Top 15 # Giải Pháp Khi Việt Nam Gia Nhập Wto / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Luận Văn Chuyên Đề Hội Nhập Ngân Hàng Khi Việt Nam Gia Nhập Wto: Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong tiến trình toàn cầu hoá nền kinh tế. Gia nhập WTO là một biểu hiện sinh động của quá trình đó. Sau tiếng búa của ông Eirik Glenne – Chủ tịch Đại hội đồng WTO gõ xuống bàn chủ tọa, kết thúc phần biểu quyết thông qua từng văn kiện có giá trị như hồi trống đồng lớn mang nhiều cảm xúc, kết thúc 11 năm gian lao đàm phán, kết thúc quá trình đại diện ngoại giao VN giao dịch đàm phán với các đối tác WTO tại Geneva chỉ được dùng thẻ quan sát và nay có thể ra vào tự do trụ sở WTO và tham dự các cuộc họp chung đưa đất nước ta vào một sân chơi mới mang tính toàn cầu. Ngày 7/11/2006, VN đã chính thức gia nhập ngôi nhà chung của WTO và trở thành thành viên thứ 150. Biết là sẽ có nhiều khó khăn, vất vả ở phía trước, nhưng cũng không thiếu các cơ hội để VN phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Ít nhất là vị trí của nước VN cũng đã ngang tầm với các thành viên khác trong WTO. NH là lĩnh vực hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập WTO. Các NHTM đang đứng trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt không những phải cạnh tranh với các NHTM trong nước mà còn cạnh tranh với sự ồ ạt tham gia của nhiều NH mới và đặc biệt sự tham gia của các NH 100% vốn nước ngoài. Chính vì vậy, hơn bất cứ ngành nào, lĩnh vực NH cần phải “tăng tốc” nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị thua thiệt ngay trên chính “sân nhà”. Tính cho đến thời điểm này, VN đã chính thức gia nhập WTO được hơn một năm. Đây có thể coi là một trong những sự kiện quan trọng và có ý nghĩa nhất về phương diện kinh tế và ngoại giao trong thời kỳ VN thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và hội nhập kinh tế thế giới nói riêng. Một năm qua, với việc thực hiện những cam kết và lộ trình đã ký với tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới này, nền kinh tế VN đã có những biến chuyển thật sự rõ rệt. Thành công nhiều nhưng khó khăn, thách thức cũng không phải là ít, đặc biệt ngành NH gặp khó khăn hơn cả. OCB cũng như tất cả các NHTM khác, khi tham gia vào thị trường là chấp nhận mọi ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới nói chung và thị trường VN nói riêng. Do đó trước xu thế hội nhập WTO, để chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường NH, OCB nói riêng và các NHTM khác nói chung đã và đang đề ra những bước đi mới trong thời gian tới. “Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO” là đề tài mang tầm vĩ mô với nội dung 3 chương: – Chương I: Giới thiệu về ngân hàng Phương Đông – Chương II: Hội nhập ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO – Chương III: Các giải pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng tại VIệt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Việt Nam Sau 3 Năm Gia Nhập Wto: Vận Hội Và Thách Thức / 2023

DIỄN ĐÀN KINH TẾ

VIỆT NAM SAU 3 NĂM GIA NHẬP WTO: VẬN HỘI VÀ THÁCH THỨC

Năm 2010, Việt Nam đã tròn 3 năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Theo nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, đánh giá lại quá trình 3 năm Việt Nam gia nhập WTO rất khó, vì trong thời gian này khủng hoảng kinh tế thế giới đã bóp méo nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế Việt Nam; tuy nhiên vẫn cần phải đánh giá lại để định hướng chiến lược, dự báo phát triển cho các năm tiếp theo.

Việt Nam sau 3 năm gia nhập WTO: Vận hội và thách thức

* Thưa ông! Có thể nói là sau 3 năm ra nhập WTO chúng ta thu được rất nhiều thành tựu có tác động lan tỏa tới nền kinh tế. Những đánh giá, nhận xét của ông về hiệu ứng của WTO đối với sự phát triển của nền kinh tế nước ta?

– Việc chúng ta tham gia WTO chỉ là một trong những biện pháp để phát triển kinh tế, chứ nó không thể thay thế hết tất cả các biện pháp khác. Do đó việc chúng ta nhìn lại mấy năm vừa qua và bóc tách ra cái gì là do tác động của việc ra nhập tổ chức WTO, cái gì là do những nhân tố khác là rất khó. Điểm khó nữa là chúng ta đã gặp điều không may. Tức là gia nhập tổ chức WTO vào lúc tình hình kinh tế thế giới bị đảo lộn, trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề, suy thoái kinh tế rất nghiêm trọng. Do đó để đánh giá một cách chuẩn xác, cái gì là nhờ gia nhập tổ chức WTO, cái gì là không quả là không đơn giản. Nhưng cũng có thể nhìn thấy tình hình đất nước chúng ta sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức WTO, coi như là từ đầu năm 2007 đi thì nó cũng có những biểu hiện tích cực. Biểu hiện thứ nhất là xuất khẩu của chúng ta tiếp tục tăng và với tốc độ trên 20%/năm, với thị trường ngày càng được mở rộng. Thứ 2 cũng có thể cảm nhận một cách đặc biệt rõ nét tức là đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam bùng nổ vào năm 2007 và nhất là năm 2008 với tốc độ chúng tôi cũng không ngờ tới. Điều đó đã nói nên sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam càng mạnh hơn nữa sau khi Việt Nam đã hội nhập kinh tế thế giới. Đấy là 2 thành tựu mà chúng ta có thể ghi nhận được. Từ đó, dòng tiền ngoại hối đổ vào Việt Nam: kể cả qua đầu tư, rồi là xuất khẩu, rồi là kiều hối, lao động tất cả những điều đó làm cho dự trữ ngoại tệ của chúng ta tăng lên đáng kể. Cái thứ 3 tôi cho rằng nó vô hình thôi nhưng mà lại cực kỳ quan trọng và có ý nghĩa rất là lớn: Tức là các doanh nghiệp của chúng ta đã bước đầu đã học được cách hội nhập với thế giới và cũng đã phát huy được tác dụng của mình, đồng thời cũng ứng phó được với những tác động không thuận của nền kinh tế thế giới. Tất nhiên còn nhiều vấn đề, nhưng mà ra trận lần đầu như thế được thì rất đáng ghi nhận. Cái thứ 4 đó là hệ thống pháp lý của chúng ta, khung khổ pháp lý của chúng ta, cơ chế chính sách của ta về lĩnh vực kinh tế được cải thiện lên rất nhiều so với trước khi chúng ta gia nhập tổ chức WTO. Trong quá trình ra nhập tổ chức này, chúng ta cũng đã phải đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hệ thống pháp lý của chúng ta rồi. Thế thì chính điều đó đã cởi trói cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nó làm cho cơ chế kinh tế của chúng ta thông thoáng, minh bạch hơn rất nhiều. Đấy cũng là một kết quả mà chúng ta tuy không cân đong, đếm được nhưng lại rất quan trọng. Kết quả thứ 5 nữa là, với việc gia nhập tổ chức WTO thì vị thế quốc tế của chúng ta tăng hơn hẳn. Cũng cùng với lúc đó thì chúng ta được bầu vào ủy viên không thường trực hội đồng bảo an liên hợp quốc hai năm liền, rồi Việt Nam được tín nhiệm là nước Chủ tịch của Asean, rồi chúng ta đại diện cho Asean dự diễn đàn rất lớn là G20… Những điều đó chúng ta không thể tưởng tượng được nếu mà chúng ta không hội nhập với thế giới. Có thể kể ra rất nhiều rất nhiều sự kiện nói nên vị thế quốc tế của Việt Nam. Nhìn một cách tổng quát thì có thể ghi nhận việc chúng ta gia nhập tổ chức WTO là một trong những biện pháp để phát triển kinh tế, một trong những biện pháp để hội nhập với thế giới và nó mang ý nghĩa quan trọng và có những tác dụng rất là cụ thể. Thế nhưng chỉ nói một chiều những thuận lợi đó thôi thì chưa đủ. Vẫn còn có những khó khăn và nhiều thách thức.

                * Trước khi chúng ta ra nhập WTO thì chúng ta đều biết rằng là khi vào tổ chức này sẽ phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức. Hiện nay, theo ông đánh giá: sau 3 năm như vậy thì những thách thức mà chúng ta gặp phải mà chúng ta chưa vượt qua được là như thế nào?

– Phải nói thách thức mà chúng ta đang gặp phải không chỉ phát sinh ở việc chúng ta gia nhập WTO mà nó nằm trong nội tại nền kinh tế. Những thách thức đó càng bộc lộ rõ nét hơn khi chúng ta hội nhập với thế giới, khi chúng ta gia nhập WTO. Tôi nói ví dụ như là vấn đề kết cấu hạ tầng của chúng ta rất là yếu kém. Chúng ta biết rất rõ và cũng có rất nhiều cố gắng nhưng tìm được lời giải thích đáng. Khi bùng nổ quan hệ xuất nhập khẩu, bùng nổ quan hệ đầu tư thì cái yếu kém đó bộc lộ càng rõ. Hay là việc chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng mà mọi người rất là lo lắng, nó bộc lộ sự yếu kém của nền kinh tế chúng ta chưa sẵn sàng ứng phó với sự triển mạnh mẽ như vậy. Hoặc là vấn đề nhập siêu, năm vừa qua nhập siêu của chúng ta rất là lớn, do chúng ta cũng đẩy mạnh xuất khẩu nhưng cơ hội phát triển xuất khẩu, phát triển kinh tế tăng lên thì nhập siêu cũng tăng. Tức là cái “bệnh cũ” của nền kinh tế nó bộc lộ ra một cách rất là rõ ràng. Cái thứ 2 nữa khả năng cạnh tranh của Việt Nam càng bộc lộ  sự yếu kém. Tất cả những cái tôi kể trên cũng là những cái yếu kém của khả năng cạnh tranh thế nhưng, ý tôi muốn nói ở đây là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chúng ta cũng trụ vững được, cũng vẫn là phát triển, không đến lỗi là thua trên sân nhà như nhiều người nói. Nhưng rõ ràng là chúng ta có thể lợi dụng được nhiều cơ hội hơn nếu chúng ta có khả năng cạnh tranh mạnh. Tức là về năng lực nắm bắt tình hình, dự báo tình hình, rồi tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu… Thì tất cả những điều đó nếu chúng ta làm tốt hơn thì chắc chắn là cơ hội sẽ tốt hơn rất nhiều.

                * Có thể nói động lực cho nước ta phát triển trong những năm qua đó là xuất khẩu. Nhìn nhận lại những năm ra nhập WTO thì xuất khẩu của chúng ta rất thuận lợi, mặc dù năm 2009, xuất khẩu có bị giảm đi do khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng so với nhiều quốc gia khác thì mức xuất khẩu của chúng ta rất cao. Tuy nhiên, có thể nói là cơ cấu ngành hàng của chúng ta còn hạn chế và trong những năm tới nếu chúng ta không có những thay đổi về chiến lược xuất khẩu thì khó có thể nâng thêm được nữa tỷ trọng xuất khẩu lên. Vậy thì ông đánh giá như nào về vấn đề này và cách thức chúng ta phải thay đổi cách tiếp cận với chiến lược xuất khẩu, lấy xuất khẩu làm động lực phát triển sẽ phải như thế nào?

– Sự yếu kém trong xuất khẩu của chúng ta đã tồn tại từ lâu rồi và nó bộc lộ ra rõ hơn nữa trong những năm chúng ta hội nhập với kinh tế thế giới nhưng nếu chỉ bó hẹp trong xuất khẩu thì triển của chúng ta. Ở đây có mấy khía cạnh về mô hình là vấn đề rất lớn và bây giờ người ta cũng nói rất nhiều về việc tái cấu trúc, chính là ý nói tái cấu thì một là chúng ta phát triển theo chiều rộng rất là nhiều, tập trung rất nhiều đầu tư, rất là nhiều vốn, nhiều nhân công vào sự phát triển. Vốn chúng ta đã huy động đến 42% GDP là mức cao nhất. Hiện nay trên thế giới, có lẽ không thể huy động cao hơn được. Thế nhưng hiệu quả đem lại thì không nhiều. Vốn đầu tư bây giờ thành cái mốt thời thượng, người ta hay nói đến ICOR thì tất nhiên ICOR của chúng ta kém thì cũng có nhiều nhân tố chứ không thể đổ hết cho nền kinh tế không hiệu quả. Cái thứ hai nữa là cơ cấu kinh tế. Trong từng lĩnh vực, ví dụ như trong công nghiệp: công nghiệp chế biến chế tạo lại chiếm tỉ trọng rất ít, công nghiệp khai thác chiếm tỉ trọng rất là cao. Hay là kể cả trong nông nghiệp, chủ yếu đều là nguyên liệu thô. Vậy thì cái đó nó dội vào yếu tố xuất khẩu thôi. Đấy là điều do bản thân cơ cấu kinh tế chưa hiện đại, chưa phù hợp. Cái đầu là mô hình phát triển quá nặng về chiều rộng. Cái thứ hai là cơ cấu chưa phù hợp. Cái thứ ba là mối quan hệ giữa phân bổ thị trường trong nước và ngoài nước thế nào cho hợp lý. Chúng ta hướng mạnh đến xuất khẩu là đúng rồi, vì thu nhập của dân ta còn hạn chế, thế nhưng tỷ lệ đó là bao nhiêu là phù hợp thì cũng là một câu chuyện dài. Chúng ta càng xuất thì lại càng phải nhập nhiều. Như hàng dệt may, bông, rồi vải cũng chẳng có thậm chí cái cúc cũng không có, chỉ cũng không có, chỉ có một ít lao động thôi thì làm sao mà có giá trị gia tăng cao được. Thành thử ra, cơ cấu về phân bổ thị trường cũng là câu chuyện. Thế rồi cơ cấu giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Hiện nay doanh nghiệp ngoài nhà nước phát triển rất cao. Doanh nghiệp của nhà nước thì lớn, chiếm những lĩnh vực rất quan trọng nhưng sự đóng góp của mỗi lĩnh vực đó nó như thế nào để cơ cấu kinh tế có lợi hơn… Tất cả đây không phải là câu chuyện cơ cấu xuất nhập khẩu, mà nó là toàn bộ cơ cấu của nền kinh tế. Nếu không có điều chỉnh lại, không có tái cấu trúc lại thì chúng ta sẽ “tắc tịt”, tốc độ có thể vẫn tăng lên nhưng hiệu quả đem lại không tăng hoặc thậm chí thụt đi. Đấy là câu chuyện lớn mà tôi nghĩ là sắp tới chúng ta đang hướng tới Đại hội XI của Đảng, chắc chắn đây là đề tài sống còn vì chúng ta đang đứng ở ngưỡng cửa từ nước thu nhập thấp sang thu nhập trung bình nên chúng ta không chuyển đổi được mô hình phát triển mà vẫn như cũ thì chúng ta tiếng là có thể “nhúc nhích” lên một ít đô la trên đầu người thế nhưng mà hiệu quả mang lại vẫn là thấp.

                * Một thành tựu lớn nữa mà chúng ta nhìn thấy ở đây là việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Rõ ràng trong những năm gia nhập WTO thì vốn thu hút của chúng ta rất nhiều, rất nhiều các dự án lớn được chúng ta cấp phép. Nhưng mà ở đây có câu hỏi đặt ra là tính hiệu quả của những dự án mà chúng ta cấp phép. Bởi vì có nhiều chuyên gia cho rằng nhiều dự án về đất đai là chính và nó không mang lại sự lan tỏa trong nền kinh tế về những công nghệ cao hay là những chất xám khoa học kĩ thuật, những dự án về khai thác tài nguyên thiên nhiên. Vậy thì ý kiến của ông về vấn đề này là như nào?

– Trước tiên tôi phải nói là chúng ta khẳng định việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chúng ta gọi tắt là FDI có hiệu quả. Vì nếu nhìn lại sự phát triển kinh tế của chúng ta trong những năm đổi mới từ năm 86 đến nay. Không có cái này thì chắc là chúng ta không có những thành tựu như bây giờ. Tính đến ngày hôm nay thì FDI cũng đóng góp hơn 30% công nghiệp của chúng ta, về thu ngân sách cũng chiếm tỉ trọng trên dưới 10%, đóng góp cho GDP cũng 15-17%, đóng góp cho xuất khẩu hơn 50%… Nếu không có cái này thì có những con số đó không? Chắc chắn là không có. Chúng ta trước hết phải ghi nhận đây là nguồn lực chúng ta không thể bỏ qua, không thể bỏ phí. Vấn đề là chúng ta sử dụng nguồn lực đó như nào thôi. Cũng không thể trách ai được trong những năm tháng ban đầu, kinh nghiệm không có, thế hệ chúng tôi là thế hệ được tiếp cận đổi mới ngay từ đầu. Có biết gì đâu, tôi cũng làm kinh tế đối ngoại ở Bộ Ngoại giao rồi sau làm Bộ trưởng Bộ Thương mại rồi làm ở Chính phủ nhưng mà hiểu biết về thế giới, hiểu biết về cơ chế trên thế giới này: tài chính, tiền tệ, đầu tư…, thấy nó vô cùng phức tạp, mình thì đang thiếu thốn đủ mọi bề. Mình mở ra được như thế thôi cũng hài lòng nhưng mà có biết bao nhiêu điều sau này mới tỉnh ngộ ra. Thế nên là không nên đòi hỏi một sớm, một chiều mọi thứ sẽ ổn thỏa được. Thế nhưng, bây giờ đã đến giai đoạn phát triển mới rồi và mình đã có kinh nghiệm phát triển hơn 20 năm rồi thì đã đến lúc phải chỉnh sửa lại ở cái cơ cấu. Tôi hoàn toàn đồng ý, vấn đề là cơ cấu đầu tư và cơ cấu ấy cho công nghệ chế tạo, chế biến và đã thỏa đáng chưa hay là phần khai thác còn nhiều. Ví dụ như trong lĩnh vực bất động sản, đó cũng là một hình thức kinh doanh. Đừng có thành kiến gì với nó cả. Các nước và ta cũng vậy. Kinh doanh bất động sản là một lĩnh vực bình thường. Vấn đề là cơ chế ở ta như thế nào đó để việc kinh doanh bất động sản đó có lợi cho đất nước ta. Hỗ trợ các doanh nghiệp của ta và chúng ta vẫn tuân thủ các điều luật quốc tế, đấy là vấn đề cần thiết. Và rất đúng khi chúng ta nói việc đầu tư thời gian qua đã đem lại công nghệ cao chưa, thì còn là hạn chế, chủ yếu mới là gia công, rất nhiều doanh nghiệp của ta chủ yếu la gia công: đóng giầy, chế biến, lắp ráp… Chứ còn việc chế tạo thực, kể cả công nghiệp phụ trợ cũng rất là ít. Thế thì ở giai đoạn mới này chúng ta muốn thành nước công nghiệp, muốn thành nước hiện đại thì rõ ràng là phải chỉnh sửa cơ cấu này đi bằng những cơ chế chính sách chứ không phải bằng mệnh lệnh được. Những cơ chế chính sách về thuế, về lãi suất, rồi tất cả những vấn đề kinh tế đó để lái cơ cấu đầu tư của nước ngoài đúng hướng là hỗ trợ công nghiệp chế tạo, chế biến, rồi mang lại công nghệ cao cho đất nước, mang lại giá trị gia tăng cao. Tôi muốn lại nhắc lại rằng, chúng ta phải bằng các biện pháp kinh tế chứ không phải bằng các giải pháp hành chính.

                * Khi mở cửa có một tác động mà nhiều quốc gia đang gặp phải đó là chênh lệch giàu nghèo giữa các tần lớp trong xã hội. Đối với nước ta ông có lo ngại về điều này hay không?

– Lo ngại quá đi chứ. Nếu mà để cho phân hóa giàu nghèo mạnh quá thì sẽ gây ra bất ổn xã hội. Nếu thả lỏng và mặc kệ sự phân hóa đó thì xã hội sẽ bất ổn. Vấn đề là phải tìm ra điểm cân bằng giữa phát triển và công băng. Nghệ thuật của lãnh đạo là tìm được điểm cân bằng ấy.

*Vâng xin cám ơn ông!

Đức Vân

CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

Biện pháp tăng cường giám sát các tập đoànBình ổn thị trường bằng cách mở rộng số lượng và quy mô sản phẩmThị trường tiền tệ diễn biến thuận lợiMobiFone và Vinaphone giảm cướcACC được chào bán 4 triệu cổ phần ra công chúngCó thể bị cấm XK nếu bán phá giá gạoSắp sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoánXuất, nhập khẩu với các nước ASEAN: Mức thâm hụt vẫn nghiêng về VNThêm một tỉnh thực hiện thông quan điện tửTrên 60% số người mua bất động sản ở Hà Nội để “đầu cơ”

Thực Hiện Các Chức Năng Của Công Đoàn Khi Việt Nam Gia Nhập Cptpp / 2023

Thứ tư, 24 Tháng 7 2019 10:01

(LLCT) – Ngày 8-3-2018, Việt Nam đã ký Hiệp định Đối tác Toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng đại diện 10 quốc gia thành viên khác. Ngày 14-1-2019, CPTPP có hiệu lực tại Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định này mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho tổ chức công đoàn. Với việc làm rõ chức năng của công đoàn, chỉ ra những khó khăn, thách thức, bài viết cũng đề cập một số giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của công đoàn trong việc tập hợp, bảo vệ lợi ích của đoàn viên trong thời gian tới.

1. Địa vị chính trị, pháp lý của Công đoàn Việt Nam

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn nhất của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động. Công đoàn do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, vận động và tổ chức quần chúng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng cũng như phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng tới Đảng nhằm thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều vấn đề của giai cấp công nhân như: đời sống, việc làm, tiền lương, trình độ, kinh nghiệm… đặt ra yêu cầu mới đối với Công đoàn. V.I.Lênin khẳng định: “Đối với giai cấp vô sản công nghiệp, Công đoàn không phải chỉ là một tổ chức tất yếu về mặt lịch sử, mà còn là một tổ chức không thể không có được về mặt lịch sử, và trong điều kiện chuyên chính vô sản tổ chức đó bao gồm hầu hết giai cấp vô sản công nghiệp”(1). V.I.Lênin nhấn mạnh: “Tôi đi đến kết luận rằng, vai trò ấy là hết sức đặc biệt. Một mặt Công đoàn tập hợp, bao gồm trong hàng ngũ tổ chức của mình toàn thể công nhân công nghiệp, nó là một tổ chức của giai cấp đang cầm quyền, đang thống trị, đang chấp chính, là tổ chức của giai cấp đang thực hiện chuyên chính, giai cấp đang thực hành sự cưỡng bức nhà nước”(2).

Yêu cầu đặt ra là xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, thực sự trở thành trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng. Tổ chức Công đoàn vững mạnh mới thực hiện tốt vai trò kiểm tra, giám sát và kịp thời ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Đó cũng là biện pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với giai cấp công nhân và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Xây dựng Công đoàn vững mạnh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố đóng vai trò quyết định.

Ý thức được vấn đề này, Công đoàn Việt Nam luôn xác định trách nhiệm của mình trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng giai cấp công nhân thực sự vững mạnh trong thời kỳ mới. Với vị trí của mình, Công đoàn đã tổ chức cho đoàn viên tham gia góp ý xây dựng và bảo vệ Đảng; Công đoàn cũng là nơi giáo dục, rèn luyện những quần chúng ưu tú để giới thiệu họ với Đảng, đồng thời chủ động đề xuất với cấp ủy Đảng các cấp đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới hệ thống chính trị, tham gia vào cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bước vào thế kỷ XXI, việc xây dựng, phát triển và tăng cường bản chất giai cấp công nhân không chỉ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước mà còn để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện vai trò và chức năng quản lý của Nhà nước. Đối với giai cấp công nhân, việc xây dựng và phát triển giai cấp mình, trước hết và chủ yếu là nhiệm vụ, là yêu cầu nội tại của chính giai cấp công nhân, phong trào công nhân thông qua tổ chức Công đoàn và cao hơn là tổ chức Đảng. Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn chủ động xây dựng lực lượng và tiềm lực phát triển của mình cùng với huy động mọi nỗ lực và trách nhiệm của toàn xã hội. Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng không thể tách rời với xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh với Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị đổi mới năng động. Muốn vậy, cần phải có những chuyển biến quan trọng trong nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội làm cơ sở cho những chuyển biến thực sự trong hành động thực tế để giai cấp công nhân cùng tổ chức Công đoàn có được sức mạnh, ảnh hưởng và uy tín trong xã hội, xứng đáng với vai trò và vị trí của giai cấp công nhân hiện nay. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng không thể giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng nếu tổ chức Công đoàn yếu kém, không được đầu tư đúng mức, đúng tầm.

Trong cơ chế mới của nền kinh tế, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Công đoàn không chỉ là cầu nối của Đảng đến giai cấp công nhân mà còn là đại diện thực sự của công nhân, là “đệm giảm sóc” cho những va chạm, xung đột phát sinh trong quan hệ xã hội giữa một bên là giai cấp công nhân với một bên là giới chủ – người sử dụng lao động. Theo quy định hiện nay, Công đoàn Việt Nam có các chức năng cơ bản sau: đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa(3).

Chức năng của Công đoàn là một chỉnh thể, trong đó, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là trung tâm – mục tiêu hoạt động công đoàn. Từ các chức năng này sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn.

Luật Công đoàn năm 2012 ghi rõ:

Điều 10. Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

1. Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ của người lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động.

2. Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể.

3. Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động.

5. Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động.

6. Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động.

7. Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động hoặc của người lao động bị xâm phạm.

8. Đại diện cho tập thể người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động bị xâm phạm; đại diện cho người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm phạm và được người lao động ủy quyền.

9. Đại diện cho tập thể người lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động và người lao động.

10. Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật(4).

2. Những vấn đề đặt ra đối với Công đoàn Việt Nam khi CPTPP có hiệu lực

Thứ nhất, sự cạnh tranh từ các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người lao động không trực thuộc Công đoàn Việt Nam.

Công đoàn Việt Nam không còn là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động khi gia nhập CPTPP, vấn đề cạnh tranh và thu hút mới đoàn viên công đoàn là điều tất yếu. Việc phát triển đoàn viên và công đoàn cơ sở sẽ gặp khó khăn. Nguồn lực bảo đảm cho hoạt động công đoàn, nhất là nguồn lực tài chính sẽ bị chia sẻ và giảm sút. Môi trường hoạt động công đoàn thay đổi lớn do quan hệ lao động sẽ có những diễn biến phức tạp. Người lao động và cả người sử dụng lao động sẽ đứng trước nhiều lựa chọn tổ chức để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, tăng cường các hoạt động của Công đoàn trong thực hiện các chức năng, nhất là chức năng bảo vệ người lao động.

Trên thực tế, Công đoàn trở nên “hành chính hóa” và suy giảm uy tín mạnh mẽ trong công nhân. Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội nên vẫn dùng kinh phí ngân sách và như vậy, mối quan hệ giữa công nhân, người lao động với công đoàn nhiều khi không gắn kết bởi cán bộ chuyên trách công đoàn hưởng lương thực chất chủ yếu là từ ngân sách chứ không phải từ hội phí như công đoàn của một số nước theo kinh tế thị trường. Chính vì vậy, nhiều cán bộ công đoàn tự coi mình là công chức nhà nước chứ không phải là người đại diện cho người lao động, có nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ người lao động. Điều này tạo ra khoảng cách giữa người lao động và Công đoàn. Do đó, mối quan hệ giữa hai phía nhiều khi mang tính hình thức.

Thứ ba, niềm tin của người lao động và việc gia nhập công đoàn.

Trong các chức năng của Công đoàn, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động là quan trọng nhất. Tuy nhiên, khi tình hình đình công đang diễn ra phức tạp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thì vai trò của Công đoàn ở đó luôn mờ nhạt, khiến nhiều công nhân giảm tin tưởng vào Công đoàn và cho rằng Công đoàn không đứng về phía họ. Ở nhiều nơi, tổ chức Công đoàn thụ động và hầu như không nắm được công nhân. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho phần lớn các cuộc đình công thời gian qua rơi vào bất hợp pháp theo Luật hiện hành.

Thứ tư, sự e ngại của người sử dụng lao động đối với hoạt động của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp.

Hầu hết các doanh nghiệp ngoài Nhà nước (kể cả các doanh nghiệp có phần vốn góp của Việt Nam) có rất ít các tổ chức đảng và đảng viên do tâm lý e ngại từ phía giới chủ. Họ tìm cách cản trở hoạt động của tổ chức Đảng nên tác động, ảnh hưởng của Đảng đến công nhân là rất hạn chế. Công đoàn là tổ chức có khả năng và có thể góp phần quan trọng để khắc phục tình trạng này thông qua các hoạt động của mình để đưa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đến với giai cấp công nhân. Hoạt động của Công đoàn cũng gặp nhiều khó khăn khi người sử dụng lao động cũng không muốn hoạt động của doanh nghiệp bị giám sát bởi Công đoàn, thậm chí còn có tư tưởng cho rằng hoạt động của Công đoàn là gây trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Mặt khác, vai trò của Công đoàn trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước rất mờ nhạt. Công nhân mất lòng tin vào Công đoàn với tâm lý cho rằng Công đoàn ăn lương của giới chủ và đứng về giới chủ, không bảo vệ quyền lợi của công nhân. Hệ quả là công nhân có tư tưởng bị bỏ rơi trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi của mình, cho dù có nhiều trường hợp sự đấu tranh đó đã đi quá giới hạn.

Thứ năm, các quy định của pháp luật còn một số bất cập.

Thực tế, hầu hết Chủ tịch công đoàn trong các doanh nghiệp có tổ chức đảng là đảng viên. Vấn đề đặt ra là, nếu họ đứng ra lãnh đạo đình công thì có vi phạm Điều lệ Đảng hay không, hướng giải quyết ra sao?

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập CPTPP, rõ ràng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần chỉ đạo, hướng dẫn cho các cấp Công đoàn thấy được việc bảo vệ lợi ích của người lao động là nhiệm vụ thiết yếu của tổ chức Công đoàn. Cần thống nhất nhận thức là phải xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa chủ doanh nghiệp đối với khách hàng, giữa chủ doanh nghiệp với mọi thành viên trong doanh nghiệp, giữa công nhân viên chức, lao động với nhau và đặc biệt là mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng, Công đoàn và Giám đốc doanh nghiệp. Nếu xây dựng tốt các mối quan hệ này, doanh nghiệp sẽ ổn định, phát triển bền vững. Ngược lại, thống nhất, tin tưởng, phấn khởi, toàn tâm toàn ý của công nhân viên chức lao động ra sức xây dựng doanh nghiệp. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, giai cấp công nhân không còn bị áp bức, bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Cần lưu ý rằng, một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân, vừa tham gia làm chủ cùng toàn bộ giai cấp công nhân, vừa làm thuê xét về mặt cá nhân. Điều này lý giải vì sao khi xem xét biểu hiện ý thức chính trị của giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay lại xét cả thái độ của giai cấp công nhân đối với giới chủ. Giới chủ là những người tổ chức, quản lý sản xuất trong các doanh nghiệp ngoài thành phần kinh tế nhà nước và tập thể. Người sử dụng lao động ở đây là nói đến người tổ chức, quản lý sản xuất trong những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước và tập thể. Để hạn chế ngay từ đầu những hậu quả tiêu cực của các cuộc đình công, Công đoàn cần giáo dục người lao động có ý thức chính trị, thái độ đối với người sử dụng lao động, trong đó có giới chủ, phải trên cơ sở quy định của pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Lao động. Hiểu được những điều khoản cơ bản trong Bộ luật Lao động là người lao động đã hiểu được những quyền lợi và nghĩa vụ lao động của mình. Từ đó, có cơ sở để xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp và của đất nước. Công đoàn phải làm cho người lao động hiểu được bản chất của mối quan hệ giữa mình và người sử dụng lao động, đặc biệt là với giới chủ. Phải thấy rằng sự hợp tác với giới chủ là cần thiết nhưng phải vừa hợp tác vừa đấu tranh trên cơ sở thấu tình, đạt lý. Công đoàn phải làm cho người lao động có lập trường kiên định, vững vàng trước mọi cám dỗ của lợi ích vật chất tầm thường, có thái độ rõ ràng, dứt khoát với những việc làm sai trái của giới chủ, không vì lợi ích trước mắt của mình mà đánh mất danh dự, nhân phẩm, phản bội lợi ích của giai cấp và của toàn thể nhân dân lao động. Hơn nữa, người lao động có ý thức chính trị cao phải động viên mọi người thực hiện tốt các quy định của pháp luật, đồng thời đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện vi phạm mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong đó có giới chủ, trên cơ sở tuân thủ pháp luật nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, số lượng doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số lượng công nhân ngày càng nhiều nhưng sự hiểu biết của một bộ phận không nhỏ về tổ chức Công đoàn lại không nhiều. Đa số công nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn bị ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ, với lối làm ăn, suy nghĩ manh mún, tùy tiện, tự do, trình độ văn hóa còn hạn chế, chưa đủ ý thức về tổ chức Công đoàn và tự bảo vệ mình. Nhiều người lo lắng tham gia Công đoàn sẽ mất lòng giới chủ và bị đuổi việc. Ngược lại, không ít chủ doanh nghiệp lại lo lắng công đoàn sẽ đối lập với doanh nghiệp, lo sợ hoạt động của Công đoàn sẽ chiếm mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh. Vì vậy, khi gia nhập CPTPP và có sự cạnh tranh cả về tổ chức, hoạt động thu hút đoàn viên thì trách nhiệm của cán bộ công đoàn là phải tuyên truyền, vận động công nhân gia nhập tổ chức Công đoàn và thành lập công đoàn cơ sở. Bên cạnh đó, Công đoàn phải đưa cán bộ công đoàn chuyên trách có năng lực đến các doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn làm nòng cốt, vận động cả những người sử dụng lao động để họ thành lập tổ chức Công đoàn tại doanh nghiệp khi có đủ điều kiện.

Trong nền kinh tế thị trường, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp quan trọng nhất để phát triển xã hội. Công nhân trước khi quyết định gia nhập tổ chức Công đoàn nào thường đặt câu hỏi: vào công đoàn để làm gì? được lợi gì? Các cán bộ công đoàn phải trả lời câu hỏi này cho công nhân. Không chỉ trả lời trên lý thuyết mà còn trả lời bằng thực tế việc làm, những nội dung hoạt động của công đoàn cơ sở, những quyền lợi dễ thấy mà công nhân có được khi vào tổ chức Công đoàn. Vì vậy, Công đoàn luôn luôn phải đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình để công nhân thấy được công đoàn thực sự là chỗ dựa của mình khi gặp khó khăn.

Công đoàn phải nắm được đoàn viên, tổ chức cho đoàn viên hoạt động, căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của cơ sở mà phân công đoàn viên phù hợp với điều kiện, năng lực của mỗi người. Cán bộ công đoàn cần định kỳ nhận xét đánh giá ưu khuyết điểm của đoàn viên, đề xuất khen thưởng động viên các đoàn viên tích cực, uốn nắn kịp thời những khuyết điểm của đoàn viên. Cổ vũ lôi cuốn công nhân tham gia hoạt động công đoàn, có niềm tin về hoạt động công đoàn, về quyền lợi và mục đích sẽ đạt được nhờ có tổ chức Công đoàn. Từ đó, làm cho công nhân tự nguyện gia nhập và tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức.

(1), (2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.253, 253.

(3), (4) Điều 1 Luật Công đoàn, Luật số 12/2012/QH13

PGS, TS Lê Văn Cường

Viện Xây dựng Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Giải Pháp Nào Ngăn Chặn Việc Sử Dụng Rượu, Bia Khi Tham Gia Giao Thông Ở Việt Nam / 2023

 Hình ảnh quen thuộc đối với người Việt Nam

Việc sử dụng rượu, bia ở Việt Nam

Về mặt khoa học rượu là một dung dịch gồm nước và cồn (trong đó cồn chiếm từ 1% đến 50% tính theo thể tích), ngoài các thành phần chính trên rượu còn chứa một lượng nhỏ các chất riêng biệt của mỗi nhà sản xuất nhằm tạo nên mỗi loại rượu một màu sắc, một hương vị đặc thù riêng. Như vậy, thành phần chính và cũng là tác nhân chính gây ra hậu quả tai hại của rượu là cồn Ethylic. Trong vòng một giờ uống vào cơ thể, rượu được hấp thu toàn bộ với 80% tại ruột non và số còn lại ở dạ dày. Có 75% cồn ở trong máu đến não, làm giãn mạch máu não và tăng khối lượng não tạo ra giai đoạn đầu là kích thích khiến người sử dụng nói nhiều và tất cả suy nghĩ, hành vi trở nên hỗn loạn, mất kiểm soát.

Những người thường xuyên uống rượu còn gây tai nạn lao động, tai nạn giao thông nhiều gấp 3 lần so với những người không nghiện rượu do “trung ương thần kinh đi lạc đường”. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 1/3 tổng số các tai nạn chết người xảy ra trong lúc say rượu. Một tạp chí y học ở Pháp còn cho rằng rượu là nguyên nhân của vô số vụ phạm pháp (90% hỏa hoạn cố ý, 35% tội phạm, 95% vi phạm pháp luật, 85% trường hợp bị thương và đánh nhau, 53% vụ vi phạm đạo đức xã hội…). Trong bệnh viện, 30% bệnh nhân nhập viện vì rối loạn tâm thần là người nghiện rượu. 

Báo cáo toàn cầu của WHO về thực trạng sử dụng rượu bia và sức khỏe năm 2011 còn cho rằng Việt Nam là một trong số ít các quốc gia có xu hướng gia tăng nhanh về mức độ tiêu thụ bình quân rượu bia/người/năm. Sản xuất rượu bia ở Việt Nam ước tính tăng 15%/năm. Sản lượng bia năm 2010 đạt 2,3 tỷ lít/năm, dự kiến đạt 4 tỷ lít/năm vào năm 2015. Còn rượu mỗi năm khoảng 350 triệu lít. Năm 2006, tỷ lệ bình quân uống bia là 18 lít/người. Đến năm 2010, đã tăng nhanh lên 29 lít/người. Không những vậy, theo Tổ chức nghiên cứu thị trường Eurowatch, năm 2012 Việt Nam đã tiêu thụ 3 tỉ lít bia, gấp 3,5 lần so với năm 2004: “lượng bia sử dụng trung bình/người/năm là 32 lít, xếp thứ nhất khu vực ASEAN và thứ ba châu Á và Việt Nam được xếp là 1 trong số 25 quốc gia đứng đầu trong danh sách có mức tiêu thụ bia gia tăng nhiều nhất”. Nếu chỉ tính trung bình 22.000 đồng/ lít bia lấy theo giá bia Hà Nội, thì người Việt Nam đã tiêu 3 tỉ USD/năm. Trong khi thu nhập bình quân của người Việt chỉ đứng 8/11 nước trong khu vực Đông Nam Á, thì lại đang nắm giữ vị trí quán quân về kỷ lục tiêu thụ bia, vượt xa so với hai nước đứng ở vị trí tiếp theo là Thái Lan và Philippines. Hiện Việt Nam được xếp là 1 trong số 25 quốc gia đứng đầu trong danh sách có mức tiêu thụ bia gia tăng nhiều nhất (Nigeria tăng 17,2%, Ấn Độ tăng 17%, Brazil tăng 16% và VN tăng 15%).

Ảnh hưởng của rượu, bia với an toàn giao thông

 Hiện trường vụ tai nạn giao thông tại Ái Mộ, Long Biên, Hà Nội do người lái xe ô tô sử dụng rượu bia khiến 3 người thiệt mạng

Một khái niệm được dùng thống nhất tại tất cả quốc gia trên thế giới là chỉ số BAC (blood alcohol concentration – nồng độ rượu trong máu). Nồng độ rượu trong máu là một cách đo lượng rượu trong cơ thể, nghĩa là bao nhiêu gram rượu nguyên chất trong mỗi 100ml máu. Ngoài ra, lượng rượu trong máu của người điều khiển phương tiện còn được đo bằng một thủ tục đơn giản là kiểm tra hơi thở. Con số trung bình của mọi nơi trên thế giới cho phép là 0,05gm và kể từ đó trở lên là có thể bị phạt nặng. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại quy định hình thức và mức độ xử phạt khác nhau.

Luật giao thông đường bộ Việt Nam năm 2008 nghiêm cấm: “Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn. Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở”. Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định mức xử phạt vi phạm hành chính đối với người điều khiển ô tô (Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở; Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở) và người điều khiển xe mô tô (Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở).

Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy ngay cả khi nồng độ công trong máu (BAC) của người điều khiển phương tiện giao thông chỉ có từ 0,2 đến 0,4 mg/ml cũng có khả năng bị sảy ra tai nạn gấp 1,4 lần những người hoàn toàn không uống. Những người điều khiển phương tiện giao thông với BAC trên 0,5 mg / ml có khả năng bị tai nạn gây tử vong nhiều hơn so với những người lái xe không uống rượu.

Nếu độ rượu trong máu 0.02 – 0.05 BAC, khả năng để xem hoặc xác định vị trí ánh sáng di chuyển một cách chính xác cũng như khả năng để đánh giá khoảng cách bị giảm. Xu hướng gặp rủi ro tăng lên, và khả năng đối phó với nhiều tác nhân kích thích giảm; nếu độ rượu trong máu 0.05, người lái xe có nguy cơ xảy ra TNGT gấp hai lần trước khi uống rượu; độ rượu trong máu 0.05 – 0.08, khả năng đánh giá khoảng cách tiếp tục giảm, sự nhạy cảm với ánh sáng màu đỏ bị suy giảm, phản ứng chậm hơn, và khả năng tập trung ngắn hơn; độ rượu trong máu 0.08, người lái xe có nguy cơ xảy ra TNGT gấp năm lần trước khi uống rượu. Khi độ rượu trong máu 0.08 – 0.12 tạo cảm giác “hưng phấn” làm đánh giá quá cao khả năng lái xe, làm cho họ chủ quan. Lúc này, tầm nhìn ngoại vi và nhận thức về những trở ngại bị suy yếu, có nguy cơ xảy ra TNGT gấp mười lần.

Một số giải pháp

Hai là, chú trọng công tác tuyên truyền nhằm từng bước thay đổi nhận thức của xã hội về sử dụng rượu, bia.

Tổ chức tuyên truyền sâu rộng để người dân hiểu được tác hại, ảnh hưởng của rượu, bia khi điều khiển phương tiện giao thông; hiểu rõ được tính nguy hiểm của việc điều khiển phương tiện giao thông trong khi nồng độ cồn trong máu vượt quá mức cho phép. Đồng thời, cơ quan chức năng cũng nên tuyên truyền mức xử phạt đối với những vi phạm nhằm tạo ra sự chuyển biến về nhận thức trong cộng đồng. Ðối với những người ngồi trên xe có trách nhiệm nhắc nhở cũng như phản đối những người điều khiển phương tiện đã sử dụng rượu, bia.

Ðặc biệt ở các huyện miền núi, miền biển thường có tỷ lệ người trẻ nghiện rượu, bia cao cần có sự phối hợp giữa chính quyền, dòng họ và gia đình hạn chế sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông. Để công tác tuyên truyền đạt hiệu quả cao nhất cần phải chú trọng cả nội dung và hình thức. Hình thức tuyên truyền cần phải đa dạng, hấp dẫn, phong phú.

 Lực lượng CSGT tăng cường TTKS, phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng rượu bia tham gia giao thông

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác TTKS, phát hiện, xử lý nghiêm hành vi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông.

Hiện nay, việc xử phạt người lái xe uống rượu, bia say đã được các lực lượng chức năng quan tâm thực hiện. Song, vẫn chưa đủ sức răn đe và việc đưa thêm các chế tài tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, tạm giữ phương tiện là cần thiết. Ngoài ra, cơ quan công an cần thông báo vi phạm về nơi cư trú, nơi công tác của họ để kiểm điểm. Đối với cán bộ công chức, không chỉ xử lý hành chính mà còn xem xét kỷ luật khi lái xe uống rượu bia./.

P.Q.B