Top 10 # Giải Pháp Cho Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Giải Pháp Tăng Cường Hoạt Động Xuất, Nhập Khẩu Việt Nam

Bài viết trao đổi về hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc thời gian tới.

Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc

Trong những năm gần đây, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2011-2018, xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 21,7%/năm, từ mức 11,12 tỷ USD năm 2011 lên mức 41,268 tỷ USD năm 2018. Thực tế cho thấy, trong lịch sử quan hệ ngoại thương của Việt Nam, Trung Quốc là đối tác thương mại đầu tiên cán mốc 100 tỷ USD (năm 2018). Cụ thể, năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 41,268 tỷ USD tăng 5,864 tỷ USD so với năm 2017, với tốc độ tăng trưởng 16,6%. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu từ quốc gia láng giềng này là 65,438 tỷ USD tăng 6,846 tỷ USD, tương đương tăng trưởng gần 11,7%. Như vậy, tổng quy mô kim ngạch thương mại của 2 nước đạt 106,706 tỷ USD, tăng 12,71 tỷ USD so với năm 2017.

Trong năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa các loại của Việt Nam sang quốc gia láng giềng này tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ. Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam Nam sang Trung Quốc đạt 116,866 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam là 41,414 tỷ USD và nhập khẩu tới 75,452 tỷ USD. So với năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc tăng thêm hơn 10 tỷ USD (năm 2018 là 106,706 tỷ USD). Như vậy, thị trường Trung Quốc chiếm đến 22,6% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong năm 2019, trong đó, nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm gần 30% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Đồng thời, trong hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ có hoạt động xuất nhập khẩu với Việt Nam thì Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất…

Tuy đã đạt được những kết quả tích cực, songtrước những diễn biến thời gian qua, đặc biệt là tình trạng căng thẳng thương mại Mỹ – Trung và dịch bệnh bùng phát triển quy mô toàn cầu, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam – Trung Quốc dự báo sẽ có nhiều ảnh hưởng theo hướng bất lợi. Những hành động đáp trả của hai cường quốc thế giới đồng thời là các đối tác thương mại lớn của Việt Nam là Mỹ và Trung Quốc sẽ tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc nói riêng. Kết quả phân tích định lượng từ mô hình kinh tế lượng toàn cầu mới đây của Trung tâm thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội quốc gia (NCIF) cho thấy, với chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chịu tác động mạnh, mức tác động tăng dần đến đỉnh điểm là giai đoạn 2020-2022, sau đó giảm dần. Xuất khẩu có thể giảm 0,74% vào năm 2020, trong khi đó nhập khẩu có thể giảm 0,74% vào năm 2020 và gần 1% vào giai đoạn 2021-2022. Mức độ ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh thương mại tới kinh tế Việt Nam sẽ còn lớn hơn trong kịch bản Mỹ đánh thuế đối với toàn bộ hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, tình trạng dịch bệnh chắc chắn còn sẽ ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu trong một vài năm tới. Điều này khiến cho tình hình xuất nhập khẩu giữa hai nước cũng sẽ có nhiều diễn biến mới khi mà các chính quyền hai bên sẽ siết chặt các hoạt động kiểm tra dịch bệnh. Bên cạnh đó, các DN cũng phải mất một khoảng thời gian để có thể ổn định lại sau những ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh. Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ đạt 5,48 tỷ USD, tăng 17,4% so cùng kỳ với năm 2019, chiếm 14,0% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong khi đó, Việt Nam nhập khẩu của Trung Quốc đạt 9,29 tỷ USD, giảm 7,0% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 24,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Giải pháp tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu

Tiếp tục tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

– Đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện thể chế, hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và xuất nhập khẩu, tạo thuận lợi và giảm chi phí cho DN; Tăng cường dịch vụ công trực tuyến, triển khai cơ chế một cửa quốc gia.

– Rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tăng cường công tác kiểm tra thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những vấn đề phát sinh để đề xuất phương hướng chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với thực tế.

– Trao đổi, phối hợp công tác, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các biện pháp kiểm soát, phòng chống dịch bệnh nhưng cũng bảo đảm không gây gián đoạn quá mức cần thiết cho hoạt động thương mại giữa hai bên. Các cơ quan ngoại vụ, hải quan cửa khẩu, kiểm dịch y tế, kiểm tra di dân, bộ đội biên phòng…của hai bên cùng tham gia nhằm tăng cường hợp tác hai bên trong chia sẻ thông tin, phối hợp chính sách, xử lý vụ việc đột xuất trong phòng chống dịch.

Đối với hoạt động xuất khẩu

– Xây dựng các chính sách hỗ trợ DN đầu tư đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ và đổi mới quy trình sản xuất sản phẩm đạt chất lượng, tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu; Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai, ứng dụng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, nhằm nhanh chóng chuyển sang phương thức sản xuất và phương thức quản trị tiên tiến theo các hướng phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

– Bộ Công Thương phối hợp với các hiệp hội ngành hàng, các DN đánh giá hoạt động sản xuất, xuất khẩu để tháo gỡ khó khăn trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu; khai thông dòng lưu chuyển hàng hóa; Phối hợp với các Vụ thị trường ngoài nước đánh giá nhu cầu nhập khẩu của từng mặt hàng cụ thể ở từng địa phương của Trung Quốc để có chiến lược tập trung vào một số hàng hóa xuất khẩu chính.

Năm 2019, thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam Nam sang Trung Quốc đạt 116,866 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam là 41,414 tỷ USD và nhập khẩu tới 75,452 tỷ USD. So với năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc tăng thêm hơn 10 tỷ USD (năm 2018 là 106,706 tỷ USD).

– Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện các giải pháp về tổ chức sản xuất, quy hoạch đối với các mặt hàng nông, thủy sản gắn với thị trường nhằm tạo nguồn hàng có chất lượng để phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc. Thực tế thời gian qua và dự báo tới đây cho thấy, các mặt hàng nông, thủy sản vẫn sẽ được Trung Quốc chú trọng nhập khẩu.

– Triển khai các biện pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vào các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, chế biến sâu, ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến; nâng cao tỷ trọng sản xuất hàng xuất khẩu từ nguyên liệu trong nước; đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng sản xuất có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu lớn. Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

– Tăng cường công tác thông tin thị trường để tạo điều kiện cho các DN khai thác tốt cơ hội xuất khẩu. Nâng cao hiệu quả và đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, tập trung vào các hàng hóa có lợi thế xuất khẩu, các thị trường tiềm năng và các thị trường ngách để mở ra các thị trường mới nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tăng cường công tác nghiên cứu, phân tích, dự báo thị trường hỗ trợ DN.

– Đẩy mạnh phát triển hạ tầng cơ sở (điện, nước, thông tin liên lạc, giao thông vận tải); phát triển dịch vụ logistics, đưa hàng hóa xuất khẩu tới các tỉnh, thành lớn của Trung Quốc với chi phí và thời gian tiết kiệm nhất.

Đối với hoạt động nhập khẩu

– Hỗ trợ tìm kiếm, cung cấp và cập nhật thường xuyên danh sách các nhà phân phối, sản xuất xuất khẩu nguyên phụ liệu cho các ngành dệt may, da giày, máy tính và các nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất của ngành hóa chất, đồ gỗ, sắt thép…; Hỗ trợ các Hiệp hội ngành hàng, các DN kết nối với nhà cung cấp nước ngoài khi được yêu cầu.

– Nghiên cứu, xúc tiến nhập khẩu nguyên vật liệu thiết yếu phục vụ các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, điện tử…, đặc biệt chú trọng các DN vừa và nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm trong giao dịch nhập khẩu.

– Theo dõi sát tình hình nhập khẩu, phát hiện những mặt hàng gia tăng đột biến và làm rõ nguyên nhân, chủ động tham mưu, triển khai thực hiện những biện pháp kịp thời nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát phù hợp với cam kết quốc tế.

Bộ Công Thương (2020), Chỉ thị số 05/CT-BCT ngày 26/2/2020 về việc triển khai các giải pháp tăng cường xuất khẩu, nhập khẩu trong bối cảnh dịch Covid-19; Bộ Công Thương (2017), Quyết định số 1137/QĐ-TTg ngày 03/8/2017 phê duyệt Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Tổng cục Hải quan (2020), Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 2 và 2 tháng từ đầu năm 2020; Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc năm 2019 đạt gần 117 tỷ USD, truy cập từ: http://vinanet.vn/thuong-mai-cha/kim-ngach-xuat-khau-hang-hoa-sang-hong-kong-tq-dat-hon-7-ty-usd-724503.html; Hoàng Thị Thúy (2019),Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và vấn đề đặt ra đối với kinh tế Việt Nam, Tạp chí Tài chính Kỳ 1 tháng 10/2019.

Aec Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Gạo Việt Nam

(VLR) (Vietnam Logistics Review) AEC đã hình thành và chính thức đi vào hoạt động đặt Việt Nam và các nước trong khu vực trước những cơ hội và thách thức to lớn, đòi hỏi ngành gạo xuất khẩu Việt Nam cần có sự quan tâm, chuẩn bị kỹ, phối hợp, tự hoàn thiện để cạnh tranh được dưới sức ép của hội nhập sâu rộng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong thời gian tới.

(Vietnam Logistics Review) AEC đã hình thành và chính thức đi vào hoạt động đặt Việt Nam và các nước trong khu vực trước những cơ hội và thách thức to lớn, đòi hỏi ngành gạo xuất khẩu Việt Nam cần có sự quan tâm, chuẩn bị kỹ, phối hợp, tự hoàn thiện để cạnh tranh được dưới sức ép của hội nhập sâu rộng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong thời gian tới. Xuất khẩu gạo Việt Nam trong ASEAN

Nhiều năm qua, thị trường ASEAN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước trong khối có phần sụt giảm do nhu cầu giảm từ các khách hàng chính như Indonesia, Philippines và Malaysia. Lượng xuất khẩu giảm nhiều nhất vào năm 2013 – chỉ với 1,5 triệu tấn so với 3,8 triệu tấn của năm 2012. Giai đoạn 2014-2015, tình hình được cải thiện đáng kể song khối lượng gạo xuất khẩu vào thị trường này vẫn chưa đạt mức trên 3 triệu tấn như trước đây.

Về cơ cấu gạo xuất khẩu: Việt Nam chủ yếu xuất khẩu loại gạo đã xát hay là gạo trắng (chiếm khoảng 98%), bao gồm gạo trắng cấp thấp (25% tấm), gạo cấp trung bình (15-20% tấm), gạo cao cấp (3-10% tấm). Kim ngạch xuất khẩu các loại gạo khác như gạo thơm các loại, gạo nếp, gạo lứt không nhiều. Hiện nay, gạo xuất khẩu chủ yếu là gạo tẻ hạt dài, chất lượng trung bình được sản xuất hầu hết từ ĐBSCL.

Về cơ cấu thị trường xuất khẩu: Trong số các thị trường nhập khẩu, Philippines luôn chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Malaysia và Indonesia là thị trường lớn thứ 2 và thứ 3 do thời tiết và điều kiện thổ nhưỡng không thuận lợi cho phát triển trồng lúa. Là một nước công nghiệp ít chú trọng nông nghiệp nên nhu cầu nhập khẩu của Singapore về lương thực rất lớn. Thị trường này đứng ở vị trí thứ 4 trong số các nước nhập khẩu gạo ASEAN từ Việt Nam.

AEC và cơ hội cho xuất khẩu gạo

AEC được thành lập dự kiến là sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các DN trong khu vực ASEAN nói chung và các DN Việt Nam nói riêng. Đối với mặt hàng gạo xuất khẩu, Việt Nam có khá nhiều thuận lợi, cụ thể:

Gạo xuất khẩu của Việt Nam có lợi thế về giá cả: Nhờ ưu thế giá rẻ, gạo thơm của Việt Nam đã chiếm lĩnh được nhiều thị trường quan trọng. Ví dụ như nhờ vào những chính sách, cam kết khi hội nhập khu vực, cuối năm 2015, thị trường gạo Việt Nam đã thu hút thêm thị trường Singapore – một thị trường có nhiều tiềm năng.

Thị trường gạo xuất khẩu được mở rộng: Hiện nay, gạo Việt Nam chiếm lĩnh 77% thị trường gạo tại Philippines, và chiếm lĩnh 30% ở Malaysia. Vì vậy, mặt hàng gạo Việt Nam sẽ có nhiều ưu thế phát triển khi khu vực AEC hình thành bởi sự tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ trong khu vực ASEAN sẽ khuyến khích các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu tư lớn hơn.

Cải thiện môi trường kinh doanh cho các DN xuất khẩu gạo: Việc kết nối và xây dựng một ASEAN thống nhất, bớt chia cắt hơn sẽ khiến các nhà đầu tư lớn nhìn ASEAN như một sân chơi chung, một công xưởng chung. AEC cũng sẽ giúp Việt Nam cải thiện tốt hơn môi trường kinh doanh từ thủ tục hải quan, hành chính cho tới việc tạo ra ưu đãi đầu tư, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng.

AEC và thách thức cho xuất khẩu gạo

Chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp, cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng: Đã từ lâu, gạo Việt Nam bị đánh giá thấp về chất lượng so với đối thủ cạnh tranh. Không chỉ ở thị trường xuất khẩu mà ngay thị trường nội địa, các loại gạo Việt cũng khó cạnh tranh với nhiều loại sản phẩm gạo khác; nhất là khi mở cửa thị trường, hàng hóa có thể di chuyển dễ dàng hơn giữa các nước trong cộng đồng ASEAN.

Sức ép cạnh tranh lớn đối với thị trường gạo trong nước: Một trong những thách thức lớn nhất của Việt Nam khi tham gia vào AEC là sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các nước ASEAN – 6 ở quy mô vốn của nền kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề lao động… Sau khi AEC có hiệu lực, các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm, dịch vụ, đầu tư của các nước ASEAN, nguy cơ mất đi thị trường nội địa là rất lớn.

Chưa có thương hiệu gạo quốc gia: Trong khi Thái Lan có thương hiệu gạo toàn cầu là Thai Hom Mali, thậm chí Campuchia cũng có gạo thơm Romduol, Myanmar có gạo thơm Paw San thì Việt Nam hiện vẫn chủ yếu xuất khẩu gạo chất lượng thấp, giá rẻ và không có thương hiệu.

Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo Hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn để chiếm lĩnh thị trường

Việc hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn trong khối là cần thiết vì đa số các nước trong liên minh xuất khẩu gạo là các nước đang phát triển; cần liên kết lại tạo thành một liên minh vững mạnh trên trường quốc tế. Khi tham gia liên minh này, Việt Nam sẽ cải tạo được hệ thống sản xuất gạo, tiếp thu công nghệ chế biến gạo và học hỏi kinh nghiệm của các thành viên khác trong việc xúc tiến quảng bá gạo.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gạo

Đối với mặt hàng lương thực thực phẩm như gạo, người tiêu dùng có xu hướng chọn sản phẩm có chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng cao. Khi đó những thương hiệu gạo nổi tiếng sẽ được tin dùng và tiêu thụ nhiều hơn. Do vậy để phát triển tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu, Việt Nam cần phải xúc tiến quảng bá, xây dựng thương hiệu và nâng cao hơn nữa chất lượng của mặt hàng gạo.

Tổ chức và tái cấu trúc sản xuất nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên nên nhiều năm qua, ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu như đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, tạo thu nhập và việc làm cho nông dân, tăng thu ngoại tệ. Song, ngành lúa gạo còn nhiều hạn chế về chất lượng, sức cạnh tranh thấp, tổ chức sản xuất và xuất khẩu còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất yếu kém, giá trị xuất khẩu không lớn, hiệu quả chưa cao và chưa tương xứng với vị thế xuất khẩu. Vì vậy, việc tái cơ cấu ngành lúa gạo là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững.

Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Chè Của Việt Nam

MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 4 Lý do chọn đề tài 4 Mục tiêu nghiên cứu 5 Mục tiêu tổng quát 5 Mục tiêu cụ thể 5 Phương pháp nghiên cứu 5 Phương pháp thu thập số liệu 5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 5 Phạm vi nghiên cứu 5 CHƯƠNG 1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CHÈ CỦA VIỆT NAM 7 Thị trường xuất khẩu chè thế giới 7 Sản lượng 7 Tiêu thụ 9 Nhu cầu thị trường trong tương lai 10 Giới thiệu tổng quan về ngành chè của Việt Nam 12 Diện tích và sản lượng 12 Các loại chè ở Việt Nam 14 Thực trạng xuất khẩu chè của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006- quý I năm 2009 15 Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam 15 Thị trường xuất khẩu chè Việt Nam 16 Chủng loại sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam 18 Chính sách điều hành xuất khẩu của Việt Nam 20 Chính sách nhập khẩu của các nước nhập khẩu 20 Đối thủ cạnh tranh 21 Trang CHƯƠNG 2:GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU CHÈ CỦA VIỆT NAM 23 Những khó khăn và thuận lợi của chè Việt Nam 23 Giải pháp phát triển ngành chè Việt Nam 24 Cơ sở đề ra giải pháp 24 Tồn tại của ngành xuất khẩu chè 24 Định hướng của ngành đến 2020 25 Một số giải pháp 26 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28 Kết luận 28 Kiến nghị 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 DANH MỤC BIỂU BẢNG Trang Bảng 1. Sản lượng chè tháng 10 của Sri Lanka (kg) 8 Bảng 2. Sản lượng chè tháng 2 của Sri Lanka (kg) 8 Bảng 3. Diện tích và sản lượng chè Việt Nam từ 2005-2008 13 Bảng 4. Diện tích và sản lượng chè một số tỉnh năm 2008 14 Bảng 5. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam từ 2006-2008 15 Bảng 6. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam quý 1 qua các năm 15 Bảng 7. Xuất khẩu chè của Việt Nam đến một số thị trường chính trong tháng 7 và 7 tháng 2008 so với 2007 17 Bảng 8. Thị trường xuất khẩu chè quý I năm 2009 18 Bảng 9. Chủng loại chè xuất khẩu chủ yếu trong tháng 7 và 7 tháng 2008 so với 2007 19 Biểu đồ 1. 10 nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 10 Biểu đồ 2. Dự báo giá chè năm 2009 của thế giới và Việt Nam 12 PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Ngành chè Việt Nam đang đứng trước cơ hội thuận lợi để phát triển mạnh mẽ. Giá trị xuất khẩu trên 130 triệu USD/năm. Với diện tích khoảng trên 125.700 ha (năm 2007), lượng chè xuất khẩu hàng năm của Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ ước khoảng trên 180.000 tấn (tăng gấp 3 lần năm 2003, chỉ khoảng 60.000 tấn). Bốn tháng đầu năm 2009, ngành chè đã xuất khẩu được 27.000 tấn chè các loại, đạt kim ngạch 34 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2008, xuất khẩu chè đã tăng 9,7% về sản lượng và 8,9% về giá trị. WTO mang lại cho Việt Nam một “sân chơi” khổng lồ, với hơn 5 tỷ người tiêu thụ, 95% giá trị thương mại thế giới và kim ngạch nhập khẩu trị giá 635 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, mặc dầu có sự phát triển với tốc độ cao với vị trí quốc gia xuất khẩu nông sản lớn thứ nhất thế giới xét về tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu nông sản trên tổng GDP trong nông nghiệp, nhưng các sản phẩm xuất khẩu đó của chúng ta vẫn chưa có sự phát triển vững chắc, còn bộc lộ nhiều nhược điểm. “Gót chân A-sin” của ngành chè Việt Nam chính nằm ở chất lượng sản phẩm chưa cao, như việc “chất lượng chè không ổn định, công nghệ thu hoạch và bảo quản còn lạc hậu, đầu tư chế biến để tăng giá trị thặng dư chưa nhiều và đặc biệt chúng ta chưa xây dựng được những thương hiệu mạnh gắn liền với vị trí của sản phẩm trên thị trường quốc tế”, Theo thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam (Vitas), lượng chè xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng trưởng trong những năm qua, đưa nước ta đứng thứ 5 thế giới trong số những nước xuất khẩu chè. Tuy nhiên, thói quen chào bán và xuất khẩu chè sơ chế với giá thường thấp so với thị trường cùng loại. Lý do dẫn đến chất lượng chè Việt Nam đạt thấp đó là do chương trình cải tiến chất lượng chè Việt Nam chưa hiệu quả, đặc biệt là thái độ chưa nghiêm túc của Việt Nam trong việc báo cáo về chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế. Cũng theo hiệp hội Chè Việt Nam, dù chè của Việt Nam có chất lượng cao, nhưng do áp dụng các tiêu chuẩn cũ trong mua bán với nhà nhập khẩu nên không kích thích các nhà sản xuất trong nước do không mang lại giá trị cao, dẫn tới thực tế chè Việt Nam có sản lượng xuất khẩu đứng thứ năm thế giới nhưng các thương hiệu nổi tiếng lại thuộc về các nhà nhập khẩu. Do đó vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng cao giá trị của chè Việt Nam cả về sản lượng và chất lượng và tiềm hiểu về năng lực cạnh tranh cũng như những điểm thuận lợi và khó khăn của ngành trong hiện tại và những chiến lược phát triển của ngành trong tương lai. Vì lý do này mà đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu chè của Việt Nam ” được thực hiện. Qua nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn các vấn đề của ngành chè của Việt Nam được đề cập ở trên. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển ngành xuất khẩu chè của Việt Nam. Mục tiêu cụ thể: Phân tích hiện trạng xuất khẩu của ngành chè Việt Nam qua các năm. Phân tích những điểm thuận lợi, bất lợi và những tác động của nó đến sản xuất của ngành chè Việt nam. Đánh giá các điều kiện phát triển và tiềm năng phát triển của ngành xuất khẩu chè trong tương lai. Đề xuất một số giải pháp để phát triển ngành chè Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập số liệu: Đề tài sử dụng các số liệu thứ cấp về hoạt động sản xuất, sản lượng, giá cả, cũng như kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam vào thị trường thế giới. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối, nhằm đánh giá được thực trạng phát triển và những mục tiêu chưa đạt được của ngành chè Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vào khả năng sản xuất, chế biến và tình hình xuất khẩu của chè Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến quý I năm 2008. Từ đó có thể thấy được những mặt còn tồn tại và những thành tựu đã làm được của chè Việt Nam. PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CHÈ CỦA VIỆT NAM Thị trường xuất khẩu chè thế giới: Sản lượng: Sản lượng chè xuất khẩu của thế giới chủ yếu bị chi phối bởi một số nước sau: Kênia (nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới), Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Bănglađét,… Thị trường chè thế giới năm 2008 khởi sắc với xu thế giá tăng mạnh trên tất cả các thị trường và sự phục hồi mạnh mẽ của ngành chè Sri Lanka và Ấn Độ, cùng với cơ hội lớn cho các nước sản xuất chè khác nhờ sản lượng của Kênia- nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới giảm mạnh kể từ cuối năm 2007. Những biến cố chính trị tại Kênia hồi đầu năm 2008, cộng với điều kiện thời tiết bất lợi đã khiến sản lượng chè của nước này giảm mạnh. Theo uỷ ban chè Kênia, sản lượng chè 6 tháng đầu năm 2008 của Kênia đã giảm 21% so với cùng kỳ năm 2007, xuống mức 157 triệu kg. Sản lượng chè 5 tháng đầu năm 2008 của nước này đã giảm 21,5% xuống còn 134,6 triệu kg, so với mức 171,5 triệu kg của cùng kỳ năm 2007. Cũng theo cơ quan này, nếu tính cho cả năm 2008 sản lượng chè của Kênia giảm khoảng 9%. Sản lượng chè của nước này giảm mạnh đã tạo cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh. Trong đó, Sri Lanka- nước xuất khẩu chè đen lớn thứ 2 thế giới sau Kênia và là nước sản xuất chè lớn thứ 4 thế giới, hiện đang có được những lợi thế rất lớn, với giá chè của nước này luôn vững ở mức cao nhất trên các thị trường thế giới trong năm nay. Theo Uỷ ban chè Sri Lanka, giá chè toàn cầu tăng cao đã khuyến khích các nhà sản xuất nước này tăng sản lượng, nhờ đó sản lượng chè nước này đã tăng 7,9% trong tháng 7 năm 2008, lên mức 28,27 triệu kg so với 26,17 triệu kg của cùng kỳ năm 2007. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu đã và đang khiến các nhà sản xuất và xuất khẩu chè lớn trên thế giới phải cắt giảm sản lượng. Sở giao dịch chè Sri Lanka cho biết giá chè thế giới giảm mạnh do lo ngại suy thoái kinh tế đã buộc các nhà sản xuất chè Sri Lanka, một trong nước sản xuất chè đen lớn nhất thế giới, phải cắt giảm 2% sản xuất trong tháng 9. Bởi vậy, sản xuất chè đã giảm còn 25,22 triệu kg so với 25,74 triệu kg trong tháng 9/2007. Theo các nhà phân tích, sản lượng chè tháng 10 của Xri Lanka cũng đã giảm 12,4% do giá chè thế giới giảm đã khiến sản xuất chè bị đình lại và chất lượng chè giảm. Sản lượng chè tháng 10 của nước này đã giảm xuống mức 23,97 triệu kg so với mức 27,37 triệu kg của cùng kỳ năm 2007. Uỷ ban chè Xri Lanka cho biết, nước này dự đoán giá trị xuất khẩu chè của nước này sẽ đạt khoảng 1,5 tỷ USD trong năm nay, nhưng với tình hình hiện nay thì chắc chắn sẽ chỉ đạt ở mức 1,2 tỷ USD, do giá chè thế giới giảm mạnh. Tuy nhiên, sản lượng chè 10 tháng đầu năm 2008 của Xri Lanka đã tăng 10,2% lên mức 273,9 triệu kg so với mức 248,5 triệu kg của cùng kỳ năm 2007. Bảng 1. Sản lượng chè tháng 10 của Sri Lanka (kg) Khu vực Tháng 10 10 tháng 2007 2008 2007 2008 Vùng Cao 6.459.833 6.488.313 59.909.227 70.461.762 Trung du 4.117.677 3.705.715 42.234.399 42.601.618 Vùng Thấp 16.793.730 13.779.642 146.336.480 160.797.031 Tổng 27.371.240 23.973.670 248.480.106 273.860.411 Nguồn: chúng tôi Bảng 2. Sản lượng chè tháng 2 của Sri Lanka (kg) Khu vực Tháng 2 2 tháng đầu năm 2008 2009 2008 2009 Cao nguyên 5.472.079 4.016.804 11.614.283 9.204.087 Trung Du 4.492.469 2.026.731 7.965.502 4.886.109 Vùng thấp 15.463.383 6.514.479 31.459.227 16.273.462 Tổng 25.427.931 12.558.014 51.039.012 30.363.658 Nguồn: chúng tôi Còn tại Ấn Độ, theo thống kê của Hiệp hội chè Ấn Độ (ITA), xuất khẩu chè 6 tháng đầu năm 2008 của nước này đã đạt 87,4 triệu kg, tăng 10,4 triệu kg so với cùng kỳ năm 2007, trong đó 44,7 triệu kg là từ miền Bắc Ấn Độ và 42,7 triệu kg là từ miền Nam. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu chè 6 tháng đầu năm 2008 của Ấn Độ đã đạt 8,8332 tỷ rupi, tăng 1,1657 tỷ rupi so với mức 7,6675 tỷ rupi của cùng kỳ năm ngoái. Tính riêng giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 (quý đầu tiên của năm tài khoá 2008), sản lượng chè xuất khẩu đạt 36,5 triệu kg tăng 3,9 triệu kg so với năm trước, trong đó 14,4 triệu kg là từ miền Bắc Ấn Độ và 22,1 triệu kg là từ miền Nam. Tóm lại, nguồn cung chè của thế giới giảm do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như thời tiết, chính trị, khủng hoảng kinh tế,… kể từ cuối năm 2007 đến nay. Và theo tình hình hiện tại thì sản lượng chè thế giới sẽ khó có thể phục hồi và tăng trở lại một cách nhanh chóng. Do đó, đây có thể xem là một cơ hội tốt để cho ngành chè Việt Nam phát triển hơn trên thị trường thế giới nếu biết tận dụng tốt thời cơ và có các biện pháp cụ thể để tăng sản lượng chè của quốc gia. Tiêu thụ: Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khiến nhu cầu của các khách hàng giảm, cộng với chất lượng chè cuối vụ thấp đã khiến giá chè tại các phiên giao dịch chè tuần cuối năm 2008 và đầu năm 2009 giảm liên tục. Nhu cầu của các khách hàng giảm, khiến khối lượng tiêu thụ tại các phiên giao dịch giảm mạnh trong những tháng qua. Tại Mombasa- Kênia, khối lượng chè tiêu thụ tháng 1 đã giảm 19% xuống mức 19,1 triệu kg trong tháng 1/09, so với mức 23,7 triệu kg cùng kỳ năm 2008 và tiếp tục giảm mạnh trong tháng 2. Tại Bănglađét, khối lượng tiêu thụ cũng giảm mạnh, do nhu cầu chè giảm và chất lượng chè cuối vụ thấp, đặc biệt khối lượng tiêu thụ đã giảm mạnh trong những phiên cuối cùng của niên vụ chè này. Tại phiên giao dịch cuối vụ ngày 17/3, khối lượng chè tiêu thụ chỉ đạt khoảng 30% so với 1 tháng trước. Giá chè tại các phiên giao dịch chè tuần lớn nhất thế giới đã liên tục giảm từ đầu năm đến nay, một phần do ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng chủ yếu do chất lượng chè thấp. Trong khi, tại Bănglađét chè đang vào cuối vụ khiến sản lượng và chất lượng đều giảm, thì những khu vực trồng chè ở Kênia và Sri Lanka những nước sản xuất và xuất khẩu chè lớn trên thế giới lại đang chịu ảnh hưởng của hạn hán và điều kiện thời tiết bất lợi, khiến chất lượng chè giảm đáng kể. Năm 2008, tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế giới. So với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng trung bình 16,89%. Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 là Nga (510,6 triệu đô la), Anh (364 triệu đô la), Mỹ (318,5 triệu đô la), Nhật Bản (182,1 triệu đô la) và Đức (181,4 triệu đô la). Trong khi đó, tổng kim ngạch của 10 nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới đạt gần 3,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2007. Biểu đồ 1. 10 nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2008 Nhu cầu thị trường trong tương lai: Mặt dù tình hình kinh tế thế giới hiện nay không mấy khả quan nhưng những đánh giá hiện nay về thị trường chè thế giới năm 2009 tương đối khả quan. Tình trạng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đang khiến người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu và thay đổi thói quen tiêu dùng. Người tiêu dùng tại những thị trường lớn đặc biệt là châu Âu và Mỹ đã bắt đầu hạn chế mua những loại đồ uống đắt tiền như nước trái cây, nước ngọt, … mà thay vào đó là những đồ uống rẻ tiền hơn như chè. Đây sẽ là cơ hội cho ngành chè thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay. Về thị trường tiêu thụ, theo dự báo của FAO, trong giai đoạn 2009 – 2010, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm. Các nước nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới vào năm 2010. Cụ thể, Pakistan tăng 2,9%/năm, từ 109.400 tấn lên 150.000 tấn; Nhật Bản cũng tăng từ 18.000 lên 22.000 tấn, tăng 1,8%/năm. Tại thị trường Mỹ, mặc dù kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm nhưng nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh. Người tiêu dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cà phê, nước trái cây, nước ngọt…mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình. Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè. Ngay từ những tháng đầu năm 2009, tại các thị trường này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt. Như tại Nga, (một trong những nước tiêu thụ chè lớn trên thế giới), với mức tiêu thụ trung bình khoảng hơn 1 ki lô gam chè/người/năm. Trong giai đoạn 2009-2010, nhập khẩu chè đen của Nga sẽ tăng từ 223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là 3%. Tuy nhiên, mức tiêu thụ chè đen (loại chè chiếm gần 80% mức tiêu thụ hàng năm) sẽ trong xu hướng suy giảm. Tỷ lệ chè xanh, chè hoa quả, chè làm từ các loại cây thảo mộc sẽ có xu hướng gia tăng.Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Iraq nhu cầu tiêu dùng chè cũng tăng. Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống. Dựa vào các phân tích trên, Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn (AGROINFO) dự báo giá chè trung bình của thế giới trong năm 2009 sẽ đạt mức 4.008 đô la Mỹ/tấn, tăng gần 1,5% so với năm 2008. Biểu đồ 2. Dự báo giá chè năm 2009 của thế giới và Việt Nam Giới thiệu tổng quan về ngành chè của Việt Nam: Diện tích và sản lượng: Ở Việt Nam , cây chè đang được coi là cây trồng chủ lực góp phần xoá đói giảm nghèo, thậm chí làm giàu cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao. Ngoài ra, cây chè còn giúp phủ xanh đất trống đồi trọc và bảo vệ môi trường. Trong 10 năm gần đây Việt Nam đã trở thành một “thế lực” của ngành chè thế giới: chiếm 4% tổng sản lượng, 6% tổng sản phẩm xuất khẩu và 3,7% về diện tích trồng chè. Trên quy mô toàn quốc, có tới 34 tỉnh, thành phố trực thuộc TW dành diện tích đất canh tác để trồng chè. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện VN có 6 triệu người sống trong vùng chè, có thu nhập từ trồng, chế biến và kinh doanh chè. Có 34/63 tỉnh, thành phố có diện tích trồng chè, chủ yếu tập trung ở trung du và miền núi với diện tích năm 2008 trên 130.000 ha, với năng suất 6,5 tấn búp tươi/ha, cung cấp nguyên liệu cho khoảng 700 cơ sở sản xuất chè khô. Hiện cả nước có 262 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này với khoảng 650 nhà máy chế biến chè (công suất từ 2 đến 10 tấn nguyên liệu chè búp tươi/ngày) và hàng ngàn hộ dân lập xưởng để chế biến chè tại gia đình. Đội ngũ làm chè lên tới 3 triệu lao động, chiếm 50% tổng số dân sống trong vùng chè. Bảng 3. Diện tích và sản lượng chè Việt Nam từ 2005-2008 2005 2006 2007 2008 Chênh lệch tuyệt đối so với năm trước Chênh lệch tương đối so với năm trước (%) 2006 2007 2008 2006 2007 2008 Diện tích (nghìn ha) 122,5 122,9 125,7 130 0,5 2,8 4,3 100,3 102,3 103,4 Sản lượng búp tươi (nghìn tấn) 570 648,9 704,9 845 78,9 56 140,1 113,8 108,6 119,9 Nguồn: ISO, chúng tôi Qua bảng số liệu ta thấy tổng diện tích và sản lượng của Việt Nam không ngừng tăng qua các năm. Về diện tích, năm 2005, toàn quốc có 122,5 nghìn ha chè, nhưng con số này của năm 2008 đã là 130 nghìn ha, tăng 7,5 nghìn ha (6,12%) trong 3 năm. Diện tích trồng chè của cả nước tăng qua các năm từ 2006-2008 lần lược là 0,5 nghìn ha (0,3%), 2,8 nghìn ha (2,3%), 4,3 nghìn ha (3,4%), ta thấy được diện tích không chỉ tăng qua các năm mà còn với tốc độ tăng cao hơn. Diện tích tăng là do xác định được tầm quan trọng của cây chè không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo ở vùng miền núi trung du mà còn có thể giải quyến được một lượng lớn về lao động, nên nhà nước đã có sự hổ trợ nông dân trồng chè mở rộng diện tích canh tác. Về sản lượng, năm 2008 đạt 845 nghìn tấn búp tươi, tăng 275 nghìn tấn (48,2%) so với năm 2005. Sản lượng tăng là do diện tích trồng chè các năm qua không ngừng tăng lên, bên cạnh đó có sự áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào việc trồng chè nên năng suất cũng được nâng cao. Bên cạnh đó cây chè cũng chịu nhiều sự ảnh hưởng của điều kiện thời tiết làm cho sản lượng không như mong muốn, cụ thể là sản lượng năm 2007 tăng ít hơn so với năm 2006 mặt dù diện tích lại tăng nhiều hơn. Đó là hậu quả của thời tiết, trong năm 2007 thời tiết không thuận lợi, rét đậm rét hại kéo dài ở miền Bắc làm giảm năng suất của cây chè rất nhiều. Cây chè Việt Nam chủ yếu được trồng ở khu vực trung du miền núi. Khu vực trung du miền núi phía Bắc và Tây Bắc có diện tích trồng chè lớn nhất, chiếm trên 80% diện tích trồng chè của cả nước. Nhưng tỉnh có diện tích và sản lượng chè lớn nhất nước là Lâm Đồng với 26,5 nghìn ha chè và đạt 190 nghìn tấn búp tươi năm 2008. Bảng 4. Diện tích và sản lượng chè một số tỉnh năm 2008 Tỉnh Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Lâm Đồng 26.500 190.000 Thái Nguyên 16.000 125.000 Hà Giang 15.064 99.000 Phú Thọ 14.906 98.000 Yên Bái 13.000 86.000 Nguồn: tổng hợp từ: chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi Các loại chè ở Việt Nam: Nước ta là một quốc gia có truyền thống uống chè lâu đời, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ rất nhiều chủng loại chè, từ các loại chè truyền thống cho đến các loại chè được du nhập từ nước ngoài. Các loại chè được uống nhiều trong dân gian Việt Nam như: Chè tươi: nguyên liệu gồm lá chè non và già, to nhỏ, xanh tươi, không qua chế biến, hái về rửa sạch vò nhầu lá bằng tay rồi cho vào nồi hoặc ấm đun nước loại to cho thêm vài lát gừng tươi đun cho đến sôi, chắt ra bát, chén uống ngay hoặc cho vào ấm tích ủ nóng để uống dần trong

Giải Pháp Nâng Giá Trị Cà Phê Việt Nam Xuất Khẩu

Chính vì vậy, việc thúc đẩy sản xuất cà phê hướng đến chất lượng đang được chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các nhà nhập khẩu đề xuất nhiều nhất.

Tái canh để nâng cao chất lượng

Theo ông Lê Văn Đức, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, cả nước có hơn 650.000ha cà phê, tập trrung chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước…; trong đó, diện tích cần phải tái canh và ghép cải tạo để nâng cao chất lượng cà phê là 200.000 ha.

Cho đến cuối tháng 12/2015, các tỉnh Tây Nguyên và Bình Phước đã tái canh, ghép cải tạo được hơn 61.000ha. Tỉnh Lâm Đồng thực hiện hơn 22.000ha, Đắk Lắk hơn 15.000ha, Đắk Nông hơn 6.000ha, riêng Tổng công ty cà phê Việt Nam thực hiện hơn 11.000ha.

Tái canh và ghép cải tạo vườn cà phê là vấn đề lớn đối với cả nông dân lẫn doanh nghiệp. Nó đòi hỏi phải đầu tư kỹ thuật, vốn lớn nhưng rủi ro cao. Thế nhưng, trước thực tế nhiều vườn cà phê già hiện nay bắt buộc phải thực hiện bước này mới có thể cung cấp nguồn nguyên liệu chất lượng cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê.

Để khâu tái canh và ghép cải tạo các vườn cà phê tốt hơn, các hộ nông dân và doanh nghiệp trồng cà phê phải nắm vững thông tin các loại giống cà phê cao sản. Riêng với các hộ nông dân, ngành nông nghiệp địa phương phải hướng dẫn họ kỹ thuật cũng như cách thức vay vốn để tái canh và đầu tư.

Trong thời gian qua, Hiệp hội cà phê cacao Việt Nam đã hỗ trợ gần 20 tấn hạt giống và hơn 560.000 cây cà phê vối lai cao sản TRS1 cho hàng ngàn hộ nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã của 5 tỉnh Tây Nguyên. Riêng Công ty Nestle Việt Nam cho đến cuối năm 2015 cũng đã hỗ trợ 11 triệu cây cà phê giống cho các hộ nông dân khu vực Tây Nguyên – ông Nguyễn Nam Hải, Phó chủ tịch Hiệp hội cà phê Cacao Việt Nam cho biết.

Hỗ trợ từ World Bank

Ngân hàng Thế giới (World bank) cũng có dự án hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Theo ông Chris Jackson, chuyên gia chính về phát triển nông thôn của Ngân hàng Thế giới, kinh phí của dự án này sẽ giúp cải thiện canh tác và tập quán canh tác, thúc đẩy kế hoạch tái cơ cấu nông nghiệp là 238 triệu USD. Dự án tập trung vào phát triển cây lúa và cây cà phê. Một phần kinh phí sẽ hỗ trợ cho 62.000 hộ trồng cà phê tại 12 huyện sản xuất cà phê lớn nhất của 5 tỉnh Tây Nguyên.

Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, tái canh càphê sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh chất lượng càphê hơn nữa, theo kịp với tốc độ tái canh của các quốc gia xuất khẩu cạnh tranh với càphê Việt Nam hiện nay. Để việc tái canh thuận lợi hơn, phía ban điều phối cũng phối hợp với Tổ chức càphê thế giới (ICO) để học hỏi kỹ thuật tái canh, phổ biến cho các hộ nông dân sản xuất càphê.Phân loại càphê ngay từ đầu

Bên cạnh việc tái canh cây càphê để nâng cao năng suất và chất lượng thì các khâu khác trong chuỗi sản xuất càphê cũng cần được đầu tư.

Thay đổi phương thức sản xuất

Theo ông Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), thương lái và doanh nghiệp phải thay đổi phương thức thương mại để thúc đẩy nhà nông hướng tới thu hoạch càphê theo đúng chất lượng mà doanh nghiệp yêu cầu.

Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp thu mua cào bằng các loại càphê, làm cho nông dân chỉ chú trọng đến lợi nhuận, mà không quan tâm đến chất lượng càphê. Cụ thể, với càphê chín, nông dân chỉ có thể thu hoạch bằng một nửa càphê xanh, non, thì nhà thu mua phải mua với giá gấp đôi.

Còn cà phê xanh, non, nông dân lại thu hoạch gấp đôi cà phê chín. Nếu bán ngang giá nhau thì không ai chọn cách chờ trái chín mới thu hoạch.

Và chế biến cần có quy chuẩn

Mặt khác, trong chế biến cà phê, phần thất thoát nằm ở khâu mua, bán không cân đối. Vì vậy, các nhà xuất khẩu phối hợp lại để xây dựng nhà máy chế biến và phân loại các hạt nguyên chất lượng cung cấp cho xuất khấu, với hạt đen, nâu, hạt sâu hoặc hạt vỡ để làm mặt hàng giá trị gia tăng, cung cấp cho thị trường nội địa, xóa lỗ thủng mặt hàng giá trị gia tăng ở thị trường nội địa.

Ngành cà phê cũng chỉ có thông số hạt vỡ hiện nay là 5%, vì vậy cũng cần có quy chuẩn phân loại hạt tốt, hạt xấu. Khi phân loại được chất lượng hạt càphê và có quy chuẩn cụ thể thì ngành càphê cũng sẽ khắc phục dần tình trạng càphê bột tràn lan không có quy chuẩn hoặc quy chuẩn pha trộn các loại đậu nành, bắp (ngô) rang và các loại hóa chất cung cấp tại thị trường nội địa, ông Nguyễn Úc, Chủ tịch Hợp tác xã nông nghiệp Thịnh Phú, Đắk Lắk chia sẻ.

Bên cạnh đó, khi phân loại chất lượng tốt hơn thì ngành cà phê Việt Nam sẽ tạo uy tín hơn nữa với thị trường và các doanh nghiệp nhập khẩu. Với các thị trường tiêu thụ càphê lớn của Việt Nam như Đức, Mỹ, Italy, Tây Ban Nha, Bỉ, càphê nguyên chất, không có sự pha trộn mới là càphê chất lượng.

Vì vậy, các hộ nông dân tự phân loại chất lượng hạt ngay từ đầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phía doanh nghiệp, vừa tiết kiệm kinh phí kiểm tra, thử nghiệm, vừa tiết kiệm thời gian mà lợi nhuận nông dân thu được cũng sẽ cao hơn, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Intimex cho biết.