Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục

--- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Chủ Động Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Đối Mặt Với Già Hóa Dân Số Và Các Giải Pháp
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Chủ đề: Già hóa dân số (GHDS)

    I. Một số khái niệm

    II. Tình hình già

    hóa dân số trên

    thế giới

    III. Tình hình già

    hóa dân số ở Việt

    Nam

    1. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi

    2. Cơ cấu xã hội

    I. Một số khái

    niệm

    3. Tháp dân số

    4.Già hóa dân số

    5. Tác động của già hóa dân số

    + Độ tuổi theo khoảng cách đều nhau, thông thường trong dân số học,

    người ta nghiên cứu cơ cấu theo tuổi với khoảng cách đều 5 năm.

    3. Tháp dân số

    * Là một loại biểu đồ biểu diễn thành phần nam, nữ

    theo các độ tuổi ở một thời điểm nhất định.

    * Tháp được xây dựng theo các lớp tuổi cách nhau 1

    năm, 5 năm, 10 năm.

    * Tháp sẽ có dạng khác nhau tùy theo đặc trưng của

    mức độ sinh, chết và chuyển cư.

    * Do dân số các nước khác nhau nên tháp dân số cũng

    khác nhau. Tuy nhiên người ta phân biệt được 3 kiểu

    (dạng) tháp dân số cơ bản đó là:

    Hình 1. Các kiểu tháp dân số cơ bản (Nguồn kiemtailieu.com)

    Kiểu mở

    rộng

    – Đây là tháp dân số trẻ.

    – Tháp có hình dạng đáy rộng, càng lên

    cao càng hẹp lại nhanh.

    – Đây là kiểu kết cấu dân số của các nước

    chậm phát triển có dân số trẻ và tăng nhanh

    Tỷ xuất sinh cao,tỷ lệ người già thấp, tuổi thọ trung bình

    không cao.

    Kiểu thu

    hẹp

    – Đây là kiểu tháp dân số trưởng thành.

    – Thể hiện tỷ suất sinh thấp, tỷ lệ trẻ em

    thấp hơn kiểu mở rộng và đang giảm, tỷ lệ

    chết thấp, tuổi thọ TB cao, số người trong

    độ tuổi lao động nhiều.

    – Đây là kiểu tháp chuyển từ dân số trẻ sang

    dân số già.

    4. Già hóa dân số

    – Theo quy ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người

    từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% trở lên hoặc tỷ lệ người từ 65 tuổi

    trở lên chiếm từ 7% trở lên thì được gọi là quốc gia “già hóa dân

    số”.

    ” Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người trưởng thành và

    người cao tuổi tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em

    và vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị

    của dân số ”.

    5. Tác động của già hóa dân số

    a. Thuận lợi

    * Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu vĩ

    đại nhất của loài người.

    * Người già có nhiều kinh nghiệm sản xuất, có công lao

    to lớn trong các cuộc kháng chiến của dân tộc..

    * Hạn chế tệ nạn xã hội.

    * Người lớn tuổi được xem là trụ cột, là”chất kết dính”

    giữa các thế hệ trong gia đình…

    Suy giảm tăng trưởng

    kinh tế quốc gia

    Là gánh nặng của xã

    hội

    .

    Tạo áp lực lớn cho

    chính phủ

    II. Vấn đề già hóa dân số

    trên thế giới

    – Vào thập kỉ đầu của TK XXI, ở hầu

    hết các quốc gia diển ra sự thay đổi

    nhân khẩu học dần dần từ dân số

    trẻ sang dân số già hơn.

    – Già hóa dân số đang diễn ra trên

    tất cả các khu vực và các quốc gia

    với các mức độ khác nhau.

    – Các nước phát triển quá trình già

    hóa dân số diễn ra sớm do có nền

    kinh tế phát triển sớm, khoa học kĩ

    thuật tiên tiến, đời sống vật chất cao,

    – Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển

    kể cả các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo.đang gia tăng

    nhanh nhất ở các nước đang phátó nhóm dân số trẻ đông đảo.

    nhóm dân số trẻ đông đảo.

    Biểu đồ thể hiện số người từ 60 tuổi trở lên giai đoạn 1950- 2050

    Hiện tại

    Dự báo ( trước 2030)

    Nhật Bản

    25,8%

    32,3 %

    Đức

    21,1%

    27,9%

    Ý

    21%

    25,5%

    Pháp

    18,3%

    23,4%

    Tây Ban Nha

    17,6%

    22%

    Anh

    17,5%

    21,3%

    Canada

    17,3%

    24,9%

    Ukraine

    15,9%

    22%

    Ba Lan

    15%

    23,1%

    Mỹ

    14,5%

    20,3%

    Nguồn: Theo số liệu từ Cục điều tra dân số của Mỹ (8/2014)

    – Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh

    nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu

    người tròn 60 tuổi.

    – Tuổi thọ trung bình đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới.

    – Hiện nay, có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên

    80 tuổi; trong khi đó 5 năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt con

    số này.

    Giai đoạn

    Các nước phát triển

    Các nước đang phát triển

    2010- 2022

    78 tuổi

    68 tuổi

    Dự kiến 2045- 2050

    83 tuổi

    74 tuổi

    – Nhật Bản là quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già, nhưng

    đến năm 2050, dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số già

    như Nhật Bản.

    – Người cao tuổi trên thế giới ngày càng tăng về cả tỷ lệ và số

    tuyệt đối.

    Thế giới

    Năm

    Các nước phát triển

    Các nước đang phát

    triển

    Số lượng (triệu

    người)

    Số lượng (triệu

    người)

    8,2

    85

    11,7

    110

    6,4

    606

    10

    232

    19,4

    374

    7,7

    1964

    21,1

    395

    33,5

    19,3

    19,3

    Số lượng (triệu

    người)

    1950

    205

    Tình hình già hóa dân số thế giới ( Nguồn:kiemtailieu.com)

    * Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên.

    Đến năm 2012, số người cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệu

    người. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần

    10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người.

    Năm

    1950

    1975

    2000

    2025

    2050

    Số dân

    (triệu)

    2.500

    3.900

    6.080

    8.011

    9.150

    205

    350

    606

    1.193

    1.964

    Tỉ lệ người

    cao tuổi (%)

    8,2

    9,1

    10

    14,9

    21,1

     Tình trạng “già hóa dân số” ở

    nhiều nước phát triển đang đặt

    ra nhu cầu xem xét lại giới hạn

    độ tuổi lao động tích cực của

    người cao tuổi.

     Các nước đang phát triển cần

    đáp ứng nhu cầu giáo dục, chăm

    sóc sức khỏe cho thế hệ trẻ, sức

    khỏe sinh sản vị thành niên.

     Các quốc gia cần có giải pháp

    thiết thực đối với người già về

    sức khỏe, vật chất và tinh thần

    trước sự già hóa của dân số.

    III. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam

    1. Hiện trạng GHDS ở Việt Nam

    – Nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ (2005).

    Nhóm tuổi

    1979

    1989

    1999

    2005

    0- 1

    42,5

    38,9

    33,6

    27,0

    15- 59

    50,4

    53,2

    58,3

    64,0

    7,1

    7,9

    8,1

    9,0

    Tổng (%)

    100

    100

    100

    100

    Cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi giai đoạn 1979- 2005

    – Tuy nhiên do quá trình giảm sinh tương đối nhanh trong những

    năm qua tỷ trọng dân số trẻ đã có xu hướng giảm mạnh và tỷ

    trọng dân số già đã tăng lên từ 7,1% năm 1979 lên 9% vào năm

    2005.

    – Năm 2009, Tổng cục Thống kê

    dự báo đến 2022 nước ta mới

    bước vào giai đoạn già hóa dân

    số. – Nhưng chỉ 2 năm sau dự báo

    này đã trở nên lạc hậu.

    – Năm 2011, Việt Nam chính thức

    bước vào giai đoạn già hóa dân

    số. Tốc độ già hóa dân số của

    nước ta nhanh hàng đầu châu Á

    và cũng thuộc diện nhanh nhất

    thế giới.

    Biểu đồ thể hiện tỉ lệ người già của nước ta ngày càng tăng giai đoạn

    2010- 2014.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hoá Dân Số: Giải Pháp Chính Sách Đối Với Già Hoá Dân Số Tại Châu Á
  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Để Đảm Bảo Sản Xuất Nông Nghiệp Bền Vững Ở Tây Nguyên
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Hàn Quốc: Báo Động Tình Trạng Già Hóa Dân Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Hà Nội Triển Khai Các Biện Pháp Đảm Bảo Atgt Phục Vụ Apec
  • Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng Là Bảo Vệ Quyền Lợi Người Sử Dụng Mạng
  • Một Số Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Trường
  • Chuyên Đề Những Biện Pháp Cơ Bản Phấn Đấu Hạ Giá Thành Sản Phẩm Ở Xí Nghiệp Xây Lắp Điện
  • Luận Văn Chuyên Đề Những Biện Pháp Cơ Bản Phấn Đấu Hạ Giá Thành Sản Phẩm Ở Xí Nghiệp Xây Lắp Điện Công Ty Điện Lực I
  • Người cao tuổi tại Seoul, Hàn Quốc. (Nguồn: AFP)

    Cụ thể, gần một nửa dân số Hàn Quốc đến năm 2067 sẽ là nhóm người từ 65 tuổi trở lên và điều này đặt ra những thách thức lớn cho việc đảm bảo an sinh xã hội của nền kinh tế lớn thứ tư châu Á này.

    Theo báo cáo trên, dân số của Hàn Quốc được dự báo sẽ giảm từ 51,7 triệu người trong năm 2022, còn 39 triệu người vào năm 2067. Cùng với đó, nhóm người trên 65 tuổi cũng tăng vọt từ tỷ lệ 14,9% hiện nay, lên mức 46,5%. Những quốc gia có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên trên chiếm 21% tổng dân số được xếp loại nước dân số già.

    Trong khi đó, trong 48 năm tới, dân số thế giới được dự báo sẽ tăng từ 7,71 tỷ người hiện nay lên 10,38 tỷ người. Tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng từ 9,1% lên 18,6%. Với những con số dự báo nêu trên, Hàn Quốc sẽ trở thành quốc gia có tỷ lệ dân số già cao nhất trong tổng số 201 nước trên thế giới vào năm 2067, vượt Mỹ (25,1%), Trung Quốc (29,9%) và Nhật Bản (38,1%).

    Cũng theo báo cáo này, nhóm dân số dưới 15 tuổi của Hàn Quốc sẽ giảm từ 12,4% hiện nay, còn 8,1% vào năm 2067 và số người trong độ tuổi lao động của Hàn Quốc (15-64) có thể giảm từ 72,7% còn 45,4% trong cùng thời gian trên. Điều này có thể làm gia tăng gánh nặng tài chính đối với thế hệ trẻ và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của Hàn Quốc trong vài chục năm tới.

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm và tuổi thọ tăng. Năm 2022, tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm xuống con số kỷ lục 0,98. Trước đó, năm 2022, Seoul ghi nhận tỷ lệ sinh giảm xuống mức 1,05 – mức thấp nhất trong Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

    Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc giảm là do thế hệ trẻ Hàn Quốc đang “trốn tránh” hẹn hò, kết hôn và sinh con do họ không thể tìm được việc làm ổn định trong thời kỳ kinh tế suy giảm.

    So với tuổi thọ trung bình của các nước trên thế giới, tuổi thọ trung bình của người Hàn Quốc cao hơn hẳn, ghi nhận ở mức 82,5 tuổi giai đoạn 2022-2020, trong khi thế giới là 72,3 tuổi.

    Hãy coi người cao tuổi là tài sản thay vì gánh nặng xã hội

    “Để tiến đến một xã hội già hóa thành công, chúng ta cần thay đổi nhận thức của toàn xã hội, coi người cao tuổi …

    Người dân Hàn Quốc khốn đốn vì vay nợ hộ gia đình

    Lee Sang-Kuk, một người lao động Hàn Quốc phải làm tới hai công việc cùng một lúc nhưng vẫn không thể kiếm đủ tiền để …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Nhật Bản
  • Sức Ép Dân Số Già Ở Nhật Bản
  • Bảng Kiểm Điểm Đảng Viên, Cá Nhân
  • Luận Văn Tiểu Luận Ô Nhiễm Môi Trường Ở Đắk Lắk
  • Kế Hoạch Cá Nhân Khắc Phục Hạn Chế, Khuyết Điểm Sau Kiểm Điểm Tự Phê Bình Và Phê Bình Năm 2022
  • Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Quyết Vấn Nạn Dân Số Già
  • Già Hóa Dân Số Tại Nhật
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Tại Việt Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giải Pháp Kinh Doanh Hiệu Quả Thời Khủng Hoảng (Phần 1)
  • Tổng quan dân số Nhật

    Nhật Bản là nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới

    Nhật Bản là một trong những quốc gia có tuổi thọ dân số trung bình cao nhất trên thế giới. Tại Nhật có hơn 58.000 người trên 100 tuổi làm cho đất nước này đứng đầu trên thế giới về số người sống thọ trên 80 tuổi. Sự trường thọ của những người Nhật Bản là do chế độ ăn uống lành mạnh, chuyên tâm tập luyện thể dục thể thao, cùng điều kiện sống trong lành, sạch sẽ.

    https://www.dkn.tv/suc-khoe/diem-danh-15-quoc-gia-co-tuoi-tho-cao-nhat-the-gioi-noi-dung-dau-dang-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong.html

    Phân bố độ tuổi của Nhật hiện nay

    Số liệu dân số của Nhật Bản theo độ tuổi (ước lượng):

    • 16.585.533 thanh thiếu niên < 15 tuổi (8.515.836 nam / 8.070.960 nữ)

    • 80.886.544 người từ 15 – 64 tuổi (40.787.040 nam / 40.099.504 nữ)

    https://danso.org/nhat-ban/

    Đặc điểm dân số Nhật Bản

    Độ tuổi lao động giảm dần

    Một trong những đặc điểm dân số của người dân Nhật đó là những người trong độ tuổi lao động giảm dần. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là do vấn đề già hóa dân số ở Nhật Bản. Vấn đề độ tuổi lao động giảm dần dẫn đến hệ lụy đó là tạo thành gánh nặng cho nền kinh tế khiến cho nước Nhật phải đau đầu giải quyết vấn đề này. Nguyên nhân già hóa dân số ở Nhật Bản là do số người cao tuổi đang ngày càng tăng.

    Tỷ lệ dân số phụ thuộc theo độ tuổi cao

    • Tổng tỷ lệ của dân số phụ thuộc tại Nhật Bản vào năm 2022 đó là 68,3%.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc:

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc là tỷ lệ của những người dưới độ tuổi lao động <15 tuổi so với lực lượng lao động ở một quốc gia nào đó.

    • Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc tại Nhật Bản hiện nay là 21,5%.

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc

    • Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc tại Nhật Bản là 46,8%.

    https://danso.org/nhat-ban/

    Tình trạng người cao tuổi chưa được nghỉ hưu

    Với vấn đề dân số già hóa ở Nhật dẫn đến nhiều hậu quả già hóa dân số ở Nhật đòi hỏi chính phủ nhật cần có các hành động triệt để, lâu dài. Mới đây thì chính phủ Nhật đã đề xuất dự thảo với mục tiêu đưa Nhật Bản nơi những người lao động từ 65 tuổi sẽ được khuyến khích nhằm giữ gìn sức khỏe, tiếp tục làm việc để giảm áp lực về lương hưu. Cùng theo dự thảo mới này thì cho phép người dân được trì hoãn thời điểm nghỉ hưu tới 70 tuổi và chính phủ cũng khuyến khích họ tiếp tục làm việc khi đã nghỉ hưu khi sức khỏe cho phép. Hiện nay độ tuổi nghỉ hưu chính thức ở Nhật là 65 tuổi nhưng thực tế các doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhà nước bắt đầu để lao động cao tuổi có quyền được chọn thời điểm nghỉ hưu từ 60 – 70 tuổi.

    Giải pháp

    Định hướng phát triển với quy mô dân số tầm trung

    Giải pháp già hóa dân số ở Nhật Bản đang được đất nước Nhật thực hiện đó là định hướng phát triển với dân số tầm trung. Định hướng này góp phần làm giảm dân số già ở Nhật.

    Tăng tỷ lệ sinh

    Một giải pháp nữa để khắc phục vấn đề già hóa dân số đó là tăng tỷ lệ sinh.Việc tăng tỷ lệ sinh ở Nhật cũng khiến cho dân số cân bằng hơn. Và hiện tại Nhật Bản đang tích cực thực hiện giải pháp này.

    Phụ nữ và người già tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động

    Vấn đề già hóa dân số ở Nhật đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế vì vậy giải pháp được đưa ra đó là những phụ nữ và người già phải tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động để giảm bớt gánh nặng này.

    Nâng cao năng suất lao động

    Hiện một giải pháp nữa đang được Nhật Bản tích cực thực hiện góp phần giải quyết vấn đề già hóa dân số đó là nâng cao năng suất lao động. Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tạo ra nhiều của cải hơn bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn lao động.

    Thu hút lao động nước ngoài

    Một giải pháp nữa cho nền kinh tế khi thiếu hụt nguồn nhân lực đó là thu hút lao động từ nước ngoài. Hiện nay thì Nhật Bản đang ngày càng có nhiều chính sách để giúp thu hút những người lao động từ nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Để Ngăn Chặn Phá Rừng?
  • Hoạt Động Đại Biểu Quốc Hội
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Đốt Rừng Làm Nương Rẫy
  • Trẻ Không Chịu Bú Bình Và Lời Khuyên Để Con Phát Triển Khỏe Mạnh
  • Giải Pháp Thông Minh Cho Bé Không Chịu Bú Bình
  • Già Hoá Dân Số: Giải Pháp Chính Sách Đối Với Già Hoá Dân Số Tại Châu Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục
  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Chủ Động Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Đối Mặt Với Già Hóa Dân Số Và Các Giải Pháp
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Già hoá dân số ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

    Quá độ nhân khẩu học

    Một hậu quả không thể tránh khỏi của giảm sinh nhanh và duy trì cải thiện mức tử vong là già hoá dân số. Nhiều nước trong khu vực ESCAP đang phải đối mặt với thách thức về số lượng và tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên) ngày càng tăng. Năm 2000, cứ 11 người thì có 1 người trong khu vực ở độ tuổi 60 trở lên. Tỷ lệ sẽ tiếp tục tăng 4/1 năm 2050. Tuy nhiên, có những khác biệt cơ bản về dân số già trong từng tiểu vùng.

    Trong một vài thập kỷ qua, mức sinh ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương đã giảm nhanh chóng. Tổng tỷ suất sinh giai đoạn 1950-1955 là 6 con/một phụ nữ đã giảm xuống 2,7 con giai đoạn 1995-2000. Tỷ lệ tử vong giảm một cách bền vững đã dẫn đến việc tăng dần tuổi thọ từ 40 tuổi giai đoạn 1950-1955 đến 66 tuổi giai đoạn 1995-2000, trong đó tuổi thọ của nữ cao hơn và tăng nhanh hơn nam giới .

    Bảng 1. Tỷ lệ phần trăm dân số trong các nhóm tuổi ở khu vực ESCAP

    Nguồn : Liên hợp quốc, 2002

    Sự khác biệt chính trong tiến trình già hoá đó là tốc độ già hoá tại Châu Á- Thái Bình Dương diễn ra nhanh hơn so với phương Tây. Chẳng hạn, để tăng gấp đôi tỷ lệ người 60 tuổi trở lên tại Thuỵ Điển, từ 7% lên 14% thì phải mất 114 năm. Trong khi đó đối với Sin-ga-po thì chỉ cần 18 năm và đối với các nước đông dân số như Trung Quốc và ấn Độ thì cần 25-28 năm. Như trong bảng 1 có thể thấy sự thay đổi nhanh về tỷ lệ dân số trong các nhóm dân số trẻ và dân số già giữa năm 2000 và năm 2050.

    Do dân số khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm trên 60% dân số toàn cầu và mức sinh đang giảm nhanh chóng, nên quy mô dân số cao tuổi hiện là một quan tâm chủ yếu.Theo dự báo của LHQ, đến năm 2025, ở Châu Á-Thái Bình Dương sẽ có 703 triệu người cao tuổi và sẽ tăng lên 1,2 tỷ vào năm 2050. Đây là một vấn đề trọng tâm về mặt chính sách công tại khu vực trong thế kỷ 21.

    Mặc dù có sự đa dạng rõ rệt trong xu hướng nhân khẩu học trong khu vực và tốc độ giảm sinh khác nhau trong khu vực, nhưng sẽ không có nước Châu á nào thoát khỏi tình trạng già hoá dân số trong thế kỷ này. Theo dự báo của LHQ, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên tại Châu á – Thái Bình Dương là 9%. Con số này sẽ tăng lên đến 15,4% vào năm 2025 và 23,5% vào năm 2050. Đến năm 2050, các nước trong khu vực Đông á, Đông Bắc á và Đông Nam á sẽ có tỷ lệ người 60 tuổi trở lên cao hơn: Trung quốc 29,9%, Hồng Kông 35,4%, Nhật Bản 42,3%, Hàn Quốc 33,2%, Sin-ga-po 35%, Thái Lan 27,1% và Việt Nam 23,5%.

    Tuy nhiên, sự thay đổi về tỷ lệ người cao tuổi sẽ rõ rệt hơn trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ này, năm 2040, nhóm dân số trẻ và nhóm dân số già sẽ gần bằng nhau. Ngoài việc tăng tỷ lệ người cao tuổi còn có sự khác biệt về giới trong tuổi thọ, dẫn đến tỷ lệ nữ trong nhóm tuổi từ 80 trở lên cao hơn nhiều so với nam giới . Việc giảm dân số ở độ tuổi lao động, việc tăng quy mô dân số người cao tuổi phụ thuộc và tình trạng nữ hoá dân số cao tuổi đang là những vấn đề nghiêm trọng buộc các nhà hoạch định chính sách phải quan tâm và đề ra các giải pháp cấp bách.

    Bảng 2: Tỷ lệ dân số cao tuổi chia theo giới trong khu vực ESCAP

    Nguồn: Liên hợp quốc, 2002

    Giới tính trong già hoá dân số

    Do tính trung bình phụ nữ sống lâu hơn nam giới nên ở châu á dân số già chủ yếu là nữ, đặc biệt là nữ trên 80 tuổi, nhiều người trong số họ là goá chồng và dễ bị rơi vào hoàn cảnh nghèo và mù chữ hơn nam giới. Mặc dù về mặt thể lực ốm yếu hơn nam giới nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục là người phải quán xuyến việc nhà và tiếp tục kiếm kế sinh nhai mà không hề được bảo vệ về mặt xã hội và pháp luật. Vị thế xã hội thấp, quyền sở hữu tài sản yếu hơn nam giới và sự tiếp cận hạn chế hơn đối với các tài sản thừa kế đã ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm kinh tế cho họ đặc biệt ở vào tuổi già .

    Tỷ số giới tính trong số những người cao tuổi cũng đang tăng lên cùng với sự thay đổi về cấu trúc tuổi. Tuy nhiên sự thay đổi này khác nhau theo từng khu vực. Những khác biệt này là do sự hạn chế trong việc tiếp cận đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, sự nghèo nàn về dinh dưỡng và nhìn chung là do vị thế kinh tế thấp hơn của phụ nữ ở hầu hết các nước Nam á.

    Tác động về mặt kinh tế – xã hội của già hoá dân số

    Trong 50 năm qua, Chính phủ các nước trong khu vực Châu á-Thái Bình Dương đã rất quan tâm đến vấn đề gia tăng dân số, đặc biệt là vấn đề kiểm soát mức sinh cao, cải thiện tuổi thọ và giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh. Do tuổi thọ tăng, các nước bắt đầu nhận thức được tác động về mặt kinh tế – xã hội của già hoá dân số và đề ra các kế hoạch hưu trí hợp lý, hệ thống chăm sóc sức khoẻ và an sinh xã hội, tạo ra các cơ hội kinh tế cho người cao tuổi và tăng cường hệ thống hỗ trợ để xoá bỏ bạo lực và phân biệt đối với người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ.

    Bảng 3: Tỷ số hỗ trợ tiềm năng (tuổi 15-64/65+) tại khu vực ESCAP

    Nguồn : Liên hợp quốc, năm 2002

    Mặc dù có sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, hầu hết các nước châu á vẫn duy trì truyền thống người cao tuổi sống cùng với các thành viên trong gia đình. Người cao tuổi thường giúp đỡ gia đình con cái họ các công việc như trông nom các cháu và họ thường là người chăm sóc. Tuy nhiên, họ vẫn bị phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài, đặc biệt khi gia đình của họ có nguồn thu nhập thấp và không chắc chắn. Chính phủ các nước cần phải khẩn trương xây dựng các hệ thống bảo đảm xã hội rộng lớn hơn, đặc biệt là an sinh tuổi già. Tại khu vực ESCAP, tỷ số hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm từ 11 năm 2000 xuống 4 năm 2050, rõ rệt nhất ở khu vực Đông Nam á và Trung Nam Á.

    Do tỷ lệ phụ thuộc tuổi già ngày càng tăng ở tất cả các nước trong khu vực, nên trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi sống phụ thuộc ngày càng đè nặng lên vai dân số ở độ tuổi lao động (dưới hình thức thuế cao hơn và các đóng góp khác). Với sự hỗ trợ cần thiết của Chính phủ và xã hội, người cao tuổi vẫn có thể có những đóng góp tích cực về mặt kinh tế nếu kinh nghiệm và kỹ năng của họ được khai thác một cách có hiệu quả. Ngoài ra, họ còn là yếu tố kết nối quan trọng trong gia đình khi cấu trúc gia đình đang bị xói mòn nhanh chóng. Mặt khác, nếu người cao tuổi bị từ chối tiếp cận về mặt kinh tế khi họ còn đủ sức khoẻ thì nó sẽ có tác động ngược trở lại đến phúc lợi của chính họ và của gia đình họ. ở góc độ xã hội, lực lượng lao động thu nhỏ và số lượng người cao tuổi phụ thuộc tăng lên sẽ có nghĩa là giảm sút về thu nhập tính theo đầu người, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và năng suất cũng như việc tăng chi tiêu công cho an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi của người cao tuổi. Những vấn đề này cần phải được xem xét trong chính sách và các kế hoạch phát triển quốc gia.

    Các chính sách và chương trình hiện nay đối với người cao tuổi: những thực tiễn tốt nhất

    Một số nước Châu Á đang nỗ lực xây dựng và thực hiện các chính sách và các chương trình cải thiện điều kiện sống và chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi. Những nỗ lực đó bao gồm các chính sách tăng cường đảm bảo thu thập và chăm sóc cho người cao tuổi. Hiện nay, tư liệu về các chính sách cũng như thực tiễn tốt nhằm đảm bảo thu nhập và chăm sóc cho người cao tuổi vẫn còn hạn chế. Các tổ chức như Vụ các vấn đề kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc, ESCAP và các Uỷ ban khác của khu vực, Quỹ Dân số Liên hợp quốc và nhiều tổ chức phi chính phủ khác đã phát động nhiều chương trình nhằm giải quyết nhu cầu của người cao tuổi cũng như thu thập và biên soạn các tài liệu về các thực tiễn tốt nhất. Năm 2001, Ban Thư ký ESCAP đã biên soạn một bản trích yếu gồm những thực tiễn hay nhất trong việc hỗ trợ cho người cao tuổi. Gần đây, UNFPA đã hợp tác với Trường Đại học Co-lum-bi-a đưa ra một sáng kiến xây dựng năng lực ở các nước đang phát triển để hưởng ứng những kiến nghị trong Kế hoạch hành động Madrid 2002 đối với vấn đề già hoá.

    Sự tham gia của cộng đồng

    Các nhà lập kế hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu đã chú trọng đến nhu cầu đảm bảo và tạo cơ hội cho việc lồng ghép và tham gia xã hội của người cao tuổi trong cộng đồng địa phương của họ để tạo ra lòng tự tin và đảm bảo về mặt tâm lý cho người cao tuổi. ở một số nước châu á các hiệp hội người cao tuổi quản lý các trung tâm cộng đồng đáp ứng các nhu cầu của người già. Đối với đạo Hồi thì các dịch vụ ở nhà thờ Hồi Giáo được tổ chức các hoạt động cộng đồng như một nơi trung tâm cho người già. Các tổ chức tín ngưỡng này trở thành điểm tụ hội để trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin của người cao tuổi.

    Bảo đảm thu nhập

    Tại hầu hết các nước châu á, nơi mà các nguồn bảo đảm về mặt xã hội cũng như hệ thống tiền lương để bảo vệ cho tuổi già còn hạn chế và hầu như là không có thì hầu hết người cao tuổi phụ thuộc vào khu vực phi chính thức để tạo thu nhập. Trong hoàn cảnh đó, các chương trình tín dụng nhỏ của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức dựa trên cơ sở cộng đồng có nhiều tác động tốt. Theo cách này, người cao tuổi đang giữ một vai trò kinh tế và xã hội mới.

    Chăm sóc sức khoẻ

    Để giải quyết việc thiếu các cơ sở chăm sóc sức khoẻ công cộng dành cho người cao tuổi ở một số nước châu á, nhiều tổ chức phi chính phủ đã xây dựng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trọn gói, như Philíppin đào tạo những người cao tuổi thành “các nhà lão khoa cộng đồng”. Tổ chức HelpAge của ấn Độ mở rộng dịch vụ qua các trạm xá lưu động cho người cao tuỏi và những người tàn tật. ở Karachi, Pakistan, một tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không mất tiền cho những người cao tuổi túng thiếu. Tổ chức Tsao của Singapo đã cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đồng bộ cho người cao tuổi có thu nhập thấp.

    Hỗ trợ của gia đình và cùng chung sống

    Tại hầu hết các nước trong khu vực Châu á – Thái Bình Dương gia đình vẫn là nền tảng của cơ cấu xã hội, trong đó việc chăm sóc người cao tuổi là trách nhiệm đặc biệt của gia đình. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đô thị hoá, di cư và xu hướng ngày càng tăng của các gia đình hạt nhân, việc thu xếp cùng chung sống với người cao tuổi đang ngày càng trở thành vấn đề khó khăn. Để giải quyết xu hướng đang thay đổi này trong cấu trúc gia đình, nhiều chính phủ và các tổ chức quốc tế đã xây dựng nhà ở và các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng cho người cao tuổi. Nhìn chung trong toàn khu vực, chính phủ các nước một mặt ngày càng chú trọng đến việc sắp xếp tổ chức các giải pháp dành cho người cao tuổi, mặt khác tiếp tục tăng cường và đẩy mạnh hệ thống hỗ trợ gia đình truyền thống.

    Các khuyến nghị hành động

    Tiến tới một xã hội cho mọi lứa tuổi

    Mặc dù các nước trong khu vực châu á -Thái Bình Dương ở vào các giai đoạn phát triển khác nhau và có cấu trúc kinh tế và xã hội khác nhau nhưng đều có thể có được lợi ích từ việc sớm thực hiện các kiến nghị trong Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi tại Madrid. Các nước trong khu vực ESCAP cần xem xét sự tương đồng và sự khác biệt của tình hình mỗi nước đối với điều kiện sống của người cao tuổi để xây dựng kế hoạch thực hiện trong khu vực. Mỗi nước cần xây dựng kế hoạch hoạt động quốc gia dựa trên thực tiễn tình hình người cao tuổi của nước mình. Đối với vấn đề này, việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm và thực hành tốt nhất thông qua cơ chế hợp tác Nam-Nam sẽ đem lại nhiều giá trị to lớn.

    Vai trò của gia đình

    Tại hầu hết các nước châu á, gia đình vẫn là nơi chăm sóc chính đối với người cao tuổi. Tuy nhiên áp lực đối với gia đình sẽ ngày càng lớn do số lượng người cao tuổi ngày càng tăng và sẽ tồn tại các hộ gia đình có nhiều thế hệ sống cùng nhau.

    Sự gia tăng số người nhiễm HIV/AIDS đang tác động bất lợi đến người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ vì họ buộc phải chăm sóc các con đã trưởng thành bị HIV/AIDS và các cháu mồ côi. Ngoài ra, do hậu quả của nghèo đói, nguồn lực kinh tế của các gia đình đó trở nên ít ỏi. Sự thay đổi mô hình cấu trúc gia đình, di cư từ nông thôn ra thành thị, phụ nữ đi làm ngoài hộ gia đình và quy mô gia đình nhỏ hơn đang ngày càng làm xấu đi tình hình này. Trước tình trạng này, cần phải xem xét lại vai trò chăm sóc người cao tuổi của gia đình. Chính phủ các nước cần tiến hành các giải pháp chính sách phù hợp và phê chuẩn các kế hoạch khuyến khích vật chất nhằm hỗ trợ và củng cố gia đình để đáp ứng được thách thức này.

    Hệ thống hỗ trợ dựa trên cơ sở cộng đồng

    Hỗ trợ cộng đồng là rất quan trọng đối với phúc lợi của người cao tuổi. Môi trường kinh tế xã hội đóng vai trò then chốt trong vấn đề này. ở một số nước đã phát triển trong khu vực ESCAP, bên cạnh cấu trúc dịch vụ công cộng rất phát triển, còn có các hỗ trợ thêm ngoài hỗ trợ của gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, hầu hết các nước trong khu vực đều thiếu khung hỗ trợ công cộng như vậy. Do vậy, cần phải có các can thiệp của chính phủ cùng với các tổ chức dân sự để tăng cường và bổ sung hỗ trợ thông qua các chương trình dựa trên cơ sở cộng đồng dành cho người cao tuổi.

    Vai trò của các chính phủ

    Chính phủ các nước cần đưa ra các chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp để giải quyết nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi. Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi tại Madrid đã nhấn mạnh: Chính phủ các nước có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các kiến nghị của Kế hoạch hành động quốc tế về người cao tuổi tại Madrid. Bước đầu tiên trong việc thực hiện thành công Kế hoạch hành động này là đưa các vấn đề về người cao tuổi và các mối quan tâm của họ vào chiến lược phát triển quốc gia và các chiến lược xoá đói giảm nghèo.

    Vai trò của các tổ chức phi chính phủ

    Các tổ chức phi chính phủ tại nhiều nước trong khu vực đã có nhiều sáng kiến trong việc hỗ trợ người cao tuổi. Tuy nhiên, phạm vi và chất lượng của các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ khác nhau theo từng khu vực và trong nhiều trường hợp các hoạt động của họ phần lớn thực hiện ở vùng đô thị trong khi phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn lại là đối tượng cần được hỗ trợ nhiều hơn; do vậy, cần lưu ý vấn đề này.

    Mặc dù chính phủ các nước chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện các kiến nghị của Kế hoạch hành động Madrid về người cao tuổi nhưng chính phủ các nước cũng cần phải hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân.

    Xây dựng năng lực và phát triển thiết chế

    Nhu cầu và các mối quan tâm của người cao tuổi cần được nêu trong các chính sách và chiến lược ở các cấp quốc gia, khu vực và ở địa phương. Chính phủ các nước, các đối tác phát triển quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực châu á và Thái Bình Dương cần đầu tư vào việc tăng cường xây dựng năng lực của các tổ chức trong cộng đồng để đảm bảo hỗ trợ cho các nhóm người cao tuổi bị thiệt thòi nhất, đặc biệt là những người cao tuổi nhất, phụ nữ cao tuổi và những người không có sự hỗ trợ nào của gia đình.

    Giám đốc điều hành Quỹ dân số Liên hợp quốc, bà Thoraya Obaid, đã nhấn mạnh và đưa ra khuyến nghị mạnh mẽ tại Hội nghị Thế giới lần thứ II về già hoá tại Madrid năm 2002 như sau:

    Những vấn đề già hoá dân số phải là trọng tâm của chương trình nghị sự phát triển toàn cầu. Ngày nay, người cao tuổi là nhóm dân số đang tăng nhanh nhất trên thế giới và cũng nghèo nhất. Hiện tại cứ 10 người thì có 1 người ở độ tuổi 60 trở lên, song tỷ lệ này sẽ tăng lên 5/1 người cao tuổi vào năm 2050. Trong thế giới đang phát triển có tới 400 triệu người ở độ tuổi 60 trở lên mà chủ yếu là phụ nữ và con số này dự báo sẽ tăng rất mạnh trong thập kỷ tới. Chúng ta cần đáp ứng các yêu cầu của người cao tuổi hiện sống và lập kế hoạch đáp ứng các nhu cầu của họ ngày mai,

    Tăng cường chăm sóc lão khoa

    Trong khu vực châu á và Thái Bình Dương, trừ một số nước ở Đông á và Đông Nam á, hầu hết các nước không có dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đặc biệt hoặc cơ sở chăm sóc y tế có sẵn cho người cao tuổi. Chăm sóc lão khoa cần được coi là một trong những thành phần chính trong chương trình chăm sóc sức khoẻ dành cho người cao tuổi. Do dân số châu á sẽ trở nên già hơn trong nhiều năm tới nên nguy cơ bệnh tật và tàn tật sẽ tăng lên, đòi hỏi phải có các can thiệp và hệ thống hỗ trợ kịp thời. Chăm sóc lão khoa không nhất thiết phải đặt tại bệnh viện. Cần tăng cường và hỗ trợ để chăm sóc lão khoa tại cộng đồng và gia đình.

    Xây dựng cơ sở dữ liệu

    Nhiều nước đang phát triển thiếu các dữ liệu tin cậy về người cao tuổi. Thông thường tổng điều tra dân số và nhà ở cung cấp các dữ liệu về cơ cấu tuổi tác, giới tính của người cao tuổi, nhưng lại không chú ý nhiều đến thu thập các dữ liệu về hoàn cảnh kinh tế – xã hội, điều kiện sức khoẻ, nơi ở và sinh kế của người cao tuổi. Do vậy, cần thiết lập các hệ thống cơ sở dữ liệu trong đó có các điều tra, nghiên cứu thực tế và số liệu thống kê từ nhiều nguồn khác nhau về người cao tuổi ở nhiều cấp khác nhau như cấp quốc gia, cấp vùng và cấp cơ sở. Những cơ sở dữ liệu này không chỉ tạo điều kiện cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình quốc gia dành cho người cao tuổi mà còn tạo điều kiện cho các nước tuân thủ và giám sát việc thực hiện Kế hoạch hành động quốc tế Madrid về người cao tuổi.

    ESCAP cần dẫn đầu trong việc thiết lập các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về người cao tuổi. ESCAP cũng cần phải tăng cường nghiên cứu định tính về mặt văn hoá – xã hội để giải quyết nhu cầu và các vấn đề nhạy cảm của người cao tuổi cũng như xem xét ý kiến của chính họ đối với việc đề ra các chính sách và các chương trình phù hợp.

    Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

    Việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) một cách có hệ thống có thể đem lại nhiều dịch vụ và các chương trình hỗ trợ khác cho người cao tuổi. Tại nhiều nước châu á, nhiều người cao tuổi sống ở vùng sâu vùng xa ở nông thôn thường không tiếp cận được đến các dịch vụ. Do vậy, cần có những sáng kiến sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để cải thiện môi trường sống cho người cao tuổi.

    Những thách thức phía trước

    Một thách thức chủ yếu đối với các nhà hoạch định chính sách là việc tránh coi người cao tuổi như là một “vấn đề”. Cần tăng chi tiêu công cho người cao tuổi. Mục tiêu cần đạt là phải có được một xã hội cho mọi lứa tuổi. Thách thức đặt ra trước mắt là phải sử dụng nguồn lực đa dạng và ngày càng phát triển của người cao tuổi trong các xã hội đang có chuyển biến nhanh chóng ở châu á và Thái Bình Dương.

    Trong khi các nước Đông á và Đông Nam á đã trải qua quá độ nhân khẩu học và đang phải đương đầu với tỷ lệ gia tăng số người cao tuổi thì một số nước ở Nam á vẫn đang trải qua chế độ mức sinh cao; do vậy, đối với các nước này phải một hoặc hai thập kỷ nữa mới phải đương đầu với vấn đề người cao tuổi. Trong bối cảnh này, ESCAP có thể tạo điều kiện để các nước trong khu vực Châu á và Thái Bình Dương học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau giúp cho các nước có những chuẩn bị tốt hơn khi tiến trình lão hoá không thể tránh khỏi sẽ xảy ra vào giữa thế kỷ này.

    Có một yêu cầu rất cấp bách là phát triển các thiết chế cũng như năng lực quốc gia như việc hình thành và duy trì các chương trình lão khoa và xây dựng các nhóm chính sách để dự báo, tìm hiểu và lập kế hoạch cho các nhu cầu đang gia tăng của người cao tuổi ở các nước này. Với sự giúp đỡ của các cơ quan tài chính, các chương trình của ESCAP nên xây dựng một chương trình khu vực để hỗ trợ các nước thành viên giải quyết những vấn đề này.

    Theo M.Nizamuddin* Báo cáo chuẩn bị cho Hội nghị Dân số Châu Á – Thái Bình Dươnglần thứ V, Bangkok 11-14/12/2002/ Vũ Quang Thống(lược dịch theo tài liệu của Hội nghị)

    Tạp chí Dân số & Phát triển, website Tổng cục Dân số & KHHGĐ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Để Đảm Bảo Sản Xuất Nông Nghiệp Bền Vững Ở Tây Nguyên
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Ứng Phó Với Thực Trạng “già Hóa Dân Số”

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Dân Số Của Trung Quốc Nhằm Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Giải Pháp Chăm Sóc Sức Khỏe Và Thực Hiện Bhyt Toàn Dân Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Bài Toán “chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số”
  • Trung Ương Hội Nct Việt Nam: Trao Tặng Huy Hiệu 40 Năm Tuổi Đảng Và Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 10 Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa Xii; Nghe Giới Thiệu Một Số Giải Pháp Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Ứng Phó Với Thách Thức Già Hóa Dân Số: Tuổi Thọ Cao
  • Các chuyên gia về dân số khẳng định, nếu chúng ta không kịp thích ứng, không có mô hình chăm sóc người cao tuổi (NCT) phù hợp, sẽ rất khó khăn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việc chăm sóc và tạo điều kiện sống tốt nhất cho NCT là trách nhiệm của xã hội, cộng đồng, gia đình; đặc biệt trở nên cần thiết trong một xã hội bước vào thời kỳ dân số già.

    Ngày 6/9, tại Hà Nội, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam phối hợp với Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) và Tổ chức Hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (HelpAge) đã tổ chức buổi tọa đàm “Tiến tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Việt Nam”. Buổi tọa đàm được tổ chức hướng tới kỷ niệm ngày Quốc tế Người cao tuổi 1/10/2019 nhằm trình bày thực tiễn tình hình già hóa dân số; quyền y tế và tiếp cận chăm sóc sức khỏe toàn dân cho NCT; công tác chăm sóc và tiếp cận các dịch vụ xã hội cho NCT cũng như các chính sách và tình hình thực hiện chăm sóc sức khỏe NCT.

    Dân số Việt Nam đang già hóa với tốc độ nhanh chóng.

    Tốc độ “già hóa” chưa từng có

    Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011 với tỷ lệ NCT chiếm 10% dân số và là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Tính đến tháng 8/2018, cả nước có 11.313.200 NCT, chiếm khoảng 11,95% trong tổng dân số. Theo dự báo đến năm 2038, NCT chiếm 20% tổng dân số. Điều này sẽ đặt ra những thách thức lớn cho việc đảm bảo hạ tầng an sinh xã hội để đáp ứng đủ nhu cầu của một xã hội già hóa dân số nhanh chóng, trong khi còn nhiều người đang sống ở mức nghèo, cận nghèo…

    BS.Vũ Đình Huy – Chuyên gia tư vấn – Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam cho biết: NCT chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong hầu hết các xã hội. Hiện nay, chỉ có Nhật Bản có tỷ lệ người già vượt quá 30%, nhưng đến 2050, hầu hết các nước không chỉ châu Âu, Bắc Mỹ, mà còn Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Chi lê, Thái Lan và Việt Nam đều đạt đến con số này. Do đó phải cân nhắc đến việc chăm sóc sức khỏe cho NCT nếu muốn đạt tham vọng “Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân” của WHO và mục tiêu “Không ai bị bỏ lại phía sau” của Liên hợp quốc.

    Bệnh tật kép, tăng nhanh số người có bệnh không lây nhiễm

    Tại Việt Nam, tuổi thọ trung bình đạt 73,4 nhưng nhiều NCT có sức khỏe kém, trung bình có 3-4 bệnh, rất ít NCT được khám bệnh định kỳ (27,5%), đa số NCT nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ, thường chỉ khi bị bệnh nặng mới đi khám, vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn. Bệnh tật NCT có xu hướng bệnh tật kép, chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và mạn tính như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư, hen suyễn,… phải điều trị suốt đời, dẫn tới chi phí chăm sóc cao.

    NCT Việt Nam chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp, đời sống vật chất của NCT Việt Nam còn nhiều khó khăn. Nếu trước đây, có 72,3% NCT sống với con cháu (chỗ dựa quan trọng cho NCT), thì nay do xu hướng quy mô gia đình Việt Nam đang chuyển dần từ gia đình truyền thống sang gia đình hạt nhân, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 60%. Vẫn còn tới 68% NCT (chủ yếu sống ở nông thôn) không có tích lũy, không có lương và trợ cấp. Sự biến đổi này tạo ra thách thức lớn, đòi hỏi phải xây dựng chính sách chăm sóc NCT dựa trên cộng đồng và các nhân tố khác thay thế gia đình.

    Về vấn đề chăm sóc NCT, hệ thống y tế – lão khoa chưa đầy đủ, trang thiết bị còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ y tế chưa đáp ứng nhu cầu để giải quyết các bệnh đặc trưng của NCT. Cả nước mới có 1 Bệnh viện Lão khoa Trung ương; gần 100 bệnh viện tỉnh có khoa lão nhưng điều kiện trang thiết bị chất lượng khám chữa bệnh chưa đáp ứng.

    Tại buổi tọa đàm, theo các chuyên gia, thích ứng với già hóa dân số cần được coi là một vấn đề ưu tiên và đòi hỏi phải có các biện pháp kịp thời để chuẩn bị cho xã hội già trong tương lai không xa. Sự phân biệt tuổi tác khiến NCT thường có cảm giác tiêu cực, thấy bản thân kém hiệu quả, có nguy cơ gia tăng bệnh tật và dễ bị cô lập, tổn thương về mặt xã hội. Do đó, để già hóa một cách tích cực, điều quan trọng là phải chấm dứt được sự phân biệt tuổi tác; tăng cường truyền thông thay đổi nhận thức, giáo dục giới trẻ để xóa bỏ kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo lực đối với NCT.

    Thúy Huyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Đề Án Chăm Sóc Sức Khỏe Người Cao Tuổi
  • Già Hóa Dân Số Đe Dọa Tương Lai Của Hàn Quốc
  • Vật Lộn Với Dân Số Già, Nhật Cảnh Báo Các Nước Trước Khi Quá Muộn
  • Kinh Tế Nhật Bản Trước Vấn Đề Dân Số Già
  • Giải Pháp Hành Động Khắc Phục Tình Trạng Thừa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Sinh 2013: Ngành Sư Phạm Ngày Càng Dư Thừa Nhân Lực
  • Giải Quyết Bài Toán Thừa Người Thiếu Việc Của Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Ngành Sư Phạm Bắt Đầu Dư Thừa Nhân Lực
  • Luận Văn Giải Pháp Duy Trì Nguồn Nhân Lực Tại Công Ty
  • Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Duy Trì Nguồn Nhân Lực Tại Công Ty Tnhh Dược Mỹ Phẩm Innopha
  • Giải pháp hành động khắc phục tình trạng thừa – thiếu nhân viên

    CÁC GIẢI PHÁP HÀNH ĐỘNG ĐỂ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THIẾU NHÂN LỰC

    Có nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực với những ưu nhược điểm gắn liền với từng giải pháp. Vấn đề là công ty quyết định giải pháp nào tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của công ty. Các giải pháp có thể là:

    -Sử dụng các giải pháp hỗ trợ khác để khắc phục tình trạng thiếu hụt nhân lực.

    – tuyển dụng ồ ạt hoặc chọn lọc.

    -Điều chỉnh chính sách tiền lương mang tính kích thích cao.

    -Cải thiện điều kiện lao động để nâng cao hiệu suất làm việc.

    -Phát triển hệ thống đào tạo , đề bạt để kích thích nhân viên.

    -Điều chỉnh các mục tiêu của tổ chức.

    tuyển dụng thêm sẽ phức tạp vì vậy khi thiếu hụt nhân lực các nhà quản trị nghĩ ngay đến các giải pháp hỗ trợ khác. Các giải pháp hỗ trợ khác thường được sử dụng là:

    1.Giải pháp giờ phụ trội ( hay còn gọi là tăng giờ, tăng ca)

    Giải pháp này thường được áp dụng khi sản xuất hay dịch vụ vào mùa cao điểm hay khi công ty ký kết được các hợp đồng ngắn hạn.

    Đặc điểm của giải pháp này là tiền lương trả cho giờ phụ trội thường cao hơn so với bình thường.

    Hạn chế của giải pháp này:

    -Khó có thể áp dụng trong một thời gian dài (vì sức khỏe và luật định không cho phép).

    -Nếu thực hiện trong một gian dài sẽ không hiệu quả.

    -Công nhân sẽ mệt mỏi và làm việc thiếu nhiệt tình khi quay về với chế độ làm việc bình thường.

    -Lạm dụng quá mức có thể dẫn đến tranh chấp xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động.

    2. Giải pháp hợp đồng gia công:

    Hợp đồng gia công là ký kết hợp đồng với các công ty khác nhằm sản xuất sản phẩm cho mình. Giải pháp này sẽ có lợi cho đôi bên nếu được thực hiện trong một thời gian dài.

    Hạn chế:

    – Có thể làm cho công ty bị động.

    – Làm tăng thêm sức mạnh cạnh tranh cho đối thủ

    3. Giải pháp thuê tuyển nhân công tạm thời:

    Giải pháp này thường được áp dụng khi sản xuất vào mùa vụ, trong các giai đoạn chuyển đổi mùa.

    Hạn chế:

    – Những nhân công tạm thời thường có chuyên môn kém.

    – Có thể họ làm việc thiếu nhiệt tình.

    4. Thuê lao động từ những công ty cho thuê:

    Ưu điểm của giải pháp này:

    -Các nhân công này thường có chuyên môn và tính kỷ luật cao hơn so với lao động tạm thời.

    Hạn chế:

    -Các lao động thuê thường không được hưởng những lợi ích mang tính phúc lợi của công ty mình phục vụ nên có tâm lý chán nản.

    -Các công ty cho thuê đôi khi không thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm lợi ích cho nhân viên của mình (BHXH, BHYT)

    CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THỪA NHÂN VIÊN :

    Về cơ bản những giải pháp khắc phục tình trạng thừa nhân viên sẽ bao gồm:

    -Điều chỉnh các mục tiêu của tổ chức

    -Phân bố lại nhân sự (sử dụng nhân sự dư thừa vào các bộ phận khác bằng việc tái đào tạo).

    -Giảm thời gian làm việc

    -Cho nghỉ việc tạm thời

    -Chính sách giảm biên chế

    Chính sách giảm biên chế thường bao gồm các chính sách cụ thể sau:

    &Middot;Khuyến khích về hưu sớm

    &Middot;Trợ cấp cho thôi việc

    &Middot;Cho các doanh nghiệp khác thuê lại nhân công

    &Middot;Sa thải

    Trong thực tế có quá nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài có thể ảnh hưởng đến nhu cầu nhân lực của tổ chức, nên việc hoạch định một cách chính xác nhu cầu nhân lực cho tổ chức là điều không dễ dàng. Điều quan trọng ở đây là các nhà quản trị nguồn nhân lực phải cảm nhận được sự thay đổi của môi trường kinh doanh ảnh hưởng như thế nào đến nguồn nhân lực của tổ chức. Cần tăng cường sự tham gia của những người quản lý ở các cấp vào tiến trình hoạch định nguồn nhân lực nhằm giúp họ ý thức được tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn NL cho tổ chức.

    P5media.Vn

    Xây dựng đội nhóm dưới góc nhìn của quản trị nhân sự

    Mô hình làm việc theo nhóm có thể thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự phối hợp, hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, từ đó tạo ra những giải pháp mới cho mọi vấn đề khó khăn. Những kỹ năng và sự hiểu biết của cả nhóm có ích lợi lớn đối với từng cá nhân. Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất của mô hình đội nhóm là tận dụng mọi nguồn lực chung của nhóm. Kỹ năng của mỗi cá nhân và sự tự giám sát của nhóm sẽ tạo điều kiện cho việc hoàn thành mục tiêu một cách tốt nhất. Thậm chí, với những vấn đề có thể được xử lý bởi một cá nhân, thì việc giao cho đội nhóm giải quyết vẫn có những ích lợi riêng: thứ nhất là việc tham gia của nhóm sẽ tăng khả năng quyết định và thực hiện, thứ hai là có những vấn đề mà nhóm sẽ có khả năng phân tích rõ hơn chỉ một cá nhân riêng lẻ.

    Vì những lợi ích như vậy, nên việc xây dựng và phát triển nhóm là một nhiệm vụ rất quan trọng. Thông thường, quá trình phát triển của một nhóm trải qua các giai đoạn: hình thành, xung đột, bình thường hoá và cuối cùng là thực hiện.

    Giai đoạn thứ nhất là khi mọi người tập hợp thành một nhóm. Trong giai đoạn này, các thành viên tỏ ra giữ ý, khiêm nhường và có phần hơi lạnh nhạt. Mâu thuẫn hiếm khi bùng phát do chủ yếu mọi hoạt động còn mang tính chất cá nhân. Mỗi cá nhân sẽ đều có ý kiến riêng và nhìn chung đều dè dặt. Dường như không ai chứng tỏ được khả năng làm lãnh đạo của nhóm.

    Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn làm đau đầu các cấp lãnh đạo. Đây là thời kỳ bắt đầu hình thành bè cánh, có sự xung đột giữa các tính cách trái ngược nhau, không ai chấp nhận ý kiến của người khác mà chưa có cuộc tranh cãi gay gắt trước đó. Đặc biệt là có rất ít sự giao tiếp giữa các thành viên, vì không ai sẵn sàng nghe người khác nói cũng như không chịu mở lòng với người khác. Cuộc chiến tranh ngầm này mang tính cực đoan với những lời châm chọc, công kích có ý nghĩa sâu xa.

    Giai đoạn cuối cùng là thực hiện nhiệm vụ của nhóm. Đây là giai đoạn nhóm làm việc nhiệt tình, tích cực và hiệu quả nhất. Nhóm ổn định thành một hệ thống có tổ chức, nền tảng của việc trao đổi ý kiến một cách tự do và thẳng thắn. Đây cũng là giai đoạn nhóm đạt được những mục tiêu chủ yếu và là công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho tổ chức.

    Những kỹ năng cần thiết của nhóm

    Một nhóm cần bao gồm hai kỹ năng là kỹ năng quản lý và kỹ năng tương tác cá nhân. Để phát huy hiệu quả làm việc theo nhóm, bạn cần tập hợp được cả hai kỹ năng này. Một nhóm phải thực hiện hầu hết các nhiệm vụ như tổ chức các cuộc họp, quyết định ngân sách, lập các kế hoạch chiến lược, các mục tiêu và giám sát việc thực hiện. Sẽ là điều không tưởng khi hi vọng một cá nhân đảm nhận mọi trách nhiệm quản lý nhóm mà không có sự hỗ trợ nào từ các thành viên khác. Là một tập hợp các cá nhân khác nhau, nhóm còn cần phải học các cách ứng xử và các kỹ năng quản lý con người.

    Để nhóm có thể phát triển tốt và phát huy tác dụng của nó, bạn có thể tham khảo một số gợi ý sau đây.

    Trước hết, nhóm cần có tâm điểm. Hai tâm điểm chính là nhóm và nhiệm vụ được giao. Nếu cần quyết định một vấn đề, nhóm sẽ quyết định. Nếu có vướng mắc, nhóm sẽ giải quyết. Nếu một thành viên không đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, nhóm sẽ yêu cầu thay thế. Khi mâu thuẫn cá nhân tăng lên, nhóm cần xem xét vấn đề từ khía cạnh ảnh hưởng của mâu thuẫn đó tới những nhiệm vụ được giao cho mỗi cá nhân. Nhưng nếu nhóm thiếu sự tổ chức và mục đích cụ thể, thì khi đó trách nhiệm lại thuộc về cấp lãnh đạo và chủ đầu tư.

    Thứ hai là cần có sự minh bạch rõ ràng về mục tiêu chính của dự án. Trong bất kỳ trường hợp nào, nhóm cũng phải giải thích rõ ràng và cụ thể nhằm đảm bảo mọi người đều hiểu rõ về điều đó.

    Mặt khác, nhóm cũng cần có sự phản hồi trong mọi hoạt động của các cá nhân. Mọi sự phê bình phải mang tính công bằng và khách quan, tập trung vào nhiệm vụ mà họ thực hiện chứ không phải cá nhân họ. Những sai phạm cần được chỉ ra rõ ràng và kịp thời. Sẽ rất có ích nếu trưởng nhóm đưa ra sự phản hồi một cách thường xuyên, đặc biệt đối với lỗi lầm, dù là nhỏ nhất. Điều này sẽ làm giảm đi những tác động tiêu cực của sự sai lầm khi mọi việc đã trở nên quá muộn. Còn với các trường hợp làm việc tốt, trưởng nhóm nên khen ngợi và đánh giá cao. Điều đó sẽ khuyến khích mọi người làm việc tốt hơn.

    Một điều cũng rất cần thiết khi làm việc trong nhóm là chủ động giao tiếp với mọi người. Giao tiếp là trách nhiệm của cả người nói lẫn người nghe. Người nói phải chủ động tìm cách diễn đạt ý kiến một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất, còn người nghe thì chủ động tìm cách hiểu ý của người nói và nếu có thắc mắc thì nên hỏi lại kỹ hơn. Tóm lại, cả hai cần đảm bảo ý kiến sẽ được diễn đạt một cách đầy đủ và chính xác.

    Mô hình đội nhóm mang lại nhiều ích lợi, nhưng cũng là phong cách làm việc khó khăn đối với mọi người. Đội nhóm là một mối quan hệ, vì vậy bạn cần phải gìn giữ và củng cố nó. Một khi mọi người trong nhóm có trách nhiệm với mục tiêu chung, họ sẽ tạo thành một động lực lớn cho sự phát triển. Bên cạnh đó, thời gian và nguồn lực cần được phân bổ hợp lý trong nhóm, quy trình thực hiện của nhóm cần được thiết lập, giám sát và xem xét cụ thể.

    Quantri.Vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Ngành Nào Đang Thiếu Hụt Và Dư Thừa Nhân Lực?
  • Dạy Học Trực Tuyến: Mạnh Ai Nấy Làm
  • Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Dạy Học Trực Tuyến Trong Nhà Trường Phổ Thông
  • Khắc Phục Những Khó Khăn Khi Dạy Học Trực Tuyến
  • Giải Pháp Đào Tạo Trực Tuyến
  • Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số?

    --- Bài mới hơn ---

  • Già Hoá Dân Số: Giải Pháp Chính Sách Đối Với Già Hoá Dân Số Tại Châu Á
  • Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục
  • Vấn Đề Già Hóa Dân Số Ở Các Nước Phát Triển
  • Chủ Động Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số
  • Đối Mặt Với Già Hóa Dân Số Và Các Giải Pháp
  • Nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Ảnh: DN

    Khái quát bức tranh dân số Việt Nam thời gian qua, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cho biết, từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,5 tuổi năm 2022, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

    Tuy nhiên, Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa dân số với tỷ trọng và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Điều này đã đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với già hóa dân số, trong đó có bao gồm việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

    Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, với tốc độ già hóa như hiện nay, đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 trở lên của nước ta sẽ khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Cũng từ năm 2038, số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm. Các chuyên gia nhấn mạnh, xu hướng già hóa là tất yếu, chính vì vậy cần có những can thiệp chính sách kịp thời để duy trì cơ cấu dân số hợp lý.

    Các chuyên gia thừa nhận, quá trình già hóa dân số, nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi ngày càng tăng, là một thách thức rất lớn với hệ thống an sinh xã hội, hệ thống y tế và cộng đồng khi hiện nay chúng ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để ứng phó.

    Thống kê của ngành Y tế cho thấy, phần lớn người cao tuổi có cuộc sống khó khăn, thu nhập thấp, không ổn định hoặc không có thu nhập, sống phụ thuộc vào con, cháu… Số người cao tuổi có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng.

    Hiện nay, khoảng 70% số người cao tuổi nước ta sống ở nông thôn, làm nông nghiệp; hơn 70% số người cao tuổi không có tích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% số người cao tuổi sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.

    TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, cán bộ chương trình, Quỹ Dân số Liêp hợp quốc (UNFPA) cho biết, nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Trung bình mỗi người cao tuổi có 2,7 bệnh; 14% người cao tuổi gặp khó khăn trong các hoạt động sống hàng ngày và cần hỗ trợ.

    “Số người cao tuổi gặp ít nhất 1 loại khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày tăng từ 28% ở người 60- 69 tuổi lên hơn 50% ở người 80 tuổi. Đặc biệt, gần 50% người cao tuổi không có thẻ BHYT”, TS. Quỳnh nêu.

    Nghiên cứu cũng chỉ rõ, nếu năm 2011 chỉ khoảng 1,5 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày thì tới năm 2022 số lượng đã lên tới 4 triệu người. Dự báo đến năm 2049, có khoảng 10 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày.

    Đa dạng mô hình chăm sóc người cao tuổi

    Để thích ứng với già hóa dân số, theo các chuyên gia dân số, Việt Nam cần phát triển và tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, cũng như có cơ chế phối hợp công- tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc xã hội. Ðặc biệt, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng như gắn kết giữa chăm sóc y tế tại cộng đồng với dịch vụ chăm sóc xã hội.

    TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Việt Nam cần có chiến lược sức khỏe và thúc đẩy già hóa khỏe mạnh trong suốt vòng đời, nhấn mạnh vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc phòng ngừa. Đồng thời phối hợp chăm sóc y tế và chăm sóc phi y tế (chăm sóc xã hội).

    Bên cạnh đó, theo TS. Quỳnh, Việt Nam cũng cần xây dựng chính sách, kế hoạch về dịch vụ và phân bổ ngân sách theo các cấp và các ngành để đảm bảo người cao tuổi tiếp cận được dịch vụ phù hợp.

    Để công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi đạt hiệu quả cao nhất, thích ứng với già hóa dân số, theo TS. Vũ Công Nguyên, Phó Viện trưởng Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, nước ta cần tích cực xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi để hỗ trợ đáp ứng những nhu cầu của người cao tuổi nhằm đạt mục tiêu sống khỏe mạnh, tham gia các hoạt động, an sinh xã hội.

    Bên cạnh đó, theo TS. Nguyên, Việt Nam cần đa dạng hóa mô hình chăm sóc người cao tuổi hiệu quả, chuyên nghiệp và phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều dưỡng người cao tuổi gắn với chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Trong đó, cần phát triển nhiều mô hình như nhà dưỡng lão phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt. Đẩy mạnh phát triển y tế cơ sở để không chỉ phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu mà đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, tập trung vào các bệnh mãn tính.

    Còn ông Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam cần phải chuẩn bị tiềm lực kinh tế, phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời, phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

    Ngoài ra, theo ông Phương, hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều này, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục nhấn mạnh, không chỉ ngành Dân số mà cần có sự vào cuộc cả hệ thống chính trị các bộ, ngành đoàn thể, địa phương nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

    D.Ngân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Để Đảm Bảo Sản Xuất Nông Nghiệp Bền Vững Ở Tây Nguyên
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Học Yếu Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Học Yếu Môn Toán 7
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Hạn Chế Sinh Viên Bỏ Học
  • Luận Văn: Khắc Phục Tình Trạng Bỏ Học Của Sinh Viên Trường Đại Học
  • Skkn Các Giải Pháp Nhằm Giảm Tỷ Lệ Sinh Viên Bỏ Học
  • Làm Gì Để Hạn Chế Sinh Viên Bỏ Học
  • 1. ĐỀ TÀI

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH HỌC

    YẾU MÔN TOÁN

    2. ĐẶT VẤN ĐỀ :

    Trong thời gian qua, Trung tâm HN & GDTX TP Uông Bí đã đạt được nhiều thành

    quả góp phần phát triển giáo dục của tỉnh nói riêng, kinh tế xã hội của tỉnh nói

    chung. Tuy nhiên trong thực tế chất lượng học tập của một số học sinh (HS) còn

    hạn chế so với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình học tập, một số HS tỏ ra chán

    học, ít hứng thú trong học tập, thiếu mạnh dạn và tự tin, kết quả học tập thấp dẫn

    đến tình trạng nghỉ học làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của Trung tâm.

    Một số HS chán học, nghỉ học có nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có

    nguyên nhân quan trọng là một số học sinh còn học yếu môn Toán cho nên việc

    triển khai đề tài: “Một số giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn toán

    ” là rất cần thiết.

    LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Trong các môn học , môn Toán đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi lẽ

    học môn Toán giúp cho học sinh dần hình thành và phát triển được sự linh hoạt,

    sáng tạo và tư duy trừu tượng. Học toán giúp con người nâng cao trình độ tính

    toán, giúp khả năng tư duy logic, sáng tạo. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng học

    sinh học yếu môn Toán ở Trung tâm HN & GDTX TP Uông Bí là một thực tế

    đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn trăn trở của giáo viên dạy Toán.

    Có nhiều nguyên nhân khiến cho học sinh học yếu môn Toán, song

    nguyên nhân chính là do học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, có

    nhiều lỗ hỏng về kiến thức, kĩ năng. Nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này

    sang năm khác làm cho các em càng ngày càng hỏng kiến thức. từ thực tế đó tôi

    nhận thấy cần phải nghiên cứu, tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng trên mới

    có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học

    tập, nhất là với bộ môn Toán. Vì lý do trên nên tôi chọn đề tài ” Tìm hiểu một số

    giải pháp khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Toán ” để nghiên cứu.

    ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    1

    cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục, nhà trường

    từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội. Nhà

    trường thay vì chỗ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học

    phương pháp thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích và

    tổng hợp. Việc đổi mới giáo dục đã đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu

    quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước. Để khẳng

    định được chất lượng giáo dục của đơn vị thì ngoài việc đầu tư cho chất lượng

    mũi nhọn là chất lượng bề nổi thì một nhiệm vụ hết sức quan trọng mà mỗi

    nhà trường cần thiết phải làm đó là nâng cao chất lượng đại trà mà nhất là đối

    tượng học sinh yếu kém. Vì vậy mỗi nhà trường cần phải tập trung các biện

    pháp để số học sinh yếu kém chiếm một tỉ lệ thấp nhất.

    4 Cơ sở thực tiễn:

    Tại trường THCS nơi tôi công tác, tất cả cán bộ và giáo viên đều xác

    định rõ vấn đề nâng cao chất lượng dạy học là sự sống còn của nhà trường, vì

    vậy chúng tôi đã đầu tư rất nhiều công sức cho công tác này. Song về phía

    giáo viên mặc dù đã rất nhiệt tình trong công tác, rất yêu nghề, yêu trẻ, tuy

    nhiên trên thực tế vẫn còn lúng túng trong việc tìm ra các biện pháp có hiệu

    quả nhất để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém.

    Nguyên nhân dẫn đến kết quả học yếu của học sinh thì rất nhiều, có

    những nguyên nhân rất dễ xác nhận nhưng có những trường hợp bản thân

    người làm công tác giáo dục khó phát hiện ra. Muốn giáo dục đối tượng này

    có hiệu quả thì nhất thiết phải tìm cho được nguyên nhân dẫn đến tình trạng

    học sinh học yếu kém từ đó đề ra các biện pháp để giúp đỡ các em. Trước

    những vấn đề đó tôi đã chọn đề tài để nghiên cứu “Tìm hiểu một số giải pháp

    khắc phục tình trạng học sinh học yếu môn Toán”

    5. NỘI DUNG

    1/ Tình hình chung :

    Học tốt được bộ môn Toán sẽ giúp ích cho các em trong các môn học

    khác, tuy vậy, không ít học sinh đã ngại ngùng khi nhắc tới môn học này, việc

    3

    học môn Toán đối với các em đa phần là khó khăn và nhiều học sinh còn đạt kết

    quả chưa cao.

    Có nhiều nguyên nhân làm cho học sinh học yếu môn Toán, song nguyên

    nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, có nhiều lổ hổng

    về kiến thức, kỹ năng. Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn Toán ngày

    càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác.

    2/ Tình hình :

    Ý thức học tập của một số học sinh chưa cao, phương pháp học tập

    chưa phù hợp, dẫn đến chất lượng học tập của các em còn yếu ,vì thế nhiều em sợ

    học môn Toán.

    3/ Một số biểu hiện ở học sinh yếu môn Toán:

    Học sinh yếu môn Toán là những học sinh có kết quả học tập thường

    xuyên ở mức độ thấp, điểm kiểm tra thường xuyên dưới trung bình. Sự yếu kém

    có nhiều biểu hiện, nhiều vẻ nhưng nhìn chung học sinh học yếu Toán có những

    đặc điểm sau đây:

    3.1 Có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng, không biết vận dụng

    kiến thức vào bài tập :

    – Có nhiều học sinh kĩ năng tính toán rất kém, khi thực hiện một dãy các

    phép toán thì luôn sai sót, đặc biệt là sai dấu. Nguyên nhân là học sinh không

    nắm được thứ tự thực hiện phép toán nào trước, phép toán nào sau, khi thực hiện

    các bài toán có dấu ngoặc thì không nắm được quy tắc dấu ngoặc, không nhớ đổi

    dấu khi có dấu trừ trước dấu ngoặc cũng như không đổi dấu khi chuyển vế hay

    không nắm vững công thức tính lũy thừa …

    – Học sinh yếu thường chậm hiểu, có khi bị buộc chặt vào lời giảng của

    giáo viên hoặc cách phát biểu trong sách giáo khoa, thay cho việc tiếp thu nội

    dung bài học theo lối tư duy bằng việc nắm kiến thức một cách máy móc. Học

    sinh có thể đọc vanh vách quy tắc tìm ước, tìm bội, ước chung lớn nhất, bội

    chung nhỏ nhất …nhưng các em không biết tìm cho đúng, hay không phân biệt

    4

    được thừa số nguyên tố chung và riêng. Cũng như xác định số mũ của các thừa

    số còn lẫn lộn … Từ đó dẫn đến sai kết quả bài toán là điều hiển nhiên.

    3.2 Thái độ học tập thờ ơ, phương pháp học tập bộ môn Toán chưa

    tốt.

    – Nhiều em học sinh chưa tự giác học tập, chưa có động cơ học tập nên

    học không tốt. Có nhiều em học các môn xã hội rất khá nhưng rất ngại học Toán.

    Tâm lý chung của học sinh là rất sợ các môn tự nhiên, nhất là môn Toán. Các em

    học yếu thường không có sự cố gắng liên tục, trong giờ học thường thiếu sự tập

    trung, không chú ý,có thái dộ rất thụ động và thờ ơ với việc học tập.

    – Bài tập giao về nhà các em chỉ làm đối phó. Tệ hơn có em còn chép

    nguyên văn trong sách giải hay của bạn bè mà không hiểu gì, thậm chí có những

    học sinh cá biệt không làm bài tập ở nhà, thái độ thiếu hợp tác trong giờ học,

    không mang sách vở đầy đủ, có khi còn không chịu ghi bài.

    – Khi học ở nhà, các em cũng không có phương pháp học tập và quy

    trình làm việc đúng. Thường là chưa nắm lý thuyết đã vội lao vào làm bài tập,

    mà lại không bao giờ làm ngoài nháp. Đây là đặc thù của học sinh học yếu các

    môn tự nhiên nói chung. Làm không được lại nản chí, quay sang học lý thuyết

    một cách miễn cưỡng, hình thức, bó chặt vào các ví dụ trong sách giáo khoa hay

    học vẹt để đối phó.

    – Học sinh học yếu môn Toán thì thường lười suy nghĩ, chủ yếu trông chờ

    vào giáo viên giải bài tập trên bảng rồi chép vào vở, khả năng tập trung chú ý

    thấp, khả năng phân tích, tổng hợp rất hạn chế, nắm kiến thức không chắc nên

    học sinh thường vận dụng kiến thức một cách máy móc, không tìm hiểu kỹ yêu

    cầu đề bài, không biết phân tích bài toán.

    4/ Nguyên nhân của biểu hiện trên :

    – Đặc thù của môn Toán là thiếu tính sinh động, hấp dẫn nên học sinh

    không có ý thức tìm hiểu, khám phá kiến thức mới như các môn học khác. Hơn

    nữa thiết bị dạy học cho môn Toán không sinh động nên học sinh ít có hứng thú

    khi học môn Toán và đặc biệt đây là một trong các bộ môn khoa học đòi hỏi

    5

    người học phải có tính tư duy cao, tính kiên trì, nhẫn nại, đều này không phải ai

    cũng có sẵn, càng không thể học vẹt, không thể học tuỳ hứng.

    – Ở lứa tuổi học sinh đầy hiếu động đa số các em chưa tự mình ý thức

    được cái tốt, cái xấu, các em dễ xúc động và nhạy cảm với các vấn đề xung

    quanh. Mặc khác, do gia đình ít có thời gian quan tâm, kiểm tra việc học tập của

    các em, nhiều khi phó mặc cho thầy cô, nhà trường và tự bản thân các em. Từ đó,

    các em không xác định đúng động cơ học tâp, không hiểu được tầm quan trọng

    trong việc học nói chung, học môn Toán nói riêng. Ngoài ra, bản thân của các em

    đã bị mất căn bản từ các lớp dưới, để lổ hỏng kiến thức ngày càng lớn khiến các

    em luôn có cảm giác mất tự tin trong giờ học, ngày càng xa lạ với môn Toán. Dù

    bản thân có ý thức tự lực cầu tiến song không tìm được phương pháp học hợp lý.

    – Bên cạnh đó có một số em là con trong gia đình làm nông, hoặc gia đình

    không có đủ điều kiện cho các em học tập. Từ những nguyên nhân trên làm cho

    các em không hứng thú học tập dẫn đến kết quả yếu kém.

    – Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với Internet, các

    dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn lôi cuốn các em hơn là nhiệm vụ học tập, bên

    cạnh đó là tệ nạn xã hội có nguy cơ xâm lấn vào nhà trường. Thực tế dạy học

    môn Toán ở nhiều trường hiện nay cho thấy nhiều, rất nhiều học sinh chán học,

    lười học và có khuynh hướng “ham chơi hơn ham học”. Tình trạng học tập của

    các em là “rất khó nhớ nhưng lại mau quên” càng trở nên phổ biến.

    – Ngoài ra một số giáo viên dạy Toán chưa có biện pháp động viên

    khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù là rất nhỏ, có thái độ khắc

    khe làm cho học sinh có tâm lý e sợ trong giờ học, rụt rè không dám phát

    biểu, …

    GIẢI PHÁP

    Để khắc phục phần nào tình trạng trên, tôi xin đưa ra một số giải pháp

    giúp các em phần nào cải thiện tình trạng yếu kém của bộ môn Toán cũng như

    việc nắm kiến thức kỹ hơn, sâu hơn, vận dụng được linh hoạt kiến thức đó vào

    6

    quá trình dạy học, từ đồ dùng dạy học đến nội dung bài dạy để tạo cho học sinh

    những tiền đề xuất phát nhất định.

    2.2 Lấp lỗ hổng kiến thức.

    – Trong quá trình dạy học trên lớp, người giáo viên phải luôn coi trọng tính

    vững chắc của kiến thức, kỹ năng, phải quan tâm phát hiện những lỗ hổng kiến

    thức, yếu kém kỹ năng. Có những lỗ hổng có thể khắc phục được ngay nhưng

    cũng có những lỗ hổng dù là điển hình nhưng trên lớp chưa đủ thời gian khắc

    phục và giáo viên phải có kế hoạch tiếp tục giải quyết.

    – Để tiết dạy có thể vừa dạy kiến thức mới vừa có thể lấp lỗ hổng kiến

    thức, đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn và sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy

    học. Trong giảng dạy người giáo viên nên kết hợp sử dụng tất cả các phương

    pháp được học từ trường sư phạm như đàm thoại, trực quan, giảng giải, vấn đáp,

    thuyết trình… Đặc biệt phương pháp dạy học nêu vấn đề, tạo ra tình huống có

    vấn đề, hỏi đáp với một hệ thống câu hỏi tốt là quá trình dẫn dắt cho học sinh, tác

    động đến nhiều học sinh nên được sử dụng nhiều và thường xuyên.

    a) Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở dùng hệ thống câu hỏi để phát

    triển sự suy nghĩ của học sinh :

    Trong toán học kiến thức mới bao giờ cũng mang tính kế thừa nghĩa là có

    mối quan hệ sâu sắc với các kiến thức cũ, vì thế hệ thống câu hỏi phải làm cho

    học sinh có thể từ cái đã biết tìm ra cái chưa biết, từ cái dễ nhận biết đến cái khó

    hơn, hệ thống câu hỏi phải tạo nên một quá trình dìu dắt, hướng dẫn học sinh suy

    nghĩ và trả lời theo quy luật phát triển của tư duy. Khi học sinh trả lời giáo viên

    có thể dự đoán trước để kịp thời biến những câu trả lời sai thành những phản ví

    dụ có ích nhằm khắc sâu kiến thức.

    Trong quá trình giảng bài mới nhằm kích thích sức học tập của các em,

    người giáo viên đặt các câu hỏi cụ thể chính xác ngắn gọn và gần sát với câu trả

    lời, để từ kiến thức cũ xây dựng kiến thức mới, khi trả lời đúng nên cho điểm để

    khuyến khích các em phát biểu.

    b) Tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy :

    8

    9

    – Chú ý không nên học thuộc lòng theo kiểu “con vẹt” mà phải học nhớ ý

    của bài giảng của thầy cô rồi dùng lời văn diễn đạt theo sự hiểu biết của mình.

    – Mỗi ngày nên bỏ ra một ít thời gian để làm bài tập, lâu dần các em sẽ

    quen và không còn khó khăn khi tính toán các bài toán cộng, trừ, nhân, chia

    thông thường.

    – Phải thật sự có tinh thần tự giác, nhận thức được tầm quan trọng của bộ

    môn, biết cách yêu thích và cố gắng vươn lên để nâng cao chất lượng học tập.

    – Sắp xếp một thời khoá biểu học tập ở nhà cho thật hợp lí, dành nhiều thời

    gian cho những bộ môn mình đang rơi vào yếu, kém, tự giác học tập, biết tin vào

    sự nổ lực và phấn đấu của chính mình, không nên ỷ lại vào thầy cô và bạn bè .

    2.4 Giúp đỡ học sinh yếu ngoài tiết học chính khóa:

    – Giáo viên nên chủ động gặp phụ huynh để trao đổi về việc học của học

    sinh, cùng với phụ huynh tìm ra giải pháp tối ưu nhất để giúp các em tiến bộ.

    Kinh nghiệm cho thấy, càng cá nhân hóa triệt để càng tốt, giáo viên làm việc với

    nhóm độ 1- 2 học sinh thì hiệu quả cao hơn với số lượng đông.

    – Chúng tôi nhận thấy học sinh càng yếu thì phải có hướng giúp đỡ càng

    nhiều. Ngoài giờ dạy trên lớp giáo viên phải dành riêng thời gian để quan tâm

    đến đối tượng học sinh yếu bằng cách dạy phụ đạo riêng.

    – Nếu có nhiều học sinh yếu thì có thể phân công các em khá, giỏi trong

    lớp có trách nhiệm giúp đỡ bạn yếu.

    Bên cạnh đó, việc soạn bài giảng tốt cũng là điều quan trọng. Đối với tiết lí

    thuyết giáo viên cần suy nghĩ về cách truyền tải lượng kiến thức đến học sinh

    xem làm thế nào để học sinh có hứng thú với bài học, các ví dụ đưa ra có thích

    hợp không, tìm cách dạy hợp lý để dẫn dắt sự tìm tòi của các em, lựa chọn

    phương tiện, phương pháp dạy phù hợp, tìm những bài toán vui, những ứng dụng

    thực tế, những cách giải khác nhau của bài toán. Đối với tiết luyện tập thầy cô

    phải làm một cách cẩn thận và xem xét nhiều khía cạch tất cả các bài tập trong

    SGK và những bài tập cho học sinh làm thêm, không giải một cách qua loa, và

    10

    sau mỗi tiết dạy cần tự đánh giá bài dạy của mình, nhờ đồng nghiệp dự giờ, rút

    kinh nghiệm để nâng cao tay nghề, nâng cao chất lượng dạy học, thường tham

    khảo tài liệu nhằm bổ sung những hiểu biết cần thiết cho việc dạy và học

    6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    Biểu hiện học yếu môn Toán trong học tập

    * Nguyên nhân chủ quan từ bản thân HS

    TT

    1

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    Nguyên nhân

    Do không hiểu nhiệm vụ học tập

    Chưa có phương pháp học tập hợp lý

    Vốn kinh nghiệm sống ít

    Nhận thức chậm

    Không có hứng thú học tập

    Không nhận thức được tầm quan trọng của học tập

    Đi học không chuyên cần

    * Nguyên nhân khách quan (từ gia đình, xã hội)

    TT

    Các nguyên nhân

    SL

    1 Do thiếu sự quan tâm hợp tác từ gia đình

    79

    2 Do chính quyền địa phương, đoàn thể chưa phối hợp chặt chẽ

    2

    3 Do gia đình chưa quan tâm và giúp đỡ đúng cách cho HS

    76

    4 Do ảnh hưởng của kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán của địa phương. 2

    giữa thầy và trò. Ông cha ta từ xưa cũng thường bảo “dạy dỗ” để nói đến việc giáo

    dục một con người, “dạy” là cung cấp nội dung, “dỗ” là làm cách đối xử với con

    người, làm sao gây thiện cảm, tạo ra hứng thú, phát huy tiềm năng của học sinh

    hơn là áp đặt ý muốn chủ quan của thầy. Chính vì thế vấn đề cốt lõi vẫn là phải

    hiểu trẻ, yêu thương và tôn trọng trẻ. Người giáo viên phải là người giỏi về tâm lý

    trẻ, từ đó mới khám phá ra tâm hồn của trẻ để giáo dục trẻ cho tốt. Khi đã tìm ra

    phương pháp giáo dục phù hợp, với trách nhiệm lương tâm thì mọi giáo viên

    chúng ta đều có thể tìm ra con đường đi tới niềm vui trong giáo dục học sinh yếu

    Toán.

    ĐỀ NGHỊ

    1. Đối với học sinh

    – Học sinh có đầy đủ sách giáo khoa và dụng cụ học tập.

    – Vào lớp tích cực lắng nghe thầy cô giảng bài và đóng góp xây dựng bài.

    – Phải xác định được động cơ và mục đích học tập của mình .

    2. Đối với giáo viên.

    Soạn giảng đúng, đủ theo qui định, theo chuẩn KTKN, ra vào lớp đúng

    giờ, không cắt xén chương trình, không dạy chay, dạy ép….

    Khi lên lớp dạy lý thuyết hay tiết bài tập đều phải chuẩn bị chu đáo, giải

    kỹ từng bài tập ở nhà, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra để từ đó tìm ra thuật

    Toán đơn giản nhất, giúp học sinh từng bước nắm được kiến thức và có hứng thú

    giải Toán.

    Dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức

    không cần phải bổ sung, nâng cao đối với học sinh yếu kém; cần giúp học sinh

    nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài

    Không được chủ quan đối với những kiến thức đã dạy xem như học sinh

    đã biết rồi mà phải tranh thủ thời gian để ôn tập lại kiến thức cũ khi giảng bài mới

    và luyện tập.

    12

    5. Đối với gia đình & Xã hội:

    – Cha mẹ phải quan tâm nhiều hơn đến con cái, phải quản lí, kiểm tra đôn

    đốc việc học ở nhà, phải thường xuyên liên hệ với nhà trường, với GVCN, với

    giáo viên bộ môn để biết được điểm mạnh, điểm yếu của con em mình.

    Uông Bí ngày 10 tháng 05 năm 2013

    Người thực hiện

    Nguyễn Văn Hùng

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên chu kỳ III (2004 – 2007) –

    Nhà xuất bản giáo dục năm 2005.

    2. SGK Toán 10 – Nhà xuất bản giáo dục 2008.

    14

    3. SGV Toán 10 – Nhà xuất bản giáo dục 2008.

    4. Sách thiết kế bài giảng Toán 10 – Nhà xuất bản giáo dục 2008.

    5. Một số vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục ở trường THCS – Nhà xuất

    bản giáo dục năm 2002.

    6. Đề cương bài giảng Nghiên cứu khoa học ( CĐSP Bắc Ninh ).

    MỤC LỤC

    A. MỞ ĐẦU

    1/ Đặt vấn đề

    1

    2/ Lý do chọn đề tài

    1

    3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    1

    4/ Nhiệm vụ nghiên cứu

    1

    5/ Các phương pháp nghiên cứu

    2

    B. NỘI DUNG

    2

    Chương I : Cơ sở lý luận

    2

    1/ Cơ sở lý luận

    2

    2/ Cơ sở thực tiễn

    2

    Chương II : Kết quả điều tra khảo sát thực tiễn

    3

    1/ Tình hình chung

    3

    2/ Tình hình

    3

    3/ Một số biểu hiện ở học sinh yếu môn Toán

    3

    4/ Nguyên nhân

    3

    Chương III : Giải pháp

    5

    1/ Giải pháp tâm lý

    5

    2/ Giải pháp dạy học

    7

    C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

    8

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    11

    16

    PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI SKKN

    BAN GIÁM ĐỐC

    17

    ( Ký tên, đóng dấu )

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc
  • Bảo Vệ Vững Chắc Độc Lập, Chủ Quyền, Thống Nhất, Toàn Vẹn Lãnh Thổ Của Tổ Quốc
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Kỳ Họp Thứ Chín Quốc Hội Khóa Xiv Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em
  • Giải Pháp Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường, Xâm Hại Trẻ Em Trong Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiều Biện Pháp Hạn Chế Học Sinh Bỏ Học
  • Giải Pháp Hạn Chế Học Sinh Bỏ Học Và Bạo Lực Học Đường
  • Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Học Sinh Bỏ Học, Lưu Ban
  • Giải Pháp Hạn Chế Học Sinh Bỏ Học
  • Giải Pháp Hạn Chế Học Sinh Bỏ Học
  • (Congannghean.vn)-Tình trạng học sinh bỏ học không phải là vấn đề mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, mấy năm trở lại đây, tình trạng này không chỉ xảy ra ở miền núi mà ở các vùng thành thị, nông thôn cũng có xu hướng gia tăng.

    Gần 1.900 học sinh bỏ học

    Theo thống kê của Sở GD&ĐT, năm học 2022 – 2022, trên địa bàn toàn tỉnh có 1.852 học sinh bỏ học, tăng 221 em so với năm học trước. Trong đó nhiều nhất là bậc THCS với 1.096 em, đứng thứ hai là bậc THPT với 721 em và bậc tiểu học có 35 em. Đáng chú ý, nếu như những năm trước, học sinh bỏ học chủ yếu ở vùng biển, miền núi thì nay tình trạng này đang có xu hướng gia tăng ở vùng thành thị, nông thôn.

    Trường THCS Xá Lượng, huyện Tương Dương tổ chức bán trú để giữ học sinh ở lại trường

    TP Vinh hiện có nhiều trường có số lượng học sinh bỏ học đông như: Trường THPT VTC, Trường THPT Nguyễn Huệ 24 em. Huyện Quỳnh Lưu có Trường THPT Cù Chính Lan 16 em, Trường THPT Nguyễn Đức Mậu 16 em, Trường THPT Bắc Quỳnh Lưu 14 em. Ở huyện Diễn Châu, tổng số học sinh bỏ học ở 2 Trường THPT Ngô Trí Hòa và Nguyễn Du là 30 em.

    Còn ở vùng miền núi chủ yếu tập trung ở các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Quỳ Châu… Tính đến thời điểm tháng 3/2016, huyện Tương Dương có 144 học sinh bỏ học trong năm học 2022 – 2022. Trong đó, nhiều nhất là Trường THPT Tương Dương 1 có 90 em, THPT Tương Dương 2 có 24 em, riêng các trường THCS có đến 30 em. Ở huyện Kỳ Sơn, chỉ riêng Trường THPT huyện đã có 50 học sinh bỏ học, hầu hết các em là người dân tộc Mông.

    Nguyên nhân, giải pháp

    Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Trọng Hoàn, Phó Chánh văn phòng Sở GD&ĐT Nghệ An cho biết: Thực tế hiện nay, một số trường chưa làm rõ được nguyên nhân vì sao học sinh bỏ học. Một số em có thể vì xác định con đường vào đại học rất khó cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm sau này nên bỏ giữa chừng để đi học nghề, hoặc phụ giúp việc kinh doanh của gia đình.

    Còn ở vùng miền núi, vào dịp Tết, nghỉ hè, các em thường theo bạn bè vào miền Nam làm thuê kiếm sống; một số em do học lực yếu, hoàn cảnh khó khăn phải nghỉ học. “Học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân, riêng ở Tương Dương, học sinh học yếu, ham chơi, không muốn học chiếm 26,4%, bỏ học đi làm chiếm 17,4%; do hoàn cảnh gia đình khó khăn chiếm 15,3%. Ngoài ra, còn xuất hiện nạn tảo hôn chiếm 11,8%”, bà Vy Thị Bích Thủy, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Tương Dương cho biết.

    Trong thời gian qua, học sinh ở các vùng ven biển thường nghỉ học giữa chừng để theo các ngư dân đi đánh bắt hải sản trên biển. Xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu nằm cách trung tâm huyện khoảng 10 km. Bà con nơi đây chủ yếu làm nghề đánh bắt hải sản trên biển. Được biết, năm học 2022 – 2022, trên địa bàn xã có đến 40 học sinh bỏ học, trong đó có 26 em là nữ bỏ đi giúp việc ở các tỉnh, thành khác, số còn lại là học sinh nam theo ngư dân đi đánh bắt hải sản…

    Thực tế cho thấy, việc học sinh bỏ học có thể kéo theo nhiều hệ lụy cả trước mắt lẫn lâu dài, không chỉ đối với cá nhân, gia đình học sinh mà còn cả với nhà trường và xã hội. Khi bỏ học, nếu ở nhà sẽ rơi vào tâm trạng chán chường, dễ bị kích động, lôi kéo. Không ít trường hợp do không được học hành đến nơi đến chốn đã sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật…

    Năm học mới đã bắt đầu, để quản lý tốt số học sinh bỏ học tại địa phương và chống học sinh bỏ học, theo bà Vy Thị Bích Thủy thì cần chỉ đạo có hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học, bám sát đối tượng học sinh, tăng cường các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống cho học sinh, làm tốt công tác tổ chức bán trú cho học sinh tại các trường có học sinh bán trú.

    Chỉ đạo các đơn vị trường học có giải pháp vận động phù hợp với từng nhóm để tìm ra nguyên nhân bỏ học; phối hợp với chính quyền các cấp, phụ huynh hỗ trợ đối với học sinh nghèo có nguy cơ bỏ học, tuyệt đối không để xảy ra trường hợp học sinh bỏ học vì hoàn cảnh khó khăn…

    Ông Nguyễn Trọng Hoàn cho biết thêm: Vào năm học mới, ngành giáo dục và đào tạo Nghệ An có văn bản yêu cầu nhiều trường, cơ sở giáo dục thống kê và điều tra số lượng học sinh có nguy cơ bỏ học vì hoàn cảnh khó khăn, trực tiếp làm việc với chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, động viên hỗ trợ một phần nào đó, tuyệt đối không để học sinh bỏ học.

    Với những vùng miền biển, học sinh bỏ học đi làm ăn, đi biển, Sở giao cho các trường tổ chức tuyên truyền, vận động gia đình tiếp tục cho con em đi học ở một trình độ nhất định; với học sinh cá biệt, học yếu, các trường học vận động giáo viên dạy phụ đạo, tạo nhiều sân chơi, động viên các em…

    Bên cạnh đó, phối hợp với Đồn biên phòng tiếp tục tuyên truyền thông qua các chuyên đề tại các buổi họp dân bản để giúp bà con hiểu được rằng, muốn thoát nghèo trước hết phải có kiến thức văn hóa, con cháu phải được học hành đầy đủ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trà Vinh Tập Trung Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học
  • Các Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Lê Lai
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Phạm Văn Đồng
  • Giảm Béo Không Phẫu Thuật
  • Bài 2: Giảm Thiểu Các Yếu Tố Gây Bất Bình Đẳng
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “già” Rất Nhanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Xu Hướng Già Hóa Dân Số Nhanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức
  • Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam: Một Góc Nhìn Khác
  • Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam
  • Chăm Sóc Người Cao Tuổi
  • Dân Số Nhật Bản Đang Già Hóa, Người Nhật Đang Có Giải Pháp Tăng Dân Số
  • LTS: Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với những thách thức lớn. Số người cao tuổi (NCT) tăng nhanh đòi hỏi sự chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần rất lớn. Việc chăm sóc và tạo điều kiện sống tốt nhất cho NCT là trách nhiệm của xã hội, cộng đồng, gia đình; đặc biệt trở nên cần thiết trong một xã hội bước vào thời kỳ dân số già. Hướng tới “Hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về già hóa dân số” sẽ diễn ra tại Việt Nam trong 2 ngày 25-26/9/2013, Báo GĐ&XH sẽ có loạt bài đề cập đến thực trạng, những tác động của già hóa dân số tới cơ cấu dân số, đời sống xã hội cũng như các chính sách, sự quan tâm của cộng đồng với NCT để thích ứng với vấn đề này.

    Dân số Việt Nam đang “già” đi rất nhanh với tốc độ chưa từng có trong lịch sử. Theo dự báo, khoảng 15 – 20 năm nữa, Việt Nam sẽ chuyển sang cơ cấu dân số già, trong khi Pháp mất tới 100 năm, Thụy Điển là 85 năm, Hoa Kỳ là 75 năm… Các chuyên gia về dân số khẳng định, nếu chúng ta không kịp thích ứng, không có mô hình chăm sóc NCT phù hợp, sẽ rất khó khăn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Tốc độ chưa từng có

    Mỗi người già có 2,6 loại bệnh tật

    Theo số liệu của Bộ Y tế công bố năm 2012, tỷ lệ NCT có sức khỏe tốt chỉ chiếm khoảng 5%. 95% còn lại mắc các bệnh tăng huyết áp (gần 40%), viêm khớp (hơn 30%), bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mãn tính, đái tháo đường, sa sút trí tuệ, giảm thị lực, thính lực…

    Tính trung bình mỗi người già mang 2,6 bệnh tật. Hiện Việt Nam có khoảng gần 9 triệu NCT, chiếm 10% dân số cả nước.

    Do mức sinh giảm đi đáng kể trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng, dân số Việt Nam có xu hướng già đi thấy rõ. Theo Tổng cục Thống kê, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam năm 1999 còn ở mức 33,1% thì năm 2012 chỉ còn 23,9% (giảm tới hơn 10%). Trong khi đó, năm 1999 số người trên 65 tuổi chỉ mới chiếm 5,8% dân số thì đến 1/4/2012 tỷ lệ này đã tăng lên mức 7,1%. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, tỷ lệ NCT nước ta sẽ tăng lên 26% vào năm 2050.

    Có lẽ ít quốc gia nào có một cơ cấu dân số đa dạng như ở Việt Nam. Chúng ta vừa chuyển từ cơ cấu dân số trẻ (với hơn 30% dân số là trẻ em) sang cơ cấu “dân số vàng” (số người trong độ tuổi lao động cao gấp 2 lần số người trong độ tuổi phụ thuộc) thì cũng gần như đồng thời bước vào giai đoạn già hóa dân số.

    Theo các nhà nhân khẩu học, “già hóa dân số” hay còn gọi là giai đoạn “dân số đang già” là khi dân số 65 tuổi trở lên chiếm trên 7% tổng dân số; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm trên 10% tổng dân số.

    Trong vòng 30 năm qua, qua 4 kỳ Tổng điều tra dân số (1979, 1989, 1999, 2009), số lượng và tỷ lệ NCT nước ta chỉ tăng trung bình 0,06% mỗi năm. Nhưng chỉ trong vòng 1 năm, từ 1/4/2009 – 1/4/2010, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đã tăng từ 8,67% lên 9,4%, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 6,4% lên 6,8%. Con số này cho thấy, chỉ trong một năm, tỷ lệ NCT đã tăng hơn gấp 10 lần so với cả giai đoạn trước đây.

    Dự báo của Tổng cục Thống kê cho thấy, nước ta sẽ bước vào giai đoạn “già hoá dân số” vào năm 2022. Tuy nhiên, theo TS Dương Quốc Trọng – Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ, với tốc độ gia tăng tương tự như năm 2010 thì đến 1/4/2011, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đã là 10,1%, người từ 65 tuổi trở lên đã là 7,2% và như vậy thì “dù theo tiêu chí nào, chúng ta cũng đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số” ngay từ năm 2011, sớm hơn 6 năm so với dự báo”, TS Dương Quốc Trọng cho biết.

    Trong khi Pháp mất 100 năm, Thụy Điển 85 năm, Hoa Kỳ 75 năm, Nhật Bản là 26 năm… để chuyển từ cơ cấu dân số già hóa sang dân số già thì theo dự báo, chỉ khoảng 17 – 18 năm tới, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già, sớm hơn 2 – 3 năm so với dự báo.

    Thu nhập chậm, bệnh tật kép

    Tuổi thọ là ước mong lớn của con người, do đó già hóa dân số là thành quả của sự phát triển kinh tế – xã hội, khẳng định tính ưu việt của chế độ, của sự phát triển kinh tế – xã hội, mà trực tiếp là công tác chăm sóc sức khỏe người dân, công tác DS-KHHGĐ. Tuy nhiên, theo chúng tôi Giang Thanh Long – Phó Viện trưởng Viện Chính sách công và Quản lý, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, già hóa cũng đang đặt ra thách thức lớn.

    Theo phân tích của TS Giang Thanh Long, cơ cấu sắp xếp cuộc sống hộ gia đình NCT hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Nếu trước đây, có tới 80% NCT sống với con cái (chỗ dựa quan trọng cho NCT), thì nay do sự thay đổi về đời sống kinh tế – xã hội, tỷ lệ này chỉ còn khoảng 60%. Vẫn còn tới 70% NCT (chủ yếu sống ở nông thôn) không có tích lũy, không có lương và trợ cấp. Điều đó cũng phản ánh một thực trạng là tốc độ thay đổi thu nhập chậm hơn tốc độ già hóa.

    Sự biến đổi này tạo ra thách thức lớn, đòi hỏi phải xây dựng chính sách chăm sóc NCT dựa trên cộng đồng và các nhân tố khác thay thế gia đình. Ông cũng chỉ ra các thách thức khác mà NCT Việt Nam gặp phải đó là có tỷ lệ khỏe mạnh còn thấp. Điều đáng nói là tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng cao nhưng số năm sống khỏe mạnh lại khá thấp, mỗi người dân có tới 12 năm ốm đau. Đặc biệt, trung bình mỗi người cao tuổi có trên 2,6 bệnh. Bệnh tật ở NCT nước ta hiện nay với xu hướng bệnh tật kép, xu hướng bệnh tật chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và mãn tính, dẫn tới chi phí chăm sóc cao. NCT mắc các nhóm bệnh không lây nhiễm chủ yếu như: Bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường, động kinh và trầm cảm ngày càng tăng. Bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với nguy cơ tàn phế do cơ chế “hao mòn” của quá trình lão hóa và tác động của các căn bệnh mãn tính.

    Tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và sự hòa nhập cộng đồng của NCT. Đa số NCT nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn. Hệ thống y tế – lão khoa chưa đầy đủ, trang thiết bị còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ y tế chưa đáp ứng nhu cầu để giải quyết các bệnh đặc trưng của NCT. Theo kết quả Điều tra Quốc gia về NCT Việt Nam, chỉ có 4,8% NCT có sức khỏe tốt và rất tốt, 65,4% là yếu và rất yếu. Trong đó, có 26,1% NCT không có bất cứ loại bảo hiểm y tế nào, trên 51% NCT không đủ tiền chi trả cho việc điều trị, dẫn đến không điều trị.

    Về vấn đề chăm sóc NCT, hiện nước ta đã xây dựng hệ thống chăm sóc NCT với một số nhà dưỡng lão của nhà nước và khuyến khích tư nhân tham gia. Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây của Ủy ban Quốc gia NCT, các nhà dưỡng lão này gặp hạn chế về kinh phí nên cơ sở vật chất và kinh phí cho những người tham gia chăm sóc NCT còn thấp. Ở khu vực tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn khi thực hiện. Hệ thống nhà dưỡng lão tư nhân hiện nay vẫn mang tính tự phát, chưa đẩy mạnh được tính xã hội hóa của vấn đề này.

    Bình Định: “Già hóa” đến sớm 8 năm

    Trong ba thập kỷ qua, dân số Bình Định đã có những biến động mạnh mẽ về quy mô và cơ cấu tuổi. Tính từ cột mốc năm 1979, tỷ lệ NCT của Bình Định là 7,6% dân số, với 83.151 người. 20 năm sau, tỷ lệ này đã tăng lên 10,8%, với 160.875 NCT. Như vậy, Bình Định đã bước vào giai đoạn “già hóa” dân số từ năm 2009. Theo ông Nguyễn Văn Quang – Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh, tỷ lệ NCT tăng nhanh chóng trong thời gian này là do 3 yếu tố quan trọng: Tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng lên. Riêng Bình Định còn có nhiều người trong độ tuổi lao động ra ngoài tỉnh.

    Theo cơ sở dữ liệu quản lý tại Chi cục DS-KHHGĐ, tính đến 30/4/2012, số NCT trong tỉnh đã đạt 186.515 người, chiếm 12,5% dân số. Thống kê theo đơn vị cấp xã, 20 địa phương ở 6 huyện, thị xã (An Nhơn, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Tây Sơn, Phù Cát và Phù Mỹ) có số NCT chiếm trên 15% dân số. “Tốc độ gia tăng tỷ lệ NCT tại Bình Định giai đoạn 2009 – 2012 bình quân tăng hơn 0,5%/năm. Với tốc độ gia tăng như vậy thì dân số Bình Định dự báo sẽ bước vào giai đoạn “già” vào năm 2025, sớm hơn cả nước khoảng 8 năm.

    Hà Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Hợp Đồng Xây Dựng Tiếng Anh
  • Tạo Môi Trường Tiếng Anh
  • Kính Xây Dựng Tiếng Anh Là Gì
  • Hướng Dẫn Mẫu Trình Bày Đề Tài Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đối Với Cc, Vc (Pht, Gv, Nv) “hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ” Năm Học 2022
  • Các Biện Pháp Giải Quyết Xung Đột Trong Nhóm, Tập Thể
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100