Top #10 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Luận Văn Đề Tài Một Số Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát 2011
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt 8 Nhóm Giải Pháp Trong Đó Kiềm Chế Lạm Phát Là Hàng Đầu
  • Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?
  • Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480
  • Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Lạm phát: được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này). Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc. Để dễ hình dung có thể coi mức giá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thước của nó. Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm: * Chỉ số giá sinh hoạt (CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. Các nhà kinh tế học tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn so với CLI dự tính. Điều này được xem như là “sự thiên lệch” trong phạm vi CPI. CLI có thể được điều chỉnh bởi “sự ngang giá sức mua” để phản ánh những khác biệt trong giá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rất lớn từ giá cả thế giới nói chung). * Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi “người tiêu dùng thông thường” một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới. Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI. Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũng chỉ sau khi lạm phát đã xảy ra). * Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát CPI “ngày mai” dựa trên lạm phát PPI ngày “hôm nay”, mặc dù thành phần của các chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năm 2022 Lạm Phát 3,54%
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Kiềm Chế Lạm Phát Dưới 4% Năm 2022
  • Thuận Lợi Và Thách Thức Trong Kiểm Soát Lạm Phát
  • Triển Khai 6 Giải Pháp Kiểm Soát Lạm Phát Các Tháng Cuối Năm 2022
  • Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Và Những Giải Pháp
  • Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả
  • Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022
  • Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua
  • Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019
  • Thành công trong việc chặn đứng lạm phát phi mã năm 1989 nhờ áp dụng công cụ lãi suất ngân hàng (đưa lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm lên cao vượt tốc độ lạm phát), đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm đạt các mục tiêu ngắn hạn ổn định thị trường. Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ tái lạm phát cao, do đó một công cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tiền tệ được tận dụng trước tiên vơí hiệu suất cao cũng là điều tất yếu. Tuy nhiên gần đây ở Việt nam có dấu hiệu của sự lạm dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Điều này thể hiện sự yếu kém trong việc quản lý và sử dụng chính sách tiền tệ của chúng tới . Vì vậy đứng trước nguy cơ tiềm ẩn của lạm phát, việc nghiên cứu chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát là vô cùng cần thiết. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU0 NỘI DUNG1 I. LẠM PHÁT1 1. Những quan điểm khác nhau về lạm phát1 2. Tác động của lạm phát3 II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KIỀM CHẾ LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở NƯỚC TA4 1. Dự trữ bắt buộc4 2. Chiết khấu5 3. Hoạt động thị trường mở6 4. Lãi suất7 5. Hạn mức tín dụng9 III. GIẢI PHÁP10 1. Các nguy cơ dẫn tới việc tái lạm phát10 2. Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát11 2.1. Dự trữ bắt buộc11 2.2. Tái chiết khấu12 2.3. Hoạt động thị trường mở12 2.4. Lãi suất13 2.5. Hạn mức tín dụng14 KẾT LUẬN16 MỤC LỤC16

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Nghị Quyết Chính Phủ Về 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • 6 Nhóm Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • Tt Chính Phủ: Tập Trung Toàn Lực Kiềm Chế Lạm Phát
  • Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Của Chính Phủ Về Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam
  • Kiên Trì Giải Pháp Vận Động Giảm Sinh Con Thứ 3
  • Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Tình Trạng Sinh Con Thứ 3
  • Một Số Giải Pháp Hạn Chế Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba:một Số Giải Pháp Hạn Chế Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Trường Mẫu Giáo.
  • ng leo thang. Hiện tượng lạm phát là một hiện tượng có nguyên nhân là sự tác động tổng hợp của các yếu tố cung, cầu và xu hướng tâm lí của các thành phần kinh tế. Để khắc phục được hiện tượng này, ta cần tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc để rút ra được các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp của nó, lấy đó làm cơ sở để đưa ra các chính sách quản lí vĩ mô thích hợp và tiến hành thực hiện dựa trên tình hình khách quan cụ thể. Lạm phát của Việt Nam tăng cao còn do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Bởi vì hiện nay việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu trong xu hướng toàn cầu hoá, vì vậy khi các nền kinh tế lớn gặp trục trặc thì ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Việt Nam. Trước xu hướng lạm phát gia tăng – vấn đề nổi bật ở Việt Nam trong năm 2008, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam thời gian vừa qua”. Tiểu luận được chia làm 3 phần như sau: Phần 1: Lý thuyết chung về lạm phát Phần 2: Thực trạng lạm phát và các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam thời gian vừa qua. Phần 3: Một số đề xuất, kiến nghị về các giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam PHẦN I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm và Phân loại lạm phát. 1.1. Khái niệm: – Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. – Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát. Đó chính là tốc độ tăng mức giá chung của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước đó. Πt=(Pt-Pt-1)*100/Pt-1Πt : Tỷ lệ lạm phát Pt: Chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu Pt-1: Chỉ số giá cả của thời kỳ trước đó 1.2. Phân loại lạm phát. Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế Lạm phát phi mã: Xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. Lạm phát này gây ảnh hưởng nghiêm trọng với nền kinh tế. Siêu lạm phát: là lạm phát rất cao, thường là từ 50% một tháng trở lên. Với mức lạm phát này, sau một năm giá cả hàng hoá tăng gấp khoảng 130 lần. Trên thực tế, siêu lạm phát thường xuất hiện khi chính phủ cần một số lượng lớn tiền để trang trải thâm hụt ngân sách. Siêu lạm phát thường là biểu hiện của mất cân đối ngân sách chính phủ chứ không phải là vấn đề tiền tệ. Trong một thế giới như vậy, những cải cách về ngân sách là cần thiết để đưa ngân sách chính phủ trở về thế cân bằng, tránh dựa dẫm quá nhiều vào thuế đúc tiền, và như vậy, sẽ khôi phục được niềm tin của dân cư vào chính phủ. 2. Một số lý thuyết và quan điểm lý giải những nguyên nhân gây ra, duy trì và thúc đẩy lạm phát. 2.1. Lạm phát cầu kéo: Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hoá. 2.2. Lạm phát chi phí đẩy: Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi giá cả các yếu tố đầu vào (tiền lương, nguyên liệu…) tăng lên và đường tổng cung dịch chuyển sang trái. Lạm phát cao đi liền với sản xuất đình trệ và thất nghiệp gia tăng, nên còn được gọi là lạm phát đình trệ. Các cơn sốt của thị trường đầu vào, đặc biệt là giá cả của xăng dầu, điện… là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đẩy đường tổng cung dịch chuyển sang trái. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả đã tăng lên và sản lượng giảm xuống. 2.3. Lạm phát ỳ: Trong nền kinh tế thị trường, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, với lạm phát vừa phải, giá cả tăng với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ, vì mọi người đã có thể dự tính trước mức độ của nó nên còn gọi là lạm phát dự kiến. Mọi hoạt động kinh tế đã được tính toán điều chỉnh (điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, các khoản chi tiêu ngân sách…). Lạm phát dự kiến xảy ra khi đường AS và đường AD dịch chuyển lên trên với cùng một tốc độ, vì lạm phát đã được dự kiến nên chi phí sản xuất cũng như nhu cầu chi tiêu đều được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát nên sản lượng vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến. 2.4. Lạm phát và tiền tệ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các nhân tố ngoại sinh như tăng dân số và tiến bộ công nghệ. Do đó, tỷ lệ lạm phát phụ thuộc vào tốc độ tăng của cung tiền. Nếu ngân hàng trung ương giữ cung tiền ổn định, giá cả cũng sẽ ổn định. Nói cách khác, nếu muốn tỷ lệ lạm phát bằng không, ngân hàng trung ương chỉ cần tăng cung tiền với tỷ lệ đúng bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong trường hợp đó, mỗi năm sẽ có thêm một lượng tiền vừa đủ để đáp ứng yêu cầu tiền tăng do có thêm giao dịch. 2.5. Lạm phát và lãi suất: – Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất chưa được loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. – Lãi suất thực tế: là lãi suất đã được loại trừ ảnh hưởng của lạm phát Công thức điều chỉnh lãi suất danh nghĩa theo lạm phát là: r= i- π Hiệu ứng Fisher: Lưu ý rằng chúng ta rút ra hai hệ quả khi tiền tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn. Thứ nhất, theo lý thuyết số lượng, tăng tỷ lệ tăng cung tiền 1% thì tỷ lệ lạm phát cũng tăng 1%. Thứ hai điều này cũng hàm ý rằng lãi suất danh nghĩa cũng cần tăng 1%. Mối tương quan một- một giữa tỷ lệ lạm phát với lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu ứng Fisher. Phân tích ở trên thực ra không hoàn toàn thoả đáng. Khi mọi người ra quyết định cho tương lai, họ không biết chính xác tỷ lệ lạm phát sẽ là bao nhiêu. Điều này hàm ý rằng chúng ta phải sử dụng tỷ lệ lạm phát dự kiến chứ không phải là tỷ lệ lạm phát thực tế. Do vậy, lãi suất thích hợp đề điều chỉnh hành vi của các nhà tiết kiệm và đầu tư là lãi suất thực tế dự kiến được tính như sau: re= i- πe Còn chênh lệch giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát thực tế được gọi là lãi suất thực tế thực hiện. Phân tích ở trên cho thấy tiền đóng vai trò là phương tiện cất trã giá trị. Trong thời gian có lạm phát, chức năng này ít phát huy tác dụng. Nếu giá cả tăng, một đồng mua được ngày càng ít hàng hoá hơn. Lạm phát làm giảm giá trị của tiền gợi ra rằng nếu tỷ lệ lạm phát cao, dân cư sẽ ít giữ của cải dưới hình thái tiền tệ. Lợi thế của tiền là nó rất tiện lợi trong giao dịch. Tuy nhiên, nó cũng có những bất lợi đi kèm: nếu một cá nhân giữa của cải dưới hình thái tiền tệ, ảnh ta bỏ quên tiền lãi mà anh ta có thể nhận được nếu như giữ trái phiếu mà không giữ tiền. Tiền lãi mà lẽ ra anh ta có thể nhận được gọi là chi phí cơ hội của việc giữ tiền. 2.6. Chi phí của lạm phát: Mọi người thường cho rằng lạm phát là một vấn đề kinh tế nghiêm trọng vì khi giá cả tăng, họ không thể mua được lượng hàng hoá và dịch vụ như cũ với mức thu nhập hiện tại của mình. Do vậy, họ tin rằng lạm phát trực tiếp làm giảm mức sống. Tuy nhiên, quan điểm này không đúng vì mọi người kiếm được thu nhập nhờ việc bán các dịch vụ, chẳng hạn lao động. Thu nhập danh nghĩa thường tăng cùng giá cả. Bởi vậy, nhìn chung lạm phát không ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập thực tế của mọi người. Tuy nhiên, lạm phát có thể gây ra một số tác hại mà chúng ta không dễ phát hiện: – Chi phí mòn giày: Lạm phát cao hơn làm tăng lãi suất danh nghĩa mà hệ quả là mọi người sẽ giảm số tiền nắm giữ. Nếu mọi người giữ số dư tiền thực tế ít hơn, thì họ phải đến ngân hàng thường xuyên hơn để rút tiền. Điều này không hề thuận tiện và nó dẫn đến chi phí mòn giày. – Chi phí thực đơn: Lạm phát cao hơn làm cho các doanh nghiệp thay đổi giá cả thường xuyên hơn. Việc làm này là tốn kèm nếu họ phải in lại biểu giá và cataloge – Giá cả tương đối biến động mạnh hơn: Nếu các doanh nghiệp thay đổi giá cả không thường xuyên thì lạm phát sẽ làm cho giá cả tương đối biến động nhiều hơn. Do nền kinh tế thị trường dựa vào giá cả tương đối để phân bổ nguồn, lạm phát dẫn đến tính phi hiệu quả xét từ góc độ kinh tế vi mô. – Thay đổi gánh nặng thuế: nhiều luật thuế không tính đến tác động của lạm phát. Do đó, lạm phát có thể làm thay đổi gánh nặng thuế của các cá nhân và doanh nghiệp, ngoài dự kiến ban đầu của các nhà làm luật. Lạm phát ảnh hưởng đến hai loại thuế đánh vào tiết kiệm: + Lãi vốn là những khoản thu nhập có được từ việc bán một tài sản với giá cao hơn giá mua vào. Lãi vốn danh nghĩa là đối tượng chịu thuế. Giả sử bạn mua vào một cổ phiếu giá 20 đồng và bán cổ phiếu với giá 50 đồng. Nếu mức giá tăng gấp đôi trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó, thì bạn chỉ thu được một khoản lãi thực tế trên vốn là 10 đồng nhưng bạn phải đóng thuế trên khoản thu nhập danh nghĩa là 30 đồng, vì luật thuế không tính đến lạm phát. + Tiền lãi danh nghĩa cũng bị đánh thuế, cho dù một phần tiền lãi danh nghĩa là để bù đắp lạm phát. Khi chính phủ đánh thuế theo một tỷ lệ phần trăm cố định của tiền lãi danh nghĩa, thì tiền lãi thực tế sau thuế giảm khi lạm phát tăng. Nguyên nhân ở đây là lãi suất danh nghĩa tăng theo tỷ lệ một- một với lạm phát và thuế tăng cùng với lãi suất danh nghĩa, làm cho lãi suất thực tế trước thuế không bị tác động bởi lạm phát. Kết quả là lãi suất thực tế sau thuế giảm Do thuế đánh trên lãi về vốn danh nghĩa và tiền lãi danh nghĩa cho nên lạm phát làm giảm lợi tức thực tế sau thuế từ tiết kiệm. Vì vậy, lạm phát làm cản trở tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách áp dụng chỉ số trượt giá trong hệ thống thuế sao cho thuế chỉ còn đánh vào thu nhập thực tế. – Sự nhầm lẫn và bất tiện: Với tư cách đơn vị hạch toán, tiền là một thước đo mà chúng ta sử dụng để đo lường và tính toán các giao dịch kinh tế. Khi ngân hàng trung ương tăng mức cung tiền và gây ra lạm phát, giá trị của tiền giảm và thước đo kinh tế này bị co lại. Điều này làm cho việc hạch toán lợi nhuận của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn. Nó cũng làm cho các giao dịch hàng ngày trở nên dế nhầm lẫn hơn. – Tác hại đặc biệt của lạm phát không được dự tính trước- tái phân phối của cải một cách tuỳ tiện: Những tác hại của lạm phát mô tả ở trên tồn tại ngay cả khi lạm phát ổn định và được dự báo trước. Tuy nhiên, khi xảy ra bất ngờ, tức là nằm ngoài dự kiến của mọi người, lạm phát có thể gây ra một tác hại nữa đối với nền kinh tế bởi vì nó tái phân phối của cải một cách tuỳ tiền. Ví dụ, các điều kiện cho vay nói chung được tính theo các giá trị danh nghĩa dựa trên một tỷ lệ lạm phát dự kiến nhất định. Song nếu lạm phát cao hơn so với dự kiến, người đi vay hoàn trả tiền vay bằng những đồng tiền có sức mua thấp hơn dự kiến. Người đi vay được lợi, còn người cho vay bị thiệt. Ngược lại, nếu lạm phát thấp hơn dự kiến, người cho vay được lợi, còn người đi vay bị thiệt, vì người đi vay phải trả tiền vay bằng những đồng tiền có sức mua cao hơn dự kiến. Nếu lạm phát được dự kiến một cách chính xác, thì hiện tượng tái phân phối thu nhập như vậy không xảy ra, cho dù quy mô lạm phát là bao nhiêu. Lạm phát thấp bao giờ cũng tốt hơn, bởi vì nó ổn định hơn và có thể được dự kiến chính xác hơn. PHẦN 2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM THỜI GIAN VỪA QUA 1. NGUYÊN NHÂN GÂY LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 1.1. Thứ nhất là do giảm nguồn cung của một số mặt hàng thực phẩm thiết yếu, cụ thể: là dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh trong nhưng năm 2007 và vẫn còn đang tái phát trong 2008 gần đây nhất là đợt rét đậm, rét hại làm chết 8.328 con trâu bò ở Tây Bắc Bộ 1.2. Thứ hai là lạm phát do cơ cấu: đó là tăng lương cơ bản 20% vào 1/1/2008. Áp lực này vừa là kết quả của lạm phát thời gian qua, lại vừa là một phần nguyên nhân quan trọng cho lạm phát trong thời gian tới. Có thể nói quyết định tăng lương đã hoàn thành chu trình tạo ra lạm phát hiện nay, báo hiệu nguy cơ tự tái tạo của hiện tượng này. Do đó, nếu Chính phủ không tiếp tục chống lạm phát một cách cứng rắn, đạt được mục tiêu trên có thể trở thành một nhiệm vụ khó khăn. 1.3. Thứ ba là do chi phí đẩy: lạm phát của Việt Nam tăng cao còn do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới.Tình hình giá cả nguyên liệu thế giới đang nóng lên với việc giá xăng dầu tăng với tốc độ chóng mặt,gây ra rất nhiều khó khăn cho kinh tế Việt Nam. Nhất là trong tình hình lãng phí nhiên liệu trong sản xuất ở Việt Nam còn rất cao, phụ thuộc mạnh vào nhiên liệu có nguồn gốc từ dầu mỏ, chưa có các nguồn nhiên liệu thay thế như năng lượng mặt trời, sức gió, năng lượng thuỷ triều, năng lượng hạt nhân,… thì việc giá dầu tăng nhanh sẽ bắt đầu cho cơn bão giá cả, tạo điều kiện cho lạm phát theo quán tính. Về lâu dài có thể triệt tiêu khả năng tăng trưởng kinh tế. Giá dầu thế giới đã tăng cao trong năm 2007, và đầu năm 2008 đạt là 128USD/thùng vào 16/05/2008, mức mà chưa có dự báo nào trong năm 2007 đưa ra. Không riêng giá dầu, giá sắt thép tăng 21,4 (riêng phôi thép tăng 42,4%), đã làm tăng 259 triệu USD; giá phân bón tăng 71,3%, đã làm tăng 88 triệu USD; giá chất dẻo tăng 12,6%, đã làm tăng 54 triệu USD; giá sợi dệt tăng 14,2%, đã làm tăng 16 triệu USD; giá lúa mì tăng 55,5%, đã làm tăng 12 triệu USD; giá bông tăng 16,4%, đã làm tăng 10 triệu USD; giá giấy tăng 5,2%, đã làm tăng 6 triệu USD. Chỉ với những mặt hàng trên, do giá tăng đã làm kim ngạch nhập khẩu tăng gần 1 tỉ USD trong 2 tháng, chiếm gần một phần tư tổng kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng này. Trong khi đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam lại mang tính gia công rất cao, như dệt may, giày dép… có đến 80% nguyên liệu phải nhập khẩu. 1.4. Thứ tư là lạm phát do cầu kéo: Thực tiễn của nền kinh tế thị trường thế giới xác nhận rằng, lạm phát thường có mối liên hệ mật thiết với TTCK và thị trường bất động sản.Tình trạng này đã tác động quyết định đối với lạm phát xét trên các điểm chủ yếu sau đây: – Một là, tạo nên sự phân hoá hai cực, một cực là tình trạng bội thực vốn trong giới đầu cơ do thu được những khoản lợi nhuận rất lớn từ đầu cơ chứng khoán và bất động sản, hệ quả một mặt là tiền tiếp tục đổ vào thị trường bất động sản làm cho giá cả tăng vọt. Mặt khác là chuyển vào các kênh dự trữ như vàng, ngoại tệ mạnh hay chuyển ra nước ngoài do giá cổ phiếu giảm mạnh, gây thiếu hụt cung tiền làm tăng lãi suất; cực còn lại chủ yếu là các DN dân doanh, khu vực chủ yếu tạo ra tăng trưởng, thiếu vốn nghiêm trọng cho dù đã chấp nhận vay với lãi suất cao. Tình trạng này đương nhiên làm nảy sinh một hậu quả kép, một mặt, làm chệch hướng phân bổ đầu tư hiệu quả, do vậy làm giảm tăng trưởng. Mặt khác, gây nên tình trạng thiếu hụt tiền có thể coi là giả tạo trong lưu thông, khoảng cách cung và cầu tiền bị kéo doãng quá mức, vừa làm tăng giá hàng hoá vừa làm tăng chi phí đầu tư, do vậy lạm phát tăng. – Hai là, do siêu lợi nhuận có được từ đầu cơ trên cả hai TTCK và bất động sản đã làm nảy sinh phương thức tiêu dùng mà đặc trưng của nó, mua vét với khối lượng lớn trong một thời gian rất ngắn nhiều loại hàng hoá như đất đai, vàng, ngoại tệ… Mặt khác, tạo nên một kênh lưu chuyển riêng biệt về hàng hoá và tiền với khối lượng rất lớn trong giới đầu cơ, vừa làm biến dạng lưu thông tiền tệ, vừa tạo nên sự kích hoạt làm tăng giá đồng loạt nhiều loại hàng hoá một cách đột biến. Thêm vào đó, sự kích hoạt này được sự bổ trợ của hàng loạt tác nhân mà đáng kể nhất là tăng lương, tăng giá xăng dầu, giá nguyên liệu của nhiều loại hàng hoá nhập khẩu… sự chênh lệch giữa mặt bằng giá nội địa thấp và mặt bằng giá cao trên thị trường thế giới đã được khai thông theo nguyên lý bình thông nhau do độ mở của nền kinh tế, kết quả là mặt bằng giá của thị trường nội địa đã bị đẩy lên cao mang tính hệ thống để xích lại gần với giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới. Chưa hết, chính sách kiềm chế tăng giá của chính phủ trong một thời gian dài bất ngờ bị hụt hơi. Giá của nhiều loại hàng hoá rơi vào trạng thái gần như tăng tự do. Kết cục, giá cả tăng mạnh, lạm phát nhất thiết tăng cao. – Ba là, giá cổ phiếu giảm mạnh vốn là bài toán không xa lạ đối với các nhà đầu cơ. Họ chờ thời điểm chạm đáy và không vội vàng mua vào, một mặt do sự liên kết giữa họ. Mặt khác, họ kỳ vọng các phản ứng của Chính phủ, chẳng hạn như đổ tiền vào TTCK tạo nên sự kích hoạt tăng giá. Hậu quả đương nhiên là lạm phát gia tăng. – Bốn là, tạo nên tình trạng khó có khả năng kiểm soát. Sự tồn tại lâu dài của đầu cơ và lũng đoạn trên TTCK và thị trường bất động sản đã bao hàm trong nó cơ sở của tình trạng phân bổ vốn đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro mà rất khó kiểm soát đương nhiên tự nó sẽ sản sinh ra lạm phát. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng: sự yếu kém của hệ thống này thể hiện trên hai điểm chủ yếu: Nếu như trước đây hệ thống này có chức năng chủ yếu là cho các xí ngiệp quốc doanh vay tiền, nghiã là nguồn vốn chủ yếu của quốc gia được tập trung đầu tư vào lĩnh vực không có, hoặc ít có khả năng sinh lời, thì từ khi đổi mới đến nay, nó đã thực hiện một bước chuyển theo chiều ngược lại, chủ yếu tập trung cho vay ở lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao nhất của nền kinh tế, cụ thể là tập trung cho vay mua cổ phiếu và bất động sản. Vì rằng mua cổ phiếu và bất động sản chủ yếu là nhằm mục tiêu đầu cơ, thành thử trên thực tế, hệ thống ngân hàng trở thành một bộ phận hay chỗ dựa của các hoạt động đầu cơ và lũng đoạn thị trường. Điều này hàm ý rằng, trong trường hợp giá cổ phiếu sụt giảm mạnh như hiện nay và thị trường bất động sản khó tránh khỏi khủng hoảng trong thời gian tới, ngân hàng đã và sẽ mất khả năng thanh toán, tạo ra tình trạng hoảng loạn, người gửi ồ ạt rút tiền để chuyển sang các hình thức dự trũ khác ít rủi ro hơn, như vàng hay những hàng hoá có khả năng đảm bảo khác làm cho thị trường tài chính rối loạn. Bên cạnh đó, tình trạng hàng loạt công ty đua nhau lập ngân hàng chủ yếu nhằm kinh doanh chứng khoán và bất động sản, từng dòng người chen chúc nhau mua vét vàng ở các hiệu vàng tư nhân không thể không làm suy yếu hệ thống ngân hàng và gia tăng thêm tình trạng hỗn loạn của thị trường tài chính. Vì rằng chính sách tài chính tiền tệ chỉ có thể phát huy tác dụng trong điều kiện hệ thống ngân hàng đủ mạnh, nên trong bối cảnh nêu trên, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hoặc là sẽ bị tê liệt, hoặc là không có thậm chí phản tác dụng, lạm phát như là kết quả tất nhiên không thể tránh khỏi. Mặt khác, việc tổ chức hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập với các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Quan sát vẻ bề ngoài thì dường như sự phân cấp của hệ thống ngân hàng hiện nay là tương thích với hệ thống ngân hàng của các nước có nền kinh tế thị trường. Thế nhưng trên thực tế, ngân hàng trung ương nước ta cũng chỉ giống như một bộ ngành thực hiện chức năng quản lý hành chính chứ không phải làm nhiệm vụ quản lý hệ thống ngân hàng chuyên doanh mà nhiệm vụ quan trọng nhất là định hướng các ngân hàng này chuyển tiền vào các lĩnh vực đầu tư có hiệu quả chứ không phải chủ yếu chuyển vào các cuộc chơi đầy may rủi như hiện nay. Thực tế của nền kinh tế thị trường xác nhận rằng, quy định lãi suất, mức dự trữ bắt buộc hay lớn hơn là quyết định mức cung tiền vẫn đơn thuần là các nghiệp vụ hành chính chừng nào không có khả năng định hướng các ngân hàng chuyên doanh nhằm vào mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Xét trên giác độ này, ngân hàng trung ương đã không thực hiện được chức năng định hướng các ngân hàng chuyên doanh hoạt động hiệu quả. Thực tế là, ngân hàng trung ương có rất ít mối quan hệ với các ngân hàng chuyên doanh. Mối quan hệ tương tác xét trên bình diện quản lý kinh tế thực sự là chưa được xác lập. Bằng chứng là, các hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng chuyên doanh, về cơ bản không có mối liên hệ nào với ngân hàng trung ương. Rõ ràng là các hoạt động tín dụng của ngân hàng vì mục tiêu đầu cơ trong TTCK và thị trường bất động sản đã tồn tại trong một thời gian dài, trong khi ngân hàng trung uơng thực ra chỉ tồn tại bên cạnh nó như một cơ quan quản lý hành chính bất lực trước các hoạt động đầu cơ của các ngân hàng chuyên doanh. Với một hệ thống ngân hàng như vậy, lạm phát chỉ là vấn đề thời gian ngay cả trong trường hợp giá nguyên liệu thế giới cũng như giá lương thực thực phẩm không tăng. Nói khác đi, lạm phát nhất định sẽ xảy ra mà không phụ thuộc vào tăng giá lương thực, thực phẩm cũng như tăng giá nguyên liệu trên thị trường thế giới ở mức độ nào. 1.5. Thứ năm là Lạm phát do chính sách tiền tệ: Lạm phát có được bước nhảy vọt ngoặt mục như thế phần lớn từ chính sách thiếu đồng bộ giữa ngân hàng và bộ tài chính. Vấn đề nhảy vọt có nguyên nhân khá rõ ràng. Ngân hàng (NH) phải mua vào số lượng lớn ngoại tệ (đầu tư trực tiếp và đặc biệt là đầu tư vào TTCK.Thời báo Kinh tế Sàigòn (số 10/2008) đã đưa thông tin rất quan trọng cho biết, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nửa đầu năm 2007 đã tung ra 105 ngàn tỉ đồng để mua vào 6,5 tỉ USD làm dự trữ ngoại tệ, sau đó lại tung thêm 40 ngàn tỉ đồng để mua thêm 2,5 tỉ USD . Như vậy tổng số tiền tung ra mua 9 tỉ USD ngoại tệ là 145 ngàn tỉ đồng. Muốn tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi phải thúc đẩy đầu tư mạnh, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều, như vậy lượng tiền đưa vào lưu thông cũng phải tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, khi chênh lệch giữa mức tăng cung tiền và tăng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) trở nên quá lớn thì áp lực lạm phát tiền tệ cũng sẽ nảy sinh. Như đã được đề cập, cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột biến (gồm cả đầu tư và kiều hối), từ đó buộc Ngân hàng nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng. Việc mua đó đồng nghĩa với tung thêm tiền đồng Viêt Nam vào lưu thông, nhưng không thể không mua được vì một mặt để tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho nhập khẩu, mặt khác là để thu hút luồng vốn từ bên ngoài vào phát triển kinh tế. Nhưng theo các nhà kinh tế, không mua USD vào còn tồi tệ hơn, làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư trong nước. Bởi vậy, hoạt động nghiệp vụ tiền tệ thu gom hơn 90 000 tỉ đồng trong năm 2007 là giải pháp đúng của Ngân hàng nhà nước. Nhưng lạm phát bùng lên trong năm 2007 và hai tháng đầu năm 2008 là do nhiều nguyên nhân, thậm chí có cả nguyên nhân tích tụ từ lâu do đầu tư kém hiệu quả (hệ số ICOR tăng), cuối cùng thể hiện ở chênh lệch giữa tăng trưởng GDP và tăng cung tiền của Việt Nam đã ngày một dãn rộng trong vòng 3 năm qua. Trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6-2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110%. Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50%. Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cung tiền của Thái Lan là hầu như không đáng kể. 1.6. Thứ sáu là Lạm phát do tỉ giá hối đoái VND: Neo tỷ giá cứng nhắc với USD dẫn đến cung tiền tăng mạnh Kinh tế Việt Nam trẻ, được đánh giá có nhiều tiềm năng và triển vọng về cơ hội đầu tư do vậy sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đột biến (chỉ tính riêng năm 2007 đã tới 20 tỉ USD). Về nguyên tắc khi luồng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng, Việt Nam Đồng (VNĐ) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng. Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ này với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với đồng Đô la Mỹ (USD) thấp hơn điểm cân bằng nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả. Giữ VNĐ yếu có thể coi là một hình thức trợ giá cho hàng xuất khẩu và phát huy ở trong những điều kiện kinh tế thế giới nhất định. Tuy nhiên, mặt trái thứ nhất của chính sách này là do phải tung VNĐ ra mua lại lượng ngoại tệ chảy vào, lượng cung tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tăng tổng cộng 135%. Đây là mức tăng rất lớn mặc dù NHNN đã có nỗ lực hút lại một phần cung tiền. Neo tỷ giá với USD đang mất giá mạnh trên toàn cầu khiến chi phí cho sản xuất trong nước tăng Tuy nhiên tỷ giá của VND trong thời gian này hầu như không biến đổi so với USD (tính đến cuối tháng 2/2008 chỉ tăng 0.24% so với 2006). Do đó qua việc neo tỉ giá, VNĐ cũng giảm trung bình 15% so với các ngoại tệ mạnh khác. Chính sách VNĐ yếu mặc dù có thể thúc đẩy xuất khẩu nhưng đồng thời lại góp phần “nhập khẩu lạm phát “vào Viet Nam. Lí do là sản xuất tại Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất lớn vào các nguyên vật liệu nhập khẩu như xăng dầu, xi măng, sắt thép, máy móc…Sự mất giá của USD hay nói cách khác là sự tăng giá thành của các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu cho sản xuất tính bằng VNĐ dưới chế độ tỷ giá neo là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất trong nước tăng, kéo theo giá cả hàng hóa tăng theo. Chi phí cho sản xuất tăng cao, lượng cung tiền lớn do vậy lạm phát phi mã là không tránh khỏi. 1.7. Thứ bảy Lạm phát do bội chi ngân sách: Theo đánh giá của IMF thì bội chi ngân sách của Việt Nam là 6,6%GDP lớn hơn mức độ bội chi tối đa cho phép là 5%. Chính phủ có thể hồi phục sự ổn định tương đối nhanh chóng bằng kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của doanh nghiệp nhà nước. Vào đầu những năm 90, lo lắng vì hoạt động kém hiệu quả của các công ty nhà nước khiến chính phủ quyết định thành lập các tổng công ty và tập đoàn kinh tế, theo hình mẫu keiretsu của Nhật và chaebol của Hàn Quốc. Ý định ban đầu là quy mô lớn sẽ giúp các công ty cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các NHTM đang phải huy động vốn trong dân với lãi suất từ 10-11%/năm. Trong khi bị bắt buộc mua tín phiếu của NHNN với lãi suất 7,8%. Điều này đồng nghĩa với việc chi phí sản xuất sẽ tăng cao, có nghĩa là giá thành sản phẩm sẽ không thể nào giảm được. Giá cả vì thế lại tiếp tục leo thang. Như vậy, nếu tình trạng này kéo dài, cuộc chiến chống lạm phát do NHNN khởi xướng với những công cụ tưởng như rất kịp thời và đúng tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu gánh nặng lạm phát cho doanh nghiệp và nâng cao đời sống người dân về bản chất đang trở thành cuộc đùn đẩy trách nhiệm và chi phí chống lạm phát sang cho chính họ (doanh nghiệp và người dân). Chống lạm phát như thế có thể được ngay hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài sẽ để lại hậu quả thật khó lường. Sản xuất đóng băng, tăng trưởng suy giảm, nền kinh tế rất dễ sa vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng và đời sống người dân ngày càng chật vật. 2.THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Vấn đề lạm phát của nền kinh tế nước ta đã được đưa ra nhiều từ giữa năm 2007. Có thể thấy, liên tục từ 1998 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP năm sau đều cao hơn năm trước và năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, cũng đã có sự cảnh báo về sự tăng trưởng nóng, về sự bền vững của tăng trưởng. Trước tình hình và diễn biến của nền kinh tế – xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên số hàng đầu. Giá cả leo thang làm cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp điêu đứng. Không chỉ giá lương thực thực phẩm leo lên vùn vụt, mà giá than, giá vật liệu xây dựng và giá một số dịch vụ cũng tăng lên. Hiện tượng mức giá chung tăng đều đặn được gọi là lạm phát. Người ta dùng nhiều chỉ số để đo lạm phát và chỉ số quen thuộc nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chỉ số này được tính trên cơ sở theo dõi biến động giá theo thời gian của các mặt hàng nhất định (từ 2005 rổ hàng hoá này gồm gần 500 hàng hoá và dịch vụ). Chỉ số CPI đã liên tục tăng suốt 4 năm qua: Bắt đầu là 9,5% năm 2004; 8,4 % năm 2005; 6,6% năm 2006; 12,6% năm 2007 và trong 4 tháng đầu năm 2008 đã tăng 11%. Chỉ số CPI từ 2000 đến quí 1/2008 ( Nguồn: Tổng cục thống kê) Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Quý1/2008 CPI -0.6 8 4 3 9.5 8.4 6.6 12.6 11 Thông qua bảng dữ liệu trên có thể rút ra nhận xét : Thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu. Bằng chứng, cùng chịu chung áp lực biến động giá trên thị trường thế giới, nhưng 2 tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng ở các nước trong khu vực tăng không đáng kể: Thái Lan – 1,7%, Malaysia – 2,2%, Indonesia – 1,8%, Trung Quốc – 2,9%, trong khi con số này ở ta là – 6,19%.1 Dễ nhận thấy nhất là ở hiệu quả sản xuất. Trong khi những yếu tố lợi thế như lao động rẻ hay giá năng lượng thấp vẫn chưa được khai thác triệt để thì các chi phí khác lại quá cao. Nhiều chi phí cao đến mức phi lý như: chi phí thuê đất, chi phí vận tải, đặc biệt là các chi phí “bôi trơn”; công nghệ sản xuất thì lạc hậu (đi sau so các nước trong khu vực khoảng chừng 20-30 năm); cơ sở hạ tầng còn yếu, nền công nghiệp lệ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu… cộng thêm với năng lực quản lý còn yếu, quan liêu, tham nhũng (đặc biệt ở các DNNN). Tất cả đã đẩy giá thành các sản phẩm trong nước lên tới mức trần, có nghĩa là không còn khoảng trống an toàn để dự phòng về giá. Chính vì vậy, khi một yếu tố sản xuất nào đó thay đổi, ngay lập tức tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam kém năng động bởi vì khi nhìn vào phản ứng của các chủ thể kinh tế cơ bản sẽ thấy Ngân hàng Nhà nước, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong kiểm soát lạm phát, trước lượng tiền đầu tư nước ngoài tăng hơn dự kiến (7 tỷ USD trong 6 tháng) đã tỏ ra bối rối. Khi một quốc gia được các nhà đầu tư “ưu ái” bơm tiền – đó là cơ hội lớn. Nhiệm vụ của chúng ta là làm thế nào để hấp thụ lượng tiền này, biến nó thành sản phẩm, thành giá trị gia tăng thúc đẩy kinh tế phát triển. Các doanh nghiệp cũng vậy, trước áp lực lạm phát, vẫn giữ một chiêu duy nhất – tăng giá bán, khá hơn một chút là thực hành tiết kiệm Tình hình kinh tế – xã hội những tháng đầu năm 2008 đã và đang có những diễn biến bất lợi. Tăng trưởng kinh tế vẫn cao, nhưng không đạt mục tiêu đề ra, tăng trưởng của công nghiệp – xây dựng thấp. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có biểu hiện xấu.Giá tiêu dùng liên tiếp tăng và tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đã là 9,19%, nêu tính cả tháng 4 đã là trên 11%, ảnh hưởng rất bất lợi đến sản xuất kinh doanh, đến đầu tư phát triển và tác động xấu đến đời sống nhân dân. Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán có nhiều biến động bất thường, nhập siêu tăng cao, cán cân thương mại và cán cân thanh toán thiếu vững chắc,mới đây nhất là việc giá dầu tăng cao kỉ lục 128 USD/thùng .Nhóm hàng lương thực đã tăng 15,02%,nhóm hàng thực phẩm tăng 10,06% ,nhà ở và xây dựng tăng 11,01%… và chỉ có riêng nh._.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục
  • Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022
  • Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Án Lạm Phát Và Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp In Date Cho Ngành Mía Đường Việt Nam
  • Hội Thảo: “giải Pháp Nào Cho Ngành Mía Đường Việt Nam Trong Tình Hình Mới”?
  • Tìm Giải Pháp Cho Ngành Mía Đường Việt Nam
  • Giải Pháp Nào Cho Ngành Mía Đường Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Thủ Tướng Đưa 9 Giải Pháp Hỗ Trợ Cho Ngành Mía Đường Thực Hiện Cam Kết Atiga
  • Phần I: Tổng quan về lạm phát và lạm phát ở Việt Nam 3

    1.1/ Lạm phát vừa phải 4

    1.2/ Lạm phát phi mã 4

    1.3/ Siêu lạm phát 4

    2/ Những biểu hiện của lạm phát 4

    2.1/ Sự mất giá liên tục của các loại đồng tiền có giá 5

    2.2/ Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng 5

    2.3/ Khối lượng bút tệ tăng lên 5

    3/ Lạm phát ở Việt Nam ( từ năm 1986 đến năm 2004) 5

    3.1/ Thời kỳ trước đổi mới( trước năm 1986 ) 6

    3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) 6

    3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) 6

    3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) 7

    3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) 7

    Phần II: Nguyên nhân và các tác động của lạm phát 8

    1/ Nguyên nhân của lạm phát 8

    1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách 8

    1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí 8

    1.3/ Lạm phát ỳ 9

    2/ Tác động của lạm phát 9

    2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau 10

    2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp 11

    2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến 12

    Phần III: Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13

    1/ Tình hình biến động giá cả 14

    2/ Nguyên nhân tăng giá 16

    2.1/ Nguyên nhân khách quan 16

    2.2/ Các nguyên nhân chủ quan 16

    Phần IV: Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam 17

    1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát 17

    2/ Các biện pháp chống lạm phát ở Việt Nam hiện nay 18

    3/ Một số đề xuất, kiến nghị 20

    Tài liệu tham khảo 22

    ất hiện. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 1976-1985 nền kinh tế đã có nhiều biểu hiện suy thoái, khủng hoảng và lạm phát. Sản xuất đình đốn, kinh doanh kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vật chất cao, thu nhập quốc dân tăng không đáng kể, đời sống nhân dân giảm sút, giá cả ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen có khoảng cách khá xa. Nông nghiệp với tỷ trọg chiếm trên 40% tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân, nhưng gía trị sản xuất nông nghiệp chỉ tăng 3,8%/ năm. Công nghiệp tăng bình quân 5,2%/năm. Dịch vụ thì hầu như không phát triển, xuất khẩu thì nhỏ bé. Thời kỳ này, tình trạng đất nước làm không đủ ăn, tình hình kinh tế- xã hội khó khăn không thể kể hết. 3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) Sau Đại hội đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trang khủng hoảng kinh tế- xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9%/ năm trong khi dân số tăng 2,3%. Trong thời kỳ này, lạm phát ở mức cao, thu nhập người dân lại không tăng, vì vây mức sống thực của người dân đã thấp nay còn thấp hơn. 3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) Giai đoạn này, tình hình kinh tế- xã hội nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn diện, nền kinh tế đã bắt đầu vượt ra khỏi khủng hoảng để đi vào thế ổn định. Điểm nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn các giai đoạn trước đó với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và liên tục. Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 là bước đầu chặn được lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm 1990 xuống 12,7% năm 1995. Nămm 1991, tỷ lệ lạm phát là 67,5%, năm 1992 là 17,5%, năm 1993 là 5,2%, năm !993 la 14,4% và năm 1995 là 12,7%. Mặc dù tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức hai con số song đây là một chỉ số giá rất nhỏ bé so với các năm trước đó 3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) Bước vào giai đoạn 1996-2000, các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới đã tác động không nhỏ tới nền kinh tế nước ta.Thiên tai lại liên tiếp xảy ra trong nước… Tuy vậy, một điều đáng lưu ý trong giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chững lại thì tỷ lệ lạm phát lai đi xuống và chuyển sang giai đoạn thiểu phát. Điều này thể hiện ở chỗ năm 1995 tỷ lệ lạm phát là12,7% thì đến năm 2000 là -0,6% đi cùng với chỉ số giá tiêu dùng ở mức 0,1% năm 1999 và -0,6% năm 2000. Thời kỳ này cho ta thấy khi lạm phát thấp hay giảm phát thì mức tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, ảnh hưởng không tốt đối với nền kinh tế. Chính vì vậy trong giai đoạn này chúng ta đã áp dụng các biện pháp kích cầu để đẩy nhanh tăng trưởng lên. 3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn này, chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đưa tỷ lệ lạm phát lên một mức hợp lý . Trong bốn năm, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, cơ chế kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi mặt xã hội được cải thiện và phát triển. Tỷ lệ lạm phát tăng từ -0,6% năm 2000 lên 9,5% năm 2004. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2004 thì lạm phát lại có nguy cơ tái diễn. Năm 2004, tình hình biến động trên thị trường thế giới và biến động trên thị trường trong nước, lạm phát lại như một bóng ma một lần nữa lại rình rập gây bất ổn định nền kinh tế. Với chỉ số giá 9,5% năm 2004 là một gianh giới mỏng manh giữa lạm phát kiểm soát được và lạm phát cao. Phần II Nguyên nhân và các tác động của lạm phát Trong phần II này, người viết muốn đem đến cái nhìn tổng quan nhất về nguyên nhân và các tác động chung cua lạm phát đối với xã hội và kinh tế, trước khi đi sâu tìm hiểu nguyên nhân lạm phát ở nước ta trong thời gian vừa qua. 1/ Nguyên nhân của lạm phát Lạm phát khởi thuỷ từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất là lạm phát có thể xảy ra do tác động chủ quan của hệ thống tiền tệ- tín dụng – ngân hàng. Bất cứ một sự biến đổi nhỏ nào của hệ thống này đều có tác động hoặc tăng hoặc giảm tỷ lệ lạm phát Thứ hai là lạm phát cũng chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khách quan như chính trị, xã hội, thiên tai, bão lụt, tình trạng thất nghiệp, nền sản xuất.. do chịu tác động của nhiều yếu tố trong nền kinh tế như vậy nên lạm phát diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi trong quá trình chống lạm phát có chiến lược đúng đắn để lạm phát luôn nằm trong quỹ đạo mà nền kinh tế có thể chấp nhận được Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đó có thể tóm gọn lại như sau 1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụt ngân sách chi tiêu của Nhà nước( y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầu khuyếch trương nền kinh tế. Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt. Nguyên nhân của lạm phát ở đây được xác định là lạm phát do cầu hàng hoá vượt qua cung. Hàng hoá bị săn đuổi bởi lượng chi tiêu quá lớn, mà bản chất của nó là sự chi tiêu quá nhiều trong lúc lượng cung hàng hoá bị hạn chế. 1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả của các loại hàng hoá và tiền lương luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xảy ra. Lạm phát như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên, có nghĩa là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên. Thực chất ở các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khi các cuộc đấu tranh của công đoàn đạt được một thoả thuận về mức lương mới thì các nhà tư bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ đã mất đi do tăng tiền lương cho công nhân bằng cách nâng giá bán hàng hoá lên. 1.3/ Lạm phát ỳ Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế tư bản, là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. ở những nước có lạm phát ỳ xảy ra , có nghĩa là nền kinh tế ở nước đó có một sự công bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được trông đợi và được đưa vào các hợp đồng và các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, chính sách tài chính của Nhà nước, giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn đông kinh tế xảy ra. ( Lúc đó lạm phát ỳ có thể tăng hoặc giảm). 2/ Tác động của lạm phát Tìm hiểu về những tác động của lạm phát đối với các mặt của đời sống kinh tế – xã hội là cần thiết để từ đó đưa ra những giải pháp đúng đắn, hợp lý và hiệu quả chống lại lạm phát. Lạm phát được nhận diện về tác động của nó lại hết sức khác nhau, xét về nhiều góc độ khác nhau, biểu hiện ở nhiều trường phái kinh tế khác nhau, bao gồm cả những sự lên án gay gắt, cùng sự thừa nhận vai trò tích cực của nó đối với nền kinh tế. Vậy nên nhìn nhận vấn đề về tác động của lạm phát theo hướng nào? Với những người lên án lạm phát, tất thảy đều cho rằng lạm phát là thứ thuế phi lí nhất, vô nhân đạo nhất, và do đó cũng là tàn nhẫn nhất. Cơ sở của sự lên án này là lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền, tạo ra sự phân phối thu nhập tiền tệ, làm cho người giàu ( sở hữu nhiều tài sản ) thì giàu thêm và người nghèo ( không hoặc sở hữu ít tài sản ) thì nghèo thêm, với sự phê phán này, lạm phát chính là sự cố ý hay không cố ý gây ra bởi Nhà nước- chỉ có Nhà nước- người điều hành và quản lý nền kinh tế- mới gây ra họăc không gây ra mà thôi, và do đó, cùng với các sắc thuế mà nhà nước định ra và hành thu thì đây cũng là sự tước đoạt phần thu nhập chính đáng của họ- qua giảm sức mua của tiền tệ- và người gây ra không ai khác là Nhà nước- mà đại diện là ngân hàng trung ương- cơ quan độc hành phát hành tiền. Khác với những phê phán nói trên, một trường phái kinh tế khác cho rằng, không phải bất kỳ một loại lạm phát nào cũng đều là xấu, mà tuỳ thuộc vao từng loại lạm phát. Người ta cho rằng, điều lên án trên chỉ ám chỉ lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Với lạm phát vừa phải không những không có hại mà ngược lại, còn cần đối với nền kinh tế, nhiều khi nó như là một loại chất kích thích, có khả năng giúp nền kinh tế tăng trưởng . Đại diện cho quan điểm này là Benjamin Franklin với câu nói sau đây: ” vào khoảng thời gian có tiếng kêu… đòi có nhiều tiền giấy hơn… tôi đã đứng về phía phát hành thêm vì tôi tin chắc rằng, số lượng nhỏ đầu tiên in vào năm 1723 đã đem lại nhiều điều tốt, thúc đây buôn bán, tạo thêm công ăn việc làm đối với số dân ở các tỉnh. Tính lợi ích của số tiền đó, qua thời gian và kinh nghiệm, đã hiển nhiên đến mức không ai tranh cãi giì nhiều… tuy nhiên… có những giới hạn của nó mà vượt khỏi giới hạn đó thì lợi biến thành hại”. Ngày nay, các quan điểm đã được kiểm chứng tính đúng đăn của nó trong đời sống của nhiều nền kinh tế khác nhau. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì làm phát bao giờ cũng gây ra những tác động đối với đời sống, đặc biệt là lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Các tác động của nó là: 2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người cho vay nợ là có lợi nhất. Vì giá cả các loại tài sản và hàng hoá đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Những người làm công ăn lương, những người gửi tiền là bị thiệt hại. Vì vậy để tránh thiệt hại một số nhà kinh tế đưa ra bài tính đơn giản là lãi suất cần phải được điều chỉnh cho phù hợp và đúng với tỷ lệ lạm phát . Ví dụ lãi suất thực tế là 3%, tỷ lệ tăng gía cả là 9% thì lãi suất danh nghĩa phải là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được ở mức lạm phát thấp, lạm phát một con số một năm. Khuynh hướng chung là khi dự đoán có lạm phát các người làm ăn” kinh tế ngầm” họ thường dự trữ vàng, đầu tư vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra. Trong khoảng thời gian 1987-1988 và đầu năm 1989 nhiều người đâù cơ vàng và bất động sản ở Việt Nam đã giàu lên nhanh chóng. Còn những người làm công ăn lương thì cũng nghèo đi nhanh chóng như vậy. Khi giá vàng bị đẩy lùi trở lại, những người đầu cơ vàng vẫn không bị thiệt hại giì bởi vì giá vàng so với các loại hàng hoá khác cao cấp như tủ lạnh, ti vi… và ngoại tệ thì vẫn không suy giảm chút nào cả. Vì vậy trong thời kỳ giá vàng bị đẩy lùi trở lại xuống mức rất thấp họ âm thầm mua vàng và lại bán ra khi ra vàng được nâng lên. Trong thời kỳ này những người gửi tiền tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất. ở thời kỳ lạm phát các nhà nướcthấy rằng họ giảm bớt được các gánh nợ nần của chính phủ. Song họ sẽ bi áp lực chính trị của khối đông quần chúng nhân dân lao động bị thiệt hại do lạm phát xảy ra. ở thời kỳ lạm phát như vậy nếu Nhà nước mở rộng khối cung tiền tệ để đáp ứng yêu cầu của đầu tư thì nó sẽ kích thích các nhà đầu tư, vì người vay tiền luôn có lợi và kinh tế sẽ có khả năng phát triển, nhưng nếu chi tiêu của Nhà nước chỉ nhằm vào các khoản phi sản xuất thì nền kinh tế sẽ tồi tệ đi. Các nhà kinh doanh có khuynh hướng ngâm hàng để hưởng lợi, bởi nếu tiếp tục sản xuất chưa chắc đã có lợi bằng việc giữ hàng. 2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp Đối với kinh tế tiền tệ, khi lạm phát xảy ra nói chung nó có tác động làm tăng trưởng nền kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm. Nhưng trong nền kinh tế bao cấp thì không như vậy, vì việc sản xuất nhiều hay ít đều do nhà nước quyết định, chỉ tiêu giá cả đều do nhà nước quy định, nên sự thúc đẩy của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế là không có. Tất nhiên sản xuất không ra tăng thì khối lượng công ăn việc làm cũng không nhiều lên và từ đó thu nhập danh nghĩa từ lương không thể đủ sống, do vậy có hiện tượng họ làm lấy lệ rồi tìm một việc giì đó có thu nhập để kiếm thêm, có khi thu nhập này còn lớn hơn cả tiền lương. Trong cơ chế thị trường lạm phát làm biến dạng giá cả tương đối, đặc biệt là tiền tệ bị mất giá nghiêm trọng, lãi suất thực tế bị giảm đến mức dưới 0. Ví dụ những người gửi tiền trong năm 1980 ở Đức thu được lãi suất thực tế bằng-12,6%. Lý do là giá cả của đầu vào được định theo các quy tắc lâu dài, còn giá cả đầu ra thì không chịu theo quy tắc đó Tuy nhiên, cần lưu ý là tuỳ vào mức độ lạm phát mà sự thiệt hại của lạm phát sẽ như thế nào. Lạm phát thấp vừa phải sẽ gây ra những tác động vừa phải. lạm phát cao sẽ có những tác hại lớn hơn. Về khía cạnh chính trị lạm phát làm nhân dân phẫn nộ. Xung đột giai cấp sẽ xảy ra ở các nước tư bản , ở các nước XHCN nhân dân sẽ phản ứng do việc phân phối không công bằng: bộ phận sản xuất luôn được tăng thu nhập, bộ phận hành chính sự nghiệp thu nhập bị giảm sút. 2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến Chúng ta sẽ tìm hiểu về loại lạm phát dự kiến Giả sử mỗi tháng giá cả tăng 1%. Loại lạm phát ổn định và biết trước 12%/ năm này gây ra những tổn thất cho xã hội Thứ nhất là tác dụng gây biến dạng thuế lạm phát đối với số tiền mà mọi người đang giữ. Thứ hai , tổn thất của lạm phát sinh khi lạm phát cao buộc các dạn phải thay đổi biểu giá thường xuyên hơn. Việc thay đổi giá đôi khi cũng tốn kém Thứ ba, tổn thất của lạm phát sinh ra do các doanh nghiệp tránh điều chỉnh giá cả thường xuyên khi chi phí cho việc điều chỉnh đó phát sinh, vì vậy, lạm phát càng cao , sự biến động của giá tương đối càng lớn. lạm phát gây ra sự biến động giá cả tương đối. Vì nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, nên lạm phát dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên giác độ vi mô. Loại tổn thất thứ tư của lạm phát do luật thúê gây ra. Nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến lạm phát. lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân, thường trái với ý định người làm luật.Một ví dụ về thất bại của luật thuế trong việc đối phó với lạm phát là cách sử lý của thuế đối với lãi về vốn. Tổn thất thứ năm của lạm phát là sự bất tiện của cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường xuyên thay đổi. Tiền là thước đo mà chúng ta dựa vào để tính toán các giao dịch kinh tế. Khi có lạm phát phát, cái thước này co giãn. Khi mua người nào đó đo bằng thước, chúng ta cần xác định xem anh ta đo bằng thước đo năm 1995 hay 1996. để so sánh chiều dài qua các năm người ta cần điều chỉnh “lạm phát “. Cũng như vậy, đồng đô la là cái thước kém tác dụng hơn khi giá trị của nó thường xuyên thay đổi. Phần III Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Do nôi dung bài tiểu luận có hạn, không cho phép phân tích được một cách toàn diện các cuộc lạm phát ở Việt Nam trong tất cả các năm trở lại đây, vì vậy trong phần III sẽ chỉ đi sâu vào phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam trong 2 năm( 2004 – 2005) Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét có vẻ ngày càng khởi sắc, chẳng hạn như tốc độ phát triển kinh tế đã từ 4,8% năm 1999 lên đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy có những đám mây mù dường như đang kéo lại từ phía chân trời. Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Châu á năm 1997, Việt Nam chủ trương kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bù lại mức giảm đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Ta thấy mức đầu tư nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6% GDP năm 1999 lên tới 35%GDP năm 2003. Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế giới, thế nhưng do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực Nhà nước, tốc độ phát triển cũng chỉ đạt được 7,35. Trong đầu tư, chính sách của Nhà nước vẫn là tập trung phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu( thay thế sắt thép, xi măng, đường) ,kể cả v iệc đưa tới việc bảo vệ thị trường nội địa cho đầu tư nước ngoài( xe hơi, xe gắn máy ), thay vì việc tập trung phát triển sản xuất nhằm xuất khẩu. Do chính sách kinh tế trên, thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu ngày càng cao, tăng từ 0% GDP năm 1999 lên 13,5 % năm 2003. Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng tín dụng đã đưa lạm phát đến mức báo động. Cả năm 2003 lạm phát là 3%. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2004 lạm phát đã lên tới 7,2 % và cho cả năm 2004. Việc tăng tiền lương không bắt kịp với tỷ lệ lạm phát . Từ “Lạm phát ” là dịch nghĩa của chữ inflation. Về chữ nghĩa thì “lạm phát ” là lạm phát in tiền. Do đó có thể lý luận một cách vô nghĩa rằng tăng giá không nhất thíêt là do lạm phát tiền. Nhưng lý thuyết tiền tệ đã chỉ ra rằng tăng gía nói chung cho cùng là tăng vấn đề về tiền tệ Mặc dù trong thời gian 2004 và đầu năm 2005 tình hình lạm phát đang ở mức có thể kiểm soát được, nhưng nguy cơ bùng nổ lạm phát vẫn ở mức cao đe doạ sự ổn định và phát triển của kinh tế Việt Nam. 1/ Tình hình biến động giá cả Từ những tháng đầu năm 2004, tình hình giá cả trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, giá một số vật tư và hàng tiêu dùng thiết yếu tăng cao ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống. Chỉ số giá tiêu dùng hầu như tăng liên tục trong cả năm 2004. Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm : tháng 1 tăng 1,1 %, tháng 2 tăng 3 %, tháng 3 tăng 0,8 %, tháng 4 tăng 0,5 %, tháng 5 tăng 0,9 %, cao hơn tháng 2, 3, 4. Chỉ số giá tiêu dùng đầu năm 2004 đã tăng 7,2 % so với tháng 12/2003. Sau một loạt các biện pháp được áp dụng thì tình hình giá cả được cải thiện. Giá cả 6 tháng cuối năm có tăng chậm và thấp hơn so với 6 tháng đầu năm và chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2004 so với thagn 12 năm 2003 tăng 9,5 % , trong đó giá lương thực thực phẩm vẫn là tăng cao nhất ( 15,5%). Mức độ tăng gía 6 tháng và cả năm 2004 chỉ tập trung vào các nhóm hàng lương thực thực phẩm, thuốc tân dược , giá nhà ở và vật liệu xây dựng. 6 tháng đầu năm 2004 giá nhóm hàng lương thực thực phẩm tăng cao nhất là 12,3%, trong đó giá lương thực tăng 11,5%, thực phẩm tăng 14,6 %. Tình hình giá cả cả năm 2004 cũng phản ánh xu thế như 6 tháng đầu năm tuy có chuyển biến đôi chút. Việc giá thực phẩm tăng cao được giải thích do dịch cúm gà nên gây ra tổng cung thực phẩm thấp hơn tổng cầu thực phẩmvào các tháng đầu năm. Còn giá lương thực các tháng cuối năm tăng chậm lại do giảm bớt xuất khẩu lương thực nên giảm bớt sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu. Mặt khác, 6 tháng cuối năm nhờ có các chính sách chống đầu cơ thuốc và luật đất đai có hiệu lực, cũng như có nhiều công trình xây dựng nhà đang dần đưa vào cuộc sống hơn nên đã làm cho mức giá các mặt hàng này giảm xuống. Quan sát 6 tháng đầu năm 2004 thì thấy có đến 4 nhóm hàng có chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng 5/2004. Đó là nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng . Ngoài ra một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhẹ như may mặc, giày dép, mũ nón( tăng 2,1%), thiết bị và đồ dùng gia đình cũng tăng 1,6% so với tháng 12/2003. Tháng 6, chỉ số giá đôla Mỹ vẫn giữ nguyên trong khi giá vàng đã giảm tới 1,4%. Nhưng đến tháng 7/2004 thì giá các mặt hàng tăng không đáng kể so với thang6 trừ giá dược phẩm và y tế tăng 0,7 %, giá lương thực thực phẩm giảm 0,3%, chỉ có gia phương tiện đi lại và bưu điện vẫn tăng cao là 3%, giá vang tăng 0,5% và gía đô la giảm 0,1%. Theo thông báo của cục thống kê, tình hình giá cả bốn tháng đầu năm 2005, tuy còn cao nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2004. Nếu đến tháng 2 năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng là 3,0% thì tháng 2 năm 2005 chỉ số này chỉ ở mức 2,5%, thấp hơn 0,5%. Đến tháng 3 thì dấu hiệu sáng sủa hơn ở chỗ chỉ số giá tháng 3 năm 2005 chỉ tăng 0,1% , trong khi tháng 3 năm 2004 chỉ số này là 0,85. Xét cả 4 tháng cho thấy chỉ số giá ở mức 4,3% thấp hơn hẳn chỉ số này so với 4 tháng đầu năm 2004(5,4%), tức là chỉ bằng 79,6% của 4 tháng đầu năm 2004. Sở dĩ chỉ số giá chung 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 là do giá lương thực thực phẩm giảm khá. Tốc độ tăng gía lương thực 4 tháng đầu năm 2005 (5,4%) chỉ bằng 64,2 % mức tăng giá trong 4 tháng đầu năm 2004(8,4%). Tình hình giá cả và chỉ số giá 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 có thể lý giải ngay là do ngay từ đầu năm chung ta đã có nhiều biện pháp chống lạm phát và đẩy lùi lạm phát , đẩy mạnh phát triển sản xuất. Thứ nhất là nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao hơn cùng kỳ năm trước. Thứ hai, sản xuất công nghiệp có tăng cao hơn trước, giá trị sản xuất công nghiệp ba tháng đầu năm tăng 13,4%. Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có chuyển biến tích cực tăng 5% so với mức tăng 0,8% cùng kỳ năm ngoái. Thứ tư, kim nghạch xuất khẩu tăng 23,25. Thứ năm, dịch cúm gia cầm được khoanh cùng và tiêu diệt nên không gây ra tổn thất lớn. Mặc dù giá cả các mặt hàng trong nước 4 tháng đầu năm đã có chuyển biến tích cực, đã thấp hơn so với 4 tháng đầu năm 2004, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn ở mức cao trong năm 2005. Tình hình giá cả thế giới trong năm 2005 vẫn còn nhiều phức tạp, đặc biệt là giá dầu thế giới tăng cao vượt kỷ lục từ trước tới nay ảnh hưởng lớn tới mọi mặt sản xuất của xã hội. Trong nước, hạn hán kéo dài… Như vậy, nguy cơ làm cho tổng cung hàng hoá thấp hơn tổng cầu về hàng hoá luôn luôn túc trực xuất hiện và lạm phát cao đe doạ không phải là không có. Mục tiêu mà Quốc hội đề ra cả năm 2005 là 6,5%, tuy nhiên các chuyên gia dự đoán rằng, lạm phát cả năm có thể là 7%, cao hơn so với mục tiêu là 0,5%. Bởi vậy, cần cảnh giác hơn nữa với lạm phát nước ta. 2/ Nguyên nhân tăng giá Nguyên nhân tăng giá 2004 – 2005 về cơ bản có thể phân chia thành nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan 2.1/ Nguyên nhân khách quan Nguồn gốc sinh ra lạm phát không chỉ từ bên ngoài mà còn có cả từ bên trong, chứ không phải từ một phía nào cả. Lạm phát là do giá cả trên thị trường thế giới tăng mạnh kéo theo sự tăng giá hàng hoá nhập khẩu. Nhưng tăng giá hàng nhập khẩu đã làm chi phí sản xuất của các dạn tăng hơn. Kết quả là để có lãi các dạn phải tăng giá bán hàng hoá lên và khi giá hàng hoá và dịch vụ này tăng giá thì giá hàng hoá và dịch vụ khác sẽ tăng lên theo. Sự tác động dây truyền sẽ khó có điểm dừng nếu không có giải pháp phù hợp. Những khó khăn về thời tiết, dịch cúm gia cầm và những khó khăn khác đã làm cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ thấp hơn tổng cầu hàng hoá. Kết quả khan hiếm nàyđã làm cho giá tăng lên. Mà gía tăng lên đồng loạt tức là lạm phát Hệ quả của chính sách kích cầu các năm trước đây đã làm cho lượng tiền ngoài lưu thông vẫn còn cao, có thể làm cho tổng cung tiền tệ cao hơn tổng cầu tiền tệ và tác động tăng gí là không tránh khỏi. Sự tăng lương và tăng một số khoản chi từ NSNN cho các hoạt động xã hội nhân các ngày lễ lớn trong năm cũng góp phần tăng tiền tệ thị trường. Nhu cầu tăng trưởng cao đòi hỏi phải đưa vốn ra thị trường nên tăng tiền ra thị trường là khó tránh khỏi và như vậy thì việc gía tăng lên cũng là điều trông thấy. 2.2/ Các nguyên nhân chủ quan Do tình trạng độc quyền tương đối một số mặt hàng nên nhiều doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng giá lên và gây ra sự khan hiếm giả tạo để tăng giá lên kiếm lời. Sự điều hành và quản lý kinh tế còn nhiều bất cập cũng gây khó khăn cho phát triển sản xuất và bình ổn giá. Buôn lậu và tham nhũng sẽ góp phần phức tạp thêm sự điều hành và ổn định giá cả và đẩy nhanh tăng trưởng nền kinh tế. Phần IV Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam Trước những tác hại do lạm phát gây ra đòi hỏi cần có những chính sách hợp lý, hữu hiệu ngắn hạn hay dài hạn chống lại tình hình lạm phát. Việc đẩy lùi lạm phát ở mức độ có thể duy trì đòi hỏi các quốc gia có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về lạm phát để đưa ra các biện pháp vừa hiệu quả lâu dài, vừa có tác dụng kìêm chế lạm phát tức thì, ổn định đời sống xã hội . Việc đưa ra các chính sách đúng đắn đòi hỏi mỗi quốc gia cần đặt những vấn đề trong điều kiện hoàn cảnh của riêng nước mình từ đó có những biện pháp sát với thực tế nhằm kiểm soát lạm phát có hiệu quả. Đối với tình hình diễn biến lạm phát ở nước ta trong những năm vừa qua, dựa trên những nguyên nhân của nó, với những tác động mà nó gây ra cho nền kinh tế và đời sống của người dân, cần có các biện pháp có tác dụng tức thì. Trong phần IV, người viết xin đưa ra một số giải pháp ngắn hạn cũng như lâu dài chống lại tình hình lạm phát ở nước ta. 1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát Dựa trên những kinh nghiệm chống lạm phát của các nước cũng như từ thực tế tình hình xã hội ở Việt Nam để đưa ra các biện pháp lâu dài. Mất cân đối về kinh tế vĩ mô được thể hiện bằng lạm phát , thâm hụt ngân sách, sự chênh lệch giá cao của của thị trường không chính thức, có tương quan ngược chiều rất rõ đối với sự tăng trưởng. Nhiệm vụ hoạch định chính sách là làm thế nào để giảm thiểu được các tác động suy giảm đối với sản lượng, đồng thời tạo được các điều kiện nhằm tăng cường khả năng tăng trưởng lâu dài. Tất cả các chính sách đề ra trên cơ sở đảm bảo hai yêu cầu cơ bản là tăng trưởng cao liên tục và vững chắc, giữ mức lạm phát ở một con số. Tăng trưởng cao gắn liền với việc duy trì lạm phát thấp và chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có sức cạnh tranh cao. Đầu tư vào các nguồn lực thông qua các khoản chi tiêu công cộng về giáo dục; khuyến

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Cho Doanh Nghiệp Việt Thời Hội Nhập
  • Thực Trạng Sử Dụng Erp Tại Việt Nam
  • Top 5 Công Ty Tư Vấn Triển Khai Erp Tại Việt Nam
  • Các Nhà Cung Cấp Erp Tại Việt Nam: Đâu Là Lựa Chọn Tốt Nhất?
  • Thực Trạng Triển Khai Hệ Thống Erp Ở Việt Nam 2022
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khả Thi Với Mục Tiêu Lạm Phát Năm 2022 Khoảng Mức 4%
  • Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Hạn Chế Lạm Phát Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • Một Số Biện Pháp Để Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Các Lớp Bán Trú
  • Một Số Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân
  • Trong nền kinh tế thị trường hoạt động sôi nổi đầy biến động thì sự cạnh tranh vốn đã gây gắt nay lại càng gay gắt hơn khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu. Để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi chính phủ, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Một trong những vấn đề có ý nghĩa quang trọng đó là lạm phát. Lạm phát làm ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đến hầu hết mọi người. Nét đặc trưng nổi bật của nền kinh tế có lạm phát là giá cả của hầu hết các hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh. Ở Việt Nam, chống lại lạm phát đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và đã có những biện pháp kiềm chế lạm phát thành công trong suốt 12 năm (1995 -2007) ở một chữ số. Tuy nhiên lạm phát đã tăng cao trong giai đoạn năm 2008 đến nay ở mức hai chữ số khoảng hơn 12% và được dự đón là tiếp tục tăng trong thời gian tới. Một khi lạm phát cao xuất hiện thì tổn thất về kinh tế và xã hội là rất lớn. Vậy lạm phát là gì? Thực trạng lạm phát ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Và chúng ta phải làm gì để kiềm chế lạm phát? Xuất phát từ những lý do trên nên em quyết định chọn đề tài “thực trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam” để làm chuyên đề kinh tế năm ba của mình, nhằm phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến sáu tháng đầu năm 2011, để từ đó đề xuất một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Phương Pháp Đột Phá Giúp Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Phát Triển Năng Lượng Sạch: Nước Lớn Cũng Khó Khăn
  • Bài Tìm Hiểu Biện Pháp Giảm Thiếu Khí Thải Trong Gtvt Và Luyện Kim
  • Làm Thế Nào Để Giảm Lượng Khí Thải Co2 Từ Xe Hơi
  • Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022
  • Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục
  • Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua
  • Kinh tế Việt Nam từ những năm 1986 đến nay đã trải qua sự biến đổi sâu sắc : từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trưòng theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; từ tăng trưởng thấp những năm 80 sang tăng trưởng cao những năm 90; khủng hoảng rối loạn sang ổn định và phát triển. Năm 1985, Gorbacher đã nên nắm chính quyền tại Liên xô, cùng với sự sụp đổ của các nước Đông Âu cũ, Việt Nam bị cắt giảm nguồn viện trợ từ nước ngoài và đến năm 1991 thì bị cắt hẳn. Do đó, nguyên vật liệu đầu vào như sắt thép, dầu hoả, máy móc thiết bị.Việt Nam hoàn toàn phải mua với giá cao làm cho chi phí sản xuất tăng nhanh. Lạm phát chi phí đẩy xảy ra. Khi lạm phát chi phí đẩy xảy ra, càng đẩy các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn và để hỗ trợ nền sản xuất trong nước, đặc biệt là các xí nghiệp quốc doanh, Chính phủ Việt Nam lại in thêm tiền làm tăng mức cung ứng tiền trong nền kinh tếlại dẫn đến lạm phát tiền tệ , điều đó càng đẩy tỉ lệ lạm phát lên cao. Đồng thời năm 1985, Việt Nam thực hiện cuộc cải cách giá, tiền lương, tiền mà đỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9 và lạm phát cũng bùng nổ ngay sau đó. Năm 1986 chúng ta đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát với ba chữ số 775% vào năm 1986 trong khi đó tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2,33%. Đến năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương thực cuối năm giảm 3,5% và đầu năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi phí đẩy lại tiếp diễn. .Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng hoá , lương thực, vàng và đô la càng nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3,78%. Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với mức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995. Như vậy, trong giai đoạn này lạm phát xảy ra ban đầu là do chi phí đẩy, sau đó là do tăng mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí đẩy, tiếp tục sau đó lạm phát cầu kéo xảy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480
  • Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt 8 Nhóm Giải Pháp Trong Đó Kiềm Chế Lạm Phát Là Hàng Đầu
  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng
  • Chung Tay Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn
  • Nguyên Nhân, Thực Trạng Ly Hôn Hiện Nay Và Đưa Ra Giải Pháp Hạn Chế Thực Trạng Này.
  • Giải Pháp Nào Hạn Chế Ly Hôn?
  • Theo yêu cầu của Chính phủ, vừa qua Bộ KH-ĐT đã có báo cáo về tình hình, nguyên nhân lạm phát và những giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong thời gian tới. Với báo cáo này, lạm phát tại Việt Nam đã được nhận diện một cách “tỏ tường”.

    Cung tiền tăng

    Theo báo cáo này, trong gần 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 so với tháng 12 năm trước tăng 6,5%, còn các năm khác đều tăng trên 10%/năm. So sánh với các nước, lạm phát của nước ta cao hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

    Báo cáo này cũng đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến CPI cao ngất ngưởng trong những năm qua, trong đó, nguyên nhân về tiền tệ, tín dụng được “chỉ mặt điểm tên” đầu tiên. Cụ thể, Bộ KH-ĐT cho rằng, cung tiền trong những năm vừa qua có sự nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở nước ta. Nếu như năm 2000, tỷ lệ cung tiền trên GDP của Việt Nam chỉ ở mức dưới 60% thì đến cuối năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110% GDP). Cung tiền của Việt Nam khá nhanh so với các nước trong khu vực. Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế trong thời gian dài. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm 2007, mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lại lặp lại dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao.

    Ngoài nguyên nhân chính nêu trên, báo cáo của Bộ KH-ĐT cũng chỉ ra hàng loạt các nguyên nhân khác gây lạm phát cao, trong đó có chi phí sản xuất tăng, tài khóa…

    Cơ cấu kinh tế, cơ cấu và hiệu quả đầu tư cũng đẩy lạm phát lên cao. Báo cáo Bộ KH-ĐT nhận định, đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao trong thời gian vừa qua. Những yếu kém trong nội tại nền kinh tế đó là: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả kéo dài, tích tụ trong nhiều thời kỳ, chưa được đổi mới. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và dựa nhiều vào tăng vốn đầu tư; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Cơ cấu nền kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chậm được chuyển đổi; sản xuất trong nước chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng gia công kéo dài quá lâu, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dựa vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài…

    Ngoài ra, hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, hệ thống ngân hàng phát triển nhanh nhưng chưa bền vững, tài chính không minh bạch, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

    6 giải pháp

    Từ thực trạng này, Chính phủ thống nhất cao các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ. Thứ hai, tăng cường công tác quản lý giá cả phù hợp với cơ chế thị trường. Thực hiện quản lý nhà nước về giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền phù hợp với cơ chế thị trường và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế bằng các biện pháp giám sát thị trường, kiểm soát chi phí, áp thuế. Thứ ba, tái cơ cấu nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ tư, tạo động lực từ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Thứ năm, thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước. Thứ sáu, tăng cường công tác phân tích, dự báo tình hình thế giới, khắc phục triệt để nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý.

    Mục tiêu của Chính phủ trong năm 2011 là kiềm chế bằng được lạm phát ở mức 18% và kéo xuống dưới 10% trong các năm tiếp theo để đến năm 2022 kiềm chế lạm phát ở mức khoảng 5%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp
  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát
  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp
  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng
  • Chung Tay Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn
  • Những tác động của lạm phát đối với việc phân phối lại thu nhập, sản lượng, sự phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế thường xảy ra đối với loại lạm phát cao và không dự đoán trước được. học kế toán tổng hợp ở đâu tốt

    Mặc dù những ảnh hưởng của loại lạm phát này là hiển nhiên, các nhà hoạch định chính sách vẫn phải đặt câu hỏi: nên làm cho nền kinh tế thích ứng với lạm phát hay cố gắng thủ tiêu lạm phát bằng các biện pháp cứng rắn.

    Câu trả lời thực sự không dễ dàng, nó tuỳ vào thực trạng của nền kinh tế, mức độ lạm phát và sự nhạy cảm của các biến số kinh tế vĩ mô đối với sự thay đổi của 1% lạm phát.

    Về mặt ngắn hạn, theo quy luật Okun được rút ra từ sự khảo sát nền kinh tế Mỹ vào thập kỷ 70, cứ 1% giảm lạm phát sẽ kéo theo 2% tăng lên của tỷ lệ thất nghiệp so với tỷ lệ tự nhiên và 4% giảm đi của GDP thực tế so với GDP tiềm năng. Tỷ lệ “hy sinh” này khác nhau tuỳ vào thực trạng kinh tế của từng nước

    Về mặt dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ giá trị tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp. Vì thế duy trì sự ổn định tiền tệ là mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào. Nhưng trong từng thời kỳ việc lựa chọn các giải pháp kiềm chế lạm phát cũng như liều lượng tác động của nó phải phù hợp với yêu cầu tăng trưởng và các áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánh chịu. Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ, ít gây biến động cho nền kinh tế hoặc chiến lược giảm tỷ lệ lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm mạnh về sản lượng trong quá trình điều chỉnh.

    Việc đưa ra các giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát bao gồm những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. học kế toán ở đâu tốt nhất

    Nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc làm tăng chi phí sản xuất khiến tổng cung giảm. Tuy nhiên nguồn gốc phát sinh các lý do làm dịch chuyển đường tổng cầu và đường tổng cung lại rất khác nhau ở các cuộc lạm phát khác nhau: có thể là do cơ chế quản lý kinh tế không phù hợp, nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh và do đó không hiệu quả, cơ cấu kinh tế mất cân đối, các năng lực sản xuất không được khai thác, trình độ lao động và công nghệ lạc hậu…

    Để giải quyết những nguyên nhân sâu xa này cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn. Thông thường để tác động vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp nhằm làm giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí.

    2.1. Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu

    Các giải pháp này nhằm hạn chế sự gia tăng quá mức của tổng cầu.

    Trước hết là thực hiện một CSTT thắt chặt do nguyên nhân cơ bản của lạm phát cầu kéo là sự gia tăng của khối lượng tiền cung ứng. Sự hạn chế cung ứng tiền sẽ có hiệu quả ngay đến sự giảm sút của nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội. nên học kế toán ở đâu tốt tại hà nội

    Một CSTT thắt chặt được bắt đầu bằng việc kiểm soát và hạn chế cung ứng tiền cơ sở (MB), từ đó mà hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng trung gian. Lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường tăng lên sau đó sẽ làm hạn chế nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, làm giảm áp lực đối với hàng hoá và dịch vụ cung ứng. Cùng với việc thực thi CSTT thắt chặt là sự kiểm soát gắt gao chất lượng tín dụng cung ứng nhằm hạn chế khối lượng tín dụng, đồng thời đảm bảo hiệu quả của kênh cung ứng tiền cũng như chất lượng của việc sử dụng tiền tệ.

    Kiểm soát chi tiêu của ngân sách nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong chi tiêu ngân sách: rà soát lại cơ cấu chi tiêu, cắt giảm các khoản đầu tư không có tính khả thi và các khoản chi phúc lợi vượt quá khả năng của nền kinh tế, cải tiến lại bộ máy quản lý nhà nước vốn cồng kềnh, không hiệu quả, gây lãng phí ngân sách. Khai thác các nguồn thu, đặc biệt là thu thuế nhằm giảm mức bội chi, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước … Và cuối cùng là hạn chế phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách.

    Thực hiện chính sách khuyến khích tiết kiệm, giảm tiêu dùng. Lãi suất danh nghĩa được đưa lên cao hơn tỷ lệ lạm phát để hấp dẫn người gửi tiền. Biện pháp này thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao và có tác động tức thời. Tuy nhiên, trong thời gian áp dụng chính sách lãi suất cao, cần có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với mức độ biến động của lạm phát và hạn chế hậu quả tiềm tàng cho các tổ chức nhận tiền gửi.

    Trong điều kiện nền kinh tế mở, sự can thiệp vào tỷ giá nhằm điều chỉnh tỷ giá tăng dần dần (chứ không để tăng lên ngay) theo mức độ lạm phát cũng được sử dụng như một giải pháp nhằm giảm cầu do tỷ giá tăng khiến giá hàng xuất khẩu rẻ đi làm tăng nhu cầu xuất khẩu dẫn đến tăng tổng cầu và do đó là tăng sức ép lên giá. Mặt khác, việc điều chỉnh tỷ giá từ từ cũng sẽ làm cho giá nội địa của hàng nhập khẩu không tăng nhanh quá, giảm bớt áp lực tăng mặt bằng giá trong nước.

    Đối với những nước phụ thuộc vào hàng nhập khẩu, điều này đặc biệt có ý nghĩa. Tuy nhiên, hành động can thiệp này có thể làm cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ vì phải bán ra để kìm hãm tỷ giá tăng. Chính vì thế việc sử dụng giải pháp này cũng cần cân nhắc đến khả năng dự trữ ngoại hối cũng như khả năng phục hồi nguồn dự trữ của quốc gia.

    Các giải pháp tác động vào chi phí ngoài lương nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả như: Xây dựng định mức tiêu hao nguyên liệu và kỷ luật lao động nhằm tôn trọng định mức đó; Hợp lý hoá nguồn khai thác, vận chuyển và sử dụng nguyên liệu; Hạn chế tối đa các chi phí trung gian làm tăng giá nguyên liệu.

    2.3. Nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hoá

    Giải pháp tình thế và tác động tức thời đến cân đối tiền hàng là nhập khẩu hàng hoá, nhất là các hàng hoá đang khan hiếm, góp phần làm giảm áp lực đối với giá cả. Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng: làm cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế, tạo thói quen dùng hàng ngoại và đặc biệt làm suy giảm sức sản xuất trong nước. nên học kế toán thực hành ở đâu

    Tăng khả năng sản xuất hàng hoá trong nước được coi là giải pháp chiến lược cơ bản nhất, tạo cơ sở ổn định tiền tệ một cách vững chắc. Thực chất đây là giải pháp nhằm tăng mức sản lượng tiềm năng của xã hội. Đây là chiến lược dài hạn tập trung vào việc khai thác triệt để năng lực sản xuất của xã hội, nâng cao trình độ của lực lượng lao động, đổi mới thiết bị, hiện đại hoá dây truyền sản xuất và quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả

    tự học nghiệp vụ xuất nhập khẩu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát
  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Mic Thu Âm Samson Concert 77 Không Dây
  • Giải Pháp Hệ Thống Âm Thanh Hội Thảo Không Dây Ts
  • 6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ
  • Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp
  • 6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát
  • Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay
  • Read this on chúng tôi Kiềm chế lạm phát, lo an sinh xã hộiGiá xăng tăng 2.900 đồng/lít

    Phóng to

    Theo chỉ đạo của Chính phủ, các địa phương phải tập trung quản lý không để đầu cơ đẩy giá, nhất là lương thực thực phẩm, sữa… – Ảnh: N.C.T.

    * Thứ nhất, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng. Theo đó Chính phủ sẽ điều hành thắt chặt lại, kiềm chế tốc độ tăng trưởng tín dụng tối đa là 20%, nếu cần thiết thì có thể là 17-19%; tổng phương tiện thanh toán khoảng 15-16%. Giảm tốc độ và tỉ trọng cho vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán. Chính phủ sẽ tăng cường quản lý ngoại hối. Trong quý 2-2011, trình nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do…

    * Thứ hai, thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước xuống dưới 5% GDP.

    Tạm dừng trang bị mới ôtô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng, giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu… Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp.

    Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước.

    * Thứ ba, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu (không quá 16%), sử dụng năng lượng tiết kiệm.

    Trong quý 2-2011, ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung – cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu. Xem xét miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu như dệt may, da giày, thủy sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm…; tiếp tục thực hiện tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011.

    Ngân hàng Nhà nước bảo đảm ngoại tệ nhập khẩu hàng hóa thiết yếu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng.

    * Thứ tư, điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo.

    * Thứ năm, tăng cường bảo đảm an sinh xã hội. Tập trung chỉ đạo hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ hộ nghèo, địa phương nghèo xuất khẩu lao động; cho vay học sinh, sinh viên…

    * Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex
  • Mic Thu Âm Samson Concert 77 Không Dây
  • Giải Pháp Hệ Thống Âm Thanh Hội Thảo Không Dây Ts
  • Giải Pháp Kết Nối Không Dây Cho Dàn Âm Thanh Cũ Với Usb Bluetooth Receiver
  • Giải Pháp Âm Thanh Đa Phòng Không Dây Tốt Nhất Của Denon Hiện Nay
  • Những Biện Pháp Và Hạn Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nhàm Hạn Chế Sự Gia Tăng Của Nạn Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Luận Văn Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo
  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo Mục Tiêu Của Việt Nam Trong Chặng Đường Phát Triển Mới
  • LỜI MỞ ĐẦU

    1.Giới thiệu về đề tài :

    Lạm phát là một “căn bệnh trầm kha” xảy ra phổ biến ở hầu hết các nước trên

    thế giới, tuy nhiên nó thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau nên cách nhìn nhận về nó

    của các nhà kinh tế học cũng khác nhau. Có thể khái quát về việc tìm hiểu một cách

    chính xác khái niệm lạm phát được chia thành ba giai đoạn, trong đó ở mỗi giai đoạn

    điều đưa ra các nguyên nhân dẫn đến lạm phát và biện pháp khắc phục khác nhau.

    Trên cơ sở khắc phục các nhược điểm mà các giai đoạn nghiên cứu trước mắc phải,

    cuối cùng thì khái niêm lạm phát hoàn chỉnh đã ra đời. Với quan điểm Lạm phát là

    hiện tượng thừa tiền trong lưu thông, làm cho đồng tiền bị giảm giá trị so với tất cả

    các loại hàng hoá, vàng, ngoại tệ và được đo lường bằng chỉ số giá tổng quát ngày

    càng tăng, các nguyên nhân dẫn đến lạm phát, cũng như biểu hiện và diễn biến của

    lạm phát đã được trình bày. Trên cơ sở đó, một số biện pháp đã được đề xuất nhằm

    góp phần khắc phục hạn chế lạm phát.

    2.Lí do chọn đề tài :

    Trong hơn vài thập kỉ trở lại đây ,kinh tế Việt Nam đă có những sự chuyển

    mình to lớn.Từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp gây ra hậu quả nặng nề đối với

    sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, lạm phát trên 3 con số ,kinh tế tăng trưởng âm

    ,kéo dài trong nhiều năm .Sự chuyển đổi kịp thời sang nền kinh tế thị trường cùng

    nhiều chính sách phát triển kinh tế như thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài của

    chính phủ ta đă đem lại hiệu quả tốt. Trải qua các giai đoạn phát triển trên ,chúng ta

    1.1Quan điểm về lạm phát của Karl-Marx

    Quan điểm Karl-Marx cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng

    trong nền kinh tế.Khi ông nghiên cứu quy luật lưu thông tiền tệ K-Marx đã nhìn thấy

    trong mọi trường hợp Quy luật lưu thông tiền tệ luôn được cân bằng.

    Có thể tóm gọn trong đẳng thức: M.V=P.Q.

    Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm, trong khi V và Q cùng tăng

    lên theo một tỷ lệ thì tất nhiên mức giá trung bình P tăng lên tương ứng.Do đó sẽ dẫn

    đến lạm phát.

    Như vậy, lạm phát là sự cân bằng của quy luật lưu thông tiền tệ.

    Quan điểm này tuy giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho

    biết nguyên nhân của lạm phát và khiến ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc

    tăng trưởng mức cung tiền tệ cao.

    Thật ra thì còn nhiều trường hợp chưa hẳn là như vậy.Ví dụ: Nhà nước có thể

    tăng mức cung ứng tiền mà không làm cho giá cả tăng cao, không gây ra lạm phát,

    nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với lượng tiền cần thiết trong lưu thông.

    1.2 Quan điểm của V.I Lênin

    Cũng giống như quan điểm của k-Marx nhưng lênin cho rằng sở dĩ khối lượng

    tiền trong lưu thông tăng lên là do nhà cầm quyền phát hành thêm tiền để thỏa mãn

    nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước.

    Tóm lại: Lạm phát là sự gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông do sự phát

    hành tăng thêm của bộ máy nhà nước cầm quyền.

    1.3 Quan điểm về lạm phát của Milton-Friedman

    Theo ông” Lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.Ông cho

    răng nguồn gốc của lạm phát là một tỷ lệ tăng trưởng cao của mức cung tiền.

    Điều đó được chứng minh ở những hiện tượng sau:

    Khi lạm phát tâng cao thì thì tỷ lệ tăng trưởng của cung tiền cũng tăng

    cao.Tiêu biểu như: Tình trạng lạm phát ở Đức 1921-1923.Năm 1923 tỷ lệ lạm phát ở

    Đức là 1.000.000% và mức tăng cung tiền cũng tương ứng.

    Nhưng năm 80 của TK XX các nước châu mỹ La Tinh cũng lâm vào tình trạng

    này:Argentina 10.000%, Bolivia 20.000% năm 1985.

    Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng mức cung tiền được xem xét trong

    trường hợp mức giá tiếp tục tăng với tỷ lệ chúng tôi đó ý kiến của Friedman cho rằng

    những biến động tăng lên của gia cả là một hiện tượng tiền tệ chỉ khi nào nhưng biến

    động tăng lên từ đó một quá trình kéo dài

    1.4 Quan điểm về lạm phát của J.M.Keynes

    Theo Keynes mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư là nguyên nhân chính cho

    các dao động kinh tế. Khi người ta cố gắng tiết kiệm nhiều hơn các doanh nghiệp

    muốn đầu tư, các doanh nghiệp sẽ nhanh chóng nhận thấy năng lực sản xuất của họ là

    dư thừa và có quá ít người có thể mua được hàng hoá họ sản xuất ra. Mặt khác, khi

    đầu tư vượt quá tiết kiệm, người ta sẽ tiêu dùng quá nhiều. Người tiêu dùng sẽ chi

    tiêu thay vì tiết kiệm và các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu cao hơn đối với lao động để

    sản xuất hàng hoá cũng như có nhu cầu cao hơn đối với lao động xây dựng các nhà

    máy và chế tạo thiết bị. Tất cả chi tiêu này sẽ đẩy tiền công và các chi phí sản xuất

    khác lên, và cũng làm tăng giá của hàng tiêu dùng. Lạm phát sẽ là kết cục cuối cùng..

    Keynes sau đó đưa ra luận cứ rằng trách nhiệm của ngân hàng trung ưng là phi giữ

    cho hai biến này bằng nhau, và do đó ngăn chặn được lạm phát và suy thoái. Nếu tiết

    kiệm vượt quá đầu tư, ngân hàng trung ưng cần hạ thấp lãi suất, như vậy vừa gim bớt

    tiết kiệm và kích thích việc đi vay. Ngược lại, nếu đầu tư vượt quá tiết kiệm, ngân

    hàng trung ưng cần tăng lãi suất, như vậy làm tăng tiết kiệm và gim việc vay mượn vì

    mục đích đầu tư.

    Theo Keynes ngoài nhân tố tiền tệ còn những nhân tố khác tác động đến tổng

    cung và tổng cầu của nền kinh tế(Chính sách tài chính,Những cú sốc về cung, công ăn

    việc làm, thâm hụt ngân sách,…) vì thế có thể làm tăng giá cả hàng hóa, gây ra lạm

    phát.

    Ngày nay, nền kinh tế hiện đại với nhiều nguyên nhân thúc đẩy làm cho lạm

    phát ngày càng phức tạp.Nhưng chung ta có thể hiêu một cách chung nhất:Lạm phát

    là một hiện tượng phức tạp đa nhân tố.Trong đó những yếu tố tiền tệ và những yếu tố

    khác đan xen lẫn nhau làm cho lạm phát ngày càng phức tạp và khác xa hiện tượng

    ban đầu.

    2.Khái niệm lạm phát:

    Lạm phát là một thuật ngữ kinh tế mà bản chất của nó là giá trị danh nghĩa

    (mệnh giá) của tiền bị suy giảm một cách tương đối so với cái giá trị mà đáng lẽ nó

    phải đại diện tốt khi nó làm đại diện

    Vấn đề có thể hiểu như sau . Giả sử trước đây tạ có một loại hàng hoá có giá

    trị 100.000 đồng/sp thì với một tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, chúng ta có thể

    mua được 1 sản phẩm. Nay vì lạm phát, tờ tiền này bị mất giá trị 50%, nghĩa là mệnh

    giá của tờ tiền vẫn 100.000 đồng nhưng để mua được cùng loại hàng hoá trên ta phải

    bỏ ra 2 tờ cho 1 sản phẩm như trước. Lưu ý rằng hàng hoá trên giá trị vẫn không đổi

    bởi đã không hề có một yếu tố nào tác động đến giá trị của nó cả. Giá trị không đổi

    thì giá cả cũng phải không đổi vì xét theo lý thuyết (thị trường cạnh tranh hoàn hảo)

    giá cả chỉ là hình thức biểu hiện cho giá trị. Vì vậy, nếu nhìn vào hiện tượng thì bạn

    chỉ thấy giá cả hàng hoá này là 200.000 đồng do người mua hàng phải trả 2 tờ mệnh

    giá 100.000 đồng để đổi lấy nó. Còn về bản chất thì giá trị hàng hoá không đổi trong

    khi sức mua của tờ tiền giảm sút.

    Vậy, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền

    kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm

    sức mua của đồng tiền

    3. Biểu hiện của lạm phát:

    Như khái niệm thì lạm phát là một thuật ngữ mô tả hiện tượng mức giá cả

    chung trong nền kinh tế tăng lên.Lạm phát ảnh hưởng đến tổng thể nền kinh tế, điển

    hình là qua các mặt sau đây:

    3.1 Sự gia tăng giá cả hàng hóa, dịch vụ hàng loạt.

    Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo

    thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với

    cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít

    hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng

    cùng một dịch vụ.

    Khi giá cả trong nền kinh tế tăng lên điều đó có

    nghĩa là thu nhập thực tế của những người có thu nhập

    cố định hay ít thay đổi như quân nhân, cán bộ hưu trí,

    lương của CBCNV trong cơ quan hành chính nhà nước

    giảm xuống. Xét về mặt số lượng thì hàng tháng họ

    vẫn nhận được 1.000.000đ, nhưng 1.000.000đ tháng

    trước họ mua được nhiều hàng hơn tháng này do giá cả

    của tháng này tăng cao hơn tháng trước, như vậy là thu

    nhập thực tế của họ đã giảm xuống. Do đó lạm phát

    làm thu nhập thực tế của một bộ phận dân cư giảm xuống, đời sống khó khăn hơn.

    Những ví dụ về biểu hiện của lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu

    thập niên 1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3250000 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng

    gấp đôi mỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm

    phát 41900000000000000 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ).

    3.2 Sự gia tăng khối lượng tín dụng

    Lạm phát có thể được hiểu là sự thừa tiền trong lưu thông. Khi mà lượng tiền

    cung ứng ra nền kinh tế nhiều hơn mức gia tăng lượng hàng sản xuất sẽ làm xuất hiện

    lạm phát.

    Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến hết tháng 12/2007,

    tổng dư nợ cho vay và đầu tư vào nền kinh tế của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

    tăng gần 37,8% so với cuối năm 2006, vượt xa so với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đề

    ra cả năm là 18 – 22% và thực tế năm 2005 chỉ tăng 19,2% và năm 2006 tăng 21,4%.

    Đồng thời khi chính phủ chi tiêu quá mức cần thiết (như giải quyết các chương

    trình xã hội như tăng lương, tiền hưu vv…) thì xuất hiện nhu cầu phát tiền ngoài kế

    hoạch cho hoạt động làm tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế.Chính vì vậy mà

    mất cân đối cung-cầu về tiền tệ làm tăng giá (giá bằng lượng tiền chia cho số lượng

    hàng trong phạm vi toàn xã hội)

    3.3 Tỷ giá hối đoái tăng cao

    Tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền nước này được biểu hiện qua đồng tiền

    của nước khác.

    Nhìn lại cách điều hành tỷ giá tiền tệ năm 2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    (02/05/2008)

    Tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền (quốc gia) tính bằng đồng tiền (quốc gia)

    khác. Từ tháng 9- 1985 đến cuối năm 2007, VND luôn luôn mất giá so với USD. Cụ thể

    tháng 9-1985, tỷ giá VND/USD là 15 VND/1 USD, đến năm 2007 thì tỷ giá đó đã là 16.115

    VND/ 1 USD. Như vậy, sau 22 năm VND mất giá so với USD 16.100 VND hay 107.333,33%

    {[(16.115 VND – 15 VND) : 15 VND] x 100 = 107.333,33%}. Tỷ giá hối đoái chịu

    tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan trọng nhất là sức mua của đồng

    tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm phát tăng, sức mua đồng nội tệ giảm so

    với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với nội tệ tăng (hay tỷ giá

    đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm)

    3.4 Giá cả các loại chứng khoán giảm

    Đầu tiên, việc lạm phát tăng cao là lý do khiến giá các loại chứng khoán suy

    giảm.Việc lạm phát tăng cao, không được khống chế sẽ làm cho nhà đầu tư mất niềm

    tin và họ sẽ không dám đầu tư trên TTCK do sợ rủi ro.

    Một khi nền kinh tế rơi vào lạm phát, chính phủ sẽ phải áp dụng nhiều biện

    pháp, trong đó có cả biện pháp hành chính để điều hành nền kinh tế nhằm kiềm chế

    lạm phát thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến thị trường tài chính nói chung và thị trường

    chứng khoán nói riêng.

    Ví dụ rõ nét nhất là thị trường chứng khoán ở Việt chúng tôi nền kinh tế VN

    rơi vào lạm phát thì buộc NHNN phải có những biện pháp để hút bớt lượng tiền thừa

    trong lưu thông.Việc NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ giữa tháng 1/2008 và phát

    hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, nhà đầu tư càng hiểu rõ vốn cho TTCK ngày

    càng thu hẹp đi.

    Chính vì vậy lạm phát tăng cao đồng nghĩa với việc sụt giảm giá cả của các

    loại chứng khoán

    3.5 Mọi thứ đều khan hiếm trừ tiền

    Việc lạm phát tăng cao dẫn đến giá cả của hàng hóa dịch vụ không ngừng leo

    thang. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi

    hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân hàng

    không tăng lãi suất tiền gửi thì dân chúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng mà tìm cách

    đầu cơ vào đất đai khiến giá cả đất đai tăng cao…).Điều này tạo nên sự khan hiếm đối

    với tất cả những loại hàng hóa dịch vụ.

    1. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 1975 – 1986

    2. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 1986 – 2003

    3. Tình hình lạm phát trong giai đoạn từ 2004 đến hiện nay

    1. Tình hình lạm phát trong giai đoạn 1975 – 1986

    1.1Tình hình chung :

    Năm 1972 có những sự kiện đáng ghi nhớ :

    +Đồng Dollar giấy từ bỏ “kim bản vị” tức là không còn được đảm bảo bằng vàng.

    +Lý thuyết hệ thống, cách tiếp cận hệ thống, các quan điểm và nguyên lý của điều

    khiển học xâm nhập mạnh mẽ vào một số lĩnh vực nghiên cứu và quản lý.

    +Các nhà kinh tế Mác-xít ấu trĩ cuối cùng cũng đã bắt đầu nhận ra rằng, sự giảm

    giá không phải lúc nào cũng hay và sự tăng giá không phải lúc nào cũng dỡ, và lạm

    phát không phải là căn bệnh chỉ dành riêng cho CNTB. Cái mới về nội dung của lạm

    phát ở đây là các vấn đề về tiền tệ, giá cả, tài chính, tiền lương được xem xét như một

    tổng thể (quan điểm hệ thống) trong đó giá cả là vấn đề trung tâm, mối quan hệ giữa

    chúng không phải là mối quan hệ nhân quả mà là mối quan hệ vừa nhân vừa quả,

    nghĩa là mỗi yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là hậu qủa của các yếu tố khác. Giá tăng

    lên là do nguyên nhân phát hành tiền và chênh lệch cung cầu, nhưng nó cũng tác động

    trở lại đến việc làm phát hành và làm thay đổi chênh lệch cung cầu.

    +Khi đó lạm phát được miêu tả như sau: trong quá trình vận hành của nền kinh tế,

    nếu 4 yếu tố: tài chính, tiền tệ, giá cả, tiền lương đạt được một sự phối hợp hài hòa ,

    nghĩa là giữa chúng có một sự cân bằng (cân bằng động) thì lúc đó không có lạm

    phát, giá cả tiền tệ ổn định, cung cầu, thu chi cân bằng, tiền lương trang trãi đủ cuộc

    sống. Nếu không đạt được trạng thái cân bằng đó thì nền kinh tế có những biến động.

    Sự biến động này có thể xảy ra theo hai hướng:

    Một là, giá cả tăng hơn giá trị, tiền phát hành quá mức cần thiết, bội chi tăng,

    tiền lương thực tế giảm, đó là khuynh hướng lạm phát.

    Hai là, giá cả giảm xuống và nhỏ hơn hẳn giá trị, tiền lương phát hành ít hơn

    mức cần thiết, bôi chi tăng lên, tiền lương thực tế tăng, đó là khuynh hướng thiểu

    phát.

    Điều đáng chú ý ở đây là không nhất thiết cả 4 yếu tố đều ngả về cùng một phía,

    rất có thể một số yếu tố ngả về phía này, còn các yếu tố khác lại ngả về hướng khác.

    Ngoài ra sự thiểu phát cũng gây ra những tác hại không kém gì lạm phát.

    – Vào những năm 1980, vàng từ mốc 450$ đã vọt lên mức 850$ chỉ trong vòng

    năm tuần lễ.

    – Giá dầu được kéo lên bởi tình hình bất ổn của Trung Đông và đồng USD rơi

    nhanh do lo ngại về suy thoái kinh tế.

    – Tại Mỹ, năm 1971 dến 1981 tỷ lệ lạm phát (tăng giá) cao hơn tỷ lệ tăng trưởng

    tiền tệ, nói cách khác tốc độ mất giá tiền giấy lớn hơn, nhanh hơn tốc độ tăng

    tiền .

    – Chúng ta có thể nhìn nhận 1 cách chung nhất về thế giới qua biểu đồ sau :

    Tỷ lệ lạm phát của 5 thành viên chính của G8

    1.2 Tình hình của Việt Nam :

    – Cơn sốt lạm phát không biết đã ra đời trong nền kinh tế từ bao giờ, nhưng chỉ

    biết ngay những năm 1976 nó đã từng tồn tại. Cho dù người ta dấu diếm, che

    mắt và kiềm chế nó, nhưng nó cứ lớn dần lên ngoài ý muốn của con người. Năm

    1985, cuộc cải cách giá- lương -tiền theo giải pháp xốc đã thất bại làm cho cơn

    sốt lạm phát vụt lớn nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế –

    xã hội. Giá cả leo thang từng ngày đã vô hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiến

    hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mô. Giá cả không chỉ

    tăng ở kinh tế thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh trong thị trường tổ chức.

    Về cơ bản giá cả đã tuột khỏi vòng tay bao cấp của Nhà Nước.

    – Chỉ số sinh hoạt ở năm 1985 tăng gấp 30 lần so với năm 1976 . Và đồng bạc

    “Ông Hồ” đã bị phá giá đến 92% so với đồng dollar USA! Lương thực, thực

    phẩm và hàng hóa tiêu dùng vô cùng khan hiếm. Chỉ trong vòng vài tháng cuối

    năm 1985, giá nông phẩm vọt lên đến 10-12 lần, giá hàng công nghệ phẩm tăng

    vọt đến 28-30 lần. Giá cả tăng vọt theo cấp số nhân trong tình trạng lạm phát phi

    mã, đã đẩy nền chính trị CHXHCN Việt Nam lâm vào hoàn cảnh “tưởng chừng

    như sụp đổ đến nơi”.

    – Nạn lạm phát tăng nhanh, đầu những năm 80 tăng khoảng 30-50 % hàng năm,

    cuối năm 1985 lên đến 587,2 % .

    – Sản xuất tăng chậm và thực chất không có phát triển, nên lạm phát ngầm diễn ra

    với mức độ ngày càng cao, lại gặp sai lầm “giá – lương – tiền” 1985, nên siêu

    lạm phát diễn ra vào năm 1986 với tốc độ phi mã, lên tới 774,7%.

    – Tiền mặt dự trữ không có, tiền trong lưu thông thì thiếu nghiêm trọng.

    – Tăng trưởng kinh tế rất thấp, bình quân năm thời kỳ 1977 – 1980 chỉ có 0,4%

    (trong đó 1979 giảm 2%, 1980 giảm 1,4%); thời kỳ 1977 – 1985 chỉ có 3,7%.

    – Dấu hiệu của nền “kinh tế bong bóng” trong lĩnh vực kinh doanh địa ốc, thị

    trường chứng khoán, giá vàng, giá dầu, giá thực phẩm tăng mạnh, mức độ thâm

    hụt cao trong cán cân ngoại thương…

    – Lạm phát cao gấp hơn 10 lần lãi suất tiền gửi.

    1.3 Nguyên nhân :

    – Những nguyên nhân chính dẫn tới lạm phát “phi mã” gồm có:

    (1) Nguồn cung tiền mặt quá cao, phần lớn do in nhiều tiền để tung ra thị trường mà

    không đủ hàng hóa đối ứng.

    (2) Nền kinh tế “thiếu” nghiêm trọng, nhất là sự thiếu thốn về các hàng hóa tiêu dùng

    thiết yếu như lương thực, thực phẩm và các hàng hóa tiêu dùng thuộc loại nhu yếu

    phẩm khác, hậu quả của sự kiệt quệ sau chiến tranh, của tình trạng kinh tế tăng trưởng

    kém và việc chấm dứt các nguồn viện trợ từ bên ngoài.

    (3) Lãi suất tiền gửi ngân hàng âm nặng so với lạm phát, khiến người dân không

    muốn gửi tiền vào ngân hàng, làm cho lượng tiền mặt trôi nổi trong lưu thông ngày

    càng tích lại nhiều mà không có lượng hàng hóa tương ứng để cân đối cung – cầu.

    1.4 Giải pháp chống lạm phát:

    – Thông thường, những loại giải pháp chống lạm phát tương đối phổ biến mà các

    nước hay áp dụng là: giảm lượng cung ứng tiền mặt, áp dụng chế độ lãi suất dương và

    thực thi các chính sách, biện pháp khắc khổ, nhất là các biện pháp thắt chặt tiền tệ.

    Đối với Việt Nam, những loại chính sách và biện pháp này cũng đã và đang được áp

    dụng, tuy mức độ và liều lượng khác nhau tùy theo từng thời kỳ và trong những bối

    cảnh khác nhau.

    Trong thời kỳ trước và đầu đổi mới, các biện pháp chống lạm phát chủ yếu mà Việt

    Nam đã thực hiện tập trung vào những việc làm cụ thể như:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Khắc Phục Khó Khăn, Khôi Phục Nền Kinh Tế Của Venezuela
  • Khủng Hoảng Venezuela Cần Phải Giải Quyết Trên Cơ Sở Đối Thoại Hòa Bình
  • Venezuela Âm Thầm Nới Hạn Chế Thị Trường, Nền Kinh Tế Khởi Sắc
  • Venezuela : Một Số Nguyên Nhân Dẫn Đến Tình Trạng Siêu Lạm Phát
  • Giải Pháp Có Thể Giúp Venezuela Thoát Cảnh ‘nồi Da Xáo Thịt’
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100