Cần Có Những Giải Pháp Cụ Thể Để Giải Quyết Việc Làm

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Để Tránh Gia Tăng Dân Số
  • Nêu Nguyên Nhân Hậu Quả Biện Pháp Của Sự Di Dân Ở Đới Nóng? Sự Gia Tăng Dân Số Gây Sức Ép Gì ? Câu Hỏi 55305
  • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
  • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • (GLO)- Những năm qua, công tác giải quyết việc làm của tỉnh ta đã đạt được những kết quả khả quan. Hàng năm, bình quân toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho khoảng 24.000 lao động bước vào độ tuổi lao động. Tuy nhiên, thực tế con số này chưa đánh giá thực chất tình hình lao động được giải quyết việc làm mới hàng năm của tỉnh.

    Giải quyết việc làm là biện pháp hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo việc làm cho người lao động. Trên thực tế, tỷ lệ lao động thất nghiệp trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 4,7% (năm 2003) xuống còn 2,7% (năm 2014). Số lao động được tạo việc làm hàng năm luôn tăng: nếu năm 2003 toàn tỉnh mới giải quyết việc làm cho lao động bước vào độ tuổi lao động là 17.000 người thì đến cuối năm 2014 số lao động được giải quyết việc làm mới là 24.000 người. Hiện nay, tỷ lệ lao động không có việc làm rất thấp. Bên cạnh đó, trình độ lao động bước vào độ tuổi lao động ngày càng được nâng cao, nhờ đó thu nhập ngày công của người lao động cũng được nâng cao.

    Ảnh: Đinh Yến

    Có việc làm và tăng thu nhập sẽ giúp người lao động có khả năng đáp ứng những nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần, giúp người lao động tiếp cận được với cơ sở y tế, giáo dục với chất lượng tốt, nâng cao vị thế trong xã hội, hòa nhập với môi trường xung quanh. Tuy nhiên, những năm qua, thống kê số người lao động bước vào độ tuổi lao động được giải quyết việc làm mới chỉ mang tính chung chung chưa sát thực tế, bởi khó có thể đánh giá con số chính xác lao động hàng tháng và hàng năm được giải quyết việc làm mới là bao nhiêu, chúng ta chỉ có thể đánh giá con số cụ thể lao động thất nghiệp, vì số lao động thất nghiệp hiện nay đang được Nhà nước hỗ trợ chi trả tiền trợ cấp thất nghiệp. “Vì việc đánh giá số lao động được giải quyết việc làm hàng năm có lẽ là chưa đúng với thực tế, do đó, trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV không còn đề cập đến chỉ tiêu giải quyết việc làm hàng năm”-ông Đinh Xuân Lịch-Trưởng phòng Lao động Việc làm-Sở Lao động-Thương binh và Xã hội cho biết.

    Trong thời gian tới, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội xác định công tác giải quyết việc làm là một trong 10 nhóm nhiệm vụ chính. Tuy nhiên, để công tác này đi vào thực chất, tỉnh cần tiếp tục có những cơ chế chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động gắn với quy hoạch kinh tế-xã hội, các chương trình phát triển kinh tế, ngành nghề và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương.

    Cụ thể, mục tiêu từ nay đến năm 2022, toàn tỉnh vẫn cần tiếp tục phấn đấu bình quân mỗi năm giải quyết việc làm mới cho trên 24.000 lao động bước vào độ tuổi lao động. Để thực hiện đạt mục tiêu, ông Lê Văn Thành-Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, đề xuất: Giải pháp quan trọng nhất cần tập trung thời gian tới là tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển thị trường lao động cạnh tranh và chất lượng cao. Vì chất lượng lao động là một trong những điều kiện để có thể cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Chất lượng lao động thể hiện ở nhiều khía cạnh: thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật và người lao động cũng cần phải hiểu pháp luật, tinh thần chấp hành kỷ luật, văn hóa ứng xử trong công việc mang tính chuyên nghiệp cao. Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhằm giúp người lao động có khả năng nắm bắt được cơ hội việc làm, đáp ứng yêu cầu công việc và ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động.

    Đi đôi với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì việc phát triển mạng lưới dạy nghề gắn với nâng cao chất lượng dạy nghề, giải quyết việc làm và thực hiện xã hội hóa công tác dạy nghề cũng rất quan trọng. Theo đó, tỉnh cần phát huy hơn nữa hiệu quả sàn giao dịch việc làm và các phiên giao dịch việc làm lưu động để tạo cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tập trung một số nước truyền thống, như: Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào và Campuchia. Bên cạnh đó cần nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm thông qua vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Ban hành những chính sách khuyến khích xã hội hóa trong hoạt động giải quyết việc làm cho người lao động và tích cực đẩy mạnh việc xã hội hóa công tác đào tạo nghề đối với các đối tượng, như: thanh niên, lao động nông thôn, phụ nữ, lao động có điều kiện khó khăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Quyết Liệt Để Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Làm Gì Giúp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Tỉnh Quảng Nam, Hay
  • Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Nêu Những Biện Pháp Để Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Đối Với Con Người . Giúp Mình Với Mình Cần Gấp Câu Hỏi 775985
  • Nhiều Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Vài Giải Pháp Tăng Cường Giáo Dục Đạo Đức, Lối Sống Cho Học Sinh Hiện Nay
  • Skkn Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Qua Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Chống Đói Nghèo Cho “lục Địa Đen”
  • Vấn Đề Nghèo Đói Ở Châu Phi Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Giải quyết việc làm cho người lao động là tiêu chí quan trọng trong công tác giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Vì vậy, ngay từ đầu năm, nhiều giải pháp giảm nghèo đã được các ngành, địa phương triển khai.

    Gia đình anh Lê Trung Kiên (khu 8, phường Phong Hải, TX Quảng Yên) thuộc diện hộ cận nghèo. Đầu năm 2022 được Ngân hàng CSXH thị xã cho vay 50 triệu đồng, anh Trung đầu tư nuôi gà, lợn, kết hợp nuôi cá nước ngọt. Đến cuối năm 2022 gia đình anh Trung đã thoát cận nghèo. Anh tiếp tục được hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất. Hiện anh nuôi 500 con ngan, 300 con vịt đẻ trứng, đang có hướng đầu tư mở rộng sản xuất.

    Một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết việc làm là thực hiện tốt vốn vay từ Quỹ Quốc gia về việc làm. 9 tháng năm nay, Sở LĐ-TB&XH đã phối hợp với Ngân hàng CSXH Quảng Ninh triển khai hỗ trợ vay vốn tạo việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm cho 2.819 dự án, với doanh số 131,5 tỷ đồng, 3.341 lao động được hỗ trợ tạo việc làm. Việc sử dụng vốn vay giải quyết việc làm được Ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả.

    Trung tâm Dịch vụ việc làm (Sở LĐ-TB&XH) tham gia phiên giao dịch việc làm online với 10 tỉnh phía Bắc, tháng 8/2019.

    Bên cạnh đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, đang được một số địa phương trong tỉnh quan tâm triển khai. Tiêu biểu, huyện Hải Hà đã chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn, phối hợp cùng MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội đẩy mạnh tuyên truyền, tư vấn việc làm, định hướng cho người lao động về nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp. Các lớp đào tạo nghề luôn bám sát nhu cầu của xã hội và của doanh nghiệp. Đối với các hộ dân trong diện GPMB, các xã phát triển du lịch, đào tạo hướng vào các nghề: Chế biến món ăn, lái xe phục vụ khu du lịch, các dịch vụ, khu công nghiệp… Với những người làm nông nghiệp, huyện định hướng cho họ tham gia các lớp đào tạo nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả, chăn nuôi… Qua các lớp dạy nghề, nhiều lao động đã tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập ổn định tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mở rộng quy mô sản xuất.

    Với vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp với người lao động, Sở LĐ-TB&XH đã phối hợp với các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong các khu công nghiệp; phối hợp với địa phương tổ chức 3 phiên giao dịch việc làm lưu động tại TX Quảng Yên, TP Móng Cái, huyện Bình Liêu. Sở cũng đã triển khai kịp thời các chương trình xuất khẩu lao động do Bộ LĐ-TB&XH chủ trì, như chương trình tuyển chọn ứng viên đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản.

    Từ những việc làm trên, 9 tháng năm 2022, Quảng Ninh đã giải quyết việc làm cho khoảng 25.000 lao động, trong đó tạo việc làm tăng thêm khoảng 14.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 79%.

    Sản xuất sợi tại Công ty Texhong Ngân Long (Khu công nghiệp Hải Yên, TP Móng Cái).

    Ông Phạm Ngọc Khánh, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh, cho biết: Thời gian qua, số doanh nghiệp thành lập mới trên địa bàn tỉnh tăng nhanh. Tuy nhiên, thực trạng nguồn lao động của Quảng Ninh hiện không đáp ứng đủ nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Xác định rõ nhiệm vụ này, từ đầu năm, Trung tâm đã chủ động trong việc xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực, nhân lực phù hợp để triển khai, đề ra các giải pháp, như, đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm duy trì hoạt động sàn giao dịch việc làm cố định tại các địa điểm; bố trí lại nhân sự, xác định các bước, quy trình tư vấn, tổ chức hoạt động sàn giao dịch việc làm để việc thực hiện ngày càng chuyên nghiệp hơn. Trung tâm cũng đẩy mạnh kết nối online các điểm tổ chức sàn giao dịch việc làm định kỳ với trung tâm 10 tỉnh khu vực phía Bắc. Từ đầu năm đến nay Trung tâm đã tư vấn việc làm cho hơn 4.500 lượt lao động; giới thiệu việc làm cho hơn 2.800 lượt lao động.

    Các giải pháp trên đã góp phần đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất trên địa bàn tỉnh; thúc đẩy thị trường lao động của tỉnh ngày càng phát triển.

    Hiểu Trân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hà Nội: Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Trong Năm 2022
  • Chuyên Đề Giữ Vững Và Phát Huy Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ” Trong Thời Kỳ Mới
  • Tiếp Tục Phát Huy Phẩm Chất “bộ Đội Cụ Hồ” Trong Thời Kỳ Mới
  • Phát Huy Phẩm Chất “bộ Đội Cụ Hồ” Trong Phòng, Chống Dịch Covid
  • Giữ Gìn Và Phát Huy Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ Thời Kỳ Mới
  • Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Việc Làm Ở Nước Ta Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Và Tăng Thu Nhập Cho Người Lao Động Ở Khu Vực Nông Thôn Tỉnh Thái Nguyên
  • Giải Pháp Đột Phá Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên
  • Chính Sách Giải Quyết Việc Làm
  • An Giang: Nhiều Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Đô Thị Bền Vững Tại Việt Nam
  • – Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm và có mức tiền lương tốt hơn để tại mỗi mức lương thu hút được nhiều lao động hơn.

    – Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường lao động.

    Đối với loại thất nghiệp chu kỳ:

    – Cần áp dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để làm gia tăng tổng cầu nhằm kích thích các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động.

    – Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến phát triển kinh tế xã hội. Nền kinh tế sẽ phải từ bỏ những sản phẩm, dịch vụ mà những người công nhân bị thất nghiệp làm ra. Hơn nữa, đó còn là sự lãng phí to lớn nguồn nhân lực đang ở độ tuổi lao động và để tồn tại một lượng lớn người mất việc làm, để họ rơi vào tình cảnh nghèo khó sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Do đó, cần phải có những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ nạn thất nghiệp tiếp tục lan rộng.

    Những biện pháp khác

    – Cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì ở mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến doanh nghiệp và do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh đình đốn.

    – Thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp chấp nhận một mức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được ở những nơi có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động.

    – Đào tạo nghề cho bà con ở nông thôn đặc biệt là con cái của họ, khi diện tích đất sản xuất của họ bị thu hồi thì có thể dể dàng chuyển sang làm những ngành nghề khác.

    – Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là nơi mà không những giải quyết được tình trạng thất nghiệp ở trong nước mà còn thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia.

    – Chú trọng đầu tư cho giáo dục và đào tạo.

    – Hạn chế tăng dân số.

    – Khuyến khích sử dụng lao động nữ.

    – Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi do các đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ để tự tạo việc làm cho bản thân gia đình và công cộng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biện Pháp Nhằm Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Nhiều Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Tọa Đàm “làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Cho Xe Khách?”
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm Ở Nước Ta Hiện Nay​​​​​?

    --- Bài mới hơn ---

  • “công Thức” Cho Trường Học Hạnh Phúc
  • Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • 3 Tiêu Chí Cốt Lõi Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Học Hạnh Phúc Tại Trường Mẫu Giáo Quế Thuận
  • Sáu Biện Pháp Bảo Đảm An Toàn Giao Thông Ở Tuyên Quang
  • Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết theo hướng tuân theo quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa và thị trường lao động, góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển đạt đưọc những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

    Tuy nhiên, thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh:

    Ở khía cạnh cung – cầu lao động, việc làm mất cân đối lớn, cung lớn hơn cầu. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp, chỉ đạt trên, dưới 70%. Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động còn hạn chế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Tình trạng thiếu việc làm cao, chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó tận tâm với công việc.

    Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế. Sự kiểm soát, giám sát thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ. Chưa phát huy được vai trò của “tòa án lao động” trong giải quyết tranh chấp lao động. Cải cách hành chính hiệu quả thấp đối với bản thân người lao động và cả xã hội.

    Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp. Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao. Các văn bản của Nhà nước hướng dẫn thực hiện các luật về lao động, việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm minh, gây áp lực cho vấn đề giải quyết việc làm. Khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở những lĩnh vực yêu cầu lao động có trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đòi hỏi.

    Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém. Hệ thống thông tin thị trường lao động, việc làm chính thức chưa phát triển mạnh, chưa có các trung tâm giao dịch lớn đạt hiệu quả khu vực. Cả nước chỉ có khoảng 200 trung tâm và trên 3.000 doanh nghiệp giới thiệu việc làm, lại tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, song hoạt động chưa hiệu quả, chưa thường xuyên nên mới chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thông tin của người lao động tìm việc làm.

    Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước. Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập. Di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như “chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”…

    Phương hướng giải quyết vấn đề việc làm

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra mục tiêu: “Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động… Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/ năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%… Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài”.

    Kinh nghiệm 25 năm đổi mới cho thấy, muốn tạo nhiều việc làm và khả năng thu hút lao động lớn cần phải tăng cường đầu tư và mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ chế biến và dịch vụ phục vụ đời sống dân sinh.

    Giải quyết vấn đề lao động – việc làm phải đi đôi với cơ cấu lại nguồn lực lao động cả nước, phục vụ tốt yêu cầu từng bước tái cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình năng suất cao, tăng trưởng nhanh và bền vững. Đồng thời, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản và hữu hiệu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Biện Pháp “áp Giải”, “dẫn Giải” Trong Bltths Năm 2022
  • Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2022
  • Cách Hiểu Đúng Về “áp Giải” Và “dẫn Giải” Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Hiện Hành
  • Phân Biệt Áp Giải Với Dẫn Giải
  • Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Trách Nhiệm Của Nhà Nước Trong Vấn Đề Giải Quyết Việc Làm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Những Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Gia Tăng Dân Số Hiên Nay?
  • Sự Tăng Dân Số Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Chất Lượng Cuộc Sống? Ở Việt Nam Đã Có Biện Pháp Gì Để Giảm Sự Gia Tăng Dân Số Và Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống?
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • · Trong cơ chế thị trường, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động (NLĐ) và quyền tự do tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Nhà nước không và không thể trực tiếp sắp xếp việc làm cho từng người lao động như trong thời kỳ bao cấp mà bằng các chính sách vĩ mô, nhà nước chỉ tạo ra những cơ hội, những đảm bảo về mặt pháp lý và thực tiễn để NLĐ tìm được việc làm. BLLĐ cũng chỉ sử dụng thuật ngữ “chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển việc làm” để xác định trách nhiệm giải quyết việc làm của nhà nước được quy định như sau:

    · Thứ nhất, Nhà nước định ra chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm năm và hàng năm. Chỉ tiêu việc làm mới có thể hiểu là số lao động mới cần tuyển thêm vào làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế do nhu cầu mới thành lập hoặc mở rộng thêm về quy mô và các mặt hoạt động, sắp xếp lại lao động. Có thể nói, định ra chỉ tiêu việc làm mới là bước đầu tiên trong chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ. Dựa vào chỉ tiêu việc làm mới, nhà nước có thể đánh giá được cung – cầu của thị trường lao động. Từ đó, nhà nước có các kế hoạch phát triển kinh tế để tạo ra việc làm mới, đồng thời quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề để đảm bảo cầu đủ cho cung và cung đáp ứng được cầu.

    · Thứ hai, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo ra việc làm cho NLĐ. Để thực hiện chính sách này, Nhà nước đề ra hai giải pháp sau:

    · Một là, hỗ trợ NLĐ để họ tự tạo việc làm, hỗ trợ NLĐ tìm kiếm việc làm trong nước hoặc nước ngoài và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ.

    · Hai là, tạo điều kiện thuận lợi cho NSDLĐ phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo ra việc làm cho NLĐ bằng các biện pháp cụ thể.

    · Thứ ba, Nhà nước lập chương trình việc làm và quỹ Quốc gia về việc làm để hỗ trợ tạo ra việc làm cho NLĐ.

    · Chương trình việc làm có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định các chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ. Theo quy định của pháp luật, chương trình việc làm chỉ được thực hiện ở địa phương (cấp tỉnh).

    · Quỹ quốc gia về việc làm được thành lập để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

    · Thứ tư, Nhà nước cho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm.

    · Tổ chức dịch vụ việc làm có vai trò quan trọng trong việc làm cầu nối giữa NLĐ và NSDLĐ, để vận hành thị trường hàng hóa sức lao động. Việc nhà nước cho phép thành lập và phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm là một trong những giải pháp “cung” gặp đúng “cầu”, góp phần giải quyết việc làm cho NLĐ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bước Để Nắm Vững Kỹ Năng Giải Quyết Vấn Đề Mà Bạn Cần Biết
  • Tiểu Luận Phân Tích Các Biện Pháp Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Để Duy Trì Sĩ Số Và Đảm Bảo Chuyên Cần Ở Học Sinh Bậc Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Góp Phần Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Cấp Tiểu Học
  • Công Văn 317/cctthc Về Hướng Dẫn Biện Pháp Đơn Giản Hóa Thủ Tục Hành Chính Do Tổ Công Tác Chuyên Trách Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Của Thủ Tướng Chính Phủ Ban Hành
  • Nghiên Cứu, Tìm Hiểu Kinh Nghiệm Giải Quyết Vấn Đề Lao Động, Việc Làm

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Tốt Công Tác Tham Mưu, Phục Vụ Cấp Ủy Trong Tình Hình Mới
  • Văn Phòng Tỉnh Ủy Nâng Cao Vai Trò, Trách Nhiệm Tham Mưu Phục Vụ Lãnh Đạo Tỉnh Ủy
  • Nâng Cao Chất Lượng Quản Trị Văn Phòng Thời Công Nghiệp 4.0
  • Đề Tài Công Tác Quản Trị Văn Phòng Với Việc Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Tỉnh Quảng Bình
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Tại Trường Thpt Lê Hồng Phong
  • TÓM TẮT:

    Sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (AEC), tỉnh Quảng Bình đã rất quan tâm giải quyết vấn đề lao động, việc làm cho người dân. Nắm bắt xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, tính đến năm 2022, các trung tâm dịch vụ việc làm đã tư vấn về việc làm, học nghề và xuất khẩu lao động cho trên 36.000 lượt người, có 3.350 lao động được tuyển dụng đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Hàng năm, lượng kiều hối của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về hơn 200 tỷ đồng, đã góp phần giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc Việt Nam gia nhập AEC cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh Quảng Bình. Bài viết nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết lao động, việc làm của một số địa phương trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình.

    Từ khóa: Asean, lao động, việc làm, tỉnh Quảng Bình, kinh nghiệm.

    1. Đặt vấn đề

    Trong những năm gần đây, do có sự di chuyển lao động trong khu vực AEC, kinh tế người dân tỉnh Quảng Bình được cải thiện, lượng kiều hối của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về góp phần giúp bà con nhân dân xây dựng, chỉnh trang nhà ở, mua sắm ngư cụ, đầu tư máy móc sản xuất nông nghiệp, phát triển mô hình chăn nuôi. Đồng thời, giải quyết việc làm cho lao động địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Bình phát triển đúng hướng.

    Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập AEC cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh Quảng Bình. Tham gia AEC, người lao động của tỉnh có thể phải chịu những bất lợi do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, thậm chí phá sản, dẫn đến lao động bị mất việc làm. Chất lượng nguồn nhân lực lao động của Quảng Bình chưa cao, quá trình đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động AEC và nhu cầu xã hội, sức hút lao động trong các doanh nghiệp khá khiêm tốn do quy mô nhỏ lại vừa thiếu. Tỷ lệ người đi xuất khẩu lao động ở các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia ở lại bất hợp pháp còn cao, đã ảnh hưởng không nhỏ đến người lao động trong nước nói chung, tỉnh Quảng Bình nói riêng khi muốn đi xuất khẩu lao động vào thị trường này.

    Chính vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề lao động và việc làm ở tỉnh Quảng Bình trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC cần có sự nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học, khách quan và toàn diện về những tác động của việc gia nhập AEC.

    2. Nội dung

    2.1. Lao động, việc làm Việt Nam trước khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

    Ngày 10 tháng 11 năm 2014, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ban hành Quyết định số 1287/QĐ-TCTK về Điều tra lao động việc làm năm 2022. Mục đích của cuộc điều tra nhằm thu thập các thông tin về tình trạng tham gia thị trường lao động năm 2022 của những người từ 15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam làm cơ sở tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về lao động, việc làm, thất nghiệp và thu nhập của người lao động. Qua đó giúp các cấp, các ngành đánh giá và so sánh sự biến động của thị trường lao động, làm căn cứ xây dựng, hoạch địnhchính sách phát triển nguồn nhân lực, kế hoạch hoạt động đầu tư, sản xuất, kinhdoanh phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường lao động trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Đồng thời, có cáchtiếp cận và áp dụng khuyến nghị mới của Tổ chức Lao động Quốc tế về lao độngvà việc làm, đặc biệt là “lao động chưa sử dụng hết” vào thực tiễn Việt Nam. Sốliệu được tổng hợp theo quý cho cấp toàn quốc; vùng và năm cho cấp tỉnh, thành phố.

    2.2. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC của một số địa phương và bài học cho tỉnh Quảng Bình

    2.2.1. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC của một số địa phương

    2.2.1.1. Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Trị

    Tỉnh Quảng Trị là địa phương đã đạt được những kết quả quan trọng trong giải quyết vấn đề lao động, việc làm sau khi Việt Nam gia nhập AEC. Năm 2022, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã phối hợp với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Trường Trung cấp nghề Quảng Trị, Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh tổ chức hội nghị phổ biến các chính sách và tư vấn về việc làm, xuất khẩu lao động; hội nghị tập huấn về kỹ năng, phương pháp phân tích thông tin thị trường lao động ở một số cụm xã. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị cũng tập trung thực hiện các nội dung, giải pháp để hỗ trợ người lao động các xã, vùng ven biển trong việc định hướng, chuyển đổi nghề và tạo việc làm, như: Tổ chức đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; chỉ đạo tổ chức sàn giao dịch việc làm tại các xã, cụm xã ven biển; phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức tuyên truyền, tuyển dụng lao động đi xuất khẩu lao động tại các xã, đặc biệt là các xã ven biển.

    Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị đã tổ chức điều tra, khảo sát thông tin về nhu cầu học nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, chuyển đổi sinh kế của các hộ gia đình thuộc 16 xã vùng biển bị ảnh hưởng do môi trường sinh thái biển bị ô nhiễm. Kết quả là năm 2022, tỉnh Quảng Trị đã giải quyết việc làm cho khoảng 10.600 lượt lao động (đạt 112 % kế hoạch), trong đó có 6.312 lượt lao động làm việc trong tỉnh, 2.809 lượt lao động làm việc ngoài tỉnh và 1.479 lao động làm việc ở ngoài nước (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Lào và các thị trường khác), tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm còn 3,6% (4). Năm 2022, tỉnh Quảng Trị đã giải quyết việc làm mới cho 14.012 lao động (đạt 133,4% kế hoạch), trong đó xuất khẩu lao động 2.926 người.

    2.2.1.2.Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

    Ở Bình Dương, trong 6 tháng đầu năm 2022, hoạt động tư vấn việc làm đã thu hút 1.276 doanh nghiệp và 42.378 lao động tham gia. Tỉnh cũng đã giải quyết việc làm cho 25.692 lao động. Các trường, cơ sở dạy nghề ở Bình Dương trong năm 2022 đã tuyển sinh gần 32.000 học viên và đào tạo nghề cho 1.481 lao động. Tính đến năm 2022, đã tư vấn giới thiệu việc làm cho 123.622 người lao động; số người lao động được giới thiệu việc làm là 84.798 người; số người lao động nhận được việc làm là 45.342người. Đến cuối năm 2022, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đã tiếp nhận thông tin tuyển dụng lao động của 3.905 doanh nghiệp, với nhu cầu tuyển dụng 178.336 lao động; trong đó có 127.032 lao động phổ thông – chiếm tỷ lệ 71,2%; 51304 lao động chuyên môn và lao động kỹ thuật – chiếm tỷ lệ 28,8%. Tổ chức sàn giao dịch việc làm trực tiếp, sàn trực tuyến, sàn giao dịch việc làm online. Tính đến hết tháng 10/2019, Trung tâm tổ chức tổng cộng 39 sàn giao dịch việc làm, vượt 44,4% chỉ tiêu đăng ký đầu năm. Cụ thể, đã tổ chức 34sàn trực tiếp tại trụ sở (24 sàn định kỳ từ lần thứ 202 đến 225 và 10 sàn mở rộng); 04 sàn tại các trường đại học, cao đẳng, địa phương và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, 01 phiên giao dịch việc làm online.

    Về công tác xuất khẩu lao động: Các doanh nghiệp tuyển chọn lao động đi làm việc theo hợp đồng tại nước ngoài, trên địa bàn tỉnh có 30 lao động đi làm việc ở nước ngoài (Đài Loan: 8 người, Nhật Bản: 21 người, Ma Cao: 1 người). Có 15 lao động đạt kết quả tuyển chọn, chờ xuất cảnh đi Hàn Quốc (IPS) theo chương trình phối hợp giữa 02 Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc; 01 lao động đi làm việc tại Nhật Bản theo chương trình phối hợp giữa 02 Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Xác nhậncho Công ty CP Nhân Lực Hoàng Hà tư vấn, tuyển chọn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Triển khai việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động khi đi làm việc cũng như các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc tại Đài Loan. Trong năm 2022, 60 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng qua Chương trình phi lợi nhuận và chương trình lợi nhuận (doanh nghiệp có chức năng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng).

    2.2.2. Bài học giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong điều kiện Việt Nam gia nhập AEC cho tỉnh Quảng Bình

    Một là, chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Bình cần hoàn thiện thể chế về lao động- xã hội theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

    Chủ động nghiên cứu Công ước cơ bản của ILO (đặc biệt là 3 Công ước cơ bản về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động, xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc). Nghiên cứu các điều ước, tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động – xã hội mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở đó tư vấn, xây dựng chính sách lao động, việc làm cho Quảng Bình phù hợp với khu vực và quốc tế. Áp dụng các phương pháp tiếp cận, tiêu chí đánh giá về lao động – xã hội theo thông lệ quốc tế và khu vực. Chủ động dự báo, xử lý kịp thời các vấn đề lao động – xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, thực thi các cam kết quốc tế. Lồng ghép bình đẳng giới trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế về lao động – xã hội theo yêu cầu hội nhập quốc tế.

    Hai là, tăng cường truyền thông, phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức.

    Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương hội nhập AEC và quốc tế về lĩnh vực lao động- xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng cổng thông tin điện tử hội nhập quốc tế về lao động- xã hội. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức hội nhập AEC và quốc tế về lao động – xã hội trong các ban, ngành, cơ quan, doanh nghiệp, người lao động của tỉnh Quảng Bình, nhằm nâng cao nhận thức về nhu cầu, nội dung, cơ hội và thách thức trong hội nhập AEC, trong việc thực hiện các cam kết với AEC, tạo đồng thuận và tăng cường trách nhiệm, có hành động thống nhất thực hiện các hoạt động và hợp tác quốc tế.

    Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    Tập trung vào đổi mới giáo dục – đào tạo, dạy nghề địa phương, trong đó chú trọng việc xác định lại cơ cấu đào tạo; hoàn thiện thể chế, gắn kết đào tạo với nhu cầu thị trường lao động trong nước và AEC với tham gia của doanh nghiệp; tăng cường liên kết, tham gia vào “chuỗi giá trị đào tạo toàn cầu hoặc khu vực AEC”. Đào tạo theo đơn “đặt hàng” của doanh nghiệp, của thị trường theo các tiêu chuẩn năng lực trong AEC.

    Bốn là, hoàn thiện và phát triển thị trường lao động trong tỉnh. Năm là, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

    Kết nối cung – cầu lao động hiệu quả. Tổ chức tốt hệ thống thông tin thị trường lao động, bao gồm thị trường trong tỉnh Quảng Bình nói riêng và trong nước nói chung để giới thiệu và chắp nối việc làm với thị trường lao động AEC. Đặc biệt, tăng cường và nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu lao động của thị trường AEC. Đổi mới và đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp, đảm bảo phân luồng học sinh hiệu quả ngay từ cấp trung học cơ sơ và trung học phổ thông. Tổ chức lại và nâng cao năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm nhằm tăng cường sự liên kết, chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau trong công tác cung ứng và tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp.

    Xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh. Tôn trọng và bảo vệ quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện quyền thương lượng tập thể thực chất. Nâng cao năng lực của cơ quan thanh tra lao động trong tiếp nhận, xử lý thông tin, xử lý tranh chấp lao động để đáp ứng các cam kết trong AEC.

    Sáu là, thúc đẩy di cư lao động an toàn và hiệu quả. Hỗ trợ cho lao động di chuyển (dỡ bỏ các rào cản về hành chính, tạo liên thông các dịch vụ xã hội cơ bản, liên thông bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…). Đối với lao động Quảng Bình làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng, cần tiếp tục khắc phục; lao động bỏ trốn (bảo đảm cho người lao động về nước đúng hạn) và tái hòa nhập tốt vào thị trường lao động; liên kết và tạo dựng mạng lưới an sinh xã hội, chuyển tiền về nước an toàn và sử dụng hiệu quả, giảm các tiêu cực trong tuyển dụng.

    3. Kết luận

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập mà Việt Nam là quốc gia thành viên đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc về kinh tế, khoa học và xã hội, cho phép nước ta tận hưởng được những điều kiện thuận lợi nhất để vươn mình lên một tầm cao mới.

    Sự kiện này tạo ra cơ hội lớn cho tỉnh Quảng Bình trong việc giải quyết vấn đề lao động, việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động sang thị trường AEC. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội có được, lao động của tỉnh Quảng Bình cũng sẽ phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn khi chất lượng nguồn lực lao động còn thấp. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng, đánh giá đúng chất lượng, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động của tỉnh Quảng Bình đáp ứng yêu cầu các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về lao động trong AEC hiện nay là hết sức cần thiết.

    1. Quốc hội (2012). Bộ Luật Lao động.
    2. Quốc hội (2016). Bộ Luật Điều ước quốc tế.
    3. Quốc hội (2013). Bộ Luật việc làm số 38/2013/QH13.
    4. Quốc hội (2006). Bộ Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật số 72/2006/QH11.
    5. Bộ Công Thương – Vụ Chính sách thương mại đa biên (2016), Cộng đồng kinh tế ASEAN – Cơ hội và thách thức với Việt Nam, vn/tin-tuc…/cong-dong-kinh-te-asean–co-hoi-va-thach-thuc-voi-viet-na
    6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Tổng cục Thống kê (2016), Báo cáo năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Hà Nội.

    ExperienceMaster. Phan Thi Thu Ha in resolving labour and employment issues of some localities in the context of Vietnam’s participation in ASEAN and some lessons for Quang Binh Province

    Faculty of Law, Quang Binh Unviersity

    Keywords: ASEAN, labor, employment, Quang Binh Province, experience.

    [Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 17, tháng 7 năm 2022]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tình Hình Nông Dân Và Hoạt Động Của Hội Nông Dân Việt Nam Tại Buổi Làm Việc Với Thủ Tướng Chính Phủ (Ngày 21/ 4/ 2022)
  • Nâng Cao Phẩm Chất Đạo Đức Cách Mạng Của Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Trong Đảng Bộ Học Viện Lục Quân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tăng Cường Đạo Đức Cách Mạng Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Thực Trạng Về Đạo Đức Và Trách Nhiệm Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Tỉnh Đắk Nông
  • Vận Dụng Giá Trị Tác Phẩm “đạo Đức Cách Mạng” Vào Xây Dựng Đạo Đức Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Chính Sách Giải Quyết Việc Làm

    --- Bài mới hơn ---

  • An Giang: Nhiều Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Đô Thị Bền Vững Tại Việt Nam
  • Đô Thị Hóa Những Hạn Chế Cần Khắc Phục
  • Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học Hiệu Quả
  • Biện Pháp Rèn Luyện Và Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • a) Thực trạng lao động và ý nghĩa giải quyết việc làm

    Trong quá trình đổi mới, vấn đề việc làm ở nước ta đã từng bước được giải quyết. Trong 5 năm (2006 – 2010), Việt Nam đã giải quyết việc làm cho trên 8 triệu lao động, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm còn dưới 4,5%, hộ nghèo giảm còn 9,5%.

    Tuy nhiên, vấn đề việc làm ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Chi tiêu giải quyết việc làm đặt ra hàng năm 1,7 triệu lao động, nếu mỗi năm khoảng 1,1 – 1,2 triệu người vào độ tuổi lao động, để bảo đảm đủ nhu cầu việc làm thì số lao động mất việc hàng năm khoảng 500 – 600 ngàn người, chiếm 30% – 37% tổng số lao động được giải quyết việc làm. số lao động giải quyết việc làm hàng năm càng lớn thì số mất việc làm càng lớn.

    Số doanh nghiệp trên đầu dân số còn thấp; do kinh tế khó khăn đang bị phá sản hàng loạt nên khả năng tạo việc làm và thu hút lao động rất hạn chế. Chính sách tiền lương, thu nhập chưa động viên được người lao động gắn bó với công việc. Quản lý nhà nước với thị trường lao động, việc làm chưa chặt chẽ, những tranh chấp lao động diễn ra phức tạp; cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

    Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp, kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao. Người lao động thất nghiệp, thiếu việc làm, nhất là trong nông nghiệp còn đông. Chất lượng nguồn lực lao động nước ta còn thấp; di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội như “chảy máu chất xám”, buôn bán phụ nữ, trẻ em..

    Cơ cấu ngành nghề đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Hệ thống giao dịch trên thị trường lao động yếu kém, chưa phát triển. Năng lực cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh doanh nghiệp, cạnh tranh kinh tế quốc tế của Việt Nam còn yếu.

    b) Nội dung chính sách giải quyết việc làm

    Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Giải quyết việc làm cho 8 triệu lao động… Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm, tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%… Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích tạo thuận lợi để người lao động học tập nâng cao trình độ lao động, tay nghề; đồng thời có cơ chế chính sách phát triển, trọng dụng nhân tài”

    Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp, bảo đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động. Thực hiện đúng các luật về lao động, tiền lương tối thiểu, bảo hiểm lao động, xuất khẩu lao động, pháp lệnh đình công… Người lao động được quyền hưởng lương đúng với số lượng và chất lượng lao động họ đã bỏ ra, phải được bảo đảm về chỗ ở và những điều kiện môi trường lao động, an sinh khác theo đúng luật pháp.

    Ba là, phát triển mạnh khu vực dân doanh, trước hết là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nhanh tạo ra việc làm và khả năng thu hút lao động vào sản xuất; phấn đấu đạt tỷ lệ trên 200 người dân có một doanh nghiệp; phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã trong nông nghiệp, đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản, khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ sản xuất sản phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lao động trong nông nghiệp và thị trường xuất khẩu lao động ngày càng phát triển cao hom nữa.

    Bốn là, Nhà nước cùng các doanh nghiệp quan tâm đào tạo công nhân có trình độ cao, trình độ lành nghề, trình độ văn hoá đối với lao động trẻ, khoẻ, nhất là ở khu vực nông thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động.

    Năm là, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước khi thế mạnh của lao động nước ta về số lượng đông và trẻ. Tập trung đào tạo ngoại ngữ, pháp luật cho lao động xuất khẩu, nhất là thanh niên nông thôn để tạo điều kiện cho họ tiếp cận được với thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với những nước có trình độ phát triển cao và đang có nhu cầu thu hút lao động.

    Sáu là, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề), cần mở rộng đào tạo và đào tạo lại số lao động nước ta để có cơ cấu hợp lý ở 3 trình độ như trên. Trong đào tạo và đào tạo lại cần chuyển sang đào tạo theo định hướng đào tạo gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất; tạo khả năng cung cấp lao động có chất lượng cao về tay nghề và sức khoẻ tốt, có kỹ thuật, tác phong công nghiệp, có văn hoá… cho thị trường trong nước và ngoài nước.

    Bảy là, đa dạng hoá các loại hình thị trường, các lớp dạy nghề của Nhà nước, của tư nhân và quốc tế; áp dụng cơ chế thị trường trong dạy nghề, dần dần hình thành thị trường dạy nghề phù hợp với pháp luật. Thực hiện quy hoạch đầu tư tập trung hệ thống dạy nghề, kỹ thuật thực hành qua lao động trực tiếp; đặc biệt là xây dựng các trường dạy nghề trọng điểm quốc gia. Đối với tỉnh, thành phố phải có trường dạy nghề; các quận và huyện cần có các trung tâm dạy nghề; cổ phần hoá các cơ sở dạy nghề công lập, phát triển cơ sở dạy nghề ngoài công lập để giảm chi phí ngân sách cho Nhà nước.

    Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia và nối mạng trước hết ở các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, các khu vực công nghiệp tập trung, cả xuất khẩu lao động để giúp người lao động tìm kiếm việc làm được thuận lợi nhất.

    c) Công dân với chính sách dân số và việc làm

    Công dân là người lao động có nghĩa vụ chấp hành chính sách dân số, giải quyết việc làm và pháp luật về lao động. Động viên người thân trong gia đình và những người khác cùng chấp hành, đấu tranh chống hành vi vi phạm chính sách dân số và giải quyết việc làm, tích cực tham gia phong trào “tương thân, tương ái”, “đền ơn đáp nghĩa”, đóng góp đáng kể vào việc nâng cao an sinh xã hội.

    Mỗi công dân có các quyền được cung cấp thông tin về dân số; được cung cấp các dịch vụ dân số có chất lượng, thuận tiện, an toàn và được giữ bí mật theo quy định cùa pháp luật; được lựa chọn các biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình và nâng cao chất lượng dân số; lựa chọn nơi cư trú phù hợp với quy định của pháp luật.

    Mỗi công dân có các nghĩa vụ thực hiện kế hoạch hoá gia đình; xây dựng quy mô gia đình ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững; thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao thể chất, trí tuệ, tinh thần của bản thân và các thành viên trong gia đình.

    Mỗi công dân có quyền lao động là quyền của tự do được sử dụng sức lao động của mình trong việc tìm kiếm và lựa chọn việc làm và làm việc cho bất kỳ ai, bất cứ nơi nào mà pháp luật không cấm. Mọi công dân bình đẳng trong thực hiện quyền lao động; có quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp phù hợp với khả năng, điều kiện, sở thích của mình không phân biệt đối xử. Công dân bình đẳng trong thực hiện quyền lao động.

    Mỗi công dân cần có ý chí, tích cực học tập, lao động vươn lên nắm bắt khoa học kỹ thuật tiên tiến, định hướng nghề nghiệp đúng; tích cực và chủ động tìm việc làm, tăng thu nhập bản thân và gia đình, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển.

    Dân số và giải quyết việc làm là vấn đề lớn, phức tạp, sống động theo cơ chế thị trường, cần có hệ thống chính sách, biện pháp đồng bộ để giải quyết hiệu quả vấn đề này. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân cần nhận thức và thực hiện tích cực chủ trương, chính sách dân số, giải quyết việc làm, góp phần ổn định xã hội, tăng trường bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đột Phá Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên
  • Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Và Tăng Thu Nhập Cho Người Lao Động Ở Khu Vực Nông Thôn Tỉnh Thái Nguyên
  • Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Việc Làm Ở Nước Ta Là Gì?
  • Những Biện Pháp Nhằm Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Kỹ Năng Tư Duy Giải Quyết Vấn Đề Trong Việc Làm Hiệu Quả 100%

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Chủ Yếu Để Giải Quyết Tình Trạng Thiếu Việc Làm Ở Nông Thôn Nước Ta Hiện Nay Là
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Ở Nông Thôn
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 55: Ô Nhiễm Môi Trường (Tiếp Theo)
  • Vì Sao Nói Ô Nhiễm Môi Trường Chủ Yếu Do Hoại Động Của Con Người Gây Ra Nêu Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm.
  • 7.vì Sao Nói Ô Nhiễm Môi Trường Chủ Yếu Do Hoại Động Của Con Người Gây Ra? Nêu Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm. 8.bằng Cách Nào Con Người Có Thể Sử Dụng Tài Nguyên Thiển Nhiên Một Cách Tiết Kiệm Và Hợp Lí?
  • Kỹ năng giải quyết vấn đề là gì?

    Theo các nhà tâm lý học, tư duy là dạng hoạt động trí não cao nhất của con người. Tư duy làm cái cốt lõi, tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo.

    Trong công việc cũng như trong cuộc sống hàng ngày, nếu không có kỹ năng tư giải quyết việc làm thì bạn sẽ mãi đứng yên trên con đường sự nghiệp của mình mà không có những bước tiến, những đột phá để thăng tiến nhanh. Kỹ năng giải quyết vấn đề cũng chính là cách để bạn khẳng định khả năng và vị thế của mình trong xã hội. Tư duy giải quyết vấn đề sẽ tạo nên sự khác biệt, biết tối ưu hóa những lợi thế của loài người so với tất cả các sinh vật khác có mặt trên trái đất này.

    Chính vì vậy, bất cứ ai cũng nên học tập, rèn luyện để nâng cao khả năng tư duy sáng tạo để có những biện pháp giải quyết vấn đề việc làm tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất. Đừng bao giờ ngồi yên chờ mọi việc được giải quyết theo tự nhiên hoặc chờ người khác giải quyết mà hãy vận động trí óc của mình, suy nghĩ và tìm câu trả lời cho câu hỏi: làm thế nào để giải quyết công việc một cách nhanh nhất, tối ưu nhất. Đó cũng chính là những lúc bạn đang rèn luyện kỹ năng tư duy giải quyết vấn đề.

    Một số kỹ năng tư duy giải quyết vấn đề hiệu quả 100%

    Tập trung vào giải pháp

    Theo kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng nếu bạn không tập trung vào vấn đề, bạn sẽ không thể nào tìm ra được giải pháp. Khi phân tích đề tìm giải pháp, bạn đừng bao giờ chỉ chú ý vào những hạn chế, khuyết điểm để đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề và ra quyết định. Hãy nhìn nhận, đánh giá cả những ưu điểm để tìm ra giải pháp kích thích được sự phát triển của ưu điểm.

    Nhìn nhận vấn đề một cách trung lập

    Chúng ta không nên coi vấn đề mình đang gặp phải là một rào cản, chướng ngại vật không thể vượt qua được mà hãy suy nghĩ đơn giản rằng có một yếu tố hay điều gì đó hoạt động không hiệu quả và bạn cần tìm một yếu tố khác thay thế vào nhờ kỹ năng quản lý công việc hiệu quả.

    Bạn hãy thử tiếp cận vấn đề một cách trung lập với tư duy giải quyết vấn đề đúng đắn mà không so đo, tính toán quá nhiều, cũng tránh sự dao động do ý kiến đa chiều của những người xung quanh. Tuy nhiên, bạn cần phải lắng nghe ý kiến của họ để phân tích đúng sai và đưa ra biện pháp giải quyết vấn đề việc làm của mình.

    Lật ngược vấn đề

    Thông thường chúng ta thường tư duy theo chiều thuận là chủ yếu, tức là từ vấn đề tư duy để đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề. Vì thế mà chúng ta có thể bỏ qua rất nhiều biện pháp khả thi khác. Hãy cố gắng thay đổi kỹ năng giải quyết vấn đề, nhìn nhận mọi thứ bằng cách lật ngược vấn về, đưa ra nhiều phương pháp và so sánh phương pháp với những gì bạn đã từng làm được. Có thể cách giải quyết đó có vẻ không mấy khả quan nhưng bạn sẽ có được một hướng tiếp cận mới độc đáo hơn, kích thích tư duy phát triển hơn nữa.

    Sử dụng ngôn ngữ tích cực

    Sử dụng những ngôn ngữ tích cực giúp cho não bộ của chúng ta được kích thích suy nghĩ theo hướng sáng tạo và khuyến khích. Vì vậy khi tư duy giải quyết vấn đề, chúng ta nên tránh những từ ngữ hạn chế và tiêu cực như “Sai lầm khi…”, “Tôi không cho rằng”, “Điều này không thể”…

    Đơn giản hóa mọi việc

    Chúng ta thường hay làm phức tạp mọi thứ hơn, làm mọi thứ trở nên rối loạn. Khi đó, chúng ta sẽ không thể tìm ra cách giải quyết hoặc cách giải quyết đưa ra không hiệu quả. Hãy cố gắng đơn giản hóa vấn đề cần giải quyết bằng cách loại bỏ những chi tiết vụn vặn và chúng ta sẽ tìm ra giải pháp đơn giản, rõ ràng và nhanh chóng nhờ kỹ năng giải quyết vấn đề chuyên nghiệp.

    Tư duy theo hướng mở

    Cùng một vấn đề, bạn hãy nghĩ đến nhiều con đường để giải quyết nó để có nhiều lựa chọn hơn. Chắc chắn rằng khi có nhiều lựa chọn hay biện pháp giải quyết vấn đề việc làm sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

    chúng tôi tự hào là trang web đi đầu trong việc cung cấp các khóa học giúp bạn có được kỹ năng tư duy logic tốt và hiệu quả để giải quyết tốt các vấn đề. Bạn chưa tự tin ở khả năng tư duy của mình, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí và lựa chọn khóa học phù hợp. Mọi thông tin chi tiết về khóa học, xin anh chị vui lòng liên hệ theo:

    SĐT: 093648 6633-02438 238 720 Email: [email protected] Địa chỉ: 13 Nguyễn Chế Nghĩa, P. Hàng Bài, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bước Giải Quyết Vấn Đề Hiệu Quả
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Sinh Viên Tốt Nghiệp Tại Các Trường Đại Học, Cao Đẳng Tỉnh Nghệ An
  • Biện Pháp Nào Làm Giảm Tỉ Lệ Gia Tăng Dân Số, Giảm Sức Ép Tới Môi Trường Tự Nhiên?
  • Đề Tài Vai Trò Của Hiệu Trưởng Trường Thcs Với Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục Ở Địa Phương
  • Chăm Sóc Trẻ Có Hoàn Cảnh Khó Khăn
  • Giải Quyết Triệt Để Vấn Đề Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Không Khí Hiện Nay
  • Một Số Nguyên Nhân Và Giải Pháp Về Ô Nhiễm Môi Trường Hiện Nay
  • Giáo Trình Ô Nhiễm Môi Trường Đất Và Biện Pháp Xử Lý
  • “thức Tỉnh” Bằng Bài Luận Tiếng Anh Về Ô Nhiễm Môi Trường
  • Bài Luận Tiếng Anh Vê Hệ Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường
  • Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể giải trình tại Quốc hội chiều 30/10.

    (Ảnh: Bích Liên)

    Theo đại biểu, vừa qua vấn đề nước sạch đã tạo ra hình ảnh rất đặc biệt ở thủ đô Hà Nội như thời bao cấp để người dân đi xếp hàng hứng nước. Sự việc này cho thấy sự quản lý lỏng lẻo trong quản lý nguồn nước, tạo ra nhiều khe hở để những kẻ luồn lách thu lợi trên sức khỏe người dân. Do đó, cần rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật đã ký với công ty cấp nước cổ phần hóa để bảo đảm cấp nước sạch trên phạm vi cả nước.

    Đại biểu cũng đề nghị, cần có sự can thiệp chính sách, sự phối hợp của nhiều ban, ngành địa phương mới có khả năng khắc phục vấn đề này. “Không thể cải tạo không khí bằng các biện pháp đơn lẻ hay xử phạt vi phạm mà cần sự vào cuộc thực sự của cơ quan chức năng. Chúng ta có Quỹ bảo vệ môi trường nhưng hoạt động của Quỹ này vẫn là dấu hỏi lớn cho cử tri. Liệu chúng ta có thể đưa tiêu chí rất cụ thể cải thiện chất lượng môi trường năm sau không xấu hơn năm trước”, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu cho biết.

    Cùng đề cập vấn đề môi trường, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy (đoàn Đà Nẵng) nhấn mạnh, nhiều vụ gây ô nhiễm môi trường như vụ cháy nhà máy bóng đèn, phích nước Rạng Đông, vụ đổ dầu thải vào nguồn nước sông Đà… cho thấy chính quyền nhiều nơi, trong đó có chính quyền đô thị còn lúng túng, chưa thực thi đầy đủ trách nhiệm với dân.

    Từ thực tế đó, đại biểu đặt câu hỏi: Vì sao nhiều vùng ô nhiễm không có biện pháp kiểm tra giám sát để kịp thời xử lý vi phạm và khi xảy ra vụ sự cố không kịp thời thông báo cho người dân để có biện pháp bảo vệ sức khoẻ, tính mạng?

    Tập trung vào một số dự án lớn khắp 3 miền

    Đại biểu cho rằng việc bảo đảm quyền lợi, sức khỏe, tính mạng người dân là vấn đề quan trọng. Bởi vậy, Chính phủ trong thời gian tới cần có biện pháp hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các tập thể, cá nhân có trách nhiệm để làm thay đổi thực trạng này.

    Giải trình trước Quốc hội về vấn đề của ngành, Bộ trưởng Giao thông Vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thể tập trung nói về 2 vấn đề chính là hệ thống giao thông tại các vùng miền và các dự án trọng điểm chậm tiến độ.

    Theo Bộ trưởng, hiện nay cả nước có 24.500 km đường quốc lộ, gần 2.000 km đường cao tốc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Đất nước cũng có 22 sân bay, 3.200 km đường biển, trong đó đang tập trung phát triển vận tải ven bờ, 3.200 km đường sắt đi qua nhiều tỉnh. Hệ thống giao thông đã phát triển nhưng so với yêu cầu, giao thông liên vùng còn hạn chế.

    Tại miền Bắc, Bộ GTVT sẽ triển khai các trục dọc như cao tốc Hòa Bình – Sơn La, Chi Lăng – Hữu Nghị – Đồng Đăng, Hạ Long – Móng Cái. Các trục liên kết ngang như quốc lộ: 4C, 4D, 209, 37. Với định hướng trên, các trục ngang sẽ kết nối tục dọc tạo ra hệ thống giao thông hoàn thiện.

    Tại Đồng bằng sông Hồng, Bộ trưởng cho biết sẽ tập trung phát triển các đường vành đai của Hà Nội và trục kết nối với Hải Phòng để phát huy lợi thế của cảng biển Lạch Huyện. Mục tiêu để dễ dàng đưa hàng hóa ra Lạch Huyện và hoàn thành hệ thống này trong 5-10 năm tới. Bộ trưởng GTVT cho biết, thời gian tới Bộ sẽ tập trung vào một số dự án lớn khắp 3 miền.

    Theo Bộ trưởng, tại miền Trung hiện tại đang có đường sắt Bắc – Nam chạy qua, đường biển dọc miền Trung, quốc lộ 1A đã nâng cấp lên 4 làn xe. “Thời gian tới sẽ có thêm đường cao tốc kết nối từ TP. Hồ Chí Minh ra Hà Nội và đường Hồ Chí Minh. Với những trục dọc như vậy thì liên kết vùng miền Trung tương đối tốt. Chúng tôi sẽ nghiên cứu các trục ngang, điển hình như nối ven biển với Tây Nguyên”, Bộ trưởng cho biết.

    Ngoài ra, đại biểu tỉnh Hà Giang cũng đề cập đến vấn đề rà soát bom mìn, quy tập mộ liệt sỹ trên địa bàn nhằm giải phóng đất canh tác, từ đó giảm dần và xóa bỏ thực trạng cư dân tự phát sang làm ăn phía bên kia biên giới./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Thực Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả, Biện Pháp
  • Nguyên Nhân Hậu Quả Và Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Không Khí
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Nguyên Nhân Hậu Quả Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Ô Nhiễm Không Khí Là Gì? Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Ô Nhiễm Môi Trường,thực Trang, Nguyên Nhân, Hậu Quả & Cách Khắc Phục
  • Giải Pháp Đột Phá Giải Quyết Việc Làm Cho Thanh Niên

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Giải Quyết Việc Làm
  • An Giang: Nhiều Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Đô Thị Bền Vững Tại Việt Nam
  • Đô Thị Hóa Những Hạn Chế Cần Khắc Phục
  • Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học Hiệu Quả
  • Theo tổng hợp từ kết quả điều tra lao động việc làm quý IV/2016 của Tổng cục Thống kê, số thanh niên trong độ tuổi lao động là 24,3 triệu người, chiếm hơn 44% lực lượng lao động. Để “gỡ” sức ép giải quyết việc làm, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra những giải pháp đột phá tạo việc làm cho đối tượng thanh niên, đặc biệt là thanh niên vùng nông thôn, bộ đội, công an xuất ngũ.

    “Báo động” tình trạng thanh niên thất nghiệp

    Theo Tổng cục Thống kê, nước ta giải quyết việc làm cho khoảng 1,5-1,6 triệu lao động mỗi năm, tuy nhiên, chất lượng lao động thấp (chỉ có 20,7% thanh niên nông thôn đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ), việc làm thiếu bền vững (47,2% thanh niên nông thôn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp; khoảng 50,8% thanh niên nông thôn là lao động tự làm và lao động gia đình không hưởng lương), trên 2/3 số người thất nghiệp là thanh niên, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên cao gấp 3 lần tỷ lệ thất nghiệp chung.

    Đáng “báo động” khi mức độ thất nghiệp của thanh niên có xu hướng tăng dần theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên có trình độ cao đẳng khoảng 18,1%, đại học trở lên là 23%, trong khi tỷ lệ này của nhóm thanh niên có trình độ sơ cấp và trung cấp thấp hơn (lần lượt 5,3% và 11,8%). Trình trạng thất nghiệp trong thanh niên tiếp tục là mối thách thức đối với nền kinh tế nước ta.

    Để giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, cho thanh niên nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó việc tái cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu sẽ góp phần tăng cơ hội việc làm, hướng tới những việc làm bền vững với giá trị gia tăng cao có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng nguồn lao động, nhất là chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu của thị trường; đẩy mạnh việc tư vấn, giới thiệu việc làm, kết nối cung – cầu lao động hiệu quả sẽ góp phần phát huy các lợi thế của nguồn lao động trẻ.

    Nỗ lực giải quyết việc làm cho thanh niên

    Giải quyết việc làm cho người lao động là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Các chính sách kinh tế – xã luôn hướng tới mục tiêu việc làm cho người lao động, đặc biệt là thanh niên nông thôn, bộ đội, công an xuất ngũ. Bộ LĐ-TB&XH đặc biệt quan tâm việc giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ. Vì vậy, trong giai đoạn 2010-2016, trên 285 nghìn bộ đội xuất ngũ tham gia học nghề tại các cơ sở dạy nghề trong và ngoài quân đội (chiếm khoảng 40% số bộ đội xuất ngũ hàng năm), 70 – 80% bộ đội xuất ngũ sau khi học nghề đã có việc làm ổn định. Nhiều mô hình, cách làm hiệu quả trong giải quyết việc làm cho bộ đội, công an xuất ngũ như: tổ chức các phiên giao dịch việc làm dành riêng cho bộ đội xuất ngũ; phối hợp giữa các đơn vị quân đội, công an với chính quyền địa phương, các cơ sở đào tạo…

    Song song với phát triển kinh tế tạo việc làm, hoạt động cho vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động một cách hiệu quả. Hiện nay, tổng nguồn vốn của Quỹ quốc gia về việc làm khoảng 5.050 tỷ đồng, doanh số cho vay hằng năm từ 2.200 – 2.500 tỷ đồng góp phần hỗ trợ giải quyết việc làm cho khoảng 100 nghìn lao động chủ yếu ở khu vực nông thôn.

    Nhằm đẩy mạnh kết nối cung – cầu lao động, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội và các Trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm của Trung ương Đoàn đã được đầu tư nâng cao năng lực tập trung vào các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và tổ chức các sàn giao dịch việc làm định kỳ, thường xuyên, tạo cơ hội cho người lao động, chủ yếu là thanh niên, học sinh, sinh viên tiếp cận thông tin việc làm, nghề nghiệp.

    Nhờ những nỗ lực trên, giai đoạn từ 2011 – 2022, hằng năm cả nước đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,5-1,6 triệu lao động, trong đó lao động trong độ tuổi thanh niên là chủ yếu (chiếm khoảng 60%).

    Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách đào tạo nghề nghiệp, hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, thanh niên, bộ đội, công an xuất ngũ nói riêng; triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp – Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2022 – 2022; sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp giai đoạn 2022 – 2022.

    Bên cạnh hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động, Bộ LĐ-TB&XH đẩy mạnh nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn đào tạo nghề nghiệp với việc làm; xã hội hóa công tác dạy nghề, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề cho người lao động.

    Việc hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, nâng cao chất lượng dự báo thị trường lao động trong ngắn hạn và dài hạn nhằm cung cấp các thông tin về cơ hội việc làm, chỗ việc làm trống, các khoá đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp thanh niên, sinh viên lựa chọn và quyết định học nghề, lập nghiệp, tham gia thị trường lao động.

    Mặt khác, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm được nâng cao trong khâu tư vấn, giới thiệu việc làm và định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên; phối hợp hoạt động của Trung tâm với các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp; tổ chức các phiên giao dịch việc làm dành riêng cho thanh niên nông thôn, thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an.

    Đây là những giải pháp đồng bộ, then chốt giải quyết những vấn đề tồn tại về chất lượng đào tạo, trình độ, tay nghề của thanh niên, tạo việc làm, phát huy vai trò của lực lượng thanh niên trong phát triển kinh tế – xã hội.

    Your browser does not support the video tag.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Và Tăng Thu Nhập Cho Người Lao Động Ở Khu Vực Nông Thôn Tỉnh Thái Nguyên
  • Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Việc Làm Ở Nước Ta Là Gì?
  • Những Biện Pháp Nhằm Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Nhiều Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100