Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Nhân Viên Vận Hành Hệ Thống Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ Ami Việt Nam
  • Thiết Bị Lọc Khói Tĩnh Điện
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Tin Học Damsan Việt Nam
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Dịch Vụ Trường Việt
  • Review Công Ty Cổ Phần Giải Pháp First Trust Việt Nam Tháng 01/2021
  • (VOV5)- Tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tổ chức ngày 14-8, tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế của VN trong thời gian tới.

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng các đại biểu dự Hội nghị.

    Ảnh: VGP/Nhật Bắc

    Kết quả của 5 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO là đáng ghi nhận. Theo đó, nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về hội nhập kinh tế quốc tế được nâng cao.

    Trên bình diện đa phương, các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đã được thực hiện, hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới được bổ sung và hoàn thiện; công tác xây dựng và phát triển đồng bộ các yếu tố kinh tế thị trường; về nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm được thực hiện đầy đủ.

    Trong cả 5 năm, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển trọng tâm từ phá bỏ thế cô lập về kinh tế để hội nhập vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu sang việc đẩy mạnh tìm kiếm thị trường, thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

    Trên bình diện khu vực, Việt Nam cũng hội nhập ngày càng sâu với ASEAN, hướng tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2022. Việt Nam cũng đang tích cực tham gia đàm phán hoặc chuẩn bị đàm phán một số hiệp định thương mại tự do quan trọng như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Thương mại tự do song phương với EU, triển khai khuôn khổ ASEAN về đối tác kinh tế toàn diện khu vực…

    Bốc xếp gạo xuất khẩu tại Công ty cổ phần lương thực Hậu Giang.

    Ảnh: Duy Khương – TTXVN

    Tại Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 08, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nêu rõ: Những thành tựu mà nền kinh tế Việt Nam đạt được trong 5 năm qua là rất đáng ghi nhận. Kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động vào nền kinh tế Việt Nam. Quy mô nền kinh tế tăng lên và Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển đã trở thành nước đang có thu nhập trung bình. Mặc dù quốc tế có nhiều bối cảnh khó lường, tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu còn dai dẳng nhưng nền kinh tế Việt Nam về cơ bản đã vượt qua được giai đoạn khó khăn với nhiều thách thức trong suốt 5 năm qua. Thị trường xuất khẩu được mở rộng, cơ cấu mặt hàng có nhiều thay đổi theo hướng tích cực.Cùng với đẩy mạnh xuất khẩu thì thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có nhiều tiến bộ đáng kể. Nét mới trong thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài thực hiện trong giai đoạn 2007-2011 là có nhiều dự án lớn với trình độ công nghệ cao hơn. Sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục được duy trì tạo tiền đề cho việc đảm bảo đời sống của nhân dân và giữ vững ổn định xã hội. Nhiều ngành kinh tế đã đứng vững trong cạnh tranh khi Việt Nam mở cửa với bên ngoài và gia nhập WTO.

    5 năm gia nhập WTO và cũng là 5 năm thực hiện Nghị quyết 08/NQ – TW về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Hiện nay, Việt Nam đang chuẩn bị cho giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ở mức độ cao và sâu sắc hơn. Theo đó, Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển đất nước. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới với mục tiêu cao nhất là tất cả vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích dân tộc. Cho nên cần phải đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là để thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020. Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế là vì lợi ích của đất nước, dân tộc. Hội nhập kinh tế quốc tế là để thực hiện thắng lợi cương lĩnh phát triển đất nước mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 đã thông qua. Và mặt khác, trong mỗi bước thực hiện có kết quả chiến lược phát triển kinh tế xã hội, thực hiện tốt ba khâu đột phá mà chiến lược đã đề ra và thực hiện tốt, có kết quả việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, cũng là điều kiện để tạo ra điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

    Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn tới cũng được gắn kết hơn nữa với quá trình đổi mới kinh tế – xã hội trong nước để nâng cao hiệu quả và tăng cường sự thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau vì mục tiêu phát triển chung của đất nước, nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng. Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thúc đẩy các quan hệ hợp tác song phương, khu vực và đa phương; tiếp tục nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; xây dựng các quan hệ đối tác mới thực sự mang lại lợi ích quốc gia. Việt Nam cũng chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa Hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng./.

    Thu Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những năm qua, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt một tầm cao mới. Nguồn: internet

    Chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện

    Trong hơn 30 năm đổi mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.

    Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú; Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

    Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Mất cân đối thương mại toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược và cọ sát kinh tế, đặc biệt giữa các nền kinh tế chủ chốt… Mặc dù, tình hình kinh tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTQT và tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu khách quan. Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm:

    Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam từng bước được cơ cấu lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung ứng cho phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.

    Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Quy mô kinh tế Việt Nam năm 2022 dự báo đạt 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2022, hiện đứng thứ 44 trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương.

    Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2022) lên 2.587 USD (năm 2022), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Đặc biệt, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 – 2013 giảm xuống còn 5,6%. Đáng chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn. Cụ thể, năm 2014 đạt 5,98%, năm 2022 đạt 6,68%; 2022 đạt 6,1%, năm 2022 GDP đạt 6,81%, năm 2022 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 2.540 USD, mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2008-2018).

    Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia XNK. Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng XNK, thậm chí là xuất siêu. Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ…

    Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thi; 2 Hiệp định đã ký kết, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới.

    Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2022-2020. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động…

    Một số vấn đề đặt ra

    Bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình HNKTQT của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Cụ thể như:

    – Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt. Trình độ năng lực điều hành, quản lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém. Hạn chế đó tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước.

    – Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH đất nước. Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại.

    – Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế chưa vững chắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc; Tình hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn; Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn hạn chế…

    – Một bộ phận đầu mối về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu phối hợp và tham vấn với các chương trình hành động về HNKTQT. Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT chưa đạt được kết quả như mong muốn.

    Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

    Mặc dù, tiến trình HNKTQT đã đạt được những kết quả tích cực, song trong bối cảnh thế giới diễn biến khó lường như hiện nay, Việt Nam cần chủ động triển khai HNKTQT lên mức toàn diện, sâu rộng, đổi mới sáng tạo và hiệu quả hơn. Trước mắt, cần chú trọng vào một số nội dung trọng tâm sau:

    Thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.

    Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và DN.

    Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2022 (tháng 6/2019), Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam…

    Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn sóng FTA.

    Thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.

    Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKTQT. Dư địa phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi DN, mỗi người dân. Địa phương, DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quả của hội nhập. DN, người dân phải chủ động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để tình trạng vi phạm quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

    1. Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; 2. Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; 3. Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 4. Quyết định số 27/QĐ-BCĐHNQT ngày 26/4/2014 của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 5. Quyết định số 04/QĐ-BCĐLNKT ngày 09/1/2015 của Ban Chỉ đạo liên ngành kinh tế ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế; 6. Vũ Văn Hiền (2018), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Hội đồng Lý luận Trung ương; 7. Thanh Giang (2019), Hội nghị tăng cường hội nhập quốc tế chủ động, sáng tạo, hiệu quả vì phát triển nhanh và bền vững, Báo Nhân dân diện tử; 8. Lê Hoài Trung (2019), Đối ngoại đa phương góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước; 9. Hoàng Xuân Hòa (2019), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sau 5 năm nhìn lại, Văn phòng Chính phủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông 2 Giai Phap Nao Cho Van De Bien Dong Trong Hoan Canh Moi Doc
  • Giải Pháp Khả Thi Nào Cho Vấn Đề Biển Đông?
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Nhiều Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam
  • Tuyển Nhân Viên Vận Hành Hệ Thống Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ Ami Việt Nam
  • Trước mắt, cần chú trọng vào một số nội dung trọng tâm:

    Thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/T của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/T về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.

    Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và DN.

    Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2022 (tháng /2019), Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam…

    Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện r những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn sóng FTA.

    Thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng không nh đến các DN nh và vừa.

    Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKTQT. Dư địa phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi DN, mỗi người dân. Địa phương, DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quả của hội nhập. DN, người dân phải chủ động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để tình trạng vi phạm quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông 2 Giai Phap Nao Cho Van De Bien Dong Trong Hoan Canh Moi Doc
  • Giải Pháp Khả Thi Nào Cho Vấn Đề Biển Đông?
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Toàn Diện Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Quốc Tế Toàn Diện Của Việt Nam
  • Những Nhà Biển Đông Học Đóng Góp Tích Cực Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Hội Nghị Quốc Tế Về Biển Đông Lần Thứ 11: Đóng Góp Giải Pháp Thúc Đẩy Hợp Tác An Ninh Và Phát Triển Khu Vực
  • Quốc Hội Xem Xét Biện Pháp Giải Quyết Tình Hình Biển Đông
  • Văn Phòng Đại Diện Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Giải Pháp An Ninh Việt Nam Tại Bình Phước
  • Hội nhập quốc tế là chủ trương lớn đã được cụ thể hóa trong từng giai đoạn phát triển của Việt Nam. Nguồn: internet

    Khẳng định và nâng cao vị thế của Việt Nam

    Tình hình quốc tế đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ quyền lợi, nhiều nước hướng đến các biện pháp bảo hộ mậu dịch, thậm chí tham gia “chiến tranh thương mại”. Trong bối cảnh đó, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia tiếp tục kiên định với hội nhập kinh tế quốc tế.

    Một trong những chủ trương quan trọng đã được đưa ra tại Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 về “Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Chủ trương này đã giúp nước ta tự tin bước vào giai đoạn mới của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động xây dựng các quy tắc mới trong thương mại quốc tế thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.

    Kết quả đầu tiên của tiến trình thực hiện các chủ trương về hội nhập kinh tế quốc tế chính là Hiệp định Ðối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Quốc hội Việt Nam thông qua và có hiệu lực vào tháng 1/2019.

    Ngay sau khi được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/QĐ-TTg ngày 24/01/2019 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP. Quyết định đã xác định rõ những công việc cụ thể nhằm triển khai việc thực thi Hiệp định CPTPP, trong đó bao gồm các nội dung công việc, cơ quan chủ trì, phối hợp, sản phẩm và thời gian hoàn thành công việc.

    Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan cấp trung ương và địa phương đã xây dựng kế hoạch thực thi Hiệp định CPTPP của riêng mình (tính đến thời điểm ngày 9/7/2019 đã có 23 bộ, ngành, cơ quan trung ương và 55 cơ quan cấp địa phương ban hành kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của mình).

    Ngày 30/6/2019, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA). Như vậy, không chỉ 1 mà đến 2 FTA “thế hệ mới” được Việt Nam tham gia, góp phần thiết lập quan hệ đối tác bình đẳng, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi với một số nền kinh tế phát triển nhất thế giới.

    Ðặc biệt, Việt Nam là nước thứ 2 trong ASEAN và là nước đang phát triển đầu tiên trong khu vực ký kết FTA với EU (EVFTA). Ðây là kết quả của chặng đường dài, thể hiện các bước tiến lớn để đưa Việt Nam từ một nước đi sau, lần đầu tiên vươn lên thuộc nhóm nước đi đầu khu vực trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

    EVFTA là được dự báo là có nhiều đóng góp tích cực cho tăng trưởng xuất khẩu cũng như quá trình đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu cho Việt Nam. Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, 85,6% số mặt hàng, (tương đương khoảng 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU) sẽ được hưởng thuế 0%. Sau 7 năm, 99,2% số mặt hàng sẽ được hưởng thuế 0%, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (các mặt hàng còn lại theo hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%).

    Tuy nhiên, với những FTA thế hệ mới, phạm vi không chỉ dừng ở các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa. Hiệp định EVFTA điều chỉnh rất nhiều vấn đề khác như mở cửa thị trường dịch vụ, đầu tư và mua sắm của các cơ quan Chính phủ; thương mại điện tử; quyền sở hữu trí tuệ; doanh nghiệp (DN) nhà nước và phát triển bền vững. Các quy định dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế trong nhiều lĩnh vực về kinh doanh, thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ…

    Theo tính toán của các chuyên gia, nếu EVFTA được thực hiện ngay, có thể sẽ góp phần làm tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18 đến 3,25% cho giai đoạn 2022-2023; 4,57 đến 5,30% cho giai đoạn 2024 – 2028 và từ 7,07 đến 7,72% cho giai đoạn 2029 – 2033. Song song với tăng trưởng kinh tế, EVFTA giúp tăng thêm việc làm cho khoảng 146 nghìn lao động mỗi năm. Ðây là kết quả cao nhất so với các FTA đã được Việt Nam ký kết và thực hiện cho đến nay.

    Hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và sự nghiệp của toàn dân, được thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương theo tinh thần của Nghị quyết số 22-NQ/TW và Nghị quyết số 06-NQ/TW. Thành công của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã ghi nhận sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thông qua cơ chế điều phối liên ngành.

    Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng và các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương, nhất là việc cụ thể hóa các cam kết FTA đến từng khối ngành hàng, DN và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú, hiệu quả hơn nhằm đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường thực thi có hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

    Thách thức để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

    Song hành cùng với những thuận lợi từ các hiệp định mang lại, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, đó là:

    Thứ nhất, việc cải cách thể chế kinh tế vẫn chưa đáp ứng và theo kịp các yêu cầu của việc thực thi cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Việc đẩy mạnh quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế chưa tạo sức ép đổi mới trong nước, nhất là về thể chế kinh tế, cải cách hành chính. Tuy đã có nhiều chính sách, pháp luật để hội nhập và thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO và các FTA, song vẫn thiếu các chính sách cụ thể và hiệu quả để thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ lớn về phát huy nội lực, phát triển DN trong nước, nông nghiệp nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ…

    Thứ hai, quá trình mở cửa, dù theo lộ trình, với các đối tác thương mại lớn có thể khiến một số ngành sản xuất trong nước không thích ứng kịp với diễn biến cạnh tranh phức tạp, thậm chí không lành mạnh (như bán phá giá, nhận trợ cấp) của hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng bị các nước áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại với tần suất cao. Các vụ kiện không chỉ diễn ra với hàng hóa có thế mạnh xuất khẩu mà với ngay cả các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu thấp. Việc này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp tới các ngành sản xuất, xuất khẩu và gián tiếp đặt ra các gánh nặng về kinh tế – xã hội.

    Thứ ba, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, DN và các sản phẩm chủ lực còn thấp và chịu sức ép cạnh tranh với các DN và sản phẩm nước ngoài ngay trên thị trường nội địa. Tác động lan tỏa về công nghệ, kỹ năng của khu vực FDI ở Việt Nam còn yếu. Một số lĩnh vực sản xuất được bảo hộ quá lâu, hạn chế cạnh tranh và cả sự tham gia trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Các DN tư nhân vừa và nhỏ phát triển chưa mạnh, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, khả năng tiếp nhận hiệu ứng lan tỏa tích cực từ FDI còn hạn chế.

    Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

    Để hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đạt được hiệu quả thực chất và lợi ích hội nhập cân bằng hơn, cần thực hiện tốt hơn một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

    Một là, tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung. Tăng cường nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội của DN, doanh nhân đối với các thoả thuận quốc tế, đặc biệt là cơ hội, thách thức và những yêu cầu phải đáp ứng khi tham gia và thực hiện các FTA thế hệ mới bằng các hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp và hiệu quả cho từng ngành hàng, hiệp hội, DN và cộng đồng…

    Hai là, đổi mới cách thực hiện và nâng cao hiệu quả các cơ chế phối hợp hiện có giữa các ban chỉ đạo liên ngành với nhau và giữa các bộ, ngành, địa phương để phù hợp với những chuyển biến nhanh của tình hình hội nhập kinh tế quốc tế. Phát huy hiệu lực và hiệu quả của cơ chế liên ngành, nâng cao hiệu quả phối hợp từ trung ương đến địa phương để hỗ trợ DN trong quá trình triển khai các cam kết quốc tế, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc của DN và thực thi cam kết FTA, giúp DN tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho DN ngày càng phát triển.

    Ba là, tập trung triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế, chú trọng việc nâng cao toàn diện năng lực thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Gắn việc thực thi đầy đủ các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế với quá trình rà soát, bổ sung và hoàn thiện pháp luật và thể chế trong nước, hài hòa pháp luật của Việt Nam với các cam kết quốc tế; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…

    Bốn là, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và DN cần chủ động nâng cao hiểu biết và vận dụng hiệu quả các luật lệ, quy định về kinh tế, thương mại cũng như tập quán của các thị trường nước ngoài, nhất là các thị trường đã có FTA với Việt Nam, bảo đảm có thể bảo vệ được lợi ích của sản phẩm, DN, quốc gia trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại. Đây là bài học quan trọng khi các FTA mới mà Việt Nam đang và sẽ thực thi đòi hỏi phải cải cách sâu sắc hệ thống pháp luật trong nước, không chỉ về kinh tế, thương mại mà cả các vấn đề thương mại phi truyền thống như quyền của người lao động, môi trường, DN nhà nước, mua sắm chính phủ…

    Năm là, tập trung phát huy nội lực, nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 nhằm tranh thủ hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế. Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế.

    Sáu là, không ngừng đổi mới phương pháp để nâng cao hiệu quả và chất lượng các hoạt động thông tin, tuyên truyền; phổ biến, cập nhật tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và hướng dẫn cụ thể để DN và người dân có nhận thức đầy đủ hơn, từ đó có thể chủ động ứng phó và vượt qua thách thức, tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế; tạo sự đồng thuận cao trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của Việt Nam.

    1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII (2016), Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; 2. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính (2016), Quan điểm, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế qua các kỳ Đại hội; 3. Trần Tuấn Anh, EVFTA nâng tầm hội nhập của Việt Nam, báo Nhân dân điện tử, ngày 01/07/2019; 4. Hoàng Xuân Hòa, Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sau 5 năm nhìn lại, 5. Lê Quang Thuận (2019), “Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động đối với kinh tế Việt Nam”.

    Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 12/07/2019;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Vài Suy Nghĩ Về Giải Pháp Giải Tỏa Căng Thẳng Trên Biển Đông
  • Bộ Quốc Phòng Trả Lời Về Việc Xem Xét Khởi Kiện Trung Quốc Về Vấn Đề Biển Đông
  • Việt Nam Kiên Trì Giải Quyết Các Tranh Chấp Ở Biển Đông Bằng Biện Pháp Hòa Bình
  • Ba Giải Pháp Của Việt Nam Ở Biển Đông
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam
  • Không ngừng mở rộng các mối quan hệ đối tác

    Theo nhìn nhận của Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, so với giai đoạn trước khi gia nhập WTO, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta từ năm 2007 – 2022 được triển khai qua các tuyến đa dạng hơn.

    Đáng chú ý, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đến năm 2022 và Kế hoạch hành động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN giai đoạn 2022-2025. Trong các năm từ 2008-2015, Việt Nam luôn nằm trong nhóm thực thi các cam kết ASEAN nghiêm túc nhất với tỷ lệ thực hiện từ 85%-95%. Cùng với các nước ASEAN, Việt Nam đã ký kết và thực thi hiệp định thương mại tự do (FTA) với 6 đối tác chủ chốt ở khu vực, và hiện đang cùng các đối tác này đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

    Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đã mạnh dạn, chủ động ký kết các FTA song phương với các đối tác quan trọng, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, EU… Đi kèm với các hiệp định này là những cơ hội, khung khổ hợp tác sâu rộng với các đối tác về đầu tư và thương mại, phù hợp với lợi thế và định hướng phát triển của đất nước.

    Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia Hiệp định FTA với tính chất nhiều bên. Nổi bật nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù Hoa Kỳ đã rút khỏi Hiệp định này, các thành viên còn lại đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Đây là một kết quả quan trọng bên lề Hội nghị cấp cao APEC 2022 và có vai trò rất lớn của Việt Nam.

    Cùng với đó, Việt Nam đã chủ động, tận dụng tốt hơn cơ hội hợp tác trên tinh thần tự nguyện, không ràng buộc với các tổ chức, diễn đàn quốc tế như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn Kinh tế thế giới. Năm APEC 2022 đã thành công với vai trò tích cực của chủ nhà Việt Nam, thể hiện một tâm thế chủ động hơn của đất nước trong thúc đẩy hợp tác khu vực – điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương còn nhiều bất ổn.

    Thực hiện các cam kết, Việt Nam triển khai đầy đủ, nghiêm túc các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là về cắt giảm thuế quan, mở cửa dịch vụ, đầu tư,… Ngoài một số ít các mặt hàng có lộ trình đến năm 2022, về cơ bản Việt Nam đã hoàn thành lộ trình cắt giảm theo WTO từ năm 2014. Bên cạnh đó, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ban hành các biểu thuế ưu đãi thuế nhập khẩu đối với các FTA đã ký kết, kể cả khi một số FTA đi vào giai đoạn thực hiện cam kết sâu rộng hơn.

    Triển khai hội nhập kinh tế quốc tế, các Bộ ngành và địa phương đã chủ động trong công tác tham vấn, thông tin về tình hình chuẩn bị, đàm phán và thực thi các FTA quan trọng. Các nhiệm vụ về hội nhập kinh tế quốc tế đã được các Bộ, ngành và địa phương lồng ghép ngày một chặt chẽ hơn vào kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phương.

    Bản thân cộng đồng doanh nghiệp nhận thức đầy đủ hơn về yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế. Các doanh nghiệp đã tham gia thực chất vào quá trình tham vấn chính sách, đặc biệt khi đàm phán các FTA quan trọng như TPP hay FTA với EU. Các doanh nghiệp theo dõi bài bản hơn các diễn biến, cảnh báo về khả năng áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật, hàng rào kỹ thuật ở các thị trường đối tác.

    Cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

    Đặc biệt trên lĩnh vực hoàn thiện thể chế kinh tế, công tác này đã được đi trước một bước nhằm thúc đẩy việc cải cách, đồng thời chủ động chuẩn bị cho cộng đồng doanh nghiệp. Tiêu biểu nhất là chuỗi Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh đã thể hiện tinh thần tự cải cách, gắn với tiêu chí đánh giá phổ biến được quốc tế công nhận, để chủ động tháo gỡ những rào cản bất hợp lý đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ đó, môi trường kinh doanh ngày một cạnh tranh hơn và được quốc tế công nhận. Việt Nam tăng 9 bậc trong năm 2022 và tăng 14 bậc trong năm 2022 (lên thứ 68/190) theo xếp hạng môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, thậm chí có những lĩnh vực cực kỳ ấn tượng như nộp thuế và bảo hiểm xã hội (tăng 81 bậc trong năm 2022), tiếp cận điện năng (tăng 32 bậc).

    Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến những cơ hội lớn cho nền kinh tế nước nhà nhưng cũng mang lại những thách thức không nhỏ. Đặc biệt, trong bối cảnh các nước ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ và quyết liệt để có vị thế tốt nhất trong cục diện kinh tế. Đặc biệt, cuộc cách mạng 4.0 đang tạo ra những chuyển dịch chưa từng có về vốn, công nghệ, dây chuyền sản xuất và nguồn lực lao động, tác động rất mạnh đến nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng.

    Nhằm vượt qua những thách thức, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cho rằng, cần điều chỉnh nghiên cứu chính sách và chiến lược tận dụng lợi thế và tiềm năng tối đa của Việt Nam để phát triển. Đồng thời, cần bảo đảm thống nhất nhận thức trong việc đẩy mạnh triển khai hội nhập kinh tế quốc tế vì mục tiêu chiến lược lâu dài của đất nước.

    Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, cần quan tâm triển khai hội nhập kinh tế quốc tế theo thứ tự ưu tiên và có trọng tâm trọng điểm đối với từng giai đoạn cụ thể; kết hợp chặt chẽ giữa hội nhập chính trị – an ninh với hội nhập kinh tế quốc tế, giữa thúc đẩy hợp tác song phương với hợp tác đa phương. Đặc biệt, trong 3 năm tới, hội nhập kinh tế quốc tế cần đảm nhận vai trò thành công của chủ nhà ASEAN năm 2022, đóng góp tích cực trong xây dựng cộng đồng ASEAN, tích cực triển khai các hiệp định thương mại tự do đã và sẽ ký kết. Chủ động thúc đẩy các hợp tác liên kết kinh tế ở châu Á – Thái Bình Dương và tích cực tham gia vào các hợp tác kinh tế phát triển với các quốc gia khác.

    Nhấn mạnh sự phát triển kinh tế quốc gia và các nhóm nước không thể tách rời xu hướng toàn cầu hóa, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong bối cảnh hiện nay, cần phát huy những điểm mạnh và liên tục cải thiện môi trường kinh doanh để thu hút FDI, đặc biệt từ các công ty đa quốc gia và trong lĩnh vực công nghệ cao.

    Cải thiện vị trí của Việt Nam trong các chuỗi giá trị, đặc biệt trong những ngành công nghiệp chế tạo, xuất khẩu như: điện tử, dệt may cũng như là các ngành hàng quan trọng khác về nông sản thủy sản cà phê, lúa gạo, đồ gỗ,…

    Cho rằng hội nhập là quan trọng nhưng phương thức hội nhập còn quan trọng hơn, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, cần tập trung vào những vấn đề tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc với tầm nhìn dài; tìm mọi cách gia nhập và nâng giá trị của sản phẩm Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tận dụng các FTA thế hệ mới, phối hợp và thực thi chính sách hiệu quả giữa các bộ ngành và địa phương.

    Đặc biệt, cần cải cách thể chế trong nước và trong ngành với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, cần quan tâm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển trên tinh thần xem nội lực là then chốt quyết định. Ngoài cải cách thế chế, cần quan tâm cải cách hệ thống giáo dục đào tạo để cải thiện kỹ năng của lực lượng lao động nước ta, qua đó nhằm đáp ứng việc ứng dụng các công nghệ mới và các hoạt động trong các thị trường kinh tế thế giới mới.

    Đáng chú ý, công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp Việt Nam nâng cao chất lượng chuẩn mực và khả năng cạnh tranh của ngành, các sản phẩm cũng như nâng cao năng suất lao động hiệu quả của nền kinh tế, vì vậy việc triển khai các biện pháp cải cách công nghệ sẽ giúp đổi mới mô hình và phương thức kinh doanh, năng lực quản trị của các doanh nghiệp. Đây cũng là những điều kiện thiết yếu để Việt Nam nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và nội lực của nền kinh tế trong nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông 2 Giai Phap Nao Cho Van De Bien Dong Trong Hoan Canh Moi Doc
  • Giải Pháp Khả Thi Nào Cho Vấn Đề Biển Đông?
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Tìm Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam
  • Tuyển Nhân Viên Vận Hành Hệ Thống Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ Ami Việt Nam
  • Thiết Bị Lọc Khói Tĩnh Điện
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Tin Học Damsan Việt Nam
  • Chủ động và tích cực HNKTQT toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả luôn là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua. Trong khóa XII, Ban Chấp hành T.Ư Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về việc thực hiện hiệu quả tiến trình HNKTQT. Tháng 11-2016, Ban Chấp hành T.Ư Đảng ban hành Nghị quyết số 06 – NQ/TW về “Thực hiện có hiệu quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Nghị quyết chứa đựng nhiều chủ trương mang tính đột phá về HNKTQT trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, nhất là việc xáo trộn và định hình lại các chuỗi cung ứng trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu. Định hướng này đã giúp Việt Nam tự tin bước vào giai đoạn mới của tiến trình HNKTQT – giai đoạn chủ động xây dựng các quy tắc mới trong thương mại quốc tế thông qua các FTA thế hệ mới.

    Năm 2022, Việt Nam cùng 10 quốc gia khác trong khu vực Thái Bình Dương ký kết Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) – một thị trường gần 500 triệu dân, chiếm 14,4% thương mại toàn cầu. Năm 2022, chúng ta ký kết FTA song phương với EU (EVFTA), từ đó kết nối thị trường các nước EU và Vương quốc Anh với hơn 500 triệu dân và một phần tư GDP toàn cầu. Cả hai hiệp định đều đã có hiệu lực, cho thấy chúng ta bước đầu bắt tay vào thực hiện thành công các chủ trương được đề ra tại Nghị quyết 06-NQ/TW; đồng thời, đánh dấu giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ của tiến trình HNKTQT với các đặc điểm lớn như sau: Thứ nhất, chúng ta không chỉ học tập kinh nghiệm các nước đi trước, hội nhập theo kiểu “bám đuôi” mà lần đầu tiên vươn lên, đi đầu cùng các nước xây dựng các thiết chế mới định hình cho cơ cấu hợp tác kinh tế – thương mại trong khu vực cũng như trên thế giới. Điều này đòi hỏi tính chủ động cao hơn trong công tác HNKTQT, không chỉ đối với các cơ quan T.Ư mà cả ở cấp độ địa phương và doanh nghiệp. Thứ hai, các đối tác chúng ta xây dựng quan hệ kinh tế – thương mại trong các FTA thế hệ mới bao gồm những nền kinh tế phát triển nhất, đồng nghĩa cơ hội lớn hơn nhưng cạnh tranh cũng cao và trực diện hơn. Cạnh tranh sẽ không chỉ đến từ hàng hóa, dịch vụ bên ngoài mà còn ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đây là những vấn đề đòi hỏi có chiến lược phát triển kinh tế – xã hội hợp lý trong thời gian tới. Thứ ba, các FTA thế hệ mới có cam kết hết sức sâu rộng, tác động đến nhiều mặt của cuộc sống, không chỉ dừng ở các khía cạnh kinh tế mà còn nhiều nội dung khác như lao động – công đoàn, môi trường, an ninh mạng,… Rõ ràng đây là các nội hàm mới, đòi hỏi sự thống nhất cao trong công tác tổ chức thực thi mới có thể bảo đảm duy trì được ổn định chính trị – xã hội.

    Nhiều cơ hội

    Với những đặc điểm trên, các FTA thế hệ mới mở ra nhiều cơ hội đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Về chính trị, an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại, tham gia các FTA thế hệ mới thể hiện mạnh mẽ chủ trương chủ động hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta; khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế địa – chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực ASEAN, trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế, nhất là trong bối cảnh tình hình chính trị – an ninh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, chủ nghĩa bảo hộ ngày càng leo thang. Về xuất khẩu, thúc đẩy thương mại với các nước CPTPP và EU là cơ hội mở rộng thị trường, đặc biệt đối với các sản phẩm Việt Nam có thế mạnh. Việc các nước, trong đó có nhiều thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Ca-na-đa giảm thuế nhập khẩu về 0% cho hàng hóa của ta sẽ tạo ra những “cú huých” mạnh mẽ cho tăng trưởng xuất khẩu. Thực tế, dù thời gian thực hiện CPTPP và EVFTA chưa dài nhưng đã cho thấy những kết quả tích cực bước đầu. Năm 2022 – năm đầu thực hiện CPTPP, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước CPTPP đạt 39,5 tỷ USD, tăng 7,2% so năm 2022, trong đó xuất siêu sang hai thị trường mới là Ca-na-đa và Mê-hi-cô đạt gần năm tỷ USD. Đối với EVFTA, chỉ hơn một tháng đi vào thực thi, kim ngạch được hưởng ưu đãi của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này đã gần ngang với cả năm đầu thực hiện CPTPP. Nhiều mặt hàng nông sản và thủy sản trong nước đã tận dụng tốt cam kết, không chỉ tăng về kim ngạch mà cả giá trị hàng xuất khẩu, đem lại lợi ích thiết thực cho nông dân và doanh nghiệp.

    Tham gia các FTA thế hệ mới cũng là cơ hội để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế, trong đó có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một trong ba đột phá chiến lược mà Đảng ta đã xác định. Cùng với việc phê chuẩn các FTA thế hệ mới, Quốc hội cũng đã quyết định việc sửa đổi nhiều bộ luật quan trọng như Bộ luật Lao động, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Thủy sản và tiến tới tiếp tục xem xét sửa đổi một số bộ luật khác như Luật Công đoàn, Luật Bảo vệ môi trường,… Bên cạnh đó, tham gia các FTA thế hệ mới còn giúp Việt Nam đa dạng hóa quan hệ kinh tế – thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực cụ thể, giúp nền kinh tế ứng phó tốt hơn với các biến động bên ngoài. Không những vậy, các FTA thế hệ mới còn hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của ta, nhất là trong các lĩnh vực như tài chính – ngân hàng, chi tiêu công và nông nghiệp – nông thôn. Đây là yếu tố then chốt để Việt Nam nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Mặt khác, các nước CPTPP, EU và Vương quốc Anh hiện chiếm hơn 35% GDP, hơn 43% thương mại hàng hóa toàn cầu. Do đó, FTA với các nước này sẽ mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt khi chuỗi cung ứng mới hình thành, là điều kiện quan trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm dần việc gia công lắp ráp, tham gia vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn,… Đây là cơ hội lớn để nâng tầm nền kinh tế Việt Nam trong 5 – 10 năm tới. Cuối cùng, tham gia các FTA thế hệ mới sẽ tạo ra cơ hội giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần xóa đói, giảm nghèo. Tăng trưởng kinh tế cũng giúp ta có thêm nguồn lực để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, do CPTPP, EVFTA đều bao gồm các cam kết về bảo vệ môi trường nên tiến trình mở cửa, tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư sẽ được thực hiện theo cách thân thiện hơn với môi trường, giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững.

    TRẦN TUẤN ANH Ủy viên T.Ư Đảng, Bộ trưởng Công thương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông 2 Giai Phap Nao Cho Van De Bien Dong Trong Hoan Canh Moi Doc
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Toàn Diện Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Mới
  • Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Quốc Tế Toàn Diện Của Việt Nam
  • Những Nhà Biển Đông Học Đóng Góp Tích Cực Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Hội Nghị Quốc Tế Về Biển Đông Lần Thứ 11: Đóng Góp Giải Pháp Thúc Đẩy Hợp Tác An Ninh Và Phát Triển Khu Vực
  • Quốc Hội Xem Xét Biện Pháp Giải Quyết Tình Hình Biển Đông
  • Một số kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế

    Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; Thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác; Tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

    Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; Quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

    Về hội nhập khu vực, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan đối với các nước ASEAN-6 (5 nước sáng lập và Brunei), 99,2% số dòng thuế đã được xóa bỏ, trong khi 90,9% số dòng thuế của các nước gia nhập sau là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (gọi tắt là các nước CMLV) đã được xóa bỏ tính tới năm 2022. Dự kiến, tới hết năm 2022, tỉ lệ xóa bỏ thuế quan trong toàn ASEAN sẽ đạt 98,67%.

    Ngoài tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN cũng đang triển khai các biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp như dự án thí điểm cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, cơ chế hải quan một cửa… Các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về tiêu chuẩn trong các lĩnh vực điện-điện tử, cao su, thực phẩm chế biến sẵn, dược phẩm và thiết bị y tế… Việt Nam và các nước ASEAN đã thực thi Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) về điện và điện tử, về kiểm tra thông lệ sản xuất thuốc tốt; Đã ký MRA về nghiên cứu tương đương sinh học, về hệ thống giám định và chứng nhận an toàn thực phẩm đối với thực phẩm đã qua chế biến nhằm tạo nên một khu vực sản xuất thống nhất trong ASEAN.

    Tính đến năm 2022, tỷ lệ xóa bỏ thuế quan của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) là 98%. Như vậy, trong số 10 FTA mà Việt Nam đang thực hiện, FTA với nội khối ASEAN (AFTA) có tỷ lệ xoá bỏ thuế quan cao nhất là 98% với lộ trình thực hiện là 19 năm (cá biệt, một số ít mặt hàng có lộ trình là 25 năm).

    Về hội nhập quốc tế, tính đến nay, Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nước (chiếm 59% dân số, 61% GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm cả các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA);… hiện đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

    cấp địa phương, từ 2022 tới nay, các địa phương chủ động triển khai hội nhập quốc tế, ký kết 420 thỏa thuận quốc tế trong tất cả các lĩnh vực, phát huy thế mạnh từng vùng miền, từng ngành hàng. Đây là những tiền đề quan trọng tạo thêm xung lực mới để đất nước bước vào giai đoạn tăng trưởng mới bền vững hơn, thực chất hơn.

    Về thu hút vốn đầu tư, theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), sau hơn 30 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kề từ khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào cuối năm 1987, đến tháng 8-2018, ở 63 tỉnh, thành phố của cả nước đã thu hút 26.438 dự án FDI của 129 quốc gia và vùng lãnh thổ còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 333,83 tỷ USD, vốn thực hiện ước đạt 183,62 tỷ USD, bằng 55% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

    Khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Khoảng 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông… Cùng với việc bổ sung vốn cho nền kinh tế, các doanh nghiệp FDI còn góp phần chuyển giao công nghệ, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý, góp phần thúc đẩy phát triển, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước.

    Thông qua việc tiếp cận công nghệ tiên tiến và chuẩn mực quốc tế trong quản trị doanh nghiệp, phát triển kỹ năng của lực lượng lao động, cũng như tạo ra nhiều việc làm trong các lĩnh vực của nền kinh tế…, khu vực đầu tư nước ngoài đã có những hiệu ứng lan tỏa đối với các lĩnh vực, các vùng, miền của nền kinh tế đất nước. Khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và từ 5-6 triệu lao động gián tiếp, góp phần quan trọng giải quyết việc làm, thu nhập cho người dân.

    Về đầu tư ra nước ngoài, tính chung tổng vốn đầu tư ra nước ngoài, bao gồm vốn cấp mới và tăng thêm trong nửa đầu năm 2022 đạt 263,1 triệu USD. Lũy kế, tính đến hết tháng 5-2018, Việt Nam đã có gần 1.200 dự án đầu tư tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 22 tỷ USD.

    Nhiều tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp có vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài vượt ngưỡng 1 tỷ USD như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty cổ phần Hoàng Anh – Gia Lai… Một số doanh nghiệp Việt Nam có kết quả khả quan trong mảng đầu tư ra nước ngoài, trong đó, điểm sáng lớn nhất là Tập đoàn Viễn thông Quân đội – Viettel (đã đầu tư và kinh doanh tại 10 quốc gia ở 3 châu lục). Tổng doanh thu từ đầu tư nước ngoài lũy kế đến năm 2022 của Viettel là 6,5 tỷ USD, riêng năm 2022 đạt 1,4 tỷ USD. Viettel cũng là công ty Việt Nam duy nhất hiện nay có doanh thu từ thị trường nước ngoài trên 1 tỷ USD/năm.

    Xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh mẽ cũng là một kết quả nổi bật của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước mới có khoảng 2,5 tỷ USD thì đến năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt trên 410 tỷ USD.

    Tính từ khi gia nhập WTO năm 2007 đến nay, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nước ta đã tăng hơn 4 lần. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2022 ước tính đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2022; kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng năm 2022 ước tính đạt 111,22 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước.

    Nhìn chung, hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần vào tăng trưởng GDP nước ta đạt mức cao và khá ổn định trong 30 năm qua. Hội nhập quốc tế cũng là xúc tác đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hội nhập kinh tế

    Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh quốc tế và khu vực đang chuyển biến nhanh, phức tạp và rất khó lường, tạo nhiều thách thức đối với môi trường chiến lược của đất nước, tác động trực tiếp tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế thế giới đang hồi phục và bước vào chu kỳ phát triển mới. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 đạt 3,6% và có thể tiếp tục tăng trong năm 2022; thương mại toàn cầu tăng 4,6%, cao nhất từ năm 2011 đến nay.

    Tuy nhiên, các rủi ro tài chính, chủ nghĩa bảo hộ và nguy cơ chiến tranh thương mại giữa các cường quốc, khu vực tác động không thuận đến đà phát triển của kinh tế thế giới và Việt Nam. Sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn, việc xem xét lại vai trò của các cơ chế đa phương đang tác động khó dự đoán đối với nền kinh tế nước ta.

    Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ hiện nay, khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức. Đây vừa là cơ hội để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển vừa là thách thức và nếu không bắt kịp thì nguy cơ tụt hậu là hiện hữu.

    Bối cảnh tình hình quốc tế đặt ra yêu cầu phải tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, trong đó đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng hiệu lực và hiệu quả hơn, nhằm nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, để hội nhập quốc tế đóng góp thiết thực, hiệu quả thực sự trở thành phương tiện hữu hiệu phục vụ phát triển đất nước bền vững và bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia.

    Về phương hướng chung, cần tiếp tục quán triệt và triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình hành động của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó chú trọng việc nâng cao toàn diện năng lực thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp để tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong hội nhập.

    Môt số nhóm giải pháp cụ thể:

    Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và tham mưu chính sách về hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực có tác động đến Việt Nam, các xu thế phát triển, các sáng kiến mới, chính sách và kinh nghiệm của các nước thực thi hiệu quả cam kết hội nhập.

    Nghiên cứu, đánh giá tác động của việc xóa bỏ thuế quan theo lộ trình cam kết trong ASEAN đối với các mặt hàng nhạy cảm của nước ta như ô tô, đường, xăng dầu…, dự báo tác động của việc thực thi cam kết trong Hiệp định CPTPP, FTA Việt Nam – EU để có các khuyến nghị chính sách phù hợp khi các hiệp định này được phê chuẩn và đi vào thực hiện;…

    Tổ chức thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế

    Phát huy vai trò của Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế trong việc phối hợp liên ngành, tăng cường hơn nữa việc kết nối, điều phối, điều hành tập trung, thống nhất giữa hoạch định chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế với triển khai đàm phán và thực thi các cam kết hội nhập. Đôn đốc và giám sát các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực thi hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện và khai thác hiệu quả các FTA đã có hiệu lực. Tiến hành rà soát, hoàn thiện cơ chế điều phối thực thi cam kết FTA đối với các lĩnh vực cụ thể theo hướng thiết thực và hiệu quả hơn; bảo đảm lợi ích quốc gia và việc thực thi nghiêm túc các FTA; đánh giá kịp thời các vấn đề phát sinh và kiến nghị giải pháp tháo gỡ. Xây dựng và thực thi nghiêm túc các cam kết trong hội nhập tài chính về thuế, hải quan, dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán, kế toán – kiểm toán và các dịch vụ khác; triển khai Hiệp định thuận lợi hóa thương mại của WTO, Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại.

    Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, hỗ trợ doanh nghiệp

    Trong hội nhập, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, trong đó khu vực doanh nghiệp tư nhân có vai trò quan trọng, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ngày càng phát triển. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của hội nhập. Các bộ, ngành, địa phương cần triển khai các biện pháp đồng hành và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và thực hiện các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời lắng nghe ý kiến và phản hồi của các doanh nghiệp về các vấn đề chính sách, vướng mắc trong hội nhập kinh tế quốc tế và trong quá trình đàm phán, thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA); Chủ động đề xuất các định hướng, biện pháp cụ thể để cùng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; Tận dụng các cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại một cách hiệu quả, phù hợp với các quy định, luật lệ, chuẩn mực quốc tế và các thể chế đa phương để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan để góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo để hỗ trợ cho quá trình đổi mới công nghệ quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vài Suy Nghĩ Về Giải Pháp Giải Tỏa Căng Thẳng Trên Biển Đông
  • Bộ Quốc Phòng Trả Lời Về Việc Xem Xét Khởi Kiện Trung Quốc Về Vấn Đề Biển Đông
  • Việt Nam Kiên Trì Giải Quyết Các Tranh Chấp Ở Biển Đông Bằng Biện Pháp Hòa Bình
  • Ba Giải Pháp Của Việt Nam Ở Biển Đông
  • Thời Cơ Và Thách Thức Của Việt Nam Khi Gia Nhập Asean
  • Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Quốc Tế Toàn Diện Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nhà Biển Đông Học Đóng Góp Tích Cực Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Hội Nghị Quốc Tế Về Biển Đông Lần Thứ 11: Đóng Góp Giải Pháp Thúc Đẩy Hợp Tác An Ninh Và Phát Triển Khu Vực
  • Quốc Hội Xem Xét Biện Pháp Giải Quyết Tình Hình Biển Đông
  • Văn Phòng Đại Diện Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Giải Pháp An Ninh Việt Nam Tại Bình Phước
  • Công Ty Bảo Vệ Giải Pháp An Ninh Tốt Nhất
  • Ngày đăng: 07/11/2018 03:03

    1. Hội nhập quốc tế là một xu thế khách quan của sự phát triển

    Mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu đều tìm cách để tham gia hội nhập quốc tế một cách hiệu quả nhất. Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, có nguồn gốc, bản chất xã hội của lao động và sự phát triển văn minh của quan hệ giữa con người với con người. Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển phải có mối liên kết, quan hệ với nhau. Trong một quốc gia phải có liên kết, quan hệ giữa các cộng đồng, các địa phương. Rộng hơn ở phạm vi thế giới, một quốc gia muốn phát triển phải liên kết, quan hệ với các quốc gia khác. Ngày nay, trong một thế giới hiện đại đang đổi thay nhanh chóng, đặc biệt là sự phát triển của kinh tế thị trường và cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư đòi hỏi các quốc gia phải đẩy mạnh mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế, nhanh chóng tiếp cận khoa học kỹ thuật hiện đại. Đây chính là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế – một xu thế đã, đang tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống quan hệ quốc tế và sự phát triển của từng quốc gia trên thế giới.

    Phương thức hội nhập quốc tế đa dạng theo tính chất, mức độ của từng lĩnh vực. Xét tổng thể, hội nhập quốc tế có ba phương thức chính là: hội nhập toàn cầu, hội nhập khu vực và hội nhập song phương. Các phương thức hội nhập này được triển khai trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế.

    Hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương nhất quán và là một nội dung trọng tâm của chính sách đối ngoại và hợp tác quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Khái niệm hội nhập quốc tế xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu, ngay từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) nhận thức và triển khai thực hiện hội nhập quốc tế bắt đầu được Đảng, Nhà nước ta quan tâm chú trọng trong xây dựng, hoạch định và thực thi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Quan điểm, tư duy về hội nhập quốc tế của Việt Nam từng bước được nhìn nhận đầy đủ, hoàn chỉnh hơn theo từng bước phát triển của thực tiễn đất nước. Thuật ngữ “hội nhập” chính thức được đề cập trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996). Tại Đại hội lần thứ XI của Đảng (năm 2011), tư duy nhấn mạnh hội nhập kinh tế quốc tế được chuyển sang “hội nhập quốc tế” toàn diện, trên mọi lĩnh vực hợp tác quốc tế của Việt Nam. Với tư duy hội nhập quốc tế theo nghĩa rộng và thực tiễn những năm qua cho thấy, Việt Nam đã, đang hội nhập quốc tế ở nhiều lĩnh vực và mức độ hội nhập ở mỗi lĩnh vực có khác nhau, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là nổi bật nhất.

    Theo các văn bản của Đảng, pháp luật của Việt Nam như: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 20/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 22 về hội nhập quốc tế; Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế… thì hội nhập quốc tế của Việt Nam gồm: hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế); hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh; hội nhập trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, dân tộc, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ và trên các lĩnh vực khác.

    Mục tiêu hội nhập quốc tế được Đảng, Nhà nước ta khẳng định trong nhiều nghị quyết, văn bản, đặc biệt Nghị quyết số 22 về hội nhập quốc tế nhấn mạnh: hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

    2. Một số bài học kinh nghiệm về hội nhập quốc tế của Việt Nam

    Từ thực tiễn xây dựng, triển khai đường lối, chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế, từ những thành tựu, hạn chế của hội nhập quốc tế thời gian qua, có thể chỉ ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

    Một là, luôn có tư duy nhận thức về thế giới một cách khách quan, biện chứng, khoa học. Thực tiễn thế giới luôn vận động, thay đổi, do đó tư duy nhận thức phải thay đổi linh hoạt, thậm chí phải dự báo được sự thay đổi đó để có được những chiến lược, sách lược, bước đi hội nhập phù hợp, hiệu quả.

    Hai là, quá trình hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực cần xuất phát từ yêu cầu bên trong của đất nước, phù hợp với sự chuẩn bị và mức độ sẵn sàng của các chủ thể trên từng lĩnh vực khi tham gia hội nhập. Tham gia hội nhập không để rơi vào bị động, chạy theo.

    Ba là, cần có sự thống nhất về quan điểm, nhận thức trong việc đề ra chủ trương, mục tiêu hội nhập và cách thức hành động. Xây dựng các căn cứ khoa học, pháp lý và thực tiễn về việc hội nhập quốc tế trên từng lĩnh vực và phương thức hội nhập nhằm đảm bảo được tầm nhìn chiến lược dài hạn về mục tiêu theo từng lĩnh vực hội nhập quốc tế.

    Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về hội nhập quốc tế của Việt Nam nói chung và các cam kết hội nhập ở từng lĩnh vực, với từng chủ thể hội nhập nói riêng. Việc tuyên truyền cần được thực hiện linh hoạt, chủ động, phù hợp qua nhiều kênh thông tin khác nhau, đồng bộ và phải có tính định hướng cao. Các đối tượng khác nhau (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, người dân…) cần được cung cấp những thông tin theo những cách phù hợp khác nhau để đảm bảo hiệu quả của công tác tuyên truyền.

    Năm là, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi mức độ cam kết tham gia hội nhập ngày càng cao cả về phạm vi và mức độ hội nhập. Vì vậy, phải chủ động xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện khuôn khổ hành lang pháp lý trong nước để đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước, đồng thời hỗ trợ và tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện quốc tế mà tiến trình hội nhập quốc tế đem lại.

    Sáu là, huy động và củng cố sức mạnh vật chất với huy động và phát huy sức mạnh tinh thần; kết hợp sức mạnh tự thân, nội lực, sức mạnh dân tộc với sự đồng tình, củng cố của bạn bè quốc tế, sức mạnh thời đại để thực hiện việc hội nhập thực chất, hiệu quả. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực tham gia hội nhập cả về chuyên môn, luật pháp, ngoại ngữ, văn hóa.

    Bảy là, nắm vững và tận dụng tốt thời cơ, giành thắng lợi trên từng mặt trận hội nhập. Quá trình hội nhập cần đi vững chắc theo từng cấp độ từ nhỏ đến lớn, đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu và nâng cấp các khuôn khổ hợp tác một cách bền vững. Thực tế cho thấy, trong quá trình hội nhập của Việt Nam, từ việc gia nhập ASEAN (1995), gia nhập ASEM (1996), APEC (1998), WTO (2002), với hội nhập kinh tế quốc tế… giờ đây Việt Nam đã, đang mở rộng hội nhập trong các lĩnh vực khác từ chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục đến an ninh, quốc phòng, khoa học, công nghệ.

    Tám là, ứng xử khôn khéo, linh hoạt giữa hai mặt hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, mọi chủ trương, hoạt động hội nhập phải kiên trì, kiên định nguyên tắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Đồng thời, phải linh hoạt, mềm dẻo trong đàm phán, giải quyết các vấn đề bất đồng, những nội dung chưa tạo được tiếng nói chung.

    Chín là, hội nhập vừa theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, song phải có tính chọn lọc cao. Nghĩa là, bất cứ lĩnh vực nào có lợi cho quốc gia, nhân dân thì cần khai thác triệt để. Tuy nhiên, cần có sự lựa chọn lĩnh vực, mặt hàng, sản phẩm thích hợp với nhu cầu của thị trường thế giới và lợi thế so sánh của Việt Nam để việc hội nhập, hợp tác đạt được lợi ích nhiều nhất cho quốc gia.

    Mười là, hội nhập quốc tế phải gắn liền với việc xây dựng một xã hội văn minh, dưới sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và luôn đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng. Trong quá trình hội nhập cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các hình thức, phương thức hội nhập, tạo thành mặt trận hội nhập, hợp tác, toàn diện, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

    3. Một số vấn đề đặt ra cho hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới

    Thứ nhất, tình hình trong nước, khu vực và thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến phức tạp, khó lường. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi, nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Vấn đề này đặt ra cho Việt Nam phải đẩy mạnh tham gia chủ động, tích cực, trách nhiệm và sâu hơn vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế để vừa đem lại lợi ích và vị thế của Việt Nam, vừa tạo điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong nước; bảo đảm độc lập, tự chủ và củng cố, duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước.

    Thứ hai, quá trình hội nhập quốc tế và quá trình đổi mới trong nước, nhất là đổi mới hoàn thiện thể chế, đặc biệt là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cần được thực hiện một cách đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy hiệu quả bản sắc văn hóa dân tộc.

    Thứ ba, hội nhập quốc tế phải trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các nguồn nội lực. Gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hoàn thiện thể chế, luật pháp cho tương thích với thông lệ quốc tế, đảm bảo lợi ích quốc gia; phát triển và nâng cao toàn diện chất lượng nguồn nhân lực; đẩy nhanh hiện đại hóa kết cấu hạ tầng; nâng cao sức mạnh tổng hợp và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong các lĩnh vực hội nhập với năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng cường mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vực trong cả nước.

    Thứ tư, hội nhập kinh tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế không tách rời việc củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn môi trường sinh thái. Hội nhập trên các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể theo lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước.

    Thứ năm, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Vì thế, mọi chủ trương, cơ chế, chính sách phải phát huy được tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả tiềm năng của toàn xã hội, các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài vào quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Thứ sáu, cần nắm chắc phương châm hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia.

    Thứ bảy, nâng tầm hội nhập quốc tế trên các tầng nấc, cơ chế liên kết theo hướng đẩy mạnh chủ động đóng góp, tiếp cận đa ngành, đa phương, nhất là trong các khuôn khổ đa phương và trong các vấn đề mà Việt Nam quan tâm, có lợi ích như đối tác phát triển, giảm nghèo, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường… Đẩy mạnh nỗ lực tạo đột phá trong vận động các đối tác, nhất là các đối tác lớn sớm công nhận quy chế thị trường của Việt Nam trước thời hạn năm 2022 (thời điểm kinh tế nước ta được công nhận là nền kinh tế thị trường theo thỏa thuận gia nhập WTO). Xử lý khéo léo, hiệu quả các tranh chấp, vướng mắc trong kinh tế, thương mại nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích của các địa phương, doanh nghiệp và người lao động.

    Thứ tám, khác với các giai đoạn trước, hội nhập quốc tế giai đoạn hiện nay đòi hỏi đổi mới tư duy, chuyển từ “mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác quốc tế” sang “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”. Với mức độ và quy mô hội nhập hiện nay, các mối quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam không đơn thuần là “hội nhập” mà ở tầm “liên kết”.

    Thứ chín, nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia đầy đủ, trách nhiệm các hoạt động của cộng đồng khu vực, châu lục và toàn cầu; chủ động đề xuất các sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong cộng đồng khu vực và thế giới, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung vì một thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và phát triển.

    4. Giải pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam

    Để hội nhập quốc tế toàn diện trong giai đoạn mới có hiệu quả cần triển khai thực hiện hệ thống các giải pháp sau:

    Một là, đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về yêu cầu hội nhập quốc tế, về các cơ hội và thách thức, về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ trọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, lĩnh vực để thống nhất nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình hội nhập quốc tế của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, của toàn dân, doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức trong xã hội.

    Hai là, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, đồng bộ trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng; điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh các chính sách hội nhập quốc tế cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và các cam kết quốc tế.

    Ba là, chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia qua việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, người dân tham gia phát triển sản xuất kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo cơ chế chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.v.v…

    Bốn là, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm ảnh hưởng chiến lược quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của Việt Nam, đưa các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập đi vào thực chất có chiều sâu, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích giữa Việt Nam với các đối tác một cách bình đẳng. Chủ động trong việc lựa chọn đối tác và xây dựng phương án đàm phán với từng đối tác trên cơ sở cùng có lợi.

    Năm là, các bộ, ngành, địa phương cần chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch toàn diện và cụ thể trong việc thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong bối cảnh thế giới cũng như trong nước đang có nhiều thay đổi lớn. Tăng cường phân cấp, nâng cao trách nhiệm quản lý, chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước và chế tài xử phạt đối với các trường hợp vi phạm. Chú trọng hơn đến công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chủ trương, chính sách hội nhập.

    Sáu là, thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký thỏa thuận. Xây dựng và triển khai chiến lược hội nhập trên mọi lĩnh vực theo kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích quốc gia và khả năng của đất nước. Tích cực và trách nhiệm hơn trong việc tham gia các thể chế hội nhập toàn cầu. Chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế thế giới theo hướng công bằng, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi.

    Bảy là, đẩy mạnh nâng cao năng lực thực thi hội nhập quốc tế qua việc kiện toàn, củng cố và phát triển bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách, nguồn nhân lực chất lượng cao có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tri thức, kỹ năng hội nhập, nắm vững nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu của công tác hội nhập trong giai đoạn mới.

    TS. Phạm Thanh Hà – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khu vực I

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011.

    2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2022), Nxb CTQG, H.2015.

    3. Phạm Bình Minh, Ngoại giao Việt Nam quá trình triển khai đường lối đối ngoại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb CTQG, H.2015.

    4. Bùi Thanh Sơn (chủ biên), Hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Nxb CTQG, H.2015.

    5. Nguyễn Xuân Thắng (chủ biên), Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới, Nxb KHXH, H.2011.

    6. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

    7. Nghị quyết số 06-NQ/TW (2016), Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Toàn Diện Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Mới
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Vài Suy Nghĩ Về Giải Pháp Giải Tỏa Căng Thẳng Trên Biển Đông
  • Bộ Quốc Phòng Trả Lời Về Việc Xem Xét Khởi Kiện Trung Quốc Về Vấn Đề Biển Đông
  • Việt Nam Kiên Trì Giải Quyết Các Tranh Chấp Ở Biển Đông Bằng Biện Pháp Hòa Bình
  • Gợi Mở 4 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Lực Và Hiệu Quả Hơn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam
  • Tuyển Nhân Viên Vận Hành Hệ Thống Tại Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Công Nghệ Ami Việt Nam
  • Thiết Bị Lọc Khói Tĩnh Điện
  • Ông Vương Đình Huệ phát biểu tại Hội thảo Khoa học – thực tiễn “Hội nhập kinh tế quốc tế – 30 năm nhìn lại và thực tiễn Quảng Ninh”. Nguồn: financeplus.vn

    Tham dự Hội thảo có GS.,TS. Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, PGS.,TS. Phạm Minh Chính, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh và hơn 200 đại biểu nguyên là lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và một số địa phương; các diễn giả, nhà khoa học hàng đầu trong cả nước.

    Hội thảo được tổ chức nhằm tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta và thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của Quảng Ninh, qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới, thiết thực hướng tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

    Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.,TS. Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Kinh tế ngân sách Trung ương khẳng định: Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước. Trong gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, quan điểm của Đảng ta về hội nhập kinh tế quốc tế được hình thành, bổ sung và hoàn thiện không ngừng. Nước ta đã hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO; đàm phán, ký kết và thực hiện nhiều Hiệp định tự do song phương và đa phương thế hệ mới. Các yếu tố nền tảng cơ bản của kinh tế thị trường dần được hình thành và được nhiều nước thừa nhận. Cho đến nay đã có gần 50 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam, đồng thời Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao và thương mại với hơn 170 quốc gia.

    Cùng với đó, trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần đã được ký kết. Quan hệ hợp tác đa phương và khu vực tích cực hơn với nhiều tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB).Việt Nam hiện đang tham gia 08 Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương (FTA); đã chủ động tham gia và đưa ra nhiều đề xuất nhằm thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP); đàm phán về Hiệp định Thương mại Tự do (FTAs) với Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc, Liên minh hải quan gồm Nga, Belarus, Kazakhstan… Việc tham gia ký kết và đàm phán tham gia các hiệp định FTA có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, giúp xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường đầy đủ có định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết lao động, tạo công ăn việc làm, nâng cao tiền lương và thu nhập.

    GS.,TS. Vương Đình Huệ nhấn mạnh, việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế nước ta. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2011-2013 tăng bình quân 22,58%/năm. Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp chủ động động hơn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu, nổi bật nhất đó là: Chuỗi giá trị lương thực và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng lượng và an ninh năng lượng (dầu mỏ, khí, than) và chuỗi giá trị hàng dệt may và da giầy. Một số sản phẩm của Việt Nam đã xác lập được thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế như dầu khí, viễn thông, dệt may, một số sản phẩm nông sản (gạo, cà phê, hạt tiêu…).

    Trưởng Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, những thành quả đó đã chứng tỏ đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đang được thực tiễn khẳng định. Đổi mới tư duy kinh tế của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại thành tựu to lớn cho đất nước. Nhận thức đúng về đường lối mở cửa, hội nhập của Đảng trong phát triển kinh tế qua gần 30 năm đổi mới cho chúng ta có các bước đi thích hợp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

    Để nâng cao hiệu quả công tác hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ đã gợi mở 4 giải pháp cho vấn đề này:

    Một là, cần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Về quan niệm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, cần chủ động bám sát chủ trương, định hướng hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta và yêu cầu của tình hình kinh tế đất nước. Để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần có sự đổi mới và giải quyết đúng đắn về một số vấn đề lớn: (1) Sự thay đổi nội hàm của các khái niệm truyền thống như quốc gia, dân tộc, vị thế quốc gia, an ninh quốc gia, liên kết toàn cầu và khu vực, tính tuỳ thuộc và phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới…; (2) Nội hàm độc lập, tự chủ về kinh tế trong điều kiện thị trường và hội nhập quốc tế; (3) Quan hệ giữa độc lập, tự chủ kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong thời đại hiện nay; (4) Các yếu tố cơ bản của độc lập, tự chủ quốc gia trong môi trường toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế; (5) Các điều kiện bảo đảm sự độc lập tự chủ. Hiện nay, không thể nói độc lập kinh tế theo nghĩa như trước vì tất cả các nền kinh tế đều liên thông và phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng phải giữ được tự chủ kinh tế (tự quyết định và đường lối, chiến lược phát triển) với những vấn đề đặt ra như: Quan hệ giữa luật lệ và quy tắc của hệ thống kinh tế thế giới và định hướng phát triển quốc gia; định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập kinh tế quốc tế; cơ chế bảo đảm giữ được độc lập, tự chủ kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa trong khi phải đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế cho một nền kinh tế còn yếu kém và lạc hậu.

    Hai là, cần nghiên cứu sâu chính sách “mở cửa” và quá trình chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và các cam kết mang tính thể chế trong từng hiệp định (FTA/ASEAN, ASEAN+, FTA song phương, WTO, TPP…) để tạo ra những cơ hội cho việc thu hút đầu tư nước ngoài và hoạt động xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo thêm việc làm…; giảm thiểu những rủi ro, giành thế chủ động trong đàm phán để có những thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam khi hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu với những luật chơi khắc nghiệt hơn, đòi hỏi cao hơn và phức tạp hơn.

    Ba là, tiếp tục nghiên cứu, đàm phán, ký kết, chuẩn bị kỹ các điều kiện thực hiện các hiệp định tư do thương mại yêu cầu ở cấp độ cao hơn trong hội nhập kinh tế toàn cầu, tham gia các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư…; có đại diện làm việc tại các tổ chức thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp quốc tế. Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể.

    Bốn là, rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và sẽ ký kết, nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU. Hoàn thiện thể chế để tận dụng cơ hội và phòng ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế, nhất là tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Phát huy vai trò là thành viên có trách nhiệm trong Cộng đồng kinh tế ASEAN, WTO, TPP,…Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế.

    Ông Vương Đình Huệ tin nhấn mạnh, đất nước ta đang tiến hành tổng kết 30 năm Đổi mới đất nước trong đó hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Với niềm tin vào đường lối đúng đắn trong hoạch định chiến lược, chính sách và phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ, sự cố gắng vươn lên trong tổ chức thực hiện chủ trương hội nhập của các cấp, các ngành, các địa phương, chúng ta luôn tin tưởng vào sự phát triển thịnh vượng của nước ta trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Thúc Đẩy Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông 2 Giai Phap Nao Cho Van De Bien Dong Trong Hoan Canh Moi Doc
  • Giải Pháp Khả Thi Nào Cho Vấn Đề Biển Đông?
  • Kinh Tế Du Lịch Trong Mối Quan Hệ Với Hội Nhập Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Du Lịch Làm Những Công Việc Gì
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Và Thực Tiễn Vận Dụng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì? Vai Trò Của Doanh Nghiệp Xã Hội
  • Lợi Ích, Tác Dụng Của Thể Dục Thể Thao
  • Kinh tế du lịch đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn: Internet.

    Vai trò của kinh tế du lịch đối với hội nhập quốc tế

    Kinh tế du lịch là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kinh tế du lịch có vai trò quan trọng, góp phần vào tiến trình hội nhập quốc tế và thực hiện đường lối đối ngoại của các quốc gia. Ngược lại, hội nhập quốc tế cũng có những tác động lớn đến kinh tế du lịch, mối quan hệ biện chứng này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

    Kinh tế du lịch góp phần thúc đẩy phân công lao động, hợp tác khu vực và quốc tế: Phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển và bao trùm toàn bộ nền kinh tế thế giới khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ. Đối với hoạt động kinh tế du lịch, sự phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng trở nên rõ nét hơn. Kinh tế du lịch là ngành sản xuất ra sản phẩm du lịch để cung ứng ra thị trường với sự kết hợp của một chuỗi các dịch vụ khác nhau, để có được sản phẩm chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi phải có sự phân công lao động, chuyên môn hóa rất cao trong các công đoạn, phân khúc sản phẩm.

    Các tuyến du lịch giữa các quốc gia được gắn kết với nhau để đáp ứng nhu cầu du lịch ở nhiều nước trong một chuyến hành trình của du khách, theo đó, sản phẩm và dịch vụ du lịch phải được quốc tế hóa cao, là cầu nối gắn kết giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài. Xu hướng tất yếu hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải liên kết trong phát triển nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng, qua đó có thể thấy, kinh tế du lịch góp phần vào thúc đẩy phân công lao động, hợp tác khu vực và quốc tế.

    Kinh tế du lịch góp phần tăng cường giao lưu, hội nhập của quốc gia với khu vực và quốc tế: Sự tác động qua lại của các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, tâm lý xã hội, môi trường sống, đối tượng khách du lịch… khiến cho kinh tế du lịch luôn có sự vận động phát triển không ngừng. Chính tư tưởng chấp nhận cái cũ, bó buộc trong những mô – típ quen thuộc, không chịu đổi mới đã tạo ra sự thất bại của kinh tế du lịch ở một số quốc gia. Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với phát triển kinh tế du lịch là phải mở rộng liên kết, hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

    Đối với những đơn vị cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch sở tại thì cần mở rộng các mối quan hệ để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm nhằm tạo ra được những sản phẩm phong phú, đa dạng, có sự khác biệt và tận dụng được lợi thế so sánh. Đối với cộng đồng dân cư tại điểm du lịch, thông qua hoạt động của kinh tế du lịch, cộng đồng cư dân cũng được giao lưu và tiếp biến các giá trị văn hóa của các đối tượng khác nhau đến nơi đây.

    Nghĩa là, người dân vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình giao lưu văn hóa. Chính họ là người đem những giá trị văn hóa của vùng giao lưu với các vùng, các khu vực và các quốc gia trên thế giới, đồng thời cũng là đối tượng tiếp thu những ảnh hưởng những nét văn hóa mới được du nhập thông qua hoạt động của kinh tế du lịch. Ngoài ra, khách du lịch cũng góp phần mang đến và mang theo những giá trị văn hóa mới. Đây cũng chính là chủ thể góp phần trong quá trình giao lưu giữa các quốc gia, khu vực.

    Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới hiện nay cho thấy, giá trị của các ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội. Do vậy, khi các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn, du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác.

    Kinh tế du lịch góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tham gia mở rộng thị trường nội địa và quốc tế: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới hiện nay cho thấy, giá trị của các ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội. Do vậy, khi các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn, thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác. Kinh tế du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao, vốn đầu tư vào du lịch tương đối ít so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp, mức độ rủi ro thấp. Đặc biệt, thông qua hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia có thể tận dụng lợi thế để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Do vậy, phát triển kinh tế du lịch được coi là một kênh khá quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Kinh tế du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Xuất phát từ nhu cầu này của du khách mà ngành du lịch không ngừng mở rộng hoạt động thông qua mối quan hệ liên ngành, liên vùng và liên quốc gia. Do đó, kinh tế du lịch tham gia mở rộng thị trường nội địa và quốc tế cho mỗi quốc gia.

    Tác động của hội nhập quốc tế đối với kinh tế du lịch

    Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện trong các mối quan hệ song phương, đa phương trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ có tác động thúc đẩy sự phát triển, đồng thời cũng tạo ra các cơ hội và thách thức đối với kinh tế du lịch. Cụ thể:

    Hội nhập quốc tế tạo cơ hội phát triển kinh tế du lịch

    – Cơ hội mở rộng thị trường khách du lịch và quảng bá hình ảnh của quốc gia, khu vực: Hội nhập quốc tế làm xóa đi ranh giới giữa các quốc gia, khu vực là điều không thể phủ nhận. hội nhập quốc tế thúc đẩy sự thịnh vượng chung của các quốc gia kéo theo việc tạo điều kiện phát triển cho tự do hóa thương mại, chính sách thị thực được nới lỏng, các hãng hàng không giá rẻ bùng nổ, từ đó gia tăng đi lại giữa các nước… Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch quốc tế nhiều hơn, nhờ đó mà hình ảnh cũng như sản phẩm du lịch được quảng bá với thị trường khách quốc tế ngay tại điểm du lịch mà không cần thực hiện các chiến dịch truyền thông hay quảng bá.

    – Cơ hội được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến: Hội nhập quốc tế giúp cho hoạt động kinh tế du lịch được tiến xa hơn thông qua trao đổi kinh nghiệm với đối tác cũng như tham khảo, học hỏi trình độ quản lý tiên tiến từ các tập đoàn, doanh nghiệp du lịch nước ngoài. Hơn nữa, các doanh nghiệp nước ngoài muốn kinh doanh tại vùng sẽ phải hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực cho vùng, đồng thời mang theo tiến bộ khoa học công nghệ đưa vào ứng dụng. Từ đó, kinh tế du lịch ở các quốc gia có cơ hội cải cách mạnh mẽ.

    – Cơ hội để đổi mới tư duy về phát triển kinh tế du lịch: Trong bối cảnh hội nhập, trước yêu cầu phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn tương xứng với tiềm năng, đòi hỏi phải đổi mới tư duy trong phát triển kinh tế du lịch. Việc đổi mới tư duy phát triển vừa đảm bảo phát huy được tiềm năng, thế mạnh, tạo ra sản phẩm du lịch cạnh tranh, vừa mang giá trị bản sắc và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế tạo sức ép buộc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải nâng cao sức mạnh nội lực, phải đổi mới mạnh mẽ chính mình, trước hết là đổi mới tư duy nếu muốn tồn tại và phát triển.

    – Cơ hội liên kết mở rộng các tuyến du lịch và các loại hình du lịch mới: Thông qua quá trình giao lưu, học hỏi kinh nghiệm và hợp tác, các doanh nghiệp du lịch ở các quốc gia sẽ có cơ hội liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, tạo ra các chuỗi sản phẩm du lịch đa dạng và hấp dẫn, vừa mang bản sắc của quốc gia, khu vực, vừa phù hợp với xu thế phát triển hiện đại, đem lại lợi ích kinh tế cao.

    – Cơ hội có được hệ thống chính sách hỗ trợ hiệu quả: Hội nhập quốc tế mang lại rất nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung ở các quốc gia. Tuy nhiên, để đạt được các kết quả mong muốn không chỉ cần sự cố gắng của bản thân doanh nghiệp mà còn cần đến sự hỗ trợ rất nhiều của Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách thông thoáng và phù hợp. Với nhận thức về tầm quan trọng của hội nhập quốc tế trong phát triển kinh tế du lịch, Nhà nước ta đang từng bước cải cách hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư cho du lịch cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch phát triển và vươn ra bên ngoài biên giới.

    – Hội nhập quốc tế làm gia tăng sự phụ thuộc về khách du lịch của các quốc gia vào thị trường nước ngoài: Hội nhập quốc tế làm cho lượng khách quốc tế đến với các quốc gia nhiều hơn. Khi lượng khách du lịch của một quốc gia dựa vào lượng khách quốc tế thì sự phụ thuộc của kinh tế du lịch vào thị trường nước ngoài là điều hiển nhiên, nếu không có những giải pháp để ứng phó với sự phụ thuộc này rất có thể thời cơ sẽ biến thành thách thức.

    Kinh tế du lịch là một hệ thống phức hợp những quan hệ và hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia trong quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ du lịch, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho các bên tham gia và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

    – Hội nhập quốc tế tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc: Hội nhập quốc tế khiến cho sự giao thoa giữa các nền văn hóa ngày càng sâu, rộng hơn, điều đó khiến cho mỗi quốc gia bị “quên mình” trong sự đa dạng của văn hóa thế giới. Những nét đặc trưng văn hóa và bản sắc riêng đứng trước nguy cơ bị pha trộn, “hòa tan”, hệ giá trị truyền thống có thể bị mai một nếu không được khẳng định, gìn giữ và phát huy. Bên cạnh cơ hội tiếp thu giá trị tinh hoa văn hóa của thế giới là nguy cơ việc tiếp thu thiếu chọn lọc, tràn lan, thỏa hiệp dẫn đến bị mất bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia dân tộc.

    Như vậy, kinh tế du lịch và hội nhập quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ, tác động đan xen. Cùng với rất nhiều những khó khăn và thách thức, nhưng hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu mà quốc gia nào cũng cần hòa mình để phát triển. Với sự độc lập, tự chủ, hòa nhập nhưng không “hòa tan”, lấy xây dựng và phát huy nội lực là chính, huy động và phát huy ngoại lực là quan trọng, mỗi quốc gia cần đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hóa, gắn với phát triển bền vững, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và toàn vẹn lãnh thổ, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế.

    1. Đổng Ngọc Minh, Vương Lôi Đình (2009), Kinh tế du lịch và du lịch học,

      NXB Trẻ, Hà Nội;

    2. Hà Thị Hương Giang (2014), Một số tác động của hội nhập ASEAN và những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu và phát triển du lịch, Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch, Hà Nội;
    3. Nguyễn Quang Vinh (2012), Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch lữ hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam ra nhập WTO, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Coi Trọng Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận
  • Hoạt Động Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Có Tính Chất, Mục Đích Như Thế Nào?
  • Thực Hiện Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Hiện Nay
  • Giám Sát, Phản Biện Xã Hội: Chức Năng Quan Trọng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
  • #1 Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100