Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Phụ Nữ Ở Việt Nam Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới: Cần Thêm Giải Pháp, Cơ Hội Cho Phụ Nữ, Trẻ Em Gái
  • Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam, Thành Tựu Và Thách Thức Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bảo Tồn Di Sản Ở Ninh Bình
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Các Di Sản Văn Hóa Gắn Liền Với Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Thứ tư, 24 Tháng 7 2022 10:12

    (LLCT) – Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, bên cạnh những thành tựu, Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế nên cần phải có quan điểm và thực hiện đồng bộ 6 giải pháp cơ bản: nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật; tăng cường vai trò của cả hệ thống chính trị; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật; tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực để bảo đảm bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ; động viên bản thân người phụ nữ phải nỗ lực vươn lên, vượt qua rào cản để tiếp cận và hưởng thụ quyền.

    1. Một vài nét thực trạng về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ hiện nay

    Thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại trong đó có Việt Nam. Các nước Bắc Âu có nhiều thành tựu nổi bật trong bảo đảm quyền của phụ nữ; các nước trong khối ASEAN cũng đã có nhiều nỗ lực nhưng cũng còn có quá nhiều rào cản đối với sự tiếp cận và hưởng thụ quyền của phụ nữ. Điều đó cho thấy, cuộc đấu tranh trên phạm vi toàn cầu vì bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ vẫn còn lâu dài.

    Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bảo đảm quyền của phụ nữ, được quốc tế và khu vực ghi nhận. Nhờ đó, phụ nữ Việt Nam đã có nhiều cơ hội để tiếp cận quyền, cống hiến và hưởng thụ. Tuy nhiên, dưới góc độ quyền con người, Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong bảo đảm quyền của phụ nữ như: hạn chế trong thể chế bảo đảm quyền, trong sự vận hành của thiết chế bảo đảm quyền; hạn chế do rào cản từ chính phụ nữ chưa vượt qua chính mình; hạn chế trong thực tiễn bảo đảm quyền của phụ nữ. Tư tưởng trọng nam, khinh nữ còn dai dẳng là nguyên nhân dẫn đến sự phân biệt đối xử với phụ nữ; bất bình đẳng trong tuổi nghỉ hưu, tạo rào cản cho phụ nữ tiếp cận quyền tham chính nên tỷ lệ phụ nữ tham chính thấp; hạn chế trong tiếp cận việc làm nên tỷ lệ phụ nữ thất nghiệp còn cao; hạn chế trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên còn tỷ suất tử vong mẹ còn cao so với một số nước trong khu vực; quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình chưa được bảo đảm tốt, dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ; hạn chế trong hưởng thụ các quyền an sinh xã hội; hạn chế trong tiếp cận quyền văn hóa, xã hội; đặc biệt là chưa quan tâm đúng mức đến bảo đảm quyền của phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số…

    Thực tế cho thấy: tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2022 – 2022 ở cấp xã chỉ đạt 19,69%; cấp huyện chỉ đạt 14,3%; cấp tỉnh chỉ đạt 13,3%(1). Nữ đại biểu Quốc hội Khóa XIV đạt 133 người (tỷ lệ 26,80%)(2) nhưng vẫn còn cách khá xa so với mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra. Trong tổng số 10 cơ quan của Quốc hội, chỉ có 1 cơ quan có tỷ lệ lãnh đạo chủ chốt là nữ chiếm 60%. Chỉ có 13,7% nữ đại biểu tham gia giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan của Quốc hội và chủ yếu tập trung vào các cơ quan văn hóa – xã hội, thiếu vắng phụ nữ trong các cơ quan Quốc hội về kinh tế, đối ngoại, tài chính, pháp luật(3)… Tỷ lệ phụ nữ tham gia đại biểu HĐND cấp xã đạt 26,59%; cấp huyện đạt 27,85%; cấp tỉnh đạt 26,54%; nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý cấp xã dưới 5%, trong đó phần lớn là các tỉnh, thành phố phía Bắc(4).

    Tỷ lệ hộ gia đình có nam giới là chủ sở hữu quyền sử dụng đất duy nhất là 74,2% trong khi đó ở vùng nông thôn đồng bằng là 40,6%. Trong khi 36% giấy chứng nhận sử dụng đất của người Kinh có tên cả vợ và chồng thì con số này ở người dân tộc thiểu số chỉ là 21%(5).

    Theo số liệu tổng hợp của 51/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy chỉ tính riêng năm 2022, số vụ bạo lực gia đình có nạn nhân là phụ nữ là 9733 vụ(6). Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh – hệ lụy của nạn phân biệt đối xử đáng báo động ở Việt Nam khi năm 2022, tỷ số giới tính khi sinh tại nước ta là 112,8/100 đến năm 2022, tỷ lệ này đã tới 113,4/100(7).

    Từ thực trạng trên cho thấy, cần phải có quan điểm, giải pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới để trao quyền cho phụ nữ.

    2. Quan điểm và giải pháp thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

    Một là, toàn xã hội cần nhận thức rõ bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ Việt Nam là yêu cầu khách quan của sự phát triển đất nước. Nó cũng xuất phát từ yêu cầu thực hiện trách nhiệm của quốc gia thành viên Liên Hợp quốc trước cộng đồng quốc tế và khu vực. Nó cũng là một nội dung của việc đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ vào thực tiễn đời sống.

    Hai là, cần quán triệt 5 quan điểm cơ bản là: i) Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ phải trên cơ sở nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ; ii) Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là nhằm phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nâng cao địa vị của phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực; iii) Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ phải gắn với xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; iv) Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ chỉ có thể thành công khi gắn liền với việc kiên quyết chống lại tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, phân biệt đối xử đối với phụ nữ; v) Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ đòi hỏi phải phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình trong bảo đảm quyền của phụ nữ.

    Ba là, Việt Nam chỉ có thể đạt được mục tiêu bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ khi thực hiện đồng bộ 6 giải pháp cơ bản sau đây:

    – Thúc đẩy hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp lãnh đạo, xã hội, gia đình và phụ nữ về quyền của phụ nữ, trong đó chú trọng thường xuyên mở các lớp đào tạo về giới, bình đẳng giới và quyền cho các đối tượng là cán bộ lãnh đạo nữ của các ban ngành, đoàn thể, cán bộ Hội phụ nữ các cấp và nhân dân. Tiếp tục lồng ghép vấn đề giới và bình đẳng giới, quyền của phụ nữ vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trung, cao cấp trong hệ thống các trường Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); cán bộ cấp cơ sở (các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các bộ, ban ngành); trường đào tạo cán bộ trong ngành Công an và Tư pháp; trường đào tạo cán bộ ngành báo chí, truyền thông… Đặc biệt, phải chú trọng lồng ghép vấn đề bình đẳng giới với những đảm bảo mang tính đặc thù về quyền của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế – xã hội của địa phương trong các đợt tập huấn cho cán bộ địa phương, góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giúp họ có khả năng lồng ghép các chính sách về giới vào các chương trình kinh tế – xã hội ở địa phương có hiệu quả hơn.

    – Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị về bảo đảm bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, tạo sự vận hành đồng bộ của các thiết chế từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

    – Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, từ đó hạn chế tình trạng vi phạm quyền của phụ nữ. Đây được coi là giải pháp quan trọng góp phần ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đồng thời, thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền có thể xác định được tính khả thi, tính hợp lý của chủ trương, nghị quyết của Đảng, cơ chế, chính sách của Nhà nước để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.

    – Bản thân người phụ nữ phải nỗ lực vươn lên, vượt qua rào cản để tiếp cận và hưởng thụ quyền. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, phụ nữ Việt Nam có nhiều cơ hội và cũng gặp nhiều thách thức để có thể khẳng định và phát huy vai trò của mình. Do đó, bản thân phụ nữ trước hết phải ý thức được đầy đủ vai trò về giới của mình mới có thể nắm bắt được những cơ hội, cùng với xã hội, hướng tới cách ứng xử bình đẳng giới.

    Để làm được điều đó, phụ nữ cần rèn luyện đức tính tự tin để có bản lĩnh vượt qua định kiến giới và hướng đến mục tiêu tự khẳng định mình. Phụ nữ phải thể hiện mình thật sự có vai trò trong cuộc sống gia đình và ngoài xã hội; tự đào tạo, bồi dưỡng để bù đắp những thiếu hụt của bản thân, để đảm bảo điều kiện cần và đủ sẵn sàng nhận giữ trọng trách mới. Phụ nữ phải có sự tôn vinh lẫn nhau, tránh tình trạng níu kéo nhau giữa cán bộ nữ và xem thái độ ứng xử ấy như một cách khẳng định phẩm chất lãnh đạo của mình. Nhất thiết không thể ỉ lại mình là phụ nữ để an phận, thủ thường, cho phép bằng lòng với hiện tại. Kể cả phụ nữ trí thức phải vượt qua được tâm lý an phận, khi đã đạt được trình độ nhất định thì tự thỏa mãn, không tiếp tục phấn đấu học hỏi. Tức là nữ trí thức phải luôn có ý thức cầu tiến, độc lập trong tư duy; sống có mục đích và lý tưởng.

    Phụ nữ phải phấn đấu học hỏi, chú trọng rèn luyện kỹ năng sống, tự tin, sáng tạo, quyết đoán, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản thân và gia đình.

    Thế kỷ XXI đã và đang đề cao vai trò của người phụ nữ, điều đó đòi hỏi phụ nữ phải không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao vai trò và sự đề cao của xã hội. Hiện nay, phụ nữ tham gia hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng phụ nữ cũng không được phép lãng quên trách nhiệm phải làm tròn vai trò của người mẹ, người vợ trong gia đình. Mỗi phụ nữ phải luôn có ý thức trau dồi tứ đức Công – Dung – Ngôn – Hạnh. Phải làm tròn vai trò làm mẹ, có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con khôn lớn trưởng thành. Phụ nữ còn là người thầy đầu tiên của con, đối xử bình đẳng, công bằng đối với các con.

    Thực tế đã minh chứng, nếu phụ nữ nỗ lực đạt được nhiều thành công trong cuộc sống, sự nghiệp thì chính họ đã trở thành nguồn cổ vũ, động viên to lớn cho các chị em gái, con gái họ trong gia đình và cho các đồng nghiệp nữ trong cơ quan, đoàn thể để họ vững tâm, tự tin phấn đấu vươn lên.

    Dù Đảng, Nhà nước, xã hội và gia đình có nỗ lực bao nhiêu mà bản thân người phụ nữ không có chí hướng và quyết tâm phấn đấu rèn luyện thì họ không thể vượt lên chính mình, không thể vượt qua những rào cản để tự tin tiếp cận và hưởng thụ quyền của mình trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Và như vậy, trong gia đình họ luôn sống với vị trí thấp kém vì phụ thuộc người chồng về mọi mặt, không thể là tấm gương cho con gái. Ngoài xã hội, họ cam chịu thua thiệt, không phấn đấu nên không đủ tiêu chí để tiếp cận các vị trí công tác tốt và có thu nhập cao; không có tiếng nói để bảo vệ đồng nghiệp nữ và bảo vệ chính mình; đồng thời khó có thể đóng góp nhiều cho sự nghiệp bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ; càng không thể đóng góp nhiều cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay.

    (1) Chính phủ (2015): Báo cáo quốc gia kết quả 15 năm thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam.

    (2) Hội đồng bầu cử: Báo cáo tóm tắt Tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2022-2021, Hà Nội, 2022.

    (3) Đại biểu Quốc hội các khóa, http://dbqh.na.gov.vn.

    (4), (6) Chính Phủ (2017): Báo cáo việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2022.

    (5) “Thực hiện bình đẳng giới tại Việt Nam – Những bước tiến ngoạn mục”, http://genic.molisa.gov.vn.

    (7) “Bất bình đẳng giới còn nặng nề”, http://www.hoinongdan.org.vn

    PGS, TS Nguyễn Thị Báo

    Viện Nhà nước và Pháp luật,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Hiện Nay
  • 9 Giải Pháp Trọng Tâm Về Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Bóng Đá Việt: Nhìn Thẳng Thực Trạng Để Tìm Giải Pháp
  • Bóng Đá Việt Nam Năm 2022: 7 Mục Tiêu, 5 Giải Pháp Để Nâng Tầm Chất Lượng
  • Bạo Lực Gia Đình: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam, Thành Tựu Và Thách Thức Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bảo Tồn Di Sản Ở Ninh Bình
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Các Di Sản Văn Hóa Gắn Liền Với Phát Triển Du Lịch Ở Việt Nam
  • Trách Nhiệm Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

    Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì: ” Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”

    Có thể nói, mục tiêu bình đẳng giới hiện là mối lưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Ngay từ thời điểm năm 1955, Liên hợp quốc đã thống nhất quan điểm và thông qua Chương trình hành động giới, lồng ghép giới tại Hội nghị quốc tế về phụ nữ, lần thứ tư tại Bắc Kinh (Trung Quốc); vào năm 1979 tiếp tục thông qua Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ và mục tiêu thiên niên kỷ thứ ba cũng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã quyết định đặt ra nhiều ngày lễ quốc tế, nhiều sự kiện trọng đại vì mục tiêu bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Điều này cho thấy sự ưu tiên đặc biệt của cộng đồng quốc tế về vấn đề bình đẳng giới.

    Việt Nam là một trong những quốc gia sớm dành cho công tác bình đẳng giới những ưu tiên nhất định. Cụ thể, trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946, tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di chúc, Người cũng trăn trở về vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Và vấn đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành các chương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2022 – 2022, Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2022… để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính trong gia đình của họ.

      2. Bình đẳng giới ở Việt Nam, thành tựu và thách thức

    2.1. Bức tranh có nhiều “gam màu” sáng

    Để hiện thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều dự án đã triển khai thiết lập các mô hình góp phần thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới như: phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng rất thành công ở Huế, Hải Phòng, Ninh Bình… Điển hình như ở Đà Nẵng, việc ra đời và duy trì các câu lạc bộ “cha mẹ học sinh phòng, chống bạo lực gia đình” tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu và “nam giới tiên phong trong phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em” tại xã Hòa Phong, Hòa Khương thuộc huyện Hòa Vang đã thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân.Trên cơ sở đó, phải nói rằng không có nhiều quốc gia mà hoạt động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể ở từng tỉnh, thành, địa phương và đạt được nhiều thành tựu như ở Việt Nam.

    Về chính trị, nữ giới Việt Nam có tổ chức chính trị riêng, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và tỷ lệ nữ giới đại diện trong cơ quan lập pháp của Việt Nam luôn thuộc nhóm có thứ hạng cao nhất trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung và tỷ lệ này ngày càng tăng. Điển hình, quán triệt tinh thần Đại hội XII của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”

    Bên cạnh thực hiện bình đẳng giới trên lĩnh vực chính trị thì bình đẳng giới trong lao động cũng đạt được nhiều kết quả khả quan. Cụ thể, năm 2022, tỷ lệ nữ giới tham gia lao động chiếm 48,4% lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Và với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lên đến 73% trong tổng số phụ nữ trong độ tuổi lao động, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam hiện đang đi làm nhiều hơn hẳn so với phần lớn các quốc gia khác trên thế giới. Tỷ lệ này cũng cao hơn mức trung bình thế giới (49%), cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương (59%) và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (39%). Đảng cộng sản Việt Nam, Văn khiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2022, tr. 163

    Báo cáo tổng quan về lao động nữ tại Việt Nam: Phụ nữ, việc làm và tiền lương do Mạng lưới Hành động vì lao động di cư (Mnet) thực hiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới: Cần Thêm Giải Pháp, Cơ Hội Cho Phụ Nữ, Trẻ Em Gái
  • Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Phụ Nữ Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Hiện Nay
  • 9 Giải Pháp Trọng Tâm Về Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Bóng Đá Việt: Nhìn Thẳng Thực Trạng Để Tìm Giải Pháp
  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Việt Nam Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện Bất Bình Đẳng Và Đảm Bảo Phẩm Giá Con Người
  • Bài viết phân tích thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2022 để có cái nhìn khái quát nhất về tình trạng chênh lệch giàu – nghèo tại Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm hạn chế tình trạng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam.

    Từ khóa: Bất bình đẳng thu nhập, chênh lệch giàu – nghèo, Việt Nam.

    1. Đặt vấn đề

    Bất bình đẳng thu nhập ( khoảng cách giàu nghèo) là chênh lệch thu nhập và tài sản giữa các cá nhân, nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế .

    Vì vậy, bài viết phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2022, nhằm hạn chế bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam

    Mức độ bất bình đẳng thu nhập của quốc gia hiện nay dựa trên các thước đo như hệ số GINI, hệ số chênh lệch giàu nghèo,… Thông qua hệ số GINI của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2022 cho thấy, bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam biến động không nhiều, nằm trong khoảng 0,424 đến 0,436; trong đó khu vực thành thị có xu hướng giảm, khu vực nông thôn có xu hướng tăng và luôn cao hơn ở thành thị.

    Bảng 1. Bất bình đẳng thu nhập thông qua hệ số GINI tại Việt Nam giai đoạn 2006-2018 Nguồn: Tổng cục Thống kê

    Số liệu Bảng 1 cho thấy, trước năm 2010, hệ số GINI ở thành thị cao hơn ở nông thôn, sau năm 2010 hệ số GINI ở nông thôn cao hơn ở thành thị, cho thấy xu hướng bất bình đẳng thu nhập ở khu vực thành thị có xu hướng giảm còn ở nông thôn có xu hướng tăng. Theo báo cáo “Wealth Distribution and Income Inequality by Country 2022”, hệ số GINI của Việt Nam là 0,424 ở mức trung bình so với các quốc gia khác trong khu vực. Theo Cornia và Court (2001), hệ số GINI trong khoảng 0,30 – 0,45 là nằm trong ngưỡng an toàn và hiệu quả, phù hợp cho tăng trưởng cao. Theo đó, có thể khẳng định bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong phạm vi an toàn, nhưng trong dài hạn có xu hướng tăng lên nếu Việt Nam không có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này.

    Biểu đồ 1: Hệ số GINI của các vùng kinh tế giai đoạn 2006 -2018 Nguồn: Tổng cục Thống kê

    Biểu đồ 1 cho thấy hệ số GINI tại các vùng kinh tế có những biến động tăng giảm ở các năm khác nhau, nhưng đều có xu hướng giảm dần. So với các khu vực khác, Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế phát triển có tốc độ phát triển cao nhất so với các khu vực còn lại, hệ số GINI có tốc độ giảm mạnh nhất so với các khu vực khác, khoảng cách về bất bình đẳng thu nhập ở khu này ngày càng được thu hẹp.

    Mức độ bất bình đẳng thu nhập còn được thể hiện thu nhập của các nhóm và chênh lệch giữa thu nhập của nhóm 1 và nhóm 5.

    Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2022 Đơn vị: Nghìn đồng Ghi chú: (1) Khoảng cách thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1; (2) Số lần chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 (giàu nhất) và nhóm 1 (nghèo nhất) Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Bảng 2 cho thấy, thu nhập bình quân/tháng ở cả 5 nhóm thu nhập đều tăng qua các năm, trong đó thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2022 gấp 3,78 lần so với năm 2008. Năm 2008, thu nhập nhóm 5 gấp 8,9 lần so với nhóm 1. Tuy nhiên đến năm 2022 thu nhập nhóm 5 gấp 9,86 lần so với nhóm 1 cho thấy khoảng cách thu nhập giữa các nhóm ngày càng xa, bất bình đẳng thu nhập giai đoạn này có xu hướng gia tăng khá nhanh, chứng tỏ Việt Nam đang dần trở thành nước có chênh lệch giàu nghèo cao. So sánh thu nhập năm 2022 và 2008 cho thấy, nhóm 1 là nhóm có mức độ tăng thu nhập chậm nhất (tăng 3,38 lần) so với các nhóm còn lại. Tốc độ tăng trưởng ở nhóm 1 vẫn thấp hơn nhóm 5 đã khiến cho khoảng cách thu nhập trong xã hội gia tăng. Sự chênh lệch tuyệt đối về thu nhập giữa những người giàu nhất và những người nghèo nhất đang là một thách thức của mục tiêu phát triển theo hướng đảm bảo công bằng xã hội.

    Bảng 3. Thu nhập bình quân/người/tháng khu vực thành thị và nông thôn phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2022 Đơn vị: Nghìn đồng Ghi chú: (1) Khoảng cách nhóm 5 và nhóm 1; (2) Số lần chênh lệch giữa nhóm 5 và nhóm 1 Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Số liệu Bảng 3 cho thấy, thu nhập ở cả thành thị và nông thôn đều có xu hướng tăng, hệ số chênh lệch giữa hai khu vực này đang có xu hướng giảm xuống.

    Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 ở thành thị thấp nhất là 7,41 lần và cao nhất là 8,28 lần và có xu hướng ngày càng giảm; ở khu vực nông thôn thấp nhất là 6,91 lần và cao nhất là 9 lần và sự chênh lệch này có xu hướng tăng lên. Ở khu vực nông thôn, khi kinh tế ngày càng phát triển, sự thay đổi về cơ cấu lao động trong các ngành nghề ở khu vực này ngày càng lớn dẫn đến khoảng cách thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 ngày càng lớn. Số lần chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 ở khu vực thành thị có xu hướng giảm, ở nông thôn có xu hướng tăng, cho thấy mức bất bình đẳng thu nhập trong khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị khi nền kinh tế phát triển.

    Bảng 4. Tỷ lệ hộ nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2006 -2018 của Việt Nam Đơn vị tính: % Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Số liệu Bảng 4 cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua các năm. Năm 2006 cả nước có 15,5% số hộ nghèo, đến 2022 giảm xuống còn 5,35%. Khu vực thành thị có tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hơn khu vực nông thôn, chứng tỏ bất bình đẳng thu nhập giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị khá lớn.

    3. Ảnh hưởng của dịch bệnh đến cơ hội việc làm của người lao động hiện nay

    Theo Tổng cục Thống kê, do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19, so sánh quý I/2020 với quý I/2019 thì số doanh nghiệp thành lập mới giảm, số doanh nghiệp xin tạm dừng hoạt động, giải thể tăng lên; các doanh nghiệp đang hoạt động gặp nhiều khó khăn chiếm khoảng 84,8% doanh nghiệp, có gần 67% doanh nghiệp đã thực hiện số giải pháp về lao động, như: cắt giảm lao động, cho lao động giãn việc, nghỉ luân phiên, nghỉ không lương, giảm lương.

    Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2020 là gần 1,1 triệu người, tăng 26,1 nghìn người so với quý trước và tăng 26,8 nghìn người so với quý I/2019. Tính đến tháng 4/2020, gần 5 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Lao động trong các doanh nghiệp và hợp tác xã tạm nghỉ việc chiếm gần 59%; lao động bị giãn việc hoặc nghỉ luân phiên chiếm gần 28% và lao động bị mất việc chiếm gần 13%. Trong đó, lao động tạm nghỉ việc trong ngành Vận tải kho bãi và ngành Giáo dục và đào tạo chiếm cao nhất, chiếm trên 70% tổng số lao động của ngành. Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ ăn uống có tỷ trọng lao động bị mất việc, bỏ việc cao nhất trong tổng số lao động bị ảnh hưởng so với các ngành khác, chiếm gần 20% tại mỗi ngành.

    4. Khuyến nghị nhằm hạn chế bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam

    Bất bình đẳng thu nhập sẽ dẫn đến bất bình đẳng xã hội, gây ra các vấn đề như tỷ lệ thất nghiệp tăng, tỷ lệ tội phạm tăng, năng suất lao động bình quân giảm, do đó, đây là vấn đề cần giải quyết của nhiều quốc gia. Trong bối cảnh các nước phải xử lý những hậu quả của đại dịch Covid 19, Việt Nam cũng cần có những biện pháp để khắc phục những khó khăn hiện nay, giảm bớt thiệt hại về thu nhập cho người lao động.

    Về phía Chính phủ: đã ban hành nhiều chính sách giúp ngăn ngừa, kiểm soát bệnh dịch, hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động tháo gỡ khó khăn, đảm bảo an sinh xã hội, đưa ra các gói hỗ trợ để giúp cho những người lao động có thêm thu nhập trong giai đoạn bị nghỉ việc, giãn việc do dịch bệnh Covid 19. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ, tích cực giữa các Bộ, ngành, các địa phương nhằm thúc đẩy nhanh các thủ tục hướng dẫn, cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo các gói hỗ trợ được triển khai kịp thời, đến đúng đối tượng.

    Về phía các doanh nghiệp: cần phải nghiên cứu đổi mới, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh; tìm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào, nghiên cứu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ngoài các thị trường truyền thống; sử dụng công nghệ thông tin để dan dạng hóa từ kinh doanh trực tiếp đến kinh doanh trực tuyến; tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng.

    Về phía người lao động: cần nỗ lực nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tự trang bị các kỹ năng mềm để đảm bảo khả năng thích nghi với sự thay đổi không ngừng của thị trường lao động. Người lao động cũng nên hiểu và chia sẻ với doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn này. Trong quá trình thực hiện triển khai các gói hỗ trợ của Chính phủ, người lao động cần thực hiện nghiêm túc, khai báo trung thực theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo các hỗ trợ đến được đúng và đủ đối tượng.

    Trong dài hạn, Chính phủ cần thực hiện giảm bất bình đẳng thu nhập qua việc giúp người dân ở các khu vực tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong khi khoảng cách giàu nghèo ở khu vực thành thị đang có xu hướng giảm dần, thì ở khu vực nông thôn lại đang tăng. Đặc biệt, có chênh lệch cao về thu nhập giữa các vùng, miền có khó khăn về điều kiện tự nhiên, hạ tầng cơ sở, trình độ dân trí, trình độ sản xuất,… với các khu vực khác đã ảnh hưởng đến kết quả phát triển kinh tế – xã hội và chất lượng cuộc sống của người dân. Người lao động là dân tộc thiểu số, hoặc có trình độ học vấn thấp, không được đào tạo, ít có cơ hội hưởng lợi hơn các so với các lao động có trình độ học vấn cao cùng là một nguyên nhân của bất bình đẳng thu nhập. Do đó, Chính phủ cần có chính sách ưu tiên, đầu tư cho giáo dục ở vùng khó khăn; cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính cho hộ gia đình nghèo, giảm bớt các chi phí cho giáo dục để đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục cho người lao động nghèo, miễn hoặc giảm học phí cho các khu vực khó khăn, thực hiện cải cách giáo dục nhằm cân bằng cơ hội và phát triển kỹ năng cho người lao động là vô cùng quan trọng.

    Chính phủ cần xây dựng được một chiến lược tăng đầu tư vào nguồn lực con người và khuyến khích tạo việc làm, khuyến khích hình thành một tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội; thiết kế hệ thống thuế sao cho không triệt tiêu động lực làm giàu của những người giàu; tăng đầu tư công vào những khu vực kém phát triển; đồng thời, nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công cũng như cải thiện chất lượng các dịch vụ công, để các kết quả đầu tư đến với người dân, đặc biệt là nhóm người dân nghèo.

    Về chính sách hỗ trợ y tế: Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo và học sinh, sinh viên; hỗ trợ cho việc khám, chữa bệnh cho các vùng kinh tế khó khăn.

    Để giải quyết bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, Chính phủ cần xây dựng được một chiến lược tăng trưởng kinh tế mới cùng với các chính sách phân phối thu nhập thích hợp, tập trung vào cải cách thể chế pháp luật, thị trường cạnh tranh, công bằng và mở, tạo “sân chơi” bình đẳng cho cả các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ; đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư dựa trên cơ sở phát triển các loại hình kinh tế, khuyến khích người dân làm giàu và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp của các nguồn lực.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Cornia and Court (2001). Inequality, Growth and Poverty in the Era of Liberlization and Globalization. Helsinki, Finland: World Institute for Development Economics Research, United Nations University.
    2. Luca Venta (2019). Wealth Distribution and Income Inequality by Country 2022 Global Finance Magazine.
    3. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của các tỉnh giai đoạn 2006 – 2022.
    4. Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê.
    5. Tổng cục Thống kê (2018), Niên giám thống kê 2007 – 2022.

    THE INCOME INEQUALITY IN VIETNAM: THE CURRENT STATE AND RECOMMENDATIONS

    * Ph.D NGUYEN THI THAI HUNG

    Faculty of Banking, Banking Academy

    ABSTRACT:

    This paper analyzes the current state of income inequality in Vietnam from 2006 to 2022 in order to get an overview on the current rich – poor gap in Vietnam, thereby making recommendations to curb the country’s income inequality.

    Keywords: Income inequality, rich – poor gap, Vietnam.

    [Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 10, tháng 5 năm 2022]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam
  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Kinh Tế Xã Hội
  • Xử Lý Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Nhằm Kiềm Chế Lạm Phát Hiện Nay
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Bình Đẳng Giới Trong Pháp Luật Hôn Nhân
  • Dap An Bai Thi Ha Tinh Voi Binh Dang Gioi
  • Don Xin Mai Am Cong Doan Bai Du Thi Binh Dang Gioi Phuong Doc
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Kinh Tế, Chính Trị Và Lao Động
  • Ngày đăng: 16/01/2020 04:43

    1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

    Quan điểm “nam – nữ bình quyền” đã được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Quan điểm của Đảng ta về phụ nữ tham chính cũng được thể hiện rõ qua các văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ nữ của qua các thời kỳ. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nhấn mạnh: xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng.

    Việt Nam đã cam kết thúc đẩy sự tham gia và đại diện của phụ nữ trong lĩnh vực tham chính thông qua việc phê chuẩn các công ước quốc tế quan trọng, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá; Công ước về quyền chính trị và dân sự năm 1982; Công ước cơ bản của ILO về bình đẳng; Tuyên bố Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995)… là sự khẳng định nâng cao quyền năng cho phụ nữ, thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả tham gia vào quá trình ra quyết định và tiếp cận quyền lực.

    Quán triệt quan điểm của Đảng, nguyên tắc bình đẳng nam nữ được thể chế hóa trong Hiến pháp và hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho phụ nữ tham gia chính trị. Hiến pháp năm 2013 đã có quy định về bình đẳng giới và không phân biệt đối xử trong lĩnh vực chính trị. Luật Bình đẳng giới và Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2022, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2022-2020 đã được ban hành. Các cơ quan, tổ chức hoạt động về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của nữ giới đang từng bước được hoàn thiện.

    Các chỉ tiêu về sự tham gia của phụ nữ được đặt ra khá chi tiết ở các cấp khác nhau trong Đảng, trong các tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị hành chính. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị nêu rõ: “Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm; phấn đấu đến năm 2022, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ”(1). Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 cũng chỉ ra mục tiêu cần đạt được: “Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2022 – 2022 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2022 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2022 – 2022 trên 35%; phấn đấu đến năm 2022 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động”(2).

    Về cơ chế bầu cử, cơ chế giám sát để đảm bảo cơ hội tham chính của phụ nữ, so với quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 và Điều 14 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 thì Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2022 quy định số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải bảo đảm có ít nhất là 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử là phụ nữ(3). Đây là điểm mới và lần đầu tiên được triển khai thực hiện tại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2022-2021. Như vậy, sau hiệp thương lần thứ ba, Hội đồng bầu cử quốc gia và Ủy ban bầu cử các cấp chỉ cần lập danh sách chính thức những người ứng cử đảm bảo đủ số phiếu tối thiểu 35% trong tổng số người ứng cử là phụ nữ là đáp ứng yêu cầu và không trái với quy định của pháp luật, còn tỷ lệ thực tế số lượng số lượng phụ nữ trúng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là bao nhiêu thì Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân không điều chỉnh mà phụ thuộc vào quyền lựa chọn của cử tri, chất lượng người ứng cử và một số yếu tố khác.

    Mặt khác, để đảm bảo sự đa dạng về tính đại diện, Việt Nam đang thực hiện cơ chế “cơ cấu” với các tiêu chí về dân tộc thiểu số, người trẻ tuổi, các ứng viên ngoài Đảng, người tự ứng cử và phụ nữ. Trên thực tế, các tiêu chí này thường được áp dụng cùng lúc và phụ nữ thường là người được lựa chọn để đáp ứng 2-3 chỉ tiêu (ví dụ như các yếu tố dân tộc, phụ nữ, trẻ tuổi).

    2. Thực tiễn tham gia lĩnh vực chính trị của phụ nữ Việt Nam

    Báo cáo sơ kết việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2022 đã cho thấy, các chức danh lãnh đạo chủ chốt trong Đảng, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân từ cấp trung ương đến địa phương chủ yếu do nam giới đảm nhiệm. Trong đội ngũ lãnh đạo, phụ nữ thường chỉ giữ vai trò cấp phó. Điều đó dẫn đến hạn chế quyền quyết định của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị.

    Trong hệ thống tổ chức đảng: trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011-2016), Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới cho thấy: ở cấp đảng bộ, chi bộ cơ sở, tỷ lệ nữ cấp ủy viên chiếm 19,69%; ở đảng bộ cấp huyện và tương đương, tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 14,3%; tỷ lệ nữ là đảng ủy viên ở cấp đảng bộ trực thuộc Trung ương chiếm 13,3%. Trong 03 nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng vừa qua, tỷ lệ nữ giới tham gia ban chấp hành các cấp tuy có tăng nhưng chưa đạt tỷ lệ 25% đề ra trong Nghị quyết số 11-NQ/TW và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2022(4).

    Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị đã đề ra mục tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ không dưới 15% và cần có cán bộ nữ trong ban thường vụ cấp ủy. Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia cấp ủy ở một số đảng bộ nhiệm kỳ 2022-2020 vẫn chưa đạt yêu cầu. Chỉ có 21 đảng bộ trong số 63 đảng bộ có tỷ lệ cấp ủy viên nữ đạt trên 15%(5).

    Tỷ lệ nữ giới tham gia ban chấp hành ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã thấp. Tỷ lệ nữ trong ban thường vụ và tỷ lệ nữ giữ chức vụ bí thư còn thấp hơn rất nhiều. Trong các nhiệm kỳ vừa qua, tỷ lệ nữ tham gia ban thường vụ chỉ khoảng 7-8% ở cấp tỉnh, cấp huyện và khoảng 6% ở cấp xã. Nhiệm kỳ 2022-2020, tỷ lệ nữ giữ vị trí Bí thư Tỉnh ủy khoảng 5%. Chỉ có 03 tỉnh có Bí thư Tỉnh ủy là nữ gồm: Ninh Bình, An Giang, Vĩnh Phúc. Nhìn chung, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy ở các cấp chưa tương xứng với tỷ lệ nữ đảng viên hiện nay(6).

    Trong các cơ quan dân cử: Nghị quyết số 11-NQ/TW đưa ra chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2022, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và nữ đại biểu Quốc hội đạt 35-40%. Tuy nhiên trên thực tế, tỷ lệ đó còn rất hạn chế: tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 26,72%; tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2022-2021 đạt 26,54%; tỷ lệ nữ chủ tịch Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp dao động trong khoảng 6%. Tỷ lệ nữ giới giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh, huyện khoảng 20%. Tỷ lệ này ở cấp xã thấp hơn (khoảng 14%). Mặc dù tỷ lệ phụ nữ là chủ tịch/phó chủ tịch các cơ quan dân cử có xu hướng tăng lên nhưng không mang tính ổn định và chưa tương xứng với tỷ lệ nữ giới.

    Trong bộ máy hành chính nhà nước: tính đến tháng 8/2017, có 12/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt, đạt tỷ lệ 40% (giảm 7% so với năm 2022).

    Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ có 01/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nữ Chủ tịch Ủy ban nhân dân (chiếm 1,59%), 31/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nữ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Lãnh đạo nữ trưởng ngành cấp tỉnh cũng chỉ đạt 10,5%. Ở cấp huyện, nữ chủ tịch Ủy ban nhân dân là 3,02%; phó chủ tịch Ủy ban nhân dân là 14,48%; lãnh đạo nữ là trưởng ngành đạt 13,9%. Ở cấp xã, tỷ lệ nữ chủ tịch Ủy ban nhân dân là 3,42%, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân là 8,84%(7). Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tính đến tháng 12/2016, tỷ lệ nữ chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là 1,6%, cấp huyện là 3,6% và cấp xã là 5,1%(8). Với tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan quản lý nhà nước chưa đạt chỉ tiêu đề ra cho thấy vai trò ra quyết định và chỉ đạo thực hiện của phụ nữ ở các cơ quan hành pháp các cấp còn hạn chế.

    Bên cạnh những ưu điểm, thuận lợi nêu trên, vẫn còn một số hạn chế, như: các chính sách còn mang tính trung lập về giới, chưa tính đến sự khác biệt giới; thiếu các chế tài giám sát, quy trách nhiệm cho việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra; thiếu cơ chế quy trách nhiệm, khen thưởng và kỷ luật trong việc thực hiện chính sách đối với các cơ quan cũng như trách nhiệm của người đứng đầu; chưa có biện pháp hành chính hiệu quả để khuyến khích và hỗ trợ việc thực hiện các chỉ tiêu về đại diện nữ.

    Một số mục tiêu còn mang tính chung chung, chưa cụ thể khiến cho việc triển khai thực hiện không đồng nhất. Ví dụ: chưa làm rõ khái niệm lãnh đạo chủ chốt là gì. Còn thiếu thống nhất giữa các văn bản được ban hành. Quy định về tuổi quy hoạch, bổ nhiệm, đề cử lần đầu ít nhất phải đủ thực hiện 01 nhiệm kỳ, trong khi Luật bình đẳng giới năm 2007 lại quy định không có sự phân biệt tuổi giữa nam và nữ khi đề bạt, bổ nhiệm cho cùng một vị trí quản lý, lãnh đạo.

    Về nguyên tắc luân chuyển cán bộ, không có sự phân biệt giữa cán bộ nam và cán bộ nữ khi thực hiện luân chuyển, nhưng còn chưa tính đến sự khác biệt giới; chưa đề cập tới chính sách cho cán bộ nữ khi được luân chuyển; không có quy định về tỷ lệ cán bộ nữ được luân chuyển.

    Vẫn còn một số hạn chế trong các văn bản hướng dẫn về bổ nhiệm cán bộ: chưa đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới khi không quy định lựa chọn ứng cử viên nữ trong trường hợp cả nam và nữ có điều kiện, tiêu chuẩn như nhau; chưa xác định các giải pháp cụ thể để có thể đạt chỉ tiêu tỷ lệ cán bộ nữ đã đề ra.

    3. Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị

    Để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, bổ sung chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong các bộ, ngành, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội. Đảm bảo sự thông nhất, liên thông trong chính sách, pháp luật, sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ; bãi bỏ những quy định hạn chế sự tham gia, tiếp cận cơ hội làm lãnh đạo, quản lý đối với phụ nữ trong lĩnh vực chính trị.

    Hai là, cần đẩy mạnh tuyên truyền chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, đặc biệt cho cán bộ và lãnh đạo các cấp nhằm xoá bỏ định kiến giới và phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực chính trị.

    Ba là, ban hành các văn bản quy định cụ thể về chỉ tiêu phụ nữ tham chính, kể cả trong cơ quan dân cử và cơ quan quản lý nhà nước, chú ý tới những ngành, lĩnh vực đang có rất ít phụ nữ tham gia lãnh đạo.

    Bốn là, cần quy định trách nhiệm của thủ trưởng các ngành, các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của ngành mình, cấp mình và trong thực hiện chỉ tiêu phụ nữ tham chính; cần thay đổi công tác bầu cử, tạo thuận lợi cho phụ nữ tham gia ứng cử và trúng cử.

    Năm là, đảm bảo việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới thông qua công tác thanh tra, kiểm tra chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; bổ sung và tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát cụ thể, các hình thức khen thưởng và xử lý nghiêm các vi phạm chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và công tác tổ chức, cán bộ./.

    Ghi chú:

    (1) Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    (2) Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2022.

    (3) Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2022.

    (4),(5),(6) Chính phủ, Báo cáo số 454/BC-CP ngày 17/10/2017 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

    (7),(8) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật bình đẳng giới, năm 2022.

    ThS Lê Thị Hồng Hải – Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Làm Thế Nào Để Đạt Được Mục Tiêu Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị?
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Chính Sách Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới
  • Tăng Cường Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Những Biện Pháp Nhằm Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Pháp Luật?
  • Giải Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Chính Sách, Pháp Luật Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Đối Với Nữ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Giai Đoạn 2022
  • #1 Thi Hành Biện Pháp Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Và Đào Tạo
  • 5 Giải Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Từ Sửa Đổi Bộ Luật Lao Động
  • Tờ Trình Chính Phủ Nghị Định Qui Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới
  • Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Được Không?
  • Ngày đăng: 19/08/2020 01:51

    Toàn cảnh Hội nghị đánh giá tác động xã hội và tác động giới của chính sách trong đề nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 và điều chỉnh chương trình năm 2022 do Ủy ban Về các vấn đề xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức ngày 03/3/2020, đại diện Cơ quan soạn thảo cho biết đã tiến hành lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi).

    BĐG là mục tiêu nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới BĐG thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Các biện pháp nhằm duy trì BĐG thực chất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Mở rộng phạm vi của bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật có thể tiếp cận ở cả góc độ thực thi, theo dõi thi hành các chính sách, pháp luật đó trong thực tế.

    Chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay đã cụ thể hóa Công ước quốc tế (CEDAW, ILO) và thể hiện đầy đủ 8 lĩnh vực của BĐG: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao, y tế, gia đình 1. BĐG và quyền phụ nữ là quyền hiến định. Nguyên tắc bình đẳng đã được khẳng định ngay trong Điều 26 Hiến pháp năm 2013: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội Bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

    Nội dung BĐG cũng được quy định trong các luật và bộ luật điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2022 tại Điều 2 quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này”. Ngoài ra, khoản 3 Điều 8 của Luật cũng nêu rõ: “số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ”.

    Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, tại Điều 3 quy định “bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh”. Về giáo dục, tại khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2022 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “vợ chồng bình đẳng”.

    Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2022 quy định: “Bảo đảm Bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”. Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động nữ và vấn đề BĐG nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản của họ trong khi làm việc (Chương X).

    Luật BĐG năm 2006 đánh dấu bước phát triển về thể chế và hệ thống hóa trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam bằng việc tăng cường BĐG trong đời sống cá nhân và xã hội. Bên cạnh những văn bản trên, BĐG còn được thể hiện trong nhiều văn bản khác như: Chương trình hành động của Chính phủ, Chiến lược quốc gia về BĐG và các văn bản khác.

    Trong triển khai thực thi chính sách, pháp luật bảo đảm BĐG, những biện pháp thúc đẩy BĐG quy định trong Luật BĐG có thể đã được quy định hoặc chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam.

    Đối với những biện pháp đã được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam, ví dụ: biện pháp thúc đẩy BĐG đối với tỷ lệ nữ đại biểu tham gia vào mỗi khóa Quốc hội ít nhất chiếm 35% tổng số đại biểu Quốc hội đã được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cần chú ý tới những nội dung chính sau: đánh giá tác động lên nam giới và phụ nữ về những chênh lệch, bất BĐG, phân biệt đối xử về giới được giải quyết trên thực tế sau khi áp dụng; xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai một cách hiệu quả; chấm dứt thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định rằng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ đã thay đổi dẫn đến việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy BĐG không còn cần thiết.

    Đối với những biện pháp thúc đẩy BĐG chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành, ví dụ: quy định việc khuyến khích các cơ quan, tổ chức hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi; tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con, cần chú ý tới những nội dung chính sau: kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy BĐG theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá sự chênh lệch, bất BĐG, phân biệt đối xử về giới trên thực tế và tác động của biện pháp thúc đẩy BĐG sẽ được ban hành đối với nam, nữ; dự báo tác động của biện pháp thúc đẩy BĐG đối với nữ và nam sau khi được ban hành.

    Những giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay Thứ nhất, nâng cao nhận thức về BĐG trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam.

    Báo cáo chỉ số BĐG toàn cầu 2022, dựa vào kết quả đánh giá 149 quốc gia về tiến bộ BĐG, Việt Nam xếp thứ 77/149 quốc gia2. Thành tựu này chứng minh những kết quả quan trọng trong bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để thúc đẩy hơn nữa vấn đề bảo đảm BĐG của Việt Nam, cần nâng cao nhận thức của các cá nhân, cơ quan (xây dựng pháp luật) về vấn đề này. Việc nâng cao có thể thực hiện thông qua truyền thông, tập huấn phổ biến kiến thức về BĐG, lồng ghép trong các chương trình đạo tạo của các trường học.

    Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, pháp luật về BĐG của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội.

    Bảo đảm BĐG trong xây dựng pháp luật vẫn là chưa đủ, bởi vì đó mới là tiền đề, còn giải pháp quan trọng phải duy trì là mỗi người dân phải nỗ lực nghiêm chỉnh thực hiện các chính sách bảo đảm BĐG đã được quy định. Trong lĩnh vực đất đai quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được ghi tên của cả vợ và chồng”, nhưng thực tế vấn đề này còn “xa vời” đối với nhiều chị em ở các địa phương hiện nay. Lý do có thể họ chưa biết về quyền của mình hoặc sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tập quán, luật tục địa phương cũng là một rào cản.

    Thứ tư, thúc đẩy việc đôn đốc, theo dõi thi hành chính sách, pháp luật về BĐG của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Một trong những giải pháp then chốt góp phần bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật là phải nâng cao ý thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp) trong theo dõi, thi hành pháp luật. Trong quá trình theo dõi, thi hành pháp luật, nếu phát hiện những vi phạm về bảo đảm BĐG thì phải xử lý nghiêm minh.

    Thứ năm, thúc đẩy xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật về BĐG.

    Định kiến xã hội (phong tục tập quán lạc hậu) là yếu tố chủ yếu dẫn đến tình trạng bất bình đẳng. Trong xã hội Việt Nam tồn tại nhiều tư tưởng, tập quán lạc hậu như: trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng… đã hạn chế bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Ví dụ, để bảo đảm BĐG trong lĩnh vực thừa kế, cần loại bỏ định kiến “con gái là con người ta” để thực hiện việc chia tài sản thừa kế như nhau đối với con trai và con gái.

    Thứ sáu, khôi phục các hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy thực hiện BĐG trong chính sách, pháp luật.

    Bên cạnh những định kiến xã hội, trong cộng đồng còn duy trì nhiều hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy BĐG, như: thực hiện BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Ví dụ, tại Điều 11- Hương ước thôn Lương Thịnh, ban hành kèm theo Quyết định số 1932/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một ví dụ điển hình. Tại Hương ước này quy định:

    1) Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Các cá nhân, đặc biệt là nam giới cần tích cực chủ động tham gia các phong trào xã hội ở địa phương, sinh hoạt câu lạc bộ, học tập kiến thức về gia đình, về BĐG, các quyền của phụ nữ và phòng, chống bạo lực trong gia đình thông qua truyền thông. Bản thân người phụ nữ cần hiểu được quyền và trách nhiệm của mình trong công tác BĐG và phòng, chống bạo lực gia đình. Cần có kiến thức cũng như kỹ năng phòng tránh, tự bảo vệ mình và các con trước khi có sự trợ giúp từ phía các đoàn thể xã hội.

    2) Giáo dục các thành viên trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình; thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, BĐG, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.

    3) Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác3.

    Nói đến BĐG về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của phụ nữ với nam giới nói riêng và giữa các nhóm với nhau trong xã hội nói chung. Chính vì vậy, ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho BĐG cũng chính là đấu tranh cho các quyền con người của phụ nữ/nhóm yếu thế và ngược lại. Sự đấu tranh hiệu quả nhất cho BĐG là lồng ghép giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đẩy mạnh trách nhiệm thực thi pháp luật về BĐG của chủ thể có thẩm quyền, nâng cao ý thức, hiểu biết về thực hiện chính sách BĐG của người dân./.

    Ghi chú:

    1. UNFPA – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tài liệu tập huấn thực hiện Luật Bình đẳng giới, Hà Nội, 2009.

    2. Khoảng cách giới ở Nam Á sẽ được san bằng sau 70 năm nữa. https://phunuvietnam.vn. Oxfam, ngày 08/3/2020.

    3. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài: Bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam hiện nay của Trường Đại học Luật Hà Nội, 2022.

    TS. Trần Thị Quyên – Trường Đại học Luật Hà Nội

    Theo: quanlynhanuoc.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Hình Thức Của Bảo Đảm Tiền Vay
  • Khái Niệm Chung Về Bảo Đảm Tiền Vay
  • Bảo Đảm Tiền Vay Của Tổ Chức Tín Dụng
  • Bảo Đảm Tiền Vay Là Gì ? Khái Niệm Bảo Đảm Tiền Vay ?
  • Các Biện Pháp Bảo Đảm Đầu Tư Nhằm Thu Hút Đầu Tư Trong Và Ngoài Nước
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014
  • Giải Pháp Nào Cho Bình Đẳng Giới Tại Trung Tâm Học Tập Cộng Đồng?
  • Bình đẳng giới trong gia đình có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời đại, đặc biệt là trong điều kiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa hiện nay. Bình đẳng giới trong gia đình là môi trường lành mạnh để con người, đặc biệt là trẻ em được đối xử bình đẳng, được giáo dục về quyền bình đẳng, được hành động bình đẳng; là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; góp phần tăng chất lượng cuộc sống của các thành viên gia đình, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước; góp phần giải phóng phụ nữ và góp phần xây dựng thể chế gia đình bền vững.

    Tuy nhiên, định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở trong gia đình và một bộ phận dân cư trong xã hội tiếp tục là hệ quả xấu đối với nam giới trong đối xử với nữ giới, là rào cản trong quá trình thực hiện bình đẳng giới. Sự bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực như về quyền lợi, nghĩa vụ, phân công lao động, cơ hội việc làm, tiền lương, thu nhập, cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ.

    Hiện tượng bất bình đẳng vẫn phổ biến ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, phụ nữ là lao động chính song lại không có tiếng nói trong gia đình. Những người đàn ông thường giành thời gian cho việc làng, việc nước, họ hàng, rồi rượu chè, các tệ nạn xã hội… nên gánh nặng gia đình cũng như cường độ lao động và sự vất vả đều dồn lên đôi vai người phụ nữ.

    Thực tế hiện nay, phụ nữ thường làm nhiều công việc cùng một lúc, thời gian làm việc của phụ nữ nhiều hơn và phụ nữ cũng làm những công việc đơn giản hơn và như vậy phụ nữ thể hiện đa vai trò hơn. Song phụ nữ lại làm những việc có giá trị thấp và vì vậy giá trị xã hội của phụ nữ cũng thấp. Còn về việc nhà là loại công việc quan trọng vì nó giúp gia đình tồn tại nhưng lại không được xã hội nhìn nhận và chính bản thân nam giới cũng không coi trọng công việc gia đình. Do vậy vị trí càng thấp, mà khi vị trị thấp nên ít được lựa chọn công việc mà làm theo sự phân công truyền thống.

    Không ít trẻ em quan tâm về vấn đề bình đẳng giới đã tỏ rõ thái độ bất mãn đối với việc bất bình đẳng giới ngay trong chính gia đình em. Hoài Mơ (12 tuổi – Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh) bất bình tâm sự: “Cháu không thể hiểu nỗi lúc nào cha mẹ cũng bảo cháu phải chăm chỉ siêng năng lo việc cơm nước, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa. Trong khi đó, anh trai cháu đã 14 tuổi rồi mà chẳng phải động chân động tay vào việc gì. Lắm lúc cháu lau nhà mệt bở hơi tai mà ba cháu còn nhắc nhở: “Con gái phải làm tốt những việc nhỏ nhặt trong nhà. Để anh con sau này làm những việc to tát ngoài xã hội, con đừng có mà tị nạnh lung tung. Mấy cái việc nữ công gia chánh cỏn con như thế, hai mẹ con chia sẻ với nhau, đừng có nhiều chuyện”. Mẹ cháu tối ngày tất bật với công ty, thế mà về đến nhà, chỉ có cháu san sẻ việc nội trợ, còn ba và anh hai không một chút quan tâm. Vậy mà mẹ còn chịu đựng và khuyên cháu: “Phụ nữ thì phải biết hi sinh để gia đình được êm ấm con ạ! Cháu được tuyên truyền và giáo dục về bình đẳng giới, nhưng chỉ thấy toàn là lý thuyết, chứ ở gia đình cháu còn lâu mới đưa vào cuộc sống”.

    Một câu chuyện khác đáng để chúng ta suy ngẫm. Trong gia đình của một cặp vợ chồng trí thức, chồng là chủ một doanh nghiệp, vợ là cán bộ ngân hàng, thừa khả năng để chăm sóc chu toàn cho hai đứa con, một trai một gái, cách nhau 2 tuổi… Vào một ngày kia, trong giờ Tập làm văn, cô giáo ra đề bài “Em hãy cho biết ước mơ của bản thân và em có suy nghĩ gì về ước mơ đó?”. Cô giáo rất ngạc nhiên khi đọc được bài làm của một học sinh nữ. Nội dung bài viết “Kể từ ngày cha mẹ có thêm em Bo thì em đã có ước mơ trở thành một đứa con trai giống như em Bo. Vì nếu được là con trai, em sẽ không cô đơn và bị ghẻ lạnh như thế, em sẽ có nhiều đồ chơi mà mình mơ ước, em sẽ được ba mẹ chở đi chơi mỗi buổi chiều cuối tuần hoặc sẽ được đi du lịch vào mỗi dịp hè. Và vui hơn hết là được ba mẹ quan tâm đến công việc học hành, mỗi ngày được ba mẹ dùng xe hơi đưa đón đến trường…”. Cô giáo cũng đã qua thời gian tìm hiểu và biết được những điều cô học trò ghi trong bài tập là đúng sự thật. Ba mẹ cô bé kể từ ngày sinh thêm em Bo, em trai của cô bé thì như là không còn thấy hình dáng cô bé trong nhà nữa. Tất cả mọi yêu thương, chăm sóc dồn về cho cậu con trai quý tử kia. Hoàn toàn không đả động đến cô bé.

    Nguyên nhân trên do một bộ phận xã hội hiểu không đúng về bình đẳng và bình đẳng giới, còn quan niệm cho rằng bình đẳng giới là ưu tiên cho phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ và của Hội phụ nữ Việt Nam. Nhận thức mang tính định kiến giới còn tồn tại trong xã hội, nhất là lãnh đạo, cán bộ, công chức và nam giới…

    Ngoài ra, công tác tuyên truyền, giáo dục về giới và bình đẳng giới chưa thực sự đạt hiệu quả cao. Nội dung tuyên truyền chưa được chuyển tải thường xuyên, sâu rộng, chưa sát với đối tượng. Các cấp, các ngành, đoàn thể chưa có sự quan tâm đúng mức về vấn đề này. Nhận thức của phụ nữ về quyền lợi của mình còn nhiều hạn chế, nhất là phụ nữ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

    Để khắc phục tình trạng trên, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới như: Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình…mà trọng tâm là Luật bình đẳng giới và thông qua các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em… nhờ đó mà phụ nữ và trẻ em đều được bảo vệ.

    Gần 5 năm triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho cán bộ và nhân dân ở các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước đã đạt được những kết quả đáng kể. Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới đã giúp cho các cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức và công dân thấy rõ nguy cơ, thực trạng của vấn đề bất bình đẳng giới đang ngăn cản sự phát triển của đất nước, từ đó có được nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển xã hội, cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình
  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Giám đốc Sở LĐTBXH, Đặng Hồng Sơn tặng quà cho các cháu trong lễ phát động tháng Bình đẳng giớiTrước mắt, trong lĩnh vực BĐG Kiên Giang vẫn còn một số tồn tại do công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về nội dung này ở cơ sở đôi lúc chưa đủ mạnh để chuyển đổi hành vi, tài liệu truyền thông còn ít, chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Điều tra, khảo sát, thống kê toàn diện về BĐG trên địa bàn toàn tỉnh chưa được thực hiện, thiếu cơ sở dữ liệu để xây dựng bộ chỉ số hoàn chỉnh về BĐG và VSTBCPN, thiếu thông tin cần thiết, nhiều số liệu chưa tách biệt giới tính.

    Công tác phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức, một số chỉ tiêu đạt thấp so với kế hoạch đề ra như tỷ lệ nữ trong các cấp ủy Đảng, tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp (nhất là cấp xã), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt thấp. Một số Ban VSTBCPN hoạt động còn mang hình thức; đội ngũ cán bộ làm công tác BĐG và VSTBCPN hầu hết kiêm nhiệm, thường xuyên luân chuyển công tác và nhiều vị trí năng lực chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, ít có sự đầu tư, nghiên cứu, chưa đáp ứng yêu cầu mục tiêu, chiến lược về BĐG đặt ra.

    Đại diện các ban, ngành hưởng ứng tháng hành động…

    Tình trạng bạo lực gia đình, tảo hôn, tệ nạn mại dâm, xâm hại, buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn biến phức tạp, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Số phụ nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư khỏi địa phương vẫn còn cao. Một số chính sách, phương pháp công tác vận động phụ nữ chưa cụ thể, chưa phù hợp ở một số nơi đặc thù. Phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật có hoàn cảnh khó khăn chưa được quan tâm đúng mức…

    Mọi hành động hướng tới mục tiêu “Chung tay xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái”

    Tiếp đó, đặt nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong công tác cán bộ của cấp ủy từng cấp; đổi mới công tác đánh giá cán bộ nữ theo quan điểm phát triển, chú trọng yếu tố giới; quy hoạch, đào tạo phải nhất thiết bảo đảm tỷ lệ nữ theo từng cấp. Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng đối với cán bộ nữ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, để có đủ năng lực tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể. Thực hiện công tác luân chuyển cán bộ, công chức nữ phù hợp với điều kiện, sở trường công tác để đào tạo, bồi dưỡng làm cơ sở cho việc đề bạt, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ nữ. Mạnh dạn đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ, trẻ có triển vọng phát triển.

    Công tác BĐG và VSTBCPN chủ yếu là hoạt động lồng ghép, vì vậy cần có cơ chế và chỉ đạo phối hợp liên bộ, liên ngành từ trung ương đến địa phương. Thực hiện lồng ghép BĐG vào các chương trình, đề án, dự án của các ngành, đơn vị, địa phương. Có chính sách cho huyện, xã có 01 cán bộ chuyên trách làm công tác này nhằm giúp Ban VSTBCPN hoạt động có hiệu quả. Ưu tiên đầu tư nguồn lực đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu Chương trình về BĐG đến năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Mục Tiêu, Giải Pháp Vấn Đề Tôn Giáo
  • ​tìm Hiểu Thực Trạng Vấn Đề Tôn Giáo Và Dân Tộc Trong Phát Triển Hiện Nay Ở Gia Lai
  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Nâng Cao Năng Lực Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Và Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Lãnh Đạo, Quản Lý Thời Kỳ Cách Mạng 4.0
  • Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Quản Lý Cán Bộ, Công Chức
  • Tại hội thảo “Bình đẳng giới (BĐG) góp phần nâng cao cuộc sống gia đình”, nhiều tổ chức, cá nhân đã bày tỏ chính kiến, cũng như đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị để thúc đẩy việc thực hiện công tác BĐG thông qua những tham luận súc tích, ý nghĩa. * Thượng tá Trần Phương Đại, Phó trưởng Phòng PX 16, Công an tỉnh: Thực hiện công tác BĐG thông qua ngăn chặn bạo lực gia đình

    Bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Việt Nam là vấn đề phức tạp, được dung dưỡng bởi những hủ tục, đặc biệt là quan điểm bất bình đẳng về giới. “Giá trị truyền thống” này đã tác động đến tâm thức văn hóa của mỗi cá nhân và gia đình, hình thành lối suy nghĩ và hành động theo “chuẩn” tương đối phổ biến là chấp nhận hành vi BLGĐ, thậm chí coi đó như một phương pháp giáo dục, răn dạy con người. Điều này đã đẩy phụ nữ vào vị trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới trong tất cả các hoạt động: kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, và cả trong sinh hoạt gia đình…

    Tuyên truyền về BĐG trong gia đình và phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm nạn BLGĐ là vấn đề cấp bách hiện nay. Việc làm này không chỉ mang tính xã hội sâu sắc, mà còn là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ quyền con người, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, phục vụ tốt sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội tỉnh nhà.

    Hội đã chủ động đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền về chính sách đào tạo cán bộ nữ, chính sách trợ cấp thai sản, tiền thưởng thêm cho cán bộ nữ nhận bằng khen trở lên. Đồng thời tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật cho phụ nữ; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về phòng chống BLGĐ…

    Bên cạnh đó, nhiều mô hình hay về BĐG, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ… được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, thúc đẩy việc thực hiện BĐG trên địa bàn tỉnh.

    * Ông Nguyễn Trung Kết, Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện Phước Long: Thúc đẩy BĐG góp phần xây dựng nông thôn mới

    Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, cũng như sự ra đời của Luật BĐG, các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ… đến nay, công tác BĐG đã và đang từng bước được thực hiện có hiệu quả.

    Mặt khác, địa phương còn hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập; vận động chị em thực hiện phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc gắn với học tập và làm theo gương Bác; thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Kể từ khi cuốn sách Tư bản trong thế kỷ 21 – Capital in the Twenty-First Century của Thomas Piketty gây tiếng vang năm 2014, vấn đề bất bình đẳng thu nhập, sự phân hóa giàu-nghèo thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của xã hội. Đối với những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh như nhóm BRICS hay Việt Nam, vấn đề này càng trầm trọng hơn vì thiếu những thiết chế phù hợp để phân phối công bằng các thành quả tăng trưởng.

    Kinh tế tăng trưởng thời gian qua đã tạo ra một tầng lớp người giàu, thậm chí siêu giàu ở Việt Nam khi họ có thể sánh vai cùng thế giới trong danh sách các tỉ phú đô la. Ảnh; THÀNH HOA

    Chênh lệch giàu-nghèo ở Việt Nam đến mức nào?

    Quy mô của nền kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc trong hơn hai thập niên qua. Nếu như GDP của năm 1995 là 20,74 tỉ đô la Mỹ thì năm 2022 đã là 205,28 tỉ đô la Mỹ, tức gấp khoảng 10 lần. Kinh tế tăng trưởng thời gian qua đã tạo ra một tầng lớp người giàu, thậm chí siêu giàu ở Việt Nam khi họ có thể sánh vai cùng thế giới trong danh sách các tỉ phú đô la.

    Một báo cáo của Oxfam năm 2022 cho biết, năm 2014 Việt Nam có 210 người siêu giàu (tài sản ròng trên 30 triệu đô la Mỹ), chiếm 12% GDP cả nước, và con số này sẽ tăng lên 403 vào năm 2025. Báo cáo này cũng ví von rằng người giàu nhất Việt Nam có thu nhập một ngày bằng 10 năm thu nhập của người nghèo nhất, và với tài sản này, có thể đưa toàn bộ 13 triệu người nghèo thoát nghèo ngay tức khắc.

    Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) cho thấy rằng khoảng cách về thu nhập giữa nhóm giàu với bốn nhóm còn lại (nghèo, cận nghèo, trung bình, cận giàu) đã tăng nhanh trong giai đoạn 2004-2014, tạo ra khoảng cách ngày càng lớn về thu nhập. Thậm chí một khảo sát của Oxfam năm 2022 cho thấy khoảng cách này lên đến 21 lần, so với của VHLSS 2010 là 8,5 lần và VHLSS 2012 là 9,4 lần. Ngoài ra, theo một khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động, tỷ lệ người lao động có khả năng tích lũy chỉ là 8%, số chi tiêu tằn tiện và không đủ sống là 51%, mà phần lớn các khoản chi là cho nhu cầu tối thiểu: lương thực, giáo dục, y tế, nhà ở và đi lại.

    Một cách trực quan hơn, khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn có thể thấy được hàng ngày trong cuộc sống và qua các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi số lượng hộ nghèo và cận nghèo (với thu nhập trung bình 1 triệu đồng/người/tháng) là 3,3 triệu hộ gia đình thì ở những thành phố lớn, có không ít siêu xe trị giá hàng chục tỉ đồng, những túi xách, đồ trang sức trị giá hàng trăm triệu đồng, bằng cả hàng chục năm thu nhập của người nghèo. Ở những vùng sâu, vùng xa, vẫn còn không ít những hộ gia đình sống trong những căn nhà tạm bợ, thiếu thốn các điều kiện sinh hoạt cơ bản của một gia đình, từ vệ sinh đến nước sạch.

    Ở một góc nhìn khác, khoảng cách giàu – nghèo có thể phần nào thấy được trong sự phân bổ thu nhập GDP theo nhóm ngành nghề. Nếu tính toán GDP theo phương pháp thu nhập, tổng GDP của Việt Nam vào khoảng 200 tỉ đô la Mỹ, tương ứng với thu nhập của 55 triệu lao động với bình quân 3.600 đô la Mỹ/năm (khoảng 7 triệu đồng/tháng). Nhưng, trong số lao động này có đến 18 triệu lao động phi chính thức, với mức lương chỉ bằng hai phần ba lao động chính thức. Do đó, phần thu nhập còn lại tương ứng khoảng 21,6 tỉ đô la Mỹ sẽ phân bổ cho ai?

    Không khó để có thể nhìn thấy rằng hiện nay, nhóm người giàu trong xã hội Việt Nam thuộc hai nhóm chính: làm kinh doanh và quan chức. Với số lượng 11.162 đơn vị xã phường như hiện nay, và cơ cấu tổ chức các bộ, sở, phòng, ban, người viết ước tính rằng có khoảng 250.000 quan chức từ cấp phó trở lên, và khoảng 100.000 doanh nhân thành công (trong số 600.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động). Như vậy, khoản thu nhập quốc gia 21,6 tỉ đô la Mỹ chia đều cho 350.000 người này thì thu nhập trung bình của những người này sẽ vào khoảng 61.700 đô la Mỹ/năm, tức khoảng 120 triệu đồng/tháng. Điều này khá gần với thực tế quan sát của người viết.

    Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, có một nhóm người trong xã hội với thu nhập trung bình gấp 17 lần những người làm công ăn lương bình thường, và gấp 113 lần người nghèo, thì qua đó chúng ta có thể thấy phần nào khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo ở đây.

    Chênh lệnh giàu – nghèo là vấn nạn của các nước tăng trưởng nhanh

    Không chỉ Việt Nam, các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh gần đây cũng cho thấy khoảng cách giàu-nghèo đang trở thành một vấn nạn của xã hội. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số Gini để đo lường sự bình đẳng trong phân phối thu nhập sẽ là nghiêm trọng nếu từ 0,4 trở lên. Chỉ số này của Trung Quốc năm 2022 là 0,46 và Ấn Độ là 0,51.

    Báo cáo bất bình đẳng 2022 (World Inequality Report 2022 – WIR2018), trong đó có Thomas Piketty là đồng tác giả, cho thấy tỷ lệ người giàu càng giàu hơn, và người nghèo càng nghèo hơn không chỉ có ở các nước BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi), mà còn ở các nước như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, đặc biệt là Trung Đông, nơi mà 10% giàu nhất chiếm hơn 60% tổng thu nhập của quốc gia.

    Trên thế giới kể từ năm 1980, bất bình đẳng tăng nhanh ở Bắc Mỹ và châu Á, vừa phải ở châu Âu và ổn định ở mức chênh lệch nghiêm trọng ở Trung Đông, châu Phi vùng hạ Sahara và Brazil. Mặc dù tăng trưởng chung khiến thu nhập của người nghèo tăng, nhưng chi phí tăng và tốc độ tăng của người giàu nhanh hơn nhiều lần khiến cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng. Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế từ tập trung sang nền kinh tế thị trường ở một số nước, cổ phần hóa hay chuyển đổi công sản thành tư sản đã tạo ra một tầng lớp người giàu mới, giàu nhanh ở những quốc gia này.

    Không những thế, chi phí tăng còn khiến cho nhóm trung lưu có nhiều nguy cơ chuyển xuống nhóm thu nhập thấp. Số người giàu tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong khi số người giàu ở các nước đã phát triển sẽ giảm dần, nhưng tài sản ròng của những người giàu nhất sẽ tiếp tục tăng.

    Làm thế nào để tránh tình trạng “bình quân mỗi người một con gà, nhưng một người có chín, chín người có một”

    Vấn đề bất bình đẳng thu nhập dẫn đến bất bình đẳng trong xã hội là mối quan tâm lớn của nhiều nước phát triển. Vì chính phủ các nước nhận thức được rằng, bất bình đẳng thu nhập sẽ dẫn đến các vấn đề của xã hội như tỷ lệ thất nghiệp tăng, tỷ lệ tội phạm tăng, năng suất lao động bình quân giảm vì người có thu nhập thấp thấy được họ chỉ được hưởng một phần rất ít trong thành quả chung, thậm chí không bù đắp được với chi phí ngày càng tăng của cuộc sống.

    Vì vậy, nhiều nước đã cố gắng thực hiện giảm bất bình đẳng qua việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là giáo dục và y tế. Cụ thể, khoảng cách về chất lượng giáo dục và y tế có sự khác biệt nhiều giữa khu vực công và tư. Người nghèo được đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu, và luôn có các quỹ an sinh xã hội hỗ trợ khi cần thiết.

    Theo khuyến nghị từ báo cáo WIR2018, một số giải pháp sau có thể giảm bất bình đẳng về thu nhập, từ đó rút ngắn hố ngăn cách giàu – nghèo: thứ nhất, hướng đến nhóm giàu với thuế lũy tiến và thuế tài sản ròng (trên một mức nhất định, như 1,3 triệu euro ở Pháp). Thứ hai, đăng ký thuế toàn cầu để tránh trường hợp né thuế, trốn thuế ở các thiên đường thuế, muốn vậy phải có tiếng nói chung giữa tất cả các nước và vùng lãnh thổ. Thứ ba, là hướng tiếp cận đến nhóm nghèo thông qua giáo dục và tạo công ăn việc làm có thu nhập tốt hơn. Cuối cùng, là tiếng nói của số đông và sự hỗ trợ của truyền thông đại chúng (quyền lực thứ tư). Các nhà tài phiệt có tiềm lực mạnh về tài chính vì thế có thể tác động chính sách để có lợi cho mình nhưng họ chỉ là số ít, trong khi số đông người dân cũng hoàn toàn có thể tác động đến các chính trị gia thông qua lá phiếu của mình.

    (*) Đại học Kinh tế TPHCM, AVSE Global

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Kinh Tế Xã Hội
  • Xử Lý Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Nhằm Kiềm Chế Lạm Phát Hiện Nay
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Tình Hình Thất Nghiệp Ở Việt Nam Trong 4 Năm Gần Đây (2008
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Từ lâu, các cấp ủy Đảng và chính quyền trong tỉnh ta rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, xem đây là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển của địa phương. Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, đến nay nhiều thành tựu về bình đẳng giới từng bước đã được khẳng định. Đặc biệt, với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đang từng bước thực hiện có hiệu quả việc thúc đẩy bình đẳng giới.

    Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: Quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái… trên cơ sở chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo sự đồng thuận. Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững.

    Ngày nay, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội nói chung và gia đình nói riêng đã được nâng lên rất nhiều so với trước. Tuy nhiên, xét về thực trạng vấn đề giới vẫn còn những bức xúc trong gia đình như: Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình; tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại và xảy ra ở một số nơi…

    Nguyên nhân chính dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình là do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng với sự thay đổi chậm chạp của ý thức xã hội và hầu như nam giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột của mình với gia đình, chính họ đã tự đặt cho mình trọng trách lớn. Phụ nữ thì còn tự ti, luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng.

    Đối với những gia đình ở khu vực nông thôn, sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị đã làm cho những người phụ nữ ở lại địa phương thêm gánh nặng, vừa đảm nhận lao động sản xuất vừa lo toan việc nội trợ.

    Mặt khác, trình độ học vấn cũng góp phần quan trọng trong việc tạo quyền quyết định trong gia đình. Nếu trong gia đình cả hai vợ chồng có học vấn cao thì sự bàn bạc, thỏa thuận chiếm tỷ lệ lớn; nếu người vợ có trình độ học vấn thấp thì quyền quyết định mọi mặt chủ yếu vẫn là chồng và ngược lại. Về vấn đề kinh tế gia đình cũng là nguyên nhân dẫn đến mất bình đẳng trong gia đình.

    Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình giúp con cái mỗi gia đình được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, học hành tốt, lớn lên trở thành những công dân tốt của xã hội. Sự quan tâm, giáo dục của gia đình đối với con cái là môi trường quan trọng giúp mỗi người hòa nhập vào cộng đồng và xã hội, thích ứng với đòi hỏi về nghề nghiệp, đạo đức, vốn sống của mỗi người và giúp con cái tránh những tệ nạn xã hội nảy sinh.

    Quá trình xã hội hóa giáo dục được tạo bởi 3 môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau của mỗi thành viên trong gia đình giúp mỗi người có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ lẫn tinh thần.

    Vì vậy, để thực hiện bình đẳng giới trong gia đình hiện nay, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục các vấn đề giới, bình đẳng giới trong gia đình được quy định trong các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    Xem việc thực hiện bình đẳng giới là một công việc lâu dài và cần sự phối hợp đồng bộ của toàn xã hội. Từ đó mỗi người ý thức tốt về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình. Trách nhiệm bình đẳng giới không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mà là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội; là cơ sở quan trọng để xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”.

    Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi để mỗi phụ nữ ý thức và tự phấn đấu vươn lên, tự giải phóng mình; không ngừng cố gắng học tập nâng cao kiến thức để khẳng định vai trò, ví trí của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Đẩy mạnh giáo dục khoa học giới trong hệ thống nhà trường (đặc biệt là các trường THPT), giúp cho thanh, thiếu niên nhận thức được những vấn đề giới và bình đẳng giới một cách cơ bản và có hệ thống; giúp các em ý thức được trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình sau này.

    Ngoài ra cũng cần nâng cao trình độ dân trí, tăng cường vai trò gia đình và bình đẳng giới. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý về bình đẳng giới. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các hành vi bạo lực gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, mỗi thành viên trong gia đình được bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau thì xã hội sẽ công bằng và văn minh.

    Để có được bình đẳng giới bền vững trong xã hội phải bắt đầu từ trong mỗi gia đình. Thực hiện tốt bình đẳng giới trong gia đình là biện pháp hữu hiệu để xây dựng một xã hội no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Kính Cận Chơi Đá Bóng Chính Hãng, Giá Tốt. Giao Hàng Toàn Quốc.
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100