

    Các cơ quan ban ngành cần phải tuyên truyền và nâng cao trách nhiệm của mỗi công dân trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên sao cho tiết kiệm, hợp lý thông qua các giải pháp cụ thể như:

    – Không khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi. Sau khi khai thác phải thực hiện nghiêm ngặt các giải pháp phục hồi, chẳng hạn như: trồng rừng.

    – Coi trọng việc sử dụng và tái tạo các nguồn năng lượng mới (tài nguyên thiên nhiên vĩnh cửu).

    – Tài nguyên năng lượng cần được sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả để giảm mức khí thải nhà kính.

    – Chấm dứt tình trạng xuất khẩu khoáng sản thô thay vào đó là đẩy mạnh chế biến sâu.

    – Đối với các tài nguyên thiên nhiên khoáng sản cần phải có sự cân đối giữa nhập và xuất khẩu,

    2. Tăng cường công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên

    Bên cạnh tuyên truyền và nâng cao ý thức cho người dân, các cơ quan ban ngành cần phải chú trọng đến việc tăng cường công tác quản lý trong việc:

    – Kiểm soát các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên.

    – Đẩy mạnh điều tra để nắm được xu hướng diễn biến của các nguồn tài nguyên.

    – Đánh giá trữ lượng và giá trị kinh tế của các tài nguyên thiên nhiên để lập kế hoạch khai thác, sử dụng.

    – Có kế hoạch và biện pháp bảo vệ, sử dụng, tái tạo ba loại rừng: phòng hộ, đặc dụng và sản xuất.

    – Xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, ban hành Sách Đỏ để bảo vệ các tài nguyên sinh vật.

    3. Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường

    Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng lại đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm trầm trọng. Khi môi trường bị ô nhiễm sẽ làm cho tài nguyên sinh vật bị suy giảm do không kịp thích nghi với sự thay đổi của không gian sống. Vậy nên để ngăn chặn được diễn biến tiêu cực của tài nguyên thiên nhiên thì chúng ta cần phải đẩy mạnh thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường như:

    – Tuyên truyền và nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường.

    – Chú trọng đến việc quy hoạch các khu công nghiệp, làng nghề, đô thị.

    – Hoàn thiện hệ thống Pháp luật, ban hành chế tài đủ mạnh để xử lý hành vi gây ô nhiễm môi trường.

    – Chú trọng đến các dự án đầu tư. Cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và ảnh hưởng của dự án đến môi trường về lâu dài trước khi cấp phép cho xây dựng, hoạt động.

    4. Chủ động đưa ra các phương án ứng phó với thiên tai

    Các tài nguyên thiên nhiên cũng dễ bị ảnh hưởng, suy thoái, biến đổi bởi các thiên tai. Vậy nên, chủ động đưa ra các phương án phòng tránh và ứng phó với thiên tai cũng là một biện pháp thiết thực để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Theo đó, các cơ quan ban ngành cần phải:

    – Đầu tư thiết bị hiện đại để có thể cảnh báo, dự báo thiên tai, giám sát sự biến đổi của khí hậu.

    – Chủ động xây dựng và triển khai các kế hoạch, chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai cho từng giai đoạn.

    – Thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ để nâng cao hiệu quả, hạn chế tác động của các thiên tai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Biện Pháp Phòng Chống Bệnh Sốt Rét Ở Hà Nội
  • Đôi Nét Về Bệnh Sốt Rét Và Cách Phòng Ngừa
  • Dấu Hiệu Và Cách Phòng Ngừa Virus Zika Bạn Nên Biết
  • Phòng Ngừa Virus Zika Và Sốt Xuất Huyết Hiệu Quả
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam, Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Tài Nguyên Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Vườn Quốc Gia Phước Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Tại Vĩnh Phúc
  • Một Số Vấn Đề Liên Quan Đến Ô Nhiễm Đất
  • Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam, cho các bạn tham khảo làm luận văn của mình

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NHƯ HUYỀN PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ TµI NGUY£N DU LÞCH ë VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014
    2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NHƯ HUYỀN PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ TµI NGUY£N DU LÞCH ë VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: chúng tôi VŨ THU HẠNH HÀ NỘI – 2014
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Như Huyền
    4. 5. 2.2.2 Những hạn chế trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch……………………………………………………………………………………..77 2.2.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch …………………………………………………………………………81 Kết luận chương 2 ……………………………………………………………………………..84 Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH VIỆT NAM…………………………………………………………………………….85 3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch…………………………………………………………………………………….85 3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam ……………………………………………………..90 3.2.1. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch……………………..90 3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch ………………………91 3.2.3. Hoàn thiện các quy chuẩn về tài nguyên du lịch…………………………..92 3.2.4. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm pháp luật về tài nguyên du lịch………………………………………….93 3.3. Một số giải pháp khác nhằm tăng hiệu quả bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam………………………………………………………………….95 3.3.1. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ………………………………………………………………………..95 3.3.2. Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch…….98 Kết luận chương 3 ……………………………………………………………………………102 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………..103 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………..104
    5. 7. 2 tài nguyên – môi trường du lịch của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đang bị tác động tiêu cực bởi việc khai thác cho du lịch, phát triển kinh tế – xã hội làm cho các tài nguyên dần cạn kiệt và suy thoái dần, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành Du lịch cũng như các ngành kinh tế khác. Do vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của tài nguyên du lịch đối với hoạt động phát triển du lịch như vậy nên việc bảo vệ tài nguyên du lịch là vấn đề đáng được quan tâm hiện nay, đặc biệt khi những yêu cầu về phát triển du lịch bền vững được đặt lên hàng đầu trong các chính sách, chiến lược, chương trình hành động quốc gia về du lịch. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch chưa được quan tâm tương xứng với yêu cầu đặt ra hiện nay như: nhiều hoạt động thực tiễn chưa được Luật Du lịch điều chỉnh, nhiều vấn đề Luật đề cập không cụ thể, hoặc chưa phù hợp với thực tế. Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch nước ta. Mặt khác, có thể thấy du lịch muốn phát triển bền vững thì song song với nó luôn cần có sự tồn tại của các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn và môi trường. Do đó mà sự phát triển của du lịch luôn có mối liên hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch. Việc khai thác các tài nguyên du lịch và phát triển các hoạt động du lịch luôn gắn liền và có sự tác động qua lại với môi trường du lịch. Hiện nay, tài nguyên du lịch ở các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang bị những tác động tiêu cực của hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, có nguy cơ giảm sút và suy thoái, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch. Do vậy, để tăng cường vai trò của tài nguyên du lịch đòi hỏi Việt Nam cần từng bước nâng cao hiệu quả của các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường trong lĩnh vực du lịch. Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch cần được xây dựng hoàn thiện, là khung pháp lý vững chắc để tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên du lịch hơn nữa.
    6. 10. 5 các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và đánh giá thực trạng thực hiện chúng trên thực tế. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam. Như vậy, việc bảo vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật cần được triển khai ở cả khía cạnh xây dựng pháp luật và thực tế thực hiện pháp luật với những cách thức, biện pháp đa dạng, phong phú, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế. Cụ thể đề tài dự kiến có những đóng góp sau: – Trong Chương 1, đề tài tập trung làm rõ vai trò của việc bảo vệ tài nguyên du lịch trong mối quan hệ với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu bảo vệ chất lượng môi trường; sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật và khái quát được hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch. – Trong Chương 2, đề tài tập trung đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam, gồm đánh giá ưu điểm, hạn chế về nội dung và hình thức của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch; đánh giá kết quả, hạn chế khi thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và nêu được nguyên nhân của bất cập, hạn chế đó. – Trong Chương 3, từ những kết quả nghiên cứu của Chương 1 và Chương 2, đề tài đưa ra các giải pháp, kiến nghị mới nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch, đặc biệt ở khía cạnh quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch; rà soát cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và tuyên truyền pháp luật để bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam. 6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định cụ thể của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và các hoạt động thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch
    7. 13. 8 càng cụ thể, chi tiết hơn. Sự phân biệt rõ chức năng của mỗi nguồn tài nguyên phù hợp với từng lĩnh vực là nhằm giúp cho công tác quản lý các nguồn tài nguyên được thuận lợi, hiệu quả hơn và tài nguyên du lịch cũng được tiếp cận theo hướng đó. Nguyễn Minh Tuệ cho rằng: Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch . Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân. Cụ thể: 1.1.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta được khai thác sử dụng để phục vụ cho
    8. 14. 9 hoạt động du lịch. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, được khai thác đồng thời với tài nguyên du lịch nhân văn.Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: – Tài nguyên địa hình Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt động của con người. Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nên phong cảnh, một yếu tố quan trọng để hình thành nên các tài nguyên khác. Các địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khách du lịch là: địa hình Karst, địa hình bờ biển, địa hình hải đảo,… Địa hình Karst: chiếm khoảng 60.000 km2 tập trung chủ yếu ở Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với các dạng Karst hang động, Karst ngập nước và Karst đồng bằng. Địa hình Karst tạo nên những điểm du lịch hấp dẫn với hệ thống các hang động, núi đá vôi,… Địa hình bờ biển: Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh quan phong phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Các bãi biển nổi tiếng như: Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Văn Phong (Nha Trang), Mỹ Khê (Đà Nẵng)… Địa hình hải đảo: Nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều đảo có cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch như: Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Lý Sơn (Quảng Ngãi)…. – Tài nguyên khí hậu Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt. Các yếu tố của khí hậu thay đổi theo không gian từ xích đạo đến hai cực, theo độ cao, theo thời gian (tính theo mùa), có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình, vị trí địa lý, thủy văn và sinh vật, hoạt động sản xuất và đời sống của con người . Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân diễn ra vào thời điểm cố định trong năm nhằm để kỉ niệm một sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa hay tôn giáo của cộng đồng. Lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội. Ở phần nghi lễ với những nghi thức trang trọng nhằm bày tỏ sự tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa,… Còn phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý cộng đồng văn hóa dân tộc. Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang giá trị nghệ thuật, thể hiện sự khéo léo của người lao động, tâm tư tình cảm của họ.
    9. 18. 13 Nghề thủ công truyền thống luôn được bảo tồn, phát huy từ đời này sang đời khác của các gia đình, các làng, các địa phương. Hiện nay du lịch phát triển ở các làng nghề đang ngày một tân tiến, đa dạng. Các tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể khác như phong tục tập quán, nghệ thuật hát múa, diễn xướng dân gian, trang phục truyền thống dân tộc,… tạo sức hút đối với khách du lịch đều được coi là nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch. Phát triển các nguồn tài nguyên du lịch quý giá trên tạo điều kiện cho ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội Việt Nam nói chung ngày một đi lên hơn nữa. 1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch Từ những phân tích trên cho thấy tài nguyên du lịch có giá trị quan trọng và rất cần thiết cho sự phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Để phát huy ở mức cao nhất các tác dụng của tài nguyên du lịch thì việc bảo vệ nguồn tài nguyên này vừa là đòi hỏi mang tính khách quan vừa là yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch. Theo cách hiểu phổ thông thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm đến các loại tài nguyên du lịch để giữ cho tài nguyên du lịch được nguyên vẹn đúng như giá trị của nó. Còn từ phương diện quản lý thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các nguồn tài nguyên du lịch cần bảo vệ; xác định trách nhiệm của Nhà nước; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững. Nói cách khác, bảo vệ tài nguyên du lịch là việc áp dụng đồng bộ các giải pháp về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy có hiệu quả cao nhất giá trị của các tài nguyên du lịch. Bảo vệ tài nguyên du lịch là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổ chức và cá nhân.
    10. 19. 14 Sở dĩ tài nguyên du lịch cần phải được bảo vệ là vì những lý do sau: Thứ nhất, bảo vệ tài nguyên du lịch có ý nghĩa quyết định đối với phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của du lịch. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch. Sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng độc đáo, đặc sắc thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng. Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để duy trì và phát triển các loại hình du lịch. Trong quá trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các yêu cầu và thỏa mãn các mục đích của du khách, các loại hình du lịch mới cũng không ngừng xuất hiện và phát triển. Các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa trên cơ sở của tài nguyên du lịch. Sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm cho các yếu tố điều kiện tự nhiên, xã hội trở thành tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng tổ chức lãnh thổ du lịch. Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó. Các yếu tố đó là khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đội ngũ cán bộ công nhân viên, tổ chức điều hành và quản lý du lịch. Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch, cũng là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác một cách hiệu quả nhất các tiềm năng của nó. Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp phần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói riêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung. Thứ hai, bảo vệ tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình lưu giữ các di tích lịch sử và giá trị bản sắc văn hóa riêng của dân tộc. Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá
    11. 20. 15 lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại.Với những giá trị như trên, các di tích lịch sử văn hoá là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu “tài nguyên du lịch”. Các di tích đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ. Việc bảo tồn, lưu giữ tài nguyên du lịch góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền khác nhau. Thứ ba, giữa tài nguyên du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội quốc gia có mối quan hệ tương hỗ. Phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia. Nếu có một nguồn tài nguyên du lịch phong phú có thể giúp quốc gia đó phát triển các loại hình du lịch đa dạng, mạng lại nguồn thu nhập cao, qua đó tạo điều kiện cho kinh tế – xã hội phát triển. Hơn thế nữa, du lịch không những tạo ra của cải và việc làm cho nội bộ ngành Du lịch mà còn cho cả những ngành khác nữa. Vào thời điểm nhiều ngành kinh tế phải đối mặt với những khó khăn về tiêu dùng trong nước thì du lịch không những trực tiếp mang lại doanh thu từ xuất khẩu, mà còn gián tiếp tác động đáng kể thông qua chuỗi giá trị to lớn của ngành. Mặt khác, du lịch còn giúp giảm nghèo và hỗ trợ phát triển. Du lịch chiếm 45% kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển và chính các quốc gia này với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ được hưởng lợi từ phát triển du lịch. Du lịch ngày càng trở thành một công cụ hiệu quả hỗ trợ phát triển. Có thể nói, du lịch đóng góp quan trọng và phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường. Một báo cáo của ông Taleb Rifai, Tổng thư ký Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mới diễn ra vào ngày 23 tháng 01 năm 2013 tại thủ đô Madrid, Tây Ban Nha đã xác định du lịch là 1 trong 10 ngành góp phần quan trọng vào
    12. 21. 16 “xanh hóa” nền kinh tế toàn cầu. Nếu được đầu tư thích đáng, du lịch có thể là nhân tố then chốt dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng xanh hóa thông qua thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm nguy cơ suy thoái môi trường và nâng cao nhận thức về môi trường cho khách du lịch , hay việc sử dụng sự chủ quan của khách du lịch để móc túi, trộm cắp đồ, lèo kéo khách hàng, những hành vi dụ dỗ khách vào những loại hình văn hóa đồ trụy… Hay tại nhiều khu di tích, du khách đã viết tên, khắc tên lên các bộ phận di tích một cách bừa bãi. Bụi bặm, khói xăng dầu, rác thải gây ô nhiễm, ảnh hưởng không ít đến di tích. Mặt khác, trách nhiệm bảo vệ giữ gìn các di tích, tài nguyên
    13. 22. 17 du lịch không được phân công rõ ràng và sự phối hợp giữa nhà chức trách với người sử dụng, khai thác còn lỏng lẻo. Hiện tượng đó dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi, vô trách nhiệm hoặc bỏ mặc cho các di tích xuống cấp. Bên cạnh đó, việc đầu tư nâng cấp các di tích với tư cách là một sản phẩm du lịch chưa được triển khai trong một quy chế chặt chẽ và toàn diện, trong đó có tính đến yếu tố du lịch. Còn phổ biến tình trạng giao khoán cải tạo thậm chí được phó mặc cho những người quản lý, đầu tư tự sáng tạo theo ý mình trong trùng tu, tôn tạo, xây mới bằng các biện pháp chặt cây, phá núi; xây bậc xi măng thay cho vẻ đẹp của đất và đá tự nhiên; thay gạch, bê tông cho các cấu kiện gỗ; dùng sơn công nghiệp thay cho sơn thủ công trong trang trí kiến trúc… làm mất đi vẻ đẹp ban đầu, mất đi những “phần hồn” của các di tích như trường hợp chùa Trấn Quốc, chùa Thiên Phúc (Cửa Nam), chùa Kim Liên, đình Yên Phụ, chùa Hương, đền Voi Phục, phủ Tây Hồ đều ở Hà Nội… Những lỗ hổng trong cách quản lý đó dẫn đến hậu quả khôn lường, không những không có tác dụng thu hút du khách mà ở một chừng mực nhất định còn làm phương hại đến hình ảnh của điểm du lịch, hình ảnh chung về nền văn hoá của cả quốc gia. Nếu không sớm khắc phục, chúng ta sẽ có lỗi rất lớn với lịch sử. Hơn nữa, thực tế còn tồn tại một mâu thuẫn khá lớn giữa nhu cầu phát triển kinh tế đất nước và yêu cầu của những nguyên tắc, cách thức bảo tồn di tích. Nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hoá chưa thật sâu sắc nên trong nhiều trường hợp cụ thể người ta lại muốn hy sinh văn hoá cho nhu cầu kinh tế. Vì những lợi ích mà tài nguyên du lịch mang lại cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay đòi hỏi các cơ quan chức năng có thẩm quyền và người dân cần nâng cao hơn nữa tinh thần bảo vệ tài nguyên du lịch ở mọi nơi, mọi lúc. Làm được điều này sẽ giúp cho đất nước ta ngày một giàu đẹp, văn minh hơn nữa.
    14. 23. 18 1.2. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch Như trên đã đề cập, bảo vệ tài nguyên du lịch là nhu cầu cần thiết, khách quan, góp phần bảo đảm phát triển kinh tế đất nước. Bảo vệ tài nguyên du lịch có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau, như biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên du lịch cho người dân; biện pháp khuyến khích đầu tư phát triển tài nguyên du lịch và các biện pháp pháp lý về bảo vệ tài nguyên du lịch…, trong đó biện pháp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành vi xử sự của con người đối với tài nguyên du lịch. Quá trình định hướng hành vi bảo vệ tài nguyên du lịch được thực hiện thông qua các quy định có tính nguyên tắc về bảo vệ tài nguyên du lịch; quy định về những hành vi bị cấm; những hoạt động được khuyến khích; về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch… Kết hợp khái niệm “tài nguyên du lịch” với những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch như sau: Pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch là tổng thể những quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình tác động lên cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác nhằm bảo vệ chúng khỏi sự xâm phạm làm ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói riêng và sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung. So với pháp luật bảo vệ các nguồn tài nguyên khác, pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch là một bộ phận quan trọng trong pháp luật về du lịch. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên khác có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Hiện nay, một số loại tài
    15. 25. 20 1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch Xuất phát từ tính đa dạng của các loại tài nguyên du lịch, đa dạng về các chủ thể trong quan hệ bảo vệ tài nguyên du lịch nên pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch cũng có khá nhiều nội dung, bao gồm: 1.2.2.1. Những nội dung có tính nguyên tắc về bảo vệ tài nguyên du lịch Những nội dung có tính nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch là những nội dung mang tính tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định cụ thể của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch. Bảo vệ tài nguyên du lịch được thực hiện theo nguyên tắc được quy định trong Luật Du lịch năm 2005: bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững. Đồng thời Nhà nước thống nhất quản lý tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước, có chính sách và biện pháp để bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý tài nguyên du lịch . “Nhạc trưởng” của xã hội chính là Nhà nước. Theo cuốn Tập bài giảng Nhà nước và pháp luật thì: Chức năng Nhà nước được hiểu là những phương hướng, phương diện hoặc mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Chức năng của Nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất nhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyết định ; “Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp từ trung ương đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở những xã, phường, thị trấn có rừng” . Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương, cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển bảo vệ tài nguyên du lịch phù hợp với thực tế ở địa phương và có biện pháp bảo đảm an toàn, trật tự, an toàn xã hội tại khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, tuyến du lịch. Bên cạnh Luật Du
    16. 31. 26 lịch 2005, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 cũng có nhiều quy định về quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân các cấp: “Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương theo thẩm quyền” ; tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt; tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của tỉnh theo Quy chế của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điểm du lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương; công bố sau khi có quyết định công nhận; thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật… Có thể thấy rằng, bộ máy và năng lực quản lý nhà nước về tài nguyên du lịch, hệ thống kinh doanh du lịch ở Việt Nam đang từng bước được kiện toàn, thích ứng dần với cơ chế mới. 1.2.2.3. Quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong bảo vệ tài nguyên du lịch  Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch Theo Luật Du lịch 2005: Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường; Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch . Ban quản lý có trách nhiệm bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch; đề xuất, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm đối với các cơ sở kinh doanh xâm hại đến tài nguyên du lịch; xây dựng nội dung bảo vệ tài nguyên du lịch, niêm yết tại lối vào và để tại những nơi dễ quan sát trong khu, điểm du lịch; bố trí các cán bộ theo dõi và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ tài nguyên du lịch trong khu, điểm du lịch,… Ngoài ra, đối với những nguồn tài nguyên du lịch cụ thể, pháp luật cũng có những quy định cụ thể như sau: Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001, tổ chức, cá nhân quản lý trực tiếp di sản văn hóa có các quyền và nghĩa vụ: Bảo vệ, giữ gìn di sản văn hóa; thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hóa; thông báo kịp thời cho chủ sở hữu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất khi di sản văn hóa bị mất hoặc có nguy cơ bị hủy hoại; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hóa; thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật . Như vậy, các chủ thể kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ các loại tài nguyên du lịch theo quy định của pháp luật. Đây là những chủ thể có tác động trực tiếp đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch. Họ có quyền được khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch nhằm mục đích kinh doanh nhưng bên cạnh đó những chủ thể này phải đảm bảo tài nguyên du lịch được bảo vệ, không được lợi dụng quyền để xâm phạm, hủy hoại tài nguyên
    17. 37. 32 du lịch. Đồng thời, cần phải có những biện pháp để ngăn chặn những hành vi xâm phạm tài nguyên du lịch bởi các chủ thể khác.  Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh lữ hành Theo Luật Du lịch năm 2005, “Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch” . Ngoài ra, còn có quy định về việc: Nhà nước đầu tư cho việc điều tra cơ bản về tài nguyên du lịch ưu tiên đầu tư cho các dự án bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch, khu du lịch; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào việc bảo vệ, tôn tạo, sử dụng và phát triển tài nguyên du lịch [24, Điều 16]. Như vậy, Pháp lệnh Du lịch là văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh các vấn đề về du lịch bằng những nguyên tắc, quy phạm pháp luật trong một văn bản thống nhất. Đây cũng là lần đầu tiên có các quy định về bảo vệ tài nguyên du lịch. Sau một thời gian, kể từ khi ngành Du lịch được Nhà nước quan tâm và chú trọng thì pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch đã có những bước phát triển đáng ghi nhận. Từ việc Nhà nước mới chỉ có những văn bản pháp lý quy định về việc thành lập Tổng cục Du lịch cũng như các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch đến ban hành một văn bản pháp lý có hiệu lực cao quy định về các vấn đề cơ bản nhất của du lịch. Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch trong thời gian đầu chưa được chú trọng và có những quy định cụ thể bởi thời gian đó ngành Du lịch Việt Nam mới được thành lập nên cần có những quy định về công tác quản lý nhà nước về du lịch, quy hoạch tổng thể về du lịch triển khai thực hiện. Khi Pháp lệnh Du lịch ra đời thì quy định về bảo vệ tài nguyên môi trường lần đầu tiên được đưa ra. Pháp luật bắt đầu có những quy định cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch. Tuy nhiên, sau quá trình ban hành Pháp lệnh Du lịch và thực hiện trên thực tiễn đã thấy xuất hiện những hạn chế, bất cập nhất định về bảo vệ tài nguyên du lịch. Do việc quản lý và bảo vệ tài nguyên du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam Luận Văn Ths. Luật
  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tp. Điện Biên Phủ: Giải Pháp Nào Cho ‘bài Toán’ Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị Điện Biên
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Cho Em Hỏi :một Số Giải Pháp Nhằm Bảo Vệ Môi Trường Trong Quá Trình Phát Triển Du Lịch?
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Quy Hoạch Giao Thông Đường Thủy Nội Địa
  • Chủ Động Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển Và Hải Đảo
  • Trình Bày Thực Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Để Bảo Vệ Môi Trường Biển Đảo
  • Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ học kiến trúc, các công trình sáng tạo của con người qua các thời kỳ lịch sử và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ cho mục đích du lịch. Tóm lại tài nguyên du lịch nhân văn có thể nói tóm tắt bao gồm các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể (theo Luật di sản văn hoá)

    Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đều cùng tồn tại trong môi trường nhất định, nếu môi trường đó được gìn giữ bảo vệ lưu giữ cùng với những vẻ nguyên sơ ban đầu thì những tài nguyên du lịch đó càng có sức lan toả hấp dẫn cũng như việc thu hút khách đến tham quan ngày càng đông hơn. Chúng ta không chủ trương phát triển du lịch bằng bất cứ giá nào, miễn là thu được nguồn lợi kinh tế cao, không tính đến mặt trái của du lịch để lại hậu quả về môi trường và văn hoá xã hội. Chỉ trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa du lịch và bảo vệ môi trường với bảo tồn làm giầu và phát huy di sản văn hoá thì mới có du lịch bền vững. Nhiều nước trên thế giới vấn đề bảo vệ di sản Thiên nhiên cũng như việc gìn giữ di sản văn hoá được quan tâm hàng đầu nhằm bảo vệ môi trường sinh thái trong thiên nhiên cũng như việc bảo tồn những di sản văn hoá của cộng đồng, đặc biệt ở vùng miền núi vùng đồng bào các dân tộc lại càng có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá. Vấn đề bảo tồn phát huy những giá trị di sản văn hoá, bảo vệ gìn giữ môi trường sinh thái trong thiên nhiên chính là mục tiêu then chốt, rường cột để phát triển du lịch bền vững. Trong những năm qua công tác du lịch tại Cao Bằng đã được các ngành các cấp từ trung ương đến cơ sở quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển, là tỉnh miền núi có tiềm năng lớn về du lịch, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, thu nhập bình quân đầu người của người dân Cao Bằng cũng được tăng lên, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng dân cư. Lượng khách du lịch đến Cao Bằng trong năm 2012 đạt 459.636 lượt người tăng 26% so với cùng kỳ năm trước , trong đó khách quốc tế 24.171 lượt tăng 41%, khách nội địa 435.465 lượt tăng 25%. Doanh thu từ du lịch đạt trên 71tỷ tăng 26% so cùng kỳ năm trước. Như vậy bức tranh toàn cảnh về du lịch Cao Bằng những năm gần đây đã có những thành tích đáng khích lệ. Song để du lịch Cao Bằng có những bước tiến nhanh và bền vững chúng ta cần trao đổi một số giải pháp phục vụ cho sự nghiệp du lịch tỉnh nhà đặc biệt là vấn đề bảo vệ phát triển tài nguyên môi trường du lịch tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới, mà theo chúng tôi hai loại tài nguyên luôn song hành với du lịch như hình với bóng: Môi trường sinh thái và môi trường di sản văn hoá ở tỉnh Cao Bằng, bước đầu có thể chia làm 4 cụm:

    1. Du lịch về nguồn kết hợp với cảnh quan môi trường sinh thái khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó. Việc bảo tồn tài nguyên du lịch ở khu di tích có nhiều việc phải làm: Việc đầu tiên là bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể tại khu di tích, công tác này chúng ta đang làm bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ. Một việc làm cần có quy hoạch thực hiện hàng năm đó là gìn giữ phát triển cảnh quan môi trường sinh thái của khu di tích để gần trở lại với những năm 1941 – 1945 khi cụ Hồ sống và hoạt động cách mạng ở Pác bó

    2. Khu du lịch thắng cảnh thác Bản Giốc động Ngườm Ngao nhiều năm qua khi phục vụ khách du lịch đến thăm chúng ta vẫn thường xuyên tuyên truyền cho du khách có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ cảnh quan môi trường danh thắng tuy nhiên do điều kiện và sự nhìn nhận chưa thấu đáo toàn diện nên đã xây dựng một số công trình phát triển kinh tế như nhà máy thuỷ điện Bản Rạ (xã Đàm Thuỷ), cũng như nhà máy thuỷ điện Pác Bó khi mùa khô đập chặn nước suối Lê Nin chẩy vào nhà máy nên có những đoạn suối Lê Nin không có nước trở thành dòng suối chết những công trình xây dựng trên rất ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường khu di tích, danh thắng.

    3. Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Phia Oắc – Phia Đén có độ cao từ 1.500 – 1931 m khí hậu quanh năm mát mẻ nhiều năm có tuyết phủ vào tháng 12 và đầu tháng Giêng hệ động thực vật quý hiếm đặc trưng cho hệ sinh thái của rừng á nhiệt đới. Vừa qua UBND tỉnh Cao Bằng đã phối hợp với Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường VIệt Nam tiến hành khảo sát đánh giá lại tài nguyên rừng và đa dạng sinh học rà soát lại quy hoạch, tình hình quản lý của khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc thời gian từ quý II năm 2011 đến hết 2012, kết qủa khảo sát cho thấy khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén có đầy đủ các tiêu chí để chuyển hạng thành Vườn Quốc gia, với tỉnh Cao Bằng khu di tích danh thắng Phia Oắc – Phia Đén đã trở thành di tích văn hoá cấp tỉnh từ tháng 7 năm 2012. Tuy nhiên môi trường sinh thái Phia Oắc – Phia Đén cần phải bảo vệ gìn giữ một cách khẩn cấp. Tài nguyên du lịch ở đây đang bị xâm hại, khu rừng nguuyên sinh đang bị tổn thất do chính tác động con người gây nên rừng cây vẫn bị lén lút chặt hạ, hầm lò khai thác quặng trái phép khi không có lực lượng chức năng thì vẫn hoạt động.

    4. Khu di tích tâm linh với hệ thống đền, chùa, miếu thờ khu vực xung quanh Thành phố Cao Bằng, một địa chỉ rất thuận tiện đối với du khách mỗi khi có dịp đến thăm tỉnh Cao Bằng. Với 3 di tích lịch sử cấp Quốc Gia, 5 di tích cấp tỉnh, đường dẫn tới những di tích rất thuận lợi, gần khu vực đông dân cư của Thành phố, các di tích đã được trùng tu tôn tạo bước đầu, và mùa lế hội hàng năm rất đông du khách đến tham quan vãn cảnh. Do thiếu quy hoạch trong quản lý và xây dựng tổng thể nên nhiều di sản văn hoá chỉ chú ý đầu tư xây dựng các công trình kiến trúc để tăng thêm vẻ “hoành tráng” mà thiếu đi hẳn mảng không gian môi trường văn hoá trước đây đã có của các di sản đó là hệ thống cây xanh đặc biệt là những cây cổ thụ lâu năm, bảo vệ chu đáo cẩn thận những cây đã có, trồng thêm một số cây lâu năm trong khuôn viên khi quỹ đất còn cho phép. Xin được ví dụ Đền Kỳ Sầm chỉ đẹp – cổ kính – uy nghi và ngưỡng mộ khi cụm cây xanh cổ thụ ở đó là cây Muỗm, cây Đa, cây Gạo được trường tồn và phát triển xanh tươi với thời gian, năm tháng. Về pháp lý nhà nước đã ban hành rất nhiều bộ Luật để bảo vệ môi trường thiên nhiên, di sản văn hoá song những Luật đó có thường xuyên đến được với người dân hay không để những điều ghi trong các bộ Luật đó trở thành những hành động thực tiễn thường xuyên và tự nguyện tự giác của cộng đồng dân cư mới là điều mong đợi của chúng ta. Từ quan điểm lấy dân làm gốc, với tôn chỉ mục đích của các Hội chính trị xã hội nghề nghiệp đặc thù từ ngày thành lập Hội Bảo vệ Thiên nhiên và môi trường Cao Bằng (1998) đến nay. Hội luôn xác định nhiệm vụ chính của mình là tích cực tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường di sản văn hoá, đây là những việc làm đang nhận được sự quan tâm hưởng ứng của toàn xã hội, ngày nay khi mà trình độ dân trí phát triển ngày càng cao thì họ cùng hiểu rằng: Bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chính mình, hàng năm Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh đã mở từ 3-4 lớp tập huấn trong cộng đồng với mục tiêu nâng cao nhận thức cho dân về bảo vệ môi trường, đồng thời thành lập những chi hội cơ sở về tự quản trong bảo vệ môi trường đến nay đã có trên 45 chi hội với hàng nghìn hội viên đang hoạt động với phong trào bảo vệ môi trường. Địa chỉ những lớp huấn luyện mà Hội hướng tới là những nơi có đặc thù riêng như vùng dân tộc đồng bào thiểu số, những tập quán lạc hậu đang ảnh hưởng đến bảo vệ môi trường, những nơi danh lam thắng cảnh có các di sản văn hoá nổi bật và khu du lịch đang và sẽ thu hút du khách đến tham quan học tập tại Cao Bằng.

    Vừa qua sau khi tập huấn nâng cao nhận thức Bảo vệ môi trường tại Pác Bó chúng tôi đi sâu vào chuyên đề bảo vệ môi trường vùng dỉ sản văn hoá tiêu biểu Quốc gia, tại Pác Bó đã thành lập được chi hội Bảo vệ Thiên nhiên và môi trường tại địa phương, đến nay ý thức bảo vệ môi trường ở khu di tích lịch sử đã được nâng lên rõ rệt. Nhiều địa phương khác trong tỉnh như: Xã Đàm Thuỷ huyện Trùng Khánh, vùng di sản văn hoá đông dân cư như Cao Bình xã Hưng Đạo cũng vậy, gần đây nhất sau tập huấn nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường chúng tôi đã thành lập chi hội quần chúng bảo vệ môi trường tại xã Phúc Sen tháng 12/2012, đồng thời phối hợp với các chương trình khác của xã nhằm hướng tới xây dựng, tôn vinh xã Phúc Sen trở thành một xã phát triển toàn diện về kinh tế – xã hội đồng thời phát huy những di sản văn hoá độc đáo của dân tộc Nùng bảo vệ môi trường sinh thái đặc sắc độc đáo, mô hình ấy cũng chính là Bảo vệ môi trường để phục vụ cho phát triển du lịch bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đảm Bảo Môi Trường Cho Phát Triển Du Lịch Bền Vững Tại Tỉnh Khánh Hòa
  • Tìm Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Tại Các Khu Du Lịch Quốc Gia
  • Phát Triển Du Lịch Và Bảo Vệ Môi Trường: Vẫn Là Cán Cân Lệch!
  • Đề Tài : Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Của Sinh Viên Tại Đại Học Cần Thơ
  • “đề Nghị Khẩn Trương Có Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí, Nguồn Nước”
  • Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam Luận Văn Ths. Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam, Hay
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Tài Nguyên Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Vườn Quốc Gia Phước Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Tại Vĩnh Phúc
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ NHƯ HUYỀN

    PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ TµI NGUY£N DU LÞCH

    ë VIÖT NAM

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    HÀ NỘI – 2014

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ NHƯ HUYỀN

    PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ TµI NGUY£N DU LÞCH

    ë VIÖT NAM

    Chuyên ngành: Luật Kinh tế

    Mã số: 60 38 01 07

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Cán bộ hướng dẫn khoa học: chúng tôi VŨ THU HẠNH

    HÀ NỘI – 2014

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

    riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong

    bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong

    Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã

    hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ

    tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để

    tôi có thể bảo vệ Luận văn.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    NGƯỜI CAM ĐOAN

    Nguyễn Thị Như Huyền

    Những vấn đề chung về bảo vệ tài nguyên du lịch …………………….. 7

    1.1.1. Tài nguyên du lịch …………………………………………………………………….. 7

    1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch …………………………………. 13

    1.2.

    Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 18

    1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 18

    1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 20

    1.2.3. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật bảo vệ tài nguyên du

    lịch ở Việt Nam ………………………………………………………………………. 35

    Kết luận chương 1 …………………………………………………………………………….. 43

    Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI

    HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU

    LỊCH Ở VIỆT NAM ……………………………………………………………… 44

    2.1.

    Thực trạng pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ………………….. 44

    2.1.1. Những ưu điểm của pháp luật trong bảo vệ tài nguyên du lịch ……… 44

    2.1.2. Những hạn chế của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch …………… 57

    2.2.

    Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ………. 66

    2.2.1

    Những kết quả đạt được trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ

    tài nguyên du lịch ……………………………………………………………………. 66

    2.2.2

    Những hạn chế trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên

    du lịch…………………………………………………………………………………….. 77

    2.2.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ tài

    nguyên du lịch ………………………………………………………………………… 81

    Kết luận chương 2 …………………………………………………………………………….. 84

    Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN

    THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH

    VIỆT NAM ……………………………………………………………………………. 85

    3.1.

    Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên

    du lịch……………………………………………………………………………………. 85

    3.2.

    Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài

    nguyên du lịch ở Việt Nam …………………………………………………….. 90

    3.2.1. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước

    có thẩm quyền trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch …………………….. 90

    3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của các tổ

    chức, cá nhân trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch ……………………… 91

    3.2.3. Hoàn thiện các quy chuẩn về tài nguyên du lịch ………………………….. 92

    3.2.4. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với các vi

    phạm pháp luật về tài nguyên du lịch …………………………………………. 93

    3.3.

    Một số giải pháp khác nhằm tăng hiệu quả bảo vệ tài nguyên

    du lịch ở Việt Nam …………………………………………………………………. 95

    3.3.1. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quản lý nhà

    nước về du lịch ……………………………………………………………………….. 95

    3.3.2.

    Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 98

    Kết luận chương 3 …………………………………………………………………………… 102

    KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 103

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 104

    1

    tài nguyên – môi trường du lịch của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới

    đang bị tác động tiêu cực bởi việc khai thác cho du lịch, phát triển kinh tế – xã

    hội làm cho các tài nguyên dần cạn kiệt và suy thoái dần, làm ảnh hưởng đến

    sự phát triển bền vững của ngành Du lịch cũng như các ngành kinh tế khác.

    Do vai trò , ý nghĩa và sự cần thiết của tài nguyên du lịch đối với hoạt

    động phát triển du lịch như vậy nên việc bảo vệ tài nguyên du lịch là vấn đề

    đáng được quan tâm hiện nay, đặc biệt khi những yêu cầu về phát triển du lịch

    bền vững được đặt lên hàng đầu trong các chính sách, chiến lược, chương trình

    hành động quốc gia về du lịch. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về bảo

    vệ tài nguyên du lịch chưa được quan tâm tương xứng với yêu cầu đặt ra hiện

    nay như: nhiều hoạt động thực tiễn chưa được Luật Du lịch điều chỉnh, nhiều

    vấn đề Luật đề cập không cụ thể, hoặc chưa phù hợp với thực tế. Chính điều

    này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch nước ta.

    Mặt khác, có thể thấy du lịch muốn phát triển bền vững thì song song

    với nó luôn cần có sự tồn tại của các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên

    nhân văn và môi trường. Do đó mà sự phát triển của du lịch luôn có mối

    liên hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch. Việc khai thác các

    tài nguyên du lịch và phát triển các hoạt động du lịch luôn gắn liền và có sự

    tác động qua lại với môi trường du lịch. Hiện nay, tài nguyên du lịch ở các

    nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang bị những tác động tiêu cực

    của hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, có nguy cơ giảm sút và suy thoái,

    ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch. Do vậy, để tăng cường

    vai trò của tài nguyên du lịch đòi hỏi Việt Nam cần từng bước nâng cao

    hiệu quả của các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường

    trong lĩnh vực du lịch. Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch cần được xây

    dựng hoàn thiện, là khung pháp lý vững chắc để tăng cường công tác bảo

    vệ tài nguyên du lịch hơn nữa.

    2

    3

    4

    các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và đánh giá thực trạng

    thực hiện chúng trên thực tế. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện

    pháp luật, góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam. Như vậy, việc bảo

    vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật cần được triển khai ở cả khía cạnh xây

    dựng pháp luật và thực tế thực hiện pháp luật với những cách thức, biện pháp

    đa dạng, phong phú, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế. Cụ thể đề tài dự

    kiến có những đóng góp sau:

    – Trong Chương 1, đề tài tập trung làm rõ vai trò của việc bảo vệ tài nguyên

    du lịch trong mối quan hệ với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu bảo vệ

    chất lượng môi trường; sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật

    và khái quát được hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch.

    – Trong Chương 2, đề tài tập trung đánh giá thực trạng pháp luật và

    thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam, gồm đánh

    giá ưu điểm, hạn chế về nội dung và hình thức của pháp luật bảo vệ tài

    nguyên du lịch; đánh giá kết quả, hạn chế khi thi hành pháp luật về bảo vệ tài

    nguyên du lịch và nêu được nguyên nhân của bất cập, hạn chế đó.

    – Trong Chương 3, từ những kết quả nghiên cứu của Chương 1 và

    Chương 2, đề tài đưa ra các giải pháp, kiến nghị mới nhằm hoàn thiện pháp

    luật về bảo vệ tài nguyên du lịch, đặc biệt ở khía cạnh quy định trách nhiệm

    của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch; rà soát cơ chế

    thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên

    du lịch và tuyên truyền pháp luật để bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam.

    6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    6.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định cụ thể của pháp luật

    về bảo vệ tài nguyên du lịch và các hoạt động thực tiễn thi hành pháp luật về

    bảo vệ tài nguyên du lịch

    5

    6

    7

    càng cụ thể, chi tiết hơn. Sự phân biệt rõ chức năng của mỗi nguồn tài nguyên

    phù hợp với từng lĩnh vực là nhằm giúp cho công tác quản lý các nguồn tài

    nguyên được thuận lợi, hiệu quả hơn và tài nguyên du lịch cũng được tiếp cận

    theo hướng đó.

    Nguyễn Minh Tuệ cho rằng:

    Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng

    các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí

    tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những

    tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho

    việc sản xuất dịch vụ du lịch .

    Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du

    lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch

    tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh

    thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài

    nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn

    nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể

    khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch có thể

    thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân. Cụ thể:

    1.1.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi

    trường tự nhiên bao quanh chúng ta được khai thác sử dụng để phục vụ cho

    8

    hoạt động du lịch. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều

    kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, được khai thác đồng

    thời với tài nguyên du lịch nhân văn.Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

    – Tài nguyên địa hình

    Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt

    động của con người. Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nên

    phong cảnh, một yếu tố quan trọng để hình thành nên các tài nguyên khác.

    Các địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khách du lịch là: địa hình Karst, địa hình

    bờ biển, địa hình hải đảo,…

    Địa hình Karst: chiếm khoảng 60.000 km2 tập trung chủ yếu ở Việt

    Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với các dạng Karst hang động,

    Karst ngập nước và Karst đồng bằng. Địa hình Karst tạo nên những điểm du

    lịch hấp dẫn với hệ thống các hang động, núi đá vôi,…

    Địa hình bờ biển: Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh

    quan phong phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị

    cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Các bãi biển nổi tiếng như:

    Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Văn

    Phong (Nha Trang), Mỹ Khê (Đà Nẵng)…

    Địa hình hải đảo: Nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó

    nhiều đảo có cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch như:

    Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Lý

    Sơn (Quảng Ngãi)….

    – Tài nguyên khí hậu

    Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất

    không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt. Các yếu tố của khí hậu thay

    đổi theo không gian từ xích đạo đến hai cực, theo độ cao, theo thời gian (tính

    theo mùa), có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình, vị trí địa lý, thủy văn và sinh

    vật, hoạt động sản xuất và đời sống của con người .

    Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân diễn ra vào

    thời điểm cố định trong năm nhằm để kỉ niệm một sự kiện lịch sử, chính trị,

    văn hóa hay tôn giáo của cộng đồng. Lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội.

    Ở phần nghi lễ với những nghi thức trang trọng nhằm bày tỏ sự tôn kính với

    các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa,… Còn

    phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý

    cộng đồng văn hóa dân tộc.

    Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang giá trị

    nghệ thuật, thể hiện sự khéo léo của người lao động, tâm tư tình cảm của họ.

    12

    Nghề thủ công truyền thống luôn được bảo tồn, phát huy từ đời này sang đời

    khác của các gia đình, các làng, các địa phương. Hiện nay du lịch phát triển ở

    các làng nghề đang ngày một tân tiến, đa dạng.

    Các tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể khác như phong tục tập

    quán, nghệ thuật hát múa, diễn xướng dân gian, trang phục truyền thống dân

    tộc,… tạo sức hút đối với khách du lịch đều được coi là nguồn tài nguyên

    phục vụ cho phát triển du lịch. Phát triển các nguồn tài nguyên du lịch quý giá

    trên tạo điều kiện cho ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội Việt Nam nói

    chung ngày một đi lên hơn nữa.

    1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch

    Từ những phân tích trên cho thấy tài nguyên du lịch có giá trị quan

    trọng và rất cần thiết cho sự phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của

    các quốc gia trong đó có Việt Nam. Để phát huy ở mức cao nhất các tác dụng

    của tài nguyên du lịch thì việc bảo vệ nguồn tài nguyên này vừa là đòi hỏi

    mang tính khách quan vừa là yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong

    lĩnh vực du lịch.

    Theo cách hiểu phổ thông thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc chống lại

    mọi sự hủy hoại, xâm phạm đến các loại tài nguyên du lịch để giữ cho tài

    nguyên du lịch được nguyên vẹn đúng như giá trị của nó. Còn từ phương diện

    quản lý thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các

    nguồn tài nguyên du lịch cần bảo vệ; xác định trách nhiệm của Nhà nước;

    quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác

    hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững.

    Nói cách khác, bảo vệ tài nguyên du lịch là việc áp dụng đồng bộ các giải pháp

    về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy có hiệu

    quả cao nhất giá trị của các tài nguyên du lịch. Bảo vệ tài nguyên du lịch là

    trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổ chức và cá nhân.

    13

    Sở dĩ tài nguyên du lịch cần phải được bảo vệ là vì những lý do sau:

    Thứ nhất, bảo vệ tài nguyên du lịch có ý nghĩa quyết định đối với phát

    triển du lịch.

    Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát

    triển của du lịch. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản

    phẩm du lịch. Sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự

    phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng độc đáo,

    đặc sắc thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng.

    Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để duy trì và phát triển các loại

    hình du lịch. Trong quá trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các

    yêu cầu và thỏa mãn các mục đích của du khách, các loại hình du lịch mới cũng

    không ngừng xuất hiện và phát triển. Các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa

    trên cơ sở của tài nguyên du lịch. Sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm

    cho các yếu tố điều kiện tự nhiên, xã hội trở thành tài nguyên du lịch.

    Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng tổ chức lãnh

    thổ du lịch. Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian

    của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó. Các yếu tố đó là

    khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ công nhân viên, tổ chức điều hành và quản lý du lịch.

    Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ

    du lịch, cũng là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch

    nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác một cách

    hiệu quả nhất các tiềm năng của nó. Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp

    phần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói

    riêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung.

    Thứ hai, bảo vệ tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá

    trình lưu giữ các di tích lịch sử và giá trị bản sắc văn hóa riêng của dân tộc.

    Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá

    14

    lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc

    trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước

    hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ

    phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại.Với những giá trị như trên,

    các di tích lịch sử văn hoá là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu “tài nguyên du

    lịch”. Các di tích đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo

    nên sức hấp dẫn mạnh mẽ. Việc bảo tồn, lưu giữ tài nguyên du lịch góp phần

    giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền khác nhau.

    Thứ ba, giữa tài nguyên du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội quốc

    gia có mối quan hệ tương hỗ.

    Phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia. Nếu có một

    nguồn tài nguyên du lịch phong phú có thể giúp quốc gia đó phát triển các loại

    hình du lịch đa dạng, mạng lại nguồn thu nhập cao, qua đó tạo điều kiện cho

    kinh tế – xã hội phát triển. Hơn thế nữa, du lịch không những tạo ra của cải và

    việc làm cho nội bộ ngành Du lịch mà còn cho cả những ngành khác nữa. Vào

    thời điểm nhiều ngành kinh tế phải đối mặt với những khó khăn về tiêu dùng

    trong nước thì du lịch không những trực tiếp mang lại doanh thu từ xuất khẩu,

    mà còn gián tiếp tác động đáng kể thông qua chuỗi giá trị to lớn của ngành.

    Mặt khác, du lịch còn giúp giảm nghèo và hỗ trợ phát triển. Du lịch

    chiếm 45% kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển và chính

    các quốc gia này với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ được hưởng

    lợi từ phát triển du lịch. Du lịch ngày càng trở thành một công cụ hiệu quả hỗ

    trợ phát triển. Có thể nói, du lịch đóng góp quan trọng và phát triển kinh tế

    bền vững gắn với bảo vệ môi trường. Một báo cáo của ông Taleb Rifai, Tổng

    thư ký Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) trong bài phát biểu tại Diễn đàn

    Kinh tế mới diễn ra vào ngày 23 tháng 01 năm 2013 tại thủ đô Madrid, Tây

    Ban Nha đã xác định du lịch là 1 trong 10 ngành góp phần quan trọng vào

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tp. Điện Biên Phủ: Giải Pháp Nào Cho ‘bài Toán’ Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị Điện Biên
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Môi Trường
  • 5 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Thể Không Làm
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Tài Nguyên Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Vườn Quốc Gia Phước Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Tại Vĩnh Phúc
  • Một Số Vấn Đề Liên Quan Đến Ô Nhiễm Đất
  • Giải Pháp Cho Phát Triển Giao Thông Vận Tải Bền Vững Về Môi Trường
  • Sự phát triển du lịch về lâu dài phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng môi trường và giá trị nguyên vẹn của các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn. Đặc điểm của môi trường, bản sắc đặc trưng độc đáo về văn hóa và các yếu tố tự nhiên là các yếu tố thu hút chủ yếu đối với du khách. Trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển của Ngành chính là môi trường và vẻ đẹp thiên nhiên, di tích lịch sử bị xâm hại do tác động của những hành động thiếu hiểu biết về bảo vệ môi trường. Ngày nay, khách du lịch đang trở nên nhạy cảm hơn với tình trạng thoái hóa hay ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch mà họ đến thăm. Do đó, tại một số nơi trên thế giới, du lịch đang suy giảm vì lý do khai thác không hợp lý, khai thác quá mức tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn hoặc do môi trường bị nhiễm phóng xạ, ô nhiễm chất thải sinh hoạt, ô nhiễm không khí hay những trận mưa a xít. Có thể nói, sự suy giảm du lịch không phải lúc nào cũng là hậu quả do chính du lịch gây ra và trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng là trách nhiệm của toàn xã hội.

    CỐ ĐÔ HUẾ – THÀNH PHỐ FESTIVAL

    Là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, Thừa Thiên – Huế từ lâu là một trung tâm văn hóa du lịch nổi tiếng của Việt Nam nhờ những lợi thế về tài nguyên du lịch phong phú đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn và có giá trị cao. Từng là thủ phủ của xứ Đàng trong, là kinh đô của Việt Nam dưới triều Nguyễn, cố đô Huế là nơi duy nhất còn giữ được gần như nguyên vẹn một tổng thể kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam với các công trình kiến trúc độc đáo, thực sự là kiệt tác nghệ thuật, tinh hoa văn hóa dân tộc được UNESCO công nhận Huế l“Di sản văn hóa thế giới”, một bộ phận hợp thành những tài sản vô giá của nhân loại. Trải qua những thăng trầm và biến động của lịch sử dân tộc, văn hóa Huế đã có sự giao lưu, kế thừa và phát triển một cách có chọn lọc những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc thông qua các lễ hội dân gian, các loại hình âm nhạc truyền thống, phong tục tập quán… mà trong mỗi loại hình đều có sự gắn bó hài hòa giữa văn hóa cung đình và văn hóa dân gian, đặc biệt lNhã nhạc Cung đình – Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Bên cạnh đó, Huế còn là thành phố nổi tiếng với nét ẩm thực, những ngôi nhà vườn độc đáo có lối kiến trúc cảnh vật hóa, bố cục đăng đối, những ngôi chùa cổ kính, uy nghi trong một không gian tĩnh lặng, đẹp… Tất cả đã làm cho Huế trở thành đô thị có một không hai ở Việt Nam, Đông Dương và khu vực.

    QUAN ĐIỂM VỀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH THỪA THIÊN – HUẾ

    Bên cạnh những lợi thế to lớn trong việc phát triển du lịch, công tác bảo tồn, giữ gìn các di sản phát huy các giá trị văn hóa, phát triển du lịch bền vững đem lại lợi ích thiết thực cho kinh tế – xã hội và đời sống dân sinh cũng đặt ra những khó khăn thách thức không nhỏ. Trong những năm qua, các Bộ, Ngành từ Trung ương đến địa phương đã không ngừng nỗ lực hợp tác và đem lại những kết quả khả quan mà bằng chứng là nhiều di tích văn hóa lịch sử được bảo tồn, các giá trị văn hóa dân gian truyền thống đã được phát huy và đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành Du lịch. Nhưng bên cạnh những mặt tích cực thì mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển ở Thừa Thiên – Huế cũng nảy sinh những bất cập như có khi do đặt quá nặng bảo tồn mà quên phát huy để phát triển và ngược lại vì lợi ích kinh tế không phải không có lúc chúng ta chỉ hướng đến việc phát triển mà quên đi công tác bảo tồn. Do vậy, muốn bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch bền vững ở Thừa Thiên – Huế cần làm tốt một số giải pháp cơ bản, theo các quan điểm thống nhất.

    Bảo tồn các di sản văn hóa và tài nguyên du lịch với phát triển bền vững luôn là mối quan hệ hữu cơ, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ, du lịch và nền kinh tế xã hội, là nhiệm vụ của các ngành, các cấp và toàn xã hội. Chúng ta bảo tồn để không ngừng nâng cao giá trị của nguồn tài nguyên du lịch, tạo sức hấp dẫn cho “điểm dến du lịch” đồng thời qua đó mang lại những cơ hội để nguồn tài nguyên được bảo vệ một cách triệt để hơn. Vậy nên, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác tài nguyên đặc biệt là tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch bền vững ở Thừa Thiên – Huế đã và đang xây dựng chiến lược phát triển văn hóa, du lịch bền vững hướng tới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của các đối tượng khách du lịch không chỉ trong thời gian trước mắt mà cả trong tương lai theo hướng chú trọng chất lượng hơn là số lượng.

    Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội chung; trong đó, phải tính đến mối quan hệ giữa phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa – xã hội của địa phương. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác hợp tác liên kết giữa các ngành, các vùng, miền, các địa phương trong vùng và giữa các quốc gia trong đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng; đồng thời tạo ra những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

    Nâng cao ý thức toàn dân, nhất là đối với những người dân đang là chủ sở hữu các công trình văn hóa hoặc các tác phẩm văn hóa có giá trị, về tầm quan trọng của công tác bảo tồn di tích phục vụ phát triển du lịch thông qua các chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông, phổ biến Luật Di sản văn hóa, Luật Du lịch…

    Đẩy mạnh công tác xã hội hóa theo hướng tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch đi đôi với bảo tồn di tích, di sản văn hóa và phát triển đa dạng các loại hình du lịch, đồng thời quan tâm đến việc phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo.

    Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, tranh thủ sự hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho các cán bộ quản lý ngành Du lịch và Văn hóa được học tập kinh nghiệm quản lý và khai thác các tài nguyên tại các nước, các vùng có danh thắng quốc gia, di sản văn hóa thế giới, thường xuyên giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư; xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của cộng đồng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tài nguyên du lịch nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nguồn tài nguyên du lịch phục vụ phát triển cho địa phương, vùng và quốc gia

    Dù còn nhiều khó khăn về nguồn vốn đầu tư nhưng trong những năm qua Thừa Thiên – Huế đã tập trung nguồn lực và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch từng bước đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các vùng trọng điểm phát triển du lịch đã được xác định trong quy hoạch của Ngành tại TP. Huế và phụ cận, khu vực Cảnh Dương, Bạch Mã. Lăng cô và A Lưới.

    Có thể nói Thừa Thiên – Huế đã thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững. TP. Huế xứng đáng là thành phố Festival của Việt Nam và là Trung tâm du lịch lớn của quốc gia. Thừa Thiên – Huế đã, đang và sẽ là điểm đến hấp dẫn của du lịch miền Trung nói riêng và Du lịch Việt Nam nói chung./.

    Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam, Hay
  • Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam Luận Văn Ths. Luật
  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tp. Điện Biên Phủ: Giải Pháp Nào Cho ‘bài Toán’ Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị Điện Biên
  • Bài 14: Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Phòng Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Giải Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn Tại Công Trình Công Cộng
  • Những Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn Hiệu Quả Nhất
  • Các Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn Hay, Chi Tiết
  • Nêu Những Biện Pháp Chống Cong Vẹo Cột Sống Ở Học Sinh
  • BÀI 14: SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

    1/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh vật

    a, Suy giảm tài nguyên rừng

    – Biểu hiện: Diện tích rừng tăng nhưng chất lượng rừng giảm

    – Nguyên nhân

    + Rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh giảm

    + Rừng trồng tăng

    + Khai thác chưa hợp lí

    + Phá rừng

    – Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng

    + Đảm bảo sự quản lí của nhà nước về sử dụng, bảo vệ tài nguyên rừng

    + Triển khai luật bảo vệ và phát triển rừng, giao quyền sử dụng đất và bảo vệ rừng cho nông dân

    + Thực hiện chiến lược trồng 5 triệu ha rừng

    b/ Suy giảm da dạng sinh học

    – Biểu hiện: Nước ta có tính đa dạng sinh học cao nhưng đang bị suy giảm. Số thành phần loài sinh vật có xu hướng giảm, có nguy cơ tuyệt chủng.

    – Nguyên nhân

    + Khai thác quá mức.

    + Ô nhiễm môi trường sống.

    – Các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học

    + Xây dựng mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.

    + Ban hành Sách đỏ Việt nam.

    + Qui đ̣nh việc khai thác.

    + Hạn chế ô nhiễm môi trường.

    2/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất

    a,Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất

    Nước ta có 12,7 triệu ha diện tích đất có rừng, 9,4 triệu ha đất sử dụng nông nghiệp, bình quân đầu người 0,1 ha/ người. Trong 5,35 triệu ha đất chưa sử dụng thì đồng bằng có trên 350 nghìn ha, còn lại ở vùng đồi núi bị thoái hóa nặng.

    b,Nguyên nhân

    – Phá rừng.

    – Canh tác chưa hợp lí.

    – Ô nhiễm môi trường đất.

    c,Các biện pháp bảo vệ đất

    – Hạn chế xói mòn đất ở vùng đồi núi.

    – Bảo vệ và phát triển rừng.

    – Định canh định cư cho nhân dân miền núi.

    – Có kế hoạch mở rộng diện tích đất nông nghiệp.

    – Thâm canh, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất.

    – Bón phân cải tạo thích hợp

    – Chống ô nhiễm đất do các chất hóa học

    3/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên khác

    – Tài nguyên nước: sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên nước, đảm bảo cân bằng nước và phòng chống ô nhiễm n­ước.

    – Tài nguyên khoáng sản: quản lí chặt chẽ việc khai thác khoáng sản. Tránh lãng phí và gây ô nhiễm.

    – Tài nguyên du lịch:bảo tồn, tôn tạo các tài nguyên du lịch, bảo vệ cảnh quan không bị ô nhiễm, phát triển du lịch sinh thái.

    – Khai thác, sử dụng hợp lí và bền vững các nguồn tài nguyên khác như khí hậu, tài nguyên biển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Biện Pháp Phòng Chống Bệnh Sốt Rét Ở Hà Nội
  • Đôi Nét Về Bệnh Sốt Rét Và Cách Phòng Ngừa
  • Dấu Hiệu Và Cách Phòng Ngừa Virus Zika Bạn Nên Biết
  • Bài 14. Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Là Gì? Tại Sao Phải Bảo Vệ Môi Trường?
  • Môi Trường Là Gì, Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Những Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Được Các Thành Phố Lớn Áp Dụng
  • Các Quốc Gia Trên Thế Giới Bảo Vệ Môi Trường Như Thế Nào?
  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nào Được Các Thành Phố Lớn Áp Dụng?
  • TRƯỜNG THCS NGAÕI HUØNG

    Chào mừng

    Quý thầy cô giáo đến

    dự giờ GDCD lớp7

    Tiết 23 – Bài 14 :

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (T2)

    2. Nguyeân nhaân gaây oâ nhieãm moâi tröôøng vaø vai troø cuûa moâi tröôøng , taøi nguyeân thieân nhieân

    1. Khaùi nieäm moâi tröôøng vaø taøi nguyeân thieân nhieân

    3. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    Nguyên nhân nào gây ra thực trạng trên ?

    Do các hoạt động của con người

    Do quá trình tự nhiên.

    – Động đất

    – Sóng thần

    – Lũ lụt …

    – Chặt phá, đốt rừng làm rẫy

    – Khai thác khoáng sản, tài nguyên bừa bãi.

    Chất thải công nghiệp và sinh hoạt : rác thải, khí thải, nước thải…..

    Hậu quả của việc ô nhiễm môi trường?

    HẬU QUẢ

    của việc hủy hoại moâi trường vaø laøm cạn kiệt TNTN?

    Một số hình ảnh xả nước thải của công

    ty Vedan xuống sông Thị Vải

    Tác hại của rác

    và nước thải.

    Là nguồn chứa mầm bệnh

    Ô nhiễm môi trường sống

    Là nơi hoạt động của các con vật

    trung gian truyền bệnh

    Khi những núi băng này tan chảy, Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất trồng

    Tiết 23 – Bài 14 :

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (T2)

    2. Nguyeân nhaân gaây oâ nhieãm moâi tröôøng vaø vai troø cuûa moâi tröôøng , taøi nguyeân thieân nhieân

    1. Khaùi nieäm moâi tröôøng vaø taøi nguyeân thieân nhieân

    3. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    Giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái,

    cải thiện môi trường ;

    a/Bảo vệ môi trường là:

    – Ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra.

    Đi xe đạp để bảo vệ môi trường

    Cách thu gom

    TẠI GIA ĐÌNH

    TẠI TRƯỜNG

    HỌC

    NƠI CÔNG

    CỘNG

    CÁCH XỬ LÝ

    Ủ RÁC

    ĐỐT RÁC

    CHÔN RÁC

    Tiết 23 – Bài 14 :

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (T2)

    2. Nguyeân nhaân gaây oâ nhieãm moâi tröôøng vaø vai troø cuûa moâi tröôøng , taøi nguyeân thieân nhieân

    1. Khaùi nieäm moâi tröôøng vaø taøi nguyeân thieân nhieân

    3. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    Giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái,

    cải thiện môi trường .

    a/Bảo vệ môi trường là:

    – Ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra.

    b/ Bảo vệ tài nguyên là :

    khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm phục hồi, tái tạo những tài

    nguyên có thể phục hồi được

    Năng lượng gió

    Năng lượng Mặt trời

    Năng lượng thủy triều

    Tiết 23 – Bài 14 :

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (T2)

    2. Nguyeân nhaân gaây oâ nhieãm moâi tröôøng vaø vai troø cuûa moâi tröôøng , taøi nguyeân thieân nhieân

    1. Khaùi nieäm moâi tröôøng vaø taøi nguyeân thieân nhieân

    3. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    Giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái,

    cải thiện môi trường .

    a/Bảo vệ môi trường là:

    – Ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra

    b/Bảo vệ tài nguyên là:

    tái tạo những tài nguyên có thể phục hồi được

    4. Các biện pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm phục hồi,

    *Đối với cá nhân: – Giữ gìn vệ sinh môi trường, trồng cây xanh,…

    Tiết 23 – Bài 14 :

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (T2)

    2. Nguyeân nhaân gaây oâ nhieãm moâi tröôøng vaø vai troø cuûa moâi tröôøng , taøi nguyeân thieân nhieân

    1. Khaùi nieäm moâi tröôøng vaø taøi nguyeân thieân nhieân

    3. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    Giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái,

    cải thiện môi trường .

    a/Bảo vệ môi trường là:

    – Ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra

    b/Bảo vệ tài nguyên là:

    tái tạo những tài nguyên có thể phục hồi được

    4. Các biện pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm phục hồi,

    *Đối với cá nhân: – Giữ gìn vệ sinh môi trường, trồng cây xanh,…

    Sử dụng hợp lí, tiết kiệm các nguồn TNTN, bảo vệ TNTN và động vật

    hoang dã, quí hiếm

    Một số người có thói quen vứt xác động vật chết xuống ao, hồ hoặc vứt ra đường.

    Tình huống:

    ? Em hãy nhận xét hành vi nêu trên? Nếu chứng kiến sự việc đó, em sẽ làm gì?

    Điều 7. Những hành vi bị nghiêm cấm

    Phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.

    2. Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường…..

    Di?u 29.

    Cơ quan nhà nư?c, dơn v? vu trang, t? ch?c kinh t?, t? ch?c xã h?i, m?i cá nhân ph?i th?c hi?n các quy d?nh c?a Nhà nư?c v? s? d?ng h?p lí tài nguyên thiên nhiên và b?o v? môi trường.

    Nghiêm c?m m?i hành d?ng làm suy ki?t tài nguyên thiên nhiên và hu? ho?i môi trường.

    Tiết 23 – Bài 14 :

    Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (T2)

    2. Nguyeân nhaân gaây oâ nhieãm moâi tröôøng vaø vai troø cuûa moâi tröôøng , taøi nguyeân thieân nhieân

    1. Khaùi nieäm moâi tröôøng vaø taøi nguyeân thieân nhieân

    3. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    Giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái,

    cải thiện môi trường .

    a/Bảo vệ môi trường là:

    – Ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra

    b/Bảo vệ tài nguyên là:

    tái tạo những tài nguyên có thể phục hồi được

    4. Các biện pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

    khai thác, sử dụng hợp lí, tiết kiệm phục hồi,

    *Đối với cá nhân: – Giữ gìn vệ sinh môi trường, trồng cây xanh,…

    Sử dụng hợp lí, tiết kiệm các nguồn TNTN, bảo vệ TNTN và động vật

    hoang dã, quí hiếm.

    *Đối với nhà nước:Ban hành pháp luật; tuyên truyền, giáo dục cho người

    dân; xử lí hành vi vi phạm;…

    CÔNG TRÌNH CẤP THOÁT NƯỚC:

    Nhanh mắt -bắt hình- đoán chữ

    Th? l? :

    1. Ch?n 1 m?nh ghép , nhìn hình và doán xem hình ?nh dó nói lên di?u gì?

    2. Th?i gian tr? l?i trong vòng 30 giây k? t? khi hình xu?t hi?n .

    3.Sau khi l?t các m?nh ghép thì có th? doán hình ?nh n?n .

    Trò chơi

    HÀNH TRÌNH XANH

    Cân bằng sinh thái

    1

    2

    3

    6

    5

    4

    CẤM NUÔI NHỐT HỔ ( ĐỘNG VẬT HOANG DÃ )

    Cấm săn bắt động vật quý hiếm

    PHỦ XANH ĐẤT TRỐNG ĐỒI TRỌC

    CẤM HÚT THUỐC LÁ

    Sống chung với lũ

    www.HNGHIA.Info

    Bác Hồ trồng và chăm sóc cây

    ? Chúng ta cần phải làm như thế nào để bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên?

    HÃY HÀNH ĐỘNG

    VÌ MỘT THẾ GIỚI XANH, SẠCH, ĐẸP!

    Dặn dò

    ?Viết đoạn văn ngắn nói lên cảm xúc của em về cảnh quan môi trường nơi em ở.

    ? Chuẩn bị bài 15 : “Bảo vệ di sản văn hóa”

    ? Soạn phần câu hỏi gợi ý SGK trang 48.

    ? Sưu tầm tranh ảnh khổ lớn về các di sản văn hóa và các thông tin về di sản văn hóa của Việt Nam cũng như thế giới.

    Chúc Quý thầy cô dồi dào sức khoẻ, công tác tốt. Chúc các em học sinh chăm ngoan, học giỏi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 7 Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Giải Bài Tập Gdcd 7 Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Giải Vở Bài Tập Giáo Dục Công Dân 7
  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 7 Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Gì? Những Cách Bảo Vệ Môi Trường Đơn Giản Nhất
  • Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Bài 14: Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Những Biện Pháp Phòng Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Giải Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn Tại Công Trình Công Cộng
  • Những Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Tiếng Ồn Hiệu Quả Nhất
  • a. Môi trường và tài nguyên thiên nhiên là gì?

    – Môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, nhân tạo bao quanh con người có tác động đến đời sống, sự tồn tại phát triển của con người và thiên nhiên.

    – Ttài nguyên thiên nhiên là những của cải có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng phục vụ đời sống của con người.

    * Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi trường; Các hoạt động kinh tế khai thác tài nguyên thiên nhiên dù tốt hay xấu đều có tác động đến môi trường.

    b. Vai trò của môi trường và tài nguyên thiên nhiên:

    – MT và TNTN là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

    – Tạo cho con người phương tiện để sinh sống, phát triển trí tuệ, đạo đức, tinh thần.

    3. Bảo vệ Môi trường và tài nguyên thiên nhiên:

    – Bảo vệ môi trường là giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp đảm bảo cân bằng sinh thái, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra.

    – Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là khai thác sử dụng hợp lí và thường xuyên tu bổ, tái tạo những tài nguyên có thể phục hồi được.

    4. Trách nhiệm của công dân và học sinh:

    – Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    – Khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lí.

    – Không làm ô nhiễm nguồn nước, không khí. Bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm.

    – Tích cực trồng và bảo vệ cây xanh.

    – Xử lí rác chất thải đúng quy định…

    * HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI :

    (1) Giữ gìn vệ sinh xung quang trường học và nơi ở

    (2) Xây dựng các quy định về bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước và bảo vệ động vật quý hiếm

    (3) Khai thác nước ngầm bừa bãi

    (4) Sử dụng phân hóa học và các hóa chất bảo vệ thực vật vượt quá mức quy định

    (5) Nghiên cứu xây dựng các phương pháp xử lí rác, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt

    Trả lời :

    Biện pháp góp phần bảo vệ môi trường là : (1), (2), (5)

    2. Trong các hành vi sau đây, hành vi nào gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường ?

    (1) Khai thác thủy, hải sản bằng chất nổ

    (2) Săn bắt động vật quý hiếm trong rừng

    (3) Đổ chất thải công nghiệp trực tiếp vào nguồn nước

    (4) Khai thác gỗ theo chu kì, kết hợp cải tạo rừng

    (5) Trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc

    (6) Phá rừng để trồng cây lương thực

    Trả lời :

    Những hành vi gây ô nhiễm, hủy hoại môi trường là : (1), (2), (3), (6)

    3. Để mở rộng sản xuất Nhà máy A đứng trước sự lựa chọn giữa 3 phương án. Theo em, nên chọn phương án nào

    Phương án 1 : Sử dụng công nghệ tiên tiến, bỏ qua các vấn đề về môi trường, tiết kiệm để sản xuất nhằm hạ giá thành phẩm

    Phương án 2 : Sử dụng công nghệ tiên tiến và đầu tư thêm kinh phí cho việc bảo vệ môi trường, chấp nhận giá thành cao hơn

    Phương án 3 : Mở rộng quy mô sản xuất, giữ nguyên công nghệ cũ (chỉ tăng số lượng)

    Trả lời :

    Theo em, nên chọn phương án 2

    Phương án 2 là phương án tốt nhất và bảo đảm các yếu tố mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, góp phần tăng năng suất lao động, bảo vệ môi trường. Về chi phí, tuy hiện tại có chi thêm một phần kinh phí bảo vệ môi trường nhưng xét về lâu dài, việc giữ gìn bảo vệ môi trường sẽ có lợi về nhiều mặt hơn và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, tiết kiệm hơn so với kinh phí phải bỏ ra để khắc phục hậu quả tai hại do môi trường ô nhiễm gây ra. Vì thế nên chọn phương án 2

    4. Hãy giải thích câu thành ngữ : “Rừng vàng biển bạc” ?

    Trả lời :

    Câu thành ngữ muốn nói : Tổ quốc Việt Nam giầu đẹp, tài nguyên thiên nhiên phong phú vì thế chúng ta phải có trách nhiệm khai thác hợp lí, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên chính là góp phần bảo vệ sự sống của chúng ta

    5. Em có biết ngày 5 tháng 6 hằng năm được Liên Hợp quốc chọn làm ngày gì không ?

    Trả lời :

    Ngày 5 tháng 6 hằng năm được Liên Hợp quốc chọn làm ngày “Môi trường thế giới”

    6. Ngày 22 tháng 5 năm hàng năm là ngày gì của Việt Nam ?

    Trả lời :

    Ngày 22 tháng 5 năm hàng năm là ngày phòng chống thiên tai ở Việt Nam

    7. Gần nhà Thành có gia đình ông Năm chuyên thu gom các động vật quý hiếm để chở đi tiêu thụ. Đã nhiều đêm liền, người ta đến và chở đi. Cả bố mẹ Thành cũng biết. Vì biết rằng đó là chuyện phi pháp nên Thành mấy lần định báo cho mấy chú kiểm lâm nhưng nghĩ mình còn nhỏ tuổi nên thôi. Cả mẹ Thành cũng khuyên không nên nói với ai vì đó là việc của người lớn. Thành cứ day dứt mãi : Liệu mình cứ mãi làm ngơ như thế được không ?

    Nếu vào trường hợp của Thành, em nên làm gì để góp phần ngăn chặn hành vi của gia đình ông Năm ?

    Trả lời :

    Trong trường hợp của Thành, em sẽ dùng những tri thức về môi tarường và bảo vệ môi trường để thuyết phục bố mẹ đứng ra tố cáo với chính quyền địa phương để ngăn chặn hành vi buôn bán động vật quý hiếm. Em cũng có thể trao đổi thông tin này với cô giáo chủ nhiệm để nhờ cô tư vấn và can thiệp nhằm tố cáo việc làm sai trai của ông Năm

    8. Thương và Huyền dạo chơi trong công viên thành phố. Nhai xong cây kẹo cao su, Huyền tiện tai vứt xuống thảm cỏ bên cạnh lối đi. Thấy vậy, Thương nhắc bạn nên nhặt lên bỏ vào thùng rác gần đó để góp phần bảo vệ môi trường. Trước lời nhắc nhở của Thương, Huyền bĩu môi cười :” Cậu làm gì mà nghiêm trọng thế, một mẩu kẹo cao su có đáng vào đâu. Hơn nữa, đâu chỉ có mình tớ, mọi người vẫn thường vứt rác ở công viên kia mà”

    – Em có nhận xét gì về ý kiến của Huyền ?

    – Nếu là Thương, em sẽ lí giải như thế nào để Thương hiểu được tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường từ những việc nhỏ?

    Trả lời :

    – Ý kiến của Huyền là không đúng. Hành vi nhả kẹo cao su đã vi phạm quy định của công viên về việc gìn giữ môi trường công cộng xanh – sạch – đẹp

    – Em có thể phân tích cho Huyền thấy được vấn đề ô nhiễm môi trường đã thật sự đáng báo động đối với nước ta và trên thế giới. Để khắc phục được vấn nạn này đòi hỏi sự chung tay góp sức của tất cả mọi người. Học sinh chúng ta cũng có thể góp phần bảo vệ môi trường từ chính những việc nhỏ nhặt nhất. Nhiều việc nhỏ gộp lại thành việc lớn. Việc bỏ rác đúng nơi quy định còn giúp ta và những người xung quanh nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Phòng Chống Bệnh Sốt Rét Ở Hà Nội
  • Đôi Nét Về Bệnh Sốt Rét Và Cách Phòng Ngừa
  • Dấu Hiệu Và Cách Phòng Ngừa Virus Zika Bạn Nên Biết
  • Phòng Ngừa Virus Zika Và Sốt Xuất Huyết Hiệu Quả
  • Hàn Quốc Áp Dụng Nhiều Biện Pháp Phòng Ngừa Lây Nhiễm Virus Zika
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100