An Ninh Nguồn Nước Tại Việt Nam – Bài 4: Giải Pháp Nào Bảo Vệ Tài Nguyên Nước Trước Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu?

--- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh, Trật Tự
  • Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trậttự Trong Chương Trình “Thành Phố 4 An”
  • Tăng Cường Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Xã Hội Và An Toàn Giao Thông
  • Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Góp Phần Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới
  • Tp Uông Bí: Nhiều Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Trật Tự
  • Moitruong.net.vn

    – Khi dân số toàn cầu tăng lên, nhu cầu về nước tăng khiến cho tài nguyên thiên nhiên trở nên cạn kiệt và tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ở nhiều nơi. Do đó, các giải pháp tăng cường an ninh nguồn nước và thiết lập khả năng tiếp cận nguồn cấp nước ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

    Nguồn nước là một tài nguyên quý giá, có ảnh hưởng quan trọng và quyết định đến đời sống của người dân cũng như sự phát triển của đất nước. Vì vậy, việc đảm bảo an ninh nguồn nước nhằm phục vụ cho phát triển bền vững là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ngày một diễn biến phức tạp và khó lường như hiện nay. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu; do đó, việc đảm bảo an ninh nguồn nước càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

    Việt Nam có tổng nguồn cung cấp nước thường xuyên trên đầu người thuộc mức trung bình của thế giới. Hơn 60% lượng nước ở Việt Nam chủ yếu là từ sông Hồng và sông Mê Kông đều bắt nguồn từ Trung Quốc. Dự đoán đến năm 2025, lượng nước cho đầu người ở Việt Nam chỉ còn khoảng 3.100 m3, thuộc mức dưới trung bình.

    Nguồn nước ngày càng khan hiếm, nhất là phụ thuộc vào chế độ điều tiết từ hệ thống thủy điện của các nước ở thượng lưu cùng với chất lượng ngày một xấu đi do tác động của thiên tai và nhân tai là nỗi lo kép về an ninh nguồn nước.

    Tài nguyên nước Việt Nam đang ngày càng cạn kiệt 

    Có thể nói,  đảm bảo an ninh nguồn nước đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam cũng như của mỗi quốc gia trên thế giới. Nguyên Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki – moon nhân Ngày Nước thế giới năm 2021, cũng đã nêu rõ thông điệp: “Nước hết sức quan trọng và cần thiết đối với an ninh lương thực, năng lượng, đồng thời là vai trò trụ cột trong các ngành công nghiệp”.

    Chính vì vậy, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, theo nhu cầu sử dụng và khả năng đáp ứng về nguồn nước và những tiêu chí, mục tiêu riêng mà mỗi quốc gia, mỗi tổ chức sẽ có những tiêu chuẩn và hành động nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cho riêng mình.

    Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông Nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới, để tránh nguy cơ về an ninh nguồn nước, cần giải quyết được bốn vấn đề: hệ quả xã hội, kinh tế và môi trường khi lấy nước từ thiên nhiên; quan hệ giữa sử dụng đất và nguồn nước; sự trả giá khi có sự chuyển đổi nguồn nước và sử dụng đất; những vấn đề xã hội cần lưu ý khi có sự khủng hoảng nguồn nước.

    Đối với Việt Nam, Nguyên Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng đã chỉ rõ “ Để đạt được mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước trong kỷ nguyên biến động, Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện chính sách, pháp luật, chiến lược về tài nguyên nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm tài nguyên nước và phòng chống có hiệu quả các tác hại của nước do nhân tai gây ra. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là hợp tác với các quốc gia ở thượng nguồn để cùng bảo vệ, chia sẻ, khai thác công bằng, hiệu quả nguồn tài nguyên nước”

    Thực tế và lịch sử đã cho thấy chưa bao giờ có lộ trình hướng tới mục tiêu đảm bảo an ninh nguồn nước nào lại dễ dàng, thuận lợi. Biết bao cuộc chiến tranh đẫm máu đã xảy ra chỉ vì tranh chấp nguồn nước. Có thể thấy an ninh nguồn nước là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia, là điều kiện quan trọng nhất phục vụ cho sự phát triển bền vững.

    Những giải pháp cụ thể

    Để hiện thực hóa những vấn đề nêu trên, cần có những nội dung và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của an ninh nguồn nước, từ hoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học, tài nguyên nước (nước mặt và nước ngầm), đến các giải pháp công nghệ.

    Cụ thể, đối với Việt Nam, để tránh nguy cơ về an ninh nguồn nước, cần giải quyết các vấn đề:

    Trước tiên cần có sự hợp tác chặt chẽ và thiện chí giữa các quốc gia, để cùng bảo vệ, chia sẻ, khai thác công bằng, hiệu quả nguồn tài nguyên nước.

    Sau đó cần có một hệ thống chính sách, pháp luật chiến lược về tài nguyên nước hoàn chỉnh, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm tài nguyên nước và phòng chống có hiệu quả các tác hại của nước do nhân tai gây ra.

    Thứ 3 cần phải thay đổi nhận thức và hành động ở mỗi địa phương, mỗi ngành, đoàn thể, cá nhân trong đảm bảo an ninh nguồn nước.

    Theo ông Triệu Đức Huy, Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, để đạt được mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước trong kỷ nguyên biến động, Việt Nam đẩy mạnh các nghiên cứu về an ninh nguồn nước nói riêng và an ninh môi trường nói chung, nhằm đề xuất các khung chính sách và giải pháp quản lý ứng phó, trong đó việc xác định các chỉ số an ninh là rất quan trọng.

    Đồng thời, Việt Nam cần tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo tác động của các phát triển thượng lưu có thể gây ra tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn sớm, nhất là dự báo theo tháng, theo mùa để kịp thời có các giải pháp mang tính chủ động; tập trung xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu và tác động do các hoạt động khai thác sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Kông; xây dựng và vận hành mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước; hệ thống chia sẻ thông tin, cơ sở dữ liệu tích hợp dùng chung cho cả vùng, bao gồm các thông tin, số liệu tổng hợp về khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước, đất đai… để chia sẻ thông tin, dữ liệu thống nhất giữa trung ương và địa phương, các ngành.

    Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Nghị định Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất trước khi trình cấp có thẩm quyền ban hành theo quy định. Trong đó, tập trung vào việc góp ý các tiêu chí để khoanh định, công bố các vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất và áp dụng các biện pháp để hạn chế khai thác nhằm bảo vệ nước dưới đất; đồng thời đảm bảo đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong việc thăm dò, khai thác nước dưới đất.

    Cần có giải pháp tháo gỡ những thách thức đối với tài nguyên nước Việt Nam

    Riêng đối với việc giải quyết, tháo gỡ các thách thức về nguồn nước, đối với Việt Nam có 2 vấn đề cần phải quan tâm giải quyết:

    Đầu tiên cần tăng cường tính chủ động trong quản lý và sử dụng nguồn nước (tạo nguồn trữ nước và điều tiết nguồn nước).

    Thứ 2 cần giảm thiểu suy thoái nguồn nước (suy giảm nguồn nước, môi trường nước).

    Mặc dù vậy, cũng cần phải nhấn mạnh rằng đảm bảo an ninh nguồn nước phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững là trách nhiệm của từng cá nhân và của toàn xã hội. Chỉ có chung sức, chung lòng, chúng ta mới có thể tạo nên sự chuyển biến lớn, từng bước vượt qua tình trạng căng thẳng về nước và duy trì an ninh nguồn nước ở ngưỡng an toàn.

    Như vậy, việc kết hợp đồng bộ các giải pháp với sự tham gia của mọi thành phần xã hội sẽ là chìa khóa để đảm bảo an ninh nguồn nước, giải tỏa sức ép về nguồn nước cho đời sống, sản xuất và phát triển xã hội.

    Chính phủ, phải xây dựng, thiết lập được các cơ chế, chính sách hợp lý; các khung chương trình quản lý nguồn nước tiến bộ và hiệu quả hơn. Trong đó, bao gồm cả những cam kết quốc tế.

    Nước luôn đủ cho con người và tự nhiên, và nếu thiếu chỉ do cách chúng ta quản lý và sử dụng nguồn nước mà thôi.

    Vấn đề an ninh nguồn nước đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Để giảm thiểu nguy cơ về An ninh nguồn nước đối với Việt nam, còn rất nhiều vấn đề cần phải được quan tâm, đầu tư, nghiên cứu thực hiện. Cần phải được tiến hành một cách toàn diện và đồng bộ từ những hợp tác mang tính xuyên quốc gia đến việc nâng cao nhận thức về sử dụng an toàn và tiết kiệm nguồn nước; từ nghiên cứu xây dựng hoàn thiện các văn bản, khung quản lý đến nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mới bao gồm cả những phương pháp và cách tiếp cận mới. Đây không còn là vấn đề của riêng bất cứ cá nhân nào mà là nghĩa vụ, trách nhiệm của tất cả mọi người.

    Tuệ Lâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Cách Hiệu Quả Để Phát Triển Thị Trường Kinh Doanh Của Bạn Với Một Ngân Sách Hạn Chế – Coplus
  • Bài Toán Thu Hút Khách Nội Địa
  • Một Số Giải Pháp Thu Hút Khách Du Lịch Nội Địa Đến Ninh Bình Trong Bối Cảnh Dịch Covid
  • Ueh Digital Repository: Nâng Cao Hiệu Quả Cho Vay Tiêu Dùng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam Chi Nhánh Cần Thơ
  • Phát Triển Thị Trường Cho Vay Tiêu Dùng An Toàn, Lành Mạnh
  • Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Tôn Giáo Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Và Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Trên Địa Bàn Tỉnh Trong Tình Hình Mới.

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiều Chủ Trương, Giải Pháp Bảo Đảm An Ninh Trong Tôn Giáo
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tôn Giáo Trong Tình Hình Mới Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Định Kiến Giới – Rào Cản Phải Được Xóa Bỏ
  • Xoá Bỏ Những Định Kiến Về Giới Đang Cản Trở Phát Huy Quyền Và Năng Lực Của Phụ Nữ Tại Việt Nam
  • Xóa Bỏ Định Kiến Giới
  • Chuyên môn

    »

    Ban Tôn giáo

    Việt Nam là một trong năm nước đã và đang chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Trung bình, mỗi năm có 457 người bị thương vong, thiệt hại bình quân hằng năm là 1,9 tỷ USD, tương đương 1,3% GDP của cả nước. Vì vậy, nếu không quan tâm đúng mức công tác bảo vệ môi trường, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn về tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường. Để làm được việc này cần sự chung tay, góp sức của cộng đồng. Trong đó, không thể thiếu vai trò của các tổ chức tôn giáo trong hoạt động truyền thông, tuyên truyền về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Hiện nay, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng và phức tạp, nó đã trở thành vấn nạn của toàn cầu và khu vực trong đó có Việt Nam. Con người đã vì những lợi ích trước mắt mà gây ra hậu quả là chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn của biến đổi khí hậu như ngày hôm nay, nó ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của cuộc sống của con người. Tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và nguồn nước… hiện nay đã trở thành vấn đề lớn và cần phải có sự tham gia của cả cộng đồng xã hội của cả thế giới, trong đó có các tôn giáo.

    Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, chính sách đúng đắn, nhân dân tích cực triển khai các chính sách này, thu được những kết quả ban đầu về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Song chúng ta đang đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn về tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường, đặc biệt ở khu vực thành thị, nông thôn, khu vực công nghiệp, ven biển, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức.

    Theo cảnh báo của một số chuyên gia môi trường, trong 10 năm tới, tổng sản phẩm nội địa của Việt Nam có thể tăng gấp đôi. Nhưng nếu không quan tâm đúng mức đến bảo vệ môi trường, sẽ dẫn đến hậu quả môi trường bị tàn phá trong quá trình phát triển. Trung bình, tổng sản phẩm nội địa tăng 1%, những thiệt hại do môi trường bị tàn phá gây ra mà chúng ta không tính trực tiếp trong báo cáo hằng năm có thể lên đến 3% tổng sản phẩm xã hội. Chính vì vậy, chúng ta vừa tập trung phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường, coi môi trường là mục tiêu cơ bản phát triển bền vững.

    Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định, bên cạnh tập trung phát triển kinh tế thì phải quan tâm hơn bảo vệ môi trường, khắc phục hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra. Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2021-2020, Việt Nam coi bảo vệ môi trường là nội dung quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển xanh, hướng tới phục vụ người dân phát triển bền vững. Là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những năm qua, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó đồng hành cùng dân tộc, chia sẻ trách nhiệm với xã hội và đất nước, tích cực hưởng ứng tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Phát huy tích cực vai trò của các tôn giáo Việt Nam trong việc tham gia thực hiện đường lối phát triển đất nước nói chung và trong thực hiện chủ trương, chính sách bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng, đồng thời tăng cường đoàn kết, gắn bó đồng hành của các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.                    

    Trong mỗi giáo luật, giáo lý của mỗi tôn giáo đều có những lời răn dạy rất cụ thể để thực hiện điều này. Đây là điểm tương đổng giữa giáo lý, giáo luật các tôn giáo với các chủ trương chính sách về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng ta khai thác điểm tương đồng này để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chức sắc tín đồ cũng như các tầng lớp nhân dân – là một lực lượng rất lớn trong khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy các tôn giáo có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu sắp tới.

    Tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang ảnh hưởng khá rõ nét đến trái đất. Hiện nay, nền nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng cao, tình hình khô hạn xảy ra nhiều nơi và kéo dài, mưa lớn dài ngày diễn ra trên diện rộng, gây thiệt hại lớn đến đời sống kinh tế – xã hội của tỉnh và đời sống sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Trong những năm qua tình hình thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Bên cạnh đó, diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, nạn chặt phá rừng, khai thác gố trái phép vẫn tiếp diễn, hiện tượng thoái hóa, bạc màu đất trở nên khá phổ biến, hệ sinh thái đa dạng sinh học bị tác động, ,…

    Để thực hiện tốt công việc này, cần đòi hỏi tất cả các tổ chức tổ chức chính trị và xã hội cùng vào cuộc, trong đó vai trò của các tôn giáo rất quan trọng. Để nâng cao vai trò, trách nhiệm và sự đóng góp tích cực của các chức sắc và tín đồ các tôn giáo đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, chúng ta cần tập trung vào một số Giải pháp nhằm phát huy vai trò của tôn giáo trong công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong tình hình mới” như sau:

    Đối với UBMTTQ, Ban Dân vận các cấp:

    Một là, UBMTTQ Việt Nam các cấp phối hợp với Ban Dân vận cùng cấp thực hiện ký cam kết chương trình phối hợp bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu với tổ chức các tôn giáo cùng cấp trên địa bàn. VD: UBMTTQ Việt Nam cấp xã phối hợp và ký cam kết với từng Ban hộ tự chùa hoặc Ban Quản lý cơ sở thờ tự tự quản bảo vệ môi trường từng đoạn đường, trước hoặc khu vực xung quanh cơ sở thờ tự đó. Đồng thời vận động phật tử “nói không với thực phẩm bẩn”, vận động phật tử phân loại rác thải tại nguồn, với loại dễ phân hủy như lá cây, hoa, vỏ trái cây… thì phơi khô rồi đốt làm phân bón, chỉ những loại rác khó phân hủy mới đưa đến điểm tập kết đem đi tiêu hủy nhằm bảo vệ môi trường góp phần thay đổi hành vi theo hướng tích cực.

    Hai là, Tuyên truyền vận động sâu rộng trong nội bộ tổ chức và tín đồ tôn giáo về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, hiểm họa nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu với đời sống con người. Đồng thời, các tổ chức tôn giáo hướng dẫn vận động các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và các tín đồ tôn giáo, nắm bắt cập nhật các thông tin, kiến thức về môi trường, tài nguyên, đa dạng sinh học,…Bên cạnh đó, lồng ghép phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong các trường hạ, khóa tu, buổi học chính khóa và chương trình sinh hoạt ngoại khóa của tăng ni sinh tại các cơ sở thờ tự; đẩy mạnh tuyên truyền, thuyết giảng trong quần chúng nhân dân, phật tử về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm.

    Ba là, Phối hợp với tổ chức các tôn giáo cùng cấp chủ động xây dựng chương trình hành động riêng của tôn giáo mình để tập huấn, bồi dưỡng, chuyển tải thông điệp, vận động các chức sắc, tín đồ cam kết tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đối với đời sống con người. Phối hợp cung cấp cho cộng đồng tôn giáo và dân cư các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, chương trình hành động của UBMTTQVN và những quy định trong giáo luật, giáo lý của từng Tôn giáo cùng kế hoạch hành động của các tổ chức Tôn giáo về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phối hợp hướng dẫn, tập huấn, hỗ trợ cộng đồng kỹ năng tự ứng cứu và giúp nhau xử lý tại chỗ những rủi ro, bất thường xảy ra do thiên tai trước khi các lực lượng chức năng giải quyết; phối hợp hướng dẫn, tập huấn, hỗ trợ cộng đồng thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường; tăng cường công tác tự quản và bảo vệ môi trường.

    Bốn là, Vận động các tín đồ tôn giáo và nhân dân không sử dụng vật tư, phương tiện tạo ra những sản phẩm độc hại, sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, không sử dụng hóa chất hại, bị cấm trong bảo quản, chế biến, tiêu thụ thực phẩm. Đồng thời tuyên truyền vận động sâu rộng trong nội bộ tổ chức và tín đồ tôn giáo về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, hiểm họa nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu với đời sống con người. Đồng thời, các tổ chức tôn giáo hướng dẫn vận động các chức sắc, nhà tu hành, chức việc và các tín đồ tôn giáo, nắm bắt cập nhật các thông tin,  kiến thức về môi trường, tài nguyên, đa dạng sinh học,… cam kết, các bên sẽ phối hợp biên soạn, cung cấp cho cộng đồng các tôn giáo và dân cư kiến thức về môi trường, biến đổi khí hậu và thực trạng về ô nhiễm môi trường, những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu trên thế giới, trong nước, của địa phương và trên địa bàn dân cư. Không đánh đổi về môi trường để phát triển kinh tế mà sự phát triển kinh tế đi đôi với việc bảo vệ môi trường, kiên quyết nói không với dự án kinh tế gây ô nhiễm môi trường, vì đó là cách phát triển bền vững.

    Sáu là, Từ chương trình phối hợp, UBMTTQVN cấp xã phối hợp với một số cơ sở thờ tự xây dựng và ra mắt mô hình điểm: “Tổ đoàn kết tôn giáo đạo Phật/Công giáo/Tin lành với công tác bảo vệ môi trường”. Theo đó, các thành viên trong tổ thực hiện nhiều nội dung cam kết như có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh chung, tham gia góp ý và phản ánh kịp thời về trường hợp làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường; bỏ rác đúng nơi quy định, quản lý thùng rác theo từng hộ, nộp lệ phí thu gom rác đủ và đúng thời gian quy định.

    “Mô hình Nông lâm kết hợp”, giúp các hộ dân có đất nông nghiệp hoặc lâm nghiệp trồng trọt tăng nguồn thu nhập, tăng hiệu suất sử dụng đất, lấy hiệu quả từ canh tác cây ngắn ngày đầu tư cho cây dài ngày. Đồng thời góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, vùng đất nông lâm chiếm diện tích khá lớn trên địa bàn tỉnh.

    Bảy là, Phối hợp với Đài khí tượng thủy văn của tỉnh xây dựng và tăng cường năng lực dự báo thời tiết và cảnh báo thiên tai trên địa bàn tỉnh, thường xuyên cập nhập, hoàn thiện Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh.

    Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp:

    Một là, Đẩy mạnh truyên truyền những chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu để tham mưu với cấp ủy, UBND cùng cấp cụ thể hóa công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    Ba là, Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cần chủ động đề xuất các giải pháp, xây dựng kế hoạch liên ngành để thực hiện các nhiệm vụ quản lý hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh và địa phương, trong đó có công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Năm là, Tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, biểu dương các chức sắc, cơ sở tôn giáo thực hiện tốt hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, đặc biệt công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa phương.

    Hoàng Văn Huân

    Ban Tôn giáo – Sở Nội vụ

     

    Các tin khác

    • Lễ công bố quyết định công cử bổ nhiệm trụ trì Chùa Tây Thiên, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

      (30/11/2018)

    • Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức lễ hội.

      (28/11/2018)

    • Hội nghị triển khai Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

      (30/10/2018)

    • Hội nghị tuyên truyền và triển khai nhiệm vụ công tác đối với tổ chức “Hội thánh của Đức chúa trời mẹ” trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021

      (01/10/2018)

    • Sự cần thiết ban hành Quy định trách nhiệm phối hợp trong công tác quản lý về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

      (20/09/2018)

    Các tin đã đưa ngày:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Công Tác Tôn Giáo Trong Tình Hình Mới
  • Có Thể Làm Gì Để Ổn Định Tỷ Giá?
  • Mười Giải Pháp Ổn Định Tỷ Giá
  • Giải Pháp Hội Nghị Truyền Hình Trực Tuyến (Video Conference) Là Gì? – Logicbuy Tech Group
  • Hệ Thống Video Conference – Giải Pháp Hệ Thống Video Conference
  • Ảnh Hưởng Của Biến Đối Khí Hậu Đến Giao Thông Vận Tải Và Giải Pháp Ứng Phó

    --- Bài mới hơn ---

  • Tích Cực Bảo Vệ Môi Trường, Hướng Tới Đô Thị Xanh
  • Giải Pháp Khai Thác Tài Nguyên Nhân Văn Trong Phát Triển Du Lịch Hà Tĩnh
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Thi Chiến Lược Trong Hai Thập Niên Đầu Thế Kỷ Xxi”
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Xanh – Sạch – Đẹp – Trường Thcs Long Trì
  • Ảnh hưởng của biến đối khí hậu đến giao thông vận tải và giải pháp ứng phó

    Tác động của biến đổi khí hậu tới các loại hình vận tải

    Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải, trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển. Những vùng này hằng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô. BĐKH và nước biển dâng sẽ làm trầm trọng thêm với những tác động tiêu cực ở những vùng này, tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến các công trình xây dựng ven biển, như: Đê điều, đường giao thông, các bến cảng. Mỗi khi có cơn bão, lũ lụt, hạn hán triều cường… nhiều hệ thống giao thông đường bộ, thủy, sắt bị ảnh hưởng nặng nề. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), BĐKH có tác động lớn tới các công trình giao thông. Khi mực nước biển dâng cao sẽ ảnh hưởng đến nền móng công trình các cảng hàng không ven biển có cao độ từ 5m trở xuống. Theo đánh giá, sẽ có 6 cảng hàng không chiếm khoảng 20% số cảng hàng không của Việt Nam bị ảnh hưởng với thiệt hại ước khoảng 0.52 tỷ USD.

    BĐKH và nước biển dâng đã gây ra sụt lún, ngập lụt nhiều tuyến giao thông: gia tăng sạt trượt, xói lở mặt, nền đường làm các phương tiện giao thông không lưu thông được, gây ách tắc, gia tăng tai nạn giao thông đường bộ. Đường xá bị cắt đứt nhiều đoạn, nhiều tuyến đường địa phương sau bão lũ hàng tuần vẫn bị ngập lụt, ách tắc, giao thông đi lại khó khăn…

    Mực nước biển dâng, dòng chảy lũ gia tăng, giảm khoảng lưu không từ mặt nước dòng chảy lũ đến đáy cầu, ảnh hưởng đến sự lưu thông của các loại tàu lớn. Vào mùa mưa bão, rất nhiều bến cảng bị ngập lụt, giảm chiều cao thông thủy ảnh hưởng đến khả năng khai thác của công trình. Giao thương đi lại giữa các vùng miền biển trong và ngoài nước bị đình trệ. Mùa khô hạn làm cạn kiệt dòng chảy dẫn đến giao thông thủy bị ảnh hưởng. Hiện tượng xâm nhập mặn sẽ gia tăng, sự giao thương đi lại ở các vùng miền biển khó khăn, đời sống hàng ngày của cộng đồng địa phương bị thu hẹp nhanh chóng. Các cơ sở hạ tầng nhất là các cảng sẽ bị tác động mạnh, thậm chí phải xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp hoặc di dời…

    BĐKH có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến GTVT, một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải khí nhà kính không ngừng tăng lên trong tương lai khi triển khai các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Việc kiểm soát và hạn chế tốc độ tăng phát thải khí nhà kính đòi hỏi ngành phải đổi mới và áp dụng các công nghệ ít chất thải và công nghệ sạch.

    Một số giải pháp ứng phó

    GS. TSKH Nguyễn Đức Ngữ, Trung tâm Khí tượng Thủy văn và Môi trường cho biết, để giảm nhẹ khả năng bị tổn hại do BĐKH gây ra, cần có sự điều chỉnh ở các hoạt động xây dựng các kế hoạch phát động xây dựng các kế hoạch phát triển năng lượng và GTVT có tính đến các yếu tố của BĐKH. Cần nâng cấp và cải tạo các công trình GTVT ở các vùng thường bị đe dọa bởi lũ lụt, nước biển dâng, bảo đảm quản lý nhu cầu năng lượng trên cơ sở hiệu suất năng lượng cao, sử dụng tiết kiệm và hợp lý năng lượng; xây dựng chiến lược ứng phó và thích ứng với diễn biến bất thường của thời tiết…

    Một trong các biện pháp được Bộ GTVT đề xuất là phải xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển. Đây là giải pháp phát triển kinh tế bền vững, khi mà cả nước đã có 2.800 km đê biển thuộc các tỉnh và thành phố bao gồm 10 huyện, thị xã đã và đang phát huy hiệu quả trong công tác phòng chống thiên tai, tạo điều kiện cho các địa phương có biển phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng, do hệ thống đê của Việt Nam đắp bằng đất, nền lại yếu, xây dựng thiếu quy hoạch và không khoa học, nhiều tuyến di dời, đắp lại và làm mới chiếm 42,3% tổng chiều dài bờ biển Việt Nam mới chỉ chống đỡ được bão từ cấp 9 trở xuống.

    Việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển Việt Nam không những chỉ bảo vệ an ninh cho quốc gia mà còn bảo vệ vững chắc các công trình GTVT nhằm giảm tác động của BĐKH, hạn chế bão lũ, nước biển dâng tàn phá các tỉnh, thành phố nằm ven biển và các công trình GTVT, phục vụ an sinh xã hội và phát triển kinh tế. Mặt khác, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê biển ngăn chặn được nước mặn xâm nhập vào đất liền, phá hủy các công trình GTVT có nền móng nằm sâu trong lòng đất do nước mặn xâm lấn ăn mòn là rất cần thiết.

    Để giảm thiểu tác hại của BĐKH ở cấp độ vĩ mô đó là trên cơ sở khoa học của các kịch bản BĐKH các nhà hoạch định chính sách cần tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng chương trình hành động thích ứng với BĐKH và thực thi có hiệu quả trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Ngành GTVT cần quy hoạch, thiết kế lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật giao thông trên đất liền, trên biển và ven biển, các bến cảng, kho bãi, luồng lạch, giao thông thủy nội địa, nhất là ở các vùng đồng bằng ven biển và miền núi. Xây dựng các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật phù hợp với BĐKH. Khi phát triển GTVT ở các vùng thường bị đe dọa bởi lũ, lụt, nước biển dâng. Xây dựng công trình giao thông cần chú ý mực nước biển dâng mỗi năm khoảng 3cm, và tới năm 2100 sẽ tăng khoảng 70cm so với mực nước biển năm 1990 để lựa chọn giải pháp công trình cho phù hợp ngay từ khâu khảo sát, lập dự án. Trong điều kiện kinh tế cho phép, từng bước kiên cố hóa ta – luy hoặc trồng cây xanh, thảm thực vật để bảo vệ nền đường, mố cầu…

    Bên cạnh đó, khuyến khích phát triển các loại phương tiện sử dụng ít hoặc không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đẩy mạnh nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu tái tạo trong các phương tiện vận tải. Trong giao thông, nhất là giao thông nông thôn cần chú ý đến tác động của BĐKH; chú trọng các biện pháp gia cố đê biển, tiêu thoát nước khi úng ngập, nhất là vào mùa bão, lũ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Bồi Dưỡng Nâng Cao Năng Lực Nghề Nghiệp Đội Ngũ Nhà Giáo
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ 5
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp – ( Thầy Giáo Nguyễn Văn Ngọc ) : Phòng Gd&đt Giao Thủy
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Tiếng Anh Thông Qua Các Hoạt Động Của Câu Lạc Bộ Tiếng Anh Tại Trường Thpt Đặng Thai Mai
  • Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi Nhánh Tràng An Hà Nội
  • Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Và Bảo Vẹ Môi Trường Tràng An
  • Tăng Cường Bảo Vệ Môi Trường Để Phát Triển Bền Vững
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Nông Nghiệp Hiệu Quả
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp
  • Ðẩy Mạnh Công Tác Tuyên Truyền, Giáo Dục Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Nhân ngày Nước thế giới (22-3), phóng viên Báo Khánh Hòa phỏng vấn ông Hoàng Anh Hào – Trưởng phòng Khoáng sản – Nước – Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) Khánh Hòa về vấn đề này.  

     

     

     

    – Thưa ông, biến đổi khí hậu ngày càng có tác động sâu sắc đến công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Thời gian qua, tỉnh đã có những giải pháp gì để ứng phó với biến đổi khí hậu?

     

    – Thời gian qua, tỉnh đã có nhiều giải pháp để ứng phó với biến đổi khí hậu. Tỉnh đã chỉ đạo thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, điều chỉnh mùa vụ, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu; đầu tư cải tạo, xây dựng hệ thống thủy lợi khắc phục tình trạng khô hạn, ngập úng; nghiên cứu, đánh giá, bổ sung đặc điểm khí hậu thủy văn của tỉnh… 

     

    Theo Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh giai đoạn 2021 – 2021, tầm nhìn đến 2030, khuyến khích doanh nghiệp sản xuất sạch theo tiêu chuẩn ISO 14001 (hệ thống quản lý môi trường); áp dụng các biện pháp quản lý, kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm tiêu thụ năng lượng; phát triển năng lượng sạch, thân thiện với môi trường như: điện mặt trời và điện sinh khối; sử dụng và phát triển vật liệu không nung. Bên cạnh đó, triển khai tuyên truyền, giáo dục phổ biến kiến thức về phòng, chống thiên tai; xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong phòng, chống thiên tai; xác định cấp độ rủi ro thiên tai, chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ”; nâng cao nhận thức cộng đồng bằng đề án “Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng”; lập bản đồ ngập lụt khu vực sông Dinh Ninh Hòa và sông Cái Nha Trang để nâng cao năng lực cảnh báo lũ, lụt… Mặt khác, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ giúp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái biển, rừng tự nhiên nhằm gia tăng khả năng hấp thụ khí thải nhà kính… 

     

    – Xin cảm ơn ông!

     

    V.L (Thực hiện)

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Chính Sách, Pháp Luật Và Triển Khai Các Hành Động Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Vien Khoa Hoc Ky Thuat Nong Nghiep Mien Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Phân Tích Các Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Hòa Bình, An Ninh Quốc Tế Hiện Nay Và Đề Xuất Đối Với Việt Nam
  • Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Phòng Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Đối Với Thanh Niên Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Đấu Tranh Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Trên Mặt Trận Báo Chí, Truyền Thông Và Mạng Xã Hội Của Tỉnh Trong Thời Gian Tới
  • Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “Diễn Biến Hòa Bình” Và Những Biểu Hiện “Tự Diễn Biến”, “Tự Chuyển Hóa” Trên Lĩnh Vực Văn Hóa Hiện Nay
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục
  • Phòng Chống Tội Phạm Là Nhiệm Vụ Chính Trị, Thường Xuyên Liên Tục
  • Giải Pháp Quà Tặng Khách Hàng Cuối Năm Giá Rẻ Độc Đáo Nhiều Ý Nghĩa
  • Dư Thị Oanh

    Trường Chính trị tỉnh Bình Phước

            Thanh niên là một đối tượng đặc thù trong công tác dân vận của Đảng,  với những đặc trưng nổi bật về tâm sinh lý do yếu tố độ tuổi quy định (đủ 16 đến 30 tuổi – theo Luật Thanh niên). Thanh niên có nhiều ưu điểm, họ là lớp người trẻ, có sức khỏe, nhiệt huyết, nhiệt tình, nhạy bén với cái mới, thích nghi nhanh với khoa học công nghệ… nhưng còn bồng bột, nông nổi, chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các vấn đề chính trị – xã hội còn hạn chế nên thanh niên thường dễ bị lôi kéo, kích động. 

            Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo Đảng ta đặc biệt quan tâm và đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng về thanh niên và công tác vận động thanh niên trong đó có: Nghị quyết số 25- NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021 – 2021”; tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chương trình nhằm tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên.

           Trong bối cảnh hiện nay, để tăng cường sức đề kháng và phát huy vai trò tiền phong của thanh niên trên mặt trận đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trong thế hệ trẻ, các cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

           Một là, cần làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đoàn viên và thanh niên về âm mưu, bản chất thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lục thù địch; về mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm của thanh niên trong đấu tranh.  Bởi lẽ, hiện nay vẫn còn một bộ phận đoàn viên, thanh niên vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức đúng về chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lục thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và mức độ nguy hiểm của nó đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Trước mắt, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên nhận diện được những chiêu bài, cách thức lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch để đánh vào sự nông nổi của một số ít bạn trẻ như lợi dụng tự do, tôn giáo, bịa đặt, đưa thông tin sai lệch, khoét sâu vào những việc tiêu cực trong xã hội… Đồng thời, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên nhận thức được những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra; thấy được việc phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh hết sức cam go, phức tạp diễn ra ngay trong nội bộ, giữa ta với ta … Mặt khác, làm rõ sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, của chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước và sự tồn vong của chế độ nếu như không phòng, chống, đấu tranh kịp thời, kiên quyết. 

           Hai là, cần tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, truyền thống văn hoá, lịch sử của Đảng, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và dân tộc cho thanh niên. Tích cực tuyên truyền cho đoàn viên, thanh niên về những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, của Đảng và của Đoàn: đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; truyền thống xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ được giao; truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, đoàn kết gắn bó với nhân dân, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, đặc biệt là vào những thời điểm đối mặt với kẻ thù hay thiên tai, truyền thống đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế và đồng tâm hợp lực vì những mục tiêu cao cả của dân tộc và thời đại; truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ chính trị, học vấn, khoa học, kỹ thuật, quản lý và quân sự, sống có văn hóa, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng… Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các phong trào hành động cách mạng của thanh niên, xây dựng và thực hiện tốt chuẩn mực đạo đức, định hướng giá trị nhân cách, làm cho thanh niên hiểu, có khả năng tự đề kháng và tích cực đấu tranh với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. 

            Ba là, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn cần chủ động, kịp thời nắm bắt dư luận, dự báo tình hình tư tưởng, nắm những xu hướng tư tưởng chủ đạo để động viên khuyến khích; nhận biết những nhận thức lệch lạc để kịp thời uốn nắn; định hướng nội dung tuyên truyền, giáo dục trong đoàn viên, thanh niên. Thực hiện công tác giáo dục thanh niên bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, hấp dẫn, thông qua những việc làm thiết thực kết hợp với việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và phù hợp với từng đối tượng; phát huy ưu thế của các công cụ, phương tiện truyền thông hiện đại, nâng cao vai trò của hệ thống báo chí, xuất bản của Đoàn trong giáo dục đoàn viên, thanh niên. Tiếp tục phát huy hiệu quả và tổ chức tốt hoạt động trao đổi, đối thoại giữa thanh niên với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và lãnh đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đơn vị.

           Điều quan trọng quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trong giới trẻ chính là bản thân đoàn viên, thanh niên. Vì vậy, mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò và những ưu điểm, hạn chế của chính mình. Trên cơ sở nhận thức đúng, đề cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm, dám nói, dám làm, dám đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những âm mưu thâm độc của kẻ thù. Đồng thời phải ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vươn lên để đảm đương trọng trách công việc trong thời kỳ mới cùng với đó là khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, không thể hiện rõ lập trường, quan điểm trước những hành vi tiêu cực hoặc thờ ơ, không dám đấu tranh với sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các âm mưu chống phá, kích động…

           Đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Chính trị tỉnh Bình Phước là lực lượng chủ lực trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và trong toàn xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, đội ngũ cán bộ, giảng viên nhất là lực lượng giảng viên trẻ cần phát huy tinh thần xung phong, xung kích trong nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp… để góp phần quan trọng và thường xuyên trong việc phát triển, bồi đắp nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

           Tóm lại, xuất phát từ những đặc thù về đặc điểm tính cách, nhận thức của độ tuổi thanh niên mà các thế lực thù địch luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Vậy nên, trong bối cảnh hiện nay, trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa và sự suy thoái đạo đức của một bộ phận thanh niên Việt Nam, công tác giáo dục, phòng chống “diễn biến hòa bình” cho thế hệ trẻ là điều quan trọng và cấp thiết góp phần giúp thanh niên có được những tri thức khoa học để nhận thức đúng đắn, có lý tưởng cách mạng cao đẹp, hoàn thiện nhân cách thanh niên Việt Nam hiện nay, để họ xứng đáng là lớp người trẻ tuổi làm chủ nước nhà, xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xu Hướng Công Nghệ Mới
  • Giải Pháp Nhà Thông Minh Có Thật Sự Mang Lại Hiệu Quả Như Lời Đồn?
  • 12 Giải Pháp Nhà Thông Minh Hunonic, Chỉ Từ 500K, Tin Không?
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Trong Tình Hình Mới
  • 11 Giải Pháp Chống Nóng Cho Nhà Hướng Tây Cho Tường Và Trần Mùa Hè
  • Nhận Thức Và Áp Dụng Biện Pháp Điều Tra Đối Chất Trong Việc Điều Tra Giải Quyết Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Phép Giúp Giáo Viên Tạo Sự Tự Tin, Mạnh Dạn Trong Giao Tiếp Của Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Và Phát Huy Tính Tích Cực Cho Học Sinh Trong Học Tập Môn Khoa Học Lớp 4
  • Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Trong Học Tập Của Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Quảng Kim : Phòng Gd&đt Quảng Trạch
  • Động Đất Và Cách Để Ứng Phó Với Động Đất
  • Trang Web Chính Thức Của Chính Quyền Tỉnh Aichi
  •       Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.”. Như vậy, theo quy định nêu trên thì chỉ tiến hành đối chất khi thỏa mãn cả hai điều kiện: (1) có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người và (2) đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn. Quy định này có thể hiểu là, không phải có mâu thuẫn là tiến hành đối chất, mà trước tiên phải tiến hành các biện pháp điều tra khác để giải quyết mâu thuẫn, nếu thông qua các biện pháp điều tra có đủ căn cứ để khẳng định các tình tiết có mâu thuẫn của vụ án đã được giải quyết thì không tiến hành đối chất, trường hợp đã thực hiện các biện pháp điều tra khác mà không giải quyết được mâu thuẫn thì mới tiến hành đối chất, vì vậy có thể nói: Đối chất là biện pháp điều tra cuối cùng.

          Ngoài ra cũng cần lưu ý một số quy định và trường hợp không tiến hành đối chất hoặc hạn chế đối chất, tại khoản 6 Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ tiến hành đối chất giữa bị hại là người dưới 18 tuổi với bị can, bị cáo để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án trong trường hợp nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án.”. Theo quy định này thì đối với những vụ án có bị hại là người dưới 18 tuổi, không phải tất cả những tình tiết có mâu thuẫn giữa lời khai của bị hại với bị can và đã tiến hành các biện pháp điều tra khác vẫn không giải quyết được thì đều phải đối chất, mà chỉ tiến hành đối chất đối với những tình tiết, những vấn đề mâu thuẫn có tính quyết định để giải quyết vụ án, nếu không đối chất thì không thể giải quyết được vụ án. Đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em thì không tiến hành đối chất giữa người bị hại là trẻ em với bị can để làm sáng tỏ tình tiết của vụ án1 vì trẻ em là bị hại trong những vụ án này đã bị tổn thương nặng nề về tâm lý, nếu cho trẻ em đối chất với bị can thì sẽ tiếp tục gây tổn thương về tâm lý cho trẻ em. “Trong trường hợp bắt buộc phải tiến hành đối chất vì không thể kiểm chứng qua các nguồn chứng cứ khác thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên áp dụng biện pháp bảo vệ người bị hại trong quá trình đối chất; không để người bị hại và bị can trực tiếp tiếp xúc với nhau, theo đó có thể sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để thực hiện đối chất (ví dụ: làm việc trực tuyến)”2. Ngoài ra, đối với những vụ án nếu xét thấy việc đối chất có thể hoặc sẽ ảnh hưởng xấu đến việc giải quyết vụ án thì cũng không tiến hành đối chất, ví dụ: Trong một vụ án ma túy, bị can A là con của bị can C, bị can B là em của bị can C; các bị can A, B khai bị can C đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, còn bị can C chỉ khai nhận một lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị bắt quả tang, trong trường hợp này nếu cho bị can C đối chất với các bị can A, B thì có thể các bị can A, B thay đổi lời khai về hành vi phạm tội của bị can C vì giữa các bị can có quan hệ huyết thống, tình cảm gia đình.

          Các tình tiết, vấn đề mâu thuẫn cần phải đối chất đó là sự trái ngược nhau, phủ định lẫn nhau giữa những lời khai mang nội dung thông tin về cùng một hoặc một số tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Trong một vụ án hình sự có thể có rất nhiều tình tiết mà lời khai của những người tham gia tố tụng mâu thuẫn với nhau, nhưng không phải tất cả các tình tiết mâu thuẫn đều tiến hành đối chất, mà chỉ tiến hành đối chất về những tình tiết thuộc vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ví dụ: bị can A và bị can B đi xe khách từ Hải Phòng đến thành phố Lạng Sơn rồi cùng phạm tội cố ý gây thương tích, bị can A và bị can B khai mâu thuẫn với nhau về biển số và loại xe ô tô khách đã đi, trong trường hợp này không cần phải tiến hành đối chất vì tình tiết có mâu thuẫn nêu trên chỉ là diễn biễn của vụ án mà không phải là tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.

          Một vấn đề nữa cũng cần lưu ý, đó là: các tình tiết của vụ án có mâu thuẫn và đã tiến hành các biện pháp điều tra khác để giải quyết, nhưng đã giải quyết được hay chưa giải quyết được mâu thuẫn thì trong nhiều vụ án quan điểm giữa những người tiến hành tố tụng và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thống nhất, vì đây là vấn đề đánh giá chứng cứ nên quan điểm đánh giá chứng cứ là khác nhau, nếu đánh giá đủ căn cứ để giải quyết mâu thuẫn thì không cần phải tiến hành đối chất, nếu chưa đủ căn cứ để giải quyết mâu thuẫn thì phải tiến hành đối chất. Ví dụ: Trong một vụ án ma túy, các đối tượng nghiện và các bị can khác khai phù hợp với nhau về việc bị can A nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng bị can A khai chỉ được một lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong trường hợp này mặc dù lời khai của bị can A và lời khai của các đối tượng khác có mâu thuẫn với nhau về tình tiết phạm tội nhiều lần hay một lần, nhưng căn cứ các biện pháp điều tra khác (lời khai của các bị can và đối tượng khác) đủ căn cứ để khẳng định bị can A phạm tội nhiều lần, do đó không thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự.

          Thực tế giải quyết án cho thấy, biện pháp đối chất chỉ đạt hiệu quả trong trường hợp những người tham gia đối chất không có xung đột lợi ích, không có quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, không cố tình che dấu về các tình tiết của vụ án, việc khai mâu thuẫn về các tình tiết của vụ án là do khả năng tri giác, ghi nhớ của những người tham gia đối chất khác nhau, trong trường hợp này, Điều tra viên và Kiểm sát viên chỉ cần có cách thức tác động phù hợp để những người tham gia đối chất nhớ lại chính xác về các tình tiết của vụ án. Thông thường các vụ án thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất thì một trong các đối tượng tham gia đối chất cố tình che dấu thông tin về các tình tiết của vụ án, trong trường hợp này thì Điều tra viên, Kiểm sát viên phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để đấu tranh thì việc đối chất mới có hiệu quả; trong quá trình cho các đối tượng tham gia đối chất trình bày ý kiến, hỏi lẫn nhau và tranh luận với nhau, Điều tra viên và Kiểm sát viên cần phải quan sát thái độ, biểu hiện tâm lý…của các đối tượng tham gia đối chất để đánh giá lời khai nào là đúng, lời khai nào gian dối, từ đó có niềm tin nội tâm để thu thập, củng cố các tài liệu, chứng cứ đảm bảo tính chính xác, đúng đắn và khách quan.

          Một vấn đề nữa cũng cần thấy rằng: Theo quy định tại các Điều 245, 280 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017, quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thì việc không tiến hành đối chất không phải là căn cứ để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; đối với các tình tiết, vấn đề của vụ án có mâu thuẫn và thuộc trường hợp cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu Viện kiểm sát và Tòa án xét thấy còn thiếu chứng cứ để chứng minh thì có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng phải nêu cụ thể là thiếu chứng cứ gì.

          Việc nhận thức đúng và đầy đủ về biện pháp đối chất được quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn, có nhận thức đúng thì việc áp dụng mới đem lại hiệu quả cho việc giải quyết vụ án, nếu nhận thức không đúng thì dẫn đến việc áp dụng tùy tiện, hình thức “đối phó” theo kiểu “có còn hơn không, thừa còn hơn thiếu”, gây tốn kém về thời gian và công sức cho những người tiến hành tố tụng./.

    Nguyễn Tuấn Anh – Phòng 2 VKSND tỉnh Lạng Sơn 

    1,2 – Sổ tay kiểm sát viên Giải quyết vụ án xâm hại tình dục trẻ em của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2019), tr79.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Thi Công Chống Thấm Bể Nước Hiệu Quả Nhất
  • Cách Xử Lý Bể Nước Ngầm Bị Thấm Đơn Giản Tiết Kiệm Chi Phí
  • Biện Pháp Thi Công Chống Thấm Bể Nước Ăn
  • Chống Thấm Bể Nước – Nguyên Nhân Và Quy Trình Thi Công Chuẩn Nhất
  • Sika Chống Thấm Bể Nước – Biện Pháp Nào Chống Thấm Hiệu Quả?
  • Một Số Giải Pháp Về Phòng Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch Chống Phá Trên Lĩnh Vực Chính Trị, Tư Tưởng Trong Quân Đội Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Và Việc Xây Dựng Quân Đội Nhân Dân Vững Mạnh Về Chính Trị
  • Hình Thức Vận Động Quần Chúng Cá Biệt, Những Vấn Đề Lý Luận Và Cách Thức Áp Dụng Trong Giải Quyết Những Nhiệm Vụ Về An Ninh, Trật Tự Trong Giai Đoạn Hiện Nay .công An Tra Vinh
  • “Công Tác Vận Động Quần Chúng Là Biện Pháp Chiến Lược, Cơ Bản, Làm Nền Tảng Cho Các Biện Pháp Công Tác Khác Và Mọi Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Huyện Quảng Trạch” – Công A
  • Về Những Tồn Tại, Hạn Chế Của Chế Định Hình Phạt Bổ Sung Trong Luật Hình Sự Hiện Hành
  • Quản Lý Doanh Nghiệp Là Gì? Quy Trình Và Phương Pháp Hiệu Quả
  • Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho Quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang ít nhiều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị – tinh thần của Quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, chiến sĩ.

    phong chong dbhb trong quan doi

    Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đến thăm Báo Quân đội nhân dân nhân nhân dịp kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2018). Ảnh: chúng tôi phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

    Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

    Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân dân ta.

    Hơn nữa, vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của Quân đội ta. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

    Để nâng cao bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải triệt để quán triệt vào trong quá trình giáo dục huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất quan trọng. Giải quyết tốt giữa toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các khu trọng điểm.

    Nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho bộ đội. Đồng thời, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng và các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị và giải quyết kịp thời đúng đắn, dứt điểm những diễn biến chính trị, tư tưởng phức tạp, những vấn đề mới nảy sinh, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

    Hai là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.

    Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

    Ba là: Thường xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.

    Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.

    Trước hết, đối với tổ chức đảng, cấp ủy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện nhiệm vụ, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Phải thường xuyên quán triệt, giáo dục làm cho mọi tổ chức đảng, đảng viên nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, xây dựng tinh thần cảnh giác cách mạng, ý chí quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

    Thường xuyên kiện toàn cấp ủy, chi bộ, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tính tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

    Xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

     Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

    Bốn là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình huống bạo loạn xảy ra.

    Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với Quân đội ta.

    Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

    Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.

    B.Đ.Q

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự Theo Bltths 2021 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Khái Niệm, Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu), Phân Loại Và Bản Chất Pháp Lý Của Các Biện Pháp Tha Miễn Trong Luật Hình Sự Việt Nam
  • Ký Quỹ Là Gì? Đặc Điểm Và Các Loại Hình Ký Quỹ
  • Bác Sĩ Chuyên Khoa Nguyễn Thị Song Hà
  • Năm 2021: Việt Nam Thực Hiện Đồng Bộ Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Của Ngành Nông Nghiệp Lâm Đồng
  • Cà Mau Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Việt Nam Đặc Biệt Quan Tâm Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Phương Hướng Khắc Phục Trong Việc Vận Dụng Nguyên Tắc Nhân Dân Tham Gia Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • (VOV5) – Ứng phó với biến đổi khí hậu được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam trong năm 2021 trong bối cảnh Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất từ các hiện tượng cực đoan của thiên nhiên.

    Theo đó, Việt Nam sẽ tập trung nguồn lực, tăng cường hợp tác quốc tế, bám sát việc thực hiện mục tiêu của Hội nghị lần thứ 21 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu ( COP 21).

    Ảnh: baoxaydung.com.vn

    Những hoạt động Việt Nam ưu tiên tiến hành gồm: thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các nước, các đối tác qua những kênh song phương và đa phương; tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực.

    Năm 2021 ghi nhận nhiều nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu. Về nguồn lực, Chính phủ đã dành riêng 3.000 tỷ đồng để đầu tư cho 16 dự án ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy còn ít so với nhu cầu đầu tư của các địa phương song đã thể hiện sự nỗ lực, quyết tâm rất lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc đầu tư các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu như: trồng rừng ngập mặn ven biển; các dự án đê biển xung yếu, đê ngăn mặn…

    Chính phủ Việt Nam cũng chú trọng tới việc quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu trong quy hoạch phát triển đô thị và sử dụng đất. Theo đó, việc phát triển hệ thống các khu dân cư vượt lũ phải theo hướng thân thiện với môi trường sinh thái đồng thời giảm dần sử dụng các nguyên liệu hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính.

    Việt Nam đã xây dựng các chính sách và chương trình nhằm giải quyết ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây ra, đồng thời đẩy nhanh quá trình chuyển tiếp sang một nền kinh tế xanh hơn. Việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu đã tạo cơ sở cho các Bộ, ngành và địa phương, đặc biệt là các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Đáng chú ý, Luật Khí tượng thủy văn được Quốc hội thông quađáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công tác phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, góp phần phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

    Cũng trong năm 2021, Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam) được công bố. Đây là báo cáo toàn diện nhất, giới thiệu hệ thống quản lý rủi ro thiên tai và cực đoan khí hậu ở Việt Nam hướng tới một tương lai có sức chống chịu và bền vững.

    Triển khai toàn diện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

    Năm 2021, Việt Nam tiếp tụcchủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực, thực hiện hiệu quả công tác ứng phó với biến đổi khí hậu; ưu tiên đầu tư các dự án ứng phó biến đổi khí hậu quan trọng nhằm thực hiện hiệu quả Thỏa thuận Paris. Đề cập các giải pháp cụ thể, ông Phạm Văn Tấn, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, cho biết: “Bộ Tài nguyên môi trường và các Bộ, ngành khác sẽ làm các thủ tục pháp lý để nhanh chóng phê chuẩn thỏa thuận Paris trước tháng 4/2016. Bộ cũng sẽ xây dựng kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, trong đó có xác định nguồn lực và hoạt động cụ thể triển khai mục tiêu giảm phát thải 8% khí gây hiệu ứng nhà kính. Từ nay đến 2030, Việt Nam cần chuyển đổi ngay sang công nghệ mới ít phát thải cácbon”.

    Việt Nam cũng đang phối hợp với các nước đang phát triển khác trong việc đàm phán để cụ thể hóa các điều khoản trong thỏa thuận Paris và thực hiện các cam kết đã đưa ra, trong đó có các cam kết về cắt giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu nêu trong Báo cáo đóng góp tự nguyện do quốc gia tự quyết định (INDC) đã nộp cho Liên Hợp Quốc vào tháng 9/2015.

    Về lâu dài, Việt Nam sẽ rà soát cập nhật các quy hoạch, tập trung nguồn lực đầu tư cho hoạt động chống biến đổi khí hậu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu. Đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, các lực lượng và mọi người dân; tăng cường hợp tác quốc tế;ưu tiên đầu tư các dự án ứng phó biến đổi khí hậu quan trọng, cấp thiết.

    Việc chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ giảm thiểu những thách thức của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam mà còn góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội bền vững trong năm 2021 và những năm tiếp theo.

    Hồng Vân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biện Pháp Giảm Bớt Tác Động Của Thay Đổi Khí Hậu
  • 9 Điều Chúng Ta Có Thể Làm Để Giảm Bớt Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu: Cần Giáo Dục Học Sinh Chống Khủng Hoảng
  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Việt Nam Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ 5
  • Giải Pháp Thích Nghi Với Biến Đổi Khí Hậu Tại Vùng Đbscl

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Mẹo Nhỏ Giúp Tiết Kiệm Nước Sạch Hiệu Quả
  • 15 Mẹo Tiết Kiệm Nước Sinh Hoạt
  • 11 Cách Tiết Kiệm Nước Sinh Hoạt Bạn Nên Biết
  • Đề Tài Tăng Cường Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Đổi Mới Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Đề Thi Môn Nhà Nước Và Pháp Luật: Tại Sao Phải Tăng Cường Pháp Chế Xhcn?
  • Thứ bảy – 20/03/2010 01:07

    Trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có địa hình thấp so với mặt nước biển, nhiều nơi cao trình chỉ đạt từ 20 – 30cm, đường bờ biển dài nên được đánh giá là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và nghiêm trọng nhất. Đối với tỉnh Sóc Trăng có 72km bờ biển với 03 cửa sông là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, theo kịch bản nước biển dâng 1m thì sẽ là một trong 10 tỉnh đứng đầu về thiệt hại với diện tích bị ngập khoảng 1.425km2 (chiếm 43,7% diện tích cả tỉnh). Những nghiên cứu gần đây cho thấy tác động nổi bật của BĐKH đối với tỉnh Sóc Trăng là xâm nhập mặn, xói lở bờ biển do nước biển dâng với nguy cơ tiềm tàng là ngập chìm một số vùng đất thấp ven biển, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, nhất là rừng ngập mặn.

    Một số nhận xét sơ bộ, đánh giá mức độ tác động của BĐKH, nước biển dâng lên các thành phần kinh tế chính của tỉnh:

    – Đối với nông nghiệp và an ninh lương thực: BĐKH, nước biển dâng tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan bệnh hại cây trồng, đặc biệt là gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm.

    – Đối với thủy sản: BĐKH, nước biển dâng, nuôi tôm bị ảnh hưởng nặng nề nhất, do thay đổi số lượng và chất lượng nước, đặc biệt là khu vực sản xuất ven biển.

    – Đối với nguồn lợi hải sản và nghề cá: BĐKH, nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi. Kết quả là các quần xã hiện hữu thay đổi cấu trúc, trữ lượng giảm sút, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, sò…) bị chết do không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi.

    – Đối với lâm nghiệp: BĐKH, nước biển dâng sẽ làm giảm diện tích rừng ngập mặn hiện có, tác động xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn, một số loài động, thực vật quý hiếm bị suy kiệt.

    – Đối với hệ thống thủy lợi: BĐKH, nước biển dâng sẽ làm ảnh hưởng lớn hệ thống kênh mương nội đồng, trong đó chủ yếu là kênh cấp I, II.

    – Đối với giao thông vận tải: BĐKH, nước biển dâng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến giao thông vận tải như phá vỡ kết cấu hạ tầng giao thông, đường giao thông bị ngập, đặc biệt khi có bão và triều cường thì hệ thống giao thông bị ảnh hưởng nghiệm trọng.

    – Đối với công nghiệp và xây dựng: Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, phát triển nhanh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các khu công nghiệp khu vực ven biền là cơ sở kinh tế quan trọng của tỉnh đang và sẽ xây dựng nhằm khai thác tiềm năng, lợi tế kinh tế biển. BĐKH, nước biển dâng gây nguy cơ ngập lụt, khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy, hải sản.

    – Đối với nhà cửa và dân cư: BĐKH, nước biển dâng sẽ có chuyển dịch dòng di cư của nông dân ở các vùng ven biển lên các đô thị, gây ra hiện tượng quy hoạch đô thị bị phá vỡ, môi trường đô thị sẽ bị xấu đi do sự gia tăng cơ học về dân số.

    BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng sẽ ảnh hưởng tiềm tàng đến hệ thống quản lý tài nguyên nước hiện hữu. Tài nguyên nước chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một gia tăng, khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn và thành thị. Tác động của BĐKH, nước biển dâng đối với tỉnh Sóc Trăng sẽ rất nguy hại tới môi trường sinh thái và kinh tế – xã hội, cả trong giai đoạn ngắn hạn và dài hạn. BĐKH là một nguy cơ, rủi ro cần tính đến trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành và địa phương, hậu quả của BĐKH là thách thức nghiêm trọng đối với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững. Hiện nay chúng ta chưa đủ khả năng đối phó với các hiểm họa, nhưng để giảm nhẹ và thích ứng được với tác động của BĐKH thì mỗi tỉnh cần phải đầu tư nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của BĐKH đối với từng lĩnh vực, khu vực cụ thể tại địa phương mình quản lý để lập kế hoạch ứng phó và thích nghi với những tác động cấp bách trước mắt và tác động tiềm tàng lâu dài của BĐKH nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, phát triển kinh tế – xã hội theo hướng thích ứng với BĐKH.

    Theo kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học thì trong kế hoạch ứng phó với BĐKH của tỉnh cần phải kết hợp hài hòa cả giải pháp công trình và phi công trình. Giải pháp công trình là xây dựng hệ thống công trình thủy lợi nhằm kiểm soát số lượng và chất lượng nguồn nước vào, ra trong vùng, Giải pháp phi công trình nhằm dự báo giảm nhẹ thiệt hại do BĐKH, bao gồm dự báo ngắn hạn và dài hạn, giáo dục tuyên truyền, phát triển hệ thống thông tin hiện đại để thông báo kịp thời các vấn đề khẩn cấp cho người dân, điều chỉnh các khu dân cư, khu sản xuất cho phù hợp để giảm thiểu thiệt hại. Kết hợp hài hòa cả giải pháp công trình và phi công trình sẽ làm giảm vốn đầu tư và tăng hiệu quả quản lý, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

    Một số giải pháp công trình và phi công trình có thể áp dụng nhằm ứng phó với tác động do BĐKH, nước biển dâng gây ra:

    – Xây dựng mới và nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển.

    – Xây dựng các khu dân cư có đầy đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, cung cấp nước sạch và hệ thống vệ sinh môi trường phù hợp với phong tục tập quán và văn hóa của nhân dân.

    – Xây dựng chiến lược và chương trình hành động ứng phó với BĐKH cả giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, trên cơ sở chiến lược và chương trình hành động của ĐBSCL và của quốc gia.

    – Xây dựng quy hoạch thủy lợi chi tiết có xét đến tác động của BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng.

    – Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển, chú ý đến loại rừng thích hợp với điều kiện BĐKH trong tương lai để giảm thiểu tác động của BĐKH và bảo vệ môi trường sinh thái.

    – Đa dạng hóa phát triển nông nghiệp và thủy sản, thay đổi lịch thời vụ để thích ứng với BĐKH.

    – Xây dựng chương trình, kế hoạch thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước tại các ngành, các cấp. Đồng thời, nâng cao nhận thức của cộng đồng về sử dụng bền vững tài nguyên nước thích ứng với BĐKH.

    Giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH, nước biển dâng để tất cả cộng đồng dân cư và các cấp chính quyền ý thức được tầm quan trọng và cùng nổ lực hợp tác, đóng góp chung nhằm đưa ra các giải pháp thiết thực và hiệu quả nhất để ứng phó và giảm nhẹ tác động của BĐKH, nước biển dâng.

    – Bên cạnh đó, cần xem xét đến tác động tiềm tàng của BĐKH và các giải pháp ứng phó trong xây dựng, điều chỉnh và bổ sung các chiến lược, chương trình, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành và địa phương./.

    Nguồn tin: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Các Biện Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Năng Lượng Bền Vững: Thách Thức Và Cơ Hội Cho Doanh Nghiệp Việt
  • Giải Pháp Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Năng Lượng Bền Vững
  • Giải Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Thích Nghi Với Biến Đổi Khí Hậu Tại Vùng Đbscl
  • 5 Mẹo Nhỏ Giúp Tiết Kiệm Nước Sạch Hiệu Quả
  • 15 Mẹo Tiết Kiệm Nước Sinh Hoạt
  • 11 Cách Tiết Kiệm Nước Sinh Hoạt Bạn Nên Biết
  • Đề Tài Tăng Cường Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Đổi Mới Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Theo đó, các tỉnh trong vùng ĐBSCL đang đối mặt với tác động ngày càng nặng nề của BĐKH, đó là tình trạng nhiệt độ tăng cao, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra thường xuyên, triều cường và sạt lở bờ sông, bờ biển diễn biến phức tạp… Ở An Giang, từ năm 2021 đến nay đã xảy ra hơn 120 vụ sạt lở bờ sông nghiêm trọng làm mất đất đai, thiệt hại nhà cửa, cơ sở hạ tầng, đường giao thông ước tính lên đến hàng trăm tỷ đồng. Cùng với đó, tình trạng khô hạn, xâm nhập mặn diễn ra nhiều nơi, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân.

    Bí thư Tỉnh ủy Võ Thị Ánh Xuân kiểm tra công tác phòng, chống lụt bão

    Tại hội thảo, Giáo sư Toine Smits (Trường Đại học Radboud, Hà Lan) chia sẻ, nguyên tắc “kinh tế tuần hoàn” như là các tiêu chuẩn để thực hiện giải pháp phát triển bền vững, gồm: giảm lượng chất thải gây ô nhiễm, cải thiện môi trường sinh thái thông qua xây dựng các mô hình sản xuất không phát thải khí nhà kính; tái sử dụng các nguồn nguyên – vật liệu; tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên… Các chuyên gia còn đóng góp ý tưởng về các mô hình cụ thể cho An Giang, Đồng Tháp và ĐBSCL, liên kết với chiến lược quốc gia và khu vực, tập trung vào nông nghiệp và chuỗi giá trị, môi trường và quản lý tài nguyên nước.

    Theo đó, sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi bền vững giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho nông dân. Phương thức này đảm bảo cho các bên tham gia trong chuỗi giá trị chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm với nhau, điều tiết cung – cầu thị trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Tập trung xây dựng vùng sản xuất nông sản an toàn, ứng dụng quy trình sản xuất tốt và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp… để tạo ra sản phẩm sạch. Đồng thời, liên kết chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã… để đảm bảo sản xuất nông nghiệp hiện đại an toàn theo chuỗi giá trị, từ đó tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập của người dân.

    An Phú là huyện đầu nguồn ĐBSCL, thường xuyên bị ngập lũ vào mùa mưa

    Vấn đề bức xúc hiện nay là môi trường và plastic (ô nhiễm môi trường từ rác thải nhựa). Ước tính, mỗi người ở Việt Nam sử dụng khoảng 35kg bao bì nhựa/năm. Thói quen sử dụng 1 lần rồi bỏ các loại bao bì nhựa làm gia tăng khối lượng rác nhựa thải ra môi trường, gây tác hại lên hệ sinh thái. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, mỗi bao bì nhựa thải ra môi trường phải mất khoảng 400 năm mới bị tiêu hủy trong điều kiện tự nhiên. Bao bì nhựa gây tác hại ngay từ đầu bởi việc sản xuất cần sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ, khí đốt và các chất phụ gia chủ yếu như: chất hóa dẻo, phẩm màu, kim loại nặng… cực kỳ nguy hiểm đối với sức khỏe con người và môi trường sinh thái. Quá trình sản xuất bao bì nhựa còn tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, gia tăng BĐKH toàn cầu, nắng nóng gay gắt, nước biển dâng cao, gây bão lụt, khô hạn… Do đó, việc hạn chế sử dụng bao bì nhựa đang là vấn đề được đặt ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có ĐBSCL.

    Một vấn đề quan trọng nữa là quản lý tài nguyên nước trong điều kiện BĐKH hiện nay. Theo các chuyên gia, từ đầu thế kỷ XX, lượng nước tiêu thụ toàn cầu tăng 7 lần, chủ yếu do sự gia tăng dân số và nhu cầu về nước của mỗi người. Do sự biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa, hiện nay nhiều nơi đã thường xuyên không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu. Do đó, trong thế kỷ XXI, thiếu nước sẽ là một vấn đề nghiêm trọng nhất, đe dọa quá trình phát triển bền vững… Do đó, việc quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên nước sẽ là vấn đề sống còn và góp phần phát triển kinh tế bền vững.

    Các chuyên gia còn giới thiệu mô hình thí nghiệm thực tế thực hiện phương pháp tiếp cận liên ngành và huy động sự tham gia của các bên (chính quyền, chuyên gia, doanh nghiệp và cộng đồng) để thực hiện hiệu quả việc ứng phó BĐKH và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong đó giải pháp sáng tạo là ứng dụng “kinh tế tuần hoàn” trong quản lý, sử dụng nguyên – vật liệu, tài nguyên thiên nhiên để giảm phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường. Tái chế và sử dụng tuần hoàn các nguồn nguyên – vật liệu, tái sinh các nguồn tài nguyên tự nhiên (đất, nước, biển, rừng) và triển khai các giải pháp phát triển bền vững.

    Bài, ảnh: HỮU HUYNH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Năng Lượng Bền Vững: Thách Thức Và Cơ Hội Cho Doanh Nghiệp Việt
  • Giải Pháp Phát Triển Năng Lượng Bền Vững Tại Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Năng Lượng Bền Vững
  • Thúc Đẩy Sử Dụng Các Giải Pháp Năng Lượng Bền Vững Tại Địa Phương
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50