Top #10 ❤️ Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Đề Án Lạm Phát Và Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Giải Pháp In Date Cho Ngành Mía Đường Việt Nam

Hội Thảo: “giải Pháp Nào Cho Ngành Mía Đường Việt Nam Trong Tình Hình Mới”?

Tìm Giải Pháp Cho Ngành Mía Đường Việt Nam

Giải Pháp Nào Cho Ngành Mía Đường Việt Nam Trong Tình Hình Mới

Thủ Tướng Đưa 9 Giải Pháp Hỗ Trợ Cho Ngành Mía Đường Thực Hiện Cam Kết Atiga

Phần I: Tổng quan về lạm phát và lạm phát ở Việt Nam 3

1.1/ Lạm phát vừa phải 4

1.2/ Lạm phát phi mã 4

1.3/ Siêu lạm phát 4

2/ Những biểu hiện của lạm phát 4

2.1/ Sự mất giá liên tục của các loại đồng tiền có giá 5

2.2/ Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng 5

2.3/ Khối lượng bút tệ tăng lên 5

3/ Lạm phát ở Việt Nam ( từ năm 1986 đến năm 2004) 5

3.1/ Thời kỳ trước đổi mới( trước năm 1986 ) 6

3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) 6

3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) 6

3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) 7

3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) 7

Phần II: Nguyên nhân và các tác động của lạm phát 8

1/ Nguyên nhân của lạm phát 8

1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách 8

1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí 8

1.3/ Lạm phát ỳ 9

2/ Tác động của lạm phát 9

2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau 10

2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp 11

2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến 12

Phần III: Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13

1/ Tình hình biến động giá cả 14

2/ Nguyên nhân tăng giá 16

2.1/ Nguyên nhân khách quan 16

2.2/ Các nguyên nhân chủ quan 16

Phần IV: Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam 17

1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát 17

2/ Các biện pháp chống lạm phát ở Việt Nam hiện nay 18

3/ Một số đề xuất, kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 22

ất hiện. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 1976-1985 nền kinh tế đã có nhiều biểu hiện suy thoái, khủng hoảng và lạm phát. Sản xuất đình đốn, kinh doanh kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vật chất cao, thu nhập quốc dân tăng không đáng kể, đời sống nhân dân giảm sút, giá cả ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen có khoảng cách khá xa. Nông nghiệp với tỷ trọg chiếm trên 40% tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân, nhưng gía trị sản xuất nông nghiệp chỉ tăng 3,8%/ năm. Công nghiệp tăng bình quân 5,2%/năm. Dịch vụ thì hầu như không phát triển, xuất khẩu thì nhỏ bé. Thời kỳ này, tình trạng đất nước làm không đủ ăn, tình hình kinh tế- xã hội khó khăn không thể kể hết. 3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) Sau Đại hội đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trang khủng hoảng kinh tế- xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9%/ năm trong khi dân số tăng 2,3%. Trong thời kỳ này, lạm phát ở mức cao, thu nhập người dân lại không tăng, vì vây mức sống thực của người dân đã thấp nay còn thấp hơn. 3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) Giai đoạn này, tình hình kinh tế- xã hội nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn diện, nền kinh tế đã bắt đầu vượt ra khỏi khủng hoảng để đi vào thế ổn định. Điểm nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn các giai đoạn trước đó với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và liên tục. Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 là bước đầu chặn được lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm 1990 xuống 12,7% năm 1995. Nămm 1991, tỷ lệ lạm phát là 67,5%, năm 1992 là 17,5%, năm 1993 là 5,2%, năm !993 la 14,4% và năm 1995 là 12,7%. Mặc dù tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức hai con số song đây là một chỉ số giá rất nhỏ bé so với các năm trước đó 3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) Bước vào giai đoạn 1996-2000, các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới đã tác động không nhỏ tới nền kinh tế nước ta.Thiên tai lại liên tiếp xảy ra trong nước… Tuy vậy, một điều đáng lưu ý trong giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chững lại thì tỷ lệ lạm phát lai đi xuống và chuyển sang giai đoạn thiểu phát. Điều này thể hiện ở chỗ năm 1995 tỷ lệ lạm phát là12,7% thì đến năm 2000 là -0,6% đi cùng với chỉ số giá tiêu dùng ở mức 0,1% năm 1999 và -0,6% năm 2000. Thời kỳ này cho ta thấy khi lạm phát thấp hay giảm phát thì mức tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, ảnh hưởng không tốt đối với nền kinh tế. Chính vì vậy trong giai đoạn này chúng ta đã áp dụng các biện pháp kích cầu để đẩy nhanh tăng trưởng lên. 3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn này, chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đưa tỷ lệ lạm phát lên một mức hợp lý . Trong bốn năm, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, cơ chế kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi mặt xã hội được cải thiện và phát triển. Tỷ lệ lạm phát tăng từ -0,6% năm 2000 lên 9,5% năm 2004. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2004 thì lạm phát lại có nguy cơ tái diễn. Năm 2004, tình hình biến động trên thị trường thế giới và biến động trên thị trường trong nước, lạm phát lại như một bóng ma một lần nữa lại rình rập gây bất ổn định nền kinh tế. Với chỉ số giá 9,5% năm 2004 là một gianh giới mỏng manh giữa lạm phát kiểm soát được và lạm phát cao. Phần II Nguyên nhân và các tác động của lạm phát Trong phần II này, người viết muốn đem đến cái nhìn tổng quan nhất về nguyên nhân và các tác động chung cua lạm phát đối với xã hội và kinh tế, trước khi đi sâu tìm hiểu nguyên nhân lạm phát ở nước ta trong thời gian vừa qua. 1/ Nguyên nhân của lạm phát Lạm phát khởi thuỷ từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất là lạm phát có thể xảy ra do tác động chủ quan của hệ thống tiền tệ- tín dụng – ngân hàng. Bất cứ một sự biến đổi nhỏ nào của hệ thống này đều có tác động hoặc tăng hoặc giảm tỷ lệ lạm phát Thứ hai là lạm phát cũng chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khách quan như chính trị, xã hội, thiên tai, bão lụt, tình trạng thất nghiệp, nền sản xuất.. do chịu tác động của nhiều yếu tố trong nền kinh tế như vậy nên lạm phát diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi trong quá trình chống lạm phát có chiến lược đúng đắn để lạm phát luôn nằm trong quỹ đạo mà nền kinh tế có thể chấp nhận được Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đó có thể tóm gọn lại như sau 1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụt ngân sách chi tiêu của Nhà nước( y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầu khuyếch trương nền kinh tế. Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt. Nguyên nhân của lạm phát ở đây được xác định là lạm phát do cầu hàng hoá vượt qua cung. Hàng hoá bị săn đuổi bởi lượng chi tiêu quá lớn, mà bản chất của nó là sự chi tiêu quá nhiều trong lúc lượng cung hàng hoá bị hạn chế. 1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả của các loại hàng hoá và tiền lương luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xảy ra. Lạm phát như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên, có nghĩa là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên. Thực chất ở các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khi các cuộc đấu tranh của công đoàn đạt được một thoả thuận về mức lương mới thì các nhà tư bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ đã mất đi do tăng tiền lương cho công nhân bằng cách nâng giá bán hàng hoá lên. 1.3/ Lạm phát ỳ Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế tư bản, là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. ở những nước có lạm phát ỳ xảy ra , có nghĩa là nền kinh tế ở nước đó có một sự công bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được trông đợi và được đưa vào các hợp đồng và các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, chính sách tài chính của Nhà nước, giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn đông kinh tế xảy ra. ( Lúc đó lạm phát ỳ có thể tăng hoặc giảm). 2/ Tác động của lạm phát Tìm hiểu về những tác động của lạm phát đối với các mặt của đời sống kinh tế – xã hội là cần thiết để từ đó đưa ra những giải pháp đúng đắn, hợp lý và hiệu quả chống lại lạm phát. Lạm phát được nhận diện về tác động của nó lại hết sức khác nhau, xét về nhiều góc độ khác nhau, biểu hiện ở nhiều trường phái kinh tế khác nhau, bao gồm cả những sự lên án gay gắt, cùng sự thừa nhận vai trò tích cực của nó đối với nền kinh tế. Vậy nên nhìn nhận vấn đề về tác động của lạm phát theo hướng nào? Với những người lên án lạm phát, tất thảy đều cho rằng lạm phát là thứ thuế phi lí nhất, vô nhân đạo nhất, và do đó cũng là tàn nhẫn nhất. Cơ sở của sự lên án này là lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền, tạo ra sự phân phối thu nhập tiền tệ, làm cho người giàu ( sở hữu nhiều tài sản ) thì giàu thêm và người nghèo ( không hoặc sở hữu ít tài sản ) thì nghèo thêm, với sự phê phán này, lạm phát chính là sự cố ý hay không cố ý gây ra bởi Nhà nước- chỉ có Nhà nước- người điều hành và quản lý nền kinh tế- mới gây ra họăc không gây ra mà thôi, và do đó, cùng với các sắc thuế mà nhà nước định ra và hành thu thì đây cũng là sự tước đoạt phần thu nhập chính đáng của họ- qua giảm sức mua của tiền tệ- và người gây ra không ai khác là Nhà nước- mà đại diện là ngân hàng trung ương- cơ quan độc hành phát hành tiền. Khác với những phê phán nói trên, một trường phái kinh tế khác cho rằng, không phải bất kỳ một loại lạm phát nào cũng đều là xấu, mà tuỳ thuộc vao từng loại lạm phát. Người ta cho rằng, điều lên án trên chỉ ám chỉ lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Với lạm phát vừa phải không những không có hại mà ngược lại, còn cần đối với nền kinh tế, nhiều khi nó như là một loại chất kích thích, có khả năng giúp nền kinh tế tăng trưởng . Đại diện cho quan điểm này là Benjamin Franklin với câu nói sau đây: ” vào khoảng thời gian có tiếng kêu… đòi có nhiều tiền giấy hơn… tôi đã đứng về phía phát hành thêm vì tôi tin chắc rằng, số lượng nhỏ đầu tiên in vào năm 1723 đã đem lại nhiều điều tốt, thúc đây buôn bán, tạo thêm công ăn việc làm đối với số dân ở các tỉnh. Tính lợi ích của số tiền đó, qua thời gian và kinh nghiệm, đã hiển nhiên đến mức không ai tranh cãi giì nhiều… tuy nhiên… có những giới hạn của nó mà vượt khỏi giới hạn đó thì lợi biến thành hại”. Ngày nay, các quan điểm đã được kiểm chứng tính đúng đăn của nó trong đời sống của nhiều nền kinh tế khác nhau. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì làm phát bao giờ cũng gây ra những tác động đối với đời sống, đặc biệt là lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Các tác động của nó là: 2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người cho vay nợ là có lợi nhất. Vì giá cả các loại tài sản và hàng hoá đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Những người làm công ăn lương, những người gửi tiền là bị thiệt hại. Vì vậy để tránh thiệt hại một số nhà kinh tế đưa ra bài tính đơn giản là lãi suất cần phải được điều chỉnh cho phù hợp và đúng với tỷ lệ lạm phát . Ví dụ lãi suất thực tế là 3%, tỷ lệ tăng gía cả là 9% thì lãi suất danh nghĩa phải là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được ở mức lạm phát thấp, lạm phát một con số một năm. Khuynh hướng chung là khi dự đoán có lạm phát các người làm ăn” kinh tế ngầm” họ thường dự trữ vàng, đầu tư vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra. Trong khoảng thời gian 1987-1988 và đầu năm 1989 nhiều người đâù cơ vàng và bất động sản ở Việt Nam đã giàu lên nhanh chóng. Còn những người làm công ăn lương thì cũng nghèo đi nhanh chóng như vậy. Khi giá vàng bị đẩy lùi trở lại, những người đầu cơ vàng vẫn không bị thiệt hại giì bởi vì giá vàng so với các loại hàng hoá khác cao cấp như tủ lạnh, ti vi… và ngoại tệ thì vẫn không suy giảm chút nào cả. Vì vậy trong thời kỳ giá vàng bị đẩy lùi trở lại xuống mức rất thấp họ âm thầm mua vàng và lại bán ra khi ra vàng được nâng lên. Trong thời kỳ này những người gửi tiền tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất. ở thời kỳ lạm phát các nhà nướcthấy rằng họ giảm bớt được các gánh nợ nần của chính phủ. Song họ sẽ bi áp lực chính trị của khối đông quần chúng nhân dân lao động bị thiệt hại do lạm phát xảy ra. ở thời kỳ lạm phát như vậy nếu Nhà nước mở rộng khối cung tiền tệ để đáp ứng yêu cầu của đầu tư thì nó sẽ kích thích các nhà đầu tư, vì người vay tiền luôn có lợi và kinh tế sẽ có khả năng phát triển, nhưng nếu chi tiêu của Nhà nước chỉ nhằm vào các khoản phi sản xuất thì nền kinh tế sẽ tồi tệ đi. Các nhà kinh doanh có khuynh hướng ngâm hàng để hưởng lợi, bởi nếu tiếp tục sản xuất chưa chắc đã có lợi bằng việc giữ hàng. 2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp Đối với kinh tế tiền tệ, khi lạm phát xảy ra nói chung nó có tác động làm tăng trưởng nền kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm. Nhưng trong nền kinh tế bao cấp thì không như vậy, vì việc sản xuất nhiều hay ít đều do nhà nước quyết định, chỉ tiêu giá cả đều do nhà nước quy định, nên sự thúc đẩy của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế là không có. Tất nhiên sản xuất không ra tăng thì khối lượng công ăn việc làm cũng không nhiều lên và từ đó thu nhập danh nghĩa từ lương không thể đủ sống, do vậy có hiện tượng họ làm lấy lệ rồi tìm một việc giì đó có thu nhập để kiếm thêm, có khi thu nhập này còn lớn hơn cả tiền lương. Trong cơ chế thị trường lạm phát làm biến dạng giá cả tương đối, đặc biệt là tiền tệ bị mất giá nghiêm trọng, lãi suất thực tế bị giảm đến mức dưới 0. Ví dụ những người gửi tiền trong năm 1980 ở Đức thu được lãi suất thực tế bằng-12,6%. Lý do là giá cả của đầu vào được định theo các quy tắc lâu dài, còn giá cả đầu ra thì không chịu theo quy tắc đó Tuy nhiên, cần lưu ý là tuỳ vào mức độ lạm phát mà sự thiệt hại của lạm phát sẽ như thế nào. Lạm phát thấp vừa phải sẽ gây ra những tác động vừa phải. lạm phát cao sẽ có những tác hại lớn hơn. Về khía cạnh chính trị lạm phát làm nhân dân phẫn nộ. Xung đột giai cấp sẽ xảy ra ở các nước tư bản , ở các nước XHCN nhân dân sẽ phản ứng do việc phân phối không công bằng: bộ phận sản xuất luôn được tăng thu nhập, bộ phận hành chính sự nghiệp thu nhập bị giảm sút. 2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến Chúng ta sẽ tìm hiểu về loại lạm phát dự kiến Giả sử mỗi tháng giá cả tăng 1%. Loại lạm phát ổn định và biết trước 12%/ năm này gây ra những tổn thất cho xã hội Thứ nhất là tác dụng gây biến dạng thuế lạm phát đối với số tiền mà mọi người đang giữ. Thứ hai , tổn thất của lạm phát sinh khi lạm phát cao buộc các dạn phải thay đổi biểu giá thường xuyên hơn. Việc thay đổi giá đôi khi cũng tốn kém Thứ ba, tổn thất của lạm phát sinh ra do các doanh nghiệp tránh điều chỉnh giá cả thường xuyên khi chi phí cho việc điều chỉnh đó phát sinh, vì vậy, lạm phát càng cao , sự biến động của giá tương đối càng lớn. lạm phát gây ra sự biến động giá cả tương đối. Vì nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, nên lạm phát dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên giác độ vi mô. Loại tổn thất thứ tư của lạm phát do luật thúê gây ra. Nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến lạm phát. lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân, thường trái với ý định người làm luật.Một ví dụ về thất bại của luật thuế trong việc đối phó với lạm phát là cách sử lý của thuế đối với lãi về vốn. Tổn thất thứ năm của lạm phát là sự bất tiện của cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường xuyên thay đổi. Tiền là thước đo mà chúng ta dựa vào để tính toán các giao dịch kinh tế. Khi có lạm phát phát, cái thước này co giãn. Khi mua người nào đó đo bằng thước, chúng ta cần xác định xem anh ta đo bằng thước đo năm 1995 hay 1996. để so sánh chiều dài qua các năm người ta cần điều chỉnh “lạm phát “. Cũng như vậy, đồng đô la là cái thước kém tác dụng hơn khi giá trị của nó thường xuyên thay đổi. Phần III Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Do nôi dung bài tiểu luận có hạn, không cho phép phân tích được một cách toàn diện các cuộc lạm phát ở Việt Nam trong tất cả các năm trở lại đây, vì vậy trong phần III sẽ chỉ đi sâu vào phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam trong 2 năm( 2004 – 2005) Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét có vẻ ngày càng khởi sắc, chẳng hạn như tốc độ phát triển kinh tế đã từ 4,8% năm 1999 lên đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy có những đám mây mù dường như đang kéo lại từ phía chân trời. Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Châu á năm 1997, Việt Nam chủ trương kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bù lại mức giảm đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Ta thấy mức đầu tư nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6% GDP năm 1999 lên tới 35%GDP năm 2003. Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế giới, thế nhưng do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực Nhà nước, tốc độ phát triển cũng chỉ đạt được 7,35. Trong đầu tư, chính sách của Nhà nước vẫn là tập trung phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu( thay thế sắt thép, xi măng, đường) ,kể cả v iệc đưa tới việc bảo vệ thị trường nội địa cho đầu tư nước ngoài( xe hơi, xe gắn máy ), thay vì việc tập trung phát triển sản xuất nhằm xuất khẩu. Do chính sách kinh tế trên, thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu ngày càng cao, tăng từ 0% GDP năm 1999 lên 13,5 % năm 2003. Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng tín dụng đã đưa lạm phát đến mức báo động. Cả năm 2003 lạm phát là 3%. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2004 lạm phát đã lên tới 7,2 % và cho cả năm 2004. Việc tăng tiền lương không bắt kịp với tỷ lệ lạm phát . Từ “Lạm phát ” là dịch nghĩa của chữ inflation. Về chữ nghĩa thì “lạm phát ” là lạm phát in tiền. Do đó có thể lý luận một cách vô nghĩa rằng tăng giá không nhất thíêt là do lạm phát tiền. Nhưng lý thuyết tiền tệ đã chỉ ra rằng tăng gía nói chung cho cùng là tăng vấn đề về tiền tệ Mặc dù trong thời gian 2004 và đầu năm 2005 tình hình lạm phát đang ở mức có thể kiểm soát được, nhưng nguy cơ bùng nổ lạm phát vẫn ở mức cao đe doạ sự ổn định và phát triển của kinh tế Việt Nam. 1/ Tình hình biến động giá cả Từ những tháng đầu năm 2004, tình hình giá cả trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, giá một số vật tư và hàng tiêu dùng thiết yếu tăng cao ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống. Chỉ số giá tiêu dùng hầu như tăng liên tục trong cả năm 2004. Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm : tháng 1 tăng 1,1 %, tháng 2 tăng 3 %, tháng 3 tăng 0,8 %, tháng 4 tăng 0,5 %, tháng 5 tăng 0,9 %, cao hơn tháng 2, 3, 4. Chỉ số giá tiêu dùng đầu năm 2004 đã tăng 7,2 % so với tháng 12/2003. Sau một loạt các biện pháp được áp dụng thì tình hình giá cả được cải thiện. Giá cả 6 tháng cuối năm có tăng chậm và thấp hơn so với 6 tháng đầu năm và chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2004 so với thagn 12 năm 2003 tăng 9,5 % , trong đó giá lương thực thực phẩm vẫn là tăng cao nhất ( 15,5%). Mức độ tăng gía 6 tháng và cả năm 2004 chỉ tập trung vào các nhóm hàng lương thực thực phẩm, thuốc tân dược , giá nhà ở và vật liệu xây dựng. 6 tháng đầu năm 2004 giá nhóm hàng lương thực thực phẩm tăng cao nhất là 12,3%, trong đó giá lương thực tăng 11,5%, thực phẩm tăng 14,6 %. Tình hình giá cả cả năm 2004 cũng phản ánh xu thế như 6 tháng đầu năm tuy có chuyển biến đôi chút. Việc giá thực phẩm tăng cao được giải thích do dịch cúm gà nên gây ra tổng cung thực phẩm thấp hơn tổng cầu thực phẩmvào các tháng đầu năm. Còn giá lương thực các tháng cuối năm tăng chậm lại do giảm bớt xuất khẩu lương thực nên giảm bớt sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu. Mặt khác, 6 tháng cuối năm nhờ có các chính sách chống đầu cơ thuốc và luật đất đai có hiệu lực, cũng như có nhiều công trình xây dựng nhà đang dần đưa vào cuộc sống hơn nên đã làm cho mức giá các mặt hàng này giảm xuống. Quan sát 6 tháng đầu năm 2004 thì thấy có đến 4 nhóm hàng có chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng 5/2004. Đó là nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng . Ngoài ra một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhẹ như may mặc, giày dép, mũ nón( tăng 2,1%), thiết bị và đồ dùng gia đình cũng tăng 1,6% so với tháng 12/2003. Tháng 6, chỉ số giá đôla Mỹ vẫn giữ nguyên trong khi giá vàng đã giảm tới 1,4%. Nhưng đến tháng 7/2004 thì giá các mặt hàng tăng không đáng kể so với thang6 trừ giá dược phẩm và y tế tăng 0,7 %, giá lương thực thực phẩm giảm 0,3%, chỉ có gia phương tiện đi lại và bưu điện vẫn tăng cao là 3%, giá vang tăng 0,5% và gía đô la giảm 0,1%. Theo thông báo của cục thống kê, tình hình giá cả bốn tháng đầu năm 2005, tuy còn cao nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2004. Nếu đến tháng 2 năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng là 3,0% thì tháng 2 năm 2005 chỉ số này chỉ ở mức 2,5%, thấp hơn 0,5%. Đến tháng 3 thì dấu hiệu sáng sủa hơn ở chỗ chỉ số giá tháng 3 năm 2005 chỉ tăng 0,1% , trong khi tháng 3 năm 2004 chỉ số này là 0,85. Xét cả 4 tháng cho thấy chỉ số giá ở mức 4,3% thấp hơn hẳn chỉ số này so với 4 tháng đầu năm 2004(5,4%), tức là chỉ bằng 79,6% của 4 tháng đầu năm 2004. Sở dĩ chỉ số giá chung 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 là do giá lương thực thực phẩm giảm khá. Tốc độ tăng gía lương thực 4 tháng đầu năm 2005 (5,4%) chỉ bằng 64,2 % mức tăng giá trong 4 tháng đầu năm 2004(8,4%). Tình hình giá cả và chỉ số giá 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 có thể lý giải ngay là do ngay từ đầu năm chung ta đã có nhiều biện pháp chống lạm phát và đẩy lùi lạm phát , đẩy mạnh phát triển sản xuất. Thứ nhất là nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao hơn cùng kỳ năm trước. Thứ hai, sản xuất công nghiệp có tăng cao hơn trước, giá trị sản xuất công nghiệp ba tháng đầu năm tăng 13,4%. Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có chuyển biến tích cực tăng 5% so với mức tăng 0,8% cùng kỳ năm ngoái. Thứ tư, kim nghạch xuất khẩu tăng 23,25. Thứ năm, dịch cúm gia cầm được khoanh cùng và tiêu diệt nên không gây ra tổn thất lớn. Mặc dù giá cả các mặt hàng trong nước 4 tháng đầu năm đã có chuyển biến tích cực, đã thấp hơn so với 4 tháng đầu năm 2004, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn ở mức cao trong năm 2005. Tình hình giá cả thế giới trong năm 2005 vẫn còn nhiều phức tạp, đặc biệt là giá dầu thế giới tăng cao vượt kỷ lục từ trước tới nay ảnh hưởng lớn tới mọi mặt sản xuất của xã hội. Trong nước, hạn hán kéo dài… Như vậy, nguy cơ làm cho tổng cung hàng hoá thấp hơn tổng cầu về hàng hoá luôn luôn túc trực xuất hiện và lạm phát cao đe doạ không phải là không có. Mục tiêu mà Quốc hội đề ra cả năm 2005 là 6,5%, tuy nhiên các chuyên gia dự đoán rằng, lạm phát cả năm có thể là 7%, cao hơn so với mục tiêu là 0,5%. Bởi vậy, cần cảnh giác hơn nữa với lạm phát nước ta. 2/ Nguyên nhân tăng giá Nguyên nhân tăng giá 2004 – 2005 về cơ bản có thể phân chia thành nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan 2.1/ Nguyên nhân khách quan Nguồn gốc sinh ra lạm phát không chỉ từ bên ngoài mà còn có cả từ bên trong, chứ không phải từ một phía nào cả. Lạm phát là do giá cả trên thị trường thế giới tăng mạnh kéo theo sự tăng giá hàng hoá nhập khẩu. Nhưng tăng giá hàng nhập khẩu đã làm chi phí sản xuất của các dạn tăng hơn. Kết quả là để có lãi các dạn phải tăng giá bán hàng hoá lên và khi giá hàng hoá và dịch vụ này tăng giá thì giá hàng hoá và dịch vụ khác sẽ tăng lên theo. Sự tác động dây truyền sẽ khó có điểm dừng nếu không có giải pháp phù hợp. Những khó khăn về thời tiết, dịch cúm gia cầm và những khó khăn khác đã làm cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ thấp hơn tổng cầu hàng hoá. Kết quả khan hiếm nàyđã làm cho giá tăng lên. Mà gía tăng lên đồng loạt tức là lạm phát Hệ quả của chính sách kích cầu các năm trước đây đã làm cho lượng tiền ngoài lưu thông vẫn còn cao, có thể làm cho tổng cung tiền tệ cao hơn tổng cầu tiền tệ và tác động tăng gí là không tránh khỏi. Sự tăng lương và tăng một số khoản chi từ NSNN cho các hoạt động xã hội nhân các ngày lễ lớn trong năm cũng góp phần tăng tiền tệ thị trường. Nhu cầu tăng trưởng cao đòi hỏi phải đưa vốn ra thị trường nên tăng tiền ra thị trường là khó tránh khỏi và như vậy thì việc gía tăng lên cũng là điều trông thấy. 2.2/ Các nguyên nhân chủ quan Do tình trạng độc quyền tương đối một số mặt hàng nên nhiều doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng giá lên và gây ra sự khan hiếm giả tạo để tăng giá lên kiếm lời. Sự điều hành và quản lý kinh tế còn nhiều bất cập cũng gây khó khăn cho phát triển sản xuất và bình ổn giá. Buôn lậu và tham nhũng sẽ góp phần phức tạp thêm sự điều hành và ổn định giá cả và đẩy nhanh tăng trưởng nền kinh tế. Phần IV Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam Trước những tác hại do lạm phát gây ra đòi hỏi cần có những chính sách hợp lý, hữu hiệu ngắn hạn hay dài hạn chống lại tình hình lạm phát. Việc đẩy lùi lạm phát ở mức độ có thể duy trì đòi hỏi các quốc gia có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về lạm phát để đưa ra các biện pháp vừa hiệu quả lâu dài, vừa có tác dụng kìêm chế lạm phát tức thì, ổn định đời sống xã hội . Việc đưa ra các chính sách đúng đắn đòi hỏi mỗi quốc gia cần đặt những vấn đề trong điều kiện hoàn cảnh của riêng nước mình từ đó có những biện pháp sát với thực tế nhằm kiểm soát lạm phát có hiệu quả. Đối với tình hình diễn biến lạm phát ở nước ta trong những năm vừa qua, dựa trên những nguyên nhân của nó, với những tác động mà nó gây ra cho nền kinh tế và đời sống của người dân, cần có các biện pháp có tác dụng tức thì. Trong phần IV, người viết xin đưa ra một số giải pháp ngắn hạn cũng như lâu dài chống lại tình hình lạm phát ở nước ta. 1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát Dựa trên những kinh nghiệm chống lạm phát của các nước cũng như từ thực tế tình hình xã hội ở Việt Nam để đưa ra các biện pháp lâu dài. Mất cân đối về kinh tế vĩ mô được thể hiện bằng lạm phát , thâm hụt ngân sách, sự chênh lệch giá cao của của thị trường không chính thức, có tương quan ngược chiều rất rõ đối với sự tăng trưởng. Nhiệm vụ hoạch định chính sách là làm thế nào để giảm thiểu được các tác động suy giảm đối với sản lượng, đồng thời tạo được các điều kiện nhằm tăng cường khả năng tăng trưởng lâu dài. Tất cả các chính sách đề ra trên cơ sở đảm bảo hai yêu cầu cơ bản là tăng trưởng cao liên tục và vững chắc, giữ mức lạm phát ở một con số. Tăng trưởng cao gắn liền với việc duy trì lạm phát thấp và chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có sức cạnh tranh cao. Đầu tư vào các nguồn lực thông qua các khoản chi tiêu công cộng về giáo dục; khuyến

Giải Pháp Phát Triển Cho Doanh Nghiệp Việt Thời Hội Nhập

Thực Trạng Sử Dụng Erp Tại Việt Nam

Top 5 Công Ty Tư Vấn Triển Khai Erp Tại Việt Nam

Các Nhà Cung Cấp Erp Tại Việt Nam: Đâu Là Lựa Chọn Tốt Nhất?

Thực Trạng Triển Khai Hệ Thống Erp Ở Việt Nam 2022

Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022

Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát

Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục

Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua

Kinh tế Việt Nam từ những năm 1986 đến nay đã trải qua sự biến đổi sâu sắc : từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trưòng theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; từ tăng trưởng thấp những năm 80 sang tăng trưởng cao những năm 90; khủng hoảng rối loạn sang ổn định và phát triển. Năm 1985, Gorbacher đã nên nắm chính quyền tại Liên xô, cùng với sự sụp đổ của các nước Đông Âu cũ, Việt Nam bị cắt giảm nguồn viện trợ từ nước ngoài và đến năm 1991 thì bị cắt hẳn. Do đó, nguyên vật liệu đầu vào như sắt thép, dầu hoả, máy móc thiết bị.Việt Nam hoàn toàn phải mua với giá cao làm cho chi phí sản xuất tăng nhanh. Lạm phát chi phí đẩy xảy ra. Khi lạm phát chi phí đẩy xảy ra, càng đẩy các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn và để hỗ trợ nền sản xuất trong nước, đặc biệt là các xí nghiệp quốc doanh, Chính phủ Việt Nam lại in thêm tiền làm tăng mức cung ứng tiền trong nền kinh tếlại dẫn đến lạm phát tiền tệ , điều đó càng đẩy tỉ lệ lạm phát lên cao. Đồng thời năm 1985, Việt Nam thực hiện cuộc cải cách giá, tiền lương, tiền mà đỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9 và lạm phát cũng bùng nổ ngay sau đó. Năm 1986 chúng ta đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát với ba chữ số 775% vào năm 1986 trong khi đó tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2,33%. Đến năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương thực cuối năm giảm 3,5% và đầu năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi phí đẩy lại tiếp diễn. .Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng hoá , lương thực, vàng và đô la càng nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3,78%. Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với mức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995. Như vậy, trong giai đoạn này lạm phát xảy ra ban đầu là do chi phí đẩy, sau đó là do tăng mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí đẩy, tiếp tục sau đó lạm phát cầu kéo xảy ra.

Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam

Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480

Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?

Tiếp Tục Thực Hiện Tốt 8 Nhóm Giải Pháp Trong Đó Kiềm Chế Lạm Phát Là Hàng Đầu

Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Và Những Giải Pháp

Triển Khai 6 Giải Pháp Kiểm Soát Lạm Phát Các Tháng Cuối Năm 2022

Thuận Lợi Và Thách Thức Trong Kiểm Soát Lạm Phát

Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Kiềm Chế Lạm Phát Dưới 4% Năm 2022

Năm 2022 Lạm Phát 3,54%

Luận Văn Đề Tài Một Số Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

TÓM TẮT:

Trong nền kinh tế thị trường đang phát triển và có nhiều sự cạnh tranh giai đoạn hiện nay, lạm phát đang là một vấn đề bất cập được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam hết sức quan tâm. Bài viết đề cập đến thực trạng lạm phát tại Việt Nam các năm 2022, 2022 và giải pháp để đạt được mục tiêu duy trì lạm phát năm 2022 dưới 4%.

Từ khóa: Lạm phát, CPI, lạm phát cơ bản, Tổng cục Thống kê.

I. Thực trạng lạm phát năm các năm 2022, 2022

1. Thực trạng lạm phát năm 2022

Năm 2022 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng nhờ lạm phát thấp nên Nhà nước vẫn có dư địa điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thị trường.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2016 tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước (lạm phát sau khi loại trừ giá lương thực-thực phẩm, giá năng lượng và giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục), tăng nhẹ so với mức 1,69% của năm 2022.

Một thước đo khác là lạm phát GDP cũng chỉ ở mức 1,1% (cao hơn so với mức -0,2% trong năm 2022), bởi năm 2022 trong khi GDP thực tăng 6,2%, thì GDP danh nghĩa cũng chỉ tăng 7,3% (từ 4192 nghìn tỷ đồng lên 4502 nghìn tỷ đồng).

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu loại trừ các yếu tố làm tăng giá mang tính ngắn hạn, lạm phát của Việt Nam chỉ vào khoảng 1-2% và là mức tương đối thấp. Hơn nữa, mức lạm phát thấp này đã được duy trì tương đối ổn định kể từ giữa năm 2022, khi lạm phát cơ bản chỉ dao động xoay quanh mức 0,1%/tháng.

Về nguyên nhân, xu hướng lạm phát thấp chủ yếu là do tình hình tăng trưởng kinh tế chưa có nhiều dấu hiệu khởi sắc. Tốc độ tăng trưởng GDP 6,21% trong năm 2022 thấp hơn tương đối nhiều so với mục tiêu 6,7%, thậm chí thấp hơn cả so với mức dự báo gần đây là 6,3-6,5%. Mặc dù có những nguyên nhân mang tính khách quan như thời tiết không thuận lợi dẫn đến ngành Nông nghiệp tăng trưởng chậm với mức 1,36% và ngành Khai khoáng bị sụt giảm 4% do giá nguyên liệu trên thế giới ở mức thấp, song tựu trung vẫn là do tổng cầu thấp.

2. Thực trạng lạm phát năm 2022

Theo đó, CPI bình quân năm 2022 tăng 3,53% so với năm 2022 và tăng 2,6% so với tháng 12/2016. Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ mức CPI bình quân năm 2022 dưới 4% đã đạt được trong bối cảnh điều chỉnh được gần hết giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý đặt ra trong năm 2022.

Giải thích một số yếu tố gây tăng giá trong năm 2022, giá dịch vụ y tế tăng bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính tại 27 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế quy định mức khung tối đa giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế thuộc các bệnh viện hạng đặc biệt, hạng I do Bộ Y tế và các bộ, ngành quản lý. Tính đến ngày 20/12/2017, đã có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế. Vì vậy, giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 37,3% so với cuối năm 2022 và bình quân cả năm 2022 tăng 57,91% so với năm 2022 làm cho CPI năm 2022 tăng khoảng 1,35% so với tháng 12/2016 và CPI bình quân năm 2022 tăng khoảng 2,04% so với năm 2022.

Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, các tỉnh đã tăng học phí các cấp học. Điều này đã làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục trong năm 2022 tăng 7,29% so với tháng 12/2016 và bình quân cả năm 2022 tăng 9,1% so với bình quân năm 2022, tác động làm cho CPI năm 2022 tăng khoảng 0,41% so với tháng 12/2016 và CPI bình quân năm 2022 tăng khoảng 0,5% so với năm 2022.

Đồng thời, mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp cũng tăng từ ngày 01/01/2017. Mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 01/7/2017 tăng 90.000 đồng/tháng đã làm cho giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình tăng giá từ 3 – 8% so với năm 2022.

Bên cạnh đó, giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và giá các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán do nhu cầu tăng. Bình quân năm 2022, chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 1,52% và 1,07% so với năm 2022. Giá gas sinh hoạt cũng được điều chỉnh theo giá gas thế giới. Cụ thể, năm 2022 giá gas tăng 15,91% so với năm 2022.

Ngoài ra, giá nhiên liệu trên thị trường thế giới trong năm 2022 tăng khá mạnh, bình quân giá dầu Brent từ thời điểm ngày 01/01/2017 đến thời điểm ngày 20/12/2017 ở mức 54,49 USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức 45,13 USD/thùng của bình quân năm 2022. Trong nước, giá xăng dầu tính đến ngày 10/12/2017 được điều chỉnh 10 đợt tăng và 8 đợt giảm, hai đợt không đổi, tổng cộng giá xăng tăng 1.040 đồng/lít; dầu diezel tăng 1.260 đồng/lít, làm cho giá xăng dầu bình quân năm 2022 tăng 15,49% so với năm 2022, góp phần tăng CPI chung 0,64%.

Giá vật liệu xây dựng cũng tăng 5,23% do giá cát xây dựng tăng rất mạnh vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7/2017 do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương siết chặt việc quản lý khai thác cát và các cơ quan chức năng không cho phép khai thác các mỏ mới. Giá sắt thép tăng do giá nguyên liệu đầu vào như phôi thép, than điện tăng mạnh từ tháng 7 nên các nhà máy sản xuất thép đã tăng giá bán từ 5 – 10%.

Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép… nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2022 so năm 2022 tăng 2,57%, chỉ số giá xuất khẩu tăng 2,93%; chỉ số giá sản xuất công nghiệp (PPI) tăng 2,82%.

Năm 2022 cũng được đánh giá là năm kỷ lục về số lượng cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên biển đông, có 16 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới. Riêng cơn bão số 12 (Damrey) gây thiệt hại lớn nhất về người và vật chất cho các tỉnh miền Trung làm cho chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm tại các tỉnh này có mức tăng trong tháng 11/2017 cao hơn các tỉnh khác.

Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra, bên cạnh những yếu tố gây tăng giá, trong năm 2022 cũng có những yếu tố góp phần kiềm chế CPI. Đó là, chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm 2022 giảm 2,6% so với năm 2022 làm CPI chung giảm khoảng 0,53%, chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống.

Tổng cục Thống kê cũng chỉ rõ, lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 12/2017 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ.

Bình quân năm 2022 so với năm 2022, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lương thực thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục. Bình quân năm 2022 lạm phát cơ bản là 1,41% thấp hơn mức kế hoạch từ 1,6-1,8%, cho thấy chính sách tiền tệ vẫn đang được điều hành ổn định.

CPI bình quân năm 2022 tăng 3,53% so với bình quân năm 2022, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra. CPI tháng 12/2017 tăng 2,6% so với tháng 12/2016, bình quân mỗi tháng tăng 0,21%. CPI bình quân năm 2022 tăng chủ yếu là do các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh. Có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm nay như chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm giảm 2,6% so với năm 2022 (chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống). Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

II. Giải pháp để đạt được mục tiêu duy trì lạm phát năm 2022

Dựa vào những nhân tố nêu trên, lạm phát năm 2022 dự báo sẽ tiếp tục ở mức thấp, khoảng 4%. Ðể đạt được mục tiêu này cần thực hiện những giải pháp sau:

– Công tác điều hành giá phải bám sát và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng, tránh tạo ra lạm phát kỳ vọng hay tạo ra “độ trễ” của lạm phát trong những năm sau. Định hướng điều hành lạm phát là bám sát quy luật cung cầu của thị trường, không áp đặt thủ tục hành chính. Các bộ, ngành, các địa phương cần theo dõi sát diễn biến giá cả của các mặt hàng thiết yếu, chủ động chuẩn bị các nguồn hàng vào dịp lễ, Tết đầu năm và cuối năm để hạn chế tăng giá; có giải pháp bình ổn thị trường phù hợp…

– Kiểm soát chặt chẽ phương án giá và mức giá đối với các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; giám sát chặt chẽ kê khai giá của doanh nghiệp đối với mặt hàng bình ổn, mặt hàng kê khai giá… Tất cả những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước định giá thì trong năm 2022 cần điều chỉnh cho phù hợp, theo từng thời điểm, tránh hiện tượng tăng giá ồ ạt, dẫn đến phản ứng dây chuyền. Theo dõi sát sao thị trường, không để xảy ra biến động. Đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu phù hợp để hạn chế mức tăng giá mặt hàng này ảnh hưởng đến CPI chung. Về giá điện, Bộ Công Thương nếu tăng giá điện phải chủ động đưa ra các phương án để tính toán các mức độ ảnh hưởng chỉ số CPI, chỉ số giá sản xuất và tăng trưởng GDP.

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, trong đó có việc hoàn thiện các định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá. Trường hợp mức giá cao hơn mức phí hiện hành thì cần có lộ trình điều hành phù hợp bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

– Về chính sách tiền tệ, cần được điều hành linh hoạt, bám sát các diễn biến thị trường tài chính tiền tệ trong nước và quốc tế để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước sẽ duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, phù hợp diễn biến kinh tế vĩ mô. Từng bước phấn đấu giảm hơn nữa lãi suất khi có điều kiện thích hợp. Không bơm tiền ra thị trường ồ ạt dẫn đến tình trạng không hấp thụ được,

– Chính sách tài khóa cũng vô cùng quan trọng, tác động tới kiểm soát lạm phát. Với chính sách tài khóa chặt chẽ được thực thi một cách có hiệu quả cũng như kiểm soát việc chi tiêu của nguồn ngân sách một cách hợp lý thì chắc chắn mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2022 ở mức 4% là khả thi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội các năm 2022, 2022.

2. Nghị quyết của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022-2017.

3. Niên giám Thống kê các năm 2022-2017.

4. Trang web Tổng cục Thống kê.

SITUATION OF INFLATION IN VIET NAM IN RECENT YEARS

MA. PHAM NGOC ANH

Organization Department – University of Economic and Technical Industries

ABSTRACT:

In a developing market economy with increasing level of competition, inflation is an urging problem to the world. The article mentions the situation of inflation in Vietnam in 2022, 2022 and the solution to achieve inflation target of 2022, which is under 4%.

Keywords: Inflation, CPI, core inflation, General Statistics Office.

Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022 Như Thế Nào?

Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022: Dưới 4% Có Khả Thi?

Lạm Phát Sẽ Giảm Hoặc Ổn Định Hơn Trong Năm 2022

Làm Gì Để Kiểm Soát Lạm Phát Năm 2022?

Tập Trung Kiềm Chế Lạm Phát Cuối Năm

Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả

Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022

Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp

Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua

Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019

Thành công trong việc chặn đứng lạm phát phi mã năm 1989 nhờ áp dụng công cụ lãi suất ngân hàng (đưa lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm lên cao vượt tốc độ lạm phát), đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm đạt các mục tiêu ngắn hạn ổn định thị trường. Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ tái lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tiền tệ được tận dụng trước tiên vơí hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Tuy nhiên gần đây ở Việt nam có dấu hiệu của sự lạm dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Điều này thể hiện sự yếu kém trong việc quản lý và sử dụng chính sách tiền tệ của chúng tới . Vì vậy đứng trước nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát là vô cùng cần thiết. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU0 NỘI DUNG1 I. LẠM PHÁT1 1. Những quan điểm khác nhau về lạm phát1 2. Tác động của lạm phát3 II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở NƯỚC TA4 1. Dự trữ bắt buộc4 2. Chiết khấu5 3. Hoạt động thị trường mở6 4. Lãi suất7 5. Hạn mức tín dụng9 III. GIẢI PHÁP10 1. Các nguy cơ dẫn tới việc tái lạm phát10 2. Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát11 2.1. Dự trữ bắt buộc11 2.2. Tái chiết khấu12 2.3. Hoạt động thị trường mở12 2.4. Lãi suất13 2.5. Hạn mức tín dụng14 KẾT LUẬN16 MỤC LỤC16

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế

Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô

Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô

6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô

Tt Chính Phủ: Tập Trung Toàn Lực Kiềm Chế Lạm Phát

Luận Văn Giải Pháp Để Kiểm Soát Lạm Phát Ở Việt Nam

Cần Những Giải Pháp Đột Phá Để Thoát Nghèo Bền Vững

Chuẩn Nghèo Tiếp Cận Đa Chiều Và Giải Pháp Thoát Nghèo Ở Quảng Ninh

Bình Phước: Giải Pháp Thoát Nghèo Ở Huyện Lộc Ninh

Xây Dựng Con Người Việt Nam Toàn Diện: Những Thách Thức Và Giải Pháp Khắc Phục

Giải Pháp Đột Phá Để Xây Dựng Con Người Việt Nam

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7

2/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 8

3/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 8

4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

4.1/ Phương pháp luận 9

4.2/ Phương pháp 9

5/ Ý NGHIÃ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11

NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 13

1.1/CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT-ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT

1.1.1/ Các quan điểm về lạm phát 13

1.1.2/ Đo lường lạm phát

1.2/ CÁC LOẠI LẠM PHÁT 14

1.2.1/ Lạm phát vừa phải 14

1.2.2/ Lạm phi mã 14

1.2.3/ Siêu lạm phát 15

1.3/ NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT 16

1.3.1/ Lạm phát cầu kéo 16

1.3.2/ Lạm phát chi phí đẩy 18

1.4/ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT

1.5/ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ Ở CÁC NƯỚC21

1.5.1/ Nhóm giải pháp tác động vàotổng cầu 22

1.5.2/ Nhóm giải pháp tác động vào cung 22

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA 24

2.1/ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LẠMPHÁT Ở VIỆT NAM TỪ NĂM

1976 ĐẾN 2006 24

2.1.1/ Khái quát tình hình lạm phát ở Việt Nam từ 1976 đến 1995 24

2.1.2/ Khái quát tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1996 đến 2000 6

2.1.3/ Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2006 27

2.2/ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ

2.2.1/ Tác động của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế 31

2.2.2/ Tác động của lạm phát đối với tỷ lệ thất nghiệp 33

2.2.3/ Tác động của lạm phát đối với cán cân thanh toán 35

2.3/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN TÁC ĐỘNG TỚI

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 37

2.3.1/ Xét trên góc độ cầu kéo 37

2.3.2/ Xét trên góc độ chi phí đẩy 40

2.4/ ĐÁNG GIÁ CÁC NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG ĐẾN LẠM PHÁT

2.4.1/ Các yếu tố làm giảm lạm phát 45

2.4.2/ các yếu tố làm tăng lạm phát 49

CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 53

3.1/ MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TỔNG QUÁT 5 NĂM 2006 –

2010 CỦA VIỆT NAM 53

3.2/ ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT ỞVIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN

3.2.1/ Cách tính lạm phát hiện nay 54

3.2.2/ Đo lường lạm phát ở Việt nam bằng lạm phát cơ bản 56

3.2.3/ Xác định lại rổ hàng hoá 58

3.3/ CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT GÓP PHẦN ỔN

ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 –

3.3.1/ Chính phủ kiểm soát lạm phát 59

3.2.1.1 Chống những hành vi trục lợi 59

3.2.1.2Cải cách tiền lương 61

3.2.1.3 Cải cách hành chính 61

3.2.1.4 Xây dựng một quy chế quản lý giá cả hợp lý 62

3.3.2/ Ngân hàng nhà nước trong việc kiểm soát lạm phát 66

3.2.2.1 Điều hành chính sách tiền tệ 66

3.2.2.2 Những vấn đềcần phải có sự phối kết hợp đồng bộ 70

3.3.3/ Doanh nghiệp cũng phải tự chống lạm phát 73

3.3.3.1 Doanh nghiệp tiết kiệm, (cắt giảm) chi phí 73

3.3.3.2 Xây dựng và hoạch định chiếnlược phát triển lâu dài 74

3.3.3.3 Doanh nghiệp cần sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro 75

PHỤ LỤC 77 – 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Thực Trạng Và Giải Pháp Chính Sách Tiền Tệ Ở Việt Nam

“các Giải Pháp Về Tiền Tệ Được Triển Khai Đồng Bộ, Kịp Thời”

5 Giải Pháp Cho Chính Sách Tiền Tệ Từ Nay Đến Cuối Năm

Những Giải Pháp Nổi Bật Trong Chính Sách Tiền Tệ Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

Chống Độc Quyền Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Nước Ta Hiện Nay

Những Biện Pháp Và Hạn Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

Giải Pháp Nhàm Hạn Chế Sự Gia Tăng Của Nạn Lạm Phát Ở Việt Nam

Luận Văn Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010

Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010

Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo

Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo Mục Tiêu Của Việt Nam Trong Chặng Đường Phát Triển Mới

LỜI MỞ ĐẦU

1.Giới thiệu về đề tài :

Lạm phát là một “căn bệnh trầm kha” xảy ra phổ biến ở hầu hết các nước trên

thế giới, tuy nhiên nó thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau nên cách nhìn nhận về nó

của các nhà kinh tế học cũng khác nhau. Có thể khái quát về việc tìm hiểu một cách

chính xác khái niệm lạm phát được chia thành ba giai đoạn, trong đó ở mỗi giai đoạn

điều đưa ra các nguyên nhân dẫn đến lạm phát và biện pháp khắc phục khác nhau.

Trên cơ sở khắc phục các nhược điểm mà các giai đoạn nghiên cứu trước mắc phải,

cuối cùng thì khái niêm lạm phát hoàn chỉnh đã ra đời. Với quan điểm Lạm phát là

hiện tượng thừa tiền trong lưu thông, làm cho đồng tiền bị giảm giá trị so với tất cả

các loại hàng hoá, vàng, ngoại tệ và được đo lường bằng chỉ số giá tổng quát ngày

càng tăng, các nguyên nhân dẫn đến lạm phát, cũng như biểu hiện và diễn biến của

lạm phát đã được trình bày. Trên cơ sở đó, một số biện pháp đã được đề xuất nhằm

góp phần khắc phục hạn chế lạm phát.

2.Lí do chọn đề tài :

Trong hơn vài thập kỉ trở lại đây ,kinh tế Việt Nam đă có những sự chuyển

mình to lớn.Từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp gây ra hậu quả nặng nề đối với

sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, lạm phát trên 3 con số ,kinh tế tăng trưởng âm

,kéo dài trong nhiều năm .Sự chuyển đổi kịp thời sang nền kinh tế thị trường cùng

nhiều chính sách phát triển kinh tế như thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài của

chính phủ ta đă đem lại hiệu quả tốt. Trải qua các giai đoạn phát triển trên ,chúng ta

1.1Quan điểm về lạm phát của Karl-Marx

Quan điểm Karl-Marx cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng

trong nền kinh tế.Khi ông nghiên cứu quy luật lưu thông tiền tệ K-Marx đã nhìn thấy

trong mọi trường hợp Quy luật lưu thông tiền tệ luôn được cân bằng.

Có thể tóm gọn trong đẳng thức: M.V=P.Q.

Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm, trong khi V và Q cùng tăng

lên theo một tỷ lệ thì tất nhiên mức giá trung bình P tăng lên tương ứng.Do đó sẽ dẫn

đến lạm phát.

Như vậy, lạm phát là sự cân bằng của quy luật lưu thông tiền tệ.

Quan điểm này tuy giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho

biết nguyên nhân của lạm phát và khiến ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc

tăng trưởng mức cung tiền tệ cao.

Thật ra thì còn nhiều trường hợp chưa hẳn là như vậy.Ví dụ: Nhà nước có thể

tăng mức cung ứng tiền mà không làm cho giá cả tăng cao, không gây ra lạm phát,

nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với lượng tiền cần thiết trong lưu thông.

1.2 Quan điểm của V.I Lênin

Cũng giống như quan điểm của k-Marx nhưng lênin cho rằng sở dĩ khối lượng

tiền trong lưu thông tăng lên là do nhà cầm quyền phát hành thêm tiền để thỏa mãn

nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước.

Tóm lại: Lạm phát là sự gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông do sự phát

hành tăng thêm của bộ máy nhà nước cầm quyền.

1.3 Quan điểm về lạm phát của Milton-Friedman

Theo ông” Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.Ông cho

răng nguồn gốc của lạm phát là một tỷ lệ tăng trưởng cao của mức cung tiền.

Điều đó được chứng minh ở những hiện tượng sau:

Khi lạm phát tâng cao thì thì tỷ lệ tăng trưởng của cung tiền cũng tăng

cao.Tiêu biểu như: Tình trạng lạm phát ở Đức 1921-1923.Năm 1923 tỷ lệ lạm phát ở

Đức là 1.000.000% và mức tăng cung tiền cũng tương ứng.

Nhưng năm 80 của TK XX các nước châu mỹ La Tinh cũng lâm vào tình trạng

này:Argentina 10.000%, Bolivia 20.000% năm 1985.

Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng mức cung tiền được xem xét trong

trường hợp mức giá tiếp tục tăng với tỷ lệ chúng tôi đó ý kiến của Friedman cho rằng

những biến động tăng lên của gia cả là một hiện tượng tiền tệ chỉ khi nào nhưng biến

động tăng lên từ đó một quá trình kéo dài

1.4 Quan điểm về lạm phát của J.M.Keynes

Theo Keynes mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư là nguyên nhân chính cho

các dao động kinh tế. Khi người ta cố gắng tiết kiệm nhiều hơn các doanh nghiệp

muốn đầu tư, các doanh nghiệp sẽ nhanh chóng nhận thấy năng lực sản xuất của họ là

dư thừa và có quá ít người có thể mua được hàng hoá họ sản xuất ra. Mặt khác, khi

đầu tư vượt quá tiết kiệm, người ta sẽ tiêu dùng quá nhiều. Người tiêu dùng sẽ chi

tiêu thay vì tiết kiệm và các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu cao hơn đối với lao động để

sản xuất hàng hoá cũng như có nhu cầu cao hơn đối với lao động xây dựng các nhà

máy và chế tạo thiết bị. Tất cả chi tiêu này sẽ đẩy tiền công và các chi phí sản xuất

khác lên, và cũng làm tăng giá của hàng tiêu dùng. Lạm phát sẽ là kết cục cuối cùng..

Keynes sau đó đưa ra luận cứ rằng trách nhiệm của ngân hàng trung ưng là phi giữ

cho hai biến này bằng nhau, và do đó ngăn chặn được lạm phát và suy thoái. Nếu tiết

kiệm vượt quá đầu tư, ngân hàng trung ưng cần hạ thấp lãi suất, như vậy vừa gim bớt

tiết kiệm và kích thích việc đi vay. Ngược lại, nếu đầu tư vượt quá tiết kiệm, ngân

hàng trung ưng cần tăng lãi suất, như vậy làm tăng tiết kiệm và gim việc vay mượn vì

mục đích đầu tư.

Theo Keynes ngoài nhân tố tiền tệ còn những nhân tố khác tác động đến tổng

cung và tổng cầu của nền kinh tế(Chính sách tài chính,Những cú sốc về cung, công ăn

việc làm, thâm hụt ngân sách,…) vì thế có thể làm tăng giá cả hàng hóa, gây ra lạm

phát.

Ngày nay, nền kinh tế hiện đại với nhiều nguyên nhân thúc đẩy làm cho lạm

phát ngày càng phức tạp.Nhưng chung ta có thể hiêu một cách chung nhất:Lạm phát

là một hiện tượng phức tạp đa nhân tố.Trong đó những yếu tố tiền tệ và những yếu tố

khác đan xen lẫn nhau làm cho lạm phát ngày càng phức tạp và khác xa hiện tượng

ban đầu.

2.Khái niệm lạm phát:

Lạm phát là một thuật ngữ kinh tế mà bản chất của nó là giá trị danh nghĩa

(mệnh giá) của tiền bị suy giảm một cách tương đối so với cái giá trị mà đáng lẽ nó

phải đại diện tốt khi nó làm đại diện

Vấn đề có thể hiểu như sau . Giả sử trước đây tạ có một loại hàng hoá có giá

trị 100.000 đồng/sp thì với một tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, chúng ta có thể

mua được 1 sản phẩm. Nay vì lạm phát, tờ tiền này bị mất giá trị 50%, nghĩa là mệnh

giá của tờ tiền vẫn 100.000 đồng nhưng để mua được cùng loại hàng hoá trên ta phải

bỏ ra 2 tờ cho 1 sản phẩm như trước. Lưu ý rằng hàng hoá trên giá trị vẫn không đổi

bởi đã không hề có một yếu tố nào tác động đến giá trị của nó cả. Giá trị không đổi

thì giá cả cũng phải không đổi vì xét theo lý thuyết (thị trường cạnh tranh hoàn hảo)

giá cả chỉ là hình thức biểu hiện cho giá trị. Vì vậy, nếu nhìn vào hiện tượng thì bạn

chỉ thấy giá cả hàng hoá này là 200.000 đồng do người mua hàng phải trả 2 tờ mệnh

giá 100.000 đồng để đổi lấy nó. Còn về bản chất thì giá trị hàng hoá không đổi trong

khi sức mua của tờ tiền giảm sút.

Vậy, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền

kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm

sức mua của đồng tiền

3. Biểu hiện của lạm phát:

Như khái niệm thì lạm phát là một thuật ngữ mô tả hiện tượng mức giá cả

chung trong nền kinh tế tăng lên.Lạm phát ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế, điển

hình là qua các mặt sau đây:

3.1 Sự gia tăng giá cả hàng hóa, dịch vụ hàng loạt.

Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo

thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với

cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít

hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng

cùng một dịch vụ.

Khi giá cả trong nền kinh tế tăng lên điều đó có

nghĩa là thu nhập thực tế của những người có thu nhập

cố định hay ít thay đổi như quân nhân, cán bộ hưu trí,

lương của CBCNV trong cơ quan hành chính nhà nước

giảm xuống. Xét về mặt số lượng thì hàng tháng họ

vẫn nhận được 1.000.000đ, nhưng 1.000.000đ tháng

trước họ mua được nhiều hàng hơn tháng này do giá cả

của tháng này tăng cao hơn tháng trước, như vậy là thu

nhập thực tế của họ đã giảm xuống. Do đó lạm phát

làm thu nhập thực tế của một bộ phận dân cư giảm xuống, đời sống khó khăn hơn.

Những ví dụ về biểu hiện của lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu

thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3250000 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng

gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm

phát 41900000000000000 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).

3.2 Sự gia tăng khối lượng tín dụng

Lạm phát có thể được hiểu là sự thừa tiền trong lưu thông. Khi mà lượng tiền

cung ứng ra nền kinh tế nhiều hơn mức gia tăng lượng hàng sản xuất sẽ làm xuất hiện

lạm phát.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến hết tháng 12/2007,

tổng dư nợ cho vay và đầu tư vào nền kinh tế của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

tăng gần 37,8% so với cuối năm 2006, vượt xa so với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đề

ra cả năm là 18 – 22% và thực tế năm 2005 chỉ tăng 19,2% và năm 2006 tăng 21,4%.

Đồng thời khi chính phủ chi tiêu quá mức cần thiết (như giải quyết các chương

trình xã hội như tăng lương, tiền hưu vv…) thì xuất hiện nhu cầu phát tiền ngoài kế

hoạch cho hoạt động làm tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế.Chính vì vậy mà

mất cân đối cung-cầu về tiền tệ làm tăng giá (giá bằng lượng tiền chia cho số lượng

hàng trong phạm vi toàn xã hội)

3.3 Tỷ giá hối đoái tăng cao

Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền nước này được biểu hiện qua đồng tiền

của nước khác.

Nhìn lại cách điều hành tỷ giá tiền tệ năm 2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

(02/05/2008)

Tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền (quốc gia) tính bằng đồng tiền (quốc gia)

khác. Từ tháng 9- 1985 đến cuối năm 2007, VND luôn luôn mất giá so với USD. Cụ thể

tháng 9-1985, tỷ giá VND/USD là 15 VND/1 USD, đến năm 2007 thì tỷ giá đó đã là 16.115

VND/ 1 USD. Như vậy, sau 22 năm VND mất giá so với USD 16.100 VND hay 107.333,33%

{[(16.115 VND – 15 VND) : 15 VND] x 100 = 107.333,33%}. Tỷ giá hối đoái chịu

tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan trọng nhất là sức mua của đồng

tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm phát tăng, sức mua đồng nội tệ giảm so

với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với nội tệ tăng (hay tỷ giá

đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm)

3.4 Giá cả các loại chứng khoán giảm

Đầu tiên, việc lạm phát tăng cao là lý do khiến giá các loại chứng khoán suy

giảm.Việc lạm phát tăng cao, không được khống chế sẽ làm cho nhà đầu tư mất niềm

tin và họ sẽ không dám đầu tư trên TTCK do sợ rủi ro.

Một khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, chính phủ sẽ phải áp dụng nhiều biện

pháp, trong đó có cả biện pháp hành chính để điều hành nền kinh tế nhằm kiềm chế

lạm phát thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến thị trường tài chính nói chung và thị trường

chứng khoán nói riêng.

Ví dụ rõ nét nhất là thị trường chứng khoán ở Việt chúng tôi nền kinh tế VN

rơi vào lạm phát thì buộc NHNN phải có những biện pháp để hút bớt lượng tiền thừa

trong lưu thông.Việc NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ giữa tháng 1/2008 và phát

hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, nhà đầu tư càng hiểu rõ vốn cho TTCK ngày

càng thu hẹp đi.

Chính vì vậy lạm phát tăng cao đồng nghĩa với việc sụt giảm giá cả của các

loại chứng khoán

3.5 Mọi thứ đều khan hiếm trừ tiền

Việc lạm phát tăng cao dẫn đến giá cả của hàng hóa dịch vụ không ngừng leo

thang. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi

hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân hàng

không tăng lãi suất tiền gửi thì dân chúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng mà tìm cách

đầu cơ vào đất đai khiến giá cả đất đai tăng cao…).Điều này tạo nên sự khan hiếm đối

với tất cả những loại hàng hóa dịch vụ.

1. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 1975 – 1986

2. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 1986 – 2003

3. Tình hình lạm phát trong giai đoạn từ 2004 đến hiện nay

1. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 1975 – 1986

1.1Tình hình chung :

Năm 1972 có những sự kiện đáng ghi nhớ :

+Đồng Dollar giấy từ bỏ “kim bản vị” tức là không còn được đảm bảo bằng vàng.

+Lý thuyết hệ thống, cách tiếp cận hệ thống, các quan điểm và nguyên lý của điều

khiển học xâm nhập mạnh mẽ vào một số lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.

+Các nhà kinh tế Mác-xít ấu trĩ cuối cùng cũng đã bắt đầu nhận ra rằng, sự giảm

giá không phải lúc nào cũng hay và sự tăng giá không phải lúc nào cũng dỡ, và lạm

phát không phải là căn bệnh chỉ dành riêng cho CNTB. Cái mới về nội dung của lạm

phát ở đây là các vấn đề về tiền tệ, giá cả, tài chính, tiền lương được xem xét như một

tổng thể (quan điểm hệ thống) trong đó giá cả là vấn đề trung tâm, mối quan hệ giữa

chúng không phải là mối quan hệ nhân quả mà là mối quan hệ vừa nhân vừa quả,

nghĩa là mỗi yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là hậu qủa của các yếu tố khác. Giá tăng

lên là do nguyên nhân phát hành tiền và chênh lệch cung cầu, nhưng nó cũng tác động

trở lại đến việc làm phát hành và làm thay đổi chênh lệch cung cầu.

+Khi đó lạm phát được miêu tả như sau: trong quá trình vận hành của nền kinh tế,

nếu 4 yếu tố: tài chính, tiền tệ, giá cả, tiền lương đạt được một sự phối hợp hài hòa ,

nghĩa là giữa chúng có một sự cân bằng (cân bằng động) thì lúc đó không có lạm

phát, giá cả tiền tệ ổn định, cung cầu, thu chi cân bằng, tiền lương trang trãi đủ cuộc

sống. Nếu không đạt được trạng thái cân bằng đó thì nền kinh tế có những biến động.

Sự biến động này có thể xảy ra theo hai hướng:

Một là, giá cả tăng hơn giá trị, tiền phát hành quá mức cần thiết, bội chi tăng,

tiền lương thực tế giảm, đó là khuynh hướng lạm phát.

Hai là, giá cả giảm xuống và nhỏ hơn hẳn giá trị, tiền lương phát hành ít hơn

mức cần thiết, bôi chi tăng lên, tiền lương thực tế tăng, đó là khuynh hướng thiểu

phát.

Điều đáng chú ý ở đây là không nhất thiết cả 4 yếu tố đều ngả về cùng một phía,

rất có thể một số yếu tố ngả về phía này, còn các yếu tố khác lại ngả về hướng khác.

Ngoài ra sự thiểu phát cũng gây ra những tác hại không kém gì lạm phát.

– Vào những năm 1980, vàng từ mốc 450$ đã vọt lên mức 850$ chỉ trong vòng

năm tuần lễ.

– Giá dầu được kéo lên bởi tình hình bất ổn của Trung Đông và đồng USD rơi

nhanh do lo ngại về suy thoái kinh tế.

– Tại Mỹ, năm 1971 dến 1981 tỷ lệ lạm phát (tăng giá) cao hơn tỷ lệ tăng trưởng

tiền tệ, nói cách khác tốc độ mất giá tiền giấy lớn hơn, nhanh hơn tốc độ tăng

tiền .

– Chúng ta có thể nhìn nhận 1 cách chung nhất về thế giới qua biểu đồ sau :

Tỷ lệ lạm phát của 5 thành viên chính của G8

1.2 Tình hình của Việt Nam :

– Cơn sốt lạm phát không biết đã ra đời trong nền kinh tế từ bao giờ, nhưng chỉ

biết ngay những năm 1976 nó đã từng tồn tại. Cho dù người ta dấu diếm, che

mắt và kiềm chế nó, nhưng nó cứ lớn dần lên ngoài ý muốn của con người. Năm

1985, cuộc cải cách giá- lương -tiền theo giải pháp xốc đã thất bại làm cho cơn

sốt lạm phát vụt lớn nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế –

xã hội. Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiến

hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô. Giá cả không chỉ

tăng ở kinh tế thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh trong thị trường tổ chức.

Về cơ bản giá cả đã tuột khỏi vòng tay bao cấp của Nhà Nước.

– Chỉ số sinh hoạt ở năm 1985 tăng gấp 30 lần so với năm 1976 . Và đồng bạc

“Ông Hồ” đã bị phá giá đến 92% so với đồng dollar USA! Lương thực, thực

phẩm và hàng hóa tiêu dùng vô cùng khan hiếm. Chỉ trong vòng vài tháng cuối

năm 1985, giá nông phẩm vọt lên đến 10-12 lần, giá hàng công nghệ phẩm tăng

vọt đến 28-30 lần. Giá cả tăng vọt theo cấp số nhân trong tình trạng lạm phát phi

mã, đã đẩy nền chính trị CHXHCN Việt Nam lâm vào hoàn cảnh “tưởng chừng

như sụp đổ đến nơi”.

– Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm,

cuối năm 1985 lên đến 587,2 % .

– Sản xuất tăng chậm và thực chất không có phát triển, nên lạm phát ngầm diễn ra

với mức độ ngày càng cao, lại gặp sai lầm “giá – lương – tiền” 1985, nên siêu

lạm phát diễn ra vào năm 1986 với tốc độ phi mã, lên tới 774,7%.

– Tiền mặt dự trữ không có, tiền trong lưu thông thì thiếu nghiêm trọng.

– Tăng trưởng kinh tế rất thấp, bình quân năm thời kỳ 1977 – 1980 chỉ có 0,4%

(trong đó 1979 giảm 2%, 1980 giảm 1,4%); thời kỳ 1977 – 1985 chỉ có 3,7%.

– Dấu hiệu của nền “kinh tế bong bóng” trong lĩnh vực kinh doanh địa ốc, thị

trường chứng khoán, giá vàng, giá dầu, giá thực phẩm tăng mạnh, mức độ thâm

hụt cao trong cán cân ngoại thương…

– Lạm phát cao gấp hơn 10 lần lãi suất tiền gửi.

1.3 Nguyên nhân :

– Những nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát “phi mã” gồm có:

(1) Nguồn cung tiền mặt quá cao, phần lớn do in nhiều tiền để tung ra thị trường mà

không đủ hàng hóa đối ứng.

(2) Nền kinh tế “thiếu” nghiêm trọng, nhất là sự thiếu thốn về các hàng hóa tiêu dùng

thiết yếu như lương thực, thực phẩm và các hàng hóa tiêu dùng thuộc loại nhu yếu

phẩm khác, hậu quả của sự kiệt quệ sau chiến tranh, của tình trạng kinh tế tăng trưởng

kém và việc chấm dứt các nguồn viện trợ từ bên ngoài.

(3) Lãi suất tiền gửi ngân hàng âm nặng so với lạm phát, khiến người dân không

muốn gửi tiền vào ngân hàng, làm cho lượng tiền mặt trôi nổi trong lưu thông ngày

càng tích lại nhiều mà không có lượng hàng hóa tương ứng để cân đối cung – cầu.

1.4 Giải pháp chống lạm phát:

– Thông thường, những loại giải pháp chống lạm phát tương đối phổ biến mà các

nước hay áp dụng là: giảm lượng cung ứng tiền mặt, áp dụng chế độ lãi suất dương và

thực thi các chính sách, biện pháp khắc khổ, nhất là các biện pháp thắt chặt tiền tệ.

Đối với Việt Nam, những loại chính sách và biện pháp này cũng đã và đang được áp

dụng, tuy mức độ và liều lượng khác nhau tùy theo từng thời kỳ và trong những bối

cảnh khác nhau.

Trong thời kỳ trước và đầu đổi mới, các biện pháp chống lạm phát chủ yếu mà Việt

Nam đã thực hiện tập trung vào những việc làm cụ thể như:

Nỗ Lực Khắc Phục Khó Khăn, Khôi Phục Nền Kinh Tế Của Venezuela

Khủng Hoảng Venezuela Cần Phải Giải Quyết Trên Cơ Sở Đối Thoại Hòa Bình

Venezuela Âm Thầm Nới Hạn Chế Thị Trường, Nền Kinh Tế Khởi Sắc

Venezuela : Một Số Nguyên Nhân Dẫn Đến Tình Trạng Siêu Lạm Phát

Giải Pháp Có Thể Giúp Venezuela Thoát Cảnh ‘nồi Da Xáo Thịt’

Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua

Thực Trạng Và Giải Pháp Của Chính Phủ Về Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam

Kiên Trì Giải Pháp Vận Động Giảm Sinh Con Thứ 3

Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Tình Trạng Sinh Con Thứ 3

Một Số Giải Pháp Hạn Chế Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba:một Số Giải Pháp Hạn Chế Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba

Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Trường Mẫu Giáo.

ng leo thang. Hiện tượng lạm phát là một hiện tượng có nguyên nhân là sự tác động tổng hợp của các yếu tố cung, cầu và xu hướng tâm lí của các thành phần kinh tế. Để khắc phục được hiện tượng này, ta cần tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc để rút ra được các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp của nó, lấy đó làm cơ sở để đưa ra các chính sách quản lí vĩ mô thích hợp và tiến hành thực hiện dựa trên tình hình khách quan cụ thể. Lạm phát của Việt Nam tăng cao còn do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Bởi vì hiện nay việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu trong xu hướng toàn cầu hoá, vì vậy khi các nền kinh tế lớn gặp trục trặc thì ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Việt Nam. Trước xu hướng lạm phát gia tăng – vấn đề nổi bật ở Việt Nam trong năm 2008, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam thời gian vừa qua”. Tiểu luận được chia làm 3 phần như sau: Phần 1: Lý thuyết chung về lạm phát Phần 2: Thực trạng lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam thời gian vừa qua. Phần 3: Một số đề xuất, kiến nghị về các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam PHẦN I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm và Phân loại lạm phát. 1.1. Khái niệm: – Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. – Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát. Đó chính là tốc độ tăng mức giá chung của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước đó. Πt=(Pt-Pt-1)*100/Pt-1Πt : Tỷ lệ lạm phát Pt: Chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu Pt-1: Chỉ số giá cả của thời kỳ trước đó 1.2. Phân loại lạm phát. Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế Lạm phát phi mã: Xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. Lạm phát này gây ảnh hưởng nghiêm trọng với nền kinh tế. Siêu lạm phát: là lạm phát rất cao, thường là từ 50% một tháng trở lên. Với mức lạm phát này, sau một năm giá cả hàng hoá tăng gấp khoảng 130 lần. Trên thực tế, siêu lạm phát thường xuất hiện khi chính phủ cần một số lượng lớn tiền để trang trải thâm hụt ngân sách. Siêu lạm phát thường là biểu hiện của mất cân đối ngân sách chính phủ chứ không phải là vấn đề tiền tệ. Trong một thế giới như vậy, những cải cách về ngân sách là cần thiết để đưa ngân sách chính phủ trở về thế cân bằng, tránh dựa dẫm quá nhiều vào thuế đúc tiền, và như vậy, sẽ khôi phục được niềm tin của dân cư vào chính phủ. 2. Một số lý thuyết và quan điểm lý giải những nguyên nhân gây ra, duy trì và thúc đẩy lạm phát. 2.1. Lạm phát cầu kéo: Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hoá. 2.2. Lạm phát chi phí đẩy: Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi giá cả các yếu tố đầu vào (tiền lương, nguyên liệu…) tăng lên và đường tổng cung dịch chuyển sang trái. Lạm phát cao đi liền với sản xuất đình trệ và thất nghiệp gia tăng, nên còn được gọi là lạm phát đình trệ. Các cơn sốt của thị trường đầu vào, đặc biệt là giá cả của xăng dầu, điện… là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đẩy đường tổng cung dịch chuyển sang trái. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả đã tăng lên và sản lượng giảm xuống. 2.3. Lạm phát ỳ: Trong nền kinh tế thị trường, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, với lạm phát vừa phải, giá cả tăng với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, vì mọi người đã có thể dự tính trước mức độ của nó nên còn gọi là lạm phát dự kiến. Mọi hoạt động kinh tế đã được tính toán điều chỉnh (điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, các khoản chi tiêu ngân sách…). Lạm phát dự kiến xảy ra khi đường AS và đường AD dịch chuyển lên trên với cùng một tốc độ, vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản xuất cũng như nhu cầu chi tiêu đều được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát nên sản lượng vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến. 2.4. Lạm phát và tiền tệ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các nhân tố ngoại sinh như tăng dân số và tiến bộ công nghệ. Do đó, tỷ lệ lạm phát phụ thuộc vào tốc độ tăng của cung tiền. Nếu ngân hàng trung ương giữ cung tiền ổn định, giá cả cũng sẽ ổn định. Nói cách khác, nếu muốn tỷ lệ lạm phát bằng không, ngân hàng trung ương chỉ cần tăng cung tiền với tỷ lệ đúng bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong trường hợp đó, mỗi năm sẽ có thêm một lượng tiền vừa đủ để đáp ứng yêu cầu tiền tăng do có thêm giao dịch. 2.5. Lạm phát và lãi suất: – Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất chưa được loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. – Lãi suất thực tế: là lãi suất đã được loại trừ ảnh hưởng của lạm phát Công thức điều chỉnh lãi suất danh nghĩa theo lạm phát là: r= i- π Hiệu ứng Fisher: Lưu ý rằng chúng ta rút ra hai hệ quả khi tiền tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn. Thứ nhất, theo lý thuyết số lượng, tăng tỷ lệ tăng cung tiền 1% thì tỷ lệ lạm phát cũng tăng 1%. Thứ hai điều này cũng hàm ý rằng lãi suất danh nghĩa cũng cần tăng 1%. Mối tương quan một- một giữa tỷ lệ lạm phát với lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fisher. Phân tích ở trên thực ra không hoàn toàn thoả đáng. Khi mọi người ra quyết định cho tương lai, họ không biết chính xác tỷ lệ lạm phát sẽ là bao nhiêu. Điều này hàm ý rằng chúng ta phải sử dụng tỷ lệ lạm phát dự kiến chứ không phải là tỷ lệ lạm phát thực tế. Do vậy, lãi suất thích hợp đề điều chỉnh hành vi của các nhà tiết kiệm và đầu tư là lãi suất thực tế dự kiến được tính như sau: re= i- πe Còn chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát thực tế được gọi là lãi suất thực tế thực hiện. Phân tích ở trên cho thấy tiền đóng vai trò là phương tiện cất trã giá trị. Trong thời gian có lạm phát, chức năng này ít phát huy tác dụng. Nếu giá cả tăng, một đồng mua được ngày càng ít hàng hoá hơn. Lạm phát làm giảm giá trị của tiền gợi ra rằng nếu tỷ lệ lạm phát cao, dân cư sẽ ít giữ của cải dưới hình thái tiền tệ. Lợi thế của tiền là nó rất tiện lợi trong giao dịch. Tuy nhiên, nó cũng có những bất lợi đi kèm: nếu một cá nhân giữa của cải dưới hình thái tiền tệ, ảnh ta bỏ quên tiền lãi mà anh ta có thể nhận được nếu như giữ trái phiếu mà không giữ tiền. Tiền lãi mà lẽ ra anh ta có thể nhận được gọi là chi phí cơ hội của việc giữ tiền. 2.6. Chi phí của lạm phát: Mọi người thường cho rằng lạm phát là một vấn đề kinh tế nghiêm trọng vì khi giá cả tăng, họ không thể mua được lượng hàng hoá và dịch vụ như cũ với mức thu nhập hiện tại của mình. Do vậy, họ tin rằng lạm phát trực tiếp làm giảm mức sống. Tuy nhiên, quan điểm này không đúng vì mọi người kiếm được thu nhập nhờ việc bán các dịch vụ, chẳng hạn lao động. Thu nhập danh nghĩa thường tăng cùng giá cả. Bởi vậy, nhìn chung lạm phát không ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập thực tế của mọi người. Tuy nhiên, lạm phát có thể gây ra một số tác hại mà chúng ta không dễ phát hiện: – Chi phí mòn giày: Lạm phát cao hơn làm tăng lãi suất danh nghĩa mà hệ quả là mọi người sẽ giảm số tiền nắm giữ. Nếu mọi người giữ số dư tiền thực tế ít hơn, thì họ phải đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền. Điều này không hề thuận tiện và nó dẫn đến chi phí mòn giày. – Chi phí thực đơn: Lạm phát cao hơn làm cho các doanh nghiệp thay đổi giá cả thường xuyên hơn. Việc làm này là tốn kèm nếu họ phải in lại biểu giá và cataloge – Giá cả tương đối biến động mạnh hơn: Nếu các doanh nghiệp thay đổi giá cả không thường xuyên thì lạm phát sẽ làm cho giá cả tương đối biến động nhiều hơn. Do nền kinh tế thị trường dựa vào giá cả tương đối để phân bổ nguồn, lạm phát dẫn đến tính phi hiệu quả xét từ góc độ kinh tế vi mô. – Thay đổi gánh nặng thuế: nhiều luật thuế không tính đến tác động của lạm phát. Do đó, lạm phát có thể làm thay đổi gánh nặng thuế của các cá nhân và doanh nghiệp, ngoài dự kiến ban đầu của các nhà làm luật. Lạm phát ảnh hưởng đến hai loại thuế đánh vào tiết kiệm: + Lãi vốn là những khoản thu nhập có được từ việc bán một tài sản với giá cao hơn giá mua vào. Lãi vốn danh nghĩa là đối tượng chịu thuế. Giả sử bạn mua vào một cổ phiếu giá 20 đồng và bán cổ phiếu với giá 50 đồng. Nếu mức giá tăng gấp đôi trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó, thì bạn chỉ thu được một khoản lãi thực tế trên vốn là 10 đồng nhưng bạn phải đóng thuế trên khoản thu nhập danh nghĩa là 30 đồng, vì luật thuế không tính đến lạm phát. + Tiền lãi danh nghĩa cũng bị đánh thuế, cho dù một phần tiền lãi danh nghĩa là để bù đắp lạm phát. Khi chính phủ đánh thuế theo một tỷ lệ phần trăm cố định của tiền lãi danh nghĩa, thì tiền lãi thực tế sau thuế giảm khi lạm phát tăng. Nguyên nhân ở đây là lãi suất danh nghĩa tăng theo tỷ lệ một- một với lạm phát và thuế tăng cùng với lãi suất danh nghĩa, làm cho lãi suất thực tế trước thuế không bị tác động bởi lạm phát. Kết quả là lãi suất thực tế sau thuế giảm Do thuế đánh trên lãi về vốn danh nghĩa và tiền lãi danh nghĩa cho nên lạm phát làm giảm lợi tức thực tế sau thuế từ tiết kiệm. Vì vậy, lạm phát làm cản trở tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách áp dụng chỉ số trượt giá trong hệ thống thuế sao cho thuế chỉ còn đánh vào thu nhập thực tế. – Sự nhầm lẫn và bất tiện: Với tư cách đơn vị hạch toán, tiền là một thước đo mà chúng ta sử dụng để đo lường và tính toán các giao dịch kinh tế. Khi ngân hàng trung ương tăng mức cung tiền và gây ra lạm phát, giá trị của tiền giảm và thước đo kinh tế này bị co lại. Điều này làm cho việc hạch toán lợi nhuận của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn. Nó cũng làm cho các giao dịch hàng ngày trở nên dế nhầm lẫn hơn. – Tác hại đặc biệt của lạm phát không được dự tính trước- tái phân phối của cải một cách tuỳ tiện: Những tác hại của lạm phát mô tả ở trên tồn tại ngay cả khi lạm phát ổn định và được dự báo trước. Tuy nhiên, khi xảy ra bất ngờ, tức là nằm ngoài dự kiến của mọi người, lạm phát có thể gây ra một tác hại nữa đối với nền kinh tế bởi vì nó tái phân phối của cải một cách tuỳ tiền. Ví dụ, các điều kiện cho vay nói chung được tính theo các giá trị danh nghĩa dựa trên một tỷ lệ lạm phát dự kiến nhất định. Song nếu lạm phát cao hơn so với dự kiến, người đi vay hoàn trả tiền vay bằng những đồng tiền có sức mua thấp hơn dự kiến. Người đi vay được lợi, còn người cho vay bị thiệt. Ngược lại, nếu lạm phát thấp hơn dự kiến, người cho vay được lợi, còn người đi vay bị thiệt, vì người đi vay phải trả tiền vay bằng những đồng tiền có sức mua cao hơn dự kiến. Nếu lạm phát được dự kiến một cách chính xác, thì hiện tượng tái phân phối thu nhập như vậy không xảy ra, cho dù quy mô lạm phát là bao nhiêu. Lạm phát thấp bao giờ cũng tốt hơn, bởi vì nó ổn định hơn và có thể được dự kiến chính xác hơn. PHẦN 2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỜI GIAN VỪA QUA 1. NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 1.1. Thứ nhất là do giảm nguồn cung của một số mặt hàng thực phẩm thiết yếu, cụ thể: là dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh trong nhưng năm 2007 và vẫn còn đang tái phát trong 2008 gần đây nhất là đợt rét đậm, rét hại làm chết 8.328 con trâu bò ở Tây Bắc Bộ 1.2. Thứ hai là lạm phát do cơ cấu: đó là tăng lương cơ bản 20% vào 1/1/2008. Áp lực này vừa là kết quả của lạm phát thời gian qua, lại vừa là một phần nguyên nhân quan trọng cho lạm phát trong thời gian tới. Có thể nói quyết định tăng lương đã hoàn thành chu trình tạo ra lạm phát hiện nay, báo hiệu nguy cơ tự tái tạo của hiện tượng này. Do đó, nếu Chính phủ không tiếp tục chống lạm phát một cách cứng rắn, đạt được mục tiêu trên có thể trở thành một nhiệm vụ khó khăn. 1.3. Thứ ba là do chi phí đẩy: lạm phát của Việt Nam tăng cao còn do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới.Tình hình giá cả nguyên liệu thế giới đang nóng lên với việc giá xăng dầu tăng với tốc độ chóng mặt,gây ra rất nhiều khó khăn cho kinh tế Việt Nam. Nhất là trong tình hình lãng phí nhiên liệu trong sản xuất ở Việt Nam còn rất cao, phụ thuộc mạnh vào nhiên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ, chưa có các nguồn nhiên liệu thay thế như năng lượng mặt trời, sức gió, năng lượng thuỷ triều, năng lượng hạt nhân,… thì việc giá dầu tăng nhanh sẽ bắt đầu cho cơn bão giá cả, tạo điều kiện cho lạm phát theo quán tính. Về lâu dài có thể triệt tiêu khả năng tăng trưởng kinh tế. Giá dầu thế giới đã tăng cao trong năm 2007, và đầu năm 2008 đạt là 128USD/thùng vào 16/05/2008, mức mà chưa có dự báo nào trong năm 2007 đưa ra. Không riêng giá dầu, giá sắt thép tăng 21,4 (riêng phôi thép tăng 42,4%), đã làm tăng 259 triệu USD; giá phân bón tăng 71,3%, đã làm tăng 88 triệu USD; giá chất dẻo tăng 12,6%, đã làm tăng 54 triệu USD; giá sợi dệt tăng 14,2%, đã làm tăng 16 triệu USD; giá lúa mì tăng 55,5%, đã làm tăng 12 triệu USD; giá bông tăng 16,4%, đã làm tăng 10 triệu USD; giá giấy tăng 5,2%, đã làm tăng 6 triệu USD. Chỉ với những mặt hàng trên, do giá tăng đã làm kim ngạch nhập khẩu tăng gần 1 tỉ USD trong 2 tháng, chiếm gần một phần tư tổng kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng này. Trong khi đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam lại mang tính gia công rất cao, như dệt may, giày dép… có đến 80% nguyên liệu phải nhập khẩu. 1.4. Thứ tư là lạm phát do cầu kéo: Thực tiễn của nền kinh tế thị trường thế giới xác nhận rằng, lạm phát thường có mối liên hệ mật thiết với TTCK và thị trường bất động sản.Tình trạng này đã tác động quyết định đối với lạm phát xét trên các điểm chủ yếu sau đây: – Một là, tạo nên sự phân hoá hai cực, một cực là tình trạng bội thực vốn trong giới đầu cơ do thu được những khoản lợi nhuận rất lớn từ đầu cơ chứng khoán và bất động sản, hệ quả một mặt là tiền tiếp tục đổ vào thị trường bất động sản làm cho giá cả tăng vọt. Mặt khác là chuyển vào các kênh dự trữ như vàng, ngoại tệ mạnh hay chuyển ra nước ngoài do giá cổ phiếu giảm mạnh, gây thiếu hụt cung tiền làm tăng lãi suất; cực còn lại chủ yếu là các DN dân doanh, khu vực chủ yếu tạo ra tăng trưởng, thiếu vốn nghiêm trọng cho dù đã chấp nhận vay với lãi suất cao. Tình trạng này đương nhiên làm nảy sinh một hậu quả kép, một mặt, làm chệch hướng phân bổ đầu tư hiệu quả, do vậy làm giảm tăng trưởng. Mặt khác, gây nên tình trạng thiếu hụt tiền có thể coi là giả tạo trong lưu thông, khoảng cách cung và cầu tiền bị kéo doãng quá mức, vừa làm tăng giá hàng hoá vừa làm tăng chi phí đầu tư, do vậy lạm phát tăng. – Hai là, do siêu lợi nhuận có được từ đầu cơ trên cả hai TTCK và bất động sản đã làm nảy sinh phương thức tiêu dùng mà đặc trưng của nó, mua vét với khối lượng lớn trong một thời gian rất ngắn nhiều loại hàng hoá như đất đai, vàng, ngoại tệ… Mặt khác, tạo nên một kênh lưu chuyển riêng biệt về hàng hoá và tiền với khối lượng rất lớn trong giới đầu cơ, vừa làm biến dạng lưu thông tiền tệ, vừa tạo nên sự kích hoạt làm tăng giá đồng loạt nhiều loại hàng hoá một cách đột biến. Thêm vào đó, sự kích hoạt này được sự bổ trợ của hàng loạt tác nhân mà đáng kể nhất là tăng lương, tăng giá xăng dầu, giá nguyên liệu của nhiều loại hàng hoá nhập khẩu… sự chênh lệch giữa mặt bằng giá nội địa thấp và mặt bằng giá cao trên thị trường thế giới đã được khai thông theo nguyên lý bình thông nhau do độ mở của nền kinh tế, kết quả là mặt bằng giá của thị trường nội địa đã bị đẩy lên cao mang tính hệ thống để xích lại gần với giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới. Chưa hết, chính sách kiềm chế tăng giá của chính phủ trong một thời gian dài bất ngờ bị hụt hơi. Giá của nhiều loại hàng hoá rơi vào trạng thái gần như tăng tự do. Kết cục, giá cả tăng mạnh, lạm phát nhất thiết tăng cao. – Ba là, giá cổ phiếu giảm mạnh vốn là bài toán không xa lạ đối với các nhà đầu cơ. Họ chờ thời điểm chạm đáy và không vội vàng mua vào, một mặt do sự liên kết giữa họ. Mặt khác, họ kỳ vọng các phản ứng của Chính phủ, chẳng hạn như đổ tiền vào TTCK tạo nên sự kích hoạt tăng giá. Hậu quả đương nhiên là lạm phát gia tăng. – Bốn là, tạo nên tình trạng khó có khả năng kiểm soát. Sự tồn tại lâu dài của đầu cơ và lũng đoạn trên TTCK và thị trường bất động sản đã bao hàm trong nó cơ sở của tình trạng phân bổ vốn đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro mà rất khó kiểm soát đương nhiên tự nó sẽ sản sinh ra lạm phát. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng: sự yếu kém của hệ thống này thể hiện trên hai điểm chủ yếu: Nếu như trước đây hệ thống này có chức năng chủ yếu là cho các xí ngiệp quốc doanh vay tiền, nghiã là nguồn vốn chủ yếu của quốc gia được tập trung đầu tư vào lĩnh vực không có, hoặc ít có khả năng sinh lời, thì từ khi đổi mới đến nay, nó đã thực hiện một bước chuyển theo chiều ngược lại, chủ yếu tập trung cho vay ở lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao nhất của nền kinh tế, cụ thể là tập trung cho vay mua cổ phiếu và bất động sản. Vì rằng mua cổ phiếu và bất động sản chủ yếu là nhằm mục tiêu đầu cơ, thành thử trên thực tế, hệ thống ngân hàng trở thành một bộ phận hay chỗ dựa của các hoạt động đầu cơ và lũng đoạn thị trường. Điều này hàm ý rằng, trong trường hợp giá cổ phiếu sụt giảm mạnh như hiện nay và thị trường bất động sản khó tránh khỏi khủng hoảng trong thời gian tới, ngân hàng đã và sẽ mất khả năng thanh toán, tạo ra tình trạng hoảng loạn, người gửi ồ ạt rút tiền để chuyển sang các hình thức dự trũ khác ít rủi ro hơn, như vàng hay những hàng hoá có khả năng đảm bảo khác làm cho thị trường tài chính rối loạn. Bên cạnh đó, tình trạng hàng loạt công ty đua nhau lập ngân hàng chủ yếu nhằm kinh doanh chứng khoán và bất động sản, từng dòng người chen chúc nhau mua vét vàng ở các hiệu vàng tư nhân không thể không làm suy yếu hệ thống ngân hàng và gia tăng thêm tình trạng hỗn loạn của thị trường tài chính. Vì rằng chính sách tài chính tiền tệ chỉ có thể phát huy tác dụng trong điều kiện hệ thống ngân hàng đủ mạnh, nên trong bối cảnh nêu trên, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hoặc là sẽ bị tê liệt, hoặc là không có thậm chí phản tác dụng, lạm phát như là kết quả tất nhiên không thể tránh khỏi. Mặt khác, việc tổ chức hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập với các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Quan sát vẻ bề ngoài thì dường như sự phân cấp của hệ thống ngân hàng hiện nay là tương thích với hệ thống ngân hàng của các nước có nền kinh tế thị trường. Thế nhưng trên thực tế, ngân hàng trung ương nước ta cũng chỉ giống như một bộ ngành thực hiện chức năng quản lý hành chính chứ không phải làm nhiệm vụ quản lý hệ thống ngân hàng chuyên doanh mà nhiệm vụ quan trọng nhất là định hướng các ngân hàng này chuyển tiền vào các lĩnh vực đầu tư có hiệu quả chứ không phải chủ yếu chuyển vào các cuộc chơi đầy may rủi như hiện nay. Thực tế của nền kinh tế thị trường xác nhận rằng, quy định lãi suất, mức dự trữ bắt buộc hay lớn hơn là quyết định mức cung tiền vẫn đơn thuần là các nghiệp vụ hành chính chừng nào không có khả năng định hướng các ngân hàng chuyên doanh nhằm vào mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Xét trên giác độ này, ngân hàng trung ương đã không thực hiện được chức năng định hướng các ngân hàng chuyên doanh hoạt động hiệu quả. Thực tế là, ngân hàng trung ương có rất ít mối quan hệ với các ngân hàng chuyên doanh. Mối quan hệ tương tác xét trên bình diện quản lý kinh tế thực sự là chưa được xác lập. Bằng chứng là, các hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng chuyên doanh, về cơ bản không có mối liên hệ nào với ngân hàng trung ương. Rõ ràng là các hoạt động tín dụng của ngân hàng vì mục tiêu đầu cơ trong TTCK và thị trường bất động sản đã tồn tại trong một thời gian dài, trong khi ngân hàng trung uơng thực ra chỉ tồn tại bên cạnh nó như một cơ quan quản lý hành chính bất lực trước các hoạt động đầu cơ của các ngân hàng chuyên doanh. Với một hệ thống ngân hàng như vậy, lạm phát chỉ là vấn đề thời gian ngay cả trong trường hợp giá nguyên liệu thế giới cũng như giá lương thực thực phẩm không tăng. Nói khác đi, lạm phát nhất định sẽ xảy ra mà không phụ thuộc vào tăng giá lương thực, thực phẩm cũng như tăng giá nguyên liệu trên thị trường thế giới ở mức độ nào. 1.5. Thứ năm là Lạm phát do chính sách tiền tệ: Lạm phát có được bước nhảy vọt ngoặt mục như thế phần lớn từ chính sách thiếu đồng bộ giữa ngân hàng và bộ tài chính. Vấn đề nhảy vọt có nguyên nhân khá rõ ràng. Ngân hàng (NH) phải mua vào số lượng lớn ngoại tệ (đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư vào TTCK.Thời báo Kinh tế Sàigòn (số 10/2008) đã đưa thông tin rất quan trọng cho biết, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nửa đầu năm 2007 đã tung ra 105 ngàn tỉ đồng để mua vào 6,5 tỉ USD làm dự trữ ngoại tệ, sau đó lại tung thêm 40 ngàn tỉ đồng để mua thêm 2,5 tỉ USD . Như vậy tổng số tiền tung ra mua 9 tỉ USD ngoại tệ là 145 ngàn tỉ đồng. Muốn tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi phải thúc đẩy đầu tư mạnh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều, như vậy lượng tiền đưa vào lưu thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm phát tiền tệ cũng sẽ nảy sinh. Như đã được đề cập, cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột biến (gồm cả đầu tư và kiều hối), từ đó buộc Ngân hàng nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng. Việc mua đó đồng nghĩa với tung thêm tiền đồng Viêt Nam vào lưu thông, nhưng không thể không mua được vì một mặt để tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho nhập khẩu, mặt khác là để thu hút luồng vốn từ bên ngoài vào phát triển kinh tế. Nhưng theo các nhà kinh tế, không mua USD vào còn tồi tệ hơn, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư trong nước. Bởi vậy, hoạt động nghiệp vụ tiền tệ thu gom hơn 90 000 tỉ đồng trong năm 2007 là giải pháp đúng của Ngân hàng nhà nước. Nhưng lạm phát bùng lên trong năm 2007 và hai tháng đầu năm 2008 là do nhiều nguyên nhân, thậm chí có cả nguyên nhân tích tụ từ lâu do đầu tư kém hiệu quả (hệ số ICOR tăng), cuối cùng thể hiện ở chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của Việt Nam đã ngày một dãn rộng trong vòng 3 năm qua. Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6-2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110%. Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%. Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cung tiền của Thái Lan là hầu như không đáng kể. 1.6. Thứ sáu là Lạm phát do tỉ giá hối đoái VND: Neo tỷ giá cứng nhắc với USD dẫn đến cung tiền tăng mạnh Kinh tế Việt Nam trẻ, được đánh giá có nhiều tiềm năng và triển vọng về cơ hội đầu tư do vậy sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD). Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt Nam Đồng (VNĐ) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng. Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VNĐ yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy ở trong những điều kiện kinh tế thế giới nhất định. Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của chính sách này là do phải tung VNĐ ra mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%. Đây là mức tăng rất lớn mặc dù NHNN đã có nỗ lực hút lại một phần cung tiền. Neo tỷ giá với USD đang mất giá mạnh trên toàn cầu khiến chi phí cho sản xuất trong nước tăng Tuy nhiên tỷ giá của VND trong thời gian này hầu như không biến đổi so với USD (tính đến cuối tháng 2/2008 chỉ tăng 0.24% so với 2006). Do đó qua việc neo tỉ giá, VNĐ cũng giảm trung bình 15% so với các ngoại tệ mạnh khác. Chính sách VNĐ yếu mặc dù có thể thúc đẩy xuất khẩu nhưng đồng thời lại góp phần “nhập khẩu lạm phát “vào Viet Nam. Lí do là sản xuất tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào các nguyên vật liệu nhập khẩu như xăng dầu, xi măng, sắt thép, máy móc…Sự mất giá của USD hay nói cách khác là sự tăng giá thành của các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu cho sản xuất tính bằng VNĐ dưới chế độ tỷ giá neo là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất trong nước tăng, kéo theo giá cả hàng hóa tăng theo. Chi phí cho sản xuất tăng cao, lượng cung tiền lớn do vậy lạm phát phi mã là không tránh khỏi. 1.7. Thứ bảy Lạm phát do bội chi ngân sách: Theo đánh giá của IMF thì bội chi ngân sách của Việt Nam là 6,6%GDP lớn hơn mức độ bội chi tối đa cho phép là 5%. Chính phủ có thể hồi phục sự ổn định tương đối nhanh chóng bằng kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của doanh nghiệp nhà nước. Vào đầu những năm 90, lo lắng vì hoạt động kém hiệu quả của các công ty nhà nước khiến chính phủ quyết định thành lập các tổng công ty và tập đoàn kinh tế, theo hình mẫu keiretsu của Nhật và chaebol của Hàn Quốc. Ý định ban đầu là quy mô lớn sẽ giúp các công ty cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các NHTM đang phải huy động vốn trong dân với lãi suất từ 10-11%/năm. Trong khi bị bắt buộc mua tín phiếu của NHNN với lãi suất 7,8%. Điều này đồng nghĩa với việc chi phí sản xuất sẽ tăng cao, có nghĩa là giá thành sản phẩm sẽ không thể nào giảm được. Giá cả vì thế lại tiếp tục leo thang. Như vậy, nếu tình trạng này kéo dài, cuộc chiến chống lạm phát do NHNN khởi xướng với những công cụ tưởng như rất kịp thời và đúng tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu gánh nặng lạm phát cho doanh nghiệp và nâng cao đời sống người dân về bản chất đang trở thành cuộc đùn đẩy trách nhiệm và chi phí chống lạm phát sang cho chính họ (doanh nghiệp và người dân). Chống lạm phát như thế có thể được ngay hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài sẽ để lại hậu quả thật khó lường. Sản xuất đóng băng, tăng trưởng suy giảm, nền kinh tế rất dễ sa vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng và đời sống người dân ngày càng chật vật. 2.THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Vấn đề lạm phát của nền kinh tế nước ta đã được đưa ra nhiều từ giữa năm 2007. Có thể thấy, liên tục từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP năm sau đều cao hơn năm trước và năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, cũng đã có sự cảnh báo về sự tăng trưởng nóng, về sự bền vững của tăng trưởng. Trước tình hình và diễn biến của nền kinh tế – xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên số hàng đầu. Giá cả leo thang làm cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp điêu đứng. Không chỉ giá lương thực thực phẩm leo lên vùn vụt, mà giá than, giá vật liệu xây dựng và giá một số dịch vụ cũng tăng lên. Hiện tượng mức giá chung tăng đều đặn được gọi là lạm phát. Người ta dùng nhiều chỉ số để đo lạm phát và chỉ số quen thuộc nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chỉ số này được tính trên cơ sở theo dõi biến động giá theo thời gian của các mặt hàng nhất định (từ 2005 rổ hàng hoá này gồm gần 500 hàng hoá và dịch vụ). Chỉ số CPI đã liên tục tăng suốt 4 năm qua: Bắt đầu là 9,5% năm 2004; 8,4 % năm 2005; 6,6% năm 2006; 12,6% năm 2007 và trong 4 tháng đầu năm 2008 đã tăng 11%. Chỉ số CPI từ 2000 đến quí 1/2008 ( Nguồn: Tổng cục thống kê) Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Quý1/2008 CPI -0.6 8 4 3 9.5 8.4 6.6 12.6 11 Thông qua bảng dữ liệu trên có thể rút ra nhận xét : Thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 2 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng kể: Thái Lan – 1,7%, Malaysia – 2,2%, Indonesia – 1,8%, Trung Quốc – 2,9%, trong khi con số này ở ta là – 6,19%.1 Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí “bôi trơn”; công nghệ sản xuất thì lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng còn yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu… cộng thêm với năng lực quản lý còn yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi, ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam kém năng động bởi vì khi nhìn vào phản ứng của các chủ thể kinh tế cơ bản sẽ thấy Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát lạm phát, trước lượng tiền đầu tư nước ngoài tăng hơn dự kiến (7 tỷ USD trong 6 tháng) đã tỏ ra bối rối. Khi một quốc gia được các nhà đầu tư “ưu ái” bơm tiền – đó là cơ hội lớn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm thế nào để hấp thụ lượng tiền này, biến nó thành sản phẩm, thành giá trị gia tăng thúc đẩy kinh tế phát triển. Các doanh nghiệp cũng vậy, trước áp lực lạm phát, vẫn giữ một chiêu duy nhất – tăng giá bán, khá hơn một chút là thực hành tiết kiệm Tình hình kinh tế – xã hội những tháng đầu năm 2008 đã và đang có những diễn biến bất lợi. Tăng trưởng kinh tế vẫn cao, nhưng không đạt mục tiêu đề ra, tăng trưởng của công nghiệp – xây dựng thấp. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có biểu hiện xấu.Giá tiêu dùng liên tiếp tăng và tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đã là 9,19%, nêu tính cả tháng 4 đã là trên 11%, ảnh hưởng rất bất lợi đến sản xuất kinh doanh, đến đầu tư phát triển và tác động xấu đến đời sống nhân dân. Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán có nhiều biến động bất thường, nhập siêu tăng cao, cán cân thương mại và cán cân thanh toán thiếu vững chắc,mới đây nhất là việc giá dầu tăng cao kỉ lục 128 USD/thùng .Nhóm hàng lương thực đã tăng 15,02%,nhóm hàng thực phẩm tăng 10,06% ,nhà ở và xây dựng tăng 11,01%… và chỉ có riêng nh._.

Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục

Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát

Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022

Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019

Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo

Luận Văn Đề Tài Lạm Phát 2011

Tăng Trưởng Gdp 2022 Trên 7%, Lạm Phát Dưới 3%

Lạm Phát Năm 2022 Và Những Dự Báo

Lạm Phát Năm 2008: Dự Báo Và Giải Pháp?

Published on

TIỂU LUẬN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP_10302212052019

1. 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐH MỞ TP. HCM KHOA TÀI CHÍNH- NGÂN HÀNG BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI: “LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” Khoa: Tài Chính- Ngân Hàng Lớp: TN9D SVTH: Nhóm TN9A GVHD: TS Nguyễn Trung Trực Năm Học: 2010- 2011 Tp. HCM, ngày 25/11/2010

2. 2 DANH SÁCH NHÓM TÊN MSSV

3. 3 Nhận xét của GVHD …………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………

4. 4 LỜI NÓI ĐẦU Lạm phát ở Việt Nam đang nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sự tăng trưởng kinh tế. Sau hơn một thập kỷ lạm phát ở mức vừa phải, hiện nay lạm phát ở nước ta đang ở mức cao, đặc biệt là năm 2007 và 2008 và nó đã và đang là “kẻ phá hoại” có tác động xấu đến các hoạt đông kinh tế. Nó như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt kết quả khả quan. Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp. Trong sự nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển đất nước. Vì vây, chúng em chọn đề tài ” Lạm Phát ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp” để có thể nghiên cứu kỹ hơn về lạm phát ở Việt Nam và qua đó chúng em có thể rút ra các biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kỳ kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chúng em kính mong sự góp ý chân thành của thầy cô và bạn đọc để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!

5. 5 MỤC LỤC Phần 1. Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm về lạm phát ……………………………………………………………………… 6 1.2 Phân loại lạm phát …………………………………………………………………………… 6 1.2.1 Phân loại theo mức độ của tỷ lệ lạm phát hay dựa theo định lượng ……….. 6 1.2.2 Căn cứ vào định tính ……………………………………………………………………… 7 1.2.3 Thiểu phát …………………………………………………………………………………… 7 1.3 Đo lường lạm phát…………………………………………………………………………… 8 1.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng………………………………………………………………………. 8 1.3.2 Chỉ số giảm phát theo GDP (Id)………………………………………………………. 9 1.3.3 Chỉ số giá sản xuất ………………………………………………………………………. 10 1.3.4 Chỉ số giá sinh hoạt …………………………………………………………………….. 10 1.3.5 Chỉ số giá bán buôn…………………………………………………………………….. 10 1.4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát …………………………………………………….. 10 1.4.1 Lạm phát do cầu kéo……………………………………………………………………. 10 1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy ………………………………………………………………. 11 1.4.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ…………………………………………….. 13 1.5 Tác động của lạm phát……………………………………………………………………. 13 Phần 2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 2.1 Lạm phát việt nam qua các giai đoạn………………………………………………… 15 2.1.1 Giai đoạn đất nước việt nam đang bị thực dân và đế quốc đô hộ…………. 15 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1976- 1980 ……………………………………………………….. 15 2.1.3 Giai đoạn từ 1981- 1988……………………………………………………………… 16 2.1.4 Giai đoạn 1988-1995 …………………………………………………………………… 17 2.1.5 Giai đoạn 1995-2005 …………………………………………………………………… 17

6. 6 2.1.6 Giai đoạn 2006 đến nay……………………………………………………………….. 21 2.1.6.1 Giai đoạn lạm phát tăng nhanh …………………………………………………… 21 2.1.6.2 Giai đoạn giảm lạm phát (3 tháng cuối năm 2008)…………………………. 24 2.1.6.3 Lạm phát năm 2009………………………………………………………………….. 24 2.1.6.4 Năm 2010……………………………………………………………………………….. 25 2.2 Tác động của lạm phát đến các biến số vĩ mô…………………………………….. 26 2.2.1 Tăng trưởng kinh tế …………………………………………………………………….. 26 2.2.2 Tỉ lệ thất nghiệp………………………………………………………………………….. 29 2.3 Các chính sách của nhà nước trong giai đoạn hiện nay ………………………… 31 2.3.1 Năm 2007………………………………………………………………………………….. 31 2.3.2 Năm 2008………………………………………………………………………………….. 33 2.3.3 Năm 2009………………………………………………………………………………….. 40 Phần 3. Giải pháp kiềm chế lạm phát 3.1 Những biện pháp cấp bách ……………………………………………………………… 43 3.1.1 Biện pháp về chính sách tài khóa…………………………………………………… 43 3.1.2 Biện pháp thắt chặt tiền tệ ……………………………………………………………. 43 3.1.3 Biện pháp kiềm chế giá cả ……………………………………………………………. 44 3.1.4 Biện pháp đóng băng lương và giá để kiềm chế giá ………………………….. 44 3.1.5 Biện pháp cải cách tiền tệ…………………………………………………………….. 44 3.2 Những biện pháp chiến lược……………………………………………………………. 44 3.2.1 Xây dựng và thực hiên chiến lược phát triển kinh tế phù hợp …………….. 44 3.2.2 Thực hiê ̣n chiến lược thi ̣trường ca ̣nh tranh hoàn toàn ………………………. 45 3.2.3 Dùng lạm phát để chống lạm phát………………………………………………….. 45 Tài liệu tham khảo………………………………………………………………………….. 46

7. 7 Phần 1. Cơ sở lý luận 1.1 Khái niệm về lạm phát Ban đầu chưa có một đi ̣nh nghĩa thống nhất về la ̣m phát, vì vậy đã có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế học như:  Theo Karl-Marx : “La ̣m phát là sự phát hành tiền mă ̣t quá mứ c cần thiết.”  V.LLenine: “La ̣m phát là sự thừ a ứ tiền giấy trong lưu thông.”  Miltan Friedman: “La ̣m phát bao giờ ở đâu bao giờ cũng là một hiện tượng cử a tiền tê ̣.”  R.Dornbusch và Fisher: “La ̣m phát là tình tra ̣ng mứ c giá chung của nền kinh tế tăng lên.” Các khái niệm trên đều dựa trên đă ̣c trưng :  Lượng tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá.  Mứ c giá cả chung tăng lên. Vâ ̣y la ̣m phát: “Là một pha ̣m trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độlưu thông tiền giấy. Là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bi ̣mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt”. 1.2 Phân loại lạm phát 1.2.1 Phân loại theo mức độ của tỷ lệ lạm phát hay dựa theo định lượng  Lạm phát vừa phải: Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng châ ̣m ở dưới mứ c một con số hằng năm (dưới 10% một năm). Hiện ở phần lớn các nước TBCN phát triển đang có lạm phát vừa phải.  Lạm phát phi mã: Lạm phát phi mã xảy ra khi giả cả bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số như 20%, 100% hoặc 200%… một năm.  Siêu lạm phát: Xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng gấp nhiều lần ở mức 3 con số hằng năm trở lên. Ví dụ: Lạm phát ở Zimbabwe

8. 8 Zimbabwe Inflation rate Year Inflation rate 2003 400% 2004 450% 2005 700% 2006 900% 2007 7892% 2008 200000% 1.2.2 Căn cứ vào định tính Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:  Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nền kinh tế nói chung.  Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra. Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường:  Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Loại lạm phát này có thể dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo. Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống, đến kinh tế.  Lạm phát bất thường: Xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện. Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút . 1.2.3 Thiểu phát

9. 9 Thiểu phát: Trong kinh tế học là lạm phát ở tỉ lệ rất thấp, đây là một vấn nạn trong quản lý kinh tế vĩ mô. Ở việt nam, nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát với giảm phát (sự suy giảm liên tục của mức giá chung của các hàng hóa và dịch vụ hay sự gia tăng sức mua trong nước của đồng nội tệ). Không có tiêu chí chính xác tỉ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm trở xuống thì được coi là thiểu phát. Một số tài liệu kinh tế học cho rằng tỉ lệ lạm phát ở mức 3- 4 phần trăm một năm trở xuống được coi là thiểu phát. Tuy nhiên, ở những nước mà cơ quan quản lý tiền tệ (ngân hàng trung ương) rất không ưa lạm phát như Đức và Nhật Bản thì tỉ lệ lạm phát 3- 4 phần trăm một năm được coi là trung bình, chứ chưa phải thấp đến mức được coi là thiểu phát. Ở Việt Nam thời kỳ 2002- 2003, tỉ lệ lạm phát ở mức 3- 4 phần trăm một năm, nhưng nhiều nhà kinh tế học Việt Nam cho rằng đây là thiểu phát. 1.3 Đo lường lạm phát Tỷ lệ lạm phát: được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung. Trong đó:  t : tỷ lệ lạm phát thời kỳ t  Pt: mức giá của thời kỳ t  Pt-1: mức giá của thời kì trước đó Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất tỉ lệ lạm phát, vì giá trị của nó biểu hiện qua các chỉ số phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm: 1.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI-Consumer Price Index ): là chỉ số đo lường thông dụng nhất, cơ bản nhất, đo giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa hay được mua bởi “người tiêu dùng thông thường”. x100% 1-Pt 1-Pt-Pt t

10. 10 Chú ý: Trong khi tính toán thì phải chọn 1 số nhóm hàng tiêu dùng mang tính chất đại diện từ đó khảo sát biến động giá. Trong đó:  CPIt: Chỉ số giá tiêu dùng của năm t  Pi t và Pi 0 là mức giá của sản phẩm i trong năm t và năm 0  Qi 0 là sản lượng sản phẩm i trong năm 0  Năm 0 là năm gốc Ví dụ: Ngân sách cho:  60% thực phẩm;  20% cho y tế;  20% cho giáo dục  Giá thực phẩm tăng 8%,  Y tế tăng 7%,  Giáo dục tăng 5% CPI năm: (108×0,6) + (107×0,2) + (105×0,2) = 107 (tỉ lệ lạm phát là 7%) 1.3.2 Chỉ số giảm phát theo GDP (Id): phản ánh sự thay đổi của mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở năm hiện hành (năm t) so với năm gốc. Id của năm t được tính theo công thức: Trong đó:  GDPdn: GDP danh nghĩa năm t  GDPt: GDP thực năm t  Qi t : khối lượng sản phẩm i được sản xuất ở năm t  Pi t : đơn giá sản phẩm loại i ở năm t  Pi o : đơn giá sản phẩm i ở năm gốc 100*0      qipi qipi CPI o ot t  100* GDPt GDPdn Id 100*     to tt qipi qipi

11. 11 So sánh CPI và Id ta thấy có 3 điểm khác nhau:  Thứ nhất, Id phản ánh mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế; còn CPI phản ánh giá của những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua.  Thứ hai, Id phản ánh giá của những hàng hóa sản xuất trong nước, do đó khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng lên, chỉ phản ánh trong CPI, không được tính trong Id.  Thứ ba, CPI được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hóa cố định, trong khi Id được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hóa thay đổi theo thời gian. Cả hai đều có nhược điểm là CPI có xu hướng đánh giá quá cao sự tăng giá sinh hoạt trong khi Id lại có xu hướng đánh giá quá thấp sự tăng giá sinh hoạt. 1.3.3 Chỉ số giá sản xuất (PPI- Production Price Index): đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. 1.3.4 Chỉ số giá sinh hoạt (CLI- Cost of Living Index): là sự tăng trên lý thuyết trong giá cả sinh hoạt của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. 1.3.5 Chỉ số giá bán buôn (WPI – Wholesale Price Index) : đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế). Chỉ số này rất giống với PPI. 1.4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát 1.4.1 Lạm phát do cầu kéo (Demand-Pull Inflation) Diễn ra do tổng cầu AD tăng nhanh hơn tiềm năng sản xuất của một quốc gia, sẽ gây ra sự tăng giá cả và lạm phát xảy ra.

12. 12 Hình 1  Sản lượng tăng tới Y1  Giá tăng từ PO tới P1 (từ PO đến P1 là lạm phát- Hình 1) Lạm phát được coi là do sự tồn tại của mức cầu quá cao. AD tăng có thể do:  Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư tự định tăng lên.  Chính phủ tăng chi tiêu.  Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền.  Người nước tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước.  Kết quả đường tổng cầu AD sẽ dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá chung tăng lên. 1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy (Cost- Pull Inflation) Xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng cung, mà nguyên nhân là do chi phí sản xuất của nền kinh tế tăng lên. Đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ ASO sang AS1. Kết quả sản lượng sụt giảm từ YO xuống Y1, mức giá sẽ tăng từ PO lên P1, nền kinh tế vừa suy thoái vừa lạm phát (Hình 2).

13. 13 Hình 2 Các nhân tố làm tăng chi phí:  Chi phí tiền lương : Tiền lương gia tăng do áp lực từ công đoàn, từ chính sách điều chỉnh lương của chính phủ làm tiền lương tăng lên vượt mức tăng năng suất lao động là nguyên nhân đẩy chi phí tăng.  Lợi nhuâ ̣n : Nếu doanh nghiê ̣p có quyền lưc thi ̣trường (độc quyền, nhóm độc quyền) có thể đẩy giá tăng lên để kiếm lợi nhuâ ̣n cao hơn .  Nhâ ̣p khẩu la ̣m phát :Trong nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp phải nhâ ̣p một lượng không nhỏ nguyên nhiên liê ̣u (NVL) từ nước ngoài nếu chi phí NVL tăng do nhiều nguyên nhân không thuộc sự kiểm soát trong nước khi đó doanh nghiê ̣p phải chấp nhân mua NVL với giá cao. Chi phi NVL tăng cao có thể do các nguyên nhân sau:  Tỉ giá hối đoái: Nếu đồng nội tê ̣bi ̣mất giá thì hàng hóa trong nước sẽ rẻ hơn so với ở nước ngoài. Khi đó, xuất khẩu sẽ có lợi hơn nhâ ̣p khẩu vì thế làm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu tăng cao.  Thay đổi giá cả hàng hóa: Khi giá cả hàng hóa thế giới tăng thì các doanh nghiê ̣p trong nước phải đối mă ̣t với chi phí cao hơn nếu sử dụng hàng hóa này làm NVL để sản xuất kinh doanh .

14. 14  Những cú sốc từ bên ngoài: Các cuộc khủng hoảng về nguyên liệu, vâ ̣t liê ̣u chính như dầu mỏ, sắt thép ,than đá,…làm chi phí sản xuất tăng.  Sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên cũng đẩy giá cả tăng khi bi ̣khai thác ca ̣n kiê ̣t. 1.4.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ (Monetary- Theory Inflation) Những nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát là do lượng cung tiền thừa quá nhiều trong lưu thông gây ra và được giải thích bằng phương trình sau: M*V=P*Y Trong đó:  M: lượng cung tiền danh nghĩa  V: tốc độ lưu thông tiền tệ  P: chỉ số giá  Y: sản lượng thực Với giả thiết V và Y không đổi nên chỉ số giá phụ thuộc vào lượng cung tiền danh nghĩa, khi cung tiền tăng thì mức giá cũng tăng theo cùng tỉ lệ, lạm phát xảy ra. Thuyết này chỉ đúng khi V và Y không đổi. 1.5 Tác động của lạm phát. Lạm phát có sự ảnh hưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội tùy theo mứ c độcủa nó. Tác động tích cực : Khi la ̣m phát ở mứ c độvừ a phải có tác dụng thúc đẩy kinh tế. Lạm phát ở mức này thường được chính phủ duy trì như một chất xúc tác cho nền kinh tế. Tác động tiêu cưc :  Phân phối la ̣i thu nhâ ̣p và của cải: Khi la ̣m phát xảy ra những người có tài sản ,vay nợlà có lợi vì giá của tài sản nói chung tăng lên còn giá tri ̣đồng tiền bị giảm xuống. Ngược la ̣i những người làm công ăn lương, cho vay, gử i tiền bị thiệt hại.

15. 15  Tác động đến kinh tế và viê ̣c làm: Lạm phát ở mức cao làm nền kinh tế bị bất ổn, hàng hóa chở nên đắt đỏ dãn đến tình trạng đầu cơ tích trữ tăng tỉ giá hối đoái, hoạt động tín dụng rơi vào khủng hoảng nguồn tiền gử i sụt giảm nhanh chóng. Ngoài ra lạm phát còn tác động đến tỉ lệ thất nghiệp: khi la ̣m phát tăng thì thất nghiê ̣p giảm xuống và ngược la ̣i.

16. 16 Phần 2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 2.1 Lạm phát Việt Nam qua các giai đoạn. 2.1.1 Giai đoạn đất nước việt nam đang bị thực dân và đế quốc đô hộ.  Thời kì 1938- 1945: Ngân hàng đông dương cấu kết với chính quyền thực dân pháp đã lạm phát đồng tiền đông dương để vơ vét của cải nhân dân Việt Nam đem về pháp đóng góp cho cuộc chiến tranh chống phát xít Đức và sau đó để nuôi mấy chục vạn quân nhận bán đông dương làm chiếc cầu an toàn đánh Đông Nam Á. Hậu quả nặng nề của lạm phát nhân dân Việt Nam phải gánh chịu giá sinh hoạt từ 1939- 1945 bình quân 25 lần.  Thời kì 1946- 1954: chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã phát hành đồng tài chính thay đồng đông dương và sau đó là đồng ngân hàng để huy động sức người, sức của toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm đánh đuổi quân xâm lược Pháp, kết quả giải phóng hoàn toàn nửa đất nước.  Thời kì 1955- 1965: chính phủ tay sai Mỹ kế tiếp nhau ở miền nam Việt Nam liên tục lạm phát đồng tiền miền nam để bù dắp lại cuộc chiến tranh chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở miền nam. Mặc dù được chính phủ Mỹ đổ vào Việt Nam một khối lượng hàng viện trợ khổng lồ, giá trị hàng trăm tỷ USD cũng không thể bù đắp lại chi phí.  Thời kì 1965- 1975: ở miền bắc Việt Nam, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh phá hoại của Mỹ tai miền bắc, giải phõng miền nam thống nhất đất nước đã phát hành số tiền (gấp 3 lần tiền lưu thông của năm 1965 ở miên bắc) để huy động lực lượng toàn dân, đánh thắng quân xâm lược Mỹ và tay sai ở cả hai miền, nhưng nhờ có sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) anh em đã hạn chế được lạm phát trong thời kì này. 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1976-1980

17. 17 Là giai đoạn được coi là không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến trong các nước XHCN đương thời và không được phản ánh trong các thống kê chính thức.Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam khi đó vẫn có lạm phát, thể hiện ở sự khan hiếm hàng hoá, dịch vụ và sự giảm sút của chúng, đồng thời được ghi nhận trong sự diễn biến gia tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên thị trường xã hội trên dưới 20% trên một năm và đó là lạm phát của nền kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế, nơi độc quyền nhà nước còn mang đậm tính chất phi kinh tế và được dung dưỡng bởi các chỉ thị của nhà nước và tồn tại thống trị phổ biến trong tất cả các lĩnh vực. Vào thời kỳ này khu vực kinh tế Nhà Nước chiếm khoảng 85 – 87% vốn cố định, 95% lao động lành nghề mà chỉ tạo ra 30 – 37% tổng sản phẩm xã hội. Trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân chỉ chiếm 13,2% sức lao động xã hội và suốt thời kỳ dài trước năm 1986 bị nhiều sức ép kiềm chế , xong lại sản xuất ra tới 32 – 43% tổng sản phẩm xã hội và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã. Mặt khác lạm phát ở Việt Nam diễn ra trong suốt nền kinh tế đóng cửa phụ thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài.Trên thực tế, trước năm 1988 không có đầu tư trực tiếp của nước ngoàI vào Việt Nam. Các biên giới đều bị khép lại với chế độ xuất nhập cảnh cũng như lưu thông hàng hoá rất nghiêm ngặt, phiền phức. Cơ cấu chủ yếu có tính hướng nội, khép kín, thay thế hàng nhập khẩu và không khuyết khích xuất khẩu. Cùng với chính sách định hướng phát triển và đầu tư có nhiều bất cập, nên cơ cấu kinh tế Việt Nam bị mất cân đối và không hợp lý nghiêm trọng giữa công nghiệp – nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ, nhất là ngành sản xuất hàng tiêu dùng, giữa sản xuất – dịch vụ. Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân sách chiền miên, tăng mức cung tiền không tuân theo quy luật lưu thông tiền tệ …và do đó gây ra lạm phát . 2.1.3 Giai đoạn 1981- 1988 Thời kỳ từ năm 1981 đến năm 1988: là thời kỳ lạm phát chuyển từ dạng “ẩn” sang dạng “mở”. Thực tế cho thấy rằng từ năm 1981 đến năm 1988 chỉ số tăng giá

18. 18 đều trên 100% một năm. Vào năm 1983 và 1984 đã giảm xuống, nhưng năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất là 557% sau đó có giảm. Như vậy, mức lạm phát cao và không ổn định. Song vấn đề lạm phát chưa được thừa nhận trong các văn kiện chính thức. Vấn đề này chỉ được quy vào sử lý các khía cạnh “giá – lương- tiền”, mà lại chủ yếu bằng các giải pháp hành chính, như xem xét và đIều chỉnh đơn giản giá cả trong khu vực thị trường có tổ chức những năm 1981,1983,1987, và “bù vào giá lương” năm 1985…Đây là thời kì xuất hiện siêu lạm phát với 3 chữ số kéo dài suốt 3 năm 1986-1988, và đạt đỉnh cao nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại nước ta suốt nửa thế kỉ nay. 2.1.4 Giai đoạn 1988-1995 Liên tục từ năm 1988, mọi nỗ lực của chính phủ được tập trung vào kiềm chế, đẩy lùi lạm phát từ mức 3 chữ số xuống còn 1 chữ số. Đây là kết quả của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Trong khi lạm phát được kéo xuống thì kinh tế vẫn tăng trưởng cao và khá ổn định, bình quân hàng năm tăng 7- 8%. Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (tỷ lệ %) Năm 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 Tăng trưởng 5.1 8.0 5.1 6.0 8.6 8.1 8.8 9.5 Lạm phát 410.9 34.8 67.2 67.4 17.2 5.2 14.4 12.7 2.1.5 Giai đoạn 1995-2005 Số liệu của Tổng cục Thống kê về chỉ số giá tiêu dùng các năm từ 1996 đến năm 2005, nhìn trên đồ thị giống như như đường cong có đáy là năm 2000 và 2 đỉnh lần lượt là 1996 và 2005.

19. 19 Hình 3: Lạm phát giai đoạn 1995-2007, tính theo chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 mỗi năm so với tháng 12 năm trước. (Nguồn: Tổng cục Thống kê) Trong giai đọan 1996 đến 2005, giá tiêu dùng chung đã tăng 51%. Như vậy, sau 10 năm giá tiêu dùng tăng 51% thấp hơn tốc độ tăng của thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình; theo số liệu Tổng cục Thống kê thu nhập bình quân đầu người năm 2004 (484,4 nghìn đồng) tăng 64,2% so với năm 1999 (295,0 nghìn đồng). Điều đó chứng tỏ đời sống của người dân được cải thiện. Bảng 2: Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam từ 1995 đến 2005 ( Nguồn: Tổng cục Thống kê) 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 96- 05 Chỉ số giá tiêu dùng 1,127 1,045 1,036 1,092 1,001 0,994 1,008 1,04 1,03 1,095 1,084 1,51 Lương thực 1,206 1,002 1,004 1,231 0,921 0,921 1,060 1,026 1,029 1,143 1,078 1,45 Thực phẩm 1,193 1,163 1,021 1,086 1,005 0,993 1,002 1,079 1,029 1,171 1,12 1,88 Đồ uống và thuốc lá 1,193 1,160 1,021 1,053 1,026 1,003 1,011 1,036 1,035 1,036 1,049 1,51

20. 20 May mặc,giày dép, mũ nón 1,078 1,032 1,032 1,023 1,019 1,004 1,008 1,011 1,034 1,041 1,05 1,28 Nhà ở và Vật liệu xây dựng 1,167 0,963 1,028 1,017 1,025 1,047 1,008 1,071 1,041 1,074 1,098 1,43 Thiết bị và đồ dùng gia đình 1,053 1,012 1,042 1,025 1,035 1,023 1,009 1,008 1,019 1,036 1,048 1,29 Dược phẩm, y tế 1,011 0,998 1,016 1,087 1,041 1,036 0,998 1,005 1,209 1,091 1,049 1,65 Phương tiện đi lại, bưu điện 1,05 1,032 1,08 1,03 1,016 1,019 0,953 1,017 0,98 1,059 1,091 1,30 Giáo dục 1,117 0,993 1,027 1,096 1,038 1,041 1,036 1,012 1,049 0,982 1,05 1,37 Văn hóa, thể, giải trí 1,117 0,993 1,027 1,013 1,019 1,009 1,002 0,99 0,987 1,022 1,027 1,09 Hàng hóa và dịch vụ khác 1,098 1,085 1,087 1,04 1,031 1,041 1,014 1,02 1,043 1,052 1,06 1,58 Chỉ số giá vàng 0,976 1,025 0,934 1,007 0,998 0,983 1,050 1,194 1,266 1,117 1,113 1,87 Chỉ số giá đô la Mỹ 0,994 1,012 1,142 1,096 1,011 1,034 1,038 1,021 1,202 1,004 1,009 1,71 Phân tích biến động giá cả theo 10 nhóm hàng xếp theo thứ tự nhóm có tốc độ tăng giá cao nhất đến thấp nhất như sau:  Nhóm thực phẩm tăng 88%,  Nhóm dược phẩm và dịch vụ y tế tăng 65%,  Đồ uống và thuốc lá tăng 51%,  Lương thực tăng 45%,  Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 43%,  Giáo dục tăng 37%,

21. 21  Phương tiện đi lại, bưu điện tăng 30%,  Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 29%,  May mặc, giày dép, mũ nón tăng 28%,  Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 58% Ta nhận thấy trong 10 nhóm hàng trên, nhóm hàng thực phẩm và nhóm hàng dược phẩm và dịch vụ y tế có tốc độ tăng cao nhất. Điều này có nghĩa là đời sống của nhóm người nghèo mà thu nhập của họ chủ yếu dùng mua thực phẩm không được cải thiện bao nhiêu. Và bắt đầu từ năm 2001, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu dựa vào các ngành thâm dụng lao động đó là công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp với kim ngạch xuất khẩu tăng với tỷ lệ cao, cùng với nó là chỉ số gía tiêu dùng cũng có tăng cao. Bảng 3: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 1995-2005 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Hàng công nghiệp nặng và khóang sản (%) 25,3 28,7 28,0 27,9 31,0 37,2 34,9 31,8 32,2 36,4 33,8 Hàng công nghiệp nhẹ và TTCN (%) 28,5 28,9 36,7 36,6 36,3 33.8 35,7 40,6 42,7 41,0 40,3 Bảng 4: Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 1995-2005 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tư liệu sản xuất chiếm (%) 84,8 89,9 91,5 93,6 94,7 93,8 92,1 92,1 92,2 93,3 94,3 Xét yếu tố giá hàng nhập khẩu ảnh hưởng đến tình hình lạm phát, ta thấy các năm 1998, 1999, 2001, 2002 giá hàng nhập khẩu giảm trùng với tình hình giảm lạm phát các năm 1999, 2000. Các năm sau giá nhập khẩu tăng lên thì chỉ số giá tiêu dùng cũng tăng tương ứng.

22. 22 Như vậy, mối tương quan giữa chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng là khá chắc chắn. Trong giai đọan 1996 đến 2005, chỉ số giá nhập khẩu tăng 18,8%; trong khi đó chỉ số giá tiêu dùng tăng 51%. Như vậy, chỉ số giá tiêu dùng tăng, ngòai yếu tố do giá hàng nhập khẩu, còn do xuất khẩu, do cung tiền và các yếu tố khác… Bảng 5: Chỉ số giá hàng nhập khẩu từ 1995 đến 2005 ( Nguồn: Tổng cục Thống kê) 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 96- 05 Chỉ số chung 1,073 1,048 1,035 0,98 0,901 1,034 0,983 0,999 1,034 1,096 1,078 1,18 Hàng tiêu dùng nhập khẩu 1,065 1,025 1,031 0,973 0,953 0,965 0,976 0,978 1,011 1,008 1,022 0,94 Tư liệu sản xuất nhập khẩu 1,075 1,054 1,036 0,982 0,901 1,049 0,984 1,002 1,038 1,126 1,095 1,27 2.1.6 Giai đoạn 2006 đến nay 2.1.6.1 Giai đoạn lạm phát tăng nhanh Dấu hiệu lạm phát đã xuất hiện từ tháng 6 năm 2007 khi CPI tháng 6 tăng vọt lên 1%, trái hẳn với thông lệ giá cả hơn một thập kỉ qua. Tín hiệu này đã được ghi nhận và xử lý kịp thời. Tuy nhiên do không phân tích đúng nguyên nhân của lạm phát, thêm vào đó việc triển khai thực hiện không nghiêm túc nên mặc dù tăng trưởng kinh tế cả năm 2007 ở mức cao trên 8.5%, song lạm phát cũng ở mức kỷ lục 12.63%. Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%; Thái Lan: 3,21%; Khu vực đồng Euro: 3,07%; Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn. Nửa đầu năm 2008, lạm phát liên tục leo thang và vượt qua mọi qui luật đã hình thành hàng chục năm nay, buộc Việt Nam phải điều chỉnh chính sách từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang kiềm chế lạm phát.

23. 23 Một câu hỏi đặt ra là cùng một bối cảnh thế giới như nhau, tại sao các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia lại có mức lạm phát thấp hơn so với lạm phát của Việt Nam? Cụ thể: Hình 4. Bức tranh lạm phát của một số nước châu Á (Tính đến tháng 6/2008) Chỉ sau 6 tháng, Tổng cục thống kê công bố công bố chỉ số CPI đã lên tới 26.8% so với tháng 6 năm 2007 và 18.44% so với cuối năm 2007. Riêng nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng tương ứng tới 74.3%. Điều này đã phá vỡ mọi dự tính của chúng ta về kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Càng nghiêm trọng hơn khi Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 60% dân số và lực lượng lao động là nông dân. Sự phụ thuộc của nền kinh tế nói chung và của giá cả thị trường nói riêng vào những biến động trong khu vực sản xuất lương thực, thực phẩm của nước ta còn rất lớn, mặc dù tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP giảm xuống chỉ còn 20%. Thông thường những tháng gần tết giá cả tăng nhanh. Nhưng năm 2008 đặc biệt hơn vì qua tết Mậu tý mà giá cả vẫn ở mức cao trái ngược với qui luật vận động của giá cả trong thời gian gần đây. Sau hơn 1 thập kỉ từ năm 1992, “bóng ma” lạm phát dường như đang quay trở lại và đe dọa những thành quả kinh tế xã hội mà nước ta đạt được. 0% 2% 4% 6% 8% 10% 12% 14% 16% 18% 4.80% 5% 7.50% 7.70% 8.70% 8.96% 11.40% 12.75% 17.18%

24. 24 Trong những tháng đầu năm vật giá leo thang từng tháng. Giá cả tăng liên tục đã đẩy mức lạm phát tháng sau cao hơn tháng trước. So với tháng 12 (2007), CPI tháng 1 (2008) tăng 2.4%, sang tháng 2 tăng vọt lên 6%, tháng 3 là 9.2%. Đến tháng 4 chỉ số CPI đã lên tới 2 con số (11.6%) và tháng 5 lại tăng đột ngột tới 16%. Đỉnh điểm lạm phát đã đến mức 3.91% vào tháng 5 (2008), trùng với thời điểm giá gạo trên thị trường quốc tế ở mức 1000 USD/ tấn, khủng hoảng lương thực đã trở thành mối đe dọa toàn cầu. Ngay cả ở một cường quốc xuất khẩu gạo như Việt Nam mà tin đồn thiếu gạo đã làm rất nhiều người dân hoang mang, lo lắng sẽ quay về nạn đói khủng khiếp năm 1945. Còn các cơ quan chức năng nhà nước do dự báo sai lệch nên yêu cầu các doanh nghiệp ngừng xuất khẩu mặc dù giá lúa gạo đang rất cao, làm thiệt hại lớn cho người dân. GDP nửa đầu năm chỉ tăng 6.5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ một số năm gần đây. Xuất hiện những cơn “sốt ảo” USD, vàng, gạo, thép, vật liệu xây dựng,…Thâm hụt thương mại tăng vọt (gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu). Thị trường chứng khoán thiết lập đáy mới chỉ bằng khoảng ¼ đỉnh cao nhất là 1173 điểm, đánh mất toàn bộ điểm tích lũy được 3 năm qua. Giá vàng có thời điểm lên đến xấp xỉ 20 triệu VND/ lượng, tỷ giá hối đoái trên thị trường đã từng vượt mốc 19000 VND/ USD…. Nền kinh tế Việt Nam cuối tháng 5 đầu tháng 6 mấp mé bờ vực khủng hoảng với những “bong bóng” khổng lồ chực chờ nổ tung trên thị trường tài chính tiền tệ, thị trường tín dụng ngân hàng, thị trường bất động sản. Các tháng 6,7,8 chỉ số CPI đã lên cao chóng mặt lần lượt là 18.4%, 19.8% và 21.7%. Chỉ sau 3 quý đầu năm, CPI đã vượt mức 20%, đạt được mức kỷ lục từ 17 năm qua. Hình 5. Chỉ số giá tiêu dùng trong 10 tháng đầu năm 2008 (Nguồn: www.tuoitre.com.vn)

25. 25 Điều đó cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ mất giá của đồng tiền: sau 3 năm (tính đến tháng 9/ 2008) đồng tiền đã mất giá 48.5% so với kỳ gốc 2005. 2.1.6.2 Giai đoạn giảm lạm phát (3 tháng cuối năm 2008) Sang tháng 10,11,12 liên tiếp 3 tháng giá nhiều loại hàng hóa đã chựng lại và giảm xuống. CPI cũng giảm, tốc độ tăng trưởng kinh tế tháng âm: -0.19 (tháng 10), -0.76 (tháng 11), -0.66 (tháng 12). Tỷ lệ lạm phát từ 20.05% vào thời điểm tháng 9 chỉ còn 19.86% so với tháng 12 (2007), làm dịu cơn lạm phát của Việt Nam. Nguyên nhân là do những tháng đầu năm giá mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng nhanh; hàng phi lương thực thực phẩm mặc dù chậm nhưng vẫn tăng giá. Đến cuối năm hàng lương thực – thực phẩm dường như không tăng nữa và đồ thị là một đường nằm ngang. Trong khi đó giá hàng hóa phi lương thực – thực phẩm giảm nhanh nên tốc độ tăng giá chung giảm xuống. Bên cạnh đó là nhờ những biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ đã phát huy tác dụng chẳng hạn như Nghị quyết số 10/2008/ NQ- CP ngày 17/4/2008 về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững với 8 nhóm giải pháp….. Cúng ta đã chủ trương đúng khi giảm tốc độ tăng trưởng và tập trung vào chống lạm phát. Thành công nhờ hệ thống chống lạm phát bảo đảm tính trọn gói, sát với nguyên nhân. Đặc biệt chúng ta có sức mạnh khi tập hợp, huy động cả hệ thống chính trị, cả dân tộc và các doanh nghiệp tham gia chống lạm phát. 2.1.6.3 Lạm phát năm 2009

26. 26 Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12- 2009 tăng 1,38% so với tháng trước. Như vậy, CPI của cả năm 2009 dừng ở mức 6,88%, đúng mục tiêu của Chính phủ đề ra là kiểm soát lạm phát dưới hai con số. Tăng giá mạnh nhất là nhóm giao thông: 2,47%, tiếp theo là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: 2,06%. Trong nhóm này, riêng mặt hàng thực phẩm tăng đột biến: 6,88%. Đứng thứ 3 là nhóm nhà ở – vật liệu xây dựng, tăng 1,40%. Các nhóm hàng hóa còn lại đều tăng 1% hoặc thấp hơn. Tăng giá ít nhất là nhóm thiết bị đồ dùng gia đình: 0,25%. Chỉ số giá USD và vàng biến động mạnh. Giá vàng chỉ tăng thêm 0,49% trong tháng 12 nhưng cả năm 2009 đã tăng đến 9,16%. Chỉ số giá USD tháng 12 tăng 3,19% khiến mức tăng cả năm lên đến 9,17%. 2.1.6.4 Năm 2010 Tháng 11 chỉ số giá tiêu dùng CPI tại chúng tôi là 1,73% còn tại Hà Nội là 1,93%, ước tính cả nước vào khoảng 1,86%. Như vậy chỉ số CPI 11 tháng đã lên đến 9,4% và dự tính cả năm CPI sẽ ở mức hai con số. Tổng cục Thống kê cho biết, nguyên nhân chính đẩy chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 tăng là do chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng mạnh tới 3,45% so với tháng trước. Bên cạnh đó, giá lương thực cũng tăng tới 6,02%; thực phẩm tăng 3,27%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,19%. Một số mặt hàng khác như thép, xi măng, gas tăng giá nên đưa chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,74%. Nhóm hàng hóa dịch vụ khác tăng 0,99%. CPI nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,9% là do tháng này vẫn nằm trong giai đoạn chuyển mùa, nhu cầu các sản phẩm thời trang tăng hơn. Trong khi nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 0,94% . Chỉ số giá vàng tháng 11 tăng 8,67%, USD tăng 3% so với tháng trước. Trong năm 2010, giá tăng do nhiều nguyên nhân do chi phí giáo dục tăng, giá lương thực thế giới tăng kéo giá lương thực trong nước tăng 16%. Ngoài ra giá xăng dầu thế giới tăng cũng làm nhóm chi phí giao thông vận chuyển tăng.

27. 27 Nền kinh tế Việt Nam hiện có độ mở cửa rất lớn, lên đến 140- 150%. Độ mở cửa nền kinh tế được đánh giá thông qua hoạt động xuất nhập khẩu trên tổng sản phẩm quốc nội. Kim ngạch xuất khẩu việt nam những năm gần đây khoảng 130- 140 tỉ USD, trong khi GDP chỉ trên 100 tỉ USD. Với độ mở cửa lớn như vậy, yếu tố giá trong nước phụ thuộc rất nhiều vào giá hàng hóa trên thế giới. Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi, giá nguyên vật liệu tăng làm giá trong nước tăng theo: giá dầu thô năm 2009 là 60USD/thùng, năm 2010 tren 80USD/thùng. Nhìn chung giá tăng là do chi phí chứ không phải tiền được bơm ra quá nhiều, thực tế ngân hàng nhà nước đã và đang thực hiện chính sách thát chặt tiền tệ đề chống lạm phát và bảo vệ sức mua của VND. 2.2 Tác đông củ a la ̣m đến các biến số vĩ mô 2.2.1 Tăngtrưở ng kinh tế Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam cũng phù hợp với lý thuyết và kết quả kiểm nghiệm trên thế giới. Ở mức lạm phát thấp (thường là một chữ số) thì lạm phát không có tác động tiêu cực lên tăng trưởng. Ở mức lạm phát thấp, gia tăng lạm phát thường gắn liền với tăng trưởng cao hơn (giai đoạn 1992-2007). Tuy nhiên, khi lạm phát đạt đến một ngưỡng cao nhất định, thì lạm phát bắt đầu tác động tiêu cực lên tăng trưởng. Theo quan điểm của ông Lê Đức Thuý, nguyên Thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) khi phát biểu quan điểm này trước Quốc hội: “Tôi cho rằng một nền kinh tế phát triển bền vững thì lạm phát ở mức thấp hơn tăng trưởng 1-2%. Chẳng hạn GDP năm 2006 là 8% thì lạm phát là 6-7%”. Theo PGS., TS. Nguyễn Ái Đoàn, quan điểm này không có cơ sở lý thuyết rõ ràng, không được khẳng định về mặt lý thuyết, đó là cách phát biểu mang tính ứng dụng trong những điều kiện nhất định; trên thực tế, luận điểm này đã trở thành nền tảng cho việc thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài ở Việt Nam và hệ quả tất yếu là lạm phát ở mức báo động; theo đó, quan điểm về một tỉ lệ lạm phát tốt nhất là tỉ lệ lạm phát nhỏ hơn tốc độ tăng trưởng, thực chất chỉ là một cách phát biểu sai lệch, pha trộn giữa một mức lạm phát mong muốn 1-3% và một mức lạm phát vừa phải còn kiểm soát

28. 28 được, tức là lạm phát dưới hai chữ số đã biến thành mức lạm phát tốt nhất (2); tương đồng với phân tích trên của PGS., TS. Đoàn, Ông Nguyễn Văn Phúc, Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, cũng cho rằng: không có cơ sở khoa học, không có lý thuyết nào đề cập, không có nghiên cứu kiểm nghiệm; ngưỡng tác động tiêu cực của lạm phát không phải là bằng tốc độ tăng GDP. Quan điểm về lạm phát theo ông Lê Đức Thuý “Ngay ở nước ta, trong điều kiện bình thường, không ít nhà khoa học đã đề nghị tôi đẩy lạm phát lên cao hơn để thúc đẩy tăng trưởng. Thậm chí họ cho rằng, nếu Việt Nam muốn tăng trưởng cao thì lạm phát hai chữ số là bình thường. Nhưng với tôi, chừng nào còn được giao nhiệm vụ này, sẽ tiếp tục theo đuổi quan điểm giữ cho lạm phát nằm trong tầm kiểm soát, và tốc độ lạm phát tốt nhất là không vượt quá tốc độ tăng trưởng”. Việc muốn tăng cung tiền, chấp nhận lạm phát là hệ quả trực tiếp của quan điểm về lạm phát như: lạm phát, tăng cung tiền là tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế; có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng, chấp nhận lạm phát để tăng trưởng; hai quan điểm này tuy khác nhau nhưng có tác động bổ sung cho nhau và làm cho các nhà hoạch định chính sách tin rằng lạm phát có lợi hơn là có hại cho nền kinh tế (đặc biệt tỉ lệ lạm phát dưới hai chữ số), lạm phát tăng cung tiền để thêm vốn đầu tư từ ngân sách là giải pháp tốt nhất để đạt mức tăng trưởng nhanh. Cùng quan điểm tăng cung tiền là tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, ý kiến của ông Vũ Ngọc Nhung cho rằng “Lạm phát tạo vốn lớn và cực rẻ cho phát triển kinh tế, vốn phát hành tiền chỉ tốn chi phí in tiền nên cực rẻ”; hoặc “Lạm phát giúp ngân sách vay ngân hàng nhiều hơn để chi cho sản xuất, tăng thu nhập của người dân”. Các nhà kinh tế cho rằng tỉ lệ lạm phát cao, tác động tiêu cực đến sản lượng sản xuất của nền kinh tế thông qua các kênh như đầu tư, tín dụng, tiêu dùng; người cho vay không có động lực để cho vay vì lãi suất cho vay thường âm trong thời kỳ này và cho vay thời hạn càng dài càng bị lỗ, với chi phí huy động vốn cao, đẩy lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp dù thiếu vốn cũng rất e ngại vay vốn vì làm chi phí tăng cao, hệ quả là kênh tín dụng bị thu hẹp; những kết quả thực tế theo công bố của NHNN cho thấy dư nợ tín dụng 10 tháng đầu năm 2008 chỉ tăng hơn 19,6%,

29. 29 thấp hơn mức tăng 37,73% so với cùng kỳ năm 2007; tỉ lệ lạm phát cao làm cho thu nhập hộ gia đình giảm, chỉ số lạm phát đến tháng 10/2008 là 22,14% cũng có nghĩa với việc giảm hơn 22% thu nhập so với cuối năm 2007. Mọi người phải tiết kiệm chi tiêu dẫn đến giảm tiêu dùng; các nhà đầu tư tiềm năng sẽ giảm đầu tư vì độ rủi ro cao và hậu quả là làm giảm sản lượng sản xuất của nền kinh tế. Như vậy, việc sử dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực chất đây là liệu pháp “sốc” với mong muốn tăng trưởng nhanh để đạt được thành tích mong muốn, nhưng hậu quả tiêu cực gây ra cho nền kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống của dân cư, nhất là tầng lớp nghèo, thu nhập thấp bị tác động nhiều nhất. Các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng, đây là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng kém bền vững; hay còn gọi đó là giải pháp tăng trưởng “bong bóng”. Vì vậy, trong thời gian qua, đã có nhiều ý kiến cần thay đổi quan điểm về lạm phát như ông Lê Xuân Nghĩa và ông Vũ Quang Việt để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững. Lạm phát của Việt Nam gia tăng trong mấy năm gần đây, phải chăng cũng có chịu ảnh hưởng bởi sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng? Theo đánh giá của quỹ tiền tệ Thế Giới (IMF)- (2006) về các nguyên nhân làm tăng lạm phát ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2005, có dấu hiệu bởi sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng (những năm trước đó mối quan hệ này là không nhất quán và không rõ nét). Một trong những điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững đó là sự ổn định sức mua của đồng tiền; đây là một trong những nhiệm vụ luôn luôn đặt lên hàng đầu ở tất cả các quốc gia trên thế giới được ghi vào Hiến pháp và Luật Ngân hàng Trung Ương (NHTƯ) của các nước, trong đó Luật NHNN Việt Nam đã ghi rõ: “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế- tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân”.

30. 30 Xu hướng các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó là dựa trên cơ sở giá cả ổn định ở mức thấp. Căn cứ biện luận cho giải pháp này là: Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì tính dự báo được nâng cao. Điều đó giúp các nhà đầu tư có thể xây dựng được các phương án đầu tư hiệu quả. Đối với người tiêu dùng thì chi tiêu yên tâm, họ không phải lo cân nhắc các mặt hàng khác để thay thế do giá tăng. Tất cả điều đó đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thực chất. Hiện nay, các nước phát triển chọn mức lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho tăng trưởng. Tuy nhiên, cũng phải hiểu rằng, lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ kỹ thuật… Đối với Việt Nam mức lạm phát nào là tối ưu cho tăng trưởng kinh tế? Các ngưỡng cùng với các phân tích nêu trên có thể cung cấp một mức chuẩn cho Việt Nam, với một thực tế rằng, các doanh nghiệp Việt Nam và người tiêu dùng không thích một mức lạm phát cao và không ổn định. Mức lạm phát chuẩn của Việt Nam có thể gần với mức lạm phát của các nước Đông Nam Á. Nghiên cứu bước đầu của IMF (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam Á cũng đã chỉ ra rằng, mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam khoảng 3,6%. Một thực tế rằng, các kết quả nghiên cứu về ngưỡng lạm phát tốt cho tăng trưởng đều không đưa ra với mức tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu. Đây là câu hỏi quan trọng cho Việt Nam, bởi vì lạm phát mục tiêu được đưa ra trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế. Qua phân tích số liệu trong hơn 20 năm qua, dường như mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam cũng tuân theo quy luật chung. 2.2.2 Tỉ lệ thất nghiệp  Tỷ lệ Lạm phát của: Năm 2004: 9,5 % Năm 2005: 8,4 % Năm 2006: 6,6 % Năm 2007: 12,63% Năm 2008: 19,89% Năm 2009: 6,52%

33. 33 thực hiện các giải pháp tăng cường quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán và điều hòa cung cầu chứng khoán, tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững; chọn những công ty có uy tín để phát hành cổ phiếu thu hút tiền lưu thông cho sản xuất… Tăng cường công tác quản lý thị trường, chống gian lận thương mại; kiểm tra chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn đã công bố gắn với kiểm tra niêm yết giá, đăng ký giá và bán hàng theo giá niêm yết…  Ngày 31/10, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg về tăng cường thực hiện các giải pháp điều hành giá cả, bình ổn thị trường trong những tháng cuối năm 2007 và phục vụ Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008. Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các hiệp hội ngành hàng tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp điều hành giữ vững các cân đối kinh tế vĩ mô, kiên quyết thực hiện các giải pháp tại Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường. Tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là tiết kiệm trong tiêu dùng (điện, xăng, dầu), tiết kiệm trong chi phí sản xuất kinh doanh và trong xây dựng cơ bản; tiết kiệm trong tổ chức hội nghị, tổng kết cuối năm, gặp mặt đón mừng năm mới. Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện đồng bộ, hài hoà các giải pháp rút tiền từ lưu thông về, cơ cấu lại tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bán ra có kỳ hạn ngắn, mua ngoại tệ ở mức độ thích hợp nhằm tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán ở mức hợp lý, không để tăng giá hoặc mất giá quá mức đồng tiền Việt Nam. Bộ Tài chính tiếp tục triển khai kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2007, 2008 để tham gia hút bớt tiền về, đồng thời phối hợp với Bộ Kế hoạch

34. 34 và Đầu tư, các Bộ, ngành thực hiện các biện pháp đẩy mạnh giải ngân cho các dự án đầu tư của Nhà nước để tăng cường khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế và địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát và quản lý giá các mặt hàng có xu hướng tăng cao như: xăng dầu, bất động sản, thuốc chữa bệnh, sắt thép, gas; chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh việc kiểm soát quản lý giá, không để tình trạng độc quyền doanh nghiệp về giá, định giá bất hợp lý, đầu cơ nâng giá, không thực hiện niêm yết giá; kiên quyết xử lý nghiêm, kịp thời theo quy định những vi phạm về Pháp lệnh Giá. Thủ tướng cũng yêu cầu các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kế hoạch chuẩn bị đủ lượng hàng hóa cần thiết với giá ổn định để phục vụ nhu cầu của nhân dân đón Tết Nguyên đán Mậu Tý vui vẻ, an toàn và tiết kiệm. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo.các cơ quan thông tin đại chúng phối hợp với các Bộ, cơ quan thực hiện tốt công tác tuyên truyền để các doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu rõ và đồng thuận với các biện pháp điều hành thị trường giá cả của Nhà nước, từ đó ngăn ngừa tác động tâm lý đẩy giá lên cao. Nhưng các chính sách kinh tế này có vẻ vẫn chưa giải quyết tận gốc được lạm phát và lạm phát vẫn chưa được kiềm chế và đang diễn biến ở mức cao. 2.3.2 Năm 2008 Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục lạm phát ở mức cao, ngân hàng nhà nước (NHNN ) đã tích cực thực hiện việc rút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế thông qua các công cụ như :  Tăng thêm 1% tỉ lệ dự trữ bắt buộc ( Quyết định số 187/QĐ-NHNN ) ngày 16/1/2008.  Phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc 20.300 tỷ đồng kỳ hạn 1 năm , lãi suất 7,8% /năm ( quyết định số 364/ QĐ – NHNN ) ngày 13/2/2008. Đặc biệt NHNN đã điều hành linh hoạt các mức lãi suất chỉ đạo và đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, có cả kết hợp biện pháp trực tiếp là quy định trần lãi

35. 35 theo công điện số 2 để ổn định nhanh thị trường tiền tệ bị xáo động bởi cuộc chạy đua lãi suất. Và chính phủ đã có một quyết định khá dứt khoát khi ban hành Nghị quyết số 10/2008/ NQ-CP ngày 17/4/2008 về các biện pháp kiềm chế lạm phát , ổn định kinh tế vĩ mô , bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững với 8 nhóm giải pháp :  Thắt chặt tiền tệ  Thắt chặt tài khóa thông qua rà soát cắt giảm đầu tư Nhà Nước  Tăng cung  Giảm nhập siêu  Thúc đẩy tiết kiệm  Tăng cường quản lý thị trường giá cả  Hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội  Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nhằm ổn định tâm lý xã hội và hạn chế kỳ vọng của lạm phát Thắt chặt chính sách tiền tệ: Chính phủ đã chọn chính sách tiền tệ làm trọng tâm cho việc kiềm chế lạm phát, cụ thể như sau :  Trong tháng 5/2008 nhu cầu ảo về USD tăng cao do yếu tố tâm lý và hành vi đầu cơ khiến giá USD/VND trên thị trường tự do tăng đột biến có lúc lên đến 19000VND/USD. NHNN đã chủ động điều hành linh hoạt tỷ giá : biên độ tỷ giá VND/USD được nới lỏng ± 0.5% ± 0.75% ± 1%± 2% ± 3% đồng thời cũng can thiệp mua bán trên thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu ( xăng dầu , thuốc chữa bệnh , phân bón ,…..) ; công bố mức dự trữ ngoại hối 20,7 tỷ USD, can thiệp trên thị trường ngoại hối, ban hành quy chế thu đổi ngoại tệ, giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, cấm thu phí giao dịch, cấm các tổ chức tín dụng (TCTD) không

39. 39 đảm an ninh lương thực và bình ổn giá gạo thế giới. Căn cứ vào khả năng cân đối thực tế và bảo đảm an ninh lương thực trong nước, năm nay nước ta có thể xuất khẩu gạo từ 4 đến 4,5 triệu tấn. Do tác động trực tiếp của một số chính sách hạn chế nhập khẩu như tăng thuế nhập khẩu ô tô, linh kiện ô tô…; kiểm soát chặt nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu nên nhập khẩu đang có xu hướng giảm dần, đặc biệt là nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu (quý I/2008 nhập siêu bằng 62,7% kim ngạch xuất khẩu, quý II bằng 39,2%, riêng tháng 6 bằng 23,6% kim ngạch xuất khẩu). Đẩy mạnh sản xuất và bảo đảm cân đối cung cầu: Việc khắc phục hậu quả thiên tai và dịch bệnh đã được thực hiện tích cực để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện tốt các chính sách khôi phục sản xuất lúa Đông Xuân năm 2007-2008 và chăn nuôi trâu, bò bị thiệt hại do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại. Các Bộ, ngành địa phương đã tích cực tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính đối với việc phát triển sản xuất kinh doanh. Qua việc thực hiện các giải pháp trên, các hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì tốt, giá các mặt hàng trọng yếu trên thị trường về cơ bản được bình ổn, đặc biệt là kịp thời hạ nhiệt giá gạo và xi măng; cơ bản bảo đảm cung – cầu các mặt hàng trên thị trường; góp phần đưa GDP đạt mức tăng trưởng khá trong 6 tháng đầu năm (6,5%) trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn. Cấp hơn 7.300 tỷ đồng thực hiện chính sách an sinh xã hội: Trong thời gian qua, các Bộ, ngành, địa phương đã khẩn trương, tích cực, kịp thời giải quyết tình trạng thiếu đói, hỗ trợ sản xuất, sinh hoạt và đời sống cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, khó khăn; giữ ổn định mức thu học phí, viện phí; tiếp tục cho sinh viên, học sinh đại học, cao đẳng, học nghề có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn để học tập; tăng mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo; bảo đảm cung – cầu những mặt hàng thiết yếu phục vụ

40. 40 nhân dân. Đến nay, ngân sách Trung ương đã cấp hơn 7.300 tỷ đồng để thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Kết quả đạt được trong kiềm chế lạm phát năm 2008: Lạm phát đã có xu hướng giảm dần,ngoại trừ tháng 5 tăng 3,91% do cú sốc giá gạo vào tháng 4 năm 2008. Chỉ số giá CPI vào những tháng cuối năm ở mức thấp, đặc biệt chỉ số GDP âm vào hai tháng 10: – 0.19 % và tháng 11: – 0.76 % Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng được kiểm soát phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát; 10 tháng đầu năm tổng phương tiện thanh toán tăng 9,48% bằng ¼ chu kỳ năm ngoái, tốc độ tăng tín dụng chậm dần ( 10 tháng tăng gần 18% so ới năm 2007 ) từ đó tác động kiềm chế tăng tổng cầu và tiêu dùng. Tỷ giá VND so với USD trên thị trường liên ngân hàng tăng với mức độ hợp lý, vào ngày 28/11/ năm 2008: 16.483 VND/USD, tăng 2,76% so với đầu năm, phù hợp với cung cầu ngoại tệ, yêu cầu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, cùng với cơ chế hỗ trợ vay vốn và mua bán ngoại tệ đối với xuất khẩu cho phép thanh toán bằng ngoại tệ của doanh nghiệp chế xuất, kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ để nhập khẩu và can thiệp bán ngoại tệ tập trung cho nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối và giảm đáng kể nhập siêu. Lãi suất có xu hướng giảm, sau các động thái hạ các mức lãi suất chủ đạo của NHNN, hiện nay lãi suất huy động và cho vay của các TCTD đã giảm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn dễ dàng hơn. Nhập siêu đã có xu hướng cải thiện trong những tháng cuối năm: Mức nhập siêu giảm mạnh từ mức bình quân 2,4 tỷ USD/tháng trong 6 tháng đầu năm 2008 xuống trên trung bình 500 triệu USD/ tháng từ tháng 7 đến cuối năm. Luồng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh: vốn FDI tiếp tục tăng, chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2008, FDI đăng ký đạt 58,3 tỷ USD gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2007, vốn thực hiện đạt gần 9,1 tỷ USD. Đây cũng là một vấn đề có tính hai mặt, nếu năng lực sản xuất trong nước yếu kém, không có khả năng hấp thụ hết lượng vốn thì nó cũng sẽ là một tác nhân gây ra lạm phát.

41. http://bit.ly/KhoTaiLieuAZ

Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua

Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp

Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022

Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả

Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

Giải Pháp Nhàm Hạn Chế Sự Gia Tăng Của Nạn Lạm Phát Ở Việt Nam

Luận Văn Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010

Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010

Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo

Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo Mục Tiêu Của Việt Nam Trong Chặng Đường Phát Triển Mới

Từng Bước Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo

Tình hình lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát ở Việt Nam trong lịch sử đã kéo dài nhiều năm và bùng nổ

thành siêu lạm phát trong năm 1986-1988 với chỉ số tăng giá hàng tháng ở

mức cao phổ biến từ 15-20%. Tuy nhiên cũng chỉ sau khi con bệnh lạm phát

bùng nổ thành siêu lạm phát với những hệ quả cực kỳ tai hại về kinh tế và xã

hội trong những năm nửa sau của thế kỷ 80 thì chính sách chống lạm phát,

kiềm chế và đẩy lùi siêu lạm phát, tiến tới kiểm soát lạm phát mới thành vấn

đề có ý nghĩa chiến lợc quan trọng ở Việt Nam. Tình hình lạm phát trong năm

2007 đang trở thành vấn đề đáng quan tâm. Liệu có thể trong năm 2007 lạm

phát sẽ tăng lên hai con số?

I. Các giai đoạn lạm phát:

Lạm phát ở Viêt Nam đợc chia ra các giai đoạn :

* Giai đoạn 1980 về trớc :

Lạm phát trong giai đoạn này không liên tục do cơ chế kinh tế kinh tế

kế hoạch hoá tập trung gây ra. Sự song hành hai thị trờng: thị trờng nhà nớc và

thị trờng tự do đã gây nên sự không thống nhất giá cả khiến cho trên thực tế

đồng tiền có hai sức mua khác nhau. Trong thời kỳ này, bệnh lạm phát cha đ-

ợc phát hiện, nhà nớc định giá cho hầu hết các sản phẩm và dịch vụ lu thông

trên thị trờng.

* Giai đoạn 1981-1985

Lạm phát thời kỳ này diễn ra trong điều kiện bắt đầu có những cải cách

quan trọng trong nhiều lĩnh vực của cơ chế kinh tế. Lạm phát đã diễn ra trên

quy mô cả nớc. Do cơ chế hai giá nên lạm phát công khai chiếm u thế. Cải

cách 1981-1992 và 1985 không giúp lạm phát giảm mà còn trở thành tác nhân

trực tiếp của lạm phát sau đó.

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

Tình hình lạm phát ở Việt Nam

2. Thực trạng lam phát của nớc ta hiện nay:

Tc lm phỏt 7 thỏng u nm 2007 ó lờn ti 6,19%, nu theo

ny thỡ mc lm phỏt ca c nm 2007 s mc hai con s. ỏnh giỏ mt

nn kinh t cú lnh mnh hay khụng ngi ta da ch yu vo t l gia tc

tng GDP v tc tng giỏ tiờu dựng (CPI). Ch tớnh trong 3 nm gn

õy, khi m th gii ang lờn cn st giỏ, thỡ cho n gi ny t s trờn ca

nc ta vn mc 1:1. iu ú núi lờn rng nn kinh t ca nc ta vn

ang lnh mnh v vn l Chớnh ph Vit Nam quyt bo v s lnh

mnh ú, trc mt l n ht 2007.

Mt khỏc, khi chuyn t nn kinh t k hoch hoỏ tp trung sang nn

kinh t th trng phỏt trin thỡ vic tng giỏ tiờu dựng l khụng trỏnh khi

v s nh giỏ ng tin nc ta cũn mc cao nờn vic mt giỏ ca ng

tin cng l tt yu. iu ú gii thớch, tuy vic neo giỏ khụng phi lỳc no

cng thnh cụng nhng c trong ba nm va qua chỳng ta s dng cụng c

ny m vn t kt qu.

3. Những giải pháp nhằm hạn chế sự gia tăng của nạn

lạm phát ở Việt Nam

Lm phỏt ang cú nguy c tng cao hn tc tng trng, tng cao

hn lói sut tit kim, tỏc ng xu n chi phớ u vo ca sn xut, n

giỏ vt liu xõy dng v thc hin vn u t, n thu nhp thc t v i

sng ca ngi tiờu dựng, nht l nhng ngi cú thu nhp thp,đến vấn đề

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

T×nh h×nh l¹m ph¸t ë ViÖt Nam

gián tiếp đang tích cực giải ngân và khả năng cả năm sẽ vượt 2 tỉ USD, tăng

ít nhất 10% so với năm trước.

Nguồn kiều hối (bao gồm cả lượng tiền của Việt kiều gửi về giúp gia

đình người thân, cả lượng tiền của những người đi xuất khẩu gửi về) tiếp

tục tăng. Chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam tăng do lượng khách

tăng 14,6%. Trong điều kiện USD giảm giá trên thị trường thế giới, nhưng

vẫn tăng nhẹ ở Việt Nam thì lượng USD đổ vào Việt Nam vẫn tiếp tục tăng

mạnh và giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam sẽ vẫn còn “đắt” kép.

Ba, thu ngân sách từ nhập khẩu sẽ bị ảnh hưởng do giảm thuế suất

thuế nhập khẩu. Tác động này cần và có thể được xử lý bằng các biện pháp

khác để bù vào, thậm chí cần phải giảm chi ngân sách trên cơ sở đẩy mạnh

tiết kiệm và chống lãng phí, thất thoát. Tuy nhiên, giảm thuế nhập khẩu là

để giảm giá tiêu dùng, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, nếu không

quản lý tốt sẽ rơi vào các nhà nhập khẩu.

Một giải pháp trực tiếp và cực kỳ quan trọng trong thời gian này là

thu hút tiền từ lưu thông về ngân hàng để giảm áp lực tăng giá. Các biện

pháp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp

đôi, khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán không vượt quá 3% tổng

dư nợ tín dụng muộn, nhưng lại rất mạnh và rất cần thiết, cần tiếp tục thực

hiện và tạo sự đồng thuận.

Cần áp dụng thêm các biện pháp khác như phát hành trái phiếu, nâng

lãi suất huy động vốn. Ngân hàng thương mại cần chấp nhận giảm lãi, thậm

chí tạm thời lỗ vào lúc này (nhưng tính chung cả năm vẫn lãi) để chặn đứng

lạm phát. Đối với những công trình xây dựng có thể cần cân nhắc, nếu thấy

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

Những Biện Pháp Và Hạn Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

Nỗ Lực Khắc Phục Khó Khăn, Khôi Phục Nền Kinh Tế Của Venezuela

Khủng Hoảng Venezuela Cần Phải Giải Quyết Trên Cơ Sở Đối Thoại Hòa Bình

Venezuela Âm Thầm Nới Hạn Chế Thị Trường, Nền Kinh Tế Khởi Sắc

Venezuela : Một Số Nguyên Nhân Dẫn Đến Tình Trạng Siêu Lạm Phát

Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

Khả Thi Với Mục Tiêu Lạm Phát Năm 2022 Khoảng Mức 4%

Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Hạn Chế Lạm Phát Ở Nước Ta Hiện Nay

Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục

Một Số Biện Pháp Để Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Các Lớp Bán Trú

Một Số Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động sôi nổi đầy biến động thì sự cạnh tranh vốn đã gây gắt nay lại càng gay gắt hơn khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu. Để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi chính phủ, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Một trong những vấn đề có ý nghĩa quang trọng đó là lạm phát. Lạm phát làm ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đến hầu hết mọi người. Nét đặc trưng nổi bật của nền kinh tế có lạm phát là giá cả của hầu hết các hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh. Ở Việt Nam, chống lại lạm phát đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và đã có những biện pháp kiềm chế lạm phát thành công trong suốt 12 năm (1995 -2007) ở một chữ số. Tuy nhiên lạm phát đã tăng cao trong giai đoạn năm 2008 đến nay ở mức hai chữ số khoảng hơn 12% và được dự đón là tiếp tục tăng trong thời gian tới. Một khi lạm phát cao xuất hiện thì tổn thất về kinh tế và xã hội là rất lớn. Vậy lạm phát là gì? Thực trạng lạm phát ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Và chúng ta phải làm gì để kiềm chế lạm phát? Xuất phát từ những lý do trên nên em quyết định chọn đề tài “thực trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam” để làm chuyên đề kinh tế năm ba của mình, nhằm phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến sáu tháng đầu năm 2011, để từ đó đề xuất một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm

Phương Pháp Đột Phá Giúp Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm

Phát Triển Năng Lượng Sạch: Nước Lớn Cũng Khó Khăn

Bài Tìm Hiểu Biện Pháp Giảm Thiếu Khí Thải Trong Gtvt Và Luyện Kim

Làm Thế Nào Để Giảm Lượng Khí Thải Co2 Từ Xe Hơi

🌟 Home
🌟 Top