“chủ Động Các Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Dịp Quốc Khánh 2/9”

--- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Tại Trung Tâm Điện Lực Vĩnh Tân Thông Qua Giải Pháp Truyền Thông
  • Triển Khai Nhiều Giải Pháp Quyết Liệt, Đảm Bảo Giữ Vững An Ninh Trật Tự
  • Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trậttự Trong Chương Trình “thành Phố 4 An”
  • Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh, Trật Tự Xã Hội Nông Thôn: Người Dân Là Nhân Tố Quyết Định
  • Giữ An Ninh Nông Thôn Từ Cơ Sở
  • “Chủ động các giải pháp đảm bảo an ninh trật tự dịp Quốc khánh 2/9”

    Đại tá Nguyễn Bá Bính.

    – Đồng chí đánh giá khái quát kết quả công tác đảm bảo ANTT trên địa bàn tỉnh thời gian gần đây?

    + Có thể khẳng định, thời gian qua với vai trò nòng cốt, chuyên trách của mình, Công an tỉnh đã triển khai quyết liệt 3 nhóm giải pháp “đột phá” và 9 nhiệm vụ trọng tâm gắn với khẩu hiệu hành động “Công an Quảng Ninh chủ động, đổi mới, kỷ cương trách nhiệm, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ”, nên công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì và ổn định. Cùng với đó, Công an tỉnh luôn chủ động tham mưu hiệu quả cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác giữ gìn ANTT trên địa bàn. Đặc biệt, Công an tỉnh luôn làm tốt vai trò Cơ quan thường trực các Ban chỉ đạo của tỉnh để không ngừng nâng cao quan hệ phối hợp với các cấp, các ngành trong việc quán triệt, triển khai thực hiện các chủ trương, chỉ đạo và các mặt công tác quản lý nhà nước về ANTT. Trong đó, tập trung nâng cao hiệu quả công tác nắm, đánh giá và dự báo tình hình, bảo đảm tính chủ động, kịp thời, toàn diện, bám sát diễn biến tình hình và xử lý tình hình ngay khi mới phát sinh, ngay tại cơ sở đạt hiệu quả.

    Trên cơ sở chỉ đạo của cấp trên, căn cứ vào tình hình thực tế, Công an tỉnh đã chỉ đạo triển khai toàn diện các kế hoạch, biện pháp tấn công, trấn áp các loại tội phạm, đồng thời tham mưu cho các cấp, các ngành tăng cường công tác phòng ngừa xã hội, nhân rộng mô hình, điển hình trong phòng, chống tội phạm… Nhờ vậy, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội tại địa phương những tháng đầu năm 2021 tiếp tục được kiểm soát và kéo giảm; công tác điều tra, khám phá các vụ án về trật tự xã hội từ đầu năm đến nay được duy trì và đạt kết quả cao. Những kết quả trên góp phần thiết thực giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

    Thực trạng trên khiến nhiệm vụ đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đối với hệ thống chính trị của tỉnh nói chung, lực lượng Công an tỉnh nói riêng vốn đã áp lực, lại càng nặng nề, phức tạp hơn.

    – Để ổn định và đảm bảo ANTT trên địa bàn, Công an tỉnh đã triển khai những giải pháp trọng tâm gì?

    + Từ thực tiễn nêu trên, Công an tỉnh luôn xác định công tác đảm bảo an toàn tuyệt đối về ANTT, trước, trong, sau Quốc khánh 2/9 và các sự kiện chính trị tại địa phương là nhiệm vụ hết sức quan trọng của đơn vị. Từ đó, Giám đốc Công an tỉnh đã có kế hoạch tổng thể về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương trước, trong, sau Quốc khánh 2/9 và các sự kiện chính trị diễn ra trên địa bàn từ nay đến hết năm 2021. Mặt khác, đơn vị còn ban hành 3 công điện lãnh đạo, chỉ đạo toàn lực lượng thực hiện đồng bộ quyết liệt các giải pháp đảm bảo ANTT.

    Đặc biệt, ngày 22/8 vừa qua, Công an tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh mở hội nghị chỉ đạo cả hệ thống chính trị, các cơ quan, đoàn thể, lực lượng vũ trang trên địa bàn, đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng vào cuộc tham gia phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch trong cả nước nói chung, Quảng Ninh nói riêng. Công an tỉnh chỉ đạo các đơn vị công an toàn tỉnh tăng cường đẩy mạnh công tác nắm chắc tình hình cơ sở, kiên quyết không để phát sinh các điểm nóng mà các đối tượng thù địch lợi dụng kích động, biểu tình, gây rối trật tự công cộng…

    Lực lượng cảnh sát giao thông (Công an huyện Vân Đồn) tăng cường tuần tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông trọng điểm ở địa phương.

    Chắc chắn rằng với các giải pháp chủ động, đồng bộ, quyết liệt của lực lượng chức năng, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của nhân dân các dân tộc trên địa bàn, tình hình ANTT trước, trong và sau dịp Quốc khánh 2/9 năm nay sẽ được đảm bảo tuyệt đối an toàn.

    Theo Quang Minh – Tuấn Hương/baoquangninh.com.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nắm Chắc Tình Hình, Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Trật Tự
  • Chuyên Đề Giải Pháp Phát Triển Thương Hiệu Của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quốc Tế Việt Nam
  • Phát Triển Thương Hiệu Nông Sản Việt Nam Dựa Trên Khai Thác Yếu Tố Vùng, Miền
  • Giải Pháp Xây Dựng Thương Hiệu Cho Nông Sản Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Ngành Sữa Của Việt Nam
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Nguồn Nguyên Liệu Sữa Của Công Ty Vinamilk
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Quyết Liệt ‘đốt Lò’ Không Vùng Cấm
  • Phòng, Chống Tham Nhũng Với Quyết Tâm Cao Hơn, Mạnh Mẽ Hơn, Hiệu Quả Hơn
  • Đại Biểu Quốc Hội Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Trong phiên họp buổi sáng, các đại biểu đều thể hiện sự đồng tình với báo cáo và đánh giá cao sự nỗ lực của Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành với những bước đi đúng đắn, tạo bước phát triển khả quan.

    Những tín hiệu tích cực của nền kinh tế cùng với sự ổn định trật tự an toàn xã hội càng củng cố niềm tin vào mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam năm 2021 và những năm tiếp theo.

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Lê Thu Hà phát biểu ý kiến. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

    Phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7%

    Thượng tọa Thích Thanh Quyết (Quảng Ninh) đánh giá nhìn chung tình hình kinh tế-xã hội đã có sự ổn định. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt, tập trung cải cách hành chính, khuyến khích khởi nghiệp, thị trường tài chính ổn định, đặc biệt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia được vững chắc, giáo dục, y tế được chấn chỉnh, nhân dân an cư, lạc nghiệp.

    Tuy nhiên, chỉ tiêu quan trọng nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt thấp hơn kế hoạch đã đề ra và cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng tín dụng 5,76% cuối tháng 4/2017 so với đầu năm là cao nhất kể từ tháng 4/2010. Trong khi GDP 4 tháng qua tăng trưởng thấp cho thấy tăng trưởng tín dụng cao đã không thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế…

    Băn khoăn về mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% cả năm mà Chính phủ đưa ra trong Báo cáo kinh tế-xã hội, đại biểu Nguyễn Thị Phúc (Bình Thuận) đề nghị Chính phủ giải thích rõ, có sức thuyết phục hơn cơ sở của chỉ tiêu này để đảm bảo tính khả thi cao.

    Đại biểu Nguyễn Thị Phúc khẳng định ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy nhanh, bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư là những giải pháp quan trọng nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn về vốn, sớm đưa dòng vốn vào nền kinh tế, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa, kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân khai nguồn vốn còn rất chậm, nên nhiều công trình đầu tư từ ngân sách Nhà nước đang khó khăn; đặc biệt là các công trình đầu tư từ ngân sách Trung ương. Để giải bài toán này, đại biểu đề xuất Chính phủ cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư theo kế hoạch, nhất là tiếp tục bố trí vốn để triển khai dứt điểm các công trình đang thi công dở dang ở các địa phương.

    Đại biểu phân tích GDP là một trong 4 mục tiêu quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô (tăng GDP; ổn định giá cả; tăng việc làm, giảm thất nghiệp; tăng xuất khẩu). Nếu năm 2021 không đạt được mục tiêu 6,7%, hai năm liền Việt Nam không đạt được mục tiêu kế hoạch tăng trưởng, trong ba năm còn lại sẽ khó khăn hơn. Nhìn xa hơn, nếu trong 20 năm từ 2021 đến 2035, nền kinh tế Việt Nam không đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm, để GDP đầu người tăng khoảng 6%/năm, Việt Nam không còn cơ hội để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Do vậy, mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2021-2020 là rất quan trọng đối với lộ trình 20 năm tới.

    Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, bên cạnh 6 nhóm giải pháp Chính phủ đã đưa ra, theo đại biểu, giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng nhanh đó là tăng tổng cầu của nền kinh tế. Cụ thể, tăng khối lượng tiền tệ so với kế hoạch đề ra tương ứng với việc tăng thêm khoảng 2% tổng dư nợ tín dụng, bao gồm cả tín dụng đầu tư và tiêu dùng, vào những đối tượng và lĩnh vực có tốc độ giải ngân nhanh nhất trong năm 2021.

    Tăng tín dụng thêm 2% sẽ không gây lạm phát tiền tệ bởi lạm phát cơ bản cho đến nay vẫn diễn biến thuận lợi. Quý 1/2017, lạm phát cơ bản chỉ tăng 1,66% so với bình quân năm 2021. Ngay cả tình huống năm 2021, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng cao hơn 4% so với năm 2021 nhưng dưới 5% cũng chỉ có tác dụng kích thích tăng trưởng không đáng lo ngại. Kèm theo giải pháp này không điều chỉnh tăng giá điện, các loại dịch vụ công khác như y tế, giáo dục từ nay đến cuối năm. Đồng thời, Chính phủ kích thích tăng tiêu dùng dân cư, đầu tư tư nhân thông qua các biện pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng, tháo gỡ các thủ tục hành chính để thúc đẩy các công trình xây dựng đầu tư tư nhân, nhất là các thủ tục đầu tư xây dựng của doanh nghiệp. Đặc biệt, phải có các biện pháp giải ngân nhanh đầu tư trong năm 2021, bao gồm các dự án BOT, BT, các dự án hạ tầng giao thông. Nếu hết quý III/2017 giải ngân được 70% vốn đầu tư trong năm thì tác động lan tỏa rất lớn trong năm 2021-đại biểu kiến nghị.

    Bảo đảm an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc

    Vấn đề bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa… là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm, cho ý kiến.

    Đại biểu Đoàn Văn Việt (Lâm Đồng) chỉ rõ theo báo cáo của Chính phủ, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, các chính sách về đầu tư phát triển đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tại một số địa phương, tỷ lệ hộ cận nghèo, nguy cơ tái nghèo là rất đáng quan tâm. Trung bình cứ 3 hộ thoát nghèo, có một hộ nghèo mới, tái nghèo. Điều đó cho thấy kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững; trên nhiều địa bàn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Cuộc sống người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do còn nhiều khó khăn.

    Đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm, chỉ đạo thực hiện tốt hơn nữa nội dung để phát triển toàn diện kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm, bố trí đủ nguồn lực nhất là vùng đặc biệt khó khăn; đổi mới các định mức đầu tư, phân bổ ngân sách các cơ chế đặc thù về đầu tư phát triển kinh tế-xã hội cho phù hợp với địa bàn vùng dân tộc thiểu số, vùng núi. Ngoài ra, cần tháo gỡ những vướng mắc cụ thể trong việc giải quyết đất định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có hàng ngàn đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do đang có cuộc sống khó khăn, chưa ổn định.

    Để đồng bào các dân tộc thuộc diện di cư, di dân tái định cư các công trình thủy điện sớm có cuộc sống ổn định và phát triển, đại biểu cho biết: Thời gian qua, nhiều địa phương đã xây dựng các đề án, kế hoạch ổn định đời sống, sản xuất vùng đồng bào tái định cư các công trình thủy điện. Các bộ, ngành cần sớm xem xét, trình Chính phủ phê duyệt để các địa phương sớm thực hiện, đáp ứng lòng mong mỏi của Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc các địa phương thực hiện di dân tái định cư các công trình thủy điện.

    Quan tâm đến các chính sách phát triển kinh tế-xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) đề nghị Chính phủ đẩy nhanh việc ban hành chính sách mới cho giai đoạn 2021-2021. Việc bố trí đủ nguồn lực tài chính cho thực hiện chính sách vẫn là yêu cầu đòi hỏi bức thiết. Đồng thời, Chính phủ và các bộ, ngành cần hoàn thiện chính sách phân vùng để phát triển sản xuất phù hợp với đặc thù từng vùng; hình thành, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng các chính sách bền vững hơn trong tiêu thụ sản phẩm, bên cạnh các chính sách hỗ trợ hiện tại theo hướng kết nối sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số với thị trường. Chính phủ cũng cần tổng kết một cách toàn diện việc ban hành và thực hiện các chính sách, pháp luật, làm cơ sở để Quốc hội ban hành đạo luật về dân tộc và miền núi.

    Khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao

    Các đại biểu đánh giá, nền nông nghiệp đang gặp phải những thách thức, khó khăn rất lớn đòi hỏi nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ để khắc phục.

    Đại biểu Ma Thị Thúy (Tuyên Quang) cho rằng thực tế tái cơ cấu ngành nông nghiệp thời gian qua chưa đạt được mục tiêu đề ra. Theo đó, thu nhập của người nông dân còn thấp, đất dành cho sản xuất nông nghiệp còn manh mún. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp chưa cao, đầu tư từ doanh nghiệp ngoài nhà nước vào lĩnh vực này còn hạn chế, sản xuất chưa gắn kết được các khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm; chất lượng hàng hóa nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

    Từ thực trạng này, theo đại biểu Ma Thị Thúy, để phát triển nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, phải đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nhất là về vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất và quản lý, từ đó tạo ra những sản phẩm có giá trị thương phẩm cao, có thương hiệu, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm trên thị trường quốc tế. Nhà nước cũng đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp nông thôn.

    “Hơn lúc nào hết phải có chính sách đặc thù, cụ thể để xây dựng mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, người dân, doanh nghiệp và nhà nước,” đại biểu Ma Thị Thúy nhấn mạnh.

    Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Nguyễn Thị Phúc cho rằng để ngành nông nghiệp phát triển bền vững, Chính phủ cần có giải pháp căn cơ, đồng bộ hơn, trong đó triển khai quyết liệt việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Việc thực hiện cần tập trung vào công tác quy hoạch ngành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, có chính sách hỗ trợ nông dân và nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Đặc biệt, cần đẩy mạnh phát triển hợp tác xã kiểu mới để thực hiện liên kết giữa nhà nước-nhà nông-nhà doanh nghiệp-nhà khoa học và ngân hàng, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh sản phẩm, giảm dần sản xuất manh mún, tự phát của hộ gia đình.

    Nêu lên tình trạng giá cả vật tư nông nghiệp kém chất lượng; hiện tượng được mùa mất giá, sản phẩm ế thừa không tiêu thụ được gây thiệt hại nặng nề cho nông dân, đại biểu Trần Thị Hoa Ry (Bạc Liêu) nêu rõ đây là những vấn đề đã được đề cập nhiều lần nhưng chưa được khắc phục khiến cử tri rất bức xúc.

    Cử tri cho rằng sự can thiệp, xử lý của Nhà nước trong việc tiết giảm chi phí trung gian và sự chênh lệch giữa giá thu mua và giá bán còn rất chậm. Vì thế, các ngành chức năng cần quản lý chặt chẽ, giảm thiểu tình trạng tự phát trong sản xuất của người dân, có sự gắn kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.

    Ngoài ra, Chính phủ cần tăng cường đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, phân bổ hợp lý nguồn lực từ ngân sách tương xứng với đối tượng thụ hưởng trong tổng đầu tư vốn hiện nay; tạo điều kiện thuận lợi để nông dân có điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ trong sản xuất.

    Cho ý kiến về nội dung này, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh (Bình Phước) nhấn mạnh nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế, nhưng thực tế thời gian qua, trụ đỡ này đang yếu dần do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chi phí sản xuất lớn, nguồn nước bị xâm nhập mặn…

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Quyên Thanh phát biểu ý kiến. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

    Để khắc phục tình trạng này, theo đại biểu Nguyễn Tuấn Anh, nông nghiệp công nghệ cao là yêu cầu tất yếu. Hướng đi này cần có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và phải có vốn. Chính phủ đã dành gói tín dụng 100.000 tỷ đồng để ưu đãi vốn vay cho doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sạch là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn vốn này là rất khó khăn vì các doanh nghiệp bị ràng buộc rất nhiều điều kiện. Do vậy, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh cho rằng cần sớm có quy định xác lập sở hữu tài sản đầu tư trên đất đối với các trang trại nông nghiệp công nghệ cao để làm căn cứ thế chấp vốn vay.

    Bên cạnh đó, tăng thời gian hỗ trợ vốn vay đối với doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; khuyến khích và tăng cường đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời tạo kênh thông tin để doanh nghiệp cập nhật về tình hình thị trường; thường xuyên đánh giá, dự báo đúng nhu cầu trong nước và thế giới để hạn chế việc đầu tư tràn lan, cung vượt cầu dẫn đến tình trạng được mùa-mất giá, được giá-mất mùa trong thời gian qua.

    Đại biểu Tống Thanh Bình quan tâm việc thực hiện chính sách theo Nghị định 116 ngày 18/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở những xã, thôn đặc biệt khó khăn.

    Đại biểu cho biết hiện đã có nhiều thôn, bản, xã thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a hoàn thành Chương trình 135, chuyển từ khu vực 3 sang khu vực 2. Do vậy, đối tượng học sinh là con hộ nghèo có hộ khẩu tại khu vực này sẽ không được tiếp tục hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định 116. Tuy nhiên, Nghị quyết 30a có quy định tất cả các xã thuộc các huyện nghèo đều được hưởng các cơ chế, chính sách quy định như đối với xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 giai đoạn 2. Thực tế hiện nay các trường vẫn tổ chức nuôi dưỡng học sinh vì đại đa số học sinh này là người dân tộc thiểu số, kinh tế khó khăn, không có điều kiện đi về trong ngày. Những học sinh này nếu không tiếp tục được hỗ trợ thì nguy cơ bỏ học rất cao. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo, cho phép các địa phương tiếp tục áp dụng và thực hiện chế độ quy định tại Nghị định 116.

    Trăn trở đối với tình trạng bạo lực học đường xảy ra trên khắp cả nước, ở tất cả các cấp học với mức độ ngày càng gia tăng, hậu quả nghiêm trọng, đại biểu Trần Thị Phương Hoa đề nghị Chính phủ cần có biện pháp để hạn chế tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống gây bức xúc xã hội, nhất là tình trạng bạo lực học đường, xâm hại trẻ em trong thời gian qua. Đại biểu dẫn chứng: Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong toàn quốc xảy ra 1.600 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học, bình quân khoảng 5 vụ/ngày. Cứ khoảng trên 5.200 học sinh có một vụ đánh nhau, cứ trên 11.000 học sinh thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau…

    Trong phiên họp vừa qua, Chính phủ cũng thể hiện quan tâm đối với nội dung này, trong đó đối với mầm non 5 tuổi, không phân biệt người dân tộc, tất cả học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn đều được miễn học phí bắt đầu từ năm 2021. Đối với các học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ có biện pháp hỗ trợ.

    Về giải pháp để giảm thiểu bạo lực học đường, Bộ trưởng khẳng định Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định về môi trường an toàn cho học sinh ở các trường phổ thông.

    Cần làm rõ trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm

    Nên thành lập đơn vị thuộc Chính phủ chuyên trách quản lý về an toàn thực phẩm hay giữ nguyên mô hình 3 Bộ: Y …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề 2: Một Số Vấn Đề Về Công Tác Xây Dựng Đảng Và Công Tác Cán Bộ Hiện Nay
  • Ngành Giáo Dục Đóng Góp Ý Kiến Vào Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội
  • Giáo Dục Lạng Sơn: Gỡ Khó Để Phát Triển
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Thcs Tại Các Xã Biên Giới
  • Nghiệm Thu Đề Tài: “một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Trung Học Cơ Sở Các Xã Biên Giới Tỉnh Lạng Sơn Đến Năm 2025, Tầm Nhìn Đến Năm 2030”
  • Việt Nam Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện Bất Bình Đẳng Và Đảm Bảo Phẩm Giá Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Giảm Thiểu Các Yếu Tố Gây Bất Bình Đẳng
  • Giảm Béo Không Phẫu Thuật
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Phạm Văn Đồng
  • Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Lê Lai
  • Trà Vinh Tập Trung Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học
  • Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng dẫn đầu đoàn Việt Nam đã tham dự và có bài phát biểu quan trọng tại cuộc họp.

    Nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà nước nhằm xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Việt Nam đã thực hiện được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hơp quốc (LHQ), đặc biệt là việc hoàn thành 3/8 mục tiêu trước thời hạn (năm 2021), đó là xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học và tăng cường bình đẳng nam nữ, nâng cao vị thế cho phụ nữ.

    Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng phát biểu tại phiên họp toàn thể của Đại hội đồng IPU 136.

    Việt Nam đang tích cực xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện 17 mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu và 169 mục tiêu cụ thể của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó đưa ra những chính sách cụ thể thực hiện Mục tiêu 10, dành riêng cho nhóm dân số nghèo nhất được tiếp cận tín dụng ưu đãi, tăng cường chính sách an sinh xã hội, đảm bảo cơ hội bình đẳng và giảm bất bình đẳng trong hưởng lợi cho tất cả mọi người.

    Quốc hội Việt Nam đã xây dựng Hiến pháp 2013, tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp như cụ thể hóa Hiến pháp như Luật bảo hiểm y tế, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật bình đẳng giới, Luật công đoàn, Bộ luật lao động, Luật báo chí, Luật tiếp cận thông tin, Luật thanh niên, Luật người khuyết tật, Luật người cao tuổi, Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em, Luật tín ngưỡng, tôn giáo… đặc biệt là đã ban hành nhiều chính sách phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống cho các dân tộc thiểu số, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước, phân công nhân sự điều hành các lĩnh vực bảo đảm thực hiện các chính sách ưu việt này.

    Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cho biết Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như biến đối khí hậu, nước biển dâng, hạn chế về nguồn lực cho các lĩnh vực xã hội, trình độ phát triển của các vùng không đồng đều,… Do đó, Việt Nam rất mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế trong quản lý và điều hành nhằm thực hiện tốt các mục tiêu phát triển đề ra.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng khẳng định việc góp phần quan trọng cải thiện bất bình đẳng, có nhiều hành động tích cực hơn nhằm đảm bảo nhân phẩm và an sinh cho mọi người là một nhiệm vụ quan trọng và lâu dài.

    Phó Chủ tịch Quốc hội đã nêu ra tám đề xuất cụ thể như cần tăng cường vai trò của LHQ, đẩy mạnh thực hiện các chỉ tiêu đề ra trong Mục tiêu phát triển bền vững số 10 ở mỗi nước và phát huy vai trò, đổi mới hoạt động, chương trình nghị sự của các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính đa phương nhằm đảm bảo tạo cơ hội có tiếng nói của các nước đang phát triển trong các thể chế kinh tế-tài chính toàn cầu.

    Cần xây dựng mạng lưới kết nối các tổ chức khu vực nhằm phối hợp hành động ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống như thiên tai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng hoặc dập tắt dịch bệnh, khắc phục thảm họa thiên tai trong trường hợp khẩn cấp, nhằm đảm bảo an sinh, an toàn cho mọi người dân.

    Đề nghị các nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong hoạch định chính sách và quản trị đất nước, nhằm thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng, xóa bỏ các điều luật mang tính phân biệt đối xử, đảm bảo sự tham gia của mọi thành phần vào đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của đất nước.

    Kêu gọi các nước phát triển tiếp tục dành sự quan tâm và hỗ trợ nguồn lực đối với các nước đang phát triển, chia sẻ kinh nghiệm và hiểu biết, chuyển giao công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường theo hướng bền vững, đảm bảo cơ hội hưởng thụ cho mọi người dân; khuyến khích các nước xây dựng bộ công cụ đánh giá tình trạng bình đẳng và bất bình đẳng, trong đó có những tiêu chí cụ thể đối với từng nhóm người trong xã hội, từ đó xác định được mức độ bất bình đẳng về kinh tế, chính trị và xã hội để có những ưu tiên chính sách trong từng giai đoạn phát triển đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Nhập Khẩu Điện: Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Năng Lượng Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Động Các Giải Pháp Nhằm Đảm Bảo An Ninh Lương Thực
  • Review Về Các Giải Pháp An Ninh Cho Gia Đình Phổ Biến Nhất
  • Giải Pháp An Ninh Cho Gia Đình
  • Giải Pháp An Ninh Gia Đình Toàn Diện
  • Giải Pháp Lắp Đặt Camera An Ninh Cho Gia Đình
  • Đường dây 220 kV Xekaman 1- Pleiku 2 truyền tải điện từ Lào về Việt Nam.

    Theo Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2021 và tầm nhìn đến năm 2050”, Việt Nam từ một nước xuất khẩu đã trở thành nước nhập khẩu năng lượng từ năm 2021 với mức độ ngày càng cao. Nếu như năm 2021, năng lượng nhập khẩu chỉ chiếm 5% thì đến năm 2021 đã lên đến 18% tổng nguồn cung năng lượng sơ cấp.

    Theo tính toán sơ bộ, để tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng của Việt Nam sẽ liên tục gia tăng. Dự kiến, yêu cầu nguồn năng lượng sơ cấp sẽ vào khoảng 175-195 triệu TOE năm 2030 và tăng lên đến 320-350 triệu TOE năm 2045. Do các giới hạn về trữ lượng và khả năng khai thác của các nguồn năng lượng nội địa (than – dầu – khí đốt), đến năm 2045, tỷ lệ năng lượng sơ cấp phải nhập khẩu có thể lên đến 52%.

    Trước tình hình này, ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 55-NQ/TW về “Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, với mục tiêu “bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, đồng thời là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội”. Nghị quyết cũng đã đưa ra 10 nhóm giải pháp, trong đó chú trọng giải pháp: “Đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tích cực, chủ động xây dựng các đối tác chiến lược để thực hiện mục tiêu nhập khẩu năng lượng trong dài hạn và đầu tư tài nguyên năng lượng ở nước ngoài”.

    Ngoài việc xây dựng chiến lược nhập khẩu than, khí đốt và các sản phẩm dầu, việc nhập khẩu điện từ các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, Campuchia cũng cần được xem xét như một nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho nền kinh tế. Mặc dù chủ trương nhập khẩu điện đã được đặt ra từ Quy hoạch điện V, nhưng sau 20 năm, chiến lược nhập khẩu điện từ các nước láng giềng hiện chưa rõ ràng và đồng bộ, sản lượng và công suất điện nhập khẩu vẫn còn rất khiêm tốn.

    Nhập khẩu điện chưa đạt được kỳ vọng

    Việt Nam bắt đầu nhập khẩu điện Trung Quốc (TQ) từ năm 2004 thông qua đường dây (ĐD) 110kV Lào Cai – Hà Khẩu, cấp điện cho khu vực Lào Cai với sản lượng khoảng 380 triệu kWh. Trước nguy cơ thiếu điện giai đoạn 2007-2010, ngành Điện đã xây dựng thêm 2 tuyến đường dây 220kV Lào Cai – Hà Khẩu, Hà Giang – Malutang và 2 ĐD 110kV Móng Cái – Thâm Câu, Hà Giang – Thanh Thủy để tăng cường quy mô nhập khẩu.

    Sản lượng điện nhập từ Trung Quốc liên tục tăng và đạt đỉnh 5,6 tỷ kWh năm 2010 (chiếm 5,6% điện sản xuất toàn hệ thống), bù đắp đáng kể cho lượng điện thiếu hụt trong nước. Kể từ khi thủy điện (TĐ) Sơn La đi vào vận hành (2010-2011), Việt Nam mới cơ bản có đủ nguồn điện, sản lượng điện nhập khẩu ngày càng giảm. Từ năm 2013, Việt Nam bắt đầu nhập khẩu điện từ Lào qua ĐD 220kV Xekaman 3 – Thạnh Mỹ (2013) và ĐD 220kV Xekaman 1 – Pleiku 2 (2016). Tổng sản lượng nhập khẩu từ Lào trong giai đoạn 2013-2019 đạt khoảng 6,3 tỷ kWh.

    Nếu tính cả sản lượng điện nhập khẩu từ Trung Quốc cùng kỳ, sản lượng điện nhập khẩu từ Lào và Trung Quốc đạt khoảng 20 tỷ kWh, chiến 1,6% tổng sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống.

    Mặc dù kế hoạch nhập khẩu điện từ các nước láng giềng bắt đầu từ Quy hoạch điện V (năm 2000), Quy hoạch điện VI (năm 2005) với quy mô đến năm 2021 là 5.476MW, nhưng đến thời điểm này, tổng công suất nhập khẩu mới đạt 1.506MW (đạt 27%), trong đó nhiều hạ tầng lưới điện hiện khai thác cầm chừng như ĐD 220kV đấu nối Thủy điện Xekaman 3, các ĐD 220kV nhập khẩu điện về Lào Cai, Hà Giang. Công suất điện nhập khẩu từ Campuchia theo quy hoạch là 804MW (TĐ Hạ Sên San 2 và 3; Hạ Serepok 2) nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc nhập khẩu điện từ các nước láng giềng chưa đạt mục tiêu theo quy hoạch. Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là tình hình chính trị quốc tế liên tục biến động, ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng xuất nhập khẩu điện qua biên giới.

    Những nghiên cứu tác động đến môi trường sinh thái, nhất là tại các dự án làm thay đổi dòng chính sông Mêkông dẫn tới tạm dừng nhiều dự án thủy điện xuất khẩu của Lào, Campuchia. Các rào cản kỹ thuật vận hành cũng ảnh hưởng đến quy mô nhập khẩu điện. Việc không cho phép hòa đồng bộ giữa hệ thống điện Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Lào đã dẫn tới phải vận hành tách toàn bộ lưới điện nhận nguồn từ Trung Quốc và Lào phát về Việt Nam. Mặt khác, giá điện nhập khẩu cao hơn đáng kể so với giá mua điện trong nước cũng là một rào cản quan trọng, dẫn đến tình trạng Việt Nam chưa mặn mà với nhập khẩu điện.

    Tiềm năng nhập khẩu điện: Cơ hội và thách thức

    Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy, tiềm năng nhập khẩu điện từ các nước láng giềng về Việt Nam có thể đóng góp một phần quan trọng trong cơ cấu nguồn điện quốc gia. Việc tăng nhập khẩu điện càng có ý nghĩa khi đặt trong bối cảnh các nguồn điện truyền thống như nhiệt điện than trong nước ngày càng khó xây dựng do các vấn đề về môi trường, nguồn nhiên liệu và khả năng huy động vốn đầu tư.

    Theo một nghiên cứu của Tập đoàn Điện lực Tokyo (TEPCO) – Nhật Bản năm 2021, tiềm năng các dự án thủy điện của Lào đến năm 2030 có thể đạt 23.795MW. Cũng theo báo cáo của Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, Lào sẵn sàng chia sẻ nguồn năng lượng với các nước lân cận như Việt Nam (xuất khẩu 5.000MW trước 2030), Campuchia (1.500MW trước 2025) và Thái Lan (9.000MW trước 2025). Việt Nam cũng đã ký các Biên bản ghi nhớ MOU (năm 2021) và Hiệp định hợp tác với Lào (2019) về xuất nhập khẩu điện. Theo đó, Việt Nam sẽ nhập khẩu từ Lào ít nhất 1.000MW đến năm 2021, 3.000MW đến năm 2025 và 5.000MW đến năm 2030. Đến năm 2021, nhiều nhà đầu tư thủy điện ở Lào và ngay cả Tổng công ty Điện lực Lào (EDL) đã đặt vấn đề và lập hồ sơ nghiên cứu đấu nối để xuất khẩu điện sang Việt Nam với tổng công suất lên đến khoảng 2.400MW.

    Ngoài tiềm năng từ Lào, Việt Nam còn tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) – nơi có tiềm năng thủy điện rất lớn, có khả năng xuất khẩu điện sang Việt Nam. Theo nghiên cứu của Tập đoàn Thủy điện Trung Quốc, trên địa bàn tỉnh Vân Nam, tiềm năng thủy điện của lưu vực 3 con sông lớn đạt 105.000MW. Về khả năng tăng cường nhập khẩu điện từ Trung Quốc, Việt Nam đang nghiên cứu một số phương án với quy mô nhập khẩu từ 2.000MW đến 3.000MW thông qua các trạm chuyển đổi Back-to-Back.

    Cơ hội nhập khẩu điện dài hạn từ Campuchia là không nhiều, do tiềm năng thủy điện của nước bạn không lớn.

    Như vậy, trong ba nước láng giềng, cơ hội nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc là rất tiềm năng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra. Đối với việc nhập khẩu điện từ Lào, nhiều nhà đầu tư thủy điện, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời ở Lào rất muốn bán điện sang Việt Nam, nhưng gặp rào cản lớn về thủ tục hành chính và quy trình phức tạp… Về nhập khẩu điện từ Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc còn thiếu những cam kết ở tầm vĩ mô đối với lĩnh vực xuất – nhập khẩu điện. Do vậy, vẫn tiềm ẩn rủi ro nhập khẩu điện dài hạn.

    Một số giải pháp tăng cường nhập khẩu điện

    Với những phân tích ở trên, có thể nhận thấy trọng tâm trong chiến lược nhập khẩu điện cần hướng đến là Lào và Trung Quốc. Ngoài ra, tương lai xa có thể xem xét xuất nhập khẩu điện từ mạng lưới 500kV liên kết ASEAN.

    Thứ nhất, giải pháp mang ý nghĩa căn cơ để tăng cường sản lượng điện nhập khẩu từ nước ngoài là phải khẩn trương xây dựng thị trường điện trong nước theo hướng cạnh tranh bình đẳng, minh bạch có sự điều tiết của nhà nước.

    Thứ hai, thực tế diễn ra trong những năm gần đây cho thấy, hạ tầng lưới điện dùng chung cho việc nhập khẩu điện chưa được quan tâm đúng mức. Các công trình đường dây đấu nối được xây dựng dưới dạng “của ai người ấy lo”, gây lãng phí lớn về vốn đầu tư, cũng như đất đai cho hành lang tuyến đường dây. Do vậy, cần có quy hoạch hệ thống hạ tầng truyền tải chuyên dụng dùng chung để nhập khẩu điện và có sự cam kết giữa các chính phủ đối với việc xây dựng hạ tầng chung này.

    Thứ ba, việc hình thành mạng lưới điện siêu cao áp liên quốc gia là xu hướng tất yếu trong tương lai để tăng cường an ninh cung cấp điện. Do vậy, các nước trong khu vực cần xem xét xây dựng hệ thống tiêu chuẩn vận hành chung để có thể kết nối và hòa đồng bộ lưới điện, tránh phải vận hành tách lưới đối với công trình xuất nhập khẩu điện như hiện nay.

    Rõ ràng, để đáp ứng nhu cầu phát triển, Việt Nam sẽ ngày càng phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu, trong đó nhập khẩu điện có thể đóng vai trò đáng kể trong cân đối năng lượng quốc gia. Qua các phân tích cho thấy, tiềm năng nhập khẩu điện chủ yếu đến từ Lào và Trung Quốc với quy mô lên đến khoảng 7.000 MW vào năm 2030. Hiện nay, quy trình thủ tục rườm rà cùng với mức giá điện bình quân thấp đang là rào cản rất lớn cho việc nhập khẩu điện.

    Cùng với đó, các cam kết ở mức vĩ mô, dài hạn về xuất nhập khẩu điện giữa Việt Nam – Lào, Việt Nam – Trung Quốc cũng cần được xác nhận, là tiền đề để xây dựng hạ tầng truyền tải chuyên dụng dùng chung cho nhập khẩu điện dài hạn, giúp tối ưu hóa vốn đầu tư lưới điện và giảm thiểu quỹ đất cho đường dây truyền tải.

    Link gốc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia Trong Quá Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Và Giải Pháp Cơ Bản Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia
  • Tăng Cường Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới
  • An Ninh Quốc Gia Là Gì ? Phân Tích Dấu Hiệu Pháp Lý Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia ?
  • Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Và Giải Pháp Cơ Bản Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia Trong Quá Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Nhập Khẩu Điện: Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Năng Lượng Quốc Gia
  • Chủ Động Các Giải Pháp Nhằm Đảm Bảo An Ninh Lương Thực
  • Review Về Các Giải Pháp An Ninh Cho Gia Đình Phổ Biến Nhất
  • Giải Pháp An Ninh Cho Gia Đình
  • Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Và Giải Pháp Cơ Bản Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia, Cac Giai Phap An Ninh Quoc Gia, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Những Yếu Tố Tác Động Đén An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Hiện Nay, Câu Hỏi:nhân Thuc Chung Về An Ninh Quốc Gia,những Tác Động Đến Anqg, Thực Trạng Và Những Yếu Tố Tác Động Đến Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng An Ninh Trong, Thực Trạng Và Những Yếu Tố Tác Động Đến Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng An Ninh Trong, Nội Dung, Giải Pháp Của Đảng Và Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh Và Đối Ngoại, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Mot So Giai Phap Ket Hop Phat Trien Kinh Te-xa Hoi Voi Tang Cuong An Ninh Quoc Phong, Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2021, Giải Pháp Cơ Bản Đam Bảo An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?, Sức Mạnh Quốc Phòng An Ninh Cần Những Nhân Tố Cơ Bản Nào Những Nhân Lực Vật Lực Nào Của Quốc Gia, Quản Điểm Của Đảng Về An Ninh Quốc Gia, An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Chuyên Đề Đường Lối Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trận An Ninh Nh, Những Giải Pháp Cơ Bản Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Bai Thu Hoach Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Vê An Ninh Quốc Gia Va Xây Dưng The Tran An Ninh Nhan D, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Bài Thu Hoạch Quan Điểm Chủ Trương Của Đảng Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dâ, Bai Thu Hoach Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Vê An Ninh Quốc Gia Va Xây Dưng The Tran An Ninh Nhan D, An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dân, “an Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dân”, Quan Điểm Chủ Truong Của Đcsvn Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trân An Ninh Nhân Dân Thoi Kì Hiệ, Quan Điểm Chủ Truong Của Đcsvn Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trân An Ninh Nhân Dân Thoi Kì Hiệ, Quan Điểm Và Những Nhiệm Vụ Chủ Yếu Thực Hiện Đường Lối Quốc Phòng, An Ninh, Tham Luận Vê Công Tac An Ninh Quoc Phong Tư Phap, Cac Bien Phap Nen Quoc Phong Toan Dan Va An Ninh Nhan Dan, Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc, Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, Đong Chí Hãy Cho Biết Cơ Chế, Nội Dung Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Quốc Phong An Ninh Như Thế Nào, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đồng Chí Trình Bầy Mục Tiêu, Nhiệm Vụ, Quốc Phòng An Ninh Và Nguyên Tắc Lãnh Đạo Của Đảng, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Phat Trien Kinh Te Gan Voi Tang Cuong Cung Co Quoc Phong An Ninh Va Hoat Dong Doi Ngoai, Trình Bày Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Củ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Gia, Những Yếu Tố Tác Động An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hoá, Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Báo Cáo Vì An Ninh Tổ Quốc, An Ninh Quốc Gia Là Gì, Bai An Ninh Quoc Gia, Vì An Ninh Tổ Quoc, An Ninh Quốc Gia, Luật An Ninh Quốc Gia, Bài Viết Về An Ninh Quốc Gia, Vấn Đề Quốc Phòng An Ninh, Van De An Ninh Quoc Phong, Báo Cáo Sơ Kết Luật An Ninh Quốc Gia, Quoc Phong An Ninh 2, Quốc Phòng An Ninh 1, Báo Cáo 06 Về Quốc Phòng An Ninh, Quốc Phòng An Ninh Là Gì, Quốc Phòng An Ninh, Quốc Phòng An Ninh 11, Báo Cáo Sơ Kết Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc, Báo Cáo 06 Quốc Phòng An Ninh, An Ninh Quoc Phong, Lý Luận Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Quốc Phòng An Ninh 10, Bài Thu Hoa Anh An Ninh Quốc Phòng Đối Tượng 3, Báo Cáo Tham Luận Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc, Chiến Lược Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Thu Hoạch An Ninh Quốc Phòng, Bài Tham Luận Vì An Ninh Tổ Quốc, Công Tác An Ninh Quốc Phòng, Chuyên Đề 3 An Ninh Quốc Phòng, Báo Thi Đua Vì An Ninh Tổ Quốc Củng Công An, Đề Cương Quốc Phòng An Ninh, Bài 12 Giáo Dục Quốc Phòng An Ninh, Lien He Ban Than Ve Quoc Phong An Ninh, Nghị Quyết 51 Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Ngày Hội Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc, Đề Thi Môn Giáo Dục Quốc Phòng An Ninh, Kinh Tế, Xã Hội, An Ninh, Quôc Phòng, Kinh Tế Xã Hội Với Quốc Phòng An Ninh, Ngày Hội Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc, Sơ Kết Ngày 10 Năm Hội Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc, Đề án An Ninh Lương Thực Quốc Gia, Bài Thu Hoach An Ninh Quốc Gia Phòng , An Ninh Quốc Phòng Đối Tượng 4, An Ninh Quốc Phòng Đối Tượng 3, Giáo Dục Quốc Phòng An Ninh, Kết Hợp Kinh Tế Với Quốc Phòng An Ninh, Nhiệm Vụ Quốc Phòng An Ninh, Bài Thu Hoạch Về An Ninh Quốc Phòng,

    Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Và Giải Pháp Cơ Bản Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia, Cac Giai Phap An Ninh Quoc Gia, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Những Yếu Tố Tác Động Đén An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Hiện Nay, Câu Hỏi:nhân Thuc Chung Về An Ninh Quốc Gia,những Tác Động Đến Anqg, Thực Trạng Và Những Yếu Tố Tác Động Đến Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng An Ninh Trong, Thực Trạng Và Những Yếu Tố Tác Động Đến Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng An Ninh Trong, Nội Dung, Giải Pháp Của Đảng Và Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh Và Đối Ngoại, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Mot So Giai Phap Ket Hop Phat Trien Kinh Te-xa Hoi Voi Tang Cuong An Ninh Quoc Phong, Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2021, Giải Pháp Cơ Bản Đam Bảo An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?, Sức Mạnh Quốc Phòng An Ninh Cần Những Nhân Tố Cơ Bản Nào Những Nhân Lực Vật Lực Nào Của Quốc Gia, Quản Điểm Của Đảng Về An Ninh Quốc Gia, An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Chuyên Đề Đường Lối Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trận An Ninh Nh, Những Giải Pháp Cơ Bản Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Bai Thu Hoach Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Vê An Ninh Quốc Gia Va Xây Dưng The Tran An Ninh Nhan D, Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nh, Bài Thu Hoạch Quan Điểm Chủ Trương Của Đảng Về An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dâ, Bai Thu Hoach Quan Điểm, Chủ Trương Của Đảng Vê An Ninh Quốc Gia Va Xây Dưng The Tran An Ninh Nhan D, An Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dân, “an Ninh Quốc Gia Và Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dân”, Quan Điểm Chủ Truong Của Đcsvn Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trân An Ninh Nhân Dân Thoi Kì Hiệ, Quan Điểm Chủ Truong Của Đcsvn Về An Ninh Quốc Gia Và Thế Trân An Ninh Nhân Dân Thoi Kì Hiệ, Quan Điểm Và Những Nhiệm Vụ Chủ Yếu Thực Hiện Đường Lối Quốc Phòng, An Ninh, Tham Luận Vê Công Tac An Ninh Quoc Phong Tư Phap, Cac Bien Phap Nen Quoc Phong Toan Dan Va An Ninh Nhan Dan, Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc, Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, Đong Chí Hãy Cho Biết Cơ Chế, Nội Dung Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Quốc Phong An Ninh Như Thế Nào, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đồng Chí Trình Bầy Mục Tiêu, Nhiệm Vụ, Quốc Phòng An Ninh Và Nguyên Tắc Lãnh Đạo Của Đảng, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Phat Trien Kinh Te Gan Voi Tang Cuong Cung Co Quoc Phong An Ninh Va Hoat Dong Doi Ngoai,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới
  • An Ninh Quốc Gia Là Gì ? Phân Tích Dấu Hiệu Pháp Lý Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia ?
  • Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Vị Trí, Vai Trò, Tầm Quan Trọng Của Biện Pháp Pháp Luật Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Giải Pháp Cho Xe Tải
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông Dịp Quốc Khánh 2 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tuyên Truyền Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Csgt Lâm Đồng: Kết Quả Đáng Ghi Nhận Từ Chiến Lược Tuyên Truyền Giao Thông Đúng Đắn
  • Giải Pháp Nâng Cao An Toàn Giao Thông Tại Việt Nam
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao An Toàn Giao Thông
  • Nhiều Biện Pháp Giáo Dục Nâng Cao Ý Thức Chấp Hành Luật Giao Thông Cho Học Sinh
  • Ngày 11/8/2020, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) Lê Đình Thọ có công văn số 7806/BGTVT-VT về việc tăng cường các giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9/2020 và khai giảng năm học mới gửi các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ.

    Thực hiện Công điện số 1053/CĐ-TTg ngày 9/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong điều kiện diễn biến mới, phức tạp của dịch bệnh COVID-19, để bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân và vận tải hàng hoá phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội trong điều kiện diễn biến mới và phức tạp của dịch bệnh COVID-19, Bộ GTVT yêu cầu các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm biện pháp phòng chống dịch trong tình hình mới đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/4/2020, tuyệt đối không chủ quan, mất cảnh giác; Công điện số 949/CĐ-TTg ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc khắc phục hậu quả, không để xảy ra các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.

    Theo đó, đối với lĩnh vực đường bộ, Bộ GTVT yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam, tăng cường tuyên truyền quy định pháp luật ATGT, thắt dây an toàn khi được chở trên phương tiện, không lái xe khi đã uống rượu bia, hướng dẫn quy tắc và kỹ năng tham gia giao thông trên đường cao tốc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Chỉ đạo các Cục Quản lý đường bộ tăng cường kiểm tra điều kiện an toàn các công trình kết cấu hạ tầng giao thông; chỉnh trang, khắc phục các vị trí mặt đường bị hư hỏng, sạt mái ta luy do mưa, lũ gây ra trong thời gian qua; kiểm tra bổ sung hệ thống biển báo, đèn tín hiệu giao thông, sơn vạch kẻ đường, gờ giảm tốc tại các vị trí tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông, có phương án bố trí nhân lực ứng trực để kịp thời phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức điều tiết giao thông khi xảy ra ùn tắc.

    Tổng cục Đường bộ Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo các Sở GTVT, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách có phương án tổ chức vận tải phù hợp, bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ vận tải và tuân thủ nghiêm quy định về phòng chống dịch bệnh COVID-19; kiểm tra chặt chẽ điều kiện an toàn của phương tiện và lái xe trước khi xuất bến, nhắc nhở hành khách thắt dây an toàn khi được chở trên phương tiện; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương rà soát toàn tuyến đường Hồ Chí Minh qua khu vực miền Trung và Tây Nguyên, khắc phục ngay các điểm đen, điểm tiềm ẩn nguy cơ TNGT; tăng cường khai thác, sử dụng dữ liệu thu được từ thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô để kiểm tra, xử lý đối với các trường hợp vi phạm theo quy định.

    Về đường hàng hải, Bộ GTVT yêu cầu Cục Đường thủy nội địa Việt Nam: Chỉ đạo các đơn vị tăng cường các biện phảo bảo đảm an toàn giao thông đối với phương tiện thuỷ chở khách, đặc biệt là các phương tiện chở khách từ bờ ra đảo, các tầu cao tốc chở khách; cương quyết đình chỉ hoạt động các bến đò ngang trái phép, các phương tiện chở khách không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, không trang bị đủ dụng cụ cứu sinh, cứu đắm, chở quá số người quy định; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Cục Hàng hải Việt Nam phải tiếp tục chỉ đạo các Cảng vụ hàng hải tiếp tục triển khai các giải pháp đảm bảo an toàn hàng hải, đặc biệt là các tuyến vận tải hành khách từ bờ ra đảo.

    Về vận tải đường sắt, Bộ GTVT yêu cầu Cục Đường sắt Việt Nam: Chỉ đạo lực lượng Thanh tra đường sắt tăng cường kiểm tra tình hình bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt, nhất là các khu vực có nhiều điểm giao cắt giữa đường sắt và đường bộ thường xuyên xảy ra tai nạn và gây ùn tắc giao thông trên địa bàn các thành phố lớn; kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về quy tắc giao thông tại đường ngang, các hành vi lấn chiếm hành lang ATGT đường sắt theo thẩm quyền.

    Đối với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Bộ GTVT chỉ đạo Tổng công ty phải tăng cường kiểm tra, giám sát đối với đội ngũ nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu, nhất là đội ngũ trực ban, lái tàu, gác đường ngang, gác cầu chung và xử lý nghiêm các tổ chức cá nhân để xảy ra tai nạn do chủ quan gây ra; tổ chức cảnh giới hoặc chốt gác tại các đường ngang và lối đi tự mở có nguy cơ cao xảy ra tai nạn giao thông; kiểm tra chất lượng phương tiện chở khách, không cho phép sử dụng các phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật tham gia giao thông; có phương án tổ chức vận tải phù hợp, bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ vận tải và tuân thủ nghiêm quy định về phòng chống dịch bệnh COVID-19; thực hiện đo thân nhiệt, khai bản khai y tế điện tử đối với hành khách đi tàu; hướng dẫn tất cả hành khách đến ga mua vé, ngồi trong phòng đợi tàu, khi vào ga lên tàu phải đeo khẩu trang đúng cách và giữ khoảng cách với những người xung quanh an toàn.

    Về đường hàng không, Bộ GTVT yêu cầu Cục Hàng không Việt Nam tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an ninh, an toàn hàng không nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và nhận thức an ninh, an toàn hàng không dân dụng trong cộng đồng xã hội; thực hiện các biện pháp khắc phục, phòng ngừa sự cố, tai nạn tàu bay; chỉ đạo các Cảng vụ hàng không tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn, an ninh hàng không và các dịch vụ tại cảng hàng không, sân bay đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; cung cấp thông tin hướng dẫn người dân đi lại bằng đường hàng không bảo đảm đúng lịch trình, hạn chế số người đón, tiễn tại các sân bay, đặc biệt tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất; chỉ đạo các Tổng công ty, các hãng hàng không xây dựng phương án tổ chức vận tải phù hợp, bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ vận tải và tuân thủ nghiêm quy định về phòng chống dịch bệnh COVID-19; điều hành lịch bay hạn chế tối đa việc chậm chuyến, hủy chuyến.

    Đối với vấn đề chất lượng phương tiện lưu thông, Bộ GTVT yêu cầu Cục Đăng kiểm tăng cường công tác kiểm tra chất lượng phương tiện, không cho phép sử dụng các phương tiện không bảo đảm an toàn kỹ thuật tham gia giao thông, đặc biệt chú trọng tới các phương tiện xe khách giường nằm, phương tiện cải tạo, thay đổi kết cấu so với thiết kế, phương tiện thủy chở khách từ bờ ra đảo, tầu cao tốc.

    Bộ GTVT cũng chỉ đạo các Sở Giao thông vận tải đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật an toàn giao thông và các biện pháp phòng chống dịch bệnh COVID-19 để nâng cao ý thức người dân; không lái xe khi đã uống rượu bia, sử dụng chất ma túy; không phóng nhanh, vượt ẩu; đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi đi mô tô, xe máy, xe đạp điện và các biện pháp hạn chế tai nạn xe mô tô, xe gắn máy, tai nạn đò ngang, tai nạn đường sắt; Triển khai rà soát, bổ sung hệ thống biển báo nguy hiểm, biển hạn chế tốc độ, biển chỉ dẫn đối với các đoạn tuyến đường do địa phương quản lý có nguy cơ mất an toàn giao thông; Huy động các nguồn lực để xử lý các điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông trên các tuyến đường do địa phương quản lý, đặc biệt là đoạn tuyến đi qua khu vực đèo dốc; xử lý ngay các sự cố sạt lở, hư hỏng đường do mưa lũ gây ra; có phương án tổ chức vận tải phù hợp, bảo đảm năng lực, chất lượng dịch vụ vận tải và tuân thủ nghiêm quy định về phòng chống dịch bệnh COVID-19 trong dịp nghỉ Lễ 2/9 và khai giảng năm học mới.

    Sở GTVT các tỉnh thành phải chỉ đạo các đơn vị kinh doanh vận tải tuân thủ tuyệt đối quy định về phòng chống dịch bệnh COVID-19, đồng thời thực hiện nghiêm quy định pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông, chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn giao thông. Các Sở GTVT chú trọng việc các hãng vận tải việc bố trí đủ lái xe, không để xảy ra vi phạm về thời gian lao động của lái xe; thực hiện theo dõi hoạt động của lái xe, phương tiện qua thiết bị giám sát hành trình. Đồng thời các Sở GTVT phải thường xuyên thanh, kiểm tra, không để lái xe vi phạm về nồng độ cồn, ma túy, chở quá số người, tăng giá vé trái quy định; Chỉ đạo các đơn vị quản lý bến xe kiểm tra điều kiện an toàn của người lái phương tiện trước khi xuất bến, nhắc nhở hành khách thắt dây an toàn khi ngồi trên phương tiện; Chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng của Tổng cục Đường bộ Việt Nam để quản lý hoạt động của phương tiện (về tốc độ, hành trình hoạt động, thời gian lái xe liên tục và thời gian làm việc trong ngày của lái xe thông qua trích xuất dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình xe ô tô) để xử lý vi phạm theo quy định.

    “Các đơn vị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình tổ chức triển khai kịp thời, thường xuyên kiểm tra công tác phục vụ vận tải, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9/2020; công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân về tình hình trật tự an toàn giao thông; Kịp thời chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan chức năng để giải quyết, khắc phục các sự cố, tai nạn xảy ra”, Thứ trưởng Lê Đình Thọ yêu cầu./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Văn Hóa Giao Thông Trong Quân Đội
  • Nâng Cao Các Giải Pháp Đảm Bảo Ttatgt Cho Học Sinh Tới Trường
  • Đảm Bảo Atgt Cho Học Sinh Đến Trường
  • Triển Khai Các Giải Pháp Đảm Bảo Atgt Cho Xe Đưa Đón Học Sinh
  • Tăng Cường Giải Pháp Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông Đường Bộ Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50