Top 2 # Giải Pháp Già Hóa Dân Số Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?

Nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Ảnh: DN

Khái quát bức tranh dân số Việt Nam thời gian qua, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cho biết, từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,5 tuổi năm 2018, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

Tuy nhiên, Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa dân số với tỷ trọng và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Điều này đã đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với già hóa dân số, trong đó có bao gồm việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, với tốc độ già hóa như hiện nay, đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 trở lên của nước ta sẽ khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Cũng từ năm 2038, số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm. Các chuyên gia nhấn mạnh, xu hướng già hóa là tất yếu, chính vì vậy cần có những can thiệp chính sách kịp thời để duy trì cơ cấu dân số hợp lý.

Các chuyên gia thừa nhận, quá trình già hóa dân số, nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi ngày càng tăng, là một thách thức rất lớn với hệ thống an sinh xã hội, hệ thống y tế và cộng đồng khi hiện nay chúng ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để ứng phó.

Thống kê của ngành Y tế cho thấy, phần lớn người cao tuổi có cuộc sống khó khăn, thu nhập thấp, không ổn định hoặc không có thu nhập, sống phụ thuộc vào con, cháu… Số người cao tuổi có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng.

Hiện nay, khoảng 70% số người cao tuổi nước ta sống ở nông thôn, làm nông nghiệp; hơn 70% số người cao tuổi không có tích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% số người cao tuổi sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.

TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, cán bộ chương trình, Quỹ Dân số Liêp hợp quốc (UNFPA) cho biết, nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Trung bình mỗi người cao tuổi có 2,7 bệnh; 14% người cao tuổi gặp khó khăn trong các hoạt động sống hàng ngày và cần hỗ trợ.

“Số người cao tuổi gặp ít nhất 1 loại khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày tăng từ 28% ở người 60- 69 tuổi lên hơn 50% ở người 80 tuổi. Đặc biệt, gần 50% người cao tuổi không có thẻ BHYT”, TS. Quỳnh nêu.

Nghiên cứu cũng chỉ rõ, nếu năm 2011 chỉ khoảng 1,5 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày thì tới năm 2019 số lượng đã lên tới 4 triệu người. Dự báo đến năm 2049, có khoảng 10 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày.

Đa dạng mô hình chăm sóc người cao tuổi

Để thích ứng với già hóa dân số, theo các chuyên gia dân số, Việt Nam cần phát triển và tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, cũng như có cơ chế phối hợp công- tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc xã hội. Ðặc biệt, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng như gắn kết giữa chăm sóc y tế tại cộng đồng với dịch vụ chăm sóc xã hội.

TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Việt Nam cần có chiến lược sức khỏe và thúc đẩy già hóa khỏe mạnh trong suốt vòng đời, nhấn mạnh vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc phòng ngừa. Đồng thời phối hợp chăm sóc y tế và chăm sóc phi y tế (chăm sóc xã hội).

Bên cạnh đó, theo TS. Quỳnh, Việt Nam cũng cần xây dựng chính sách, kế hoạch về dịch vụ và phân bổ ngân sách theo các cấp và các ngành để đảm bảo người cao tuổi tiếp cận được dịch vụ phù hợp.

Để công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi đạt hiệu quả cao nhất, thích ứng với già hóa dân số, theo TS. Vũ Công Nguyên, Phó Viện trưởng Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, nước ta cần tích cực xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi để hỗ trợ đáp ứng những nhu cầu của người cao tuổi nhằm đạt mục tiêu sống khỏe mạnh, tham gia các hoạt động, an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, theo TS. Nguyên, Việt Nam cần đa dạng hóa mô hình chăm sóc người cao tuổi hiệu quả, chuyên nghiệp và phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều dưỡng người cao tuổi gắn với chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Trong đó, cần phát triển nhiều mô hình như nhà dưỡng lão phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt. Đẩy mạnh phát triển y tế cơ sở để không chỉ phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu mà đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, tập trung vào các bệnh mãn tính.

Còn ông Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam cần phải chuẩn bị tiềm lực kinh tế, phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời, phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

Ngoài ra, theo ông Phương, hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều này, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục nhấn mạnh, không chỉ ngành Dân số mà cần có sự vào cuộc cả hệ thống chính trị các bộ, ngành đoàn thể, địa phương nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

D.Ngân

Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục

Chủ đề: Già hóa dân số (GHDS)

I. Một số khái niệm

II. Tình hình giàhóa dân số trênthế giới

III. Tình hình giàhóa dân số ở ViệtNam

1. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi

2. Cơ cấu xã hộiI. Một số kháiniệm

3. Tháp dân số

4.Già hóa dân số

5. Tác động của già hóa dân số

+ Độ tuổi theo khoảng cách đều nhau, thông thường trong dân số học,người ta nghiên cứu cơ cấu theo tuổi với khoảng cách đều 5 năm.

3. Tháp dân số* Là một loại biểu đồ biểu diễn thành phần nam, nữtheo các độ tuổi ở một thời điểm nhất định.

* Tháp được xây dựng theo các lớp tuổi cách nhau 1năm, 5 năm, 10 năm.* Tháp sẽ có dạng khác nhau tùy theo đặc trưng củamức độ sinh, chết và chuyển cư.* Do dân số các nước khác nhau nên tháp dân số cũngkhác nhau. Tuy nhiên người ta phân biệt được 3 kiểu(dạng) tháp dân số cơ bản đó là:

Hình 1. Các kiểu tháp dân số cơ bản (Nguồn kiemtailieu.com)

Kiểu mởrộng– Đây là tháp dân số trẻ.– Tháp có hình dạng đáy rộng, càng lêncao càng hẹp lại nhanh.– Đây là kiểu kết cấu dân số của các nướcchậm phát triển có dân số trẻ và tăng nhanh

Tỷ xuất sinh cao,tỷ lệ người già thấp, tuổi thọ trung bìnhkhông cao.

Kiểu thuhẹp– Đây là kiểu tháp dân số trưởng thành.– Thể hiện tỷ suất sinh thấp, tỷ lệ trẻ emthấp hơn kiểu mở rộng và đang giảm, tỷ lệchết thấp, tuổi thọ TB cao, số người trongđộ tuổi lao động nhiều.– Đây là kiểu tháp chuyển từ dân số trẻ sangdân số già.

4. Già hóa dân số– Theo quy ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ ngườitừ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% trở lên hoặc tỷ lệ người từ 65 tuổitrở lên chiếm từ 7% trở lên thì được gọi là quốc gia “già hóa dânsố”.” Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người trưởng thành vàngười cao tuổi tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ emvà vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vịcủa dân số ”.

5. Tác động của già hóa dân sốa. Thuận lợi

* Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu vĩđại nhất của loài người.* Người già có nhiều kinh nghiệm sản xuất, có công laoto lớn trong các cuộc kháng chiến của dân tộc..

* Hạn chế tệ nạn xã hội.* Người lớn tuổi được xem là trụ cột, là”chất kết dính”giữa các thế hệ trong gia đình…

Suy giảm tăng trưởngkinh tế quốc gia

Là gánh nặng của xãhội

.

Tạo áp lực lớn chochính phủ

II. Vấn đề già hóa dân sốtrên thế giới– Vào thập kỉ đầu của TK XXI, ở hầuhết các quốc gia diển ra sự thay đổinhân khẩu học dần dần từ dân sốtrẻ sang dân số già hơn.– Già hóa dân số đang diễn ra trêntất cả các khu vực và các quốc giavới các mức độ khác nhau.– Các nước phát triển quá trình giàhóa dân số diễn ra sớm do có nềnkinh tế phát triển sớm, khoa học kĩthuật tiên tiến, đời sống vật chất cao,…

– Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triểnkể cả các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo.đang gia tăngnhanh nhất ở các nước đang phátó nhóm dân số trẻ đông đảo.nhóm dân số trẻ đông đảo.

Biểu đồ thể hiện số người từ 60 tuổi trở lên giai đoạn 1950- 2050

Hiện tại

Dự báo ( trước 2030)

Nhật Bản

25,8%

32,3 %

Đức

21,1%

27,9%

Ý

21%

25,5%

Pháp

18,3%

23,4%

Tây Ban Nha

17,6%

22%

Anh

17,5%

21,3%

Canada

17,3%

24,9%

Ukraine

15,9%

22%

Ba Lan

15%

23,1%

Mỹ

14,5%

20,3%

Nguồn: Theo số liệu từ Cục điều tra dân số của Mỹ (8/2014)

– Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinhnhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệungười tròn 60 tuổi.

– Tuổi thọ trung bình đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới.– Hiện nay, có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên80 tuổi; trong khi đó 5 năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt consố này.Giai đoạn

Các nước phát triển

Các nước đang phát triển

2010- 2015

78 tuổi

68 tuổi

Dự kiến 2045- 2050

83 tuổi

74 tuổi

– Nhật Bản là quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già, nhưngđến năm 2050, dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số giànhư Nhật Bản.

– Người cao tuổi trên thế giới ngày càng tăng về cả tỷ lệ và sốtuyệt đối.Thế giớiNăm

Các nước phát triển

Các nước đang pháttriển

Số lượng (triệungười)

Số lượng (triệungười)

8,2

85

11,7

110

6,4

606

10

232

19,4

374

7,7

1964

21,1

395

33,5

19,3

19,3

Số lượng (triệungười)

1950

205

Tình hình già hóa dân số thế giới ( Nguồn:kiemtailieu.com)

* Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên.Đến năm 2012, số người cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệungười. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người.Năm

1950

1975

2000

2025

2050

Số dân(triệu)

2.500

3.900

6.080

8.011

9.150

205

350

606

1.193

1.964

Tỉ lệ ngườicao tuổi (%)

8,2

9,1

10

14,9

21,1

 Tình trạng “già hóa dân số” ởnhiều nước phát triển đang đặtra nhu cầu xem xét lại giới hạnđộ tuổi lao động tích cực củangười cao tuổi. Các nước đang phát triển cầnđáp ứng nhu cầu giáo dục, chămsóc sức khỏe cho thế hệ trẻ, sứckhỏe sinh sản vị thành niên. Các quốc gia cần có giải phápthiết thực đối với người già vềsức khỏe, vật chất và tinh thầntrước sự già hóa của dân số.

III. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam1. Hiện trạng GHDS ở Việt Nam– Nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ (2005).Nhóm tuổi

1979

1989

1999

2005

0- 1

42,5

38,9

33,6

27,0

15- 59

50,4

53,2

58,3

64,0

7,1

7,9

8,1

9,0

Tổng (%)

100

100

100

100

Cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi giai đoạn 1979- 2005

– Tuy nhiên do quá trình giảm sinh tương đối nhanh trong nhữngnăm qua tỷ trọng dân số trẻ đã có xu hướng giảm mạnh và tỷtrọng dân số già đã tăng lên từ 7,1% năm 1979 lên 9% vào năm2005.– Năm 2009, Tổng cục Thống kêdự báo đến 2017 nước ta mớibước vào giai đoạn già hóa dânsố. – Nhưng chỉ 2 năm sau dự báonày đã trở nên lạc hậu.– Năm 2011, Việt Nam chính thứcbước vào giai đoạn già hóa dânsố. Tốc độ già hóa dân số củanước ta nhanh hàng đầu châu Ávà cũng thuộc diện nhanh nhấtthế giới.

Biểu đồ thể hiện tỉ lệ người già của nước ta ngày càng tăng giai đoạn2010- 2014.

Già Hóa Dân Số Nhật Bản

Qua các phương tiện truyền thông, được biết vấn đề già hóa dân số ở Nhật rất nhiều nhưng khi tận mắt nhìn thấy người già lao động ở Nhật Bản, tôi mới cảm nhận sâu sắc thực tế này. Đây cũng là bài học cho Việt Nam khi tận dụng thời kỳ “dân số vàng” và nâng cao chất lượng dân số.

Người già có thể làm mọi việc

Lái xe phục vụ đoàn nhà báo chúng tôi là bác tài xế Sato, năm nay đã 70 tuổi. Ít ai nhận ra độ tuổi thực của bác nếu không được giới thiệu bởi trông bác rất khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Lái xe cho chúng tôi suốt một tuần lễ, đi từ thành thị đến nông thôn, qua bao nhiêu đèo dốc rừng núi, nhất là chặng đường đến núi Phú Sĩ nhưng bác vẫn bận áo trắng sơ-vin, giày tất trắng, đặc biệt là nụ cười hiền hậu. Như mọi tài xế ở Nhật Bản, đến bữa, bác Sato ăn cơm ở nơi khác và đúng giờ thì có mặt ở xe, nhanh nhẹn sắp xếp vali cho khách.

Dọc chuyến hành trình, chúng tôi còn nhìn thấy rất nhiều người già đang làm việc ở Tokyo, Kyoto, Nagayo, Chi ba…Người thì làm lao công ở công viên, chùa chiền, người thì làm bảo vệ cho các cửa hàng, cửa hiệu, nhiều người là tài xế xe buýt, phần lớn là các cụ ông. Họ mặc trang phục chỉnh tề, tươm tất, phong thái như người trẻ.

Nguyễn Hữu Quân – hướng dẫn viên của Vietravel, người có nhiều năm sống ở Nhật Bản, cho chúng tôi biết: Do chất lượng cuộc sống tốt nên người già ở Nhật sống rất lâu và họ sống rất độc lập, không lệ thuộc con cái. Thường thì họ sống với nhau hoặc sống một mình, đi làm như người trẻ, ăn các thức ăn nhiều chất dinh dưỡng và ăn rất khỏe. Con cái họ, vì áp lực công việc nên cũng ít khi về thăm cha mẹ.

Dọc đường đến núi Phú Sĩ, nhìn thấy nhiều ngôi nhà nhỏ bỏ hoang, chị bạn đồng nghiệp hỏi và được Quân giải thích: Những người già đã sống biệt lập ở đó, có khi mất rồi hàng xóm, con cái mới biết. Cũng có những đứa con mấy năm không về thăm cha mẹ nên không ít người già đã sống trong cô đơn. Nước Nhật văn minh và hiện đại thuộc hàng đầu thế giới, nơi con người như cỗ máy làm việc suốt ngày đêm, đến giấc ngủ cũng khó trọn vẹn, vì vậy về phương diện nào đó, người già không khỏi thiếu thốn về mặt tình cảm.

Chăm lo gìn giữ môi trường sống

Người già ở Nhật Bản cũng là những người mẫu mực trong công việc và trong hành vi ứng xử với môi trường. Chính họ đã truyền đạt cho con cháu tư tưởng “dọn rác cũng là dọn sạch tâm hồn mình” theo thuyết thần đạo nên đời nối đời, người Nhật không ai vứt rác ra đường. Họ coi rác là tài nguyên, nếu có mẩu rác nào ngay lập tức nhặt lên đưa vào nhà và phân loại.

Cùng với các quyết sách của Chính phủ, đi đâu trên đất nước Nhật Bản cũng khó tìm thấy một mẩu rác. Tôi đã nhìn thấy một cụ già quét rác ở Hoàng Cung Tokyo. Cụ cặm cụi làm việc, tỉ mẩn, chỉn chu, không để ý gì đến xung quanh. Một cụ già khác ở chùa cổ Tokyo thì cẩn thận tỉa từng cành cây, nhổ từng bụi cỏ. Chính vì vậy, Nhật Bản dù có nhiều địa chỉ tâm linh, di tích danh thắng với hàng ngàn du khách viếng thăm nhưng tuyệt nhiên không một mẩu rác.

Đặc biệt, tôi để ý, như bao người trẻ khác, bác tài xế Sato không hề hút thuốc lá lúc chờ khách, nói năng rất nhỏ nhẹ. Đây cũng là hình ảnh mà tôi nhìn thấy ở bãi đỗ xe của thành cổ Osaka: Khi chờ khách, các bác tài xế già (có bác còn già hơn cả bác Sato, râu tóc bạc trắng) thường tranh thủ lấy báo ra đọc.

Giải pháp với già hóa dân số

Dân số của Nhật Bản đạt 127.162.625 người vào ngày 26/04/2019 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. Theo CNN, Nhật Bản cũng là quốc gia “siêu già” với hơn 20% dân số ở độ tuổi từ 65 trở lên. Năm 2018, dân số của Nhật đạt 124 triệu người, nhưng được dự báo sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 88 triệu người vào năm 2065. Để có thêm nguồn lực lao động, những năm qua, Nhật Bản đã có nhiều chính sách thu hút số lượng lờn lao động trẻ đến Nhật làm việc và Việt Nam là một trong số đó.

Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến thời điểm tháng 6/2018, người Việt Nam sống và làm việc tại Nhật Bản là 291.494 người, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2015 là 124.820 người. Với số lượng này thì Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Người Việt Nam (trong đó có Hà Tĩnh) sang Nhật làm đủ thứ nghề, từ lao động phổ thông trong các nhà máy đến phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn, cửa hàng cửa hiệu. Lao động Việt Nam chất lượng cao rất ít ở Nhật.

Du học sinh Việt Nam cũng khá đông, thường các em đi làm thêm công việc phụ bán hàng tại các trung tâm mua sắm, phục vụ lễ tân, nấu nướng trong các nhà hàng, khách sạn. Thu nhập đủ để trang trải các chi phí học tập. Chúng tôi đã gặp các em trong các trung tâm mua sắm ở Tokyo, trong các khách sạn ở Nagayo, Kyoto…

Đang là quốc gia ở thời kỳ “dân số vàng”, Việt Nam cần tận dụng cơ hội này để tạo ra nguồn lực lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, cần tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam để tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người trẻ. Nhà nước cũng cần có chính sách thu hút nhân tài, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch để tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập cho người lao động.

Giáo dục ý thức, đào tạo kiến thức, kỹ năng lao động, làm tốt công tác hướng nghiệp cho người trẻ để họ có thể yên tâm ở lại làm việc và cống hiến ngay trên đất nước mình là vô cũng cần thiết. Bên cạnh đó, cần có chính sách chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhất là người cao tuổi để họ sống vui, sống khỏe, sống có ích, đóng góp sức mình xây dựng đất nước.

Bùi Minh Huệ

Các tin đã đưa

Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số

Tính đến ngày 1-4-2019, quy mô dân số của Việt Nam đạt 96,2 triệu người, trong đó có khoảng 62 triệu người trong độ tuổi lao động.

Ông bà và các cháu trong một gia đình tham gia hoạt động dành cho gia đình. Ảnh: H. Dung

Mặc dù vẫn đang trong thời kỳ “dân số vàng” nhưng các chuyên gia nhận định, Việt Nam là một trong 10 nước trên thế giới có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất.

* Phát huy lợi thế “dân số vàng”

Đồng Nai hiện có gần 3,1 triệu dân, đứng thứ 5 cả nước. So với 10 năm trước, dân số trong tỉnh tăng gần 611 ngàn người. TP.Biên Hòa là địa phương có số dân đông nhất với hơn 1 triệu người. Tiếp đến là huyện Trảng Bom (349,2 ngàn người), huyện Nhơn Trạch (260,5 ngàn người), huyện Long Thành (hơn 246 ngàn người). Những địa phương có dân số đông do tập trung nhiều khu công nghiệp, thu hút lượng lao động nhập cư lớn. Ngược lại, những địa phương vùng sâu, vùng xa, ít khu công nghiệp lại có dân số thấp.

Già hóa dân số hay còn gọi là giai đoạn dân số đang già là tình trạng dân số có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên.

Người dân các tỉnh, thành khác nhập cư vào Đồng Nai phần lớn đang trong độ tuổi lao động. Điều này giúp Đồng Nai có nguồn lao động dồi dào, đáp ứng yêu cầu về nhân công của các doanh nghiệp nói riêng và các ngành sản xuất khác nói chung.

GS-TS.Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội (Trường đại học kinh tế quốc dân) cho hay, với hơn 63% dân số có độ tuổi từ 15-64, Việt Nam đang có ưu thế lớn để phát triển kinh tế, bởi lực lượng lao động này có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh, linh hoạt trong chuyển đổi ngành nghề. Đặc biệt, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, lực lượng lao động trẻ có trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cao rất cần thiết.

Tuy nhiên, theo GS-TS.Nguyễn Đình Cử, nếu Việt Nam không có những giải pháp để khai thác lợi thế này thì lợi thế sẽ mất đi. Thay vào đó, quá trình già hóa dân số sẽ đến sớm hơn và Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức mới.

* Cần thêm nhiều chính sách với người cao tuổi

Tính đến nay, cả nước có hơn 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,4% dân số cả nước, tức là đang trong giai đoạn già hóa dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên.

Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỷ lệ người cao tuổi tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người. Dự kiến, đến năm 2049, tỷ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là cứ 4 người dân thì có 1 người cao tuổi.

Lý giải nguyên nhân của việc già hóa dân số nhanh, bà Nguyễn Kim Tuyến, Phó chi cục trưởng Chi cục Dân số – kế hoạch hóa gia đình tỉnh cho rằng, nhiều địa phương, trong đó có Đồng Nai hiện chưa đạt được mức sinh thay thế cần phải có. Tức là mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh sản chưa sinh đủ 2 người con để thay thế mình thực hiện nhiệm vụ sinh sản trong những năm tiếp theo. Đặc biệt là các tỉnh khu vực Đông Nam bộ, mức sinh thay thế ở nhiều nơi rất thấp. Không những thế, tâm lý ngại sinh con của nhiều cặp vợ chồng trẻ cũng khiến mức sinh chưa đạt được kết quả như mong muốn. Nhiều gia đình hiện nay chỉ muốn sinh 1 con để chăm sóc và nuôi dạy cho tốt.

GS-TS.Nguyễn Đình Cử cho biết, theo điều tra quốc gia về người cao tuổi, người cao tuổi thường mắc các bệnh về xương khớp, huyết áp, các bệnh về mắt và suy giảm trí nhớ. Tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý, các hoạt động sinh hoạt hằng ngày và sự hòa nhập cộng đồng của người cao tuổi. Đa số người cao tuổi nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ. Vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn.

Mặc dù số lượng người cao tuổi đang tăng lên hằng năm nhưng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nước ta còn hạn chế. Tại tuyến Trung ương mới chỉ có một bệnh viện lão khoa. Còn ở tuyến tỉnh, tuyến huyện, vấn đề này chưa được đầu tư tương xứng. Người cao tuổi đi khám, chữa bệnh thường ở các bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế mà chưa có bệnh viện chuyên về lão khoa.

Ngoài vấn đề sức khỏe, vấn đề đời sống vật chất của người cao tuổi cũng đang gặp nhiều khó khăn. Mới chỉ có hơn 3 triệu người cao tuổi được hưởng lương hưu, chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội. Còn lại khoảng 8 triệu người cao tuổi khác chủ yếu sống nhờ vào con cháu hoặc sống neo đơn.

“Các nhà hoạch định chính sách cần có những định hướng để phát triển, tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, có cơ chế phối hợp công – tư trong cung ứng dịch vụ đối với người cao tuổi. Trong đó, mô hình liên kết giữa trường đào tạo khối ngành Y với cơ sở y tế và trại dưỡng lão cần được quan tâm đẩy mạnh” – GS-TS.Nguyễn Đình Cử đề xuất.

Hạnh Dung