Top 9 # Giải Pháp Giảm Bất Bình Đẳng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo

Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất vào năm 2014 là 9,7 lần, đến năm 2018 đã tăng lên 10 lần. Hệ số GINI (hệ số phản ánh chênh lệch thu nhập) của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2018 ở mức 0,4 (GINI bằng 1,00 là bất bình đẳng tuyệt đối).

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao chúng ta đã có nhiều thành tựu trong xóa đói giảm nghèo, nhưng tình trạng chênh lệch giàu nghèo trong xã hội lại không giảm, mà có xu hướng tăng? Lý do là vì chúng ta giảm nghèo dựa trên chuẩn nghèo do chúng ta đưa ra, và khi người dân có thu nhập vượt qua cái chuẩn nghèo ấy thì xem là đã thoát được nghèo.

Có nghĩa là thu nhập của tầng lớp thu nhập thấp đã tăng lên qua khỏi chuẩn nghèo và như thế tỷ lệ nghèo đương nhiên sẽ giảm. Thế nhưng, dù tỷ lệ nghèo giảm nhưng chênh lệch giàu nghèo không giảm, vì có thể chuẩn nghèo chúng ta đặt ra quá thấp, và khi nhóm thu nhập thấp tăng thu nhập thì nhóm thu nhập cao cũng tăng chứ không đứng yên. Nếu 2 nhóm đều có tỷ lệ tăng thu nhập bằng nhau thì khoảng cách giàu nghèo cũng tăng, vì khi đó tổng thu nhập của nhóm có thu nhập cao sẽ lớn hơn rất nhiều so với tổng thu nhập của nhóm thu nhập thấp xét về số tuyệt đối.

Theo chúng tôi, thay vì chú trọng vào việc giảm nghèo, cần có các chính sách tạo sự bình đẳng về thu nhập, tức là các chính sách kéo giảm sự chênh lệch thu nhập trong xã hội. Khi kéo giảm được sự bất bình đẳng trong thu nhập thì đương nhiên cũng giảm được tỷ lệ nghèo, nhưng nếu chỉ chăm chăm giảm tỷ lệ nghèo thì chưa chắc mang lại sự bình đẳng trong thu nhập. Có nghĩa, giảm chênh lệch giàu nghèo quan trọng hơn là giảm tỷ lệ nghèo trong xã hội.

Vậy làm sao để giảm được chênh lệch giàu nghèo? Nhiều quốc gia trên thế giới xem thuế là một trong những công cụ quan trọng nhất để tái phân phối thu nhập cho các nhóm dân cư mà theo đó, những người càng có thu nhập cao thì càng phải đóng thuế thu nhập nhiều hơn.

Nhờ có nguồn thu từ việc đánh thuế mà nhà nước có thể thực hiện được các chính sách an sinh xã hội để hỗ trợ cho các tầng lớp thấp nâng cao được mức sống và chất lượng sống của mình, và điều này chắc chắn cũng làm giảm tỷ lệ nghèo đói trong xã hội. Vì vậy, Chính phủ cần chú trọng vào việc giảm chênh lệch giàu nghèo trong xã hội hơn là chỉ chú trọng vào việc giảm nghèo. Giảm chênh lệch giàu nghèo thì chắc chắn sẽ giảm được tỷ lệ nghèo trong xã hội.

LÊ MINH TIẾN (Giảng viên Đại học Mở TPHCM)

Bất Bình Đẳng Cơ Hội Và Bất Bình Đẳng Thu Nhập

Bất bình đẳng có thể chia thành (1) bất bình đẳng cơ hội (ví dụ như tiếp cận giáo dục); và (2) bất bình đẳng kết quả (ví dụ như mức thu nhập) (UNDP 2013). Để giảm bất bình đẳng, cần chỉ ra những nguyên nhân. Tuy nhiên, giới nghiên cứu cho tới nay vẫn chưa thống nhất được những nguyên nhân chính (Mankiw 2013). Một trong những câu hỏi là, làm thế nào để đo lường và xác định những yếu tố quyết định mức độ bất bình đẳng cơ hội? Mối quan hệ giữa bất bình đẳng cơ hội và bất bình đẳng về kết quả?

Tổng hợp một số nghiên cứu cho thấy, giảm bất bình đẳng cơ hội, như trong giáo dục, sẽ dẫn tới giảm bất bình đẳng kết quả, đặc biệt là bất bình đẳng thu nhập (Dolton et al. 2009, (Bourguignon et al. 2007). Việc chỉ ra mối quan hệ giữa cơ hội giáo dục và thu nhập cá nhân là một trong những cơ sở quan trọng cho việc ra chính sách giảm bất bình đẳng.

Giải thích ở đây là, trong mối liên hệ giữa bất bình đẳng cơ hội và mức thu nhập, biến số độc lập là bất bình đẳng cơ hội, biến phụ thuộc là thu nhập cá nhân (ví dụ như thu nhập từ lao động). Trong đó, biến độc lập có thể đo lường qua yếu tố nền tảng gia đình (hoặc môi trường gia đình). Yếu tố này lại có thể gồm một số biến số chính, như nơi sinh, sắc tộc, mức độ giáo dục và nghề nghiệp của cha mẹ. Lý do để chọn những biến số này là nó không bị lệ thuộc vào từng cá nhân. Trong khi biến số kiểm soát như nỗ lực cá nhân, tài năng bẩm sinh, yếu tố di truyền… có thể ảnh hưởng đến thu nhập, nhưng khác nhau ở mỗi cá nhân.

Như thế, nguyên tắc phân tích là, các yếu tố tác động đến cơ hội của mỗi người là do nền tảng gia đình và nỗ lực cá nhân. Cá nhân có thu nhập cao hơn có thể do những cố gắng của bản thân, hoặc do nền tảng gia đình (Bourguignon et al. 2007). Nếu giả định nỗ lực cá nhân là như nhau (hay được kiểm soát), thì để đạt được sự công bằng về cơ hội, mỗi cá nhân phải không có sự khác nhau về nền tảng gia đình. Ứng dụng chính sách ở đây là, nên giảm mức độ chênh lệch về nền tảng gia đình.

Mặc dù ít có sự khác nhau về phương pháp tiếp cận, kết quả nghiên cứu ở những nước khác nhau lại có kết quả khác nhau. Một số chỉ ra yếu tố sắc tộc là quan trọng nhất, tác động đến bất bình đẳng cơ hội (Bertocchi & Dimico 2014); số khác cho rằng mức độ giáo dục bố mẹ đạt được có tính chất quyết định đến thu nhập của thế hệ tương lai (Christopher 2003).

Cùng với đó, một số nghiên cứu khẳng định yếu tố thu nhập của cha mẹ cũng tác động quan trọng đến đầu tư cho ngân sách giáo dục của mỗi gia đình. Đây là một trong những yếu tố mà có thể dẫn tới vòng luẩn quẩn bất bình đẳng cơ hội – bẫy bất bình đẳng. Các gia đình chạy đua về ngân sách giáo dục, dẫn đến những trẻ em nghèo càng ít cơ hội tiếp cận với dịch vụ giáo dục chất lượng cao. Thêm nữa, một số nghiên cứu mới đây cũng quan tâm đến những yếu tố như thời gian bố mẹ dành cho con cái, địa vị xã hội của cha mẹ. Ví dụ, những gia đình có thu nhập cao thì bố mẹ lại có nhiều thời gian dành cho con cái hơn (Putnam 2015). Những yếu tố này cũng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với mức thu nhập đạt được.

Tổng hợp các cách tiếp cận trên giúp lý giải vì sao, và như thế nào nền tảng gia đình (và một số biến số khác) tác động đến bất bình đẳng cơ hội, và đến lượt nó, bất bình đẳng cơ hội tác động đến bất bình đẳng thu nhập. Tất nhiên, những giả thuyết và phương pháp tiếp cận nghiên cứu này cũng có một số điểm yếu, như bỏ qua những yếu tố quan trọng như tiếp cận thể chế, hay các vấn đề thuộc chính sách lao động tiền lương, hay bất bình đẳng giới (Acemoglu & Robinson 2014, Jacobs 1996).

Như vậy, bất bình đẳng là một vấn đề chính sách mà các chính phủ ngày càng quan tâm. Giảm bất bình đẳng cơ hội có thể dẫn đến giảm bất bình đẳng thu nhập. Do đó, việc chỉ ra những yếu tố chính tác động tới BBĐ cơ hội, sẽ đóng góp tích cực trong việc cung cấp bằng chứng cho những người làm chính sách ở mỗi quốc gia. Một yếu tố rất quan trọng, ví dụ như đối với chính sách giáo dục, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, là mức độ giáo dục đạt được ở thế hệ trước (tri thức của cha mẹ) có ảnh hưởng đến thu nhập của thế hệ tương lai.

Gợi ý trích nguồn:

Nguyễn Anh Phương 2015, Giảm bất bình đẳng cơ hội để giảm bất bình đẳng thu nhập, https://chinhsach.vn/giam-bat-binh-dang-co-hoi-bat-binh-dang-thu-nhap/, truy cập ngày …/…/…

Acemoglu, D & Robinson, J 2014, The rise and decline of general laws of capitalism.

Bertocchi, G, Dimico, A 2014, ‘Slavery, education, and inequality’, European Economic Review.

Bourguignon, F, Ferreira, F & Marta Menendez, M 2007, ‘Inequality of opportunity in Brazil’, Review of Income and Wealth.

Christopher, D 2003, ‘Intergenerational earnings mobility in Brazil and its determinants’.

Dolton, P, Asplund, R, Barth, E 2009, Education and inequality across Europe, Cheltenham, UK.

Green, A, Mason, G & Unwin, L 2011, ‘Education and inequality: introduction’, National Institute Economic Review.

Hamnett, C & Butler, T 2013, ‘Distance, education and inequality’.

Jacobs, J 1996, ‘ Gender inequality and higher education’.

Kuznets, S 1955, ‘Economic Growth and Income Inequality’, American economic Review.

Piketty, T 2014, Capital in the Twenty-first century, Harvard University Press.

Roemer, JE 1998, Equality of Opportunity, Harvard University Press.

Theil, H 1967, Economics and information theory.

UNDP 2013, Humanity Divided:Confronting Inequality in Developing Countries.

Bất Bình Đẳng Về Thu Nhập

Trong một tác phẩm như quyển sách này, thuật ngữ trên tất yếu qui chiếu về những bất bình đẳng kinh tế. Tuy nhiên cần nhắc lại rằng có nhiều hình thức bất bình đẳng khác trong xã hội, gắn liền hay không với những bất bình đẳng về thu nhập. Ví dụ, trong châu Âu ở thế kỉ XVIII, là thành viên của một đẳng cấp là một điều quan trọng hơn thu nhập. Trong một số nước châu Phi, những khác biệt sắc tộc quyết định thứ bậc: người định cư, thường là cựu nô lệ của người chăn nuôi, ít được coi trọng bằng người chăn nuôi cho dù có thu nhập cao hơn. Mặt khác có hai hình thức bất bình đẳng, bất bình đẳng thu nhập hay bất bình đẳng di sản. Trước khi trình bày những bất bình đẳng thu nhập, cần nói vắn tắt về những bất bình đẳng di sản. Những bất bình đẳng di sản bao giờ cũng lớn hơn những bất bình đẳng thu nhập. Những bất bình đẳng này biến đổi nhiều tuỳ theo tuổi tác, cho nên nên so sánh những hộ gia đình thuộc cùng lứa tuổi. Cuối cùng, ở cùng một mức thu nhập, người lao động độc lập hay người sử dụng lao động trung bình có một di sản lớn hơn người làm công ăn lương.

Hai câu hỏi đầu tiên phải trả lời khi nghiên cứu những bất bình đẳng về thu nhập là: chọn chỉ báo bất bình đẳng nào? chọn đơn vị thu nhập nào?

Những chỉ báo đơn giản nhất qui chiếu về một sắp xếp các cá thể tuỳ theo thu nhập. Ví dụ, nếu ta so sánh 1.000 cá thể thì ta sẽ phân bố họ thành những điểm thập phân: 100 người nghèo nhất hợp thành điểm thập phân đầu, 100 người giàu nhất hợp thành điểm thập phân thứ 10 (được sắp xếp từ 901 đến 1.000). Sau đó ta tính tỉ phần của mỗi điểm thập phân trong tổng những thu nhập. Nếu tỉ phần của điểm thập phân đầu là 2% của tổng những thu nhập và tỉ phần của điểm thập phân thứ 10 là 30% của tổng những thu nhập, thì ta suy ra là thu nhập trung bình của 100 người giàu nhất lớn hơn gấp 15 lần thu nhập trung bình của 100 người nghèo nhất. Nếu thu nhập trung bình của một điểm thập phân bằng với thu nhập trung bình Y của 1.000 cá thể thì tỉ phần của điểm thập phân trong tổng những thu nhập là 10%. Mặt khác, ta có thể so sánh giới hạn YL của những điểm thập phân: ví dụ YL 1 cho điểm thập phân đầu là thu nhập của cá thể xếp thứ 100 và YL 9 cho điểm thập phân thứ 9 là thu nhập của cá thể xếp thứ 900. Điều này dẫn đến việc tính tỉ số giữa những thu nhập của hai cá thể này hay cho phép nói rằng 100 người nghèo nhất có một thu nhập bằng hay thấp hơn YL 1 (rằng 100 người giàu nhất có một thu nhập lớn hơn YL 9).

Những chỉ báo này thuần tuý có tính mô tả. Ví dụ, người ta tính đơn giản những tỉ số như những tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những người giàu nhất: 40/10 = 4. Nhưng những chỉ báo khác gán một tầm quan trọng đặc biệt cho phần này hay phần khác của phân phối khiến cho sự sắp xếp các nước về mặt bất bình đẳng có thể biến đổi tuỳ theo chỉ báo được chọn. Một số chỉ báo coi trọng phần của những điểm thập phần đầu và điểm thập phân 2 trong sự phân bổ thu nhập, như khoảng cách lôga trung bình (tức là trung bình của những logarithm của Y/Y i, với Y i là thu nhập của một cá thể). Bởi thế, một phân phối có thể là bất bình đẳng hơn một phân phối khác theo chỉ báo này, cho dù 10% những nguời giàu nhất là nhỏ hơn chút ít. Trái lại, một số chỉ báo khác nhạy cảm hơn với số của điểm thập phân thứ 10, như chỉ báo T của Theil được tính cho 10 điểm thập phân mà những phần trong tổng thu nhập là Y 1, Y 2, …, Y 9, Y 10: tổng [(ln Y i /0,1 ´ Y i)]/100. Theo biểu thức này, ta thấy là T biến đổi nhiều nếu Y 10 = 0,5 thay vì 0,4 trong lúc T lại biến đổi ít nếu Y 1 = 0,02 thay vì 0,04.

Tất cả những chỉ báo này đều chỉ phụ thuộc vào phân phối thu nhập quan trắc được. Nhưng ta có thể đưa một đánh giá giá trị vào trong một chỉ báo, để tính đến nỗi ngại bất bình đẳng. Đó là điều Atkinson đã làm, với chỉ báo A = 1 – Y e/Y, Y e là thu nhập trung bình mà, nếu được phân phối một cách bình đẳng, sẽ mang lại cùng một mức phúc lợi cho dân chúng bằng với mức đạt được với phân phối thu nhập hiện nay, Y là thu nhập trung bình. Ví dụ, nếu A = 0,3 thì điều này có nghĩa là một phân phối bình đẳng tương ứng với một mức phúc lợi của một thu nhập trung bình là 0,3 Y, bằng với mức phúc lợi đạt được với Y và phân phối được quan trắc. Nếu ta ngại rủi ro thì A bằng hay lớn hơn 0,3 trong lúc nếu ít ngại rủi ro hơn (ta đánh giá rằng bất bình đẳng không phải là một điều bất tiện) thì A = 0,1. Trong trường hợp này, ta chuộng sự phân phối bất bình đẳng quan trắc được hơn là một phân phối bình đẳng tương ứng với một thu nhập trung bình thấp hơn, với một sụt giảm hơn 10 %. Một chỉ báo có tính chuẩn tắc như thế soi sáng sự lựa chọn giữa hiệu quả và bình đẳng vì sự bình đẳng hoàn toàn, bằng cách làm biến mất mọi kích thích, sẽ kéo theo một sụt giảm ít nhiều quan trọng của sản xuất và do đó của thu nhập trung bình.

Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động không làm công ăn lương (nông dân, nghề tự do, thương nhân hay nghệ nhân độc lập, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ) bao giờ cũng lớn hơn những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động làm công ăn lương: khoảng cách thu nhập trung bình giữa điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 rõ ràng vượt quá 1 đến 10. Như thế ở Pháp có một số khá lớn nông dân hay người hành nghề tự do mà thu nhập (trừ đi những chi phí nghề nghiệp rồi) là thấp hơn lương tối thiểu, trong lúc một số khác lại có thu nhập lớn hơn một triệu quan mỗi năm. Bất bình đẳng lớn này được giải thích bằng vai trò của tư bản. Một phần thu nhập của những người hoạt động này được trả cho tư bản, thế mà sự phân phối nhân tố sản xuất này là bất bình đẳng hơn sự phân phối của thu nhập. Mặt khác, những thu nhập này biến động mạnh năm này sang năm khác (đối với nông dân, từ 1 đến 3 hay 4 do khí hậu) trong lúc đó không phải là trường hợp của người làm công ăn lương có việc làm.

Báo chí thường nói đến những bất bình đẳng về thu nhập hằng năm hay hằng tháng. Nhưng những bất bình đẳng trong dài hạn hay trên cả cuộc đời rõ ràng là thấp hơn nhiều. Giả sử tất cả người làm công ăn lương cùng tuổi đều nhận một lương bằng nhau và lương này biến thiên từ 1 đến 3 giữa thời kì đầu và thời kì cuối cuộc đời hành nghề. Tỉ số giữa những lương trung bình của điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 là gần từ 1 đến 3. Nhưng tổng lương nhận được trong suốt cuộc đời thì giống nhau cho mọi người. Theo những nghiên cứu trên những mẫu không đổi người làm công ăn lương được theo dõi suốt ba mươi chín năm thì bất bình đẳng đo được trên tổng lương là thấp hơn khoảng một nửa bất bình đẳng được tính cho phân phối lương trên một năm.

Bức tranh những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động sẽ thay đổi nếu ta đưa số người thất nghiệp vào dân số hoạt động vì ta sẽ có 5 đến 15% người hoạt động mà thu nhập lần đầu bằng 0. Trong trường hợp này, tỉ phần của điểm thập phân đầu có thể rơi xuống 0 và tỉ phần của 20% những người nghèo nhất sẽ là rất nhỏ.

Những bất bình đẳng về thu nhập lần đầu giữa các gia đình giống với những bất bình đẳng về thu nhập lần đầu giữa những người hoạt động. Ở châu Âu, tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trung bình là 5% và 40%, tức là một khoảng cách từ 1 đến 8. Nhưng những bất bình đẳng về thu nhập sử dụng trên đầu người là nhỏ hơn nhiều vì hai lí do. Những gia đình thu nhập thấp có ít thành viên hơn những gia đình có thu nhập cao và Nhà nước cung cấp những chuyển nhượng quan trọng cho những gia đình đầu trong lúc lại thu thuế trên những gia đình sau nếu vượt quá mức những chuyển nhượng mà các gia đình này nhận được. Ví dụ trong bốn nước Bắc Âu, ở Bỉ, Hà Lan và Đức, tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trong việc phân phối những thu nhập thuần trên đầu người theo thứ tự trung bình là 10% và 33%. Điều này có nghĩa là khoảng cách mức sống giữa hai nhóm này là từ 1 đến 3,3.

Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động hay giữa các gia đình trong các nước phát triển đã giảm từ một trăm năm mươi năm nay: lúc bấy giờ tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trung bình là 5% và 55%, tức là một khoảng cách từ 1 đến 11. Tỉ phần của 20% những nguời giàu nhất đã giảm, có lợi cho các hộ gia đình nằm trong những điểm thập phân vị 5, 6, 7 và 8. Những bất bình đẳng về thu nhập sử dụng giữa các cá thể còn giảm nhiều hơn nữa vì trong thế kỉ XIX Nhà nước không can thiệp còn nay Nhà nước làm giảm nhiều những bất bình đẳng bằng những chuyển nhượng và thuế khoá.

Những bất bình đẳng về thu nhập trong các nước đang phát triển, ngoại trừ một số nước châu Á (Sri Lanca, Đài Loan, Hàn quốc), lớn hơn những bất bình đẳng về thu nhập trong các nước phát triển. Trong những nước có bất bình đẳng cao nhất (Brazil, Equateur, Peru) tỉ phần của 20% những người giàu nhất vượt quá 60% so với 4% cho 20% những người nghèo nhất, tức là một khoảng cách từ 1 đến 15 giữa những người hoạt động hay giữa những hộ gia đình, và những bất bình đẳng này không được sự can thiệp của Nhà nước thu hẹp, như trong các nước phát triển. Mặt khác, những gia đình nghèo có số thành viên bằng hoặc cao hơn những gia đình giàu. Từ đó, những bất bình đẳng giữa các cá thể cũng cao hơn. Cuối cùng trong những nước này những bất bình đẳng càng không thể chịu nổi vì tính cơ động rất thấp: người nghèo vẫn nghèo cả cuộc đời khiến cho bất bình đẳng trên vòng đời cũng mạnh gần bằng bất bình đẳng trên một năm.

Giáo sư danh dự Đại học Panthéon-Sorbonne (Paris I)

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

Nỗ Lực Xóa Bỏ Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới

Việt Nam vốn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng phong kiến và Nho giáo. Suy nghĩ “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu, bén rễ vào đời sống nhiều thế hệ. Mặc dù, trong cuộc sống hiện đại, nhận thức về quyền bình đẳng nam nữ đã được nâng cao, nhưng những phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn còn thấp thoáng đâu đó ở mỗi nếp nhà, nơi làm việc, thậm chí ở cả một cộng đồng rộng lớn.

Hiện nay, tại nhiều công ty, doanh nghiệp (DN) mức lương của lao động nam và nữ đã có sự đồng đều nhưng phần tiền thưởng thì lại có sự khác biệt rõ rệt. Lao động nam luôn có thể hoàn thành đầy đủ ngày công, còn lao động nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ nên sẽ nghỉ thai sản, hoặc nghỉ phép khi con ốm đau, bệnh tật… Tất cả những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự tham gia và chất lượng công việc của lao động nữ. Bên cạnh đó, trong Bộ luật Lao động quy định DN sử dụng lao động phải đối xử công bằng giữa nam và nữ. Nhưng trên thực tế, nhìn lao động nữ, người chủ DN thường nghĩ ngay đến việc nghỉ 6 tháng thai sản. Thậm chí, nhiều DN của Việt Nam khi ký hợp đồng lao động đã buộc lao động nữ ký thêm một phụ lục hợp đồng là không được mang thai trong thời gian 2 năm đầu làm việc ở công ty. Nên có tình trạng một số DN chấp nhận tuyển lao động nam dù khả năng làm việc có kém hơn một chút, trình độ thấp hơn một chút để tránh tình trạng nữ công nhân nghỉ thai sản.

Nhiều gia đình vẫn còn cảnh việc nhà hoàn toàn do phụ nữ đảm nhận (Ảnh: Tạp chí Gia đình và Trẻ em)

Không chỉ chịu nhiều thiệt thòi trong việc phân công việc làm hay trách nhiệm nặng nề ở mỗi gia đình của những người phụ nữ, mà ngay cả ở những đứa trẻ cũng vẫn xảy ra tình trạng phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái. Theo như đánh giá của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực dân số, thì trong 5 năm trở lại đây, chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh liên tục gia tăng. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng giới tính trong dân số. Theo đó, nếu như năm 2015, tỷ số giới tính khi sinh tại nước ta là 112,8/100 thì năm 2016, tỷ lệ này đã tới 113,4/100 (tương đương cứ 100 bé gái được sinh ra thì có hơn 113 bé trai cũng ra đời). Các chuyên gia lo ngại, nếu tỷ số giới tính tiếp tục gia tăng và ngày càng lan rộng như hiện nay thì vấn đề về mất cân bằng giới của Việt Nam trong 20-25 năm sau là hết sức nghiêm trọng.

Mặt khác, trong số liệu báo cáo của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội) mức lương bình quân hằng tháng của lao động nữ khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn so với lao động nam là 5,19 triệu đồng và tỷ lệ lao động nữ thất nghiệp chiếm 44,6% trên tổng số 1.117.000 người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tỷ lệ lao động nữ có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp chiếm 57,2% trong hơn 592.000 quyết định trợ cấp. Cho thấy, phụ nữ vẫn được trả lương thấp hơn nam giới và họ tập trung trong khu vực phi chính thức, nhất là các lao động gia đình không được trả công.

Những giải pháp mạnh mẽ

Mới đây, tại buổi tọa đàm “Trao quyền kinh tế cho phụ nữ trong bối cảnh thế giới thay đổi về việc làm”, ông Đào Ngọc Dung – Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã khẳng định: Bất bình đẳng giới trong thị trường lao động vẫn còn phổ biến ở Việt Nam. Các chuẩn mực xã hội như việc phụ nữ phải làm các công việc nhà, chăm sóc con cái; hay phải đảm bảo cân bằng việc nhà và việc xã hội là những khó khăn của phụ nữ khi nắm bắt các cơ hội việc làm bền vững. Tỷ lệ thấp của đại diện giới nữ trong các vị trí lãnh đạo và ra quyết định trong cả khu vực công và tư, các rào cản về mặt chính sách như việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội trong khu vực kinh tế phi chính thức nơi phần đông lao động là nữ giới cho thấy việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ đòi hỏi việc xóa bỏ những rào cản này, bao gồm phân biệt đối xử trong luật pháp và thay đổi các chuẩn mực xã hội nhằm thúc đẩy bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội và kết quả của sự phát triển kinh tế

Bản kế hoạch cũng phân rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, lộ trình thực hiện kế hoạch cho các bộ, ngành và địa phương, tránh tình trạng chồng chéo trách nhiệm giữa các ban, ngành, các cấp. Bộ Tư pháp rà soát đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước nhằm góp phần xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ. Trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là nghiên cứu, rà soát sửa đổi quy định chính sách về cấm phân biệt đối xử trong Bộ luật Lao động nhằm phù hợp với Hiến pháp và các cam kết quốc tế về bình đẳng giới; tăng cường thanh tra và kiểm tra về tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong lao động việc làm.

Bộ Y tế đẩy mạnh tập huấn và truyền thông về sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình; nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai hiệu quả kế hoạch hành động về bình đẳng giới của ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020. Nhằm giảm tỷ lệ mù chữ và bỏ học của trẻ em gái dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, cần tăng cường truyền thông, giáo dục, vận động toàn xã hội nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em gái. Ngoài ra cũng cần nâng cao trình độ dân trí, tăng cường vai trò gia đình trong bình đẳng giới. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các hành vi bạo lực gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, mỗi thành viên trong gia đình được bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau thì xã hội sẽ công bằng và văn minh.

Các cơ quan chức năng cần rà soát lại tất cả các văn bản luật để lồng ghép bình đẳng giới, làm sao để người phụ nữ có vị trí bình đẳng, đồng thời, phân loại vùng miền, đặc thù từng dân tộc để có những định hướng cụ thể.

Ðặc biệt, phải có chế tài mạnh để bảo vệ trẻ em gái trước các nguy cơ bị bạo hành trong cả gia đình và xã hội. Bên cạnh đó cần có chế tài xử phạt mạnh đối với người đứng đầu cơ quan hay địa phương khi để xảy ra tình trạng bạo hành phụ nữ và trẻ em.

Nhóm PV