Giáo Dục Tình Cảm Đạo Đức Cho Trẻ 5

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục “tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh” Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 3 4 Tuổi Học Tốt Môn Toán Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 6 Tuổi Học Tốt Môn Toán
  • Luận Văn Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 5
  • Tp Hồ Chí Minh: Nhiều Biện Pháp Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    NGUYỄN NGỌC BÍCH

    GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

    TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –

    THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC

    GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    SƠN LA, NĂM 2013

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    NGUYỄN NGỌC BÍCH

    GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

    TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –

    THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC

    GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

    CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ

    LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Người hướng dẫn: Th.S Trịnh Thị Hồng

    SƠN LA, NĂM 2013

    LỜI CẢM ƠN

    Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dựa trên sự hướng dẫn khoa học

    của cô giáo, Thạc Sĩ Trịnh Thị Hồng. Nhân dịp khóa luận được công bố, em

    xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Thạc Sĩ Trịnh Thị Hồng – người đã

    trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình cho em trong quá trình thực hiện

    đề tài này.

    Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào Tạo, các thầy,

    cô giáo khoa Tiểu học – Mầm non, thư viện trường Đại học Tây Bắc, các ban

    ngành chức năng và tập thể lớp K50 Đại học giáo dục Mầm non.

    Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường

    Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La đã tận tình giúp

    đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này.

    Với nội dung khóa luận này em rất mong nhận được những ý kiến đóng

    góp của thầy cô và các bạn!

    Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn!

    Sơn La, tháng 5 năm 2013

    Người thực hiện

    Nguyễn Ngọc Bích

    DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

    GDĐĐ

    : Giáo dục đạo đức

    MGB

    : Mẫu giáo bé

    MGL

    : Mẫu giáo lớn

    MGN

    : Mẫu giáo nhỡ

    NXB

    : Nhà xuất bản

    STT

    : Số thứ tự

    %

    : Phần trăm

    MỤC LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………………………… 1

    2. Lịch sử vấn đề …………………………………………………………………………………… 3

    3. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………….. 5

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………………………………. 5

    5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………… 5

    6. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………….. 5

    6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ………………………………………………………… 6

    6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn …………………………………………………….. 6

    6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………. 6

    7. Đóng góp của khóa luận ……………………………………………………………………… 6

    8. Giả thuyết khoa học ……………………………………………………………………………. 6

    9. Cấu trúc của khóa luận ……………………………………………………………………….. 7

    PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………………………………. 8

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN …………………………………………………………….. 8

    1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non ………………………………………………………. 8

    1.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non ……………………………………….. 9

    1.2.1. Khái niệm đạo đức………………………………………………………………………… 9

    1.2.2. Khái niệm giáo dục……………………………………………………………………….. 9

    1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức …………………………………………………………. 10

    1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo ……………………. 10

    1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức ……………………………………………………… 11

    1.3. Truyện cổ tích với trẻ mẫu giáo ……………………………………………………….. 14

    1.4. Đặc điểm tâm lí trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với việc lựa chọn truyện cổ tích

    để giáo dục đạo đức ……………………………………………………………………………… 18

    TIỂU KẾT………………………………………………………………………………………….. 22

    3.7. Một số giáo án ………………………………………………………………………………. 42

    TIỂU KẾT………………………………………………………………………………………….. 52

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………………………… 53

    1. Kết luận ………………………………………………………………………………………….. 53

    2. Kiến nghị………………………………………………………………………………………… 54

    TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………… 55

    PHỤ LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Tại điều 22 luật giáo dục (2005) của nước ta xác định: “Mục tiêu giáo dục

    mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành

    những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một”. Trong

    tương lai trẻ em tuổi mầm non của ngày hôm nay sẽ trở thành người lao động,

    người công dân thực sự của đất nước nhưng việc đào tạo con người mới lại phải

    bắt đầu ngay từ thuở lọt lòng. Khi bàn về bản chất con người, đứng trên quan

    điểm xã hội học, Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập

    tương viễn”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính tình khá

    đồng nhất, nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính tình

    đâm ra khác biệt nhau. Còn Tuân Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản ác, lý tính hậu

    lai tập đắc”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do

    học tập mà có lý trí, biết cái đúng cái sai. Mạnh Tử và Tuân Tử đều là bậc thầy

    của Nho giáo thời Chiến quốc, dù có những đánh giá khác nhau về tính con

    người, nhưng đều thống nhất rằng môi trường và sự giáo dục sẽ làm con người

    thay đổi, nghĩa là giáo dục đóng vai trò quyết định cho bản tính của con người

    trong tương lai.

    Mục tiêu của giáo dục thật sự rất rõ ràng là dạy làm người, nghĩa là rèn

    luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức,

    kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Giáo dục

    không chỉ là việc cung cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực

    con người, mà hơn hết mục tiêu chính và quan trọng nhất của giáo dục không gì

    khác chính là “dạy cách làm người”. Giúp con người bồi dưỡng tâm hồn và rèn

    giũa nhân cách, hoàn thiện bản thân, có như vậy con người mới có thể phát triển

    toàn diện được. Mục tiêu ấy của giáo dục không phải có thể hoàn thành một

    cách nhanh chóng trong một sớm một chiều, mà nó là cả một quá trình dài thực

    hiện theo những cấp độ khác nhau, từ khi trẻ được sinh ra cho đến hết bậc học

    phổ thông hoặc cao hơn nữa. Trong đó tập trung chủ yếu ở các cấp học mầm

    non, tiểu học và phổ thông cơ sở và tất nhiên là khâu quan trọng nhất, cũng là

    nền tảng cho việc hình thành những kĩ năng đầu tiên với cuộc sống. Tạo dựng

    những nền tảng căn sơ cho nhân cách sau này của trẻ chính là ở trường mầm

    non. Bởi lẽ, đây là thời kỳ quan trọng nhất của trẻ khi các em mới chập chững

    làm quen với xã hội bên ngoài sự bao bọc của gia đình. Đây cũng là thời kỳ tiên

    quyết, giúp trẻ chuẩn bị những hành trang đầu tiên để bước vào đời sau này.

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết

    1

    ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Đó như một lời khẳng định cho sự ngây

    thơ, hồn nhiên, trong sáng của trẻ. Khi mới sinh ra trẻ em như một tờ giấy trắng

    tinh khôi không hề tì vết, không vấy bẩn và trong sáng vô cùng. Sự trong sáng

    ngây thơ ấy mang lại cho trẻ sự hồn nhiên nhưng cũng khiến trẻ không đủ khả

    năng để có thể vững vàng trong cuộc sống. Bởi vậy, trẻ rất dễ bị ảnh hưởng bởi

    những tác động của xã hội xung quanh.

    Đặc biệt, ở lứa tuổi mầm non, trẻ chủ yếu nhận biết xã hội bằng việc quan

    sát và bắt chước những gì quan sát được, chứ chưa thể có những chủ kiến của

    bản thân cũng như có được sự đánh giá đúng sai để xem xét có nên học tập hay

    không. Bởi vậy mà tâm hồn trong sáng ngây thơ của trẻ rất có khả năng sẽ bị

    biến đổi nhanh chóng, trở thành những đứa trẻ hư, những học sinh kém…

    Chúng ta cũng từng khẳng định trẻ em là mầm non tương lai của đất nước. Có lẽ

    nào ta lại để những mầm non ấy chưa kịp lớn lên đã dần thui chột và lụi tàn. Vì

    vậy, giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ là nhiệm vụ rất quan trọng trong các cơ

    sở giáo dục mầm non và trong môi trường gia đình của trẻ. Khoa học tâm lý đã

    khẳng định rằng khi hết tuổi mầm non, ở đứa trẻ đặt xong nền móng đầu tiên

    của nhân cách, sự phát triển về mặt đạo đức cho trẻ sau này đều mang rõ dấu ấn

    của thời ấu thơ. Vì thế, từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát triển toàn diện

    cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành tình cảm đạo đức cho trẻ theo

    phương hướng, yêu cầu mà xã hội mới đặt ra.

    Môn “Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” có vai trò rất

    quan trọng đối với sự hình thành và phát triển đạo đức cho trẻ. Từ lâu người ta

    đã nhận thấy văn học là nguồn không cạn của tri thức, là kinh nghiệm sống mà

    con người cần tiếp thu và phát triển. Người ta cũng thấy rõ vị trí sức mạnh riêng

    của tác phẩm văn học trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trẻ mầm

    non nói riêng. Trong các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi có một thể loại

    văn học được trẻ em trên khắp thế giới yêu thích và được nhân dân lao động từ

    ngàn xưa coi là một công cụ hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho trẻ đó là truyện

    cổ tích. Ngay từ khi ra đời truyện cổ tích đã mang trong mình sứ mệnh vẻ vang,

    là một phương tiện để giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho trẻ. Truyện cổ

    tích mang nội dung luân lí, đạo đức, triết học rất rõ ràng. Vì vậy những bài học

    đạo đức ở đây trở nên sâu sắc. Mọi sự vật, hiện tượng đều có quan hệ nhân quả:

    gieo gió gặp bão, ở hiền gặp lành. Qua những hiện tượng trong cổ tích, trẻ em

    nhận thức được những khái niệm đầu tiên về sự công bằng và bất công, về nền

    văn hóa của dân tộc mình… Như vậy việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn

    học đặc biệt là thông qua truyện cổ tích có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục

    đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất tâm hồn, phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo. Có

    2

    thể nói trẻ rất nhạy cảm với nội dung đạo đức trong tác phẩm văn học. Giáo dục

    đạo đức là một trong những mặt quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách.

    Hiện nay, ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu –

    Sơn La, vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua giờ kể chuyện cổ

    tích còn ít được đề cập đến hoặc có được đề cập đến nhưng chưa được áp dụng

    rộng rãi. Vì vậy để trẻ phát huy được tối đa những tình cảm đạo đức, tính tích

    cực, sáng tạo, tư duy tưởng tượng các nhà giáo dục cần có biện pháp và phương

    pháp giúp trẻ phát triển tình cảm đạo đức thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, mức độ biểu hiện tình cảm đạo

    đức của trẻ chưa cao, một trong những nguyên nhân đó là ở trường mầm non

    còn mang nặng tính hình thức, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo viên chưa

    chú trọng phát huy vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển tình cảm đạo

    đức của trẻ. Một trở ngại lớn đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua

    truyện cổ tích đó là việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ. Mác nói: “Ngôn ngữ là vỏ

    hiện thực của lời nói và tư duy”. Không đủ vốn từ hay vốn từ không được tích

    cực hóa thì không thể hiểu được ý của người khác nói, không thể diễn đạt được

    điều mình muốn nói cho người khác hiểu được. Bên cạnh đó cơ sở vật chất còn

    hạn hẹp, phụ huynh thiếu quan tâm đến sự phát triển đạo đức của trẻ, trẻ chủ yếu

    sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để giao tiếp. Mà đặc biệt là giáo viên chưa

    biết khai thác thế mạnh của truyện cổ tích trong việc giáo dục toàn diện nhân

    cách nói chung và tình cảm đạo đức nói riêng cho trẻ mẫu giáo.

    Với những lý do trình bày ở trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:

    “Giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh

    Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích”.

    2. Lịch sử vấn đề

    Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của văn học và truyện cổ

    tích với sự phát triển toàn diện của trẻ. Qua quá trình tìm hiểu về sự tác động

    của truyện cổ tích trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi chúng

    tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.

    Có lẽ đối với trẻ thơ không món quà nào hấp dẫn bằng truyện cổ tích. Vai

    trò của truyện cổ tích từ lâu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan

    tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các tác giả như:

    M.K Bogoliup Xkaia và V.v septsenk với tác phẩm: “Đọc và kể truyện văn

    học ở vườn trẻ” (Liên Xô cũ, 1967). Các tác giả tập trung nhấn mạnh đến các

    vấn đề cơ bản của người giáo viên trong việc đọc và kể truyện văn học ở trường

    3

    mẫu giáo. Tuy chưa có ý thức rõ ràng về thi pháp của thể loại truyện cổ tích

    nhưng các tác giả đã lưu ý giáo viên cần chú ý vào giá trị nội dung và hình thức

    nghệ thuật của truyện dân gian như những biện pháp tự sự với âm điệu lạc quan,

    tính duyên dáng mà giản dị của ngôn ngữ, với sự xuất hiện những câu văn vần,

    ca khúc và những câu đối thoại đơn giản. Công trình cũng nhấn mạnh không khí

    cổ tích, môi trường diễn xướng dân gian, thể hiện trên nét mặt, cử chỉ và sự giao

    cảm trực tiếp của người đọc và sự đáp lại của người nghe.

    Tập thể giáo viên mẫu giáo Hans Joachim, Horst, Cholothauer tác phẩm:

    “Về văn học cho trẻ mẫu giáo” (Cộng hòa dân chủ Đức, 1976). Công trình này

    đã trở thành cuốn sách giáo khoa nổi tiếng được tái bản lại nhiều lần. Cuốn sách

    đã quán triệt tư tưởng giáo dục cơ bản là: đề cao vai trò to lớn của môi trường

    văn hóa nghệ thuật và những ấn phẩm góp phần phát triển nhân cách trẻ mẫu

    giáo. Vai trò to lớn và tác dụng lâu dài của truyện cổ tích trong việc giáo dục trẻ

    thông qua chức năng xã hội, thẩm mỹ trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

    được nhấn mạnh đặc biệt trong công trình này. Trong công trình tác giả xem

    trọng đặc trưng ngôn ngữ cổ tích và việc khai thác và phát triển năng lực ngôn

    ngữ trẻ.

    Tập thể tác giả Stanislawa Fryciego, I Zabeli – Lewanskie tác phẩm: “Văn

    hóa văn học ở trường mẫu giáo” (Ba Lan). Các tác giả đã nhìn thấy rõ sự cần

    thiết phải tạo không khí văn học kết hợp với các hình thức giao tiếp với trẻ, cổ

    vũ trẻ tập trung nhìn nhận, đánh giá về nhân vật văn học góp phần hình thành và

    hoàn thiện nhân cách trẻ.

    Tác giả Nguyễn Thu Thủy tác phẩm: “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện

    và thơ” (1986). Cuốn sách chưa đi sâu vào nội dung giáo dục của truyện cổ tích.

    Phạm Thị Việt – Lê Ánh Tuyết – Cao Đức Tiến, “Văn học và phương pháp

    cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”, NXB giáo dục. Cuốn sách đã đề cập đến

    mục đích, nội dung và phương pháp cho trẻ làm quen với văn học. Đồng thời đã

    lựa chọn và mang đến cho trẻ những truyện kể dân gian phù hợp và hấp dẫn.

    Một số cuốn sách sưu tầm truyện cổ tích như:

    “100 truyện cổ tích nổi tiếng thế giới”, NXB Văn hóa thông tin

    “100 truyện cổ tích thế giới Ngọc Ánh sưu tầm và biên soạn”, NXB Dân trí

    “100 truyện cổ tích Việt Nam hay nhất”, NXB nhà văn, do tác giả Thái

    Đắc Xuân sưu tầm…

    Qua tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đó đều là những

    công trình nghiên cứu vĩ đại trên cả lĩnh vực lí luận và thực tiễn. Tuy nhiên chưa

    4

    giáo 5 – 6 tuổi. Tuy nhiên, khi sử dụng truyện cổ tích vào việc giáo dục trẻ còn

    gặp nhiều vấn đề khó khăn, mức độ phát triển đạo đức thông qua truyện cổ tích

    cho trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –

    Thuận Châu – Sơn La còn có những hạn chế do đó tình cảm đạo đức mà trẻ thể

    hiện còn chưa cao. Nếu khóa luận đề xuất được những biện pháp phù hợp sẽ góp

    phần nâng cao hiệu quả giáo dục của truyện cổ tích trong việc hình thành tình

    cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –

    Thuận Châu – Sơn La nói riêng và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung.

    9. Cấu trúc của khóa luận

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo nội dung khóa luận gồm

    ba chương:

    Chương 1: Cơ sở lí luận. Trong chương này chúng tôi đề cập đến cơ sở lí

    luận về việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói chung và việc thông qua

    truyện cổ tích nhằm phát triển tình cảm đạo đức cho trẻ nói riêng.

    Chương 2: Cơ sở thực tiễn vấn đề nghiên cứu. Trong chương này chúng tôi

    đề cập đến cơ sở thực tiễn về việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học và

    việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh

    Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích.

    Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tình cảm

    đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận

    Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với truyện cổ tích. Thiết kế một

    số giáo án mẫu.

    7

    nhanh, đây là giai đoạn trẻ cần được sự giáo dục – xã hội hóa một cách tích cực.

    Trạng thái của trẻ lúc này đã tương đối phong phú, đồng thời cũng rất dễ biểu

    hiện ra ngoài, không ổn định, thiếu kiềm chế, thường có tâm lý sợ bóng tối, ma

    quỷ… Lúc này trẻ đã có những biểu đạt cao hơn như: đạo đức, lý trí… Có thể

    tuân thủ theo những quy phạm hành vi thông thường.

    Ngoài ra, trẻ sau 5 tuổi đã bắt đầu biết phân biệt giới tính, ý thức bản thân

    mình có sự phát triển. Khi trẻ luôn nhận được sự đánh giá tích cực, sự khẳng

    định của người xung quanh thường sẽ rất tự tin. Ngược lại có những trẻ luôn

    nhận được sự đánh giá tiêu cực, phủ định của người khác sẽ rất dễ nảy sinh cảm

    giác cô độc, tự ti. Biểu hiện của tính khí, tính cách, tâm trạng, hành vi… thường

    là hạt nhân của cá tính một con người. Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước

    ngoặt quan trọng của trẻ em. Ở độ tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi là thời kỳ trẻ đang

    tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo. Vì vậy, ở giai

    đoạn này, việc nâng cao khả năng nhận thức cho con trẻ là vô cùng quan trọng.

    Điều này bao gồm cả việc bồi dưỡng năng lực cho trẻ như khả năng quan sát, trí

    nhớ, tưởng tượng, lí giải sự vật hiện tượng… Giai đoạn này cũng là giai đoạn

    các kỹ năng học tập về nhận thức và ngôn ngữ của trẻ đạt hiệu quả cao nhất. Vì

    vậy, mọi sự can thiệp sớm trong việc cải thiện các khả năng giao tiếp, ngôn ngữ

    và ứng xử của trẻ cần phải đưa vào trong giai đoạn này. Truyện cổ tích là một

    thể loại văn học dân gian có khả năng đáp ứng nhu cầu này của trẻ. Tuy nhiên,

    khác với người lớn, trẻ em lứa tuổi mầm non chỉ có thể tiếp xúc với truyện cổ

    tích một cách gián tiếp. Sự tiếp nhận truyện cổ tích của trẻ bị chi phối bởi các

    quá trình tâm lý. Chính vì vậy, các cô giáo mầm non đều cần phải hiểu những

    đặc điểm tâm lý rất cơ bản của trẻ, có như thế thì mới có thể phát huy được sức

    mạnh của văn học nói chung, truyện cổ tích nói riêng trong việc giáo dục trẻ thơ.

    1.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

    1.2.1. Khái niệm đạo đức

    Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, một hình thái ý thức

    xã hội, chế định xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con

    người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với

    chính bản thân mình.

    1.2.2. Khái niệm giáo dục

    Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,

    có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới

    người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách

    cho họ.

    9

    Giáo dục học theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành cho người được giáo

    dục: lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,

    những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho

    họ các hoạt động và giao lưu.

    1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức

    Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm

    trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, qui tắc chuẩn mực đạo

    đức, rèn cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội mà

    trẻ đang sống. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức,

    những nét tính cách của con người Việt Nam mới.

    1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo

    * Nhiệm vụ

    Trong quá trình giáo dục đạo đức, việc hình thành những tình cảm đạo đức

    có vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ ở lứa tuổi này mọi hành động của trẻ đều bị

    chi phối bởi tình cảm. Khi trẻ yêu mến ai thì trẻ luôn nghe theo lời người đó và

    sẵn sàng làm mọi việc để người đó vui lòng và yêu quý trẻ. Mặt khác, tình cảm

    đạo đức là cơ sở, động lực thúc đẩy trẻ có những hành vi, việc làm tốt.

    Việc hình thành các thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo là nhiệm vụ quan

    trọng thứ hai trong quá trình giáo dục đạo đức. Đặc điểm đặc trưng của trẻ mẫu

    giáo là khả năng bắt chước. Khi bắt chước hành vi của người khác, nhiều trẻ

    chưa hiểu được nội dung đạo đức hành vi của mình, do vậy dễ dẫn đến hành vi

    sai. Bởi vậy, cần hình thành ở trẻ những thói quen hành vi khác nhau trong quan

    hệ ứng xử với người lớn, bạn bè, nơi công cộng, với chính bản thân mình.

    Nhiệm vụ cơ bản thứ ba là hình thành ở trẻ những biểu tượng về chuẩn

    mực hành vi đạo đức và động cơ đạo đức đúng đắn. Trên cơ sở có tình cảm đạo

    đức đúng đắn, đứa trẻ tích cực, tự giác thực hiện những hành vi phù hợp với các

    yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức, dần dần nhận ra được các yêu cầu của

    chuẩn mực hành vi (thế nào là ngoan, thế nào là hư, là xấu…).

    Các nhiệm vụ giáo dục tình cảm đạo đức, hình thành thói quen đạo đức

    được thực hiện thống nhất trong quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo.

    * Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bao gồm những hệ thống

    thái độ và hành vi ứng xử với con người và cuộc sống xung quanh.

    Đối với người lớn: trẻ biết kính trọng, vâng lời, lễ phép, yêu quý ông bà,

    cha mẹ, cô giáo… thật thà, lễ phép. Biết vâng lời người lớn và làm theo những

    10

    lời dạy bảo của người lớn. Trẻ biết giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị… tự nguyện

    làm những việc tốt dù là rất nhỏ cho người thân vui lòng. Không quấy rầy người

    lớn. Lễ phép chào hỏi khi khách đến nhà. Trẻ biết “vâng”, “dạ”, biết cảm ơn

    khi người lớn cho quà hay giúp đỡ, biết xin lỗi khi làm sai, làm phiền người

    khác dù là vô tình. Biết quan tâm đến ông bà, cha mẹ, anh chị khi ốm đau hay

    bận việc (thể hiện ở cử chỉ, việc làm phù hợp với khả năng). Không la hét ồn ào

    khi người lớn ốm đau hay giờ nghỉ ngơi.

    Đối với bạn cùng tuổi: trẻ thân ái, đoàn kết với bạn bè khi chơi hay cùng

    hợp tác trong công việc, nhất là trong trò chơi. Sẵn sàng nhường đồ chơi hay quà

    bánh cho bạn khi bạn cần và thiếu. Giúp đỡ, thông cảm khi bạn gặp khó khăn

    hay có chuyện buồn; không trêu chọc, gây gổ với bạn; biết bênh vực bạn khi bị

    người khác bắt nạt.

    Đối với em bé hơn mình: biết chơi hòa thuận và bày trò cho em bé chơi

    cùng, biết nhường nhịn, dỗ dành em bé…

    Đối với người tàn tật hay những người gặp hoàn cảnh khó khăn: biết yêu

    thương, tôn trọng, thông cảm với những người tàn tật hay những người gặp hoàn

    cảnh khó khăn; không trêu chọc hay nhại tật của họ, biết giúp đỡ họ phù hợp với

    khả năng của bản thân.

    Quan tâm đến người lao động: biết yêu thương, tôn trọng, lễ phép với mọi

    người lao động như bác sĩ, chú công nhân, cô cấp dưỡng…

    Giáo dục tình cảm với trường, lớp, với thầy cô giáo: trẻ yêu ngôi trường

    của mình, thích được đến trường, yêu quý và thoải mái khi tới lớp. Trẻ yêu

    thương, kính trọng, lễ phép, biết ơn và nghe lời thầy cô giáo.

    Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, Bác Hồ: trẻ yêu quý, kính trọng

    Bác Hồ, biết lá cờ Tổ quốc. Biết quan tâm đến những ngày lễ lớn, những sự kiện

    quan trọng, những truyền thuyết lịch sử trong nước hoặc ở địa phương, biết

    những biến đổi tích cực trong đời sống địa phương.

    Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có ý thức bảo vệ thiên nhiên:

    đối với thế giới đồ vật (có thái độ nâng niu, giữ gìn, không làm bẩn đồ dùng đồ

    chơi, biết thu dọn, cất đồ dùng đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp sau khi chơi). Đối với

    vật nuôi (trẻ thương yêu, chăm sóc). Đối với cây trồng (trẻ nâng niu, chăm sóc cây

    cối trong vườn, không hái hoa bẻ cành, trẻ yêu thích ngắm cảnh thiên nhiên đẹp…).

    1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức

    Phương pháp GDĐĐ là những cách thức tác động tới trẻ nhằm hình thành

    ở trẻ những phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục.

    11

    * Phương pháp dùng tình cảm

    Một trong những đặc điểm nổi bật trong đời sống tâm lí của trẻ nhỏ là sự

    phát triển mãnh liệt của những xúc cảm và chính những xúc cảm này lại có sức

    mạnh chi phối lớn đối với các hoạt động tâm lí của chúng. Trẻ có nhu cầu được

    yêu thương và cũng dễ yêu thương lại mọi người. Chính vì vậy những tác động

    giáo dục đạo đức đến với trẻ trước hết bằng con đường tình cảm. Thông qua tình

    cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành. Đối với trẻ nhỏ, trong

    việc GDĐĐ, dùng mệnh lệnh hay lí lẽ sẽ không có tác dụng tích cực.

    Phương pháp dùng tình cảm trong GDĐĐ cần được hiểu theo hai chiều:

    chiều thứ nhất là bằng tình yêu thương của mình, người lớn hết lòng dạy dỗ bảo

    ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra những tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình

    cảm của người lớn bằng những hành vi đạo đức tốt đẹp của chúng. Trong việc

    GDĐĐ cho trẻ mầm non, phương pháp dùng tình cảm là phương pháp chủ đạo

    xuyên suốt quá trình hình thành hệ thống thái độ và hành vi ứng xử có đạo đức

    cho trẻ. Vì ngay trong bản thân phương pháp này đã chứa đựng cả một nội dung

    sâu sắc của GDĐĐ đó là lòng nhân ái.

    * Phương pháp dùng nghệ thuật

    Những tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo ra chủ yếu theo quy luật của tình

    cảm. Đặc điểm của các tác phẩm nghệ thuật là giàu hình tượng sinh động, dễ gợi

    cảm, được con người cảm thụ một cách trực tiếp. Vì vậy mà nghệ thuật rất gần

    với tuổi thơ, có thể nói nghệ thuật và tuổi thơ là hai người bạn đồng hành.

    Những bài thơ, câu chuyện, điệu hát bằng sức truyền cảm mãnh liệt của mình đã

    để lại những dấu ấn đẹp đẽ, sâu đậm trong tâm hồn tuổi thơ. Nghệ thuật sáng tạo

    theo quy luật của tình cảm nên nghệ thuật chứa trong đó những nội dung GDĐĐ

    sâu sắc. Phải kể đến những tác phẩm nghệ thuật gần gũi với trẻ thơ như tác

    phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tạo hình… Tại trường mầm non,

    hàng tuần trẻ luôn được tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật. Đây là điều kiện

    tốt để GDĐĐ cho trẻ. Thông qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học,

    thông qua hoạt động tạo hình và hoạt động âm nhạc trẻ lĩnh hội được những tình

    cảm, thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn. Do vậy phương pháp dùng nghệ thuật

    là phương pháp GDĐĐ cho trẻ một cách nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả rất cao.

    * Phương pháp dùng trò chơi

    Chơi đối với trẻ, nhất là trẻ mẫu giáo thường gây nhiều hứng thú và say mê

    nhất. Trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của trẻ. Chơi là người bạn

    đồng hành của trẻ thơ, chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không thể phát

    triển được. Khi tham gia vào trò chơi trẻ học được cách nhường nhịn, giúp đỡ hỗ

    12

    trợ hợp tác với nhau một cách tích cực, trẻ được trải nghiệm những thái độ đạo

    đức và tập dượt được những hành vi ứng xử đối với mọi người xung quanh.

    * Phương pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt

    hàng ngày

    Đây là những phương pháp chủ đạo để thực hiện các nhiệm vụ của công tác

    giáo dục đạo đức, nhằm biến những khái niệm đạo đức thành những hành vi,

    thói quen đạo đức. Chỉ trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với mọi

    người trẻ mới lĩnh hội được qui tắc hành vi trong cuộc sống, mới tập hành động

    theo các tiêu chuẩn đạo đức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đạo đức,

    trên cơ sở đó trẻ tích lũy được những kinh nghiệm thực tế phong phú cho bản

    thân, nhờ vậy mà có những thái độ, những hành vi đúng đắn trong cuộc sống

    hàng ngày như lễ phép, tôn trọng người lớn, đoàn kết với bạn bè, nhường nhịn,

    giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, giữ gìn đồ dùng đồ chơi…

    * Phương pháp nêu gương, giải thích

    Phương pháp nêu gương và giải thích rất thường xuyên được sử dụng trong

    việc giáo dục đạo đức cho trẻ. Trong đó, giải thích là phương pháp giáo viên

    dùng lời nói giúp trẻ hiểu được ý nghĩa hoặc lý do của một hành vi đạo đức, qui

    tắc đạo đức, phân biệt được điều tốt, điều xấu nhằm hướng trẻ vào thực hiện một

    cách tự giác những yêu cầu đạo đức. Còn nêu gương là dùng những tấm gương

    tốt, điển hình về những hành vi, phẩm chất đạo đức để giáo dục trẻ noi theo.

    * Phương pháp dùng khen, chê đúng lúc, đúng mực

    Trong việc giáo dục đạo đức, người lớn cần biết khen chê đúng lúc và đúng

    mực. Trong đó, khen ngợi là phương pháp tác động đến trẻ nhằm xác nhận, đánh

    giá biểu dương những tiến bộ mà trẻ đã đạt được đồng thời cũng là động lực

    thúc đẩy và khích lệ trẻ cố gắng nhiều hơn nữa. Ngược lại, chê trách là một hình

    thức đánh giá hành vi giúp trẻ tránh được những hành động xấu. Dùng phương

    pháp chê trách nhằm gây cho trẻ phạm sai lầm một cảm xúc hối hận, từ đó giúp

    trẻ ngăn ngừa được những hành động xấu.

    * Phương pháp thống nhất tác động giáo dục

    Trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ, khi mà mọi nét tính cách đang ở

    thời điểm ban đầu của sự hình thành nhân cách thì những tác động cần tập trung

    về một hướng. Những tác động không chỉ thống nhất trong trường mầm non mà

    phải thống nhất tư tưởng và hành động giáo dục giữa trường mầm non với gia

    đình, giữa cô giáo với cha mẹ trẻ. Đây là một đảm bảo bằng vàng cho việc hun

    13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Thực Trạng Giới Trẻ Hiện Nay Trước Căn Bệnh Sống Vô Cảm

    --- Bài mới hơn ---

  • Khắc Phục Bệnh Vô Cảm Trong Học Sinh
  • Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ Về Hiện Tượng Vô Cảm
  • Trình Bày Suy Nghĩ Của Em Về Bệnh Vô Cảm
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đạo Đức Cách Mạng Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • Tuyên Truyền, Giáo Dục Đạo Đức Cách Mạng Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • 1. Thực trạng căn bệnh vô cảm

    Vô cảm là một trạng thái cảm xúc của con người. Đây là một trạng thái, mà khi đó, con người không có một tình cảm nào đối với những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh. Họ thờ ơ, thản nhiên trước nỗi đau, nỗi bất hạnh của những người khác.

    Mới đây nhất, cư dân mạng lại phải giật mình vì hành động như côn đồ của nhóm nữ sinh ở Hà Nội, Hải Phòng,… với màn đánh đập, lột quần áo, cắt tóc bạn học. Và chú ý hơn đó là những hình ảnh này được quay lại bởi một nam sinh. Kèm theo những tiếng chửi bới kém văn minh của các nữ sinh hành hung thì còn có tiếng cổ vũ của những chàng trai đứng gần đó như “cởi áo đi, cắt tóc đi,…”. Khi xem những clip này nhiều người còn ngỡ ngàng vì sự thờ ơ của giới trẻ 8x, 9x ngày nay. Mặc dù các bạn ấy hoàn toàn có thể vào can ngăn nhưng lại không sẵn lòng để giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn, rất nhiều bạn khi nhìn thấy những người nghèo khó, ăn xin thì xua đuổi, dè bỉu. Trên đường đi gặp người bị tai nạn thì thay vì dừng lại giúp đỡ, hỏi han lại bỏ đi xem như không có chuyện gì xảy ra, thậm chí còn tệ hơn nữa khi có những thành phần không những không giúp đỡ nạn nhân mà còn lợi dụng lúc người ta có sự cố để lấy cắp tiền, tài sản của người bị tai nạn.

    Thêm nữa trong thời gian gần đây, thực trạng giết người đang diễn ra ngày càng nhiều với mức độ nghiêm trọng., rất nhiều tội phạm đang ở thế hệ 8x, 9x. Ví dụ như cách đây chưa lâu dư luận xôn xao vụ thảm sát giết nước cướp của ở tiệm vàng Ngọc Bích do kẻ vô cảm Lê Văn Luyện ( 17 tuổi lúc đó) gây ra. Hành vi giết người của hắn ta là đặc biệt nghiêm trọng,tàn bạo, vô cảm nhất tính đến thời điểm lúc bấy giờ. Ngoài ra còn phải kể đến vụ việc Hồ Nhật Linh (18 tuổi) đã đâm 95 nhát dao vào thai phụ có bầu 8 tháng tuổi sau đó vứt xác nạn nhân xuống một cái mương,…Thực trạng bệnh vô cảm này đang diễn ra ngày càng “phổ biến ” và phức tạp. Quả thật không thể dung thứ mãi cho những hành động vô cảm ấy, nếu cứ thờ ơ với những hành động đó tức là chúng ta đang vứt bỏ truyền thống của dân tộc cũng như vứt bỏ chính bản thân mình.

    2. Nguyên nhân

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng vô cảm của giới trẻ hiện nay nhưng nhìn chung là do cách sống, cách giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội còn quá thờ ơ, hời hợt.

    2.1. Nguyên nhân xuất phát từ bản thân

    Bản thân mỗi chúng ta vô cảm trước cuộc đời là do thiếu thốn tình yêu thương, thiếu đi lòng bao dung, sống bằng lý trí sắt đá, bằng tình cảm khô cằn của mình. Bên cạnh đó khi một con người bị chính cái xấu hãm hại, những điều tốt đẹp không đến với mình thì bản thân họ sẽ cảm thấy hận đời, dần dần vô cảm với tất cả mọi thứ, họ dần mất đi niềm tin vào những điều tốt đẹp , họ trở nên vô cảm trước mọi thứ trên cuộc đời này.

    Đối với bản thân họ khi hàng xóm gặp hoạn nạn, khó khăn, có người thân mắc phải tệ nạn xã hội họ cũng vờ như không biết, không một lời hỏi han cũng như không một lời an ủi, trên đường gặp người bị tai nạn họ bỏ đi mặc kệ người ta còn sống hay đã chết, hoặc có dừng chân lại cũng chỉ để thỏa mãn mãn sự hiếu kỳ của bản thân, không dám lại gần giúp đỡ vì sợ phải gánh trách nhiệm. Những người bất hạnh, có hoàn cảnh đáng thương nằm bên vệ đường họ cũng chẳng buồn quan tâm hay xót thương cho số phận của họ mà ngược lại còn khinh bỉ những con người kém may mắn đó, thêm vào đó, sự vô cảm còn bắt nguồn từ lối sống ích kỷ, thực dụng, thích hưởng thụ của giới trẻ ngày nay.

    2.2. Nguyên nhân xuất phát từ gia đình

    Gia đình chính là tế bào của xã hội, gia đình có tốt đẹp thì xã hội mới phát triển được, thế mà ngày nay các bậc phụ huynh ít khi dạy con đồng cảm với người khác. Cách ứng xử, hành vi của giới trẻ một phần là do học hỏi từ ở ngoài xã hội và một phần là do ảnh hưởng từ gia đình tạo nên,thói quen ít giao tiếp với mọi người, thích giao lưu với những người ảo qua mạng xã hội rồi thường xuyên xem những cảnh đấm đá, giết người man rợ ở trên tivi, phim ảnh dẫn tới sự thờ ơ, lãnh đạm với mọi người xung quanh của giới trẻ, đó là một hệ quả không thể tránh khỏi.

    Chúng ta biết rằng dạy con là phải dạy lúc con còn nhỏ cũng như uốn cây tre phải uốn từ lúc trẻ còn non, nhưng dường như nhiều hộ gia đình ngày nay không hề quan trọng chuyện này, không quan tâm đến việc dạy con phải có sự cảm thông, yêu thương, giúp đỡ người khác. Nhiều bậc phụ huynh thiếu gương mẫu về đạo đức, về cách sống , không quan tâm đến việc dạy dỗ con cái, ngày nay có bao nhiêu phụ huynh bỏ thời gian ra dạy con biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng người khác, dạy con biết yêu thương ?

    Bên cạnh đó, nhiều phụ huynh vì quá cưng chiều con mà đáp ứng hết tất cả những yêu cầu của con một cách vô điều kiện, thế nhưng họ lại không dạy con biết cách chia sẻ, có trách nhiệm với người thân. Một đứa bé chỉ biết nhận mà không biết cho sẽ rất “nghèo” về cảm xúc dẫn đến những vô cảm trước tất cả mọi thứ.

    2.3. Nguyên nhân xuất phát từ nhà trường

    Thầy cô được xem như là bố mẹ thứ hai của học sinh, nếu họ vô cảm thì sẽ đào tạo ra những “đứa con” vô cảm như họ, đây sẽ là một mối tai họa lớn cho xã hội. Quả thật, môi trường giáo dục đang trở nên báo động hơn bao giờ hết, đó thực sự là một mối lo ngại đối với ngành giáo dục và cả xã hội của Việt Nam.

    2.4. Nguyên nhân từ xã hội

    Do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, những ứng dụng công nghệ hiện đại đã ảnh hưởng đặc biệt đến thế hệ trẻ, làm thay đổi phong cách làm việc, cách giao tiếp, cách tư duy dẫn đến giới trẻ sống rất vô cảm không quan tâm đến những việc xung quanh, khi các bạn trẻ càng sử dụng internet nhiều thì càng lơ là với những gì xay ra xung quanh họ. Khi các trang blog, mạng xã hội xuất hiện các bạn trẻ được tự do thể hiện bản thân mình. Nhưng một khi các bạn giam cầm mình quá lâu trong thế giới ảo của mình các bạn sẽ bị trầm cảm và vô cảm.

    Đồng thời do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường nên một mặt nó làm cho những giá trị truyền thống được phát huy, những giá trị mới được hình thành và phát triển, một mặt nữa nó làm nảy sinh tư tưởng ích kỷ, không có trách nhiệm với cộng đồng, đề cao cái tôi cá nhân. Hơn nữa căn bệnh vô cảm là kết quả của lối sống thực dụng đang ngày càng ăn sâu vào văn hóa của giới trẻ Việt Nam khi mà các giá trị sống, giá trị đạo đức và giá trị tinh thần đang dần bị thế chỗ cho chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa cá nhân, con người không còn cảm xúc trước nỗi đau của người khác. Bên cạnh đó sự bất công xã hội, tham nhũng, quan liêu đang ngày một gia tăng , người lớn không còn là tấm gương cho giới trẻ noi theo.

    3. Tác hại

    Căn bệnh vô cảm có tác hại vô cùng ghê gớm, không chỉ làm suy giảm đạo đức trong giới trẻ mà còn đẩy đất nước đến bờ tụt hậu.

    3.1. Bệnh vô cảm có thể dẫn đến chết người

    Nếu một bác sĩ “vô cảm” sẽ không có đủ tình thương dành cho bệnh nhân của mình, sẽ đánh mất đi lương tâm của một người bác sĩ, chẳng hạn trước một ca cấp cứu nguy kịch nhưng vì bệnh nhân có hoàn cảnh nghèo khó không có tiền để đóng tiền viện phí hay không có tiền để “cảm ơn” bác sĩ thì lúc ấy bệnh vô cảm khiến cho người bác sĩ chậm trễ, thờ ơ , không nhiệt tình thăm khám cho bệnh nhân cuối cùng để bệnh nhân chết một cách oan uổng. Sẽ càng đau xót hơn nếu người bệnh nhân đang nằm đó là trụ cột chính của gia đình, họ ra đi để lại những đứa con thơ dại, bố mẹ già ốm yếu không ai phụng dưỡng, cách đây mấy năm tại bệnh viện Bưu Điện Hà Nội, chỉ vì sự vô cảm của đội ngũ bác sĩ và y tá đã dẫn đến cái chết oan uổng của một đứa bé chưa kịp chào đời.

    Còn một người giữ mạng sống của nhiều người như tài xế chẳng hạn mà mắc bệnh vô cảm thì thực sự rất nguy hiểm, một người tài xế vô cảm sẽ coi mạng sống của hành khách chẳng ra gì, phóng nhanh, vượt ẩu gây những hậu quả khôn lường.

    3.2. Bệnh vô cảm có thể để lại tai hại lớn cho xã hội

    Thầy cô giáo là người truyền cảm hứng cho học sinh và cũng là cha mẹ thứ hai của chúng nhưng nếu họ vô cảm thì sẽ thiếu đi tình thương dành cho những “đứa con” của mình, thiếu sự nhiệt huyết trong bài giảng, không có trách nhiệm với học sinh, hờ hững trong cách truyền đạt kiến thức, không quan tâm đến chất lượng giảng dạy. Vì sự vô cảm của họ mà họ sẽ đào tạo ra những con người thiếu trình độ và vô cảm giống như giáo viên của mình, quả thật đó sẽ là một mối tai họa vô cùng lớn cho xã hội.

    3.3. Bệnh vô cảm đưa đất nước đến suy vong

    Cán bộ nhà nước chính là “nô lệ” của nhân dân, phục vụ hết lòng cho công ích, điều hành tất cả hoạt động của đất nước. Thế nhưng họ lại “vô cảm” trước những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, họ không nhìn thấy được những khốn khổ của người dân. Thậm chí không giải quyết những tranh chấp, khiếu nại về tài sản, đất đai cho người dân, gây khó dễ, dùng vũ lực để giúp đỡ các thế lực có điều kiện hơn để mình được “phong bì” dắt túi riêng. Tất cả cũng chỉ vì tính tham lam, ích kỷ mà làm mất đi phẩm chất đạo đức của một người cán bộ, từ đó nhân dân sẽ không còn tin vào chính quyền, sẽ sống “vô cảm” như cán bộ và chẳng còn ai lo cho lợi ích chung của cộng đồng dân tộc, chính những “cán bộ vô cảm ” thiếu trách nhiệm sẽ gián tiếp đẩy đất nước đến bờ vực của suy vong.

    4. Giải pháp

    “Bệnh vô cảm” không phải là tội ác, nhưng nó chính là con đường dẫn đến những tội ác, hơn nữa còn có tốc độ “lây lan” đến chóng mặt, khi một người vô cảm thì mọi người xung quanh sẽ vô cảm theo cuối cùng là cả một xã hội vô cảm. Nếu nói đến căn bệnh ở thể xác thì con người sợ nhất là căn bệnh ung thư còn nếu nói đến căn bệnh tâm hồn thì đáng sợ nhất có lẽ là vô cảm, bởi vì nó có sức công phá vô cùng ghê gớm đến nhân cách và đạo đức của con người. Từ đó nó trực tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của cả một dân tộc. Vậy ngay từ bây giờ chúng ta cần tích cực đẩy lùi căn bệnh vô cảm ra khỏi đất nước Việt Nam của chúng ta.

    4.1. Về phía bản thân

    Mỗi chúng ta cần phải biết đồng cảm với mọi người, biết trau dồi, học hỏi những bài học trong cuộc sống, biết yêu thương mọi người xung quanh, ngoài ra, cần phải học hỏi những tấm gương đạo đức trong xã hội chẳng hạn như các nữ tu đang phục vụ tại trung tâm Sida giai đoạn cuối – Mai Hòa – Củ Chi. Các nữ tu đã đồng cảm với những số phận kém may mắn trong cuộc sống .

    4.2. Về phía gia đình

    Gia đình chính là nơi hình thành nhân cách con người vì thế muốn con cái trở nên tốt, gia đình phải là nơi yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, mọi thành viên trong gia đình sống phải quan tâm, san sẻ với nhau. Khi con còn nhỏ dạy con cách nhận biết cảm xúc của người khác, hướng dẫn trẻ hiểu được nguồn gốc của những cảm xúc đó cũng như ảnh hưởng của nó đến mọi người từ đó điều chỉnh cảm xúc, hành vi của mình, các nhà tâm lý học cũng đưa ra khuyến cáo rằng gia đình phải thay đổi thói quen dạy con. Phụ huynh thường chỉ ra lệnh mà không quan tâm đến suy nghĩ của con, học cách lắng nghe, thấu hiểu con cái là việc mà những người làm bố và làm mẹ phải làm đầu tiên, con cái chỉ là có thể hiểu được một cách rõ ràng nhất khi được cha mẹ hướng dẫn một cách cụ thể.

    4.3. Về phía nhà trường

    Môi trường giáo dục ở trường học không chỉ là nơi trang bị cho con người những kiến thức ở trong sách vở mà còn trang bị cả về nhân cách, đạo đức làm người, một khi nhà trường biết quan tâm đúng mực đến giới trẻ thì kết quả sẽ rất khả quan. Mặt khác nhà trường nên dạy học sinh biết cách ứng xử, biết cách quan tâm đến mọi người, giáo dục kỹ năng sống bằng cách khơi dậy tinh thần dám đấu tranh trong mọi học sinh, đây cũng là nơi xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu tình nghĩa nhưng hết sức mạnh mẽ, không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác.

    4.4. Về phía xã hội

    Xã hội nên quan tâm nhiều đến giới trẻ, tạo ra nhiều cơ hội giúp các em được sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, giúp họ biết cách quan tâm, yêu thương, giúp đỡ đỡ mọi người, giới trẻ ngày nay không phải là họ không muốn sống cho ra người mà còn muốn sống tốt hơn thế nữa chính vì vậy các bạn trẻ cần được xã hội giúp đỡ.

    Để nói tình cảm con người với con người thì chúng ta không thể đánh đổi bằng những thứ vốn dĩ tầm thường được mà chỉ có sự chân thành mới có thể duy trì một mối quan hệ bền vững, trao đi yêu thương thì sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ nhận được sự yêu thương của người khác. Mong rằng bài chia sẻ trên sẽ giúp các bạn có những kiến thức hữu ích xung quanh căn bệnh vô cảm để từ đó tiêu diệt căn bệnh vô cảm trong chính bản thân mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Bệnh Vô Cảm Hiện Nay
  • Cách “chữa Bệnh” Vô Cảm Cho Học Sinh
  • Anh Chị Hãy Trình Bày Suy Nghĩ Của Mình Về Bệnh Vô Cảm Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Nghị Luận Bàn Về Bệnh Vô Cảm Và Chống Lại Căn Bệnh Vô Cảm
  • 5 Cách Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Con Bú Vô Kinh Có An Toàn Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Bú Vô Kinh
  • Hiệu Quả Của Tránh Thai Bằng Phương Pháp Vô Kinh Cho Con Bú
  • Cho Con Bú Vô Kinh
  • Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • So Sánh Các Biện Pháp Tránh Thai Và Ưu Nhược Điểm Của Từng Loại
  • Cho con bú vô kinh là biện pháp được nhiều phụ nữ áp dụng để tránh mang thai sau khi sinh con. Nhưng liệu biện pháp này có an toàn và hiệu quả như mong đợi?

    Có rất nhiều phương pháp tránh thai cho các bà mẹ sau khi sinh con, trong đó cho con bú vô kinh được đánh giá là có độ hiệu quả và độ an toàn cao. Phương pháp này miễn phí và được nhiều bà mẹ lựa chọn dù có nhiều hạn chế.

    Cho con bú vô kinh là phương pháp tránh thai sau khi sinh được nhiều bà mẹ áp dụng

    Sau khi sinh thì nên dùng biện pháp tránh thai nào?

    Một trong những dấu hiệu cho thấy khả năng thụ thai trở lại của phụ nữ chính là lúc kinh nguyệt xuất hiện. Phụ nữ sau khi sinh con thường hành kinh vào tuần thứ 6 tùy thuộc vào việc có cho con bú hay không. Nếu không cho con bú thì kinh nguyệt sẽ xuất hiện trong khoảng 3 – 4 tuần sau khi sinh, còn nếu cho con bú thì kinh nguyệt sẽ xuất hiện trở lại vào tuần thứ 6 trở đi.

    Hiện tượng rụng trứng thường xảy ra trước khi hành kinh. Nếu có trứng rụng thì đồng nghĩa với việc có lại khả năng thụ tinh sau khi sinh con. Nếu quan hệ tình dục mà không muốn mang thai thì phụ nữ cần áp dụng những biện pháp tránh thai sau khi sinh con.

    Áp dụng biện pháp tránh thai sau khi sinh nếu không muốn mang thai ngoài kế hoạch

    Theo khuyến nghị của các chuyên gia, phụ nữ sau khi sinh con và đang cho con bú thì nên áp dụng những phương pháp tránh thai không sử dụng hormone để không ảnh hưởng đến nguồn sữa. Một số phương pháp tránh thai không sử dụng hormone cần kể đến bao gồm: đặt vòng tránh thai, sử dụng bao cao su và cho con bú vô kinh. Trong đó, vô kinh khi cho con bú là biện pháp đơn giản, an toàn được nhiều người áp dụng nhất.

    Phương pháp tránh thai cho con bú vô kinh

    Theo Bộ Y tế khuyến cáo thì tránh thai bằng cách cho con bú chỉ là phương pháp tạm thời và không nên áp dụng với những phụ nữ dễ thụ thai. Tuy nhiên, nhiều chị em áp dụng phương pháp này vì nó đơn giản, dễ thực hiện và không tốn kém.

    Cho con bú sau sinh là biện pháp tránh thai đơn giản, dễ thực hiện và không tốn kém

    Sự tiết sữa kết hợp với việc bú ti của bé ức chế sản xuất hormone GnRH và FSH, hai loại nội tiết tố kích thích sự phát triển của trứng dẫn đến hiện tượng hành kinh. Khi bé bú, hormone prolactin được sản xuất trong cơ thể mẹ và ức chế hai loại hormone trên.

    Để áp dụng phương pháp vô kinh khi cho con bú, cần đáp ứng những điều kiện sau:

    • Phụ nữ cho con bú và chưa hành kinh lại trong vòng 8 tuần sau khi sinh.
    • Phụ nữ có nhiều sữa cho con bú.
    • Không gặp những vấn đề về tiết sữa như tắc tia sữa.
    • Cho con bú sữa mẹ hoàn toàn.
    • Có con bé hơn 6 tháng tuổi.

    Cần cho con bú sữa mẹ trực tiếp chứ không nên dùng bình hút sữa vì động tác mút ti của bé là một phần quan trọng trong phương pháp này. Bên cạnh đó, bạn cũng cần lưu ý vấn đề thời gian, đảm bảo sao cho thời gian bú ban ngày cách nhau không quá 4 tiếng và ban đêm cách nhau không quá 6 tiếng. Duy trì việc cho con bú bất kể là cơ thể mẹ (như phụ nữ bị cảm khi trong thời gian cho con bú) hay bé yếu và không nên chó bé ăn thứ khác ngoài sữa mẹ.

    Những ưu và nhược điểm của biện pháp cho con bú vô kinh

    1. Ưu điểm

    Những thế mạnh của phương pháp cho con bú vô kinh có thể kể đến là:

    • Đơn giản, dễ thực hiện và không tốn kém.
    • Không ảnh hưởng đến hormone của cơ thể mẹ và không có tác dụng phụ.
    • Có hiệu quả giảm tình trạng ra máu sau khi sinh.
    • Không cần sự cho phép của bác sĩ hay giám sát y tế.
    • Cung cấp dinh dưỡng và kháng thể giúp bé phát triển khỏe mạnh.

    2. Khuyết điểm

    Những hạn chế của phương pháp vô kinh khi cho con bú cần kể đến là:

    • Không có hiệu quả cao và những ai dễ thụ thai thì không nên áp dụng.
    • Không bảo vệ hai vợ chồng khỏi những căn bệnh lây qua đường tình dục.
    • Vất vả vì phải thường xuyên cho con bú mà không dựa trên một nguồn dinh dưỡng nào khác ngoài sữa mẹ.
    • Chỉ có hiệu quả trong vòng 6 tháng đầu sau khi sinh con.

    3. Chấm điểm hiệu quả

    Khi áp dụng đúng cách cho con bú vô kinh mang lại hiệu quả tránh thai cao

    Áp dụng đúng phương pháp thì tỷ lệ thành công có thể lên đến 98%, nhưng nếu thực hành sai thì tỷ lệ giảm xuống chỉ còn 95%. Hiệu quả nhất là trong thời gian 6 tháng đầu sau khi sinh và chưa có kinh nguyệt trở lại.

    4. Trường hợp cần chuyển sang phương pháp khác

    • Khi có kinh nguyệt trở lại.
    • Khi đã có con hơn 6 tháng tuổi.
    • Không cho con bú mẹ hoàn toàn mà bổ sung dưỡng chất từ nguồn dinh dưỡng khác.
    • sử dụng các loại thuốc trong thời gian cho con bú.
    • Bà mẹ phát hiện các loại bệnh truyền nhiễm như HIV, viêm gan A hay viêm gan B.

    5. Trường hợp chống chỉ định

    • Bé trong tình trạng bất lợi khó cho bú như: dị tật vùng miệng, vùng họng, bé bị rối loạn tiêu hóa hoặc những bé sinh non không thể tự bú mẹ mà cần đến sự chăm sóc đặc biệt.
    • Bà mẹ cho con bú sử dụng thuốc được chống chỉ định trong thời gian cho con bú như: bromocriptin, corticosteroid, ergotamin, lithium, thuốc chống đông, thuốc chống chuyển hóa, thuốc điều trị trầm cảm và các loại thuốc có chứa đồng vị phóng xạ.

    Như vậy, nhìn chung thì cho con bú vô kinh là phương pháp đơn giản, dễ áp dụng và không tốn kém. Tuy nhiên, nếu không áp dụng đúng cách thì có thể dẫn đến nguy cơ mang thai ngoài ý muốn đối với phụ nữ đang cho con bú. Ngoài ra, nếu thuộc những trường hợp chống chỉ định trên thì tuyệt đối không áp dụng phương pháp này.

    Uyên

    Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tránh Thai Vô Kinh Cho Con Bú
  • Biện Pháp Tránh Thai Vĩnh Viễn Dành Cho… Mày Râu
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tạm Thời Và Tránh Thai Vĩnh Viễn
  • Cập Nhật Cách Tránh Thai Theo Chu Kỳ Kinh Nguyệt Không Đều
  • Dựa Theo Chu Kỳ Kinh Nguyệt Để Quan Hệ Và Tránh Thai An Toàn Hơn 90%
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Nhà Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3 Tại Lớp 3 Tuổi A Trường Mầm Non Minh Tiến” Xã Minh Tiến
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non 5
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5 Tuổi Thông Qua Các Câu Truyện Cổ Tích Việt Nam (Đối Tượng: 5
  • Giải Pháp Quản Lý Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Ở Các Trường Mầm Non Quận Tân Bình Thành Phố Hồ Chí Minh
  • “một Số Biện Pháp Chỉ Đạo, Thực Hiện Ctgdmn Mới Ở Lớp Mẫu Giáo Ghép Trường Mn Tả Phời”
  • TRƯỜNG MN BÔNG SEN LÊ THI PHỐ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC LỄ GIÁO CHO TRẺ NHÀ TRẺ I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Như các bạn đã biết, trong điều kiện kinh tế phát triển, đang trên con đường hội nhập, đất nước chúng ta phải giao lưu với nhiều nền văn hoá khác nhau. Làm thế nào để cho thế hệ trẻ của chúng ta "Hoà nhập mà không hoà tan" - trong mỗi chúng ta vẫn giữ được những gì gọi là "Vốn văn hoá của dân tộc Việt trong thời đại mới thì việc giáo dục cho trẻ phát triển về trí tuệ thôi không đủ mà phải giáo dục trẻ biết giữ được truyền thống văn hoá vốn có của cha ông ta từ ngàn xưa là nhiệm vụ cần và cập nhật nhất trong các mục tiêu phát triển con người toàn diện hiện nay. II. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Từ ngàn xưa kinh nghiệm của cha ông ta đã đúc kết nhiệm vụ học đầu tiên của mỗi con người phải là "Tiên học lễ, hậu học văn" lễ phép là nét đẹp văn hoá được đặt lên hàng đầu khi nhìn nhận và đánh giá về một ai đó mà chúng ta thường bàn luận. Trong thời đại hiện nay tiếp thu nhiều nền văn hoá khác nhau nên đâu đó vẫn còn nhiều câu chuyện thương tâm về đạo đức lễ giáo của con người, việc mà tôi và các bạn đã nghe và thấy trên thông tin đại chúng, trong cuộc sống hằng ngày. III. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Trăn trở với mục tiêu chung của giáo dục là người giáo viên Mầm non tôi nguyện góp sức một phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lễ giáo cho trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ nhằm góp phần hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ. Năm nay tôi được phân công đứng lớp 19 - 24 bao gồm ghép 25 - 36 tháng , hầu hết các cháu chưa làm quen với môi trường sư phạm, đa số cháu chưa đến trường, lớp. Phần lớn bố mẹ của các cháu công nhân lao động nên việc quan tâm đến con em còn hạn chế. Bên cạnh đó vì mục tiêu của giảm tỷ lệ sinh con nên số con trong mỗi gia đình ít đi, thì trẻ ngày càng được nuông chiều thái quá. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo cho con em ở lứa tuổi mầm non, nên thường khoán trắng cho giáo viên. Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, hay nói lêu, trả lời có những câu cụt, câu què, ra vào lớp tự nhiên... Đứng trước tình hình như vậy, tôi rất lo lắng phải dạy trẻ như thế nào và bằng những biện pháp gì để tất cả trẻ lớp tôi có những thói quen và hành vi đạo đức và phù hợp với chuẩn mực xã hội. Đầu tiên cô giáo cần giáo dục trẻ những hành vi văn hoá trong cuộc sống hằng ngày có thái độ đúng với cô giáo và người lớn, bạn bè, có tình yêu đối với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh. Giáo dục lễ giáo nhằm hình thành cho trẻ cơ sở ban đầu về nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế mỗi cô giáo chúng ta có trách nhiệm góp phần đào tạo thế hệ trẻ những con người phát triển toàn diện về nhân cách - trí tuệ. IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Trong năm học này tôi quyết tâm thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành phát động và luôn lấy mục tiêu giáo dục lễ giáo cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, để góp một phần nhỏ bé của mình vào quá trình hình thành cho trẻ một nhân cách theo mục tiêu của ngành, của toàn xã hội. 1. Giáo dục lễ giáo thông qua tiết học: Lồng nội dung giáo dục lễ giáo vào các môn học có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá. Ví dụ: Qua giờ khám phá khoa học "Cây xanh và môi trường sống". Cô giáo có thể đàm thoại: Cây xanh để làm gì? Cây xanh có ích lợi như thế nào? Muốn có nhiều cây xanh chúng ta phải làm gì? Qua lợi ích của cây xanh, cô giáo dục cháu không ngắt ngọn bỏ cành, mà phải biết bảo vệ chăm sóc cây xanh để cây cho ta nhiều lợi ích. + Đối với giờ học phát triển thể chất: Cô giáo dục trẻ siêng năng thể dục, tập đều đặn giúp cơ thể khoẻ mạnh, trong lúc tập các con không chen lấn, không xô đẩy nhau. + Đối với giờ học tạo hình: "Vẽ người thân". Cô có thể đàm thoại. Gia đình cháu gồm có những ai? Gia đình cháu thuộc gia đình nhỏ hay gia đình lớn? Mọi người sống trong gia đình phải như thế nào với nhau? Giáo dục trẻ biết yêu thương, kính trọng đối với ông bà, cha mẹ, anh chị, biết nhường nhịn em bé. + Giờ học : Hoạt động với đồ vật Nhắc nhở cháu ngồi ngay ngắn, cất đồ dùng gọn gàng , ngăn nắp, biết giữ gìn bảo quản đồ dùng. + Giờ làm quen văn học: Qua chuyện "Đôi bạn tốt". Trong chuyện có mấy nhân vật? Ai cứu gà con? Vịt con như thế nào? Có đáng yêu không? Cô đàm thoại cùng trẻ: Cô giáo dục cháu lòng thật thà, chăm lo lao động, dạy cháu yêu cái thiện, ghét cái ác, hình thành cho trẻ lòng nhân ái đối với mọi người xung quanh. + Giờ học âm nhạc: Bài "Mùng 8 thang 3". Đàm thoại: Đối với cô giáo các con phải như thế nào? Khi tặng hoa cho cô, các con tặng bằng mấy tay? Thông qua đó giáo dục trẻ khi nhận hoặc trao vật gì với người lớn nên trao hoặc nhận phải bằng hai tay, khi nhận các con nói lời cảm ơn. Sau một thời gian thực hiện những thói quen về lễ giáo chất lượng lớp tôi tăng lên rõ rệt, trẻ biết chào hỏi,biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, yêu mến cô giáo, đoàn kết với bạn bè, tôi thấy vui mừng và tiếp tục áp dụng. 2. Giáo dục lễ giáo vào hoạt động vui chơi: Đối với trẻ lứa tuổi này trẻ học mà chơi, chơi mà học, trong giờ vui chơi trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống của người lớn, tôi tiến hành lồng lễ giáo vào vui chơi, qua đó trẻ được đối thoại những câu chào hỏi lễ phép, câu cảm ơn, xin lỗi, trao nhận bằng hai tay, tôi theo dõi quan sát lắng nghe để kịp thời uốn nắn trẻ khi có biểu hiện chưa chuẩn mực. Qua đó giúp trẻ hình thành thói quen hành vi văn minh trong giao tiếp. Ví dụ: Qua trò chơi phân vai - y tá - bác sĩ. Bác sĩ biết thăm hỏi bệnh nhân ân cần, xưng hô, cô, chú, bác, cháu đau chỗ nào? Đau ra sao? Y tá phát thuốc dặn bệnh nhân uống thuốc ngày mấy lần, bệnh nhân nhận thuốc, nhận đơn thuốc bằng hai tay và nói lời cảm ơn đối với cô y tá, bác sĩ. + Trẻ chơi bán hàng: Người bán hàng: Cô, chú mua gì ạ? Người mua: Bao nhiêu một cân cá vậy cô? Qua hoạt động vui chơi cháu mạnh dạn dần, thành thạo dần trong giao tiếp, trong ứng xử, chào hỏi đối với mọi người xung quanh mình. Từ đây trẻ lớp tôi đã hết nói trổng, câu cụt, câu què. Trẻ biết nói và trả lời đầy đủ câu, biết xưng hô chuẩn mục lên đến 65%. Từ kết quả có được như vậy tôi tiếp tục áp dụng. 3. Giáo dục lễ giáo ở mọi lúc mọi nơi: Giờ đón trẻ hoặc trả trẻ tôi rất ân cần và chuẩn mực trong xưng hô với bố mẹ trẻ, tôi tập trẻ đến lớp chào cô, sau đó chào tạm biệt bố mẹ để vào lớp học. Trong giờ chơi tự do, hay giờ lao động, sinh hoạt ngoài trời nếu cháu làm việc gì sai đối với bạn, với cô thì phải biết xin lỗi cô, xin lỗi bạn, ai cho gì thì nhận bằng hai tay và nói lời cảm ơn. Giờ chơi cháu đoàn kết với bạn bè, không tranh giành đồ chơi. Giờ dạo chơi sinh hoạt ngoài trời. Ví dụ: Tham quan vườn cây ăn quả. Đàm thoại: Muốn có nhiều quả ngon ta phải làm gì? Khi ăn quả các con nhớ đến ai? Giáo dục cháu kính trọng, yêu những người lao động, khi ăn phải từ tốn, chậm rãi không vứt vỏ và hạt bừa bãi. Giáo dục cháu giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh lớp, biết đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, mọi người xung quanh, qua nhiều lần như vậy, cháu lớp tôi có những thói quen đó khoản 70%, tôi tiếp tục áp dụng. 4. Xây dựng lễ giáo, góc tuyên truyền: Góc lễ giáo của lớp không thể thiếu đây là biện pháp rất hữu hiệu đối với chuyên đề lễ giáo bởi lẽ trẻ có đặc điểm dễ nhớ nhưng lại mau quên. Song, trẻ được trực quan bằng hình ảnh những gương tốt hoặc qua thơ, chuyện thì trẻ dễ tiếp thu việc làm nào tốt, việc làm nào xấu. Để có một kết quả tốt về giáo dục lễ giáo cho trẻ, đầu năm học tôi đã lên kế hoạch giáo dục lễ giáo cho trẻ theo từng tháng và nội dung sau: Thời gian Nội dung giáo dục Yêu cầu đạt Tháng 9 - Trẻ đi học gọn gàng , không khóc nhè - Tập thói quen vệ sinh cá nhân sạch sẽ - Biết hỏi cô khi ra vào lớp 75% Tháng 10 - Tập giao tiếp xung hô với bạn cùng lớp - Biết chào ạ khi khách đến 80% Tháng 11 - Biết chơi và chia sẽ đồ chơi cùng bạn - Biết lễ phép khi trò chuyện cùng cô 85% Từng tháng tôi lên kế hoạch có yêu cầu nội dung cao hơn, góc lễ giáo thường để ngoài cửa sổ để phụ huynh dễ nhìn, biết được kế hoạch chăm sóc của nhà trường để có hướng nhắc nhở con cái. Ở góc này tôi sưu tầm những tranh ảnh có nội dung giáo dục lễ giáo dán vào cho trẻ xem, kèm theo một bài thơ hay nội dung phù hợp với hình ảnh, thời gian rảnh tôi cho trẻ đến xem và trò chuyện, đàm thoại với trẻ những hành vi văn minh. Hằng tháng tôi lên kế hoạch chủ điểm lễ giáo và thay tranh ảnh bài thơ có nội dung phù hợp với chủ điểm từng tháng. Ngoài ra, tôi còn sưu tầm tranh truyện, sách báo nhi đồng có hình ảnh và nội dung về lễ giáo làm một album có nội dung và hình ảnh phù hợp với trẻ, để đến giờ hoạt động góc trẻ về góc học tập có thể mở ra xem. Đối với góc tuyên truyền tôi cũng dành một góc để tuyên truyền giáo dục lễ giáo cho phụ huynh nắm, từ đó phụ huynh sẽ chú trọng đến việc giáo dục lễ giáo cho trẻ lúc ở nhà. Từ đó việc áp dụng với biện pháp này trẻ lớp tôi trở nên ngoan hơn và thực hiện một cách tự nhiên. 5. Xây dựng cảnh quan sư phạm trong lớp học: Để tạo cảnh quan sân trường, trước giờ học tôi thường cho trẻ nhặt rác, lá cây để tạo môi trường sạch đẹp. Còn đối với kệ góc đồ chơi đầu tuần tôi thường tổ chức cho trẻ thi đua lau dọn, sắp xếp đồ chơi gọn gàng. Nhờ vậy, qua mỗi lần tổ chức hoạt động vui chơi trẻ chơi xong thu dọn đồ chơi gọn gàng và ngăn nắp. Trong lớp tôi có sọt rác, để vào góc lớp, sau mỗi giờ nêu tiêu chuẩn bé ngoan xong, tôi thường nhắc nhở, động viên trẻ sau khi ăn quà vặt nên bỏ rác vào giỏ để giữ vệ sinh chung và trẻ thực hiện tốt, nhất là sau hoạt động chơi tập xong cô cùng trẻ thu dọn đồ chơi và bỏ rác vào thùng Ở lớp tôi không có công trình vệ sinh nên tôi đào hai cái hố che bằng bao xi măng, hố nam riêng, nữ riêng cô tập cho trẻ đi tiêu tiểu đúng nơi quy định. Qua đó trẻ có thói quen vệ sinh văn minh hơn. 6. Phối hợp với các bậc phụ huynh: Cùng với mục tiêu xã hội hoá giáo dục thì vai trò của phụ huynh có vai trò không nhỏ trong việc giáo dục trẻ. Trong buổi họp mặt đầu năm tôi mạnh dạn trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo đối với trẻ mẫu giáo, nhất là trong thời kỳ hội nhập của nước ta tiếp nhận nhiều nền văn hoá và trò chơi giải trí đã ảnh hưởng một phần không nhỏ về hành vi văn minh của trẻ. Trẻ có thể đối xử thô bạo với bạn sau một đoạn phim hành động, hay trẻ có những lời không nên đối với bố mẹ, khi không đồng ý cho trẻ chơi điện tử. Để phụ huynh nhận thức ý nghĩa của vấn đề để cùng nhà trường giáo dục trẻ. Phụ huynh lớp tôi phần đông làm nghề lao động , công nhân nên họ ít quan tâm đến con cái mình, qua các cuộc họp phụ huynh hoặc những buổi truyền thông tôi luôn phổ biến và tuyên truyền cách nuôi dạy con theo khoa học và cách giáo dục lễ giáo đối với trẻ lúc ở nhà. Phụ huynh giành thời gian chăm sóc con cái như vệ sinh thân thể, chải răng đúng cách, phụ huynh phải luôn mẫu mực trong giao tiếp ở nhà để trẻ noi theo. Đồng thời chú ý sửa sai trẻ kịp thời những thiếu sót trong giao tiết đối với bạn bè, đối với người lớn. Tôi luôn trao đổi với phụ huynh hằng tháng thông qua sổ liên lạc về sự tiến bộ của mỗi cháu để phụ huynh kịp thời nắm bắt. Qua thời gian trẻ lớp tôi tiến bộ rõ rệt như xưng hô lễ phép, lịch sự trong giao tiếp nhờ sự giáo dục bằng phương châm "Trường học là nhà, nhà là trường học". 7. Giáo dục lễ giáo thông qua ngày hội, ngày lễ: Như các bạn đã biết truyền thống của người Việt chúng ta luôn tôn sư trọng đạo. Vì vậy thông qua các hoạt động tổ chức lễ hội như ngày giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 20/11... Từ ý nghĩa của những ngày lễ lớn, tôi đã tổ chức các hoạt động văn nghệ để chào mừng, đồng thời ôn lại truyền thống của dân tộc để giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, biết kính trọng những người đã hy sinh cho lợi ích dân tộc, lợi ích trồng người. Nhằm hình thành cho trẻ lòng tự hào, kính yêu đối với người lớn tuổi, thông qua đó khuyến khích trẻ học tập và phấn đấu thành con người có ích cho xã hội. 8. Cô gương mẫu chuẩn mực: Ở lứa tuổi của trẻ luôn thích được cô yêu thương, gần gũi, mọi hành vi của cô được trẻ lưu tâm nhất. Vì vậy cô luôn luôn chuẩn mực trong lúc giao tiếp với người lớn, với trẻ không to tiếng quát tháo, xưng hô dịu dàng bằng cô và cháu, giờ đón trả trẻ tôi luôn ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, khiêm tốn lịch sự trong giao tiếp với phụ huynh, cháu hỏi gì tôi trả lời rõ ràng, gọn gàng tôn trọng lời nói của trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ. Tôi hứa điều gì với trẻ là thực hiện đúng lời hứa, nếu trẻ có hành vi hoặc lời nói không hay tôi nhẹ nhàng góp ý và khuyến khích trẻ tránh sai phạm lần sau. Tuyệt đối không chạm tự ái của trẻ hoặc làm trẻ phải sợ hãi lo lắng. Tác phong quần áo tôi luôn chú ý ăn mặc đẹp, lịch sự, cô tươi trẻ cháu rất thích. Cô thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo hay cô giáo là mẹ hiền, mẹ và cô là hai cô giáo, trẻ có hai mẹ hiền nhất định trẻ sẽ là con ngoan trò giỏi. 9. Khích lệ nêu gương: Tâm lý của con người thích được khen hơn là chê. Nhất là đối với trẻ lúc nào cũng muốn được khen và khen nhiều. Hằng ngày vào giờ nêu gương cuối ngày trước khi cắm cờ, tôi cho trẻ tự nhận xét về mình trong ngày đó có bạn nào có hành vi lời nói hay tôi nêu gương ra cho cả lớp và tặng trẻ bằng 1 tràn vỗ tay Ngoài ra, vào mỗi sáng tôi thường đưa ra những tiêu chuẩn bé ngoan về lễ giáo để trẻ thực hiện. Cuối tuần bao giờ cũng có tiết mục kể chuyện về gương tốt, tuần nào cũng vậy tôi không bao giờ bỏ qua. Ví dụ: Tháng 10 kể chuyện "giờ ăn của bé" Tuần khác tôi kể cho trẻ nghe hoặc những câu chuyện về ăn uống có văn hoá do tôi đặt ra hoặc sưu tầm, những giờ như vậy trẻ rất thích lắng nghe, nhằm kích thích trẻ học ngoan, trẻ sẽ nỗ lực như ý muốn. Vì trẻ ở lứa tuổi này thích động viên khen ngợi, được khen trẻ thêm tự tin và hào hứng thực hiện tốt yêu cầu của cô. V. KẾT QUẢ NGUYÊN CỨU: Sau những biện pháp tôi nghiên cứu và thực hiện chất lượng giáo dục về lễ giáo tăng lên rõ rệt đó là điều làm tôi phấn khởi, yêu nghề, yêu trẻ càng nhiều. Giúp tôi có nghị lực trong công tác, lớp tôi đạt được kết quả như sau: - Trẻ biết chào hỏi lễ phép: 95%. - Trẻ biết xưng hô lễ phép: 95%. - Biết cảm ơn, xin lỗi: 100%. - Biết giữ gìn, cất, sắp xếp đồ chơi theo quy định: 100%. - Biết giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường: 98%. - Biết nhường nhịn giúp đỡ bạn: 95%. - Trẻ mạnh dạn trong giao tiếp: 90%. Trẻ ngoan hơn, lễ phép hơn, trẻ được hình thành những thói quen vệ sinh văn minh, biết chào hỏi khi có khách đến, biết trao nhận bằng hai tay, biết quan tâm giúp đỡ bạn bè, cô giáo, ba mẹ, không nói tục, đánh bạn, kính trọng cô giáo và người lớn. Các bậc phụ huynh có những chuyển biến rõ rệt về lời ăn tiếng nói, về phong cách và quan tâm ngày càng nhiều đến con em mình. Bản thân tôi được trao đổi kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ qua các môn học, các hoạt động, được phụ huynh và các đồng nghiệp quý mến và tin yêu hơn. VI. KẾT LUẬN: Từ những biện pháp đã áp dụng tôi đã rút ra nhiều bài học bổ ích: Bản thân cô giáo phải luôn tìm tòi sáng tạo, sưu tầm tranh ảnh, thơ ca, hò vè để góc lễ giáo và thư viện của bé ngày càng phong phú hơn, tôi thay đổi theo từng chủ điểm để tạo sự mới lạ hấp dẫn trẻ. Các tiết học có lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo dưới hình thức hò vè, ca dao, câu đố vào bài học để giáo dục trẻ. Phải thường xuyên thực hiện giờ nêu gương và kể chuyện hàng tuần hoặc tổ chức văn nghệ để động viên tinh thần trẻ. Gia đình của trẻ thật sự là mái ấm đầy tình thương, bố mẹ là những tấm gương sáng và mẫu mực về hành vi ứng xử, chăm sóc, tinh thần trách nhiệm đối với trẻ. Cô giáo phải thật sự là tấm gương sáng để trẻ noi theo, luôn giàu tình yêu thương, luôn thận trọng trong mọi hành vi của mình, thân thiện yêu thương để tạo tâm lý thoả mái cho trẻ thực hiện tốt mọi hành vi cũng như hoạt động giao tiếp, nhằm giúp trẻ từng bước hình thành nhân cách cho trẻ. Bên cạnh đó môi trường và cảnh quan sư phạm cũng góp phần hình thành cho trẻ những hành vi văn minh để dần dần hoàn thiện nhân cách tốt đẹp của truyền thống con người Việt Nam phù hợp với mọi chuẩn mực đạo đức xã hội một cách tự nguyện. VII. ĐỀ NGHỊ: Trong phạm vi lớp học: Tạo điều kiện cho lớp học tốt hơn như sau: - Cô giáo phải chuẩn bị nhiều nội dung, hình ảnh về lễ giáo để trẻ tri giác hằng ngày. - Góc âm nhạc có những bài hát về lễ giáo phù hợp. - Các góc tuyên truyền của lớp có nhiều bài viết và hình ảnh cho phụ huynh tham khảo. Tôi chân thành cảm ơn! Cần Thơ, ngày 3 tháng 4 năm 2012 Người viết Lê Thị Phố

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Cần Thiết Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Nhỡ
  • Skkn Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ 4 5 Tuổi
  • Cho Con Bú Vô Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • So Sánh Các Biện Pháp Tránh Thai Và Ưu Nhược Điểm Của Từng Loại
  • Ưu Nhược Điểm Của Các Biện Pháp Tránh Thai Phổ Biến Hiện Nay
  • 8 Phương Pháp Phòng Tránh Thai An Toàn, Ưu Và Nhược Điểm
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Và Cơ Chế Tác Dụng
  • Phương pháp cho con bú vô kinh được xem là cách tránh thai sau sinh hiệu quả dành cho các mẹ vừa mới sinh con. Không những miễn phí, cho con bú vô kinh còn cực kỳ an toàn và hiệu quả nếu bạn áp dụng đúng cách. Khuyết điểm của phương pháp này đó là thời gian có hạn, chỉ phát huy tác dụng vào 6 tháng đầu tiên sau sinh mà thôi!

    Phương pháp này chỉ hiệu quả khi bạn cho con bú liên tục sau sinh. Điều này đồng nghĩa, trẻ sơ sinh nên bú sữa mẹ hoàn toàn, và không nạp thêm sữa ngoài, nước hay bất cứ nguồn thực phẩm nào khác. Bé bú càng nhiều, hormone kích thích sản xuất sữa càng tăng, từ đó ngăn chặn hoạt động của hormone gây nên sự rụng trứng.

    1/ Ưu điểm của cách tránh thai cho con bú vô kinh

    Tránh thai sau sinh với phương pháp cho con bú vô kinh bao gồm những điểm mạnh sau:

    -Không có tác dụng phụ.

    -Thuận tiện, đơn giản và không tốn kém.

    -Không ảnh hưởng đến sự cân bằng hormone tự nhiên của phụ nữ.

    -Không yêu cầu sự cho phép hay giám sát y tế.

    -Ngay lập tức có hiệu quả.

    -Giảm tình trạng ra máu sau khi sinh.

    -Tăng độ mặn nồng cho quan hệ vợ chồng sau sinh.

    -Cho con bú tạo sợi dây gắn kết tình mẹ con.

    -Ngăn ngừa sự phát triển bệnh dị ứng và hen suyễn ở trẻ sơ sinh.

    -Cung cấp kháng thể cho em bé khỏi vi khuẩn gây hại.

    -Nuôi dưỡng bé với nguồn dinh dưỡng có sẵn.

    2/ Điểm danh những khuyết điểm

    -Không bảo vệ hai vợ chồng bạn khỏi bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.

    -Chỉ có tác dụng vào 6 tháng đầu sau sinh.

    -Có thể làm “cô bé” trở nên thiếu ẩm ướt.

    -Cho con bú mẹ hoàn toàn, không phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng nào khác cũng khá vất vả.

    3/ Chấm điểm hiệu quả của biện pháp cho con bú vô kinh

    Hiệu quả tránh thai sau sinh lên đến 98%, trong 6 tháng sau sinh, khi chu kỳ kinh nguyệt chưa khởi động trở lại. Nếu áp dụng đúng 100%, tỷ lệ thành công là 98%, nhưng chỉ một chút sơ xuất, tỷ lệ giảm xuống còn 95%.

    4/ Nguyên tắc dành cho mẹ áp dụng cho con bú vô kinh

    -Chỉ áp dụng vào 6 tháng đầu tiên sau sinh.

    -Không bổ sung thêm nguồn dinh dưỡng nào khác cho bé ngoài sữa mẹ.

    -Cho con bú ít nhất mỗi 4 giờ trong ngày, mỗi 6 giờ vào buổi đêm.

    -Chu kỳ kinh chưa quay lại.

    -Chọn các biện pháp tránh thai an toàn khác sau khi bé được 6 tháng tuổi.

    -Cho con bú cả hai bên ngực ít nhất 6 lần/ngày.

    MarryBaby

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Của Tránh Thai Bằng Phương Pháp Vô Kinh Cho Con Bú
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Bú Vô Kinh
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Con Bú Vô Kinh Có An Toàn Không?
  • Biện Pháp Tránh Thai Vô Kinh Cho Con Bú
  • Biện Pháp Tránh Thai Vĩnh Viễn Dành Cho… Mày Râu
  • Nghị Luận Bàn Về Bệnh Vô Cảm Và Chống Lại Căn Bệnh Vô Cảm

    --- Bài mới hơn ---

  • Anh Chị Hãy Trình Bày Suy Nghĩ Của Mình Về Bệnh Vô Cảm Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Cách “chữa Bệnh” Vô Cảm Cho Học Sinh
  • Nghị Luận Xã Hội Về Bệnh Vô Cảm Hiện Nay
  • Thực Trạng Giới Trẻ Hiện Nay Trước Căn Bệnh Sống Vô Cảm
  • Khắc Phục Bệnh Vô Cảm Trong Học Sinh
  • Đề bài: Anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề sau: ” Tình thương là cái quý giá của con người, bệnh vô cảm đã làm mất phẩm chất ấy, không khác gì biến dòng máu hồng hào trở thành dòng máu trắng. Trái tim mỗi con người cần được thắp sáng ước mơ, khát vọng, ý chí và sự sáng tạo gắn bó với cộng đồng. Điều đó sẽ chống được bệnh vô cảm và làm cho cuộc đời của con người có ý nghĩa

    “.

    Bệnh vô cảm – căn bệnh đang gây nhức nhối trong xã hội

    Xã hội ngày một phát triển vô tình khiến con người bị cuốn vào trong vòng xoáy của công việc, của những cuộc vui bất tận… Và rồi chẳng ai còn để ý tới ai, chẳng ai còn quan tâm tới những thứ đang diễn ra xung quanh mình. Tất cả những gì mà người ta nghĩ chỉ còn là bản thân họ. Đó là một trong những “triệu chứng” của bệnh vô cảm – căn bệnh đang gây nhức nhối trong xã hội hiện nay.

    Trước hết, chúng ta cần phải hiểu “bệnh vô cảm” là gì? Vô cảm là một trạng thái không cảm xúc, không lay động trước bất cứ sự vật, hiện tượng gì xung quanh mình. Bệnh vô cảm ở đây có thể hiểu là những con người sống ích kỷ, hẹp hòi, thờ ơ, vô cảm trước những số phận, những sự việc bên ngoài. Họ chỉ quan tâm tới lợi ích cá nhân mình mà bỏ ngoài mọi mối quan hệ khác.

    Một thực trạng đáng buồn là hiện nay bệnh vô cảm trong xã hội đang có chiều hướng ra tăng. Bệnh vô cảm xuất hiện ở nhiều lứa tuổi khác nhau nhưng thường gặp nhất là ở một bộ phận giới trẻ. Là thế hệ cấp tiến của xã hội, những chủ nhân tương lai của đất nước nhưng một bộ phận giới trẻ lại không nhận thức được vai trò của mình. Họ sa đà vào những cuộc vui chơi thâu đêm suốt sáng, họ chỉ biết đòi hỏi những thứ tốt nhất thuộc về mình để thỏa mãn những nhu cầu vị kỉ. Họ đắp lên mình những thứ hào nhoáng, thả mình vào những cơn mộng mị của cồn, của chất kích thích mà quên đi trách nhiệm của bản thân với gia đình, với xã hội và những người xung quanh. Trước những số phận, những hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ họ hoàn toàn dửng dưng. Hay ngay trong cuộc sống, khi bắt gặp những trường hợp cần giúp đỡ, những vụ tai nạn, thay vì giúp đỡ, rất nhiều bạn trẻ lại chỉ biết chụp ảnh, ghi hình, livetream (ứng dụng phát trực tiếp trên facebook) để “câu like”, sống ảo. Thậm chí, có những người mù quáng, mất kiểm soát tới mức đã sát hại cả bố mẹ mình vì không đáp ứng được những nhu cầu của họ.

    Có thể thấy, bệnh vô cảm có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với đời sống xã hội. Nó khiến cho các mối quan hệ trở nên lạnh lẽo, khố cứng và mất liên kết với nhau. Con người đối xử với nhau thiếu tình người, hay đúng hơn là tự biến mình thành những cái máy di động, chỉ biết hoạt động theo bản năng của bản thân. Những tiêu chuẩn của con người về lối sống, cách sống và đạo đức cũng sẽ bị đảo lộn và ngày càng trở nên lệch lạc. Không chỉ ảnh hưởng tới xã hội mà nó còn tác động tiêu cực đến chính những “người bệnh”. Nó sẽ khiến cho con người phát triển lệch lạc, tách biệt khỏi cộng đồng xã hội, trở thành những kẻ lạc loài…

    Vậy những nguyên nhân nào đã dẫn đến căn bệnh tai quái này? Một trong những nguyên nhân đầu tiên phải kể đến chính là sự phát triển đến chóng mặt của xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã biến cuộc sống của con người ngày càng trở nên thực dụng, khiến con người lao vào những guồng quay không lối thoát của công việc, của hưởng thụ. Bên cạnh đó là hàng loạt những hình thức vui chơi giải trí, những thú vui khiến con người chìm đắm mà quên mất đi chính bản thân mình. Cha mẹ chưa có những quan tâm và cách dạy dỗ đúng mực. Họ quá nuông chiều con cái để chúng sinh ra những thói hư tật xấu, sống ỷ lại, dựa dẫm vào người khác. Hay từ chính những bản trẻ, họ không nhận thức đúng đắn về cách sống của mình, không vững vàng để các yếu tố xấu tác động, hình thành nên những thói quen ích kỷ, vô cảm…

    Trước những hậu quả và nguyên nhân đáng lo ngại như vậy, chúng ta cần phải đưa ra những giải pháp để khác phục và đẩy lùi căn bệnh này khỏi xã hội. Cách khắc phục đầu tiên và cũng là phương pháp quan trọng nhất chính là mỗi người cần tự nhận thức, tự điều chỉnh lại cách nhìn nhận về cuộc sống của mình. Mở lòng ra nhiều hơn, cho đi yêu thương nhiều hơn. Không ngừng cố gắng để rèn luyện bản thân, làm việc và phấn đấu vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Gia đình và nhà trường cũng cần có những phương pháp giáo dực con cái một cách đúng đắn hơn, không nên quá nuông chiều mà hãy để con cái nhìn thấy được sự yêu thương và những điều tích cực trong xã hội. Có như vậy, chúng mới thấy được giá trị đích thực của cuộc sống.

    Có thể nói, bệnh vô cảm là một “căn bệnh vô cùng quái ác”. Thế nhưng, nếu mỗi người biết chung tay, biết sẽ chia, giúp đỡ lẫn nhau thì chắc chắn rằng căn bệnh ấy sẽ bị đẩy lùi.

    Một số đoạn văn ngắn nghị luận về bệnh vô cảm

    Xã hội ngày càng phát triển con người ngày càng bị cuốn vào guồng quay của công việc, tiền tài và nhiều người trở nên vô cảm hơn, bệnh vô cảm là gì? vô cảm là sự thờ ơ trước niềm vui, nỗi buồn của người khác. Bệnh vô cảm khiến cho tâm hồn con người khô khan, càng khiến cho khoảng cách giữa người với người ngày càng xa hơn. Trong xã hội ngày nay bệnh vô cảm ngày càng trở nên trầm trọng, nhất là trong giới trẻ có thể thấy qua việc chứng kiến tai nạn giao thông, có những người không giúp đỡ nạn nhân mà chỉ lo quay video, chụp ảnh để đưa lên mạng xã hội với mục đích câu like. Nguyên nhân dẫn đến bệnh vô cảm đó là do ý thức của con người, do cuộc sống phát triển và con người coi trọng tiền bạc hơn cả nhân cách, tình cảm…… Để ngăn chặn căn bệnh vô cảm cần có biện pháp giáo dục cho mỗi công dân tình yêu thương ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tuyên truyền cho cộng đồng về căn bệnh vô cảm. Nhưng quan trọng hơn hết là bản thân mỗi người phải tự giác ý thức được tác hại của căn bệnh vô cảm, có thể nói vô cảm là căn bệnh nguy hiểm nhất trong các căn bệnh nguy hiểm mà xã hội cần bài trừ, ngăn chặn.

    (Bài làm của bạn Chu Hương Lan)

    Sự phát triển ngày càng cao của đời sống vật chất thì điều đáng buồn là những biểu hiện của truyền thống tốt đẹp “tương thân tương ái” lại mai một dần và chúng ta đang phải đối mặt với một căn bệnh tinh thần đáng sợ. Người ta gọi đó những triệu chứng của “bệnh vô cảm”. Người mắc “bênh vô cảm” không có cảm xúc với cuộc sống, với những gì đang diễn ra. Bệnh vô cảm đang diễn ra ngày càng phức tạp, trở thành một căn bệnh khó chữa. Thực trạng đang diễn ra ngay trong chính gia đình, như: con cái thờ ơ với những khó khăn, vất vả của cha mẹ; cha mẹ thì không quan tâm, thờ ơ với những suy nghĩ, những hành động, việc làm sai trái của con. Trong trường học: học trò thờ ơ với sự chỉ bảo tận tình của thầy cô. Ngoài xã hội: thờ ơ, bàng quan, chỉ đứng xem rồi bàn tán, thậm chí thừa cơ chuộc lợi khi ai đó bị tai nạn, bị bạo hành. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do: Lối sống cá nhân, vị kỉ, thiếu trách nhiệm, không quan tâm đến những người xung quanh. Do giới trẻ lo đắm chìm trong thế giới ảo mà quên đi cuộc sống hiện thực. Do gia đình, nhà trường chưa quan tâm, giáo dục tình thương ở các em. Do nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, đề cao vật chất. Và để lại những hậu quả to lớn như: khiến con người xa nhau, không biết đặt mình vào vị trí của nhau để cảm nhận, dần dần vô tâm, hờ hững trước những bất hạnh của người khác. Đồng thời, làm mất đi truyền thống tương thân tương ai của dân tộc. Mỗi người cần nhận thức và sống có trách nhiệm với chính bản thân cũng như với gia đình, xã hội và cộng đồng. Mỗi gia đình, nhà trường cần quan tâm, giáo dục ý thức cho thế hệ trẻ. Bản thân chúng ta cần phê phán thái độ sống thờ ơ, vô cảm và đề cao, nêu gương những người giàu lòng vị tha, nhân ái.

    Một số bài văn hay bàn về căn bệnh vô cảm và cách chống lại bệnh vô cảm

    “Vô cảm” là không có cảm giác, không có tình cảm, không xúc động trước một sự vật, hiện tượng, một vấn đề gì đó trong đời sống. Bệnh vô cảm là căn bệnh của những người không có tình yêu thương, sống dửng dưng trước nỗi đau của con người, xã hội, nhân loại…

    Trải qua các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, những cuộc đọ sức với thiên tai khắc nghiệt, nhân dân ta đã có truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Dường như càng qua gian khổ, đau thương, mất mát con người lại sống gần nhau, quan tâm, giúp đỡ nhau nhiều hơn. Tình làng nghĩa xóm, thương người như thể thương thân đã trở thành một đạo lí của dân tộc: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”.

    Hiện nay, trong cuộc sống vật chất ngày càng được cải thiện hơn, đầy đủ hơn, người ta dễ có xu hướng lo vun vén cho bản thân và gia đình mình, ít quan tâm đến những vấn đề xã hội. Trước kia, ông cha ta đã phê phán lối sống chỉ biết vun vén cho riêng mình. Cuộc sống quanh ta hiện nay không thiếu những người như thế. Họ sống thờ ơ với mọi việc đang diễn ra, nhà nào nào đóng cửa biết nhà nấy. Nhà hàng xóm có hoạn nạn, có con cái bị rơi vào cạm bẫy của các tệ nạn xã hội họ cũng bàng quan như không biết. Đi đường gặp người bị tai nạn, họ cũng bỏ qua như không nhìn thấy. Thấy lũ trẻ cái nhau thậm chí đánh nhau họ cũng làm ngơ. Trước cảnh khổ đau của những người tàn tật, bất hạnh, họ cũng không mảy may xúc động…Bệnh vô cảm đã làm cho con người như vô tri, vô giác, không thể hòa nhập với cộng đồng.

    Trong công việc, bệnh vô cảm làm cho con người chẳng khác nào một cái máy. Họ làm việc một cách đơn điệu, tẻ nhạt. Con người mắc bệnh vô cảm trong công việc, chắn chắc hiệu quả công việc sẽ không thể nào cao, thậm chí còn làm trì trệ, ảnh hưởng nghiêm trọng.

    Là cán bộ, công chức của Nhà nước, mắc bệnh vô cảm sẽ dẫn đến xa rời nhân dân, tắc trách trong công việc. Một bác sĩ vô cảm không thể có tình thương người bệnh, nhất là những người bệnh nghèo. Không thiếu những trường hợp vì vô cảm mà người bệnh không được chăm sóc chu đáo, dẫn đến những cái chết đáng tiếc. Một kĩ sư vô cảm có thể dửng dưng trước những sinh mạng con người do công trình không đạt chất lượng của mình gây ra. Một tài xế vô cảm sẵn sàng xem thường tính mạng của người khác khi phóng nhanh vượt ẩu. Một thầy giáo vô cảm chỉ nghĩ bài giảng cho xong chuyện, còn nói gì đến tình nghĩa thầy trò, tận tâm dạy bảo, nhất là những học trò còn học kém, gia đình khó khăn. Cán bộ vô cảm sẽ không thể nhìn thấy hoàn cảnh của mỗi người dân, không thấy những nỗi bức xúc của nhân dân, giúp đỡ nhân dân tận tâm, tận tình.

    Gần đây thôi, nếu bạn có tình cờ xem qua các trang báo sẽ ngỡ ngàng vô cùng với “sự nhẫn tâm” đến đáng sợ của con người: Một thanh niên gào khóc thảm thiết trên chuyến xe buýt khi kẻ gian lấy mất chiếc bóp của anh ấy nhưng đáp lại là sự im lặng đến xót xa. Và đau lòng hơn nữa khi xem cảnh bao người đi “hôi bia” khi chuyến xe định mệnh của người tài xế đáng thương lật trên đường. Đáp lại cho tiếng khóc của anh là tiếng cười hả hê của những người đi nhặt của “trên trời rơi xuống”. Viết đến đây tôi lạnh cả người và tự hỏi lòng trắc ẩn, tình thương của con người hiện đại có còn hay không? Phải chăng khi xã hội phát triển con người lại đánh mất tình yêu thương?

    Tình thương là cái quí giá của con người; bệnh vô cảm đã làm mất phẩm chất ấy, không khác gì biến dòng máu hồng hào trở thành màu xanh. Trái tim mỗi người cần thắp sáng ước mơ, khát vọng, ý chí và sự sáng tạo gắn bó với cộng đồng. Điều đó sẽ chống được bệnh vô cảm và làm cho cuộc đời của con người.

    Trong đời sống đang phát triển mạnh mẽ về công nghệ, máy móc, con người có thể kiếm được nhiều tiền hơn, giàu có hơn, nhưng có một thứ dường như có biểu hiện vơi đi, đó là sự quan tâm giữa người với người? Cuộc sống công nghiệp với những tất bật và tốc độ vận động quá nhanh khiến người ta hẫng hụt đến mức ít quan tâm đến nhau hơn. Phải chăng những tất bật ấy là nguyên nhân khiến “bệnh vô cảm” có cơ hội lan rộng?

    Vô cảm là một căn bệnh hiện không có trong danh sách của ngành y học, nhưng nó đã ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống con người. Vậy “bệnh vô cảm” là gì? Vô là không, cảm là tình cảm, cảm xúc. Vô cảm là trạng thái con người không có tình cảm. Sống khép mình lại, thờ ơ lạnh nhạt với tất cả mọi việc xung quanh. Trong nhịp sống hiện đại ngày nay, một sô” người chỉ lo vun vén cho đời sống cá nhân và quay lưng lại với eộng đồng xã hội. Một số người tự làm mình trở nên xa lánh, không quan tâm đến ai, không biết đến niềm vui nỗi buồn của người khác. Đó là “bệnh vô cảm”. Chỉ lo chạy theo giá trị vật chất, đôi khi con người ta đã vô tình đánh mất đi vẻ đẹp đích thực của tâm hồn. Cuộc sống dù có sung túc hơn, giàu sang hơn, nhưng khi con người không biết quan tâm yêu thương nhau, thì đó vẫn không được xem là cuộc sống trọn vẹn được. Ngại giúp đỡ những người gặp khó khăn hoạn nạn, cuộc sống của chúng ta dần đi ngược lại với truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân dân từ xưa “Lá lành đùm lá rách”.

    Ngày nay, một số người chi biết sống và nghĩ cho riêng mình. Như khi thấy bao người hành khất bên đường, họ không giúp đỡ, thậm chí còn khinh miệt, dè bỉu chế nhạo trước nỗi bất hạnh của những mảnh đời đáng thương đó. Và cũng như bao tệ nạn, bao việc xấu xa cướp giật giữa đời thường vẫn xảy ra hằng ngày đấy thôi, nhưng không, ai dám can ngăn. Vì sao? Vì sao con người lại vô cảm như vậy? Phải chăng cũng vì họ sợ, sợ sẽ gặp rắc rối liên lụy, cho nên không dại gì lo nghĩ đến chuyện của người khác. Nhưng đó không là “chuyện của người khác”, đó chính là những vấn đề chung của xã hội. Sao con người lại có thể quay lưng lại với chính cộng đồng mình đang sống được kia chứ! Và không chỉ dừng lại ở một vài cá nhân, bộ phận nhà nước cũng có lối sống ích kỉ như vậy. Một vài cơ quan giàu sang luôn tìm cách bóc lột người dân, như về việc chiếm đất đai, tài sản… Rồi sau đó, họ ngoảnh mặt đi một cách lạnh lùng, bỏ lại sau lưng những mảnh đời khốn khổ cùng bao giọt nước mắt hờn trách cuộc đời không thể sẻ chia cùng ai. Đó không phải là biểu hiện của “bệnh vô cảm” hay sao!

    Nếu cứ mãi tiếp tục như vậy, cuộc sống này sẽ mất hết tình thương, mất hết niềm cảm thông san sả, mất đi cả truyền thống đạo đức quý báu ngày xưa. Sẽ không còn là “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ nữa”, mà chỉ còn lại sự lạnh nhạt, sự thờ ơ vô cảm. “Tình thương là hạnh phúc của con người”, liệu cuộc sống này có còn ý nghĩa nữa hay không nếu con người cứ tự khép mình lại và chỉ biết sống cho bản thân? Liệu bạn có cảm thấy hạnh phúc nếu xung quanh mình chỉ toàn là giọt nước mắt cùng với nỗi bất hạnh của bao người? Thomas Merton đã từng nói: “Nếu chúng ta chỉ biết tìm hạnh phúc cho riêng mình thì có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm thấy. Hạnh phúc đích thực là biết sổng vì người khác”. Bạn giàu sang ư? Bạn thành công ư? Nhưng khi đã trở nên vô cảm, bạn chỉ thấy mỗi bản thân mình mà thôi. Sự giàu sang, sự thành công như vậy có mang lại hạnh phúc cho bạn không khi bạn chỉ sống một mình, hay đúng hơn là bạn tự tách mình ra khỏi cộng đồng, sống không sẻ chia.

    Sống đôi khi đơn giản là học cách yêu thương. Hãy thử một lần trải lòng mình ra dù chỉ là chút ít ỏi. Bởi vì, khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi một nửa, còn hạnh phúc được san sẻ sẽ nhân đôi. Hãy thử nghĩ xem, cụ già trên đường kia sẽ có thể qua đường nếu bạn chịu bỏ chút ít thời gian dừng xe lại và dắt cụ qua. Em bé sẽ không lạc giữa chợ nếu bạn chịu bỏ chút ít thời gian đưa em về phường công an tìm mẹ… Mỗi ngày đến trường, bạn có thể dành dụm một chút ít tiền cho quỹ “Vì người nghèo”. Nhiều, rất nhiều những việc bạn có thể làm nếu bạn chịu bỏ “chút ít”. Những đóng góp của bạn đôi khi rất nhỏ nhặt nhưng quan trọng hơn hết, đó là tình thương, là sự quan tâm chia sẻ, là cả một tấm lòng. Hãy làm những gì có thể để giúp cho nỗi đau của bao người được vơi đi. Sự trao đi yêu thương đôi khi cũng là điều mang lại hạnh phúc. Phải nói rằng, xã hội càng văn minh, thì con người đối xử với nhau nhân ái hơn, văn minh hơn. Tuy nhiên, vẫn tồn tại đâu đó lối sống thực dụng, ích kỉ là làm tổn thương đến truyền thống “nhiều điều phủ lấy giá gương” của dân tộc ta. Vì vậy, chúng ta không nên nói đời sống công nghiệp đã làm nảy sinh ‘bệnh vô cảm”, mà căn bệnh ấy xuất phát từ việc giáo dục con em và công dân chúng ta chưa thật nghiêm túc. Thật khó tìm nguyên nhân đầy đủ, nên xin trao câu hỏi này cho các nhà giáo dục và xă hội học, tâm lí học,…

    Trong ca khúc “Mưa hồng”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”. Vâng, đừng sốhg quá vội vã! Đừng để dòng đời hối hả có thể cuốn bạn đi! Đừng quay lưng lại với tất cả! Đừng để dòng màu đỏ chảy trong con người bạn trở nên lạnh đen. Đừng để một khi nào đó dừng lại, bạn chợt nhận ra mình đã vô tình đánh mất quá nhiều thứ! Hãy nuôi dưỡng lòng nhân ái, tình thương của mình cùng mọi người đẩy lùi “căn bệnh vô cảm” kia. Và cũng bởi vì: ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến nên hãy cho và nhận những gì bạn có trong ngày hôm nay.

    Thời đại ngày nay là thời đại kinh tế thị trường. Sống trong xã hội đó, hàng ngày nảy sinh ra hiện tượng nhiều người lao vào kiếm tiền, lo vun vén cho bản thân và gia đình mình mà thờ ơ trước những vấn đề bức xúc của cuộc sống xã hội, gây nên một căn bệnh tinh thần khá nguy hiểm: “Bệnh vô cảm” , một căn bệnh có nguy cơ lan rộng làm băng hoại đạo đức truyền thống của dân tộc, làm ô nhiễm môi trường tốt đẹp của xã hội mới.

    “Bệnh vô cảm” là căn bệnh tâm hồn của những người có trái tim lạnh giá, không xúc động, sống ích kỷ, lạnh lùng, cho sự an toàn của bản thân mình là trên hết. Họ thờ ơ, làm ngơ trước những điều xấu xa, hoặc nỗi bất hạnh, không may của những người sống xung quanh mình.

    Con người chạy theo đồng tiền, chạy theo vật chất mà quên đi giá trị của đời sống tinh thần. Coi đồng tiền cao hơn giá trị con người. Bệnh vô cảm không chỉ xuất hiện ở kẻ xấu mà còn là ở người tốt. Vì người tốt im lặng trước cái xấu, để cái xấu nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

    Bệnh vô cảm có những biểu hiện thật, đa dạng, muôn màu muôn vẻ: vô cảm đối với cuộc sống, xã hội; vô cảm đối với đồng loại, gia đình, người thân, bạn bè, thậm chí vô cảm đối với chính bản thân mình.

    Đi đường gặp những người bị tai nạn, gãy tay, gãy chân hoặc nằm bất tỉnh, những kẻ vô cảm chẳng có phản ứng nào mà chỉ biết dửng dưng chứng kiến với thái độ “Thờ ơ con mắt lạnh. Nhìn chúng có hề chi!” (Tố Hữu). Lên xe ô tô, thấy kẻ gian móc túi hoặc bọn côn đồ hành hung hành khách, họ cũng chỉ lờ di xem như đấy không phải chuyện của mìn h. Sống trong cơ quan trường học, chứng kiến bao chuyện ngang trái như cấp trên hối lộ, thầy giáo ngang nhiên bạo hành học sinh, còn học sinh thì quay cóp gian lận trong thi cử, họ cũng không mở miệng mà ngoảnh mặt làm ngơ. Hoặc trông thấy bạn bè đồng trang lứa bị bạo hành ngay trước cổng trường nhưng họ còn đứng xem rồi quay clip tung lên mạng coi như không phải chuyện của mình.

    Sự vô cảm là một căn bệnh đang có chiều hướng lan rộng trong xã hội ta, nó đang len lỏi khắp mọi nơi. Nó không chỉ diễn ra ngoài xã hội mà còn xâm nhập vào trong các gia đình, những người thân ruột thịt. Tôi đã chứng kiến cảnh có nhà cha mẹ bị ốm nặng nằm liệt giường mà con cái không đoái hoài gì đến, có khi tống khứ vào viện dưỡng lão. Khi bố mẹ qua đời thì giành nhau đưa xác về nhà mình để nhận tiền phúng điếu.

    Căn bệnh vô cảm sẽ gây nên hậu quả thật khủng khiếp cho xã hội, cộng đồng, đất nước. Nó biến con người thành kẻ vô trách nhiệm, vô lương tâm và vô văn hóa, thậm chí là kẻ tội đồ. Có thể nói đó là căn bệnh của những kẻ không có trái tim con người. Nó sẽ làm cho một người cán bộ, người công dân trong xã hội ta trở nên xa rời quần chúng, thiếu trách nhiệm trong công việc. Cũng vì vô cảm mà nhiều bác sĩ đã để cho nhiều bệnh nhân cần phải cấp cứu mà phải nằm chờ hàng nửa tiếng đồng hồ nên đã dẫn đến hậu quả bệnh nhân bị chết một cách oan khuất. Cũng vì vô cảm mà nhiều thầy giáo không hề quan tâm đến hoàn cảnh éo le của học sinh, mà cứ mắng mỏ quát nạt các em dẫn đến hậu quả nhiều em bị bệnh trầm cảm, thậm chí là nhảy lầu tự tử.

    Căn bệnh vô cảm là căn bệnh của những người sẵn sàng quay lưng lại với những nỗi đau khổ, bất hạnh của đồng loại, sẵn sàng làm ngơ trước cái xấu, cái ác, nên làm cho cái xấu, cái ác có mảnh đất mầu mỡ để sinh sôi nẩy nở như “cỏ mọc hoang” và đang đầu độc, chế ngự cuộc sống tốt đẹp của con người trong xã hội mới của chúng ta hôm nay.

    Căn bệnh vô cảm là căn bệnh của phường ích kỷ luôn luôn nhìn đời bằng cặp mắt ráo hoảnh. Nó đang làm mất đi một điều vô cùng thiêng liêng và quý giá. Đó là tình thương giữa con người với con người. Mà tình thương theo Nam Cao, nó là tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định tư cách con người “Không có tình thương, con người chỉ là một con vật bị sai khiến bởi lòng ích kỷ” (Đời thừa – Nam Cao). Bệnh vô cảm đang làm “nhiễm mặn”, vẩn đục và xói mòn dần truyền thống đạo lý đẹp nhất của con người Việt Nam: “Thương người như thể thương thân”. Và khi căn bệnh này ngự trị, thì con người sống với con người trong mối quan hệ hết sức lỏng lẻo. Ở đó thiếu hơi ấm của tình thương, của niềm cảm thông, của sự cưu mang, đùm bọc, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau. Một cuộc sống như thế là cuộc sống của “Một sa mạc đời đìu hiu lạnh giá”. Thật buồn đau và thất vọng biết bao!

    Học tập lối sống lành mạnh, biết yêu thương sẻ chia đồng cảm với những người xung quanh. Tham gia các hoạt động xã hội có tính nhân văn cao như phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào thanh niên lập nghiệp… Xã hội cần lên án mạnh mẽ bệnh vô cảm, coi đó như là một cuộc chiến đấu để loại bỏ căn bệnh này ra khỏi xã hội ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Cách Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • Giải Pháp Hữu Ích Về Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • Quy Luật Giá Trị Là Gì Và Tác Động Đối Với Sản Xuất
  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng Về Vận Dụng Quy Luật Giá Trị Và Những Giải Pháp Để Vận Dụng Tốt
  • Thiết Kế Giải Pháp Giá Trị
  • Một Số Phương Pháp Giáo Dục Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Bậc Giáo Dục Mầm Non
  • Quản Lý Việc Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Ở Các Trường Mầm Non Thành Phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Phổ Cập Giáo Dục Trẻ Mầm Non 5 Tuổi
  • Skkn Một Số Biện Pháp Làm Tốt Công Tác Phổ Cập Giáo Dục Trẻ Mầm Non 5 Tuổi
  • Phương pháp, nghiệp vụ sư phạm mầm non luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc dạy dỗ, chăm sóc trẻ tại các trường mầm non. Có được những điều này đòi hỏi giáo viên mầm non phải luôn luôn học hỏi, phát huy sự sáng tạo để cải tiến và đổi mới những phương pháp giáo dục trẻ phù hợp và hiện đại hơn. 1. Phương pháp tình cảm:

    – Người giáo viên luôn phải có những hành động, cử chỉ, âu yếm, thân thiện chứa đựng sự yêu thương với trẻ, tạo cho trẻ những cảm xúc tin tưởng, gần gũi, thân thiện, có cảm tình khi tiếp xúc với mình hoặc những người xung quanh.

    2. Dùng lời nói: (kể chuyện , trò chuyện với trẻ)

    – Hãy sử dụng những lời nói và lời kể diễn cảm hoặc dùng câu hỏi gợi mở phù hợp với cử chỉ, điệu bộ nhằm khuyến khích, động viên trẻ mạnh dạn khi giao tiếp với đồ vật, với những người xung quanh. Tạo những điều kiện thích hợp để trẻ bộc lộ ý muốn, chia sẽ cảm xúc với mọi người bằng những lời nói, hành dộng cụ thể. Điều đó giúp ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạch lạc và trôi chảy hơn.

    3. Phương pháp trực quan, minh họa:

    – Sử dụng các phương tiện trực quan như: đồ chơi, tranh ảnh, những vật thật,… làm mẫu kèm với lời nói và cử chỉ để cho trẻ quan sát, nói, làm theo với mục đích rèn luyện sự nhạy cảm của các giác quan của bé.

    4. Phương pháp thực hành:

    – Sử dụng hành động, các thao tác với đồ vật, đồ chơi và các dụng cụ đơn giản phù hợp với mục đích cũng như nội dung muốn giáo dục. Trẻ sẽ được học cùng cô cách quan sát, thao tác và phân loại đồ vật để giúp trẻ cách nhận biết nhanh hơn, tốt hơn

    5. Các trò chơi:

    – Sử dụng các trò chơi thích hợp để kích thích trẻ hoạt động và mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh, điều này tốt cho sự phát triển về lời nói, sự tư duy của trẻ.

    6. Luyện tập:

    – Giáo viên cho trẻ thực hiện lặp lại nhiều lần các câu nói , những động tác, cử chỉ, điệu bộ phù hợp với nội dung giáo dục và kích thích sự hứng thú của trẻ.

    7. Phương pháp đánh giá nêu gương:

    – Hãy tỏ thái độ đồng tình, khích lệ khi trẻ có những việc làm, lời nói và hành vi tốt. Đồng thời phải hướng dẫn, chỉ ra những điều chưa tốt cho trẻ hiểu, tiếp thu và sửa chữa, tuyệt đối tránh những cử chỉ thô bạo như la mắng, văng lời thô tục vì như vậy trẻ sẽ nhanh chóng học theo những điều xấu.

    * Giáo dục mẫu giáo

    – Ở lứa tuổi này, thì những phương pháp giáo dục cũng có thể lấy tương tự như giáo dục nhà trẻ nhưng cần nâng cao hơn để làm bước đệm khi các em đến tuổi đi học sau này.

    2. Phương pháp thực hành

    – Việc thao tác với đồ vật, đồ chơi hàng ngày giúp cho trẻ phối hợp các giác quan, hành động với đồ vật, đồ chơi nhằm rèn luyện sự tư duy và cung cấp các kinh nghiệm cảm tính cho trẻ.

    – Phương pháp dùng trò chơi là sử dụng các trò chơi, yếu tố chơi phù hợp với mục đích giáo dục nhằm kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú tìm tòi học hỏi và sự tư duy tích cực.

    3. Nêu tình huống:

    – Luôn đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, tìm tòi và sáng tạo để giải quyết vấn đề đặt ra.

    4. Phương pháp luyện tập:

    – Là phương pháp cho trẻ thực hiện lặp lại nhiều lần các động tác, cử chỉ, điệu bộ thông qua những yêu cầu cụ thể mà giáo viên đặt ra để nâng cao vốn hiểu biết và kỷ năng thực hành trong công việc.

    5. Trực quan minh họa:

    – Sử dụng các phương tiện, hành động, hình ảnh,… để tạo điều kiện cho trẻ sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm nâng cao vốn hiểu biết và sự tư duy của trẻ.

    6. Dùng lời nói:

    – Sử dụng các phương tiện nghe, nhìn có tính truyền đạt thông tin nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẽ ý tưởng và bộc lộ cảm xúc bằng lời nói với mọi người xung quanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Giáo Dục Học Mầm Non
  • Khái Niệm Giáo Dục Và Giáo Dục Mần Non Là Gì?
  • Giáo Dục Mầm Non Là Gì? Mục Tiêu Và Phương Pháp Nghiên Cứu
  • “một Số Biện Pháp Chỉ Đạo, Thực Hiện Ctgdmn Mới Ở Lớp Mẫu Giáo Ghép Trường Mn Tả Phời”
  • Giải Pháp Quản Lý Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Ở Các Trường Mầm Non Quận Tân Bình Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Bài 18: Giáo Dục Con Cái

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Suy Nghĩ Những Biện Pháp Trong Giáo Dục Con Cái Của Bố Mẹ Để Có Gia Đình Hạnh Phúc
  • Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Suy Nghĩ Của Anh Chị Về Cách Giáo Dục Con Cái
  • Những Nguyên Tắc Vàng Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Những Sai Lầm Phổ Biến Trong Cách Dạy Con Của Cha Mẹ Hiện Nay
  • 1. Quyền và bổn phận giáo dục con cái

    2. Phải dạy từ lúc nào?

    Công đồng Vaticanô II ngỏ lời với các bậc làm cha làm mẹ: “Vì đã lãnh nhận ân sủng cũng như bổn phận của bí tích hôn phối nên cha mẹ phải dạy dỗ con cái ngay từ nhỏ”. Cha ông chúng ta cũng thường nói:

    Uốn cây từ thưở còn non,

    Dạy con từ thưở con còn đương thơ.

    3. Phải dạy những gì?

    trau dồi cho chúng về học vấn, về nghề nghiệp, để chúng có thể sống tự lập, xây dựng tương lai cuộc đời mình, góp phần xây dựng xã hội.

    Đức dục: trừ khử những thói hư tật xấu và tập luyện những tính tốt. Nhất là bốn nhân đức cột trụ làm nền tảng cho những nhân đức khác: khôn ngoan, công bằng, tiết độ và dũng cảm.

    biết khiêm nhường lắng nghe và mau mắn vâng lời; biết suy nghĩ cân nhắc trước khi làm và khi làm xong sẽ dừng lại một chút để kiểm điểm và rút kinh nghiệm; biết xem xét và chuẩn bị kỹ để chu toàn mọi bổn phận thật chu đáo cũng như để ứng xử đúng trước những tình thế mới.

    Chăm chỉ làm tròn bổn phận; yêu thương mọi người, tôn trọng của cải và quyền lợi của họ; tôn trọng của chung và biết lo cho công ích; luôn thành thật trong lời nói và việc làm; không bao giờ gian lận.

    Có kỷ luật, đúng giờ giấc và chừng mực trong những điều nhỏ mọn hằng ngày, trong ăn uống cũng như giải trí; tập cân nhắc đúng bậc thang giá trị theo tinh thần Kitô giáo và biết chọn lựa cách ý thức. Biết tiết kiệm. Dạy cho con cái biết giá trị của lao động cũng như giá trị thực sự của của cải vật chất. Hướng dẫn con cái chọn thú vui giải trí cũng như bè bạn

    t can đảm đứng vững trong điều tốt; biết chấp nhận những sai lỗi của mình, tự tin và tự lập, biết lãnh nhận trách nhiệm và hậu quả do công việc mình đã làm.

    Ngoài ra, trong việc giáo dục nhân bản cũng phải để ý đến việc giáo dục giới tính, hướng dẫn con cái về phái tính và tính dục. Việc giáo dục này nhằm mục đích giúp con cái có một sự hiểu biết về tính dục phù hợp với lứa tuổi và tầm nhận thức, để chúng sống trong sạch, trưởng thành, xứng đáng là người nam, người nữ như ý Chúa. Trong việc giáo dục này, cũng cần dạy cho con cái biết sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông, đặc biệt về phim ảnh, internet.

    Nền giáo dục nhân bản này là điều hết sức cần thiết. Đức Thánh Cha nói: “Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, vì xác tín mạnh mẽ rằng: giá trị của con người là do cái mình làm, hơn là do cái mình có.”

    Công đồng Vaticanô II cũng xác định nội dung của việc giáo dục Kitô giáo như sau: “Việc giáo dục này không những chỉ giúp nhân vị được trưởng thành, nhưng chính là nhằm giúp những người đã được rửa tội, để nhờ hiểu biết sâu xa hơn mầu nhiệm cứu rỗi, thì càng ngày càng ý thức hơn về hồng ân đức tin đã nhận lãnh, biết cách thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4, 23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như được huấn luyện để biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Ep 4,22-24), và nhờ vậy họ đạt tới con người toàn thiện, chín chắn đạt tới sự sung mãn của Đức Kitô (x. Ep 4,13), góp phần làm cho Nhiệm thể được tăng trưởng.

    4. Để việc giáo dục đạt kết quả tốt

    – Cha nào con nấy, – Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

    Thật vậy, đứa bé, nhất là khi còn nhỏ, chưa có đủ trí khôn để phân biệt điều phải và điều trái, điều tốt và điều xấu. Nó thường bắt chước những gì cụ thể đập vào mắt nó. Thấy người lớn nói và làm thế nào, nó sẽ bắt chước mà làm như vậy. Vì thế, gương sáng của cha mẹ là điều rất cần thiết trong việc giáo dục con cái. Cha ông ta thường nói:

    Lời nói như gió lung lay,

    Việc làm như tay lôi kéo.

    Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 nơi số 12 viết: “Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường học đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa”.

    Một trong những điều mà bậc làm cha làm mẹ cần nhớ, đó là ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa: cộng tác trong việc vun trồng sự sống, cộng tác trong việc truyền sinh cũng như trong việc giáo dục con cái. Một trong những ơn của bí tích Hôn phối là giúp hai vợ chồng nên thánh trong đời sống vợ chồng, trong việc đón nhận và giáo dục con cái. Bởi vậy, trong việc giáo dục con cái, hai vợ chồng cần chạy đến với Chúa, bởi vì ” Không có Thầy, các con không thể làm được gì” (Ga 15, 5). Đến với Chúa để xin Ngài soi sáng và hướng dẫn cách thức dạy dỗ. Cầu nguyện cho con cái, đặc biệt trong những giai đoạn phát triển khó khăn của chúng.

    Sau cùng và hết sức quan trọng, để biết dạy dỗ con em, ta cần biết đến với vị Thầy tối cao của nhân loại là Chúa Giêsu Kitô: “Hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần cho ta để ta học được sự hiền lành và khiêm nhường cần có.

    Lạy thánh Giuse và Mẹ Maria, xưa kia ở Nadarét, hai Đấng đã được diễm phúc đón nhận Con Thiên Chúa làm con của mình. Hai Đấng đã chu toàn bổn phận làm cha làm mẹ trong việc nuôi dưỡng, giáo dục và tặng ban cho nhân loại một người con tuyệt vời là Chúa Giêsu. Ngày hôm nay chúng con cũng muốn nhìn vào gương Thánh Gia để xây dựng gia đình chúng con. Chúng con muốn đóng góp cho xã hội những người công dân tốt và cho Hội Thánh những Kitô hữu thánh thiện. Xin giúp chúng con ngay từ bây giờ biết chuẩn bị cho mình những khả năng cần thiết trong việc nuôi dưỡng và giáo dục những đứa con mà Chúa sẽ gửi đến cho chúng con sau này. Ước chi chúng con sẽ cố gắng hoàn thiện hơn từng ngày để trở thành những người cha người mẹ tốt lành và gương mẫu. Amen

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Cách Giáo Dục Con Cái Bằng Lời Nói
  • Những Biện Pháp Hay Về Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mn
  • Biện Pháp Rèn Luyện Thói Quen Vệ Sinh Thân Thể Cho Trẻ Mầm Non 4
  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • Giáo Dục Trí Tuệ Cảm Xúc Cho Trẻ Mầm Non: Lợi Ích Và Cách Áp Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ Khuyết Tật “chậm Phát Triển Trí Tuệ, Ngôn Ngữ Kém” Hòa Nhập Với Trường Mầm Non Thạch Đà B, Xã Thạch Đà, Huyện Mê Linh, Tp Hà Nội
  • Giáo Dục Trẻ Tự Kỷ
  • Kinh Nghiệm Giúp Trẻ Tử Kỷ Hòa Nhập Tại Trường
  • Sáng Kiến Kinh N Ghiệm Trẻ Khuyết Tật Hòa Nhập Sang Kien Kinh Nghiem Yen 20132014 Doc
  • Sáng Kiến Kinh N Ghiệm Trẻ Khuyết Tật Hòa Nhập
  • Bên cạnh việc phát triển thể chất cho trẻ nhỏ, việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non cũng là cần thiết, tạo cơ hội cho trẻ phát triển toàn diện.

    Trong khi việc phát triển thể chất cho trẻ nhỏ được nhiều bố mẹ quan tâm thì giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non lại ít được để tâm đến. Trí tuệ cảm xúc cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về sau. Một đứa trẻ được giáo dục trí tuệ cảm xúc từ nhỏ sẽ dễ dàng vượt quá những áp lực cuộc sống về sau.

    Giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non là gì?

    Giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non là việc trang bị và phát triển cho trẻ các kỹ năng cảm xúc và xã hội. Đây là kỹ năng giúp trẻ kiểm soát tâm trạng, tự đưa ra quyết định, tự đặt ra mục tiêu và học cách hòa thuận với mọi người xung quanh.

    Những kỹ năng trẻ cần biết trong giáo dục trí tuệ cảm xúc

    Theo Trung tâm giáo dục trí tuệ cảm xúc CASEL, có 5 lĩnh vực chính mà trẻ cần được biết trong giáo dục trí tuệ cảm xúc:

    • Khả năng tự nhân thức bản thân bao gồm: nhận biết được cảm xúc của bản thân, nắm rõ điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu của bản thân cũng như phát triển tư duy tiến bộ.
    • Khả năng tự kiểm soát bao gồm: điều tiết cảm xúc, kiểm soát sự bốc đồng và tự đặt ra mục tiêu.
    • Khả năng nhận thức xã hội bao gồm: biết nhìn nhận vấn đề trên quan điểm của người khác, có sự đồng cảm và biết trân trọng sự khác biệt.
    • Các kỹ năng về quan hệ xã hội bao gồm: giao tiếp, hợp tác và giải quyết xung đột.
    • Khả năng đưa ra quyết định có trách nhiệm bao gồm việc cân nhắc kỹ hậu quả trước khi hành động.

    Lợi ích của giáo dục trí tuệ cảm xúc

    Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được những kỹ năng có trong giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non như hợp tác hay giúp đỡ người khác là nền tảng cho cuộc sống của trẻ về sau. Những đứa trẻ nắm vững các kỹ năng trên không chỉ dễ dàng hòa nhập với bạn bè xung quanh mà còn có khả năng tìm được công việc tốt về sau.

    Một nghiên cứu chuyên sâu đã chỉ ra mối quan hệ giữa việc giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ trong giai đoạn mầm non và mức độ thành công của trẻ về sau. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã theo dõi sự thay đổi của một nhóm học sinh mầm non từ khi chúng còn nhỏ đến năm 20 tuổi. Các em học sinh được chia thành các nhóm nhỏ dựa trên khả năng lắng nghe và chia sẻ.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, những trẻ nằm trong nhóm có khả năng lắng nghe và chia sẻ tốt có:

    • 54% trong số đó tốt nghiệp cấp ba.
    • Khả năng lấy được bằng đại học sớm hơn gấp hai lần so với những trẻ ở nhóm dưới.
    • 46% trong số đó có một công việc ổn định ở tuổi 25.

    Ngoài ra, khi nhìn vào kết quả của giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non, các chuyên gia giáo dục nhận thấy:

    Các hoạt động giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non

    Ở mỗi độ tuổi, trẻ sẽ có những hoạt động giáo dục trí tuệ cảm xúc riêng. Với những trẻ ở độ tuổi mầm non, bố mẹ có thể chỉ ra cho trẻ thấy cách làm việc theo cặp và theo nhóm. Ví dụ, làm mẫu cho trẻ cách đọc sách cùng bạn bằng cách hướng dẫn trẻ để sách ở giữa để cả hai cùng đọc thế nào hay lần lượt mở trang sách ra sao. Đây đều là những hoạt động giúp trẻ hiểu hơn về sự chia sẻ, biết cách nghĩ cho người khác cũng như biết tôn trọng lẫn nhau.

    Thay vì chỉ quan tâm đến những kỹ năng học thuật hay các vấn đề về thể chất, bố mẹ cũng nên quan tâm hơn đến giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non. ODPHUB mong rằng qua bài viết này, bố mẹ sẽ có thêm gợi ý và phương pháp giúp trẻ trở thành những người thành công và hạnh phúc khi lớn lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Mà Giáo Viên Nên Biết
  • Skkn Một Số Biện Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thcs
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Và Quản Lý Giáo Dục, Đào Tạo
  • Luận Văn: Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs Ở Hà Nội
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Quản Lý Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trường Thcs Pa Tân
  • Phương Pháp Giáo Dục Trẻ Khiếm Thính

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Hỗ Trợ Phụ Huynh Có Con Bị Khiếm Thính Để Giúp Trẻ Phát Triển Khả Năng Nghe Và Nói
  • Một Số Phương Pháp Dạy Trẻ Khiếm Thính
  • Rèn Luyện Tư Duy Cho Học Sinh Tiểu Học Như Thế Nào?
  • Luận Án: Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa Cho Sinh Viên Đh Sư Phạm
  • Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa Học Tập Cho Sinh Viên Các Trường Đại Học Sư Phạm
  • Là một phương pháp được coi là dạng có trước khi dạy, giáo viên có nhiệm vụ giải thích cho trẻ hiểu được nó (nói và viết) bằng cách biểu thị thông qua những hình tượng, sự vật tương ứng. Phương pháp kiến thiết coi việc dạy tiếng cho trẻ điếc giống như dạy tiếng nước ngoài. Đây là một trong những quan điểm hết sức sai lầm trong việc dạy điếc.

    I. Phương pháp kiến thiết:

    Để hiểu và tránh những sai phạm trong quá trình giảng dạy, ta hãy xét xuất phát điểm của phương pháp kiến thiết.

    Thí dụ, trong một tiết học với trẻ điếc 6 tuổi giáo viên chậm rãi để một quyển sách lên trên bàn và viết lên bảng một câu:

    QUYỂN SÁCH Ở TRÊN BÀN.

    Sau đó giáo viên hỏi cho học sinh:

    – Đây là cái gì? (chỉ vào quyển sách)

    – Đây là cái gì? (chỉ vào cái bàn)

    – Quyển sách ở đâu?

    + Trước hết ta nhận thấy rằng, mặc dù trẻ có thể hiểu được một cách rõ ràng các thành phần trong câu như “quyển sách”, “cái bàn”, nhưng ý nghĩa tổng thể của câu đó là gì thì chưa chắc trẻ có thể hiểu được.

    + Đối với trẻ điếc, với tình huống này, không thể hiểu nổi ý định của giáo viên muốn gì? Trẻ có thể hiểu “quyển sách ở trên bàn” và cũng có thể hiểu “cái bàn dưới quyển sách” hoặc có thể hiểu theo khía cạnh khác của hành động “đặt, để”…

    + Câu (nói, viết) bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa nhất định, nó biểu thị “suy nghĩ” của người nói đối với người nghe. Cho nên đối với trẻ nghe bình thường thì những đặc điểm về ngữ điệu, nhịp điệu của ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong nhận thức. Câu ở đây khác hoàn toàn về ý nghĩa với câu logic trong toán học.

    Ví dụ, 2 x 3= 6 hai nhân ba bằng sáu.

    + câu là một bộ phận của hội thoại, một câu bao giờ cũng chứa nội dung, suy nghĩ của người nói muốn truyền đạt tới người nghe. Đó là một đặc điểm khác so với công thức toán học.

    Phương pháp kiến thiết muốn hình thành ngôn ngữ cho trẻ điếc bằng cách dạy cho trẻ những cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ (tức là những câu mẫu) để có thể sử dụng nó như những khuôn mẫu nhất định trong giao tiếp. Thực tế cho thấy rằng, bằng con đường đó, ngôn ngữ ở trẻ phát triển rất chậm, và trẻ rất lúng túng trong vận dụng vào từng trường hợp cụ thể. Cho nên ngôn ngữ của trẻ rất ít được sử dụng.

    II. Phương pháp bắt chước:

    Là phương pháp dạy học ngôn ngữ cho trẻ điếc không theo một chương trình nhất định – Nghĩa là dạy hoàn toàn theo con đường tự nhiên: nhắc lại theo người lớn những ngôn ngữ thông thường được dùng hàng ngày (chủ yếu là chữ viết). Tuy nhiên phương pháp bắt chước đã tận dụng được những tình huống cần thiết trong hình thành ngôn ngữ của trẻ rất ít được sử dụng.

    III. Phương pháp hội thoại:

    Chọn lọc những ưu điểm và loại trừ những nhược điểm của hai phương pháp trên, phương pháp hội thoại mà thực chất là phương pháp “phản xạ” xuất hiện trong khoa học giáo dục trẻ điếc. Ngôn ngữ trẻ điếc được hình thành và phát triển bằng con đường hội thoại tự nhiên ngay từ nhỏ. Thông qua hội thoại trẻ sẽ có phản ứng với ngôn ngữ, hiểu ngôn ngữ và qua đó, với sự hỗ trợ của người lớn (thành viên của hội thoại) trẻ sẽ tự tìm hiểu những quy luật của ngôn ngữ (Van Uden 1955-1968). Ngôn ngữ ở trẻ được phát triển theo các mức độ sau:

    – Hội thoại thực xuất hiện trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể (tình huống) mà trong đó mỗi thành viên (thầy, trò) phải hiểu lẫn nhau. Trong hội thoại này, ngôn ngữ thông thường được sử dụng với mọi hình thái: câu hỏi, trả lời, câu diễn tả…

    – Một vấn đề rất quan trọng trong hội thoại là “nhịp điệu lời nói” của trẻ điếc càng gần với bình thường bao nhiêu càng tốt

    Vì đây là yếu tố giúp trẻ điếc dễ nhớ.

    – Kết hợp tiếng nói với chữ viết trong quá trình hội thoại.

    IV. Phương pháp dạy phát âm:

    Ngôn ngữ ở trẻ được hình thành thông qua những hoạt động trong và ngoài lớp học. Lúc này giao tiếp ở trẻ chỉ mới ở dạng thô. Nghĩa là trẻ mới chỉ hiểu được giá trị công dụng của ngôn ngữ – Một thứ mà tự mình không thể có được, đồng thời

    Nhiều người có thói quen nhìn mặt người đối thoại. Thật ra đó là một trong những cách tiếp nhận bổ sung thêm những thông tin mà tai nghe không hết. Điều này lại càng quan trọng hơn ở những người nghễnh ngãng. Nhưng đối với trẻ điếc, “đọc hình miệng” không những là biện pháp bổ sung mà còn là một trong những phương pháp đóng vai trò chủ yếu để tiếp nhận tiếng nói. Nếu trẻ điếc được huấn luyện có phương pháp khoa hoc từ sớm, trẻ có thể tiếp thu được tiếng nói bằng thị gác đến 60-70% lượng thông tin. Đọc hình miệng là cách hiểu tiếng nói bằng cách nhìn chuyển động của cơ quan phát âm (chủ yếu là sự chuyển động của môi). Bắt đầu trẻ được luyện tập để phân biệt các âm, từ quen thuộc rồi đến câu, từ (từ những câu thông thường đến những câu phức tạp). Luyện tập đọc câu là nội dung chủ yếu của đọc hình miệng. Tức là luyện tập cho các em nhận biết một số hình mẫu nhất định trong những câu khác nhau.

    Tiếng Việt có một số đặc điểm riêng gây khó khăn cho việc đọc hình miệng. Trước hết, đây là loại ngôn ngữ đơn âm tiết làm cho cách phát âm rời rạc từng từ, từng âm tiếc, và tốc độ nói tuỳ thuộc vào từng người, do đó người nghe rất khó phân biệt. Hơn nữa, trong tiếng Việt có 6 thanh điệu, quyết định ngữ nghĩa của âm tiết, hoàn toàn không thể nhận biết bằng miệng.

    Do đó, giáo viên dạy trẻ khuyết tật thính giác phải phát âm chuẩn, rõ ràng, chậm, hoặc lúc giảng bài không đi lại nhiều làm mất tầm quan sát hình miệng của học sinh. Hơn nữa việc bố trí bàn ghế chỗ ngồi cho học sinh ngồi trong lớp cũng phải đặc biệt chú ý đến việc các em nhìn được hình miệng của giáo viên.

    VI. Phương pháp luyện nghe:

    Trẻ khuyết tật thính giác dù ở mức độ nào đi chăng nữa bao giờ cũng còn phần thính lực còn sót lại. Những trẻ tự mình lại không thể dùng phần thính lực nhỏ nhoi đó để nghe nếu không được huấn luyện. Vì vậy nhiệm vụ cơ bản của luyện nghe là luyện cho trẻ biết cách sử dụng phần thính lực còn lại của mình để nghe, đặc biệt là nghe tiếng nói.

    Đối với những trẻ điếc nặng nhiều khi trẻ chỉ nghe được những tiếng động mạnh như tiêng trống, tiếng sấm, tiếng hét,… Khi luyện nghe cho trẻ này cần bắt đầu từ những âm đơn giản nhất, nghĩa là tập cho trẻ phát hiện ra âm thanh, đếm số lượng âm thanh, phát hiện ra nơi khu trú của âm thanh đó,…Đặc biệt, với tiếng nói trẻ không thể phân biệt được, nếu không được huấn luyện dần dần.

    Luyện nghe đối với trẻ điếc nhẹ và vừa có vai trò rất quan trọng trong công tác phục hồi chức năng(Chức năng nghe). Ở những trẻ này, phần thính lực còn sót lại là đáng kể, nếu được huấn luyện sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục – phục hồi chức năng. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để luyện nghe là cho trẻ đeo máy trợ thính.

    Trong quá trình luyện nghe cần cho trẻ khiếm thính kết hợp với các giác quan khác như thị giác, xúc giác.

    VII. Giao tiếp bằng chữ cái ngón tay và thủ ngữ điệu bộ

    Để giúp cho quá trình hình thành và phát triển tiếng nói của trẻ bớt khó khăn trong giai đoạn đầu, nhiều em trẻ không nói được, người dạy trẻ thêm một dạng ngôn ngữ hỗ trợ đó là ngôn ngữ chữ cái ngón tay. Chữ cái ngón tay là dạng chữ viết không gian, cho nên các quy tắc sử dụng như chữ viết thông thường. Nhưng ở đây mỗi chữ cái được biểu thị bằng những chuyển động của các ngón tay. Dạng ngôn ngữ này có ưu điểm là dễ học nên chỉ trong một thời gian ngắn trẻ có thể sử dụng một cách thành thạo. Tuy nhiên, không thể dùng chữ cái ngón tay để giảng dạy được. Do đó, nó chỉ được dùng như một biện pháp hỗ trợ cho quá trình phát triển tiếng nói ở trẻ.

    Thủ ngữ điệu bộ là dạng ngôn ngữ dễ nhất và tự nó hình thành ở những người điếc (Gọi là ngôn ngữ bản năng của người điếc). Về sau nó được các nhà giáo dục phát triển thành một dạng ngôn ngữ dành riêng cho người điếc. Hiện nay, nhiều nước vẫn còn giữ thủ ngữ điệu bộ làm phương pháp dạy trẻ điếc, coi như là phương tiện giao tiếp chính của người điếc. Nhưng nếu chỉ dùng thủ ngữ điệu bộ để dạy trẻ điếc thì như thế là vô tình tách trẻ ra khỏi cuộc sống xã hội bình thường. Mặc dù vậy, thủ ngữ điệu bộ và chữ cái ngón tay lại rất cần cho những trẻ điếc quá nặng, không có khả năng hình thành tiếng nói (chiếm khoảng 5% tổng số trẻ khuyết tật thính giác). Còn đối với trẻ khuyết tật thính giác, nhẹ và được can thiệp sớm thì chúng ta ưu tiên phát triển lời nói cho trẻ.

    Nguồn:http://www.deafdanang.net.vn/gvdetail.php?id=10&dm=15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Dành Cho Trẻ Khiếm Thính
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Minh Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Giờ Ngủ Trưa Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Chậm Phát Triển Trí Tuệ (Cpttt)
  • Hình Thành Và Phát Triển Năng Lực Cho Hs Qua Kỹ Năng Đặt Câu Hỏi Trong Dạy Và Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100