Giải Pháp Giảm Bớt Chênh Lệch Giàu Nghèo

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Giảm Khoảng Cách Giàu
  • Toàn Cầu Hóa Chênh Lệch Giàu Nghèo
  • Cần Chuyển Dịch Lao Động Nông Thôn Ra Thành Thị
  • Giải Pháp Hỗ Trợ Giảm Cân Cao Cấp Enzylim
  • Giảm Cân Cao Cấp Enzylim Đột Phá Công Nghệ Mới Giảm Nhanh 7Kg
  • Tư bản trong thế kỷ XXI (Le capital au XXIème siècle) của Thomas Piketty là cuốn sách gây tiếng vang trong giới học giả, các nhà kinh tế, nhà chính trị Âu, Mỹ suốt 2 năm nay.

    Trong tác phẩm dày hơn 1 ngàn trang này, nhà kinh tế Pháp Thomas Piketty (45 tuổi) nghiên cứu về những bất bình đẳng về kinh tế, thu nhập trong các nền chính trị – kinh tế khác nhau, từ đầu thế kỷ thứ I đến nay. Cuốn sách trình bày những nhận định sâu sắc về kinh tế xã hội dưới các chế độ chính trị khác nhau trong nhiều thời kỳ khác nhau, nhất là vào các thế kỷ XIX, XX và XXI.

    Sách do Nhà xuất bản Seuil của Pháp phát hành giữa năm 2013, chỉ trong vòng 3 tháng đã bán được hơn 150.000 cuốn và hiện đang tiếp tục được tái bản. Đầu năm 2014, sách được dịch ra tiếng Anh, trong 3 tháng bán được 450.000 cuốn.

    Năm 2014, Thomas Piketty được nhận giải thưởng Nhà kinh tế tài năng trẻ nhất nước Pháp, được giao sáng lập Trường Kinh tế của nước Pháp (École d’Économie de France). Tạp chí Foreign Policy (Chính sách đối ngoại) ở Hoa Kỳ năm 2022 nhận định ông là một trong số “100 trí thức có ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong năm qua”.

    Cuốn sách chỉ ra rằng trong những thế kỷ cổ sơ, sản xuất còn tự nhiên, giao thông còn hạn chế, mỗi cộng đồng có phương thức sản xuất riêng, phân chia của cải xã hội còn ít ỏi theo kiểu đồng loạt, cùng làm, cùng ăn, cùng hưởng theo xã hội cộng sản nguyên thủy.

    Sang thế kỷ XIX, sự nghiệp công nghiệp hóa được đẩy mạnh với điện khí hóa, cơ giới hóa, giao lưu rộng khắp, buôn bán toàn cầu… giai cấp tư bản từ sơ khai trở thành tư bản lũng đoạn, chênh lệch thu nhập, giàu nghèo ngày càng mở rộng, bất công xã hội ngày càng lớn, người giàu ngày càng giàu thêm, kẻ nghèo ngày càng thêm nghèo khổ. Do đó mà sinh ra xung đột, dẫn đến chiến tranh, di tản, bất ổn xã hội.

    Thomas Piketty cảnh báo rằng sang thế kỷ XXI, bi kịch lớn nhất, căn nguyên cơ bản của các xung đột trong nội bộ và trong quan hệ quốc tế chính là bất công xã hội, chênh lệch thu nhập ngày càng mở rộng. Vì vậy các chính phủ, các đảng chính trị cần xem việc chấn chỉnh phân phối hợp lý của cải xã hội là trách nhiệm hàng đầu, để phát triển đất nước trong an ninh xã hội.

    Việc thu thuế, chống tham nhũng và chống lãng phí cũng như thu nhập bất minh, việc công khai và minh bạch tài chính quốc gia trở thành những vấn đề sinh tử của mọi nước, mọi chế độ.

    Đáng chú ý nhất trong cuốn Tư bản trong thế kỷ XXI là những đoạn nói về chênh lệch thu nhập trong các nước tư bản phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ hiện nay. Tác giả đã lập nên hàng trăm biểu đồ, hàng trăm bảng thống kê, tính theo tỷ lệ số dân và tỷ lệ thu nhập, trong một xã hội thu nhập trung bình, tính theo đầu người là bao nhiêu.

    Có nước chậm phát triển ở châu Phi, mức thu nhập này hằng năm chỉ chừng 600 đến 800 USD. Có nước phát triển trung bình đạt 1.500 đến 2.500 USD (như ở Việt Nam, năm 2022 là 2.000 USD). Có nước phát triển cao như Đức, Anh, Hoa Kỳ là 30.000 đến 45.000 USD.

    Nhưng đây chỉ là thu nhập bình quân đầu người.

    Dựa vào thống kê, nghiên cứu của Thomas Piketty cho biết nhóm 85 tỷ phú giàu nhất hành tinh hiện nắm giữ 50% giá trị tài sản toàn thế giới. Tất nhiên trong số đó những người giàu nhất có tài sản trị giá gấp hàng chục lần người giàu thứ 85.

    Tình hình đó đặt ra cho mọi nhà nước, chính phủ, chính đảng, nhà hoạt động xã hội nghĩa vụ phải tìm biện pháp để giảm bớt sự chênh lệch, giảm bớt thu nhập của người rất giàu và tương đối giàu để bù đắp cho những người nghèo và quá nghèo.

    Nhiều tỷ phú hàng đầu của Hoa Kỳ như Bill Gates, Mark Zuckerberg… đã tự nguyện san sẻ tài sản riêng cho các tổ chức từ thiện quốc tế, cấp học bổng rộng rãi, đóng góp hàng tỷ USD cho các cơ quan nghiên cứu chữa bệnh hiểm nghèo. Đánh dấu ngày sinh con gái đầu lòng, vợ chồng Zuckerberg đã tặng 95% tài sản hiện có (trên 4 tỷ USD) cho sự nghiệp nuôi dưỡng trẻ em và giáo dục tuổi trẻ trên thế giới.

    Rất nhiều nhà tỷ phú nghĩ rằng để lại gia tài quá lớn cho con cháu mình không chắc đã là điều hay, có khi còn có hại, nuôi dưỡng tinh thần ỷ lại, lười biếng, không lao động mà giàu to, sinh ra lêu lổng, ăn chơi, mất tính tự lập và tự trọng.

    Nhiều nhà tỷ phú, triệu phú trước khi chết đã để lại di chúc hiến tặng toàn bộ hay một phần lớn tài sản của mình cho xã hội, các hội từ thiện, các cơ quan nghiên cứu tìm tòi thuốc men chữa bệnh, cho các cháu nhỏ mồ côi, cho các giáo hội, hội Chữ thập đỏ…

    Nhưng việc giải quyết tốt đẹp, bền vững hiện tượng bất công này trước hết thuộc về trách nhiệm của các chính phủ, nhà hoạt động chính trị, chính đảng cầm quyền, các cơ quan lập pháp và hành pháp… của mỗi nước.

    Có hai kết luận rút ra từ cuốn Tư bản trong thế kỷ XXI là:

    – Chỉ có kiện toàn chế độ dân chủ, xóa bỏ mọi chế độ độc tài mới làm cho của cải dồi dào, phân chia thu nhập tương đối hợp lý, giảm bớt bất công xã hội. Tất cả các nước giàu có nhất, phân chia của cải hợp lý nhất đều thuộc về các nước dân chủ thuần thục, xã hội ổn định, hòa hợp, không trừ một nước nào.

    – Muốn giảm bớt bất công xã hội, chênh lệch giàu nghèo quá đáng cần có một chế độ công khai, trong sáng, minh bạch về tài chính, ngân sách, có kiểm toán chặt chẽ, bài trừ tham nhũng và lãng phí đến mức cao nhất, theo chế độ pháp trị thật nghiêm minh.

    Mới đây, nhiều học giả và sinh viên Pháp tỏ ý mong muốn Thomas Piketty ra ứng cử tổng thống Pháp năm 2022, nhưng ông đã từ chối vì tự cho mình chỉ là nhà khoa học. Ông cũng không nhận huân chương Bắc đẩu bội tinh của Chính phủ Pháp và xác định rằng một tác phẩm khoa học nên để cho giới khoa học và công luận thẩm định chân giá trị là đủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Chi Phí Vận Chuyển Và Giải Pháp Giảm Chi Phí Vận Chuyển
  • 05 Giải Pháp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển Tốt Nhất
  • Các Giải Pháp Giúp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển
  • Những Giải Pháp Nhằm Giảm Chi Phí Vận Tải
  • Những Cách Thức Giảm Chi Phí Khi Vận Chuyển Hàng Hóa
  • Toàn Cầu Hóa Chênh Lệch Giàu Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Chuyển Dịch Lao Động Nông Thôn Ra Thành Thị
  • Giải Pháp Hỗ Trợ Giảm Cân Cao Cấp Enzylim
  • Giảm Cân Cao Cấp Enzylim Đột Phá Công Nghệ Mới Giảm Nhanh 7Kg
  • Review Giảm Cân Enzylim Là Gì? Giảm Cân Enzylim Có Tốt Không?
  • Cắt Giảm, Kiểm Soát Chi Phí Trong Doanh Nghiệp: Yếu Tố Quyết Định Đến Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như trên toàn thế giới, người ta nói rất nhiều về sự nghèo đói và hiện tượng chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần làm rõ, đó là phải phân biệt sự nghèo đối với khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, sự nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo với nhận thức về chúng. Cần phải khẳng định rằng toàn cầu hóa chỉ làm cho sự nghèo đói xuất hiện và được chú ý hơn, chứ không phải làm cho người ta nghèo đói hơn. Trước đây, khi tất cả mọi người đều nghèo đói, nhất là trong một thế giới ít thông tin, sự nghèo đói bị chìm đi. Thế nhưng, toàn cầu hóa, với luồng thông tin thông thoáng, đã khiến người ta cảm nhận rõ ràng hơn sự nghèo đói của mình trong mối tương phản với sự giàu có của những dân tộc khác. Cũng bởi thế mà một số người vội vã đổ lỗi cho toàn cầu hóa, quên mất rằng chính nó đã, đang và sẽ đem đến cho dân tộc mình rất nhiều cơ hội phát triển.

    Toàn cầu hóa đã thổi vào các quốc gia một luồng sinh khí mới, hay ít ra, buộc các quốc gia, thêm một lần nữa, phải nhìn lại chính mình, phải xác định những mặt mạnh, mặt yếu của chính mình để tận dụng các cơ hội và đối mặt với những hiểm họa mà nó mang lại.

    Hãy nhìn lại những diễn biến gần đây của thế giới để thấy rằng, sự luân chuyển mạnh mẽ dòng vốn giữa các quốc gia, quá trình chuyển giao công nghệ sôi động cùng với sự phổ biến các tiêu chuẩn về lao động và môi trường đã giúp và buộc các quốc gia, nhất là những nước thuộc thế giới thứ ba, cải thiện bức tranh kinh tế xã hội của mình như thế nào. Toàn cầu hóa có tác động quan trọng nhất là khai thác việc sử dụng một cách hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia, và hơn thế nữa, nó giúp các quốc gia phát huy những lợi thế ấy. Dường như, lý thuyết về việc khai thác chi phí nhân công rẻ đã không còn tuyệt đối đúng và giữ nguyên màu sắc nguyên thủy của nó nữa. Trước đây, khi toàn cầu hóa còn ở mức thấp, các nước giàu chỉ khai thác lao động về mặt số lượng, hay nói khác đi, họ chỉ tận dụng những lao động cơ học, thay vì tạo điều kiện để tăng cường hàm lượng chất xám của nhưng lao động ấy. Ngày nay, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải tăng cường chất lượng lao động cũng như tiêu chuẩn hóa lao động của mình, phải đặt vấn đề về việc sử dụng lao động tù nhân lao động trẻ em… thay vì khai thác theo kiểu bóc lột như trước đây.

    Toàn cầu hóa cũng đã làm thay đổi tư duy của mọi người về hoạt động đầu tư của các nước giàu. Trước đây, người ta nhìn nhận nó đơn thuần như một quá trình khai thác tài nguyên, mà kẻ hưởng lợi duy nhất là những nước đi đầu tư. Ngày nay, hoạt động này được công nhận như một quá trình hợp tác “win-win”, đôi bên đều có lợi. Các nước đầu tư đã, đang và sẽ tái phân phối sự giàu có của mình, giúp các nước nghèo đói khai thác và chỉ cho họ cách thức để tạo ra sự giàu có cho riêng mình. Bên cạnh đó, các nước đầu tư cũng có thể mở rộng thị trường của mình qua việc làm cho một bộ phận dân cư ở các nước nhận đầu tư trở nên giàu có hơn, và do đó, có điều kiện tiêu dùng sản phẩm của mình. Cũng nhờ thế, quá trình này phần nào giúp các nước đang phát triển giải quyết vấn đề việc làm và gia tăng những điều kiện thuận lợi để thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng nên ý thức về những ảnh hưởng tiêu cực mà toàn cầu hóa mang đến. Thứ nhất, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải đối mặt với những nguy cơ tụt hậu, nó cũng buộc các quốc gia phải chấp nhận thay đổi, mà đôi khi là những thay đổi đau đớn. Toàn cầu hóa sẽ chỉ ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sẽ khiến các doanh nghiệp phải tham gia vào một cuộc chơi với những luật chơi khắc nghiệt, để hoặc tận hưởng những cơ hội mà nó mang lại, hoặc chấp nhận bị phá sản. Vì thế, nó sẽ kéo theo hệ quả thất nghiệp như là nguyên nhân của sự lan tràn các tệ nạn xã hội.

    Thứ hai, toàn cầu hóa chỉ ra một cách rõ ràng sự lạc hậu của năng lực một dân tộc, năng lực doanh nghiệp và năng lực cá nhân. Hơn bất kỳ lúc nào, người ta sẽ phải đánh giá một cách sâu sắc về “tính có thể mua bán được” của những giá trị lao động của mình. Thứ ba, toàn cầu hóa cũng sẽ yêu cầu các quốc gia phải giải bài toán đánh đổi tăng trưởng về kinh tế với tính ổn định của chính trị và xã hội. Bởi nó thổi vào các quốc gia những luồng tư duy mới rất có thể gây ra những xáo trộn tạm thời. Ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề nan giải của các quốc gia và của cả thế giới trước nhịp điệu phát triển vũ bão của khoa học công nghệ. Nhưng trên hết, dân chủ hóa đóng vai trò then chốt, bởi lẽ chỉ có dân chủ hóa mới cho phép chúng ta huy động tiềm năng sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, hợp lý hóa đời sống kinh tế chính trị, tăng sức cạnh tranh và cuối cùng là sự phát triển bền vững.

    Cũng tương tự như vậy, chúng ta phải nhận thức lại vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Xét về mặt xã hội học, sự chênh lệch giàu nghèo trở thành vấn đề xã hội thực sự và làm nảy sinh những vấn đề mang tính tâm lý tác động không tốt tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Điều này thể hiện qua việc xuất hiện và tồn tại tâm lý hằn học với sự giàu có, đố kỵ với những nhà kinh doanh, ác cảm với những người thành đạt không theo quan niệm truyền thống cũ. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đổ lỗi cho kinh tế thị trường, cho toàn cầu hóa hoặc tự do thương mại, coi đó như là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, buôn lậu, và các hành vi trục lợi hoặc tạo ra ưu thế và lợi ích cho người giàu, hạn chế và làm thiệt hại đến quyền lợi của người nghèo và là nguyên nhân khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng. Tâm lý tiêu cực này nảy sinh trên cơ sở nhận thức không đúng đắn về sự chênh lệch giàu nghèo. Nhận thức lại vấn đề sẽ giúp chúng ta hình thành tâm lý xã hội đúng đắn và chỉ có như vậy mới đưa ra được những biện pháp phù hợp để xoá đói giảm nghèo tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển vốn là hố sâu ngăn cách giữa nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng đang cùng sống chung dưới một mái nhà thế giới.

    Chúng ta cần nhận thức chênh lệch giàu nghèo là hiện tượng tất yếu của xã hội. Chúng ta không thể xoá bỏ được chênh lệch giàu nghèo bởi nó thể hiện kết quả của chênh lệch năng lực tự nhiên giữa các cá thể. Điều chúng ta có thể làm được là nâng cao mức sông của người nghèo thông qua việc nâng cao năng lực của chính họ. Chỉ có trên cơ sở đổi mới quan điểm như vậy chúng ta mới xây dựng được một tâm lý xã hội tích cực đối với vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Đây cũng chính là tiền đề để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

    Có người đã trả lời rằng có thể. Câu chuyện này cho thấy tâm lý nóng vội muốn đốt cháy nhiều thứ để phát triển, nhưng cũng cho thấy cả sự phiến diện trong cách tư duy của chúng ta về một sự phát triển thực sự. Giàu có thịnh vượng không phải là một toà lâu đài đẹp được xây dựng chỉ sau một đêm như ước mơ của anh bạn trẻ nêu trên. Chúng ta không thể tư duy hời hợt như vậy bởi vấn đề phải được giải quyết trên quy mô quốc gia và quốc tế, trên cơ sở phối hợp các chính sách đã được phân tích và nghiên cứu thấu đáo

    Một số người chủ trương rằng để giải quyết vấn đề nghèo đói tạo lập sự bình đẳng xã hội phải thực hiện nhiều hơn nữa các giải pháp ưu đãi người nghèo thông qua các biện pháp điều tiết thu nhập của nhà nước. Những giải pháp này còn có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam chưa bị ràng buộc quá khắt khe bởi những hiệp ước kinh tế song phương hoặc đa phương, tức là, khi nhà nước còn có không gian đủ tự do để sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất thông qua các hình thức ưu đãi cho người nghèo. Nhưng các hình thức ưu đãi như vậy không thể là giải pháp dài hạn. Về thực chất, đó chỉ là sự bố thí trên quy mô xã hội và sẽ không bao giờ cho phép chúng ta giải quyết dược cơ bản vấn đề nghèo đói. Hơn thế nữa, trong tương lai, khi tiến trình hội nhập kinh tế đạt đến quy mô và trình độ cao, nhiều hình thức ưu đãi sẽ không còn có thể áp dụng, bởi sẽ bị coi là trợ cấp thương mại, điều cấm kỵ trong xu thế tự do hóa thương mại.

    Rõ ràng, chúng ta phải đi con đường khác để tìm ra những giải pháp cơ bản có thể xoá đói giảm nghèo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

    Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động đê họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

    Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn và nghiêm túc hơn.

    Chẳng hạn, chúng ta luôn nói về việc phát triển các làng nghề mà quên mất rằng nghề ấy, hay làng nghề ấy cho ra những sản phẩm không còn những giá trị thị trường như trước nữa, và do đó, thị trường lao động ấy cũng không nên khuyến khích nữa. Chúng ta đã bàn nhiều về chuyển dịch lĩnh vực sản xuất, nhưng do những nghiên cứu nửa vời, chúng ta lại rơi vào tình trạng chuyển từ một lĩnh vực kém hiệu quả này sang một lĩnh vực kém hiệu quả khác. Kết quả là chúng ta đã nghèo lại còn nghèo hơn, vì việc đầu tư sai hướng đã gây lãng phí cả năng lực vật chất cũng như thời gian. Bởi vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu không thể thực hiện bằng mọi giá mà cần được nghiên cứu một cách khoa học để tạo ra những thay đổi tích cực và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong mọi trường hợp, chúng ta không được quy quá trình chuyển dịch cơ cấu đơn thuần về các đối tượng sản xuất, mà cần phải chuyển địch cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu quản lý và cả cơ cấu thị trường lao động. Nếu không, chuyển dịch cơ cấu có thể lại là sự thua thiệt của người nghèo và rốt cục, khoảng cách giàu nghèo không những không bị thu hẹp mà còn có nguy cơ mở rộng hơn.

    Thứ ba, phát triển nông thôn như là hạt nhân của chiến lược xoá đói giảm nghèo. Với một quốc gia mà đa số người dân sống ở nông thôn như Việt Nam, khu vực nông thôn là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Theo những số liệu chính thức, hiện còn quá nhiều người nông dân Việt Nam có mức sống dưới đô la/ ngày. Vì thế, nông thôn là địa bàn chính, phát triển nông thôn là một giải pháp cốt lõi, để xoá đói giảm nghèo. Nếu được đào tạo kỹ năng để chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, người lao động nông thôn sẽ không phải ra thành thị chỉ để làm các nghề nặng nhọc. Họ có thể xây dựng cuộc sống mới và hưởng thụ thành quả ngay trên mảnh đất quê hương bởi cuộc sống ở đây cũng cần phát triển để không bị tụt hậu so với nhịp phát triển chung trong một thế giới đang toàn cầu hóa mạnh mẽ.

    Cuối cùng xây dựng đô thị giàu có và thịnh vượng, tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tê. Xoá đói giảm nghèo phải được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của một quốc gia. Các nước đang phát triển muốn cho nền kinh tế cất cánh, muốn đất nước phồn vinh, muốn xoá đói giảm nghèo phải có động lực đủ mạnh. Trên phương diện thị trường, khu vực đô thị giàu có với sức mua lớn sẽ kích thích sản xuất ở nông thôn, tạo lối ra cho sản phẩm và dịch vụ từ khu vực nông thôn, và do đó, có thể đẩy nhanh quá trình giảm nghèo cho nông dân hiện chiếm đại bộ phận cư dân cả nước. Chính vì thế, nếu chúng ta thành công trong việc giải bài toán tăng cường sức mua đô thị, bộ mặt của nông thôn sẽ được cải thiện hơn rất nhiều. Tuy nhiên, để tăng cường sức mua đô thị, chúng ta cũng nên có những thay đổi về chính sách thuế thu nhập. Hiện nay, chính sách thuế thu nhập của chúng ta ít nhiều mang tính chất “cào bằng”, bỏ qua sự khác nhau giữa các khu vực địa lý, tức là bỏ qua những yếu tố địa kinh tế, mà quên mất rằng tiền cũng như nước, nó sẽ chảy từ nơi có cột nước cao đến nơi có cột nước thấp. Do đó, nếu chúng ta làm cho mức nước ở các đô thị thấp, thì sức nén đẩy tới những vùng xa xôi khác cũng sẽ thấp. Thành công của một số nước trong việc phát triển đô thị chỉ ra rằng, việc phát triển các đô thị lớn thành các trung tâm kinh tế giàu có và thịnh vượng sẽ đóng vai trò các đầu tầu tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tế cất cánh.

    Qua tất cả những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn khẳng định rằng xoá đói giảm nghèo không phải là vấn đề của riêng người nghèo mà là của toàn xã hội. Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề không nằm ở chỗ tiếp tục khoét sâu khía cạnh tâm lý của việc phân biệt giàu nghèo, chia rẽ các lực lượng trong xã hội và đổ lỗi cho những lực lượng này hoặc lực lượng khác, mà ở chỗ nhận thức một cách khách quan và khoa học các quy luật và hiện tượng nhằm xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp. Một chính sách thực tế và sáng suốt hơn để xoá đói giảm nghèo, trong bối cảnh hiện nay khi toàn cầu hóa đang ngày càng trở thành xu thế áp đảo trong mọi lĩnh vực đời sống phát triển phải là tăng cường hợp tác giữa các lực lượng, giữa các quốc gia, không kể giàu nghèo, đồng thời nâng cao mức sống tối thiểu cho người dân thông qua việc cải thiện năng lực phát triển của chính họ.

    Mọi chương trình xoá đói giảm nghèo chỉ có thể thành công khi chính người nghèo trở thành chủ thể trong cuộc chiến chống đói nghèo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Giảm Khoảng Cách Giàu
  • Giải Pháp Giảm Bớt Chênh Lệch Giàu Nghèo
  • Tìm Hiểu Chi Phí Vận Chuyển Và Giải Pháp Giảm Chi Phí Vận Chuyển
  • 05 Giải Pháp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển Tốt Nhất
  • Các Giải Pháp Giúp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển
  • Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba Trở Lên Và Chênh Lệch Giới Tính Khi Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Nhằm Duy Trì Và Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3
  • Cần Có Biện Pháp Mạnh Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba
  • Cần Có Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3
  • Giải Pháp Thiết Thực Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba Ở Trà Bồng
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3 Ở Kon Tum
  • Giải pháp giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên và chênh lệch giới tính khi sinh

    “Năm 2022 giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống còn 7,5%, đến năm 2022 giảm còn 6% và giảm chênh lệch giới tính khi sinh xuống còn 115 nam/100 nữ vào năm 2022, đến 2022 tỷ số này là 113 nam/100 nữ” là mục tiêu trong Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2022 của tỉnh ta. Tuy nhiên, đến năm 2022 cả 2 mục tiêu trên đã không đạt được và đến nay, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh đang ở mức “báo động đỏ” với mức trên 118 nam/100 nữ. Vậy giải pháp nào để đến năm 2022 tỉnh ta đạt được kết quả như mục tiêu Chiến lược đã đề ra, góp phần ổn định quy mô dân số?

    Bài 1: Gia tăng tình trạng sinh con thứ 3

    Theo số liệu thống kê của Chi cục Dân số – KHHGĐ tỉnh, những năm gần đây, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có chiều hướng gia tăng, nhất là từ năm 2022 trở lại đây. Nếu như năm 2010, năm trước khi tỉnh ta ban hành Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2022, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của Hưng Yên là 8,4% thì năm 2022, tỷ lệ này tăng lên 14,2% và đến năm 2022, tỷ lệ trên tiếp tục tăng cao, lên 18,2%. Còn trong 4 tháng đầu năm nay, số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên chiếm khoảng 19% so với tổng số trẻ mới sinh.

    Một giờ học của học sinh Trường mầm non 19.5 (thành phố Hưng Yên)

    Nhìn nhận về vấn đề này, ông Dương Văn Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh cho biết: “Đã nhiều năm gắn bó với công tác dân số, qua những buổi công tác thực tế tại cơ sở, tôi nhận thấy hiện có không ít trường hợp kinh tế gia đình khá giả, họ muốn đông con, đông cháu nên sinh con thứ ba, thứ tư, một số ít cặp vợ chồng do nhỡ kế hoạch nên quyết định để sinh. Nhưng nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tình trạng sinh con thứ 3 ngày một gia tăng ở tỉnh ta vẫn do tư tưởng trọng nam hơn nữ, tâm lý phải có bằng được con trai để nối dõi tông đường. Gia đình anh Nguyễn Văn P. ở xã Dị Chế (Tiên Lữ) vì “khát” con trai nên đã sinh tới 7 đứa con. Khi được hỏi lý do khiến gia đình sinh nhiều con, anh P. tâm sự: “Cũng vì sự trọng nam khinh nữ của không ít người trong gia đình, họ hàng, làng xóm nên vợ chồng tôi phải cố để sinh bằng được đứa con trai. Giờ thì tôi thấm thía rõ sự khó khăn, cơ cực khi nhà đông con…”.

    Tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, tình trạng sinh con thứ 3 diễn ra tại hầu hết các địa phương trong tỉnh. Đối tượng sinh con thứ 3 ở đủ các thành phần như nông dân, công nhân lao động, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Có không ít đảng viên chưa gương mẫu, đã vi phạm chính sách dân số trong việc sinh con thứ 3, thậm chí có đảng viên sinh tới 4 con…

    Theo số liệu tổng hợp của Chi cục Dân số – KHHGĐ, năm 2022, trong tổng số 17.098 trẻ mới sinh của toàn tỉnh thì có tới 3.106 trường hợp sinh con thứ ba trở lên, chiếm tỷ lệ 18,2%, trong đó có 154 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên là đảng viên. Tình trạng này cho thấy sự chấp hành chủ trương, chính sách dân số của Đảng và Nhà nước đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thực sự nghiêm túc. Theo số liệu tổng hợp của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, trong tổng số 373 đảng viên vi phạm bị cấp ủy các cấp và chi bộ thi hành kỷ luật trong năm 2022 thì có tới 203 trường hợp bị kỷ luật vì vi phạm chính sách dân số – KHHGĐ.

    Có thể khẳng định, việc gia tăng tình trạng sinh con thứ 3 trên địa bàn tỉnh đã tạo áp lực lớn đến đời sống xã hội. Bởi qua số liệu cho thấy số trẻ sinh ra là con thứ 3 phần đông là bé trai, chính vì vậy đã trực tiếp làm gia tăng tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Do đó rất cần sự vào cuộc tích cực của không chỉ riêng ngành dân số mà cần sự chung tay, góp sức của các cấp, các ngành để nâng cao nhận thức cho mọi người dân chấp hành tốt các quy định về chính sách dân số – KHHGĐ. Bên cạnh đó, cần có sự cam kết mạnh mẽ của các cơ quan, ban, ngành trong hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò gương mẫu tự giác chấp hành của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Các cơ quan, đơn vị có đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3 trở lên cần xử lý nghiêm theo quy định. Qua đó góp phần giảm dần tình trạng sinh con thứ 3 trở lên, để phấn đấu đến năm 2022 đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn 6% như Chiến lược dân số sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2022 của tỉnh đã đề ra.

    Nhiều năm gần đây, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh ở tỉnh ta thuộc nhóm cao trong cả nước với sự dao động từ 118 nam đến trên 120 nam/100 nữ. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh này cũng được đánh giá rõ trong Kế hoạch số 90-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25.10.2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới”. Điều đó thực sự đang gióng lên hồi chuông cảnh báo vì sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng khi lứa tuổi này bước vào tuổi trưởng thành ở tỉnh ta.

    Bài 2: Mất cân bằng giới tính – thực trạng và những hệ lụy

    Nhiều năm gần đây, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh ở tỉnh ta thuộc nhóm cao trong cả nước với sự dao động từ 118 nam đến trên 120 nam/100 nữ. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh này cũng được đánh giá rõ trong Kế hoạch số 90-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25.10.2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới”. Điều đó thực sự đang gióng lên hồi chuông cảnh báo vì sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng khi lứa tuổi này bước vào tuổi trưởng thành ở tỉnh ta.

    “Báo động đỏ” tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

    Năm 2009, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh ở tỉnh ta là 133 nam/100 nữ. Thời điểm đó, tỉnh ta có mức chênh lệch giới tính khi sinh cao nhất cả nước và bị cảnh báo ở mức rất nghiêm trọng. Với nhiều giải pháp được triển khai như đẩy mạnh công tác truyền thông, triển khai đề án, thành lập các câu lạc bộ về dân số nhằm lồng ghép tuyên truyền về hệ lụy khi chênh lệch giới tính giữa nam và nữ… Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nên tỷ số đó dần giảm về mức 116 nam/100 nữ vào năm 2013. Tuy nhiên, từ năm 2014 trở lại đây, sự chênh lệch giới tính giữa nam và nữ khi sinh lại tiếp tục tăng. Cụ thể, năm 2014 tổng số trẻ sinh trong toàn tỉnh là 17.772, trong đó có trên 9.600 trẻ là nam giới, nữ giới là trên 8.100 trẻ, tỷ số giới tính khi sinh là 118 nam/100 nữ. Năm 2022, tỷ số giới tính khi sinh tăng lên mức trên 120 nam/100 nữ; năm 2022, tỷ số đó là 118,6 nam/100 nữ. 3 tháng đầu năm nay, toàn tỉnh có 3.080 trẻ được sinh ra thì có tới 1.718 trẻ em nam, số trẻ em nữ là 1.362, tỷ số giới tính là 126 nam/100 nữ. Một số huyện như Văn Lâm, Yên Mỹ, Văn Giang, thành phố Hưng Yên… không chỉ có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng cao mà nhiều năm nay tỷ số giới tính khi sinh đều vượt trên 120 nam/100 nữ.

    Tư vấn, tuyên truyền các chính sách dân số cho người dân ở xã Minh Tân (Phù Cừ)

    Năm 2022, huyện Khoái Châu là địa phương có sự chênh lệch giới tính khi sinh cao nhất tỉnh với mức 126 nam/100 nữ. Một số xã có sự chênh lệch giới tính khi sinh ở mức “báo động đỏ” như: Tân Châu với mức 180 nam/100 nữ; Đại Hưng 179 nam/100 nữ; các xã Dân Tiến; Đông Tảo, Việt Hòa đều vượt trên 150 nam/100 nữ. Một số huyện khác như Yên Mỹ, Văn Giang tỷ số giới tính khi sinh đều vượt mức 123 nam/100 nữ, 5 tháng đầu năm tỷ số này là 141 nam/100 nữ…

    Những hệ lụy khi mất cân bằng giới tính

    Theo Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam (UNFPA), tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số trẻ em sinh là trai/100 bé gái. Chỉ số này được coi bình thường khi dao động trong khoảng từ 103 đến 107 nam/100 nữ. Duy trì chỉ số này trong giới hạn trên sẽ bảo đảm sự cân bằng trong phát triển tự nhiên và xã hội của một quốc gia, địa phương. Còn khi nhiều bé trai được sinh ra so với bé gái (cao hơn tỷ số bình thường trong một thời gian dài) thì đó là dấu hiệu của lựa chọn giới tính.

    So sánh chỉ số nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra thì tỉnh ta đang ở ngưỡng “báo động đỏ” về mất cân bằng giới tính khi sinh. Bởi từ năm 2009 đến nay, sự chênh lệch giới tính của tỉnh ta luôn cao hơn nhiều so với tỷ số được cho là phù hợp với tự nhiên.

    Những hệ lụy mà các nhà khoa học cảnh báo là tình trạng thiếu hụt số trẻ em gái gần đây sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt phụ nữ ở tất cả các nhóm tuổi trong tương lai. Tác động chính của hiện tượng thừa nam, thiếu nữ sẽ làm biến đổi chỉ số nhân khẩu học, do đó tác động tới cấu trúc gia đình, một tỷ lệ nam giới khá lớn ở tuổi trưởng thành đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi tìm kiếm bạn đời. Điều đó có thể dẫn tới gia tăng tệ nạn xã hội về buôn bán trẻ em nữ, bất bình đẳng giữa nam và nữ; việc lựa chọn giới tính thai nhi dẫn đến bỏ thai sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, khả năng sinh sản của phụ nữ… Những điều đó sẽ trở thành gánh nặng lớn cho các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Cũng giống như nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh con thứ ba trở lên, quan niệm phải có con trai để “nối dõi tông đường” đã gây áp lực cho các cặp vợ chồng phải dùng mọi biện pháp để có con trai. Không ít cặp vợ chồng đã nhờ bác sỹ tư vấn, hướng dẫn về chế độ ăn uống, sinh hoạt, uống thuốc… Có trường hợp tiếp tục đẻ đến con thứ ba, thứ tư. Nhưng theo tìm hiểu thì việc lựa chọn giới tính qua phương pháp siêu âm để loại bỏ thai nhi nếu biết đó là giới tính nữ còn diễn ra phổ biến.

    Theo quy định, hành vi siêu âm chẩn đoán giới tính thai nhi bị cấm nhưng hầu như thai phụ khi được hỏi đều biết giới tính con mình trước khi sinh. Biết giới tính thai nhi từ trong bụng mẹ sẽ là bình thường, nhưng với gia đình “khát” con trai, việc biết trước giới tính sẽ kéo theo nhiều hệ lụy. Nếu thai nhi là gái, người phụ nữ sẽ chịu áp lực từ gia đình trong việc bỏ thai nhi để đợi cơ hội đẻ bằng được con trai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phố Phúc Yên Nỗ Lực Thực Hiện Các Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3 Trở Lên
  • Tìm Giải Pháp Giảm Sinh Con Thứ Ba
  • Thực Trạng Và Phương Pháp Giảm Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Thực Trạng Ly Hôn Và Một Số Giải Pháp Hạn Chế Ly Hôn Tại Địa Phương Nơi Thực Tập
  • Thực Trạng Ly Hôn Và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Nhằm Hạn Chế Ly Hôn Trên Địa Bàn Thành Phố Bắc Giang
  • Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo Mục Tiêu Của Việt Nam Trong Chặng Đường Phát Triển Mới
  • Từng Bước Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo
  • Bỏ Túi Quy Trình Thu Hồi Công Nợ Hiệu Quả Nhất Từ Trước Đến Nay!
  • Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Nợ Công
  • Cơ Cấu Lại Ngân Sách Nhà Nước Để Đảm Bảo An Toàn Nợ Công
  • Phóng to

    Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát

    TTO – Bắt đầu phiên làm việc sáng nay (25-11), Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát tiếp tục trả lời các chất vấn đã được nêu ra từ chiếu qua: giải pháp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, có hay không giải pháp giảm bớt đóng góp của nông dân, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, các phương pháp hỗ trợ nông dân khi chính thức gia nhập WTO…

    Ngổn ngang vấn đề với Bộ trưởng GTVTĐất, nước, thủ tục hành chính với Bộ trưởng Bộ TN-MT

    Về công tác phòng chống dịch bệnh trong nông nghiệp với các bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng, sán lá, vàng lùn… Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết một số kết quả: với chỉ đạo, một số dịch bệnh đã được khống chế, bệnh cúm gia cầm, từ 11-2005 đến nay không có trường hợp tái phát trên người cũng như trên gia cầm, dịch lở mồm long móng chỉ còn một số ổ dịch nhỏ lẻ ở 8 tỉnh thay vì mấy chục tỉnh như đầu năm. Tuy nhiên, bệnh vàng lùn, lùn xán lá lại lây lan mạnh ở một số tỉnh đang gây ra một nguy cơ lớn với vụ lúa đông xuân… Nguyên nhân sâu xa là hệ thống sản xuất nông nghiệp lạc hậu, hệ thống thú y bảo vệ thực vật còn nhiều yếu kém, công tác phòng chống dịch bệnh từ Bộ đến địa phương còn chưa xâu sát.

    Giải pháp cho tình hình, để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, thay đổi hệ thống sản xuất cụ thể là điều chỉnh cơ cấu cây trồng, phương thức trồng trọt, chăn nuôi. Đồng thời rà soát sắp xếp lại các nông lâm trường, đẩy mạnh giao đất, giao rừng.

    Về bảo vệ rừng, đổi mới hệ thống kiểm lâm và việc giao đất, giao rừng: biện pháp chính là đẩy mạnh giao đất, giao rừng, tích cực hỗ trợ nhân dân sống ở gần rừng xóa đói giảm nghèo không phá rừng làm rẫy mà ngược lại có nguồn thu từ việc trồng rừng, cải thiện hệ thống kiểm lâm…

    Hiện nay Bộ đang tiến hành rà soát, sắp xếp lại rừng và đẩy mạnh giao đất, giao rừng. Cụ thể đã giao 8,5 triệu ha (khoảng 50%) đất đai quy hoạch cho lâm nghiệp, trong đó 6,6 triệu ha đất có rừng (55%). tuy nhiên các hộ gia đình chỉ được giao có 2 triệu ha, chỉ khoảng 18%, còn lại 82% là do các tổ chức của Nhà nước quản lý. Đây chính là một điểm yếu trong hệ thống quản lý của chúng ta. Theo theo dõi, con số tròn là 70% các vụ phá rừng ở các khu vực do nhà nước quản lý và một tỷ lệ tương tự những vụ cháy rừng… Vì thế phải điều chỉnh để giao đất giao rừng cụ thể cho nhân dân, cho bà con cụ thể để đem lại thu nhập cho bà con. Bộ trưởng Phát cũng cho biết trong 2 năm tới sẽ giao 4 triệu ha rừng và cho thuê 2 triệu ha rừng.

    Kiểm lâm: ban hành nghị định 119, đưa các tổ chức gắn với kiểm lâm…

    Mở đầu phiên chất vấn Bộ trưởng Cao Đức Phát, ĐB Vũ Minh Mão (Thái Bình): Bộ trưởng có nói rằng nếu bỏ thủy lợi phí thì có thể dẫn đến sự không công bằng giữa nơi được đầu tư và không được đầu tư, nhưng các tỉnh vẫn được xây dựng các công trình thủy lợi. Không phải là bỏ thủy lợi phí là mất công bằng. Bộ trưởng nên nghiên cứu bỏ hẳn thủy lợi phí cho nông dân vì đời sống nông dân còn nhiều khó khăn.

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: về vấn đề miễn giảm thủy lợi phí, chúng tôi đề nghị khi xem xét thì phải xem xét đến vến đề công bằng xã hội vì nước 9,1 triệu ha đất nông nghiệp thì chỉ có 3,4 triệu ha (30%) có hệ thống thủy lợi tốt. Chúng ta cần khoảng 60.000 tỷ đồng để đầu tư cho thủy lợi, Bộ được thông báo con số là 30.000 tỷ đồng, đây là một cố gắng rất lớn của ngân sách Nhà nước.

    Thủy lợi phí được thu theo pháp lệnh về bảo vệ và quản lý các công trình thủy lợi, và nghị định 143. Nếu thu theo khung thì phải thu 950 tỷ đồng và thu bao nhiêu là chính quyền quyết định căn cứ theo khung. Trên thực tế chỉ mới có 43 tỉnh thực hiện nghị định này và năm nay mới thu được 780 tỷ đồng, khoảng 80% khung chính phủ nêu. Số tiền chi cho 4 khoản chính: lương cho 22.300 cán bộ của 110 công ty thủy lợi, tiền tạo nguồn nước, trả tiền điện (khoảng 30-50%) và sửa chữa nhỏ.

    Nếu miễn lệ phí cho những nơi có hệ thống thủy lợi tốt đã được đầu tư mấy chục năm nay thì liệu chúng ta có nguồn để bù vào không? Hay tốt hơn là những nơi có hệ thống thủy lợi tốt đóng góp để dàn trải cho những khu vực chưa có hệ thống thủy lợi.

    Chúng tôi kiến nghị phải xem xét thêm về tạo động cơ, tốt nhất Nhà nước chỉ nên quản lý những hệ thống thuỷ lợi lớn, còn lại thì phân cấp cho các HTX, các tổ chức của nông dân vận hành. Và nên phân cấp thêm một phần thủy lợi phí để bà con tự sửa chữa, chi tiêu.

    ĐB Nguyễn Văn Thuyết (Yên Bái): Bộ trưởng có đề nghị điều chỉnh trồng mới 5ha rừng, theo nghị quyết Quốc hội thì cần trồng mới hơn 3 triệu ha, Chính phủ thì đề nghị xuống 1,4 triệu ha. Theo Bộ trưởng nếu thay đổi như vậy thì có còn là dự án trồng 5 triệu ha rừng nữa không?

    Đồng thời với việc nâng định mức khoán bảo vệ rừng từ 50.000 lên 100.000 đồng, Bộ trưởng lại giảm định mức xuống còn 1,5 triệu ha. Có hợp lý không?

    Trách nhiệm của Bộ trưởng đến đâu khi nhiều ý kiến không được xem xét nghiêm túc?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi có đề nghị giảm chỉ tiêu trồng rừng trong 5 năm tới là 1 triệu ha. Cộng với 1,4 triệu ha đã được trồng trong giai đoạn trước cộng với khoảng 1 triệu ha được khoanh nuôi thì kết thúc giai đoạn 2010 thì chúng ta có khoảng 3,4 triệu ha. Căn cứ vào khả năng thực tế, vốn của Nhà nước, nhân dân và doanh nghiệp trồng rừng thì ngoài phần đầu tư của Nhà nước tăng hơn 20.000 ha. Rừng trồng là do nhân dân đầu tư trồng theo tín hiệu của thị trường, đây là làm kinh tế chứ không phải làm theo số lượng.

    Về định mức khoán, một số nơi kiến nghị nâng lên mức 200.000 đồng thì nên đi theo hướng giảm định mức xuống còn 1,5 triệu ha, tăng mức khoán bảo vệ hơn là chi tiền cho bà con bảo vệ rừng.

    Vấn đề tiếp thu các ý kiến thì còn một số giới hạn nên Chính phủ chưa điều chỉnh ngay được.

    ĐB Lê Thị Kim Thanh (Hà Tĩnh): Diện tích trồng thông nước ta rất lớn, trong những thập kỷ vừa qua, rừng thông có tác dụng phòng hộ rất lớn, tạo thu nhập. Nhưng nạn sâu róm và cháy rừng ảnh huởng lớn đến rừng thông, xin Bộ trưởng cho biết cách xử lý cháy rừng, có thể thay thế loại cây này bằng các loại cây khác không?

    Hiện tại Hà Tĩnh và nhiều địa phương của cả nước đang tập trung trồng cây dó trầm. Nhưng chưa có nghiên cứu nào kết luận về kết quả chưng cất dầu trầm, bao nhiêu phần trăm là cây có trầm… Có nên để dân trồng cây dó trầm với hy vọng lớn mà không biết kết quả ra sao?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng cháy và bệnh sâu róm là mối đe dọa đối với rừng thông nhưng thông phù hợp với điều kiện lập địa của một số vùng đất, nếu giữ được thì mang lại lợi ích. Trước tình hình hiện nay, Bộ đã giao cho Cục tìm hướng giải quyết diệt trừ sâu róm. Cải tạo rừng thông này như thế nào thì xin phép cơ quan chức năng để xem xét cụ thể và làm việc cụ thể.

    Đối với cây dó trầm thì đến nay tôi chưa nhận được báo cáo khoa học nào khẳng định hiệu quả của cây trầm. Tôi đã yêu cầu giới thiệu những nông dân thành công để nhìn thấy tận mắt, giới thiệu với nhân dân nhưng chưa được giới thiệu nào.

    Một số chất vấn khác cũng được đưa ra để Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời trong phiên chất vấn vào sáng mai (24-11).

    ĐB Nguyễn Mạnh Đức (Yên Bái): Hiện nay khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Chủ trương chiến lược của Bộ trưởng để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nâng cao đời sống của nông dân? Nội dung chủ yếu, lộ trình thế nào?

    Tiền công trông giữ một xe máy từ 50.000-60.000/xe/tháng trong mức khoán bảo vệ rừng 100.000 đồng/1ha rừng, dựa vào đâu để tính định mức này? Như vậy liệu người dân có giữ rừng cho Nhà nước hay không?

    ĐB Nguyễn Thị Thu Hồng (Thừa Thiên – Huế): Một trong những giải pháp giảm bớt những khó khăn cho nông dân là giảm bớt đóng góp của nông dân. Báo cáo của Bộ trưởng không nêu về giải pháp này, mong Bộ trưởng giải thích thêm.

    ĐB Đinh Thị Thảo (Hòa Bình): Lý do chính điều chỉnh dự án trồng mới 5 triệu ha rừng thành trồng mới 4 triệu ha rừng? Ý kiến của riêng Bộ trưởng trong việc chuyển đổi dự án? Trách nhiệm của Bộ NN&PTNN đến đâu? Trách nhiệm của Bộ trưởng là như thế nào?

    ĐB Trần Luân Kim (Phú Yên): Những biện pháp thay đổi bộ mặt đời sống nông thôn sau khi gia nhập WTO?

    Bão lụt ở nuớc ta xảy ra thường xuyên và xảy ra định kỳ hằng năm, gây bất an cho dân. Năm vừa qua chúng ta đã có nhiều giải pháp hay nhưng vẫn còn bị động. Bộ trưởng cho biết chúng ta cần làm gì để giúp cho người dân? Chúng ta vẫn trong tình thế bị động, xử lý mang tính thời vụ. Chúng ta phải làm gì để giúp người dân giảm tối đa thiệt hại, có thể sống chung với biển.

    Công trình thủy điện sông Hinh đã hoàn thành 8 năm nhưng chỉ mới phát điện, chưa ứng dụng thủy lợi. Bộ trưởng cho biết bao giờ mới tiếp tục đầu tư cho công trình này?

    ĐB Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội): Nhiều tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa khan hiếm nước sinh hoạt, nói chi là nước sạch. xin Bộ trưởng căn cứ vào đâu mà Bộ trưởng cho rằng khả năng hết năm 2006, 6,6% người dân nông thôn đủ nước sạch để dùng. Từ khi nhậm chức đến nay Bộ trưởng đã đo khảo sát chưa?

    Chương trình nuôi bò sữa đã phá sản, trách nhiệm cụ thể của Bộ trong trường hợp này?

    Sạt lở bờ sông ở nhiều nước gây tổn hại cho Nhà nước và Nhân dân, nguyên nhân là do con người. Nhưng Bộ trưởng cho rằng là do trời, nguyên nhân khách quan. Bộ trưởng cho biết vì sao lại kết luận như vậy và ai sẽ chịu trách nhiệm?

    Trả lời cho các câu hỏi này, sáng 25-11, Bộ trưởng Cao Đức Phát trình bày:

    Sự chênh lệch thu nhập giữa vùng cao nhất Đông Nam bộ và thấp nhất Tây Bắc là 3,1 lần, mức chênh lệch trung bình giữa thành thị và nông thôn là 2,6 lần, và khoảng cách này có khả năng còn tiếp tục giãn ra.

    Bộ trưởng đề nghị Chính phủ và QH quan tâm nhiều hơn nữa, duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ít nhất là 4%/năm. Một thực tế là diện tích đất đai trồng trọt sẽ giảm đi, mỗi năm giảm 1% nên phải cố gắng duy trì và tăng thêm 3,5% để không có những biến động về sản lượng.

    Song song đó cần đổi mới chính sách khuyến khích đầu tư vào phát triển nông nghiệp. Hiện nay chỉ có 15% doanh nghiệp mới thành lập, dưới 5% vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào nông thôn. Muốn vậy, phải xây dựng cơ sở hạ tầng tốt hơn, ví dụ như nâng cấp hệ thống đường sá ở nông thôn.

    Thứ ba, chúng tôi cho rằng một trong những yếu tố rất quan trọng là việc phát triển nguồn nhân lực, trong đó là vấn đề giáo dục. Chính yếu tố này sẽ làm cho thanh niên nông thôn phát triển cao hơn, đáp ứng hơn cho nhu cầu lao động mới. Tây Bắc cần được ưu tiên phát triển hơn.

    Tăng mức khoán rừng từ 50.000đ/ha/năm lên 100.000đ/năm, chúng ta đã từng đề xuất, mỗi năm, một người dân nhận 30ha, giá lúa trung bình là 2.500đkg thì đủ sống, nhưng vào thời điểm này thì đã cao hơn.

    Về việc khoanh nuôi 1 triệu ha/5 triệu ha rừng: tạo mới rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, mục tiêu chính là sự bảo tồn đa dạng sinh học. Do vậy các nhà khoa học khuyến cáo rằng để làm tốt điều đó, chúng ta cần để cho sự phát triển tự nhiên diễn ra hơn là sự can thiệp con người. Về rừng phòng hộ, chúng ta cứ phát triển những loại cây hiện tại tốt hơn là việc trồng cây mới, và tốt hơn là trồng trên rừng cao. Một vấn đề nữa là khoanh nuôi thì tốn 1 triệu đồng/ha, còn trồng mới thì năm nay phải tốn 5 triệu đồng/ha (trong khi thực tế thì cần đến 8 triệu đồng/ha).

    Còn việc có nên chuyển thành mục tiêu quốc gia thì tôi cho rằng là chưa nên, để có thu hút nhiều hơn sự đầu tư – trong đó có quốc tế. Quan điểm của các nhà đầu tư quốc tế, thì muốn có rừng thì cần phải đầu tư cho đời sống tốt hơn, và ngoài 500 tỷ đồng thì số vốn đầu tư còn lại dánh cho đời sống của nhân dân”…

    Về việc quy hoạch lại chăn nuôi, trồng trọt, Bộ Trưởng cho biết Bộ đã có hướng dẫn các địa phương, đã làm đề án cho 7 vùng kinh tế, trong đó có chỉ tiêu hướng dẫn cho từng tỉnh, trên cơ sở đó, Bộ tham gia với từng tỉnh một.

    Về công trình thủy điện sông Hinh, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đã đưa vào hạng mục công trình trái phiếu, chúng tôi đã hoàn thiện hồ sơ và sẽ bắt đầu vào năm 2007.

    Trả lời cho căn cứ xác định chỉ tiêu nguồn nước cho người dân tại nông thôn là 66% người dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, Bộ trưởng cho biết đây là căn cứ của các báo cáo và những lần kiểm tra thực tế. “Thế nào là nước hợp vệ sinh, chúng tôi căn cứ theo 7 chỉ tiêu như độ màu, độ cặn… Đó là những nguồn nước từ nước mưa, nước giếng và khi uống thì phải được khử trùng đúng quy cách. Song, nếu căn cứ theo chỉ tiêu của Bộ Y tế thì con số chỉ là 30% chứ không phải 66% như tôi báo cáo. ĐB cũng đã hỏi tôi có đến các tỉnh làm việc về nguồn nước chưa, về cá nhân tôi cũng đã đến làm việc tại tất cả các tỉnh trên cả nước, cả những vùng sâu, vùng xa như báo chí phản ảnh, nhưng thời gian không nhiều nên thường là giải quyết các công việc chung”.

    ĐB Nguyễn Mạnh Đức tiếp tục chất vấn: Bộ NN&PTNT có những cơ chế chính sách gì để thúc đẩy phát triển Tây Bắc. Việc tăng rừng sản xuất, cho dân trồng rừng có bảo đảm được đầu ra và việc thu mua có thể tăng thu nhập cho người dân không?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Bộ đã tham gia với các bộ, tham mưu và Chính phủ đã có quyết định, nhiều chương trình cho Tây Bắc, 20 ngàn tỷ đồng cho chương trình di dân, khai hoang 10 ngàn ha…

    Dành 70 tỷ làm thủy lợi nhỏ cho các vùng Tây Bắc. Khai thác thế mạnh rừng, trồng cây nông nghiệp. Đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho dân. Hỗ trợ 2 triệu mua cây giống, trợ cấp lương thực cho bà con…

    Trồng rừng kinh tế thì phải theo quy luật thị trường. Bản thân Bộ không cử doanh nghiệp đến mua được, chỉ có thể nghiên cứu, hướng dẫn bà con trồng rừng, chọn cây sao cho hiệu quả nhất…

    ĐB Trần Luân Kim: Bão lụt vào nước ta hằng năm. Làm sao để không phải huy động lực lượng ầm ỉ, tốn kém mà vẫn tổn thất rất lớn?

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi đang xây dựng chiến lược giảm thiên tai, trong đó, từng vùng ở có nước sẽ có những biện pháp phòng chống khác nhau.

    ĐB Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh): Chúng tôi đang lo lắng việc cắt giảm rừng phòng hộ thành rừng sản xuất, theo tiêu chí mới của bộ thì rừng đặc dụng có thể giảm nhiều. Nhưng tôi muốn hỏi tiêu chí nào để xác định việc giảm rừng đặc dụng? Làm sao đảm bảo rằng chính sách mới của kiểm lâm có thể làm giảm việc mất rừng ồ ạt như trước kia?

    ĐB Lê Quốc Dung (Thái Bình): Nhiều năm qua chúng ta đã đề nghị việc giảm thủy lợi phí cho nông dân nhưng năm qua thì lại tăng thêm, làm cho nhiều địa phương phải bỏ ngân sách ra đảm bảo cho người dân yên tâm sản xuất! Hệ thống tiêu úng có phải được trích ra từ thủy lợi phí? Bộ trưởng nên xem lại vấn đề này. Chúng ta đã vào WTO, chúng ta sẽ được hỗ trợ thêm về vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp.

    ĐB Nguyễn Thị Ánh Tuyết (Quảng Ngãi): việc trồng mía của nông dân rất khó khăn, Bộ có chính sách nào hỗ trợ nào? Còn về dự án trồng mới rừng, chúng tôi chưa thấy có dự án bảo tồn các loại gỗ quý hiếm? Chính sách tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh mới?

    Phiên chất vấn được kéo dài thêm 15 phút. Bộ trưởng trả lời n thêm: Nước ta nên có 2 triệu ha rừng đặc dụng và 6 triệu ha rừng phòng hộ, song, con số thực tế thì đã vượt hơn con số cần thiết; do vậy chúng ta cần cân đối hài hòa việc bảo tồn giữa mục tiêu trồng rừng kinh tế và phòng hộ.

    Bên cạnh đó, kiểm lâm là cơ quan tham mưu cho chính quyền để bảo vệ rừng, một mình tổ chức kiểm lâm không thể làm được nên con đường tốt nhất là chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp.

    Về thủy lợi phí, thì số tiền dường như có vẻ cao hơn, song, khi quy thành tiền thấp hơn so với việc quy thành thóc như trước đây. Hệ thống tiêu úng, thì thực tế CP chi chứ không phải lấy từ thủy lợi phí. Về chính sách hỗ trợ, thì chúng tôi đang làm việc thêm về vấn đề này.

    Về nâng cao năng sức cạnh tranh của nông nghiệp VN, khi gia nhập WTO, chúng ta có hai vấn đề: giảm hàng rào thuế quan thì đòi hỏi chất lượng cao hơn; thị trường trong nước cũng sẽ có nhiều biến động. Chúng tôi cũng đã đề nghị các biện pháp để nâng cao các chính sách phát triển khoa học kỹ thuật để tăng cường tính cạnh tranh.

    Song, ĐB Nguyễn Thị Ánh Tuyết vẫn tranh luận: Bộ có giải pháp nào giúp dân tăng năng xuất mía? Việc bảo tồn cây gỗ quý sẽ được thực hiện ra sao?

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng: Vấn đề nông thôn rộng lớn, chất vấn phong phú là dễ hiểu, song xin dừng lại ở đây. Đề nghị Bộ trưởng và các cán bộ của Bộ NN&PTNT tiếp tục nghiên cứu về hai vấn đề cử tri cả nước quan tâm: Chính sách phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và đời sống nông dân ở vùng sâu, vùng xa, các vần đề việc làm, nước sạch, vệ sinh môi trường… Quốc hội tiếp tục chuyển sang phần trình bày và trả lời chất vấn của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh.

    Bộ trưởng Cao Đức Phát: Giống mía, chúng tôi có dự án về giống mía, nhân giống mía tốt cung cấp cho các địa phương, đồng thời bộ khuyến khích các doanh nghiệp tìm thêm giống tốt du nhập về VN. Về phần bảo tồn và phát triển cây gỗ quý chúng tôi giao Viện khoa học lâm nghiệp nâng cao chất lượng cây bản địa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Luận Văn Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Giải Pháp Nhàm Hạn Chế Sự Gia Tăng Của Nạn Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Những Biện Pháp Và Hạn Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Nỗ Lực Khắc Phục Khó Khăn, Khôi Phục Nền Kinh Tế Của Venezuela
  • Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Giảm Nghèo Đa Chiều Bền Vững Cho Các Tỉnh Tây Bắc
  • Giảm Nghèo Đa Chiều Bền Vững: Thực Tiễn Và Định Hướng, Giải Pháp Cho Các Tỉnh Tây Bắc
  • Đông Triều: Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Đa Chiều
  • Yên Sơn Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Giảm Nghèo Đa Chiều
  • Các Giải Pháp Giảm Nhẹ Phát Thải Khí Nhà Kính Ngành Xây Dựng
  • 1. Giải trình tính cấp thiết của nội dung ý tưởng cần đề xuất:

    Trong thời gian qua, công tác giảm nghèo của tỉnh Bắc Giang đã đạt được kết quả khá tích cực, đến năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 7,5%; trung bình, mỗi năm giảm được hơn 2%; ở các xã đặc biệt khó khăn, hộ nghèo giảm gần 5%/năm.

    Tuy nhiên theo chuẩn nghèo mới tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2022-2020 và kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Bắc Giang năm 2022, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã tăng lên gần 14% (60.745 hộ nghèo), tình trạng tái nghèo còn cao, giảm nghèo chưa bền vững. Nếu so sánh tỷ lệ hộ nghèo ở thời điểm năm 2010 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010) là 10%, thì cho thấy tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Bắc Giang có xu hướng tăng.

    Việc nâng chuẩn nghèo cho từng giai đoạn để dần tiệm cận với chuẩn quốc tế là rất cần thiết, nhằm đánh giá đúng mức sống của người dân để có những quyết sách phù hợp, nhưng nếu không có những giải pháp mang tính đột phá, thì chắc chắn số hộ nghèo ngày càng tăng hơn so với giai đoạn trước, do chuẩn nghèo ngày càng nâng cao hơn, mặt bằng mức sống của hộ nghèo là quá thấp, tự mình không đủ khả năng vươn lên thoát nghèo.

    Tuy đã có sự hỗ trợ của Nhà nước, tỉnh và huyện nhưng mới chỉ dừng ở mức giúp hộ nghèo đỡ khó khăn hơn. Nguyên nhân chính là thiếu cú huých, tạo điều kiện để hộ nghèo có đủ thực lực, tự bảo đảm cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

    2. Nội dung cụ thể của ý tưởng: 2.1. Phân công mỗi tổ chức hội cơ sở của các đoàn thể (Cựu chiến binh, Công đoàn, Thanh viên và Phụ nữ) giúp đỡ một hộ nghèo; đồng thời huy động sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, đơn vị tạo điều kiện cho tổ chức hội cơ sở tham gia hoạt động giúp đỡ hộ nghèo.

    – Toàn tỉnh hiện nay có khoảng 3.000 tổ chức hội cơ sở của 4 đoàn thể trên; thực hiện phân công mỗi tổ chức hội cơ sở giúp đỡ 01 hộ nghèo trong thời hạn 01 năm. Như vậy, mỗi một năm, toàn tỉnh sẽ có 3.000 hộ nghèo được giúp đỡ.

    – Cơ quan, tổ chức, đơn vị có tổ chức hội cơ sở cần tạo mọi điều kiện để tổ chức hội cơ sở của mình tham gia giúp đỡ hộ nghèo; hỗ trợ về xe đi lại, cơ sở vật chất cho hoạt động giúp đỡ hộ nghèo của tổ chức hội cơ sở.

    – Mục tiêu đặt ra là trong thời hạn 1 năm, phải giúp đỡ được hộ nghèo có đủ khả năng, điều kiện và thực lực để tự vươn lên thoát nghèo.

    2.2. Thực hiện hỗ trợ về trí lực, nhân lực và vật lực nhằm tạo “cú huých” giúp hộ nghèo thoát nghèo bền vững.

    – Về trí lực: huy động trí tuệ tập thể của toàn thể đoàn viên, hội viên của tổ chức hội cơ sở, cơ bản đều là những người có trình độ và kinh nghiệm sẽ cùng nghiên cứu, bàn với gia đình hộ nghèo để đưa ra phương án thúc đẩy phát triển kinh tế của hộ nghèo. Tùy theo năng lực của từng thành viên tổ chức hội cơ sở có thể dạy nghề, truyền đạt, cung cấp thông tin các kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi…

    – Về nhân lực: thực hiện mỗi tháng toàn thể đoàn viên, hội viên của tổ chức hội cơ sở dành 1 ngày nghỉ cuối tuần để lao động giúp đỡ hộ nghèo, thông qua các hoạt động giúp đỡ sản xuất như: trồng trọt, chăn nuôi…

    3. Phương pháp triển khai thực hiện ý tưởng:

    – Lựa chọn 01 địa bàn để triển khai, tập trung vào nơi khó khăn nhất như 13 xã nghèo của huyện Lục Ngạn, hiện có 6.644 hộ nghèo hoặc huyện Sơn Động, hiện có 9.665 hộ nghèo; trước mắt triển khai trong năm 2022.

    – Sở Lao động, Thương Binh và Xã hội phối hợp với các đoàn thể và các huyện thực hiện phân công phù hợp tổ chức hội cơ sở giúp đỡ 01 hộ nghèo cụ thể, theo hướng tổ chức hội cơ sở ở địa bàn huyện nào thì giúp đỡ hộ nghèo ở địa bàn huyện đó. Riêng các tổ chức hội cơ sở ở các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn và các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh thì phân công xuống giúp đỡ địa bàn đã lựa chọn Lục Ngạn hoặc Sơn Động.

    – Các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh có kế hoạch triển khai thực hiện; thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra hoạt động giúp đỡ hộ nghèo của các tổ chức hội cơ sở thuộc hội mình; định kỳ có báo cáo kết quả với UBND tỉnh.

    – Mỗi năm, dành một phần ngân sách của tỉnh và các nguồn xã hội hóa để hỗ trợ cây, con giống cho các hộ nghèo đã lựa chọn phân công các tổ chức hội giúp đỡ.

    – Cuối năm 2022, tổ chức đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng. Có chế độ khen thưởng xứng đáng đối với các tổ chức hội cơ sở hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo.

    4. Tính khả thi, khả năng áp dụng và nhân rộng của ý tưởng

    Trong điều kiện của tỉnh hiện nay, ý tưởng không khó để thực hiện; có tính khả thi và khả năng áp dụng ở các tỉnh, thành khác. Nếu thực hiện quyết liệt và tập trung từ 3-5 năm vào một địa bàn cụ thể, thì khả năng xóa nghèo bền vững tại địa bàn đó là rất khả thi.

    5. Dự kiến hiệu quả của ý tưởng khi triển khai

    – Về khoa học: Làm rõ cơ sở khoa học của việc giảm nghèo chưa bền vững; do đầu tư hỗ trợ chưa hiệu quả, mới dừng ở mức giảm bớt khó khăn, chưa phải là tạo thực lực để hộ nghèo có đủ khả năng vươn lên thoát nghèo. Đồng thời, đề xuất được giải pháp giảm nghèo bền vững và khi triển khai thực hiện ý tưởng trên cũng góp phần đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức đoàn thể đi vào thực chất, hiệu quả.

    – Về hiệu quả kinh tế: Việc đầu tư nguồn lực của tỉnh cho công tác giảm nghèo hằng năm là rất lớn, nhưng chưa hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo và tái nghèo còn cao. Nếu tập trung thực hiện nhiệm vụ trên, huy động được nguồn lực và xã hội hóa là chủ yếu để giảm nghèo, mỗi năm giảm bền vững thêm từ 2 – 3 nghìn hộ nghèo; nếu so sánh với cách làm cũ thì phải đầu tư từ ngân sách hàng trăm tỷ đồng mỗi năm; đồng thời, kinh tế hộ phát triển, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

    – Về hiệu quả xã hội: Huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành và các đoàn thể trong công tác giảm nghèo, tạo hiệu ứng tốt trong xã hội, góp phần thực hiện vượt chỉ tiêu giảm hộ nghèo mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đặt ra; đồng thời, tăng cường sự gắn bó giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể với nhân dân, tăng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền.

    Người đề xuất ý tưởng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giảm Nghèo Đa Chiều Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Làm Mát Hiệu Quả Cho Các Nhà Xưởng Hiện Nay
  • Nên Lựa Chọn Giải Pháp Làm Mát Nào Cho Nhà Xưởng?
  • Giải Pháp Làm Mát Cực Hiệu Quả Cho Nhà Xưởng
  • Giải Pháp Làm Mát Hiệu Quả Cho Các Nhà Xưởng Hiện Nay.
  • Giải Pháp Nào Cho Vấn Đề ‘khoảng Cách Giàu Nghèo Ngày Càng Rộng’?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giảm Phân Hóa Giàu Nghèo Ở Singapore Và Gợi Ý Cho Chính Sách Cho Việt Nam
  • Phân Phối Thu Nhập Hiệu Quả Để Giảm Khoảng Cách Giàu
  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu
  • Khoảng Cách Giàu Nghèo Ngày Càng Tăng Trên Quy Mô Toàn Cầu
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội
  • Trong kiến nghị gửi lên kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, cử tri TP Đà Nẵng cho rằng cuộc sống người dân được cải thiện nhiều, năm sau luôn cao hơn năm trước.

    “Tuy nhiên, khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng rộng, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu các giải pháp khắc phục tình trạng này”, cử tri TP Đà Nẵng đề nghị.

    Trả lời cử tri, Bộ LĐ, TB&XH cho biết sự phát triển liên tục của nền kinh tế nước ta sau thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, với tốc độ tăng trưởng khá cao, đời sống của nhân dân được cải thiện về nhiều mặt.

    Tuy nhiên, tình trạng phân hóa giàu – nghèo trong các tầng lớp dân cư lại gia tăng với khoảng cách ngày càng lớn thể hiện ở sự chênh lệch về thu nhập, mức sống chi tiêu, sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản giữa các nhóm dân cư; giữa các vùng miền; giữa nông thôn và thành thị.

    Để khắc phục tình trạng này, vừa đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng, bình đẳng xã hội và giảm nghèo bền vững, Chính phủ tập trung thực hiện các giải pháp như:

    Phân bổ nguồn lực hướng vào ưu tiên đầu tư cho tăng trưởng kinh tế bền vững, khuyến khích đầu tư của xã hội vào vùng kinh tế trọng điểm. Nhà nước tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, dịch vụ công quan trọng, một số ngành sản xuất thiết yếu, then chốt, đóng vai trò chủ đạo và lĩnh vực cần thiết cho xã hội mà tư nhân không thể hoặc chưa thể đảm đương được.

    Ưu tiên hỗ trợ đầu tư vào các vùng kém phát triển, để giảm sự cách biệt giữa các vùng miền; đặc biệt, tăng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân nhằm xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội hiện đại; quan tâm đến các vùng, đối tượng còn nhiều khó khăn; Tăng đầu tư cho phát triển xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội.

    Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực dựa trên kế hoạch trung hạn 5 năm 2022-2020 và nhu cầu phát triển của từng lĩnh vực, vùng miền để bảo đảm công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển con người, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo hướng tới đảm bảo các nhu cầu xã hội cơ bản như: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin.

    Điều chỉnh mô hình đô thị hoá bảo đảm đô thị hoá trải rộng trên phạm vi cả nước; ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường và đô thị hoá nông thôn, cho một số vùng khó khăn, kinh tế thị trường chưa phát triển, có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

    Thực hiện có hiệu quả 2 Chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình mục tiêu giai đoạn 2022-2020.

    Bộ Tài chính lý giải việc ‘xăng tăng 2.000 – 3.000 đồng nhưng giảm chỉ vài trăm đồng’

    Bộ Tài chính thông tin về việc cử tri bức xúc khi “xăng tăng 2.000-3.000 đồng nhưng giảm chỉ vài trăm đồng”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Trên Địa Bàn Huyện Yên Khánh, Tỉnh Ninh Bình
  • Những Kết Quả Xoá Đói Giảm Nghèo Trên Thế Giới Và Bài Học Kinh Nghiệm
  • Xóa Đói Giảm Nghèo, Một Kỳ Tích Của Trung Quốc
  • Hạn Chế Trong Thực Hiện Công Tác Giảm Nghèo
  • Hiệu Quả Công Tác Giảm Nghèo
  • Đề Xuất Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Vấn Đề Nghèo Đói Ở Việt Nam Và Đề Xuất Các Giải Pháp Giúp Xóa Đói Giảm Nghèo
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • 5 Giải Pháp Kiềm Chế Nợ Công
  • Công Khai Nợ Công Và Giải Pháp Trong Xử Lý Nợ Công
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Nguồn Nước Sông Cầu
  • Cựu chiến binh Lê Thái Học.

    Tôi thấy có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo về BHYT, giáo dục, nhà ở…, nhưng lại không có giải pháp “buộc” họ cố gắng, đã dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại, lười lao động.

    Nhìn chung, đa số các hộ nghèo là do không có trình độ chuyên môn, không việc làm, thiếu vốn, thiếu phương tiện sản xuất. Một số khác không có khả năng thoát nghèo như già yếu, cô đơn, thiếu người lao động, nhiều người ăn theo, hộ có người tàn tật nặng, bị bệnh tâm thần…

    Cần tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, cộng đồng và bản thân người nghèo. Hộ nghèo cần tự giác và có trách nhiệm với chính mình. Bên cạnh, Đảng và Nhà nước cần chú trọng hơn trong việc nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; rà soát, phân loại hộ nghèo để có chính sách hỗ trợ cụ thể, giảm dần việc “cho không” để khuyến khích hộ nghèo

    vươn lên.

    Cụ thể, đối với nhóm nghèo do hoàn cảnh (thiếu vốn, tư liệu sản xuất…), cần tập trung mạnh hỗ trợ khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công; hỗ trợ cây, con giống có năng suất, chất lượng cao; hỗ trợ mua sắm công cụ, vật tư sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản; giúp người nghèo tiếp cận các dịch vụ và ứng dụng khoa học- kỹ thuật vào sản xuất.

    Đối với nhóm không chịu lao động, không biết tổ chức cuộc sống, sa vào các tệ nạn, nghiện ngập, ỷ lại, trông chờ thì cần vận động, tuyên truyền, giúp họ chuyển đổi nhận thức; giáo dục, khuyến khích, động viên họ nâng cao ý thức, ý chí phấn đấu thoát nghèo trước khi hỗ trợ vốn, tư liệu sản xuất. Theo tôi, nếu không có các khoản hỗ trợ sẽ khó giúp họ giảm nghèo. Tuy nhiên, nếu chưa giúp họ chuyển biến nhận thức mà hỗ trợ thì họ sẽ tiêu xài hết, nghèo sẽ hoàn nghèo.

    Đối với nhóm không có khả năng thoát nghèo, chỉ còn cách vận động các nguồn hỗ trợ và đưa vào diện bảo trợ xã hội để đảm bảo an sinh cho họ.

    Bên cạnh, cần bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo có đủ tâm huyết, kiến thức để hướng dẫn, giúp đỡ các hộ nghèo về biện pháp, cách thức để từng bước xóa nghèo hiệu quả.

    XUÂN TƯƠI (ghi)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tiểu Luận Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Việt Nam Thực Trạng Và Những Vấn Đề Đặt
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Cho Người Dân Nông Thôn
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Các Ban Quản Lý Dự Án Giảm Nghèo Giai Đoạn 2 Tỉnh Yên Bái (2010 2022)
  • Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Thực Hiện Chương Trình Giảm Nghèo Trên Địa Bàn Huyện Sơn Động, Tỉnh Bắc Giang
  • Giải Pháp Nào Để Giảm Nghèo Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Ở Ðạ Tẻh
  • Các Giải Pháp Chủ Yếu Thực Hiện Của Chương Trình Giảm Nghèo Bền Vững Giai Đoạn 2022
  • Tp Cần Thơ Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Trong Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Ở Các Huyện Miền Núi Tỉnh Quảng Ngãi
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Triển Khai Hiệu Quả Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững
  • Bài 3: Giải pháp nào để giảm nghèo bền vững?

    Cần nhận diện chính xác, công bằng tình trạng nghèo

    Có rất nhiều câu hỏi đặt ra trong công tác giảm nghèo thời gian qua. Trong khi cơ chế chính sách, con người, nguồn lực như nhau, nhưng có nơi tốc độ giảm nghèo nhanh, có nơi rất chậm, thậm chí số người nghèo phát sinh rất lớn. Có hay không tình trạng trục lợi chính sách?. Liệu chính sách có đến đúng đối tượng, đúng mục đích đặt ra hay không? Vì sao số huyện thoát nghèo lại ít hơn số huyện bổ sung vào danh sách huyện nghèo? Những câu hỏi này cần phải tìm được lời giải chính xác.

    Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiến cho rằng, cần tích hợp, thu gọn đầu mối quản lý chính sách dân tộc, tập trung vào những vấn đề căn cốt nhất như: hạ tầng, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, tạo sinh kế, đất đai, vốn, sinh kế. Nên tính đến địa bàn đặc thù, dân tộc đặc thù cho từng vùng miền cụ thể. Thời gian tới, việc phân định vùng dân tộc thiểu số, miền núi phải tính toán hợp lý, khoa học, đảm bảo khách quan, công bằng hơn để làm cơ sở triển khai chính sách dân tộc, đảm bảo đúng đối tượng, hiệu quả.

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân yêu cầu: các cấp chính quyền cần nhận diện chính xác, công bằng tình trạng nghèo của địa phương mình để tìm ra giải pháp phù hợp. Thời gian tới, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của toàn xã hội và các cấp chính quyền, không thể trông chờ, ỷ lại vào nguồn ngân sách của nhà nước; làm rõ nguyên nhân của tình trạng nhiều hộ không muốn thoát nghèo; cần nhân rộng các mô hình thoát nghèo hiệu quả…

    Nhân rộng các mô hình giảm nghèo theo chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội là rất quan trọng. Đơn cử như mô hình “3 công chức giúp một hộ thoát nghèo” ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam là cách làm đầy sáng tạo, hiệu quả. Cái hay là các hộ tự nguyện đăng ký thoát nghèo. Từ đầu năm 2022, huyện Nam Trà My triển khai cuộc vận động “3 công chức, lao động giúp một hộ thoát nghèo”. Trong năm 2022, có gần 400 hộ ở 10 xã đăng ký thoát nghèo và có 150 hộ cận nghèo đăng ký thoát nghèo vượt trên chuẩn cận nghèo. Với sự hỗ trợ của chính quyền huyện và sự hướng dẫn có trách nhiệm của các công chức, viên chức, trong năm 2022, toàn huyện đã có 435 hộ thoát nghèo… Năm 2022, huyện Nam Trà My đặt ra chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 7-8% trên toàn huyện và đã có 244 hộ đăng ký thoát nghèo trong đợt I.

    Can thiệp có mục tiêu

    Cùng với những giải pháp trên, Việt Nam cần tranh thủ sự hỗ trợ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Những khuyến nghị của cộng đồng quốc tế là bài học quý cho Việt Nam trong công tác giảm nghèo.

    Xóa nghèo cùng cực và thúc đẩy sự thịnh vượng chung là hai mục tiêu của Ngân hàng Thế giới nhằm hỗ trợ các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo Báo cáo cập nhật về đói nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam năm 2022 được công bố bởi Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Thế giới khuyến nghị: Việt Nam cần nâng cao năng suất lao động và đầu tư vào cơ sở hạ tầng để duy trì việc làm và tăng lương mà không giảm khả năng cạnh tranh; thực hiện cải cách giáo dục nhằm đảm bảo sự công bằng trong các cơ hội và phát triển kỹ năng của lực lượng lao động; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp thông qua thay đổi mô hình sử dụng đất nông nghiệp; tăng cường quyền sử dụng đất và nâng cao kỹ năng cho nông dân nghèo…

    Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã chỉ ra: Chương trình giảm nghèo đang thay đổi chứ không đứng yên. Khi thoát nghèo, khát vọng của người dân thay đổi, chuyển trọng tâm từ chỗ chỉ đơn thuần là ăn no mặc ấm, đến mục tiêu kiếm đủ tiền để đảm bảo về kinh tế và sống cuộc sống của tầng lớp trung lưu. Điều này lại đòi hỏi thu nhập trong tương lai thậm chí phải tăng với tốc độ cao hơn. Chương trình nghị sự không chỉ là tạo công ăn việc làm, mà tạo việc làm và cơ hội kinh tế tốt hơn. Cần hỗ trợ người nghèo phát triển kinh tế tư nhân, sáng tạo và công nghệ, có thể giúp đánh thức tiềm năng. Ngay cả khi đa số mối quan tâm của người dân chuyển sang nâng cao chất lượng cuộc sống, nên phải lưu tâm hỗ trợ người nghèo những gì thật cần thiết và thực hiện các can thiệp có mục tiêu, đem lại hy vọng và tạo cơ hội để người nghèo cũng có thể hưởng lợi từ những tiến bộ chung trong xã hội.

    Đồng thời, thực hiện những đầu tư cơ sở hạ tầng để kết nối người nghèo với các cơ hội kinh tế tốt hơn. Tiếp tục tái cơ cấu nông nghiệp để người nghèo ở nông thôn, đặc biệt là ở miền núi, có thể trồng trọt hoặc tham gia các hoạt động nông nghiệp mang lại giá trị cao nhất ở đó. Cần tạo cơ hội để trẻ em từ mọi thành phần có cơ hội được học tập vui chơi và vươn lên phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đại học tốt và xây dựng các kỹ năng để sinh viên ra trường có công việc tốt trong tương lai…

    Công cuộc giảm nghèo còn dài và không ít những gian nan. Khi cả hệ thống chính trị chung tay cùng với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam cần nhận diện chính xác tình trạng nghèo để có bước đi hiệu quả…

    Các cấp chính quyền cần nhận diện chính xác, công bằng tình trạng nghèo của địa phương mình để tìm ra giải pháp phù hợp. Thời gian tới, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của toàn xã hội và các cấp chính quyền, không thể trông chờ, ỷ lại vào nguồn ngân sách của nhà nước; làm rõ nguyên nhân tình trạng nhiều hộ không muốn thoát nghèo; cần nhân rộng các mô hình thoát nghèo hiệu quả…” (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân)

    THANH HUYỀN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Giảm Nghèo Bền Vững
  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững, Phát Huy Tinh Thần Tự Lực Vươn Lên Của Người Dân Củ Chi
  • Quảng Ninh Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Hiệu Quả, Bền Vững
  • Lang Quán Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Giảm Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Đội Ngũ Cộng Tác Viên Giảm Nghèo Ở Tỉnh Ta
  • Năm 2022: Giảm Nghèo Bền Vững, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực
  • Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Thực Hiện Chương Trình Giảm Nghèo Trên Địa Bàn Huyện Sơn Động, Tỉnh Bắc Giang
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Các Ban Quản Lý Dự Án Giảm Nghèo Giai Đoạn 2 Tỉnh Yên Bái (2010 2022)
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Cho Người Dân Nông Thôn
  • Năm 2022 tỉnh Bắc Kạn phấn đấu giảm 2.133 hộ nghèo. Để đạt mục tiêu này, các cấp, ngành, địa phương tích cực triển khai nhiều giải pháp, chính sách hỗ trợ, xây dựng các mô hình sản xuất nâng cao thu nhập, từng bước giúp người dân thoát nghèo bền vững.

    Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất giúp các hộ nghèo có thu nhập ổn định

    Là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao so với mặt bằng chung của cả nước, giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Những năm qua, tỉnh Bắc Kạn đã ban hành nhiều văn bản và chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện kịp thời công tác giảm nghèo trên địa bàn như: Kế hoạch triển khai Đề án thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2022 – 2022; Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 – 2022. Hàng năm, công tác kiểm tra, rà soát hộ nghèo được thực hiện đảm bảo đúng quy định.

    Toàn tỉnh Bắc Kạn hiện còn 19.379 hộ nghèo/78.987 hộ, chiếm tỷ lệ 24,53% (giảm 2,08% so với năm 2022); số hộ cận nghèo còn 9.658/78.987 hộ chiếm tỷ lệ 12,23%, giảm 0,7%. Năm 2022, tỉnh Bắc Kạn đề ra mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,7% (tương đương 2.133 hộ), trong đó huyện nghèo, xã nghèo phấn đấu giảm trên 4%. Theo đăng ký phấn đấu giảm nghèo của các địa phương, năm 2022 sẽ có tổng số 2.670 hộ thoát nghèo.

    Năm 2022 chính sách tín dụng ưu đãi cho giảm nghèo của tỉnh dự kiến tăng trưởng khoảng 135 tỷ đồng; chính sách hỗ trợ về bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách xã hội khoảng 64 tỷ đồng; chính sách hỗ trợ về giáo dục là 44 tỷ đồng; chính sách cho vay hỗ trợ về nhà ở gần 11 tỷ đồng; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo và hộ chính sách xã hội là 12,7 tỷ đồng. Nguồn vốn phân bổ từ các dự án chương trình 30a là 57 tỷ đồng, vốn chương trình 135 là 126 tỷ đồng, vốn hỗ trợ phát triển sản xuất đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo tại các xã ngoài chương trình 30a và chương trình 135 là 630 tỷ đồng.

    Theo Văn phòng Điều phối Nông thôn mới và Giảm nghèo tỉnh Bắc Kạn, trong 5 tháng đầu năm 2022, toàn tỉnh đã có tổng số 2.133 hộ (nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo) được vay vốn phát triển sản xuất; 3.730 lao động được giải quyết việc làm. Các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, văn hóa thông tin tiếp tục được thực hiện tốt với 196.538 lượt người nghèo và dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách xã hội được hỗ trợ mua thẻ Bảo hiểm y tế; 6.959 lượt học sinh được miễn giảm học phí, 2.383 học sinh được hỗ trợ tiền ăn, 111 học sinh được hỗ trợ tiền ở, 10.253 lượt học sinh được hỗ trợ lương thực…

    Đồng bộ các giải pháp

    Tỉnh Bắc Kạn đề ra nhiều giải pháp đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,7% trong năm 2022, trong đó tập trung triển khai mạnh mẽ, hiệu quả các dự án hỗ trợ đầu tư như: Hỗ trợ sản xuất, vay vốn, dạy nghề, tạo việc làm cho hộ nghèo; thực hiện tốt chính sách trồng và bảo vệ rừng để tăng thu nhập, chuyển giao tiến bộ khoa học cho hộ nghèo; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và dạy nghề để người nghèo có điều kiện chuyển đổi nghề, vươn lên thoát nghèo. Cùng với đó, tiếp tục triển khai khai hiệu quả các chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo, trong đó ưu tiên những hộ đăng ký thoát nghèo, những hộ có khả năng thoát nghèo theo 3 nhóm chính sách: Hỗ trợ phát triển sản xuất; nâng cao thu nhập cho hộ nghèo; hỗ trợ hiệu quả cho hộ nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin).

    Để giảm nghèo bền vững, việc thay đổi nhận thức của người nghèo là điều hết sức quan trọng. Một trong những giải pháp đưa ra trong thực hiện giảm nghèo của tỉnh là đẩy mạnh công tác truyền thông giảm nghèo đa chiều bằng nhiều hình thức nhằm thay đổi nhận thức trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo của người dân, tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả chính sách hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng để thoát nghèo bền vững. Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thực hiện, lồng ghép các nguồn vốn gắn kết với chương trình, dự án khác trên địa bàn giúp đỡ các xã nghèo, huyện nghèo để tập trung nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.

    Với mục tiêu giảm nghèo đặt ra trong năm 2022, công tác giảm nghèo cần có sự tập trung của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp để triển khai đồng bộ các giải pháp. Mỗi địa phương cần tập trung rà soát và có kế hoạch, lộ trình giảm nghèo cụ thể, phù hợp thực tế trên cơ sở các chính sách phát triển kinh tế – xã hội đã được hoạch định, nhất là các giải pháp căn cơ, lâu bền giảm nghèo cho các hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập và hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều, tạo cơ hội cho người nghèo tham gia để từng bước vươn lên trong cuộc sống./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Trung Vào 4 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Giảm Nghèo
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Ở Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội
  • Khoảng Cách Giàu Nghèo Ngày Càng Tăng Trên Quy Mô Toàn Cầu
  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu
  • Giải Pháp Để Giảm Nghèo Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Giải Pháp Giúp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững
  • Ba Giải Pháp Chính Để Giảm Nghèo Bền Vững
  • Nhiều Giải Pháp Góp Phần Giảm Nghèo Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Hướng Tới Mục Tiêu Giảm Nghèo Nhanh Và Bền Vững Ở Quảng Nam
  • Sơn La Triển Khai Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Trong số báo 1556, ra ngày 27/9/2919, Báo Dân tộc và Phát triển đã phản ánh thực trạng giảm nghèo nhanh nhưng thiếu bền vững ở vùng DTTS và miền núi khi mà tỷ lệ nghèo phát sinh mỗi năm còn tương đối lớn. Đây rõ ràng là một nghịch lý, bởi ngân sách Trung ương đã chi hàng chục nghìn tỷ đồng để thực hiện các chương trình, dự án, đề án nhằm đạt mục tiêu giảm nghèo bền vững.

    Nguyên nhân của nghịch lý này đã được các chuyên gia phân tích, làm rõ. Đặc biệt, tình trạng đầu tư, hỗ trợ dàn trải khiến nguồn lực vốn đã eo hẹp càng bị lãng phí hơn khiến mục tiêu giảm nghèo bền vững của các chương trình, chính sách tỏ ra “hụt hơi” trong thực tế đã được mổ xẻ rất nhiều trong các hội nghị, hội thảo.

    Nhưng “gốc rễ” của vấn đề là ở khâu thiết kế chương trình, chính sách về giảm nghèo. Một điểm dễ nhận thấy nhất là ở hầu hết các chương trình, chính sách là đều tiếp cận ở quan điểm hỗ trợ để đồng bào DTTS thoát nghèo. Vì là hỗ trợ nên dẫn đến thực trạng việc thực hiện chính sách “có cũng được, không có cũng không sao”.

    Những tồn tại, hạn chế trong các chương trình, chính sách về giảm nghèo đã được nhận diện từ lâu, nhất là hạn chế trong khâu thiết kế chính sách. Nhưng như chia sẻ của ông Ngô Trường Thi, Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (Bộ LĐTB&XH) thì chính sách là lâu dài, dù nhận diện được tồn tại, hạn chế cũng không thể sửa đổi, bổ sung trong ngày một ngày hai.

    Như chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo DTTS theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg; được triển khai từ năm 2009. Số tiền hỗ trợ cho hộ nghèo không nhiều (80 nghìn đồng/nhân khẩu/hộ ở xã khu vực II, 100 nghìn đồng/nhân khẩu/hộ ở xã khu vực III) nên chỉ giải quyết được nhu cầu chi tiêu trước mắt của đồng bào DTTS, không tạo ra đột phá đề giảm nghèo. Hạn chế của chính sách này đã được nhận diện, nhưng phải gần 10 năm sau (bắt đầu từ 01/1/2019), chính sách hỗ trợ trực tiếp mới chính thức bãi bỏ.

    Thay đổi quan điểm tiếp cận

    Cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, tái nghèo và nghèo phát sinh luôn là một khía cạnh trong lĩnh vực giảm nghèo. Với xuất phát điểm thấp, lại thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai nên không thể mặc định rằng, công tác giảm nghèo ở vùng DTTS và miền núi “chỉ có tiến, không có lùi”.

    Không khó để nhận thấy, hộ nghèo DTTS (thậm chí là hộ cận nghèo) sinh sống ở địa bàn khó khăn rất khó thoát nghèo bền vững nếu các chương trình, chính sách chỉ mang tính hỗ trợ. Bởi nếu là hỗ trợ thì chỉ mới dừng lại ở việc “đắp vá” những chỗ thiếu hụt trong đời sống của đồng bào.

    Do đó, việc Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội được Chính phủ giao Ủy ban Dân tộc xây dựng, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 8 sắp tới thay đổi cách tiếp cận chính sách, từ hỗ trợ sang đầu tư phát triển, đem lại nhiều kỳ vọng mới trong công tác giảm nghèo bền vững vùng DTTS và miền núi. Đây là điểm mới, cũng là điểm trọng tâm, đột phá trong xây dựng chính sách phát triển vùng DTTS và miền núi trong thời gian tới.

    Quan điểm tiếp cận này cũng là cơ sở để đề xuất xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia riêng để phát triển vùng DTTS và miền núi. Bởi chỉ khi xây dựng thành Chương trình mục tiêu thì những tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách về giảm nghèo mới được giải quyết triệt để.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học Là Cực Kỳ Quan Trọng
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Xã Đạt Chuẩn Ntm Nâng Cao, Thôn Dân Cư Ntm Kiểu Mới Giai Đoạn 2022
  • Nam Định: Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Thực Hiện Các Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Giai Đoạn Sau Năm 2022
  • Đảng Bộ Xã Thiệu Minh Lãnh Đạo Nâng Cao Chất Lượng Các Tiêu Chí Nông Thôn Mới
  • Duy Trì, Nâng Chất Xã Nông Thôn Mới
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100