Top 5 # Giải Pháp Của Bùng Nổ Dân Số Địa 11 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Bùng Nổ Dân Số Và Dân Số Già

BÀI NGHIÊN CỨU – THUYẾT TRÌNH CHUYÊN KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

BỘ MÔN: CÁC VẤN ĐỀ TOÀN CẦU.

ĐỀ TÀI:

BÙNG NỔ DÂN SỐ VÀ DÂN SỐ GIÀ – TÁC ĐỘNG CỦA VẤN ĐỀ TRONG QHQT VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT.

.

.

A-Tác động của dân số ( bùng nổ dân số và dân số già) đến QHQT: 1-Thúc đẩy hợp tác quốc tế và hình thành tư duy toàn cầu: Có thể thấy, bùng nổ dân số và dân số già thật sự là một vấn đề cần nhận được sự quan tâm sâu rộng của toàn thể các quốc gia, tổ chức, đoàn thể cũng như các cá nhân trên thế

1

Trích trong “Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” – chúng tôi Nguyễn Trọng Chuẩn.

.

.

.

B-Những giải pháp cho vấn đề bùng nổ dân số và dân số già trên thế giới hiện nay: 1-Đối với vấn đề bùng nổ dân số: Tình trạng bùng nổ dân số thực sự đã gióng lên hồi chuông báo động cho toàn nhân loại. Câu hỏi đặt ra lúc này là “Làm thế nào để ngăn chặn cũng như làm giảm sự gia tăng dân số trong thời gian sắp tới???”. Đây cũng chính là những gì mà toàn nhân loại đang hướng tới. Có nhiều biện pháp được đưa ra, nhiều phương thức được áp dụng đã mang lại hiệu quả cho thực trạng này. Trong hàng loạt biện pháp, có thể kể ra ở đây những biện pháp tối ưu nhất mà các quốc gia cũng như các khu vực có thể áp dụng để làm giảm độ nóng của gia tăng dân số. – Với những khu vực có sự tăng trưởng mạnh mẽ về dân số như châu Phi; một số nước châu Á và một số khu vực khác thì biện pháp nên làm ngay là phối hợp với các tổ chức thế giới (UNFPA, UNICEFT) trong chương trình vận động toàn dân nhận thức rõ tác hại cũng như những mặt trái của việc gia tăng dân số quá nhanh, chỉ rõ những tác động xấu của bùng nổ dân số đến y tế, giáo dục, lương thực, thực phẩm, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh dẫn đến tỷ lệ tử vong tăng cao. Cần phải hướng ý thức của người dân tại các nước này tới những nguy hại của bùng nổ dân số ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ. – Tuyên truyền phổ biến rộng rãi tác hại của vấn đề bùng nổ dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng. Giáo dục ý thức của người dân thông qua những khẩu hiệu thiết thực. Chỉ rõ những lợi ích cũng như thuận lợi do việc có ít con đem lại. – Hợp tác quốc tế – Hội nghị quốc tế bàn và cùng giúp đỡ nhau vượt qua khủng hoảng về bùng nổ dân số. Kêu gọi những nỗ lực chung từ các quốc gia trong việc làm giảm sự tăng dân số. Xây dựng những chiến lược cho vấn đề giảm dân số nhằm hoạch định chính sách cho các quốc gia dựa trên đặc thù riêng của mình, đồng thời là nền tảng cho các dự án của các tổ chức quốc tế về vấn đề dân số. – Nâng cao khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ về sức khỏe, bao gồm kế hoạch hóa gia đình. – Cho các cặp vợ chồng quyền được quyết định số con mà mình muốn.

.

– Mở rộng hơn nữa các cơ hội về giáo dục, nâng cao hiểu biết cho con người, một thực tế chứng minh rằng những người phụ nữ và nam giới được giáo dục có xu hướng muốn một gia đình nhỏ hơn. – Cải thiện tình trạng trẻ em bị chết sau sinh: chỉ khi các cặp vợ chồng cảm thấy yên tâm về những đứa con mà mình sinh ra, về khả năng sống sót của chúng, các cặp vợ chồng mới sẵn sàng sinh ít con hơn. – Đầu tư cho phụ nữ: Mở rộng cơ hội cho những phụ nữ trẻ tuổi trong vấn đề nâng cao nhận thức, phụ nữ có học vấn sẽ có nhiều quyền lựa chọn hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và trong xã hội. Khi vai trò phụ nữ được tăng lên, tình trạng “trọng nam khinh nữ” cũng được khắc phục bởi đây chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến gia tăng dân số. – Giáo dục cho lứa tuổi vị thành niên ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhận thấy được mối đe dọa do sự bùng nổ dân số đem lại, đề cập đến các biện pháp về quan hệ tình dục an toàn, ngăn chặn vấn đề quan hệ tình dục quá sớm ở lứa tuổi này. Trên thế giới hiện nay, nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên đang là một vấn nạn ở hầu hết các quốc gia.

* Giải pháp cụ thể đối với các quốc gia trên thế giới hiện nay: – Các nhà chức trách phải phối hợp với tổ chức dân số thế giới để điều chỉnh mức tăng dân số các nước về mức cân bằng. – Cần củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình ở các cấp. – Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền với nội dung và hình thức phù hợp với từng vùng, từng nhóm dân cư…nhằm giảm gia tăng dân số. – Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.

.

– Tạo môi trường tâm lý, xã hội tích cực thúc đẩy phong trài thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. – Cán bộ nhà nước đi đầu, gương mẫu trong công tác dân số. – Bản thân mỗi công dân cần có nhận thức đầy đủ về vấn đề dân số, sự gia tăng dân số chóng mặt và tác hại của nó, để có thể phòng tránh sự bùng nổ dân số, gia tăng chất lượng dân số để hạn chế tác hại của số lượng dân số khổng lồ. 2- Đối với vấn đề dân số già: Tuổi thọ trung bình của dân số toàn cầu đang ngày càng tăng cao, nguy cơ mà nhân loại phải đối mặt với thực trạng này là sự thiếu hụt nguồn lao động. Hiện nay thì tình trạng này đã xảy ra tại châu Âu và những khu vực phát triển, tỷ lệ người thất nghiệp cao nhưng tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động lại rất thấp. Khoa học – công nghệ phát triển đòi hỏi con người tiếp xúc nhiều hơn với quá trình hiện đại hóa trong công nghiệp, và hơn hết, nguồn lao động trẻ mới thực sự là những người làm chủ những trang thiết bị máy móc hiện đại. Đòi hỏi đặt ra lúc này là làm sao để giảm thiểu tối đa tình trạng dân số trên thế giới và tăng cường bổ sung lại nguồn lao động trẻ? Để trả lời câu hỏi này, cần phải đi vào giải pháp cụ thể cho vấn đề đó. Trước hết là việc phải giảm tình trạng dân số già. Sự gia tăng đột biến tỷ lệ dân số già đang là một thách thức với nhân loại. Nhất là tại những quốc gia phát triển thịnh vượng như Nhật Bản (tỷ lệ dân số già cao nhất thế giới), Ý, Anh, Pháp, Mỹ, biện pháp cụ thể với các quốc gia này: -Cần có các chính sách khuyến khích sinh sản ở độ tuổi phù hợp. -Hạn chế việc lập gia đình và sinh con muộn. -Tuyên truyền nâng cao ý thức hệ của người dân về sự đóng góp của sinh sản theo kế hoạch đối với lợi ích quốc gia và thề giới. -Chính phủ có những chính sách thúc đẩy tỷ lệ sinh như: chính phủ Hàn Quốc đã có những hình thức khích lệ về mặt tài chính dành cho những phụ nữ sinh con hay những bà mẹ đang đi làm; Nhật Bản cho phép người nước ngoài nhập cư để giảm dân số già và nâng cao tỷ lệ kết hôn. -Hạn chế tình trạng nạo phá thai.

.

C-Liên hệ với thực tế tại Việt Nam hiện nay: Nước ta là một nước nhỏ, lại vừa trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ trong thế kỷ XX và giành độc lập thống nhất nước nhà mới được hơn 30 năm. Chừng ấy thời gian là chưa đủ để Việt Nam có thể khắc phục hết những di chứng của chiến tranh và vươn lên phát triển. Tuy nhiên nhờ công cuộc đổi mới 1986, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước, nước ta đã từng bước vươn lên khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế và trở thành một quốc gia đang trên đà phát triển. Nhưng cũng chính vì điều này mà Việt Nam cũng đã không phải là một ngoại lệ khi trở thành “nạn nhân” của những vấn đề toàn cầu trong

.

đó có dân số. Những năm cuối của thế kỷ XX trở về trước, tốc độ gia tăng dân số ở nước ta thuộc hàng cao nhất thế giới. Sự bùng nổ dân số ở Việt Nam đã tác động rất nhiều đến đời sống xã hội của người dân. Đặc biệt khi nước ta có tới hơn 80% dân số sống bằng nông nghiệp thì sự bùng nổ dân số kéo theo việc ảnh hưởng đến diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người ngày một giảm đi. Chính phủ và nhà nước đã rất cố gắng để ổn định sự gia tăng dân số. Và cơ bản cho đến thời điểm này, dân số Việt Nam đã đi vào quỹ đạo ổn định và cũng có dấu hiệu tích cực khi tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử đang giảm đi đáng kể. Kết quả đó một phần là nhờ vào chính sách hợp lý của nhà nước, ý thức của người dân trong vấn đề này ngày càng được cải thiện và nâng cao, làm tốt công tác tuyên truyền. Nước ta cũng hết sức tạo điều kiện cho các tổ chức tình nguyện về vấn đề dân số và trẻ em đến hoạt động tại Việt Nam trong đó đáng kể nhất là: Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA)…với hàng loạt những hành động biện pháp giúp đỡ chính phủ ta thông qua các dự án về xóa đói giảm nghèo, về giáo dục…

D-Kết luận: Khi mà nguồn tài nguyên trên trái đất đang ngày một cạn kiệt, việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên này luôn là vấn đề tối quan trọng đối với sự tồn vong của con người. Dân số toàn cầu bùng nổ tạo nển yêu cầu phải kìm hãm đà tăng dân số. Mặt khác, việc kiềm chế tình trạng dân số già ở các nước phát triển cũng là vấn đề cấp bách. Bùng nổ dân số và Dân số già là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn tới quan hệ quốc tế trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hoá. Như vậy, việc lựa chọn một giải pháo thích hợp để đạt được hiểu quả mong muốn, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ đối với cân bằng xã hội, chất lượng dân số là một câu truyện dài kỳ. Giải pháp tối ưu cần có sự đóng góp tích cực của các nhà chuyên môn để có thể áp dụng trên phạm vi toàn cầu, giúp nhân loại hướng tới một kỷ nguyên văn minh.

.

3. Vương Dật Châu (Chủ biên), An ninh Quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004 4. Smair & Francois Houtart (Chủ biên), Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2002, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004. 5. http://www.wikipedia.com

Hậu Quả Của Bùng Nổ Dân Số

Dân số tăng kéo theo ba nạn đói: đói ăn, đói việc và đói chữ, khiến người dân phải sống trong cảnh nghèo khó, thiếu việc làm, dốt nát nhanh và theo đó là bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc, khủng bố,….Dễ thấy khi dân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn, và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, kể cả phạm tội. Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quá nhiều dẫn tới việc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các cuộc xung đột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả khôn lường.

Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp. Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnh hưởng tới sự tồn vong của nhân loại, chính vì vậy, không còn gì nghi ngờ nữa, vấn đề bùng nổ dân số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới tương lai của cả nhân loại.

Việc di cư từ nông thôn ra thành thị một mặt thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nhưng mặt khác lại gây áp lực rất lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội , nhà ở, môi trường… ở các đô thị lớn. Tình trạng kẹt xe, ô nhiễm đã diễn ra ngày càng nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội.

Mặc dù nguồn lao động hiện đang dồi dào và được gọi là ‘dân số vàng’ nhưng vấn đề này cũng tạo ra thách thức lớn về việc làm, an sinh xã hội cũng như tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Có nhiều biện pháp được đưa ra, nhiều phương thức được áp dụng đã mang lại hiệu quả cho thực trạng này. Trong hàng loạt biện pháp, có thể kể ra ở đây những biện pháp tối ưu nhất có thể áp dụng để làm giảm độ nóng của gia tăng dân số.

Một trong những biện pháp phổ biến và hiệu quả nhất là tuyên truyền rộng rãi tác hại của vấn đề bùng nổ dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục ý thức của người dân thông qua những khẩu hiệu thiết thực, chỉ rõ những lợi ích cũng như thuận lợi do việc có ít con đem lại.

Bên cạnh đó, việc nâng cao khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ về y tế, bao gồm kế hoạch hóa gia đình, cải thiện tình trạng trẻ em bị chết sau sinh và các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe vì chỉ khi các cặp vợ chồng cảm thấy yên tâm về những đứa con mà mình sinh ra, về khả năng sống sót của chúng, các cặp vợ chồng mới sẵn sàng sinh ít con hơn; mở rộng hơn nữa các cơ hội về giáo dục, nâng cao hiểu biết cho con người là những nhân tố đóng góp không nhỏ trong việc cải thiện bùng nổ dân số. Một thực tế chứng minh rằng những người phụ nữ và nam giới được giáo dục có xu hướng muốn một gia đình nhỏ hơn. Khi vai trò phụ nữ được tăng lên, tình trạng “trọng nam khinh nữ” cũng được khắc phục bởi đây chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến gia tăng dân số. Vì vậy việc đầu tư cho phụ nữ cả về trang bị kiến thức lẫn nâng cao vai trò của người phụ nữ, tạo sự bình đẳng nam – nữ là không thể thiếu nếu muốn tình trạng gia tăng dân số được cải thiện.

Giáo dục cho lứa tuổi vị thành niên về giới tính, về tình dục an toàn là một điều đáng được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có tỷ lệ sinh cao. Bởi hiện nay tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên đang là một vấn nạn ở hầu hết các quốc gia.

Hiện nay, lực lượng dân số trong độ tuổi lao động, đặc biệt lực lượng thanh niên có vai trò và trách nhiệm rất to lớn trong vấn đề bùng nổ dân số vì chính họ là những người trong độ tuổi sinh sản, nhận thức và hành động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng dân số toàn cầu. Trong hàng loạt vấn đề đặt ra đối với thanh niên hiện nay thì vấn đề bùng nổ dân số và các hệ lụy do nó gây ra là một trong những vấn đề quan trọng, cần được quan tâm hàng đầu.

Với sức trẻ và tinh thần xung kích, sẵn sàng đi tiên phong trong những công việc khó khăn, thanh niên chính là lực lượng nòng cốt tham gia giải quyết vấn đề bùng nổ dân số một cách trực tiếp và gián tiếp.

Với vai trò là những người trực tiếp trong độ tuổi sinh sản, lực lượng thanh niên cần nhận thức rõ vai trò của mình trong vấn đề này. Nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên là phải học tập, nâng cao hiểu biết của bản thân về thực trạng bùng nổ dân số và những hậu quả to lớn của nó trên qui mô toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó có nhận thức và hành động đúng đắn góp phần giải quyết vấn đề này; phải thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân số cũng như những chính sách xã hội về lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; không ngừng phấn đấu cải thiện mức sống, kinh tế gia đình từ đó góp phần xây dựng xã hội giàu đẹp, văn minh, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Điều này gián tiếp nâng cao chất lượng dân số cũng như đời sống vật chất, tinh thần cho từng người dân.

Ngoài ra, lực lượng thanh niên có thể gián tiếp đóng góp thực hiện mục tiêu chung của quốc gia cũng như thế giới thông qua những việc làm cụ thể như: tham gia tuyên truyền phổ biến rộng rãi tác hại của vấn đề bùng nổ dân số, góp phần giáo dục ý thức người dân và cả cộng đồng về các biện pháp giảm tỷ lệ sinh; chung tay cùng cộng đồng thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vai trò của người phụ nữ, giúp họ có nhiều quyền lựa chọn hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và trong xã hội; từng bước xóa bỏ tình trạng “trọng nam khinh nữ” – cũng chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến gia tăng dân số; góp sức cùng cộng đồng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em – thế hệ tương lai, những mầm non của đất nước, nhờ đó các thế hệ mai sau của đất nước ngày một khỏe mạnh.

Trung tâm Dân số – KHHGĐ huyện

Khi Đại Dịch Làm Bùng Nổ Dân Số

Hành khách đeo khẩu trang phòng lây nhiễm COVID-19 tại Jakarta, Indonesia. Ảnh: AFP/TTXVN

Giới chức Indonesia đang lo lắng về một hậu quả của lệnh phong tỏa nhằm kiểm soát dịch COVID-19: các ca mang thai ngoài ý muốn và sự bùng nổ dân số sau đại dịch.

Trong tháng 4, khi người dân Indonesia phải ở nhà chống dịch, khoảng 10 triệu cặp vợ chồng đã ngừng sử dụng biện pháp tránh thai, theo thống kê của Cơ quan Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Indonesia. Nhiều phụ nữ không thể tiếp cận các biện pháp tránh thai, đơn giản vì các cơ sở cung cấp dịch vụ đã phải đóng cửa vì đại dịch. Những người khác không muốn mạo hiểm đến các phòng khám và bệnh viện vì sợ lây nhiễm virus SARS-CoV-2. Giới chức Indonesia đang dự báo một làn sóng sinh con ngoài kế hoạch vào năm tới, phần nhiều trong đó là ở các gia đình nghèo.

Lana Mutisari, một phụ nữ 36 tuổi đã lập gia đình ở ngoại ô Jakarta, chia sẻ cô rất lo lắng về việc rời khỏi nhà, đặc biệt là đến bệnh viện, và đã hoãn nhiều cuộc hẹn đặt vòng tránh thai.

Chuyên gia sản khoa Hasto Wardoyo, Giám đốc Cơ quan Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Indonesia, ước tính quốc gia đông dân thứ tư thế giới này có thể có thêm 370.000 đến 500.000 ca sinh con ngoài ý muốn vào đầu năm tới.

Khoảng 50% số phụ nữ Indonesia sử dụng biện pháp tránh thai lựa chọn phương án tiêm hormone, tức là phải tiến hành tiêm hằng tháng hoặc ba tháng một lần. Ngoài ra, có 20% sử dụng thuốc tránh thai, mà nữ giới có thể đến nhận hằng tháng tại các cơ sở phân phối của chính phủ. Tính định kỳ này đã bị gián đoạn do đại dịch COVID-19.

Một nghiên cứu gần đây của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) nhấn mạnh rằng nếu phong tỏa liên tục trong 6 tháng gây gián đoạn các dịch vụ y tế cũng như các chuỗi cung ứng toàn cầu, khoảng 47 triệu phụ nữ ở các nước thu nhập thấp và trung bình có khả năng không thể tiếp cận các biện pháp tránh thai, dẫn đến 7 triệu ca mang thai ngoài ý muốn. UNFPA cũng ước tính có 31 triệu trường hợp bạo lực giới mà nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái.

Đáng báo động hơn, sự gián đoạn các chương trình dân số của UNFPA còn có nguy cơ dẫn đến 2 triệu trường hợp trẻ em gái, phần lớn ở các nước châu Phi nghèo đói, bị cắt bỏ bộ phận sinh dục và 13 triệu trường hợp tảo hôn trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2030, mà đáng ra có thể được ngăn chặn. Đại dịch đang tấn công mạnh vào các nhóm cộng đồng dễ bị tổn thương, làm gia tăng sự bất bình đẳng và đe dọa đẩy lùi các nỗ lực “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong chiến lược phát triển bền vững về dân số.

Theo UNFPA, tốc độ gia tăng dân số thế giới rất cao, bình quân 1 phút có 272 trẻ em được sinh ra; 1 giờ đồng hồ có trên 16.300 trẻ em ra đời, mỗi ngày có thêm 393.000 trẻ em, mỗi năm thế giới tăng thêm 87 triệu người. Đáng lưu ý, dân số cứ thêm 100 người thì có tới 97 người sinh ra tại các quốc gia kém phát triển, dẫn tới khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội đang ngày càng gia tăng.

Trong khi dân số thế giới nói chung tiếp tục tăng, sự tăng trưởng này không đồng đều và cũng mang lại những hệ quả không cân bằng. Đối với nhiều quốc gia kém phát triển, nhất là ở châu Phi và châu Á, những thách thức đối với phát triển bền vững chủ yếu xuất phát từ tình trạng gia tăng dân số nhanh chóng cũng như dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Một số quốc gia phát triển lại đang đối mặt với thách thức của dân số già, bao gồm nhu cầu thúc đẩy lối sống cao tuổi tích cực lành mạnh và cung cấp bảo vệ xã hội đầy đủ.

Tình trạng gia tăng dân số thiếu bền vững có ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống con người, tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. UNFPA đã kêu gọi kiểm soát sự gia tăng dân số trên phạm vi toàn cầu và xây dựng tầm nhìn chiến lược về chất lượng dân số.

Đại dịch COVID-19 đang trở thành thách thức đối với chiến lược phát triển dân số bền vững ở những quốc gia như Indonesia. Trong tháng 3 vừa qua, khoảng 10% trong tổng số 28 triệu người thuộc chương trình kế hoạch hóa gia đình tại nước này đã gặp khó khăn trong việc tiếp cận các biện pháp kiểm soát sinh sản. Ước tính, việc giảm sử dụng các biện pháp tránh thai trong vòng một tháng có thể khiến tỷ lệ mang thai tại Indonesia tăng thêm 15% trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 tháng, tương đương khoảng 420.000 em bé. Nếu tình trạng trên kéo dài 3 tháng, tỷ lệ mang thai sẽ tăng thêm 30% trong các tháng tiếp đó.

Chuyên gia sản khoa Hasto Wardoyo cảnh báo, việc thiếu các biện pháp kiểm soát sinh có thể kéo theo các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, gây tổn hại tâm lý cho các bà mẹ và các hậu quả lâu dài khác, như tình trạng chậm phát triển ở trẻ sơ sinh tại các gia đình nghèo. Nghiêm trọng hơn, nhiều phụ nữ mang thai ngoài ý muốn sẽ tìm đến phá thai và đối mặt với nguy cơ tử vong.

Giới chuyên gia cũng cảnh báo tại các nước nghèo, tại những vùng sâu vùng xa còn khó khăn, đại dịch là “thời điểm tồi tệ” để phụ nữ mang thai do nhiều người không thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp và đầy đủ, khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang bị gián đoạn.

Indonesia, quốc gia đông dân nhất trong các thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đã sửa đổi một số quy định để cho phép cung cấp các biện pháp tránh thai tại nhà, và cho phép phụ nữ có thể nhận lượng thuốc tránh thai cho hơn một tháng. Từ tháng 4, nhiều nhóm y bác sĩ đã tới từng điểm dân cư để cung cấp những biện pháp tránh thai tận nơi cho người dân, cùng với nguồn cung cấp thực phẩm khẩn cấp. Đó chỉ là một trong những biện pháp mà Indonesia thực hiện để bảo đảm quyền và sức khỏe sinh sản của phụ nữ trong thời kỳ đại dịch vẫn đang hoành hành.

25 năm trước, tại Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) ở Cairo, các nhà lãnh đạo thế giới lần đầu tiên nêu bật mối quan hệ giữa dân số, phát triển và quyền con người. Từ đó, cộng đồng quốc tế đã đi tới một nhận thức chung rằng thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó bao gồm bảo vệ quyền và sức khỏe nữ giới, là một trong những con đường đáng tin cậy nhất để phát triển bền vững và cải thiện hạnh phúc cho tất cả mọi người. Trong bối cảnh đại dịch, bảo vệ quyền và sức khỏe của phụ nữ và trẻ em gái cũng chính là cách để đảm bảo duy trì động lực đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.

Việt Nam Sắp Vào Thời Kỳ “Bùng Nổ Dân Số”

(Dân trí) – Các chuyên gia đang lo ngại về làn sóng bùng nổ dân số lần 2 tại Việt Nam, do số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 14-49 tuổi tăng nhanh. Tính đến thời điểm này, cứ 2 phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ mới có 1 người ra khỏi độ tuổi này.

Ông Đồng Bá Hướng, Vụ trưởng Vụ Thống kê, Dân số và Lao động (Tổng cục Thống kê) cho biết thông tin trên tại buổi họp báo nhân Ngày dân số thế giới diễn ra sáng nay tại Hà Nội.

 Theo đó, con số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đang tăng rất nhanh. Nếu năm 1989, cả nước chỉ có 17 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thì 10 năm sau, con số này đã là 22 triệu và năm 2009 đã có tới 26 triệu. Đây là lý do các chuyên gia đang rất lo ngại về làn sóng bùng nổ dân số lần 2 nếu chính sách dân số bị lơ là.

Một vấn đề khác mà các chuyên gia lo ngại, đó là tình trạng mất cân bằng giới vẫn tiếp tục gia tăng đến mức báo động ở Việt Nam. Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam liên tục tăng, ít nhất trong 5 năm qua. Trong 6 vùng địa lý thì có tới 5 vùng tỷ số giới tính chênh lệch đã ở mức báo động. Như Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung, tỷ lệ này là 109,7 bé trai/100 bé gái; Đông nam bộ tỷ lệ này là 109,9/100; Đồng bằng sông Cửu Long là 109,9/100; cá biệt là vùng Đồng bằng sông Hồng mức chênh lệch giới cao nhất là 115,5 nam/100 nữ.

Ông Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) cho biết, tuy tỷ lệ chênh lệch giới tại Việt Nam vẫn còn thấp hơn so với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ nhưng tỷ lệ tăng lại nhanh nhất, đặc biệt trong 5 năm vừa qua. Theo dự báo, nếu Việt Nam không có biện pháp can thiệp thì tỷ số này sẽ tăng lên con số 115 vào năm 2015.

Các chuyên gia cho rằng, để hạn chế mất cân bằng giới tính, việc “khai thông” tư tưởng, để người dân không còn tâm lý trọng nam khinh nữ là rất quan trọng. Nhưng để làm được vấn đề này, không chỉ ngày một ngày hai mà cần cả quá trình lâu dài.

Hồng Hải