Top #10 ❤️ Giải Pháp Lạm Phát 2011 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp

Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua

Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019

Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo

Luận Văn Đề Tài Lạm Phát 2011

Tăng Trưởng Gdp 2022 Trên 7%, Lạm Phát Dưới 3%

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 4/2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam đã tăng tới 9,64%, đã cao hơn mục tiêu kiềm chế ở 7% mà Quốc hội thông qua đầu năm.

Diễn biến phức tạp của lạm phát đang tác động đến đời sống thường ngày của người dân, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như gây khó khăn đối với kinh tế vĩ mô. Đây cũng là một vấn đề trọng tâm mà Chính phủ đang tâm trung theo dõi, nghiên cứu để tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành.

Buổi giao lưu này là diễn đàn chia sẻ thông tin, trao đổi quan điểm giữa lãnh đạo cơ quan chức năng cùng các chuyên gia uy tín với bạn đọc trong và ngoài nước về thực tiễn của lạm phát tại Việt Nam, xu hướng và các giải pháp theo định hướng mà Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ đã đề ra.

Các diễn giả tham gia buổi giao lưu gồm:

– Bà Trần Thị Hằng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

– Ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương

– Ông Huỳnh Thế Du, Chuyên gia độc lập, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Nguyễn Việt Tiến – tiennv@gmail.com:

Xin đặt câu hỏi đến với anh Huỳnh Thế Du: Lạm phát đối với Việt Nam là không mới, theo anh nguyên nhân sâu xa của lạm phát ở Việt Nam là gì?

Đặng Huyền Trang – Nữ 23 tuổi – Sinh viên:

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát. Theo tôi nghĩ phải xác định được cái gốc, rồi mới có thể có những giải pháp cụ thể. Theo các vị thì đâu là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát ở Việt Nam?

Ông Huỳnh Thế Du:

Thân chào các bạn,

Nói một cách ngắn gọn, theo tôi, lạm phát ở Việt Nam là do yếu tố tiền tệ do chi tiêu công quá mức và phân bổ vốn thiên lệch ở khu vực thị trường (doanh nghiệp). Điều này có thể giải thích cụ thể như sau:

Chúng ta biết rằng lạm phát là mức tăng giá chung của cả nền kinh tế. Nguyên nhân gây ra lạm phát có thể là từ bên ngoài (khách quan) hay những vấn đề nội tại của nền kinh tế (nguyên nhân chủ quan), nhưng căn nguyên của lạm phát chính là yếu tố tiền tệ.

Điều này được hiểu một cách đơn giản qua ví dụ năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đơn vị hàng hóa và 100 đồng tiền thì giá 1 hàng hóa là 1 tiền. Năm nay, do tăng trưởng kinh tế 10% nên nền kinh tế có 110 đơn vị hàng hóa. Do những yếu tố khác nhau (chủ yếu vẫn là việc gia tăng cung tiền của ngân hàng trung ương) mà nền kinh tế có đến 121 đơn vị tiền. Kết quả là giá 1 hàng hóa bằng 1,1 tiền hay lạm phát là 10%.

Ngoài yếu tố tiền tệ, trong ngắn hạn, lạm phát cũng có thể do cầu kéo hay chi phí đẩy. Một ví dụ đơn giản nhất của cầu kéo là những gói kích thích kinh tế của chính phủ. Với một kế hoạch chi tiêu lớn được đưa ra sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng dẫn đến mức giá gia tăng trong ngắn hạn.

Sự nóng lên bất thường của các thị trường tài sản (chứng khoán , bất động sản…) cũng có thể gây ra lạm phát cầu kéo do nhiều người trở nên giàu có bất thường sẽ gia tăng mức chi tiêu rất lớn của mình dẫn đến tăng tổng cầu của cả nền kinh tế tăng.

Đối với lạm phát chi phí đẩy, ví dụ dễ nhìn thấy nhất là do một cú sốc cung nào đó mà làm cho nguồn cung khan hiếm hay giá nguyên liệu đầu vào đột ngột tăng lên làm cho mức giá chung của cả nền kinh tế tăng lên tưc thì. Ví dụ hay được nhắc tới trogn tình huống này là cuộc khủng hoảng dầu mỏ trên thế giới ở thập niên 1970.

Tuy nhiên, nếu có chính sách tiền tệ hợp lý sao cho mức tăng cung tiền trong nền kinh tế phù hợp với mức tăng của hàng hóa thì tác động của lạm phát do cầu kéo hay chi phí đẩy sẽ không kéo dài.

Căn cứ vào những lập luận trên và số liệu thực tế sẽ thấy nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam không phải do các yếu tố bên ngoài. Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực hay các đối thủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự.

Ở các nước này, nhìn chung mức lạm phát luôn thấp hơn mức tăng trưởng GDP (cụ thể là hầu hết đều dưới 5%), trong khi từ năm 2004 đến nay, lạm phát ở Việt Nam luôn cao hơn tăng trưởng GDP. Cá biệt năm 2008 lên đến 23%, gấp khoảng 3 lần mức tăng GDP; năm 2010 ở mức 11,75%, gấp gần 2 lần mức tăng GDP; và chỉ mới 4 tháng đầu năm 2011 lạm phát đã gần 2 con số.

Rất khó thuyết phục để có thể nói rằng lạm phát ở Việt Nam là do các yếu tố khách quan vì nếu là bên ngoài thì hầu hết các nước cũng phải chịu tác động như nhau chứ tại sao chỉ có mình Việt Nam là cao bất thường.

Tóm lại, nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam, theo tôi, chính là yếu tố tiền tệ. Mức tăng tiền quá cao so với mức tăng hàng hóa đã dẫn đến lạm phát. Nói một cách khác nguồn vốn đã không được sử dụng hiệu quả do ba nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ hai, sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn ở khu vực doanh nghiệp (khu vực thị trường). Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước và một số doanh nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang là đối tượng dành được sự ưu ái trong việc phân bổ vốn. Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phí khoảng 4 tỷ đô la trong thời gian qua và hiện vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví dụ rất điển hình của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước.

Đối với một số doanh nghiệp tư nhân lớn, chúng ta thấy rằng, không ít trong số họ chủ yếu tập trung vào các hoạt động kinh doanh (nói đúng hơn là đầu cơ) các loại tài sản (bất động sản, chứng khoán …) hay tìm kiếm tài nguyên quốc gia chứ không phải tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Điều đáng quan tâm là hầu hết các doanh nghiệp này không chỉ có các ngân hàng hay tổ chức tài chính riêng của mình mà còn có quan hệ chặt chẽ với không ít các tổ chức tài chính ngân hàng lớn hay những mối quan hệ khác.

Điều này làm cho các khoản cho vay theo quan hệ trở nên phổ biến hơn và một phần không nhỏ nguồn vốn được đưa vào các hoạt động kinh doanh có tính đầu cơ gây rủi ro hơn là tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Dĩ nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng chính giải quyết việc làm và là động lực tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian qua đã, đang và sẽ bị chèn lấn và khó tiếp cận vốn hơn nên có thể phải thu hẹp sản xuất hay chỉ cầm cự cho qua ngày.

Thứ ba, việc theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá đồng tiền trong bối cảnh lạm phát luôn tăng cao làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Như nhiều lần tôi đã phân tích, khi lạm phát cao mà tỷ giá cứng nhắc sẽ làm cho hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam (kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu) trở nên đắt đỏ hơn so với hàng nhập khẩu. Điều này làm cho một lượng hàng hóa ít hơn sẽ được sản xuất ra trong nền kinh tế Việt Nam và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam bị giảm sút.

Sự lãng phí tham nhũng trong đầu tư công cũng như sự phân bổ vốn thiệc lệch như trên còn dẫn đến một hệ lụy khác là nhiều người giàu lên bất thường có nhu cầu chi tiêu các hàng hóa xa xỉ nhập ngoại cộng với việc định giá cao đồng tiền làm cho tình trạng nhập siêu ngày một căng thẳng hơn.

Nói chung tình trạng phân bổ nguồn lực cộng với chính sách điều hành tỷ giá như trên đã dẫn đến sự mất cân bằng kép trong nền kinh tế mà nó thể hiện bởi thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách luôn dai dẳng và trầm trọng hơn cùng với lạm phát luôn ở mức rất cao.

Dương Việt Anh – Nam 33 tuổi – Kinh doanh:

Lạm phát là gì? Tôi cứ nghe mà không hiểu, chỉ biết giá cả leo thang, tiền mất giá trị. Vậy nguyên nhân dẫn đến lạm phát là gì? Xin cho tôi biết để giải thích với những người trong gia đình và xung quanh tôi. Xin cảm ơn.

Bà Trần Thị Hằng:

Hiện tại, nhiều người vẫn coi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là lạm phát. Đúng ra, chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối (tính theo phần trăm), phản ánh biến động về giá cả chung qua thời gian của một số lượng (hay còn gọi là “rổ”) hàng hóa, dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng phục vụ đời sống bình thường của người dân.

Như vậy, CPI có thể tăng, hoặc giảm so với một thời kỳ gốc nào đó. Trong khi đó lạm phát là biểu hiện của việc chỉ số giá tiêu dùng tăng liên tục trong một thời gian dài và nó phản ánh sự mất cân đối, trong đó chủ yếu là mất cân đối giữa tiền và hàng.

Thiệu Ngọc Dân Thịnh – Nữ 29 tuổi – Tài chính:

Theo các diễn giả, có phải có một nguyên nhân lạm phát là do niềm tin của người dân là có lạm phát và Chính phủ sẽ không thể kiềm chế lạm phát hay không? Từ niềm tin này dẫn dắt người dân đi đến những hành vi làm cho lạm phát thật sự xảy ra…?

Ông Nguyễn Đình Cung:

Có thể nói, nguyên nhân của lạm phát thì có nhiều. Có thể phân thành hai loại, một là do nội tại của nền kinh tế và loại do bên ngoài. Đối với nền kinh tế nước ta trong mấy năm gần đây, bất ổn kinh tế vĩ mô trở thành vấn đề thường xuyên, trong đó lạm phát cao là vấn đề nổi cộm.

Theo tôi, điều đó bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng và cách thức mà chúng ta sử dụng để đạt được mục đích tăng trưởng. Tăng trưởng của chúng ta cho đến nay chủ yếu vẫn dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng đầu tư nhìn chung lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư nhà nước.

Mô hình và cách thức tăng trưởng như thế hiện đã tới hạn của nó. Tuy mô hình và cách thức tăng trưởng đã tới hạn nhưng chúng ta vẫn dựa vào đó để đạt được mục tiêu tăng trưởng, do đó về ngắn hạn thì cách chủ yếu để đạt tăng trưởng đó là mở rộng đầu tư. Để mở rộng đầu tư thì chúng ta buộc phải mở rộng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để có đầu tư. Do đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng, M2, thâm hụt tài khóa gia tăng, thâm hụt cán cân thanh toán gia tăng… tất cả những điều đó là nguyên nhân mang tính nội tại làm cho lạm phát của chúng ta trong mấy năm qua luôn ở mức cao và cao hơn nhiều so với các nước.

Còn đối với lạm phát hiện nay, nhất là trong tháng 3,4 và có thể các tháng tới đây, ngoài những nguyên nhân nói trên thì điều chỉnh tăng giá xăng dầu, điện, tỷ giá, các mặt hàng khác kết hợp với giá cả trên thị trường thế giới cũng tăng cao trong 2 tháng vừa qua đã tác động trực tiếp làm tăng chi phí sản xuất, cho nên tỷ lệ lạm phát trong hai tháng qua cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô đã làm giảm lòng tin của người dân vào đồng nội tệ, người dân kỳ vọng lạm phát sẽ còn tiếp tục tăng. Điều đó cũng là một trong những yếu tố tạo áp lực lên lạm phát, song đó không phải là nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát.

Nguyễn Khánh Toàn – Nam 32 tuổi – Kinh doanh:

Liệu trong tương lai Tổng cục Thống kê có tính lại cách tính chỉ số CPI không (rổ tính CPI)?

Bà Trần Thị Hằng:

Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) do Tổng cục Thống kê thực hiện từ năm 1995 cho đến nay, áp dụng đúng hướng dẫn của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Đây cũng là chuẩn mực quốc tế mà hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng.

Khi tính chỉ số giá tiêu dùng cần có hai yếu tố quan trọng, một là cơ cấu chi tiêu các nhóm hàng hóa và dịch vụ phổ biến trong tổng chi tiêu của dân cư (gọi là quyền số); hai là giá của các hàng hóa và dịch vụ đại diện được chọn để thu thập lấy giá theo từng tháng.

Quyền số CPI của hầu hết các nước trên thế giới thường được sử dụng cố định trong 4-5 năm, một số ít nước thậm chí sử dụng trong khoảng 10 năm (trong điều kiện nền kinh tế ít có biến động, hoặc những nước không có điều kiện kinh phí tổ chức điều tra tính lại cơ cấu này).

Quyền số CPI hiện nay của Việt Nam (giai đoạn 2010-2015) được tính toán và tổng hợp từ kết quả cuộc điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình và điều tra quyền số chỉ số giá tiêu dùng, do Tổng cục Thống kê thực thiện năm 2008 và đầu 2009.

Như vậy, theo định kỳ thường xuyên thì 4-5 năm sau Tổng cục Thống kê sẽ tổ chức điều tra để tính toán lại quyền số này, đảm bảo tính phù hợp với cơ cấu chi tiêu dùng của người dân thay đổi theo thời gian, trên cơ sở phát triển kinh tế chung của đất nước và thu nhập của người dân.

Mặt khác, sau 4-5 năm áp dụng cũng cần phải tiến hành điều tra tính lại cơ cấu chi tiêu này, do việc thay đổi chủng loại và chất lượng sản phẩm, có những mặt hàng sẽ không còn được tiêu dùng phổ biến nữa, có nhiều mặt hàng mới được ưa chuộng hơn…

Duy Cường – Nam 31 tuổi – NĐT:

CPI tăng gần 10% sau 4 tháng, cao hơn mục tiêu 7% Quốc hội đề ra. Thưa các chuyên gia, các ông suy nghĩ thế nào về việc chỉ sau 4 tháng, chỉ tiêu đầu tiên mà Quốc hội đặt ra đã chính thức “hoàn thành”?

Ông Nguyễn Đình Cung:

Thực tế cho đến nay, hết tháng 4 thì tỷ lệ lạm phát so với tháng 12/2010 đã tăng 9,64%, tức là đã cao hơn 2,64 điểm % so với mục tiêu của Quốc hội đã thông qua.

Đa số ý kiến cho rằng, tỷ lệ lạm phát tháng 5 vẫn có thể ở mức tăng 2% và có thể suy giảm từ quý 3/2011. Như vậy, tỷ lệ lạm phát của năm nay chắc chắn sẽ cao hơn chỉ tiêu mà Quốc hội đã thông qua.

Liêm Lê – Nam 34 tuổi – Quản lý:

Chào ông Huỳnh Thế Du, dưới góc độ kinh tế, lãi suất hiện nay các ngân hàng đang áp dụng cho vay (bình quân 20%/năm) có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực gì đến nền kinh tế cũng như sự phát triển xã hội?

Ông Huỳnh Thế Du:

Một mặt, lãi suất cao là kết quả của lạm phát cao và việc thắt chặt tiền tệ của Ngân Hàng Nhà nước. Lãi suất cao, đầu tư sẽ giảm do vậy sẽ giảm áp lực tăng giá trong trước mắt. Tuy nhiên, khi đầu tư giảm sẽ dẫn đến tăng trưởng giảm đó là tác động trực tiếp của lãi suất cao.

Ở đây có một vấn đề cần quan tâm là hiện tượng lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức (tâm lý ỷ lại) khi lãi suất bị đẩy lên cao. Khi lãi suất cao, những hoạt động kinh doanh thông thường với suất sinh lợi kèm với rủi ro vừa phải không thể đi vay được vì suất sinh lợi không bù đắp được chi phí lãi vay. Chỉ những khoản đi vay có rủi ro cao kèm với suất sinh lợi cao mới có thể vay được. Hiện tượng này gọi là lựa chọn ngược.

Hơn thế, đối với những người đi vay, do lãi suất cao, để có thể bù đắp được chi phí lãi vay nên người ta có xu hướng đầu tư vào các hoạt động kinh doanh rủi ro cao hơn để mong có được một suất sinh lợi tương ứng. Đây chính là tâm lý ỷ lại hay rủi ro đạo đức.

Nếu vòng xoáy trên cứ tiếp tục thì cuối cùng hầu hết các khoản vay đều là những khoản vay có rủi ro hay không trả được nợ cao. Hậu quả là nợ xấu ngân hàng cao và đến một lúc nào đó các ngân hàng có thể mất thanh khoản kéo theo toàn hệ thống sụp đổ do hiệu ứng dây chuyền.

Nói chung, khi lãi suất cao mà nguyên nhân căn bản của nó chính là lạm phát cao kéo dài sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho nền kinh tế. Do vậy, việc duy trì mức tăng giá hay lạm phát thấp là vấn đề cốt lõi đối với một nền kinh tế và đây cũng phải là ưu tiên hàng đầu của chính phủ song song với việc cải thiện môi trường kinh doanh.

Duy Cường – Nam 31 tuổi – NĐT:

Xin hỏi các diễn giả, đã bao giờ các ông nghe người trong gia đình than thở về giá cả leo tháng chưa. Xin cảm ơn?

Ông Huỳnh Thế Du:

Tôi không chỉ nghe người trong gia đình than thở mà còn cảm nhận được sức nóng của tốc độ tăng giá.

Mấy năm trước, tôi đổ xăng chỉ có mấy chục nghìn, nhưng lần gần đây nhất đã lên đến 107 nghìn đồng. Mấy năm trước đi xe ôm một vài km, tôi chỉ phải trả có 5 nghìn đồng, bây giờ tôi gần như không thể đi đâu bằng xe ôm với giá thấp hơn 10 nghìn.

Nguyên Lượng – Nam 30 tuổi – Phân tích đầu tư:

Xin hỏi bà Trần Thị Hằng về áp lực lạm phát trong các tháng tới và khả năng kiềm chế lạm phát về mức 11,75% của Chính phủ liệu có thực hiện được?

Bà Trần Thị Hằng:

Mặc dù Nghị quyết 11 của Chính phủ đã được các bộ, ngành và địa phương thực hiện nghiêm chỉnh và quyết liệt trong thời gian qua, và sẽ tiếp tục thực hiện trong thời gian tới với mục tiêu cắt giảm chi tiêu công cho những dự án chưa cần thiết, nhằm kiềm chế lạm phát.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng chỉ số giá tiêu dùng trong một vài tháng tới vẫn tăng, nhưng tốc độ tăng có thể chậm dần.

Nguyên nhân là do bất ổn chính trị tại Bắc Phi và Trung Đông, thiên tai tại Nhật Bản và một số nơi khác trên thế giới làm giá cả nhiều mặt hàng nguyên, nhiên, vật liệu quan trọng cho sản xuất tăng liên tục trong những tháng cuối năm 2010 và 4 tháng đầu năm 2011, nhất là xăng dầu, sắt thép, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu sữa,… đã tác động đến giá đầu vào sản xuất trong nước.

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất (đầu vào sản xuất) quý 1/2011 đã tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng 6% so với quý 4/2010, trong đó chỉ số giá đầu vào cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng cao nhất tới 21% so với cùng kỳ và 10% so với quý 4/2010, ảnh hưởng đến giá sản phẩm sản xuất được tiêu dùng trên thị trường.

Tuy nhiên, với điều kiện thực hiện quyết liệt Nghị quyết 11, đồng thời không có biến động lớn về giá một số nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào quan trọng, hoặc không có bất thường lớn trên thế giới trong thời gian tới thì chỉ số giá tiêu dùng sẽ ổn định trong những tháng cuối năm và có thể giữ được mức lạm phát như năm 2010 (11,75%).

Mr Bao – Nam 26 tuổi – Đầu tư chứng khoán:

Theo các diễn giả, CPI tháng 5 dự báo sẽ tăng khoảng bao nhiêu? Giải pháp nào để hạ nhiệt lãi suất hiện nay? Kinh tế vĩ mô trong nước khi nào sẽ ổn định trở lại?

Bà Trần Thị Hằng:

Tôi chỉ nói riêng về câu hỏi dự báo CPI tháng 5/2011.

Theo tôi chỉ số giá tháng này có thể tăng khoảng 2-2,5% so với tháng trước.

Nhiều bạn đọc:

Ông Huỳnh Thế Du đánh giá thế nào về việc thắt chặt tiền tệ như hiện nay, kết quả và hệ lụy của nó?

Ông Huỳnh Thế Du:

Về nguyên tắc, khi tiền tăng nhiều hơn mức tăng của hàng hóa dẫn đến lạm phát thì cần phải thắt chặt tiền tệ để giảm lượng tiền trong nền kinh tế là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc thắt chặt tiền tệ cần phải đảm bảo rằng những đối tượng tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế phải bị ít ảnh hưởng nhất để đảm bảo mức gia tăng cân đối giữa tiền và hàng. Nhìn dưới khía cạnh này và dựa vào phân tích trên sẽ thấy việc thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình trạng trở nên trầm trọng hơn vì:

Thứ nhất, ở khu vực thị trường hay khu vực kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ – cỗ máy tăng trưởng của Việt Nam – có thể là đối tượng chịu tác động trước tiên vì khi nguồn vốn bị giới hạn thì người bên ngoài (các doanh nghiệp vừa và nhỏ) sẽ là đối tượng bị cắt nguồn vốn trước tiên. Như vậy, ngay ở khu vực trường, mất cân đối tiền – hàng có thể trở nên trầm trọng hơn.

Thứ hai, thắt chặt tiền tệ chưa hẳn sẽ giảm được lượng tiền trong nền kinh tế. Nói chung thắt chặt tiền tệ là giảm lượng cung tiền ở khu vực thị trường với giả định là việc chi tiêu công phải tuân thủ theo những kỷ luật nghiêm ngặt nên lượng tiền trong nền kinh tế sẽ giảm. Tuy nhiên, nếu mục tiêu đầu tư vẫn chiếm khoảng 40% GDP hay mức chi tiêu của toàn xã hội không thay đổi thì việc thắt chặt tiền tệ ở khu vực thị trường có thể sẽ đẩy tiền sang khu vực chi tiêu ngân sách vì trên thực tế NHNN không thể nói không với yêu cầu từ phía Chính phủ.

Lúc này, một lần nữa, mất cân đối tiền – hàng lại trở nên nghiêm trọng hơn.

Xin các chuyên gia đánh giá về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lạm phát năm 2011? Dường như chính sách tài khóa vẫn chưa có động thái gì, điều này ảnh hưởng thế nào đến khả năng kiềm chế lạm phát năm 2011?Như trên tôi đã trình bày về nguyên nhân của lạm phát. Trong năm nay, nếu Chính phủ kiên trì thắt chặt tài khóa và tiền tệ thì nguyên nhân cầu kéo lạm phát sẽ dần được loại trừ. Vì vậy, có thể nguyên nhân chủ yếu của lạm phát năm nay là do chi phí đẩy.

Tuy vậy, nếu không khởi động trên thực tế quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thì nguyên nhân sâu xa của lạm phát vẫn còn nguyên, và nguy cơ lạm phát do cầu kéo (do mở rộng chính sách tài khóa và tiền tệ) sẽ quay trở lại.

Tôi cũng cho rằng, thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, chính sách tiền tệ năm nay đã có một mục tiêu khá rõ ràng, đo lường và giám sát được. Trên thực tế, các giải pháp về tiền tệ đang được thực hiện khá quyết liệt và có những kết quả bước đầu trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Còn về tài khóa thì kết quả chưa thật rõ ràng, các khoản cắt giảm đầu tư, cắt giảm chi tiêu, theo tôi vẫn mới chỉ dừng ở những con số báo cáo, có lẽ chưa cắt giảm một cách thực sự, qua đó góp phần giảm tổng cầu của nền kinh tế và giảm áp lực đối với lạm phát.

Hy vọng rằng, trong những tháng tới đây các giải pháp về tài khóa sẽ được thực hiện tốt hơn, phối hợp, bổ sung và giảm bớt gánh nặng cho chính sách tiền tệ trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Có như vậy, kết quả kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ bền vững hơn.

Bùi Huy Hoàng – Nam 37 tuổi – Thạc sỹ điều khiển:

Gần đây có một số ý kiến của chuyên gia cho rằng thắt chặt tiền tệ đã quá đủ và không cần thắt thêm nữa. Xin hỏi chúng ta đã thực sự thắt chặt tiền tệ hay chưa khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn ở mức 3% trong khi Trung Quốc tăng tới 20,5%? Và chúng ta có thật sự thiếu tiền trong khi quả bóng tín dụng của ta bằng 1,2 GDP? Liệu nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất có phải là biện pháp để giảm lạm phát hay không như một số ý kiến chuyên gia?

Ông Huỳnh Thế Du:

Như tôi đã phân tích, nếu chỉ tập trung vào thắt chặt tiền tệ có thể làm cho tình hình nghiêm trọng hơn. Thực ra quả bóng lúc này đang ở phía chi tiêu ngân sách nhiều hơn.

Ý kiến nới lỏng tiền tệ để hạ lãi suất, giảm lạm phát là một lập luận hoàn toàn sai lầm. Nếu giải pháp này được thực hiện chẳng khác nào đổ dầu vào lửa.

Con số tín dụng bằng 1,2 lần GDP mà bạn đưa ra (theo số liệu mà tôi có được có thể là cao hơn một chút) là điều cần đặc biệt quan tâm. Những nước có mức độ phát triển như Việt Nam thì tín dụng so với GDP của họ chỉ bằng khoảng 50-80% GDP và giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết so với GDP cũng chỉ tương đương mức độ hiện tại của Việt Nam.

Tại sao tín dụng cho doanh nghiệp nhiều mà GDP lại tăng không cao? Phải chăng nợ xấu là một vấn đề có thể rất nghiêm trọng và cần được quan tâm của nền kinh tế Việt Nam?

Nguyễn Hằng Nguyệt Nga – Nữ 20 tuổi – Sinh viên:

Xin chào các vị khách mời. Xin có câu hỏi sau: Xin cho biết về nhận diện nguyên nhân của lạm phát của những tháng đầu năm 2011? Xin chân thành cám ơn!

Bà Trần Thị Hằng:

Lạm phát các tháng đầu năm 2011 có các nguyên nhân chủ yếu như sau.

Thứ nhất doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2 và ngày 29/3), mỗi lít xăng tăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38% đã tác động trực tiếp tăng chỉ số giá nhóm giao thông vận tải và gián tiếp nhiều vòng đến hoạt động sản xuất của các lĩnh vực khác.

Nguyên nhân thứ hai là giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnh tăng khoảng 15,3% áp dụng từ 1/3.

Thứ ba là ảnh hưởng của tỷ giá giữa VND và USD, đồng Việt Nam mất giá mạnh trong 3 tháng đầu năm đã làm tăng giá nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu (trong điều kiện nước ta còn phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài để sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước). Đây là nguyên nhân chúng ta bị tăng giá kép từ giá thế giới và thay đổi tỷ giá.

Thứ tư là ảnh hưởng từ những tháng cuối năm 2010 chi đầu tư từ ngân sách và của các doanh nghiệp tăng khá nhanh làm cho lượng tiền trong lưu thông lớn.

Thứ năm là yếu tố tâm lý (cả người tiêu dùng và người bán lẻ) từ việc nhà nước điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp từ 1/1 và 1/5/2011.

Nguyễn Hùng – Nam 42 tuổi – Công chức:

Bà Trần Thị Hằng:

Những số liệu thống kê về kinh tế xã hội nói chung và chỉ số giá tiêu dùng nói riêng của Tổng cục Thống kê từ trước đến nay luôn giữ được tính khách quan và độc lập.

Tất cả số liệu của Tổng cục Thống kê đều được thu thập và phản ánh đúng thực tế tình hình kinh tế xã hội của đất nước.

Chưa bao giờ Tổng cục Thống kê chịu áp lực “làm đẹp con số” như bạn nói. Các nhà lãnh đạo luôn luôn tôn trọng và sử dụng số liệu thống kê trong công tác xây dựng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội của các cấp.

Chính phủ đang thực hiện cắt giảm đầu tư công, theo các ông như vậy có giải quyết được vấn đề lạm phát không khi mà hiệu quả của đầu tư công là rất thấp? Giải pháp là gì?

Ông Nguyễn Đình Cung:

Như chúng ta đều biết, cắt giảm đầu tư nhà nước, cắt giảm chi tiêu ngân sách, giảm thâm hụt ngân sách là một trong số các giải pháp cơ bản để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Như trên tôi đã trình bày, nguyên nhân sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư, nhất là đầu tư nhà nước còn thấp. Còn mở rộng tài khóa, làm tăng tổng cầu là một trong những nguyên nhân trực tiếp. Vì vậy, nếu chỉ cắt giảm đầu tư mà chưa có những giải pháp đổi mới quản lý, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả đầu tư thì mới chỉ giải quyết được nguyên nhân trước mắt mà chưa khắc phục được nguyên nhân cơ bản của nó.

Vì vậy, theo tôi đồng thời với việc rà soát, cắt giảm đầu tư như hiện nay đang làm ở các bộ, ngành và các địa phương thì Chính phủ cần đồng thời nghiên cứu, xây dựng để trong một hai năm tới đây sẽ thực hiện một cơ chế mới về phân bổ, quản lý, sử dụng vốn đầu tư nhà nước, trong đó mục tiêu cơ bản là nâng cao hiệu quả của đầu tư nhà nước nói chung và của từng dự án nói riêng.

Đây có lẽ cũng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hinh tăng trưởng như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra.

Nguyễn Hữu Thắng – Nam 52 tuổi – Giảng viên:

Xin hỏi ông Huỳnh Thế Du, nếu lạm phát ở Việt Nam chỉ do nguyên nhân tiền tệ thì tại sao CPI cao nhất vào tháng hai (trung bình 10 năm qua là 2,17%) và tháng Giêng (trung bình 10 năm qua là 1,25%)? Việt Nam chưa bao giờ thắt chặt về tiền tệ (thể hiện mức tăng M2 chưa bao giờ thấp hơn 20%/ năm). Ông nghĩ gì về điều này?

Ông Huỳnh Thế Du:

Tôi xin trả lời hai câu hỏi của ông Thắng như sau:

Thứ nhất, đối với vấn đề lạm phát. Như tôi đã phân tích, yếu tố tiền tệ vẫn là căn nguyên của lạm phát, nhưng ở một số thời điểm nhất định (ngắn hạn) còn yếu tố cầu kéo và chi phí đẩy. Ở Việt Nam, mức tăng giá hàng năm vào tháng 1 và tháng 2 thường tăng cao là rơi vào dịp tết âm lịch, khi đó mức cầu của hầu hết các loại hàng hóa tiêu dùng đều cao hơn mức cung có (cho dù đã được chuẩn bị sẵn) nên ở thời điểm này giá tăng cao hơn bình thường.

Như vậy, việc tăng giá theo mùa vụ này chính là do cầu kéo. Điều này không chỉ đúng ở Việt Nam mà còn đúng ở các nước khác trong các mùa lễ hội như các nước phương Tây vào tháng 11-12 hay Trung Quốc vào tháng 1-2. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, nếu cung tiền không tăng quá nhiều thì qua những thời điểm mùa vụ này giá sẽ được điều chỉnh và mức tăng giá của cả năm sẽ không quá cao.

Thứ hai, đối với vấn đề thắt chặt tiền tệ: Ông đúng và đó là nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao.

Phạm Việt Dũng – Nam 54 tuổi – Lao động tự do:

Gửi tới bà Trần Thị Hằng! Các số liệu thống kê là dữ liệu “đầu vào” của mọi giải pháp kinh tế. Dữ liệu vào thiếu chính xác tất yếu các chính sách điều hành ít, thậm chí không có hiệu quả. Để có kết quả thống kê chính xác đương nhiên phải dựa vào báo cáo tổng hợp của các ban ngành, cơ quan, tập đoàn kinh tế các cấp. Xin hỏi: Với tư cách Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, bà đã hài lòng với sự chân thực và mức độ chính xác của các báo cáo nói trên chưa? Nếu chưa, bà và cơ quan Tổng cục đã vận dụng những biện pháp gì để khắc phục bất cập này? Nếu chưa và theo bà, cơ quan Chính phủ nên đưa ra những giải pháp như thế nào để khắc phục? Xin cảm ơn!

Bà Trần Thị Hằng:

Nguồn số liệu đầu vào của Tổng cục Thống kê hiện nay được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau:

– Một là chế độ báo cáo thống kê định kỳ (tháng, quý, năm) áp dụng đối với các cơ quan hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

– Hai là thông qua tổng điều tra/điều tra đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước, hộ gia đình, các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể và các tổ chức hiệp hội ngoài nhà nước khác.

– Ba là nguồn hồ sơ hành chính.

– Ngoài ra, Tổng cục Thống kê cũng sử dụng thêm nguồn số liệu từ các tổ chức quốc tế, cũng như các nước đối tác để so sánh, đối chiếu và bổ sung.

Như vậy, chất lượng của số liệu thống kê sẽ phụ thuộc nhiều vào chất lượng của báo cáo cũng như chất lượng cung cấp thông tin cho các cuộc tổng điều tra/điều tra.

Với số liệu hiện nay, chúng tôi hoàn toàn có thể khẳng định rằng đã phản ánh đúng bản chất và xu hướng của các hoạt động kinh tế xã hội hiện nay, và các số liệu thống kê này đã đảm bảo được tính kịp thời với chất lượng ngày càng được nâng cao, phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của các cơ quan tổ chức Đảng, Nhà nước ở các cấp.

Tất nhiên, chúng tôi vẫn mong muốn số liệu thống kê cần phải đạt được độ chính xác, tính đầy đủ và kịp thời cao hơn nữa. Chính vì vậy, lãnh đạo Tổng cục Thống kê luôn xác định một trong những mục tiêu của ngành là phấn đấu để thông tin thống kê kinh tế xã hội tiến tới đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế trong thời gian tới.

Để đạt được mục tiêu này, Tổng cục Thống kê đang khẩn trương triển khai thực hiện Quyết định 312 ngày 2/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê, và đang tích cực xây dựng chiến lược phát triển thống kê giai đoạn 2010-2020 tầm nhìn 2025 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành vào cuối quý 2/2011.

Hoàng Trọng Văn – vanhtr@yahoo.com.vn:

Đầu tư công không hiệu quả chính là nguyên nhân xâu xa gây ra lạm phát.Theo các ông điều này có chính xác không?Làm sao cắt giảm triệt để vì nó đụng chạm đến nhóm lợi ích của một vài cá nhân, tổ chức?

Ông Huỳnh Thế Du:

Đúng, đầu tư công không hiệu quả chính là nguyên nhân xâu xa gây ra lạm phát. Một trong những chìa khóa then chốt hiện nay để xử lý mất cân bằng kép của nền kinh tế hiện nay là cắt giảm chi tiêu công. Về mặt nguyên lý, những khoảng chi tiêu kém hiệu quả sẽ được cắt giảm. Tuy nhiên, tiêu chí cắt giảm và mối quan hệ là hai trở ngại rất lớn cho vấn đề này.

Thứ hai, cắt của người thân hay cắt của người sơ, người có tiếng nói hay không có tiếng nói là điều không hề đơn giản.

Tôi xin mượn câu chuyện sau để phân tích vấn đề này.

Thử tưởng tượng như một gia đình, nếu cần cắt giảm chi tiêu thì những khoản cần được nghĩ đến đầu tiên chính là phần trà thuốc của bố và trang điểm của mẹ chứ không phải là phần sữa cho con. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc cắt giảm những khoản như vậy là rất khó khăn vì bố mẹ là người có quyền lực lớn nhất trong gia đình và có vô số lý do để duy trì các khoản chi tiêu của mình.

Người bố có thể lấy lý do rằng đây là các khoản chi tiêu mang tính ngoại giao, tôi không thể mất mặt với bạn bè được nên cần phải có các khoản tiêu này trong khi bản chất là người bố đang nghiện rượu. Người mẹ có thể lý luận rằng tôi đẹp thì làm cho ông hãnh diện chứ tôi được gì đâu. Ai cũng cần cả sao mà bỏ được.

Do sự nhạy cảm trong quan hệ trong gia đình, nếu ông bố không tự nguyện bỏ rượu hay người mẹ không tự giảm bớt một vài loại mỹ phẩm đắt tiền thì việc cắt giảm dường như không thể vì hai người nể nang nhau nên chẳng ai nói ra trong khi con cái thì ai mà dám. Kết quả là rất có thể phần sữa của con bị cắt.

Do vậy, để việc cắt giảm chi tiêu công khả thi, theo tôi, Việt Nam nên áp dụng hai tiêu chí là giới hạn chi tiêu và cắt đều ở bối cảnh trước mắt.

Đối với việc giới hạn chi tiêu công, Nhà nước nên đưa ra đưa ra mục tiêu trong 5 năm tới, tổng chi tiêu công (cả đầu tư và chi tiêu thường xuyên) chỉ là 30% GDP thay vì từ 35-40% GDP như hiện nay. Với giới hạn này thì tất cả các bên sẽ ngồi lại với nhau để chia cái bánh đã được giới hạn.

Đối với việc cắt giảm trước mắt, cắt đều có lẽ là biện pháp có thể khả thi vì trong trường hợp này tất cả các khoản chi tiêu đều được cắt một tỷ lệ như nhau. Thoạt nhìn thì có vẻ phi lý và phản khoa học, nhưng do không có tiêu chí không rõ ràng, nên nếu áp dụng các tiêu chí có thể sẽ dẫn đến tình trạng khoản cần thiết nhất (sữa của con) bị cắt như phân tích ở trên. Thôi thì cứ cắt đều.

Sau một thời gian, nếu thấy những chỗ nào bất hợp lý thì có những biện pháp bổ sung thêm trong giới hạn cứng của chi tiêu 30% nêu trên.

Nguyễn Văn Giàu – Nam 57 tuổi – Công chức:

Xin các chuyên gia đánh giá về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lạm phát năm 2011? Dường như chính sách tài khóa vẫn chưa có động thái gì, điều này ảnh hưởng thế nào đến khả năng kiềm chế lạm phát năm 2011?

Ông Huỳnh Thế Du:

Tôi đồng tình với câu trả lời ở phía trên của ông Nguyễn Đình Cung. Như tôi đã phân tích, chìa khóa của vấn đề lạm phát bây giờ chính là thắt chặt chi tiêu ngân sách. Nếu tiền tệ cứ phải thắt chặt mãi mà chi tiêu như hiện tại thì tình trạng có thể trầm trọng hơn.

Do vậy, ưu tiên với vấn đề lạm phát bây giờ phải là cắt giảm chi tiêu ngân sách. Ngân hàng Nhà nước, có lẽ sẽ phải tập trung nhiều vào vấn đề tỷ giá vì tạm thời đang ổn, nhưng những vấn đề gây ra rắc rối cho tỷ giá vẫn còn.

Một sự chuẩn bị trước có lẽ là cần thiết.

Đỗ Duy Cường – Nam 31 tuổi – Chuyên gia độc lập:

Xin hỏi bà Trần Thị Hằng, lâu nay chúng ta mới nghe về chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát. Nhưng điều đó mới phản ánh một phần giá cả cho đời sống nhân dân, còn chỉ số lạm phát cơ bản, chỉ số giá bán của nhà sản xuất (PPI) phản ánh nhiều hơn đời sống doanh nghiệp. Vậy Tổng cục Thống kê có kế hoạch gì cho những chỉ số nêu trên (Core Inflation v PPI)?

Bà Trần Thị Hằng:

Ngoài chỉ số giá tiêu dùng đã được thu thập, tổng hợp và công bố hàng tháng, Tổng cục Thống kê đã thu thập, tổng hợp và công bố một số chỉ số giá sản xuất quan trọng (PPI) hàng quý như: chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào sản xuất; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất công nghiệp; chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản; chỉ số giá cước vận tải; chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu; chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu.

Trần Văn Thiện – Nam 24 tuổi – Kế toán:

Kính chào quý tòa soạn và các vị khách mời! Tôi xin đặt câu hỏi với ông Nguyễn Đình Cung như sau: Gần đây tôi có theo dõi một số bài báo có đăng phát biểu của ông với đại ý một trong các nguyên nhân chính gây lạm phát ở Việt Nam là từ chính sách tài khóa, chúng ta cũng đã xác định cắt giảm chi tiêu công, vậy thì câu hỏi ở đây là: Làm thế nào để rà soát và cắt giảm đúng các dự án chưa thực sự cần thiết (chứ không phải là các dự án có chủ đầu tư yếu thế hơn, vận động kém hơn)? Và về dài hạn, làm thế nào để quản lý các khoản đầu tư công thực sự có hiệu quả?

Ông Nguyễn Đình Cung:

Gần đây, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã nghiên cứu xây dựng đề án “Tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng” theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chúng tôi thấy rằng, có hàng loạt các công việc cơ bản và quan trọng cần phải thực hiện. Tuy vậy, theo tôi trong số các giải pháp đó thì cần phải có sắp xếp thứ tự ưu tiên trong triển khai thực hiện. Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay ở nước ta thì cải cách nâng cao hiệu quả khu vực nhà nước (bao gồm quản lý nhà nước, ngân sách nhà nước và doanh nghiệp nhà nước) nên là điểm khởi đầu của quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Như trên tôi đã nói, đồng thời với việc rà soát, cắt giảm đầu tư như hiện nay đang làm trong khuôn khổ thực hiện Nghị quyết số 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội thì cần phải nghiên cứu và đổi mới cơ chế quản lý đầu tư nhà nước. Theo tôi, cơ chế quản lý mới ít nhất phải có một số nội dung cụ thể sau đây:

Một là: ban hành tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế đối với đầu tư nhà nước để mức độ hiệu quả kinh tế đối với từng dự án phải đo lường được một cách cụ thể trong đề xuất, thẩm định, quyết định, kiểm tra, giám sát và đánh giá đầu tư.

Trên cơ sở đó, các dự án đầu tư có hiệu quả cao nhất sẽ được lựa chọn, từ đó đầu tư sẽ được phân bổ và sử dụng một cách tập trung hơn; kiểm tra và giám sát đầu tư cũng sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.

Hai là: Thay đổi cơ chế phân cấp quản lý đầu tư. Các địa phương, các bộ vẫn có quyền chủ động xây dựng và đề xuất dự án đầu tư nhưng lựa chọn dự án đầu tư cần được thực hiện theo nguyên tắc đấu thầu công khai theo cơ chế thị trường.

Qua đó sẽ lựa chọn được các dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế cao nhất.

Trong phân cấp, cần tính đến phát triển cơ cấu kinh tế vùng trong thẩm định lựa chọn và quyết định đầu tư để các dự án đầu tư trong cùng một vùng không cạnh tranh nhau, loại trừ lẫn nhau mà phải phối hợp và bổ sung lẫn nhau.

Ba là: Tăng cường thẩm quyền và năng lực của cơ quan chuyên trách quản lý đầu tư nhà nước.

Bốn là: Thiết lập hệ thống thông tin toàn quốc về đầu tư nhà nước, trên cơ sở đó thực hiện công khai hóa thông tin về toàn bộ đầu tư nhà nước nói chung và từng dự án đầu tư nhà nước nói riêng. Về việc này, theo tôi các thông tin sau đây cần phải được công khai hóa:

– Thông tin về dự án đầu tư như: tên dự án; mục tiêu dự án; quy mô; ngành nghề; tổng vốn, tiến độ phân bổ vốn và tiến độ thực hiện, thời hạn bắt đầu và kết thúc…

– Chủ đầu tư thực hiện dự án, những lý do hay tiêu chuẩn lựa chọn chủ đầu tư.

– Danh sách ứng viên nhà thầu và đơn vị được chọn thực hiện dự án, những tiêu chí đã được sử dụng để chọn nhà thầu thực hiện dự án.

– Tiến độ thực hiện dự án, những khó khăn mới phát sinh, chênh lệch (nếu có) giữa tiến độ thực hiện và kế hoạch, nguyên nhân, cá nhân và cơ quan chịu trách nhiệm về nhưng sai sót hay chênh lệch so với kế hoạch.

Hiệp – Nam 25 tuổi – Nhân viên tài chính:

Xin hỏi ông Huỳnh Thế Du. Tôi được biết nền kinh tế Việt Nam có nhiều nét tương đồng với kinh tế Trung Quốc. Chúng ta đã áp dụng nhiều chính sách giống với nước bạn. Vậy tôi không rõ vì nguyên nhân gì mà cung tiền Việt Nam luôn cao hơn Trung Quốc rất nhiều?

Ông Huỳnh Thế Du:

Đúng là nền kinh tế Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với kinh tế Trung Quốc và chúng ta đã áp dụng nhiều chính sách giống với Trung Quốc. Tuy nhiên, những vấn đề khác nhau cơ bản sau đây dẫn đến kết quả khác nhau.

Thứ nhất, Trung Quốc nhất quán với chủ trương định giá đồng Nhân dân tệ thấp để có lợi cho hoạt động ngoại thương. Kết quả là cùng với cách chính sách khác Trung Quốc trở thành “nhà buôn” lớn nhất thế giới, với tặng dư thương mại và dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới. Hơn thế, theo thời gian đồng Nhân dân tệ tăng giá cùng với sự khẳng định sức mạnh của nền kinh tế Trung Quốc.

Thứ hai, về cơ bản Trung Quốc theo đuổi chính sách tiền tệ thận trọng (trừ chính sách mở rộng cho gói kích thích vào cuối năm 2009 và đầu 2010 mà bây giờ họ phải đang phải gánh chịu hậu quả). Kết quả của chính sách này là giá cả được giữ ở mức ổn định. Từ trường hợp của Trung Quốc, chúng ta có thể thấy rất rõ của chính sách mở rộng tiền tệ quá mức.

Thứ ba, họ cũng cổ phần hóa và niêm yết các doanh nghiệp nhà nước, nhưng bản thân các doanh nghiệp của họ có sự cạnh tranh rất lớn cùng với việc phải tuân thủ các kỷ luật thị trường khi niêm yết quốc tế nên các doanh nghiệp của họ trở nên rất mạnh.

Ở Việt Nam, nếu nhìn vào sự cạnh tranh trong ngành viễn thông, cụ thể là giữa Viettel và VNPT thì chúng ta có thể thấy hiệu quả của cạnh tranh đúng nghĩa. Rất tiếc là những ví dụ như ngành bưu chính viễn thông quá ít.

Nguyễn Minh Hải – Nam 33 tuổi – Kế toán:

Xin hỏi bà Trần Thị Hằng là cách tính CPI hàng tháng, cụ thể hơn là trong rổ hàng hóa để tính CPI thì gồm những nhóm mặt hàng nào và tỷ trọng của từng nhóm mặt hàng ấy trong rổ hàng hóa là bao nhiêu. Số liệu mà Tổng cục Thống kê có được để tính mức độ tăng giảm giá của từng nhóm hàng hóa được cập nhật trên cơ sở nào, giá tăng giảm được cập nhật hàng ngày hay tại thời điểm nào? Xin cảm ơn.

Bà Trần Thị Hằng:

Như tôi đã trả lời khi trước, “rổ” hàng hóa hiện nay của Tổng cục Thống kê gồm 572 hàng hóa và dịch vụ đại diện cho tiêu dùng phổ biến của người dân (tăng 78 mặt hàng so với giai đoạn trước), chia thành 11 nhóm lớn với quyền số như sau:

Quyền số của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống là 39,93%; đồ uống thuốc lá là 4,03%; may mặc, mũ nón, giày dép 7,28%; nhà ở và vật liệu xây dựng 10,01%; thiết bị và đồ dùng gia đình 8,65%; thuốc và dịch vụ y tế 5,6%; giao thông 8,87%; bưu chính viễn thông 2,72%; giáo dục 5,72%; văn hóa giải trí và du lịch 3,83%; hàng hóa và dịch vụ khác 3,34%.

Phạm vi điều tra được áp dụng tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cụ thể gồm 254 khu vực điều tra tương ứng với trên 3000 điểm ở cả khu vực thành thị và nông thôn.

Thời gian thu thập giá hàng hóa được tính từ ngày 15 tháng này đến 15 tháng sau, thu thập thành 3 kỳ/tháng báo cáo, vào các ngày 25, 5 và 15 hàng tháng đối với 131 mặt hàng hay biến động như lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài, xăng dầu, vật liệu xây dựng… Thu thập 1 kỳ/tháng đối với các mặt hàng còn lại vào ngày 5 hàng tháng.

* Trong vòng 24 giờ qua, VnEconomy đã nhận được gần 2.000 câu hỏi gửi về cuộc giao lưu trực tuyến, điều chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của độc giả đối với vấn đề lạm phát hiện nay. Vì thời gian có hạn, các diễn giả và tòa soạn đã cố gắng chọn lọc các câu hỏi có tính đại diện để ưu tiên trả lời. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự tham gia nhiệt tình của đông đảo bạn đọc tới cuộc giao lưu trực tuyến này.

Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022

Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả

Luận Văn Lạm Phát Và Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam

8 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế

Việt Nam Đang Đi Đúng Hướng Trong Việc Áp Dụng Các Biện Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô

Luận Văn Đề Tài Lạm Phát 2011

Tăng Trưởng Gdp 2022 Trên 7%, Lạm Phát Dưới 3%

Lạm Phát Năm 2022 Và Những Dự Báo

Lạm Phát Năm 2008: Dự Báo Và Giải Pháp?

Lạm Phát 6 Tháng Đầu Năm 2022 Và Dự Báo

Cpi Năm 2022 Tăng 4,74%, Kiềm Chế Lạm Phát Thành Công

Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt. 1.2 Các phép đo chủ yếu của chỉ số lạm phát Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm: – Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI) là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ. – Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi “người tiêu dùng thông thường” một cách có lựa chọn. Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới. – Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Chỉ số giá bán buôn đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn. Chỉ số này rất giống với PPI. – Chỉ số giá hàng hóa đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn. Trong trường họp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng. Khi nước Mỹ sử dụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc. – Chỉ số giảm phát GDP dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực). – Chỉ số giá chi phí tiêu dùng cá nhân (PCEPI). Trong “Báo cáo chính sách tiền tệ cho Quốc hội” sáu tháng một lần của mình (“Báo cáo Humphrey-Hawkins”) ngày 17 tháng 2 năm 2000, Federal Open Market Committee (FOMC) nói rằng ủy ban này đã thay đổi thước đo cơ bản về lạm phát của mình từ CPI sang “chỉ số giá cả dạng chuỗi của các chi phí tiêu dùng cá nhân”. 1.3 Phân loại lạm phát Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nên các nhà kinh tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá để làm căn cứ phân loại lạm phát ra thành ba mức độ khác nhau: – Lạm phát vừa phải: loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ một con số hàng năm (dưới 10% một năm). Lạm phát vừa phải còn được gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát một con số. Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chất xúc tác để thúc

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo

Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019

Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua

Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp

Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022

6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát 2011

Tiếp Tục Thực Hiện Tốt 8 Nhóm Giải Pháp Trong Đó Kiềm Chế Lạm Phát Là Hàng Đầu

Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?

Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480

Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam

Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Ngày 17-8, Bộ Tài chính đã công bố các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát năm 2011 ở mức 17%, ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung vào 6 giải pháp như sau:

Giá cả tiếp tục tăng làm cho người tiêu dùng lo lắng

Thứ nhất, tập trung giải quyết các vấn đề từ gốc của giá cả là chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ hai, kiên định thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm khống chế tổng cầu của nền kinh tế mà Nghị quyết 11/NQ-CP đã đề ra.

Thứ ba, bảo đảm cân đối cung-cầu hàng hoá, dịch vụ trong mọi tình huống, trước hết là các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, không để xảy ra thiếu hàng sốt giá. Sắp xếp lại tổ chức mạng lưới lưu thông hợp lý, tránh đẩy chi phí lưu thông tăng cao. Rà soát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và có các giải pháp hỗ trợ phù hợp về tiếp cận vốn, lãi suất, thuế… cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển để tăng cung cho thị trường, giảm chi phí tạo ra cơ hội giảm sức ép đẩy giá tăng.

Thứ tư, thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, đầu cơ găm hàng thao túng thị trường giá cả. Tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý thị trường vàng, thị trường ngoại hối.

Thứ năm, thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; tiếp tục có lộ trình thích hợp để xoá bao cấp qua giá đối với các loại hàng hoá dịch vụ còn bao cấp và phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát như: điện, xăng dầu, nước sạch, than bán cho điện… Đồng thời, bộ sẽ có các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với những ngành sản xuất gặp khó khăn, hỗ trợ đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương biện pháp bình ổn giá, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội, tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, giảm thiểu các yếu tố tâm lý, kỳ vọng tăng giá trên thị trường.

Tin-ảnh: T.Phương

Luận Văn Đề Tài Một Số Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Năm 2022 Lạm Phát 3,54%

Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Kiềm Chế Lạm Phát Dưới 4% Năm 2022

Thuận Lợi Và Thách Thức Trong Kiểm Soát Lạm Phát

Triển Khai 6 Giải Pháp Kiểm Soát Lạm Phát Các Tháng Cuối Năm 2022

Lạm Phát 2011 Đến Nay: Con Số Và Dự Báo

Luận Văn Đề Tài Lạm Phát 2011

Tăng Trưởng Gdp 2022 Trên 7%, Lạm Phát Dưới 3%

Lạm Phát Năm 2022 Và Những Dự Báo

Lạm Phát Năm 2008: Dự Báo Và Giải Pháp?

Lạm Phát 6 Tháng Đầu Năm 2022 Và Dự Báo

Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt trong trường hợp lạm phát cao hoặc siêu lạm phát và không dự đoán được sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối, làm cho hoạt động của của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng, nguồn thu ngân sách nhà nước giảm do sản xuất bị suy thoái… chính vì vậy nhà nước phải áp dụng những biện pháp thích hợp để kiềm chế và kiểm soát lạm phát.

Trong thực tế, có nhiều thước đo để đo lường biến động giá cả của các quốc gia, hay chính là đo lường lạm phát như: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giảm phát GDP nhưng CPI vẫn được coi là thước đo phổ biến nhất để đo lường lạm phát và được quan tâm nhiều nhất vì biến động CPI phản ánh biến động trong mức sống của người dân. Do đó, khi nền kinh tế có lạm phát có nghĩa là có sự gia tăng liên tục và kéo dài của CPI.

Trong vài năm gần đây, một khái niệm mới được nhiều người nhắc đến là “lạm phát cơ bản”. Khái niệm này xuất phát từ thực tiễn rằng lạm phát CPI đôi khi biến động rất thất thường nên nếu chính sách tiền tệ (CSTT) phản ứng với những biến động này có thể đem lại những hậu quả không tốt cho nền kinh tế.

Lạm phát cơ bản là lạm phát thể hiện sự thay đổi giá cả mang tính dài hạn, loại bỏ những biến động tạm thời, điều đó sẽ giúp cho CSTT phản ứng chính xác hơn với các biến động giá cả. Do đó, thước đo lạm phát cơ bản được tính bằng lạm phát CPI loại trừ các yếu tố biến động tạm thời mà thông thường là năng lượng, lương thực. Lạm phát cơ bản tăng chính là chỉ báo rằng lạm phát dự kiến sẽ còn tăng trong dài hạn và khi đó CSTT cần phải hành động để kiềm chế nguy cơ lạm phát.

Ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia. Thực tiễn đã chứng minh, trong quá trình phát triển kinh tế rất nhiều quốc gia đã từng đối mặt với lạm phát và những tác động không mong muốn của lạm phát. Nhiều quốc gia đã đưa ra những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm kiểm soát lạm phát và kiểm soát lạm phát thành công.

Trong giai đoạn 2011 – 2022 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ (CSTT), phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa góp phần quan trọng trong kiểm soát và đưa lạm phát ở mức cao 23% vào tháng 8/2011 xuống còn 6,81% năm 2012, 6,04% năm 2013, 1,84% năm 2014 và 0,6% năm 2022.

Trên cơ sở đánh giá dự báo kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ, giai đoạn 2022 – 2022, NHNN đặt ra các chỉ tiêu định hướng về tiền tệ, tín dụng thấp hơn giai đoạn 2011 – 2022 nhưng vẫn cân đối đảm bảo phù hợp với sức hấp thụ của nền kinh tế và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm kiểm soát hợp lý lượng tiền cung ứng qua các kênh, qua đó đã góp phần kiểm soát tốt lạm phát.

Giai đoạn 2011-2015 đánh dấu thời kỳ giữ lạm phát ổn định ở mức thấp nhất trong hơn 10 năm qua. Lạm phát ổn định ở mức thấp, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, thị trường ngoại hối, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng lên mức kỷ lục, thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải thiện vững chắc là những yếu tố cơ bản được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế sử dụng làm căn cứ để nâng hệ số tín nhiệm của Việt Nam.

Nếu như năm 2010, các tổ chức xếp hạng như Moody’s, Fitch Rating, Standard & Poor’s đồng loạt đánh giá tín nhiệm Việt Nam ở mức “tiêu cực” do quan ngại về chính sách kinh tế, dự trữ ngoại hối và thực trạng của hệ thống ngân hàng thì giai đoạn 2011-2015, Fitch nâng xếp hạng của Việt Nam lên mức BB, Moody’s nâng xếp hạng của Việt Nam lên mức B1, tiến gần hơn đến ngưỡng khuyến nghị đầu tư.

Vào nửa cuối năm 2011, thanh khoản của hệ thống TCTD thiếu hụt nghiêm trọng, lãi suất liên ngân hàng tăng cao, có thời điểm lên đến 30%/năm, nguy cơ đổ vỡ hệ thống hiện hữu có tình trạng các ngân hàng hạn chế cho vay lẫn nhau.

Trước tình hình trên, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp nhằm mục tiêu ưu tiên về kiềm chế lạm phát, để hỗ trợ thanh khoản cho thị trường, giảm thiểu nguy cơ đổ vỡ hệ thống TCTD, NHNN đã điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, thực hiện tái cấp vốn kịp thời cho hệ thống TCTD, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, đảm bảo an toàn hệ thống…

Với việc điều hành đồng bộ các công cụ CSTT, từ đầu năm 2012 đến nay, thanh khoản hệ thống đã được cải thiện và đảm bảo nên nhu cầu vay vốn trên liên ngân hàng để cân đối vốn không cao, do vậy không tạo sức ép tăng lãi suất liên ngân hàng như thời gian trước đây. Lãi suất liên ngân hàng đã giảm mạnh và dao động trong khoảng 2-5%/ năm; Tỷ lệ tín dụng/huy động vốn bằng VND giảm từ trên 100% cuối năm 2011 xuống còn khoảng 90% hiện nay.

CPI tháng 3/2016 tăng 0,57% so với tháng trước, 1,69% so với cùng kỳ; 0,99% so với cuối năm trước. Theo quy luật mùa vụ hàng năm, tháng 3 là thời điểm sau tết Nguyên Đán nên CPI thường có xu hướng giảm. Tuy nhiên, diễn biến tăng lạm phát tháng 3 năm nay xuất phát từ một số yếu tố đột biến gồm:

(i) Giá dịch vụ y tế tăng từ 1/3/2016 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính, theo đó, giá các mặt hàng dịch vụ y tế áp dụng cho đối tượng có bảo hiểm y tế tăng 32,9% góp phần làm cho CPI tăng khoảng 1,27%.

(ii) Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, một số tỉnh đã tăng học phí các cấp làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 0,66%.

(iii) Cú sốc cung lúa gạo do tình trạng hạn hán, ngập mặn nghiêm trọng đẩy nhu cầu mua lúa, gạo tích trữ trong khi nguồn cung giảm tác động làm giá lương thực tăng 0,23% (Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tổng lượng gạo tồn kho của các doanh nghiệp thành viên tính đến ngày 18/2/2016 còn khoảng 826 nghìn tấn thấp hơn gần 500 nghìn tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra, Vụ Đông Xuân năm nay dự báo sẽ có sản lượng thấp hơn năm trước do bị hạn hán và xâm nhập mặn).

Dự tính cả năm 2022, lạm phát có khả năng tăng mạnh nhưng nguyên nhân chủ yếu là do Nhà nước điều chỉnh tăng mạnh giá dịch vụ y tế, giáo dục. Đối với giá y tế, sau khi đã điều chỉnh tăng hơn 30% vào tháng 3/2016, dự kiến sẽ còn 1 lần điều chỉnh tăng vào tháng 7/2016. Học phí giáo dục hiện đã được một số địa phương điều chỉnh tăng dần nhưng dự kiến cao điểm tăng sẽ vào thời điểm đầu năm học mới.

Đáng chú ý, nếu như lạm phát giảm thấp trong năm 2022 chủ yếu do giá lương thực, xăng dầu giảm mạnh thì 2 loại giá này bắt đầu tăng trở lại, tạo thêm áp lực lạm phát năm 2022. Như vậy, nếu các áp lực từ tăng trưởng kinh tế và yếu tố tiền tệ lên lạm phát vẫn ổn định như thời gian trước (theo đó giúp ổn định lạm phát cơ bản ở mức khoảng 2%) thì tỷ lệ lạm phát cuối năm vẫn có khả năng lên đến trên 5%, đòi hỏi chính sách tiền tệ phải được điều hành thận trọng không tạo thêm áp lực gia tăng lạm phát. Nếu lạm phát cơ bản của NHNN vẫn dao động ổn định trong khoảng 2% là tương đối ổn định và giá các mặt hàng nhà nước quản lý được điều chỉnh phù hợp. Nhưng nếu tiếp tục điều chỉnh tăng mạnh giá nhà nước quản lý theo lộ trình, giá lương thực xăng dầu tiếp tục tăng… thì lạm phát có khả năng lên trên 5%.

Trong điều kiện tăng trưởng kinh tế chậm lại, sức ép lạm phát có xu hướng tăng lên nhưng xuất phát từ các nhân tố bên cung thì trước mắt cần chú ý: Điều chỉnh tăng các mặt hàng do nhà nước quản lý cần xem xét thời điểm hợp lý để tránh cộng dồn tăng lạm phát; Chính sách tài khóa cần có hiệu quả, huy động nguồn vốn trái phiếu chính phủ cho ngân sách với lãi suất hợp lý, tránh sức ép làm tăng lãi suất của các TCTD; Với kỳ vọng lạm phát tăng cao, CSTT tiếp tục duy trì ổn định lãi suất để một mặt hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn thận trọng với rủi ro lạm phát…

Lạm phát cuối năm nhiều khả năng tăng trên 5%, do đó chính sách tiền tệ phải tiếp tục thận trọng để không làm gia tăng áp lực lạm phát nhưng cũng không tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Do đó, cần chú ý:

(i) CSTT cần tiếp tục điều hành thận trọng theo hướng: giữ ổn định mặt bằng lãi suất thị trường và kiểm soát tốc độ tăng M2, tín dụng theo đúng chỉ tiêu đã đặt ra từ đầu năm (tín dụng tăng 18-20%).

(ii) Có biện pháp truyền thông chủ động, tích cực để giải thích nguyên nhân lạm phát tăng cao trong năm nay không xuất phát từ yếu tố tiền tệ hay tăng trưởng “nóng” mà do điều chỉnh giá NN quản lý, cú sốc cung; lạm phát sẽ ổn định trở lại nếu các yếu tố này không còn và chính sách tiền tệ vẫn được kiểm soát chặt chẽ. Điều này giúp công chúng hiểu rõ hơn về diễn biến lạm phát tăng trong năm 2022, kiểm soát kỳ vọng lạm phát và củng cố lòng tin của công chúng vào điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, qua đó cũng giảm bớt yếu tố tâm lý lên tỷ giá.

(iii) NHNN phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành đặc biệt là Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, Tổng cục Thống kê để thu thập thông tin về dự kiến điều chỉnh các loại giá Nhà nước quản lý, tính toán tác động lên lạm phát năm 2022 và 2022, phục vụ phân tích triển vọng lạm phát trung hạn để có phương án điều hành chính sách tiền tệ hợp lý, đồng thời kiến nghị phối hợp chính sách đảm bảo kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.

Tiểu Luận Lạm Phát Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp_10302212052019

Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua

Lạm Phát 2011: Nhận Diện Và Giải Pháp

Các Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Trong Năm 2012 Và Trung Hạn Đến Năm 2022

Nhìn Lại Lạm Phát Năm 2010: Tìm Nguyên Nhân Và Giải Pháp Kiềm Chế Hiệu Quả

Kinh Tế Việt Nam 2011: Giữ Lạm Phát Ở Mức 18%, Tăng Trưởng Gdp 6%

Biện Pháp Khắc Phục Trẻ Suy Dinh Dưỡng, Thấp Còi Ở …

Cải Thiện Tình Trạng Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em

Đâu Là Giải Pháp Làm Mát Cho Nhà Hàng Tiệc Cưới Hiệu Quả Nhất?

Quán Bia, Nhà Hàng, Quán Ăn… Nườm Nượp Khách

Giảm Nghèo Bền Vững Bắt Đầu Từ Trẻ Em

KINH TẾ TÀI CHÍNH

KINH TẾ VIỆT NAM 2011: GIỮ LẠM PHÁT Ở MỨC 18%, TĂNG TRƯỞNG GDP 6%

Chính phủ khẳng định chủ trương “ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng hợp lý, trong đó kiềm chế lạm phát là ưu tiên số 1” sẽ là mục tiêu nhất quán trong điều hành năm nay cũng như cả nhiệm kỳ 2011-2015. Quan điểm này vừa được Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam thông báo tại phiên họp báo thường kỳ tháng 9/2011.

Các chỉ tiêu kinh tế – những tín hiệu lạc quan

                Theo

Văn phòng Chính phủ, trong hai ngày 25-26/9, dưới sự chủ trì của Thủ tướng

Nguyễn Tấn Dũng, Chính phủ đã họp phiên thường kỳ tháng 9/2011. Nội dung quan

9 và 9 tháng đầu năm 2011. Chính phủ thống nhất đánh giá: Trong 9 tháng đầu năm

nay, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội

đạt được những kết quả tích cực bước đầu. Nhờ thực hiện đồng bộ và kiên quyết

các giải pháp kiềm chế lạm phát, CPI tháng 9/2011 chỉ tăng 0,82%, mức tăng thấp

nhất kể từ đầu năm, là tháng thứ hai liên tiếp đạt dưới 1% (CPI lần lượt của

các tháng từ tháng 1 đến tháng 8 là 1,74%; 2,09%; 2,17%; 3,32%; 2,21%; 1,09%;

1,17% và 0,93%).

                Chính

phủ cũng thống nhất đánh giá trong 9 tháng đầu năm 2011 lạm phát đang giảm dần.

“Bắt đầu từ tháng 5, CPI đã giảm xuống. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê,

trong mức tăng 0,82% của CPI tháng 9 có xấp xỉ 0,5% là do tăng giá tất cả các

mặt hàng phục vụ cho năm học mới. Mỗi năm chúng ta chỉ có một lần khai giảng

năm học mới, như vậy trên thực tế CPI tháng 9 thấp hơn nhiều so với con số

0,82%. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta chủ quan trong những tháng còn

lại, ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nói.

                Về

tình hình xuất nhập khẩu, ông Đam cho biết, kim ngạch xuất khẩu lũy kế 9 tháng

năm 2011 ước đạt trên 70 tỷ USD, tăng 35,4% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng

gấp hơn 3 lần so với chỉ tiêu Quốc hội thông qua (10%). Cũng theo Bộ trưởng Chủ

nhiệm Văn phòng Chính phủ, năm 2011, Quốc hội đã thông qua chỉ tiêu nhập siêu

khoảng 18%, nhưng với nhiều biện pháp quyết liệt của Chính phủ, khả năng nhập

siêu sẽ ở mức trên dưới 13%. Trong 9 tháng đầu năm 2011, tỷ lệ nhập siêu khoảng

9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu Nghị quyết số 11/NQ-CP

đã đề ra (không quá 16%).

                 Điểm đặc biệt là trong bối cảnh khó khăn, tập

trung ưu tiên cho ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát mức tăng trưởng GDP trong 3

quý đầu năm đều tăng, đạt 5,76% (quý I tăng 5,43%; quý II tăng 5,67%, quý III

tăng 6,11%)  Tuy nhiên, theo Bộ trưởng,

tinh thần của Chính phủ và Thủ tướng nhìn nhận thẳng thắn mọi vấn đề để đánh

giá đúng “Chúng ta không quá lạc quan, không tô hồng thành tích nhưng cũng

không bôi đen để mà bi quan về tình hình kinh tế”. Nếu quý IV có mức tăng tương

tự như tháng 9 thì cả năm có khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6 %.

                Về

đầu tư phát triển, tính đến ngày 15/9, tổng mức chi đầu tư phát triển từ ngân

sách nhà nước ước trên 108 nghìn tỷ đồng, bằng 71,2% kế hoạch năm. Giải ngân

vốn tín dụng trong nước cho vay đầu tư của Nhà nước cũng đạt khá, đạt 18,2

nghìn tỷ đồng, bằng 79,1% kế hoạch và tăng 13,7% so với cùng kỳ.

                Tháng

9 cũng ghi nhận mức tăng trưởng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tuy

không cao, với tổng vốn thực hiện chỉ đạt 8,2 tỷ USD, tăng 0,2% so với cùng kỳ,

trong đó phần vốn nước ngoài đạt khoảng 6 tỷ USD, tương đương mức cùng kỳ năm

trước, nhưng trong điều kiện “dư chấn” của cuộc khủng hoảng tài chính và suy

giảm kinh tế thế giới, thì đây cũng được xem là con số đáng khích lệ. Cũng

trong tháng 9/2011, giải ngân vốn ODA ước đạt 2,15 tỷ USD, tăng 12% so với cùng

kỳ năm trước.

                Cùng

với những kết quả trên, trong tháng 9/2011, các lĩnh vực như sản xuất công

nghiệp, sản xuất nông nghiệp, khu vực dịch vụ, như: bán lẻ hàng hoá, du lịch,

vận tải, viễn thông đều có mức tăng trưởng khá; các chỉ tiêu về thu ngân sách;

thặng dư cán cân thanh toán ngoại tệ; dự trữ ngoại tệ tăng; giảm lãi suất… đã

có bước tiến rõ rệt, thông qua các chỉ số đều tăng so với tháng trước đó và

cùng kỳ năm trước.

Ổn định vĩ mô, tăng trưởng hợp lý

                Đây

là mục tiêu nhất quán trong điều hành năm nay cũng như cả nhiệm kỳ 2011-2015

của Chính phủ, theo đó sẽ kiên định chính sách tiền tệ và tài khóa chặt chẽ.

                Mặc

dù có những tín hiệu khả quan của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo nhận định của

Chính phủ thì tình hình kinh tế thế giới đang đứng trước những khó khăn và

thách thức rất lớn, tác động tiêu cực đến nước ta. Ở trong nước, kinh tế vĩ mô

chưa vững chắc. Lạm phát vẫn còn ở mức cao, sản xuất kinh doanh còn không ít

ách tắc, hàng tồn kho lớn. Đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, ở vùng sâu,

vùng xa còn nhiều khó khăn. Tình hình thiên tai, dịch bệnh tiềm ẩn gây nhiều

thiệt hại…Từ cơ sở đó, Chính phủ chỉ đạo, từ nay đến cuối năm 2011, các Bộ,

ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải tiếp tục nỗ lực

hết sức, quyết liệt, kiên định thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định

kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng hợp lý. Trong đó,

phải thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, có hiệu quả Kết luận số 02-KL/TW của Bộ

Chính trị, các Nghị quyết số 02/NQ-CP và số 11/NQ-CP của Chính phủ, phấn đấu

giữ mục tiêu lạm phát ở mức 18%, phấn đấu tăng trưởng GDP 6%.

                Ngoài

ra, cần tiếp tục điều hành chính sách tài chính – tiền tệ chặt chẽ, giữ mức dư

nợ tín dụng và tổng phương tiện thanh toán không nhất thiết sử dụng hết giới

hạn của Nghị quyết số 11/NQ-CP là 20% và 15-16%. Đồng thời, tăng dự trữ ngoại

hối; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định về thu đổi ngoại tệ,

kinh doanh vàng. Tiếp tục giám sát chặt chẽ các hoạt động tín dụng của các ngân

hàng thương mại, nhất là về nợ xấu; kiểm soát cho vay bất động sản, bảo đảm

tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

                Về

nội dung lạm phát, Chính phủ nhận định rằng, lạm phát ở nước ta thời gian qua

so với nhiều nước luôn ở mức cao và kéo dài do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do

đầu tư nhiều hơn tiết kiệm dẫn đến tăng trưởng tín dụng cao. Thống kê từ 2001

đến 2010, tăng tín dụng trên 30%, tổng phương tiện thanh toán cũng tăng cao,

trong khi trên thế giới nước cao nhất cũng chỉ hơn 10%. Nhu cầu đầu tư công quá

lớn, tiền ít nhưng hiệu quả đầu tư lại không cao, chi nhiều hơn thu dẫn tới bội

chi. Thứ hai, lạm phát có nguyên nhân của chi phí đẩy. Nền kinh tế với độ mở

lớn, tỷ lệ nhập khẩu có năm bằng 90% GDP, do đầu tư lớn nên phải nhập nhiều

nguyên vật liệu, máy móc, khi giá thế giới tăng, đẩy chi phí tăng, tạo ra lạm

phát. “Suốt thời gian qua lạm phát dài, đồng tiền VN mất giá. Vì vậy, Chính phủ

khẳng định phấn đấu quyết liệt để kiểm soát chỉ số giá năm nay ở mức 18%”, ông

Đam nói thêm.

                Để

giải quyết cơ bản vấn đề lạm phát trong thời gian tới, theo sự chỉ đạo của Thủ

tướng Chính phủ cần phải tiếp tục kết hợp cả những giải pháp mang tính lâu dài

và giải pháp trước mắt. Trong nhóm các giải pháp đó, Chính phủ đặc biệt lưu ý

nhiệm vụ trước mắt là kiên định chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chặt

chẽ; điều phối lượng tiền tín dụng hợp lý trong cả năm, thực hiện nghiêm túc

việc cắt giảm đầu tư công, giảm chi thường xuyên và giảm bội chi ngân sách;

đồng thời, củng cố lòng tin của công chúng vào VND bằng việc minh bạch chính

sách, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tiếp tục lộ trình xóa bỏ tình trạng vàng

hóa, đô la hóa; kiểm soát thị trường giá cả, lựa chọn lộ trình thực hiện giá

thị trường… Trong nhóm giải pháp mang tính lâu dài, Chính phủ nhấn mạnh phải

kiểm soát tổng cầu và kiểm soát cung ứng tiền cho nền kinh tế; thực hiện tái

cấu trúc nền kinh tế mà trọng tâm tập trung vào 3 khâu là tái cấu trúc đầu tư,

tái cấu trúc doanh nghiệp và tái cấu trúc hệ thống tài chính tiền tệ; khuyến

khích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao để nâng cao hiệu quả nền

kinh tế; tăng cường công tác phân tích, dự báo; thông tin tuyên truyền…

                Về

mục tiêu năm 2012 và kế hoạch 5 năm 2011 – 2022 Chính phủ xác định, những năm

đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung cho nhiệm vụ ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm

phát, tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã

hội, duy trì tăng trưởng hợp lý, trong đó kiềm chế lạm phát là ưu tiên số 1.

Công khai toàn bộ hoạt động kinh doanh xăng dầu

                Về

giá xăng dầu, với tư cách là người phát ngôn của Chính phủ ông Đam cho biết,

Chính phủ điều hành giá xăng dầu theo chủ trương nhất quán và liên tục từ nhiều

năm nay. Từ khi Chính phủ cho xây dựng Nghị định 84/2009/NĐ-CP thì đã tính kỹ

và hiện vẫn đang thực hiện theo Nghị định này. Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài

chính và Công Thương thực hiện theo Nghị định 84 và trao quyền cho DN tự quyết

định giá. Chính phủ cũng chỉ đạo các bộ, ngành công khai giá thành các mặt hàng

xăng dầu và điện về chi phí đầu vào, lỗ lãi. “Quan điểm của Chính phủ là công

khai minh bạch giá, không chỉ xăng dầu mà cả điện. Nhập vào giá bao nhiêu, chi

phí bao nhiêu, lương bổng bao nhiêu đều công khai. Việc sử dụng quỹ bình ổn giá

cũng phải theo đúng quy định và công khai toàn bộ. Việc kinh doanh lỗ lãi của

các doanh nghiệp xăng dầu tới đây cũng phải công khai minh bạch”, ông Đam cho

biết.

Nợ quốc gia trong giới hạn an toàn  

                Theo

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp tính đến 31/12/2010 nợ quốc gia bằng

42,2% GDP, trong đó có 62% là nợ nước ngoài của Chính phủ và 38% là nợ nước

ngoài của doanh nghiệp. Trong số 62% nợ nước ngoài của Chính phủ thì 93% là nợ

ODA và ưu đãi, chỉ 7% là nợ thương mại. Theo đánh giá của chung chỉ số nợ quốc

gia hiện nay đang ở ngưỡng an toàn.Tỷ lệ nợ của Việt Nam đang ở mức tỷ lệ trung bình

trong các nước có cùng hệ số tín nhiệm. Chính phủ đã chỉ đạo kiểm soát giới hạn

nợ quốc gia theo hướng không quá 50% GDP. 

 

CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

Thu, chi ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2011: Điểm sáng ấn tượngKinh tế vĩ mô 6 tháng đầu năm: Tăng trưởng khá trong bối cảnh còn nhiều khó khăn Tăng cường quản lý điều hành giá góp phần kiểm soát lạm phátDự báo thị trường bất động sản năm 2011? Bước ngoặt lớn trong thị trường tài chính Việt NamGiảm tổng cầu và vai trò của chính sách tài khóa – tiền tệBình ổn giá vàng năm 2011Tìm hiểu bảng điểm Piotroski trong phân tích báo cáo tài chinMột số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòngKiểm soát hoạt động thanh toán với khách hàng trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam

Kiềm Chế Lạm Phát, Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội, Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng, Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế

Mục Tiêu Điều Hành Lạm Phát Năm 2022 Là 3,5%

Nguyên Nhân Gây Ra Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

Ielts Speaking Chủ Đề “Vấn Nạn Kẹt Xe”

Nỗ Lực Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí

Đề Án Lạm Phát Và Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Giải Pháp In Date Cho Ngành Mía Đường Việt Nam

Hội Thảo: “giải Pháp Nào Cho Ngành Mía Đường Việt Nam Trong Tình Hình Mới”?

Tìm Giải Pháp Cho Ngành Mía Đường Việt Nam

Giải Pháp Nào Cho Ngành Mía Đường Việt Nam Trong Tình Hình Mới

Thủ Tướng Đưa 9 Giải Pháp Hỗ Trợ Cho Ngành Mía Đường Thực Hiện Cam Kết Atiga

Phần I: Tổng quan về lạm phát và lạm phát ở Việt Nam 3

1.1/ Lạm phát vừa phải 4

1.2/ Lạm phát phi mã 4

1.3/ Siêu lạm phát 4

2/ Những biểu hiện của lạm phát 4

2.1/ Sự mất giá liên tục của các loại đồng tiền có giá 5

2.2/ Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng 5

2.3/ Khối lượng bút tệ tăng lên 5

3/ Lạm phát ở Việt Nam ( từ năm 1986 đến năm 2004) 5

3.1/ Thời kỳ trước đổi mới( trước năm 1986 ) 6

3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) 6

3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) 6

3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) 7

3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) 7

Phần II: Nguyên nhân và các tác động của lạm phát 8

1/ Nguyên nhân của lạm phát 8

1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách 8

1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí 8

1.3/ Lạm phát ỳ 9

2/ Tác động của lạm phát 9

2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau 10

2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp 11

2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến 12

Phần III: Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13

1/ Tình hình biến động giá cả 14

2/ Nguyên nhân tăng giá 16

2.1/ Nguyên nhân khách quan 16

2.2/ Các nguyên nhân chủ quan 16

Phần IV: Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam 17

1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát 17

2/ Các biện pháp chống lạm phát ở Việt Nam hiện nay 18

3/ Một số đề xuất, kiến nghị 20

Tài liệu tham khảo 22

ất hiện. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 1976-1985 nền kinh tế đã có nhiều biểu hiện suy thoái, khủng hoảng và lạm phát. Sản xuất đình đốn, kinh doanh kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, chi phí vật chất cao, thu nhập quốc dân tăng không đáng kể, đời sống nhân dân giảm sút, giá cả ở thị trường chính thức và thị trường chợ đen có khoảng cách khá xa. Nông nghiệp với tỷ trọg chiếm trên 40% tổng sản phẩm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân, nhưng gía trị sản xuất nông nghiệp chỉ tăng 3,8%/ năm. Công nghiệp tăng bình quân 5,2%/năm. Dịch vụ thì hầu như không phát triển, xuất khẩu thì nhỏ bé. Thời kỳ này, tình trạng đất nước làm không đủ ăn, tình hình kinh tế- xã hội khó khăn không thể kể hết. 3.2/ Thời kỳ bước vào đổi mới và lạm phát cao (1986-1990 ) Sau Đại hội đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, nhất là từ năm 1989. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trang khủng hoảng kinh tế- xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,9%/ năm trong khi dân số tăng 2,3%. Trong thời kỳ này, lạm phát ở mức cao, thu nhập người dân lại không tăng, vì vây mức sống thực của người dân đã thấp nay còn thấp hơn. 3.3/ Thời kỳ kinh tế đi vào ổn định và lạm phát thấp( 1991- 1995 ) Giai đoạn này, tình hình kinh tế- xã hội nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đạt khá cao, liên tục và toàn diện, nền kinh tế đã bắt đầu vượt ra khỏi khủng hoảng để đi vào thế ổn định. Điểm nổi bật là sự tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn các giai đoạn trước đó với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và liên tục. Thành công trong quá trình đổi mới của nền kinh tế giai đoạn 1991-1995 là bước đầu chặn được lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 67,1% năm 1990 xuống 12,7% năm 1995. Nămm 1991, tỷ lệ lạm phát là 67,5%, năm 1992 là 17,5%, năm 1993 là 5,2%, năm !993 la 14,4% và năm 1995 là 12,7%. Mặc dù tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức hai con số song đây là một chỉ số giá rất nhỏ bé so với các năm trước đó 3.4/ Thời kỳ kinh tế có xu hướng giảm phát ( 1996-2000) Bước vào giai đoạn 1996-2000, các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới đã tác động không nhỏ tới nền kinh tế nước ta.Thiên tai lại liên tiếp xảy ra trong nước… Tuy vậy, một điều đáng lưu ý trong giai đoạn này là tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chững lại thì tỷ lệ lạm phát lai đi xuống và chuyển sang giai đoạn thiểu phát. Điều này thể hiện ở chỗ năm 1995 tỷ lệ lạm phát là12,7% thì đến năm 2000 là -0,6% đi cùng với chỉ số giá tiêu dùng ở mức 0,1% năm 1999 và -0,6% năm 2000. Thời kỳ này cho ta thấy khi lạm phát thấp hay giảm phát thì mức tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, ảnh hưởng không tốt đối với nền kinh tế. Chính vì vậy trong giai đoạn này chúng ta đã áp dụng các biện pháp kích cầu để đẩy nhanh tăng trưởng lên. 3.5/ Thời kỳ kinh tế có sự thay đổi mới ( 2001-2005 ) Với những vấn đề nêu trên, những năm đầu của giai đoạn này, chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế thiểu phát, kích cầu nhằm đưa tỷ lệ lạm phát lên một mức hợp lý . Trong bốn năm, nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, cơ chế kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi mặt xã hội được cải thiện và phát triển. Tỷ lệ lạm phát tăng từ -0,6% năm 2000 lên 9,5% năm 2004. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển mạnh của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2004 thì lạm phát lại có nguy cơ tái diễn. Năm 2004, tình hình biến động trên thị trường thế giới và biến động trên thị trường trong nước, lạm phát lại như một bóng ma một lần nữa lại rình rập gây bất ổn định nền kinh tế. Với chỉ số giá 9,5% năm 2004 là một gianh giới mỏng manh giữa lạm phát kiểm soát được và lạm phát cao. Phần II Nguyên nhân và các tác động của lạm phát Trong phần II này, người viết muốn đem đến cái nhìn tổng quan nhất về nguyên nhân và các tác động chung cua lạm phát đối với xã hội và kinh tế, trước khi đi sâu tìm hiểu nguyên nhân lạm phát ở nước ta trong thời gian vừa qua. 1/ Nguyên nhân của lạm phát Lạm phát khởi thuỷ từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất là lạm phát có thể xảy ra do tác động chủ quan của hệ thống tiền tệ- tín dụng – ngân hàng. Bất cứ một sự biến đổi nhỏ nào của hệ thống này đều có tác động hoặc tăng hoặc giảm tỷ lệ lạm phát Thứ hai là lạm phát cũng chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khách quan như chính trị, xã hội, thiên tai, bão lụt, tình trạng thất nghiệp, nền sản xuất.. do chịu tác động của nhiều yếu tố trong nền kinh tế như vậy nên lạm phát diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi trong quá trình chống lạm phát có chiến lược đúng đắn để lạm phát luôn nằm trong quỹ đạo mà nền kinh tế có thể chấp nhận được Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đó có thể tóm gọn lại như sau 1.1/ Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách Đây là nguyên nhân thông thường nhất do sự thiếu hụt ngân sách chi tiêu của Nhà nước( y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầu khuyếch trương nền kinh tế. Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưu thông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt. Nguyên nhân của lạm phát ở đây được xác định là lạm phát do cầu hàng hoá vượt qua cung. Hàng hoá bị săn đuổi bởi lượng chi tiêu quá lớn, mà bản chất của nó là sự chi tiêu quá nhiều trong lúc lượng cung hàng hoá bị hạn chế. 1.2/ Lạm phát do nguyên nhân chi phí Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng giá cả của các loại hàng hoá và tiền lương luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhất định. Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy giá cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xảy ra. Lạm phát như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy rằng nếu tốc độ tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động sẽ đẩy chi phí sản xuất tăng lên, có nghĩa là chi phí tiền công trong một đơn vị sản phẩm tăng lên. Thực chất ở các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa khi các cuộc đấu tranh của công đoàn đạt được một thoả thuận về mức lương mới thì các nhà tư bản lại tìm cách lấy lại khoản mà họ đã mất đi do tăng tiền lương cho công nhân bằng cách nâng giá bán hàng hoá lên. 1.3/ Lạm phát ỳ Lạm phát ỳ là một khái niệm của các nhà kinh tế tư bản, là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài. ở những nước có lạm phát ỳ xảy ra , có nghĩa là nền kinh tế ở nước đó có một sự công bằng mong đợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được trông đợi và được đưa vào các hợp đồng và các thoả thuận không chính thức. Tỷ lệ lạm phát đó được ngân hàng trung ương, chính sách tài chính của Nhà nước, giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó. Đó là một sự lạm phát nằm trong kết cấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn đông kinh tế xảy ra. ( Lúc đó lạm phát ỳ có thể tăng hoặc giảm). 2/ Tác động của lạm phát Tìm hiểu về những tác động của lạm phát đối với các mặt của đời sống kinh tế – xã hội là cần thiết để từ đó đưa ra những giải pháp đúng đắn, hợp lý và hiệu quả chống lại lạm phát. Lạm phát được nhận diện về tác động của nó lại hết sức khác nhau, xét về nhiều góc độ khác nhau, biểu hiện ở nhiều trường phái kinh tế khác nhau, bao gồm cả những sự lên án gay gắt, cùng sự thừa nhận vai trò tích cực của nó đối với nền kinh tế. Vậy nên nhìn nhận vấn đề về tác động của lạm phát theo hướng nào? Với những người lên án lạm phát, tất thảy đều cho rằng lạm phát là thứ thuế phi lí nhất, vô nhân đạo nhất, và do đó cũng là tàn nhẫn nhất. Cơ sở của sự lên án này là lạm phát làm giảm sức mua của đồng tiền, tạo ra sự phân phối thu nhập tiền tệ, làm cho người giàu ( sở hữu nhiều tài sản ) thì giàu thêm và người nghèo ( không hoặc sở hữu ít tài sản ) thì nghèo thêm, với sự phê phán này, lạm phát chính là sự cố ý hay không cố ý gây ra bởi Nhà nước- chỉ có Nhà nước- người điều hành và quản lý nền kinh tế- mới gây ra họăc không gây ra mà thôi, và do đó, cùng với các sắc thuế mà nhà nước định ra và hành thu thì đây cũng là sự tước đoạt phần thu nhập chính đáng của họ- qua giảm sức mua của tiền tệ- và người gây ra không ai khác là Nhà nước- mà đại diện là ngân hàng trung ương- cơ quan độc hành phát hành tiền. Khác với những phê phán nói trên, một trường phái kinh tế khác cho rằng, không phải bất kỳ một loại lạm phát nào cũng đều là xấu, mà tuỳ thuộc vao từng loại lạm phát. Người ta cho rằng, điều lên án trên chỉ ám chỉ lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Với lạm phát vừa phải không những không có hại mà ngược lại, còn cần đối với nền kinh tế, nhiều khi nó như là một loại chất kích thích, có khả năng giúp nền kinh tế tăng trưởng . Đại diện cho quan điểm này là Benjamin Franklin với câu nói sau đây: ” vào khoảng thời gian có tiếng kêu… đòi có nhiều tiền giấy hơn… tôi đã đứng về phía phát hành thêm vì tôi tin chắc rằng, số lượng nhỏ đầu tiên in vào năm 1723 đã đem lại nhiều điều tốt, thúc đây buôn bán, tạo thêm công ăn việc làm đối với số dân ở các tỉnh. Tính lợi ích của số tiền đó, qua thời gian và kinh nghiệm, đã hiển nhiên đến mức không ai tranh cãi giì nhiều… tuy nhiên… có những giới hạn của nó mà vượt khỏi giới hạn đó thì lợi biến thành hại”. Ngày nay, các quan điểm đã được kiểm chứng tính đúng đăn của nó trong đời sống của nhiều nền kinh tế khác nhau. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì làm phát bao giờ cũng gây ra những tác động đối với đời sống, đặc biệt là lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Các tác động của nó là: 2.1/ Làm phân phối lại thu nhập và của cải giữa các giai cấp khác nhau Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người cho vay nợ là có lợi nhất. Vì giá cả các loại tài sản và hàng hoá đều tăng lên, còn giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Những người làm công ăn lương, những người gửi tiền là bị thiệt hại. Vì vậy để tránh thiệt hại một số nhà kinh tế đưa ra bài tính đơn giản là lãi suất cần phải được điều chỉnh cho phù hợp và đúng với tỷ lệ lạm phát . Ví dụ lãi suất thực tế là 3%, tỷ lệ tăng gía cả là 9% thì lãi suất danh nghĩa phải là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được ở mức lạm phát thấp, lạm phát một con số một năm. Khuynh hướng chung là khi dự đoán có lạm phát các người làm ăn” kinh tế ngầm” họ thường dự trữ vàng, đầu tư vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra. Trong khoảng thời gian 1987-1988 và đầu năm 1989 nhiều người đâù cơ vàng và bất động sản ở Việt Nam đã giàu lên nhanh chóng. Còn những người làm công ăn lương thì cũng nghèo đi nhanh chóng như vậy. Khi giá vàng bị đẩy lùi trở lại, những người đầu cơ vàng vẫn không bị thiệt hại giì bởi vì giá vàng so với các loại hàng hoá khác cao cấp như tủ lạnh, ti vi… và ngoại tệ thì vẫn không suy giảm chút nào cả. Vì vậy trong thời kỳ giá vàng bị đẩy lùi trở lại xuống mức rất thấp họ âm thầm mua vàng và lại bán ra khi ra vàng được nâng lên. Trong thời kỳ này những người gửi tiền tiết kiệm là bị thiệt hại nhiều nhất. ở thời kỳ lạm phát các nhà nướcthấy rằng họ giảm bớt được các gánh nợ nần của chính phủ. Song họ sẽ bi áp lực chính trị của khối đông quần chúng nhân dân lao động bị thiệt hại do lạm phát xảy ra. ở thời kỳ lạm phát như vậy nếu Nhà nước mở rộng khối cung tiền tệ để đáp ứng yêu cầu của đầu tư thì nó sẽ kích thích các nhà đầu tư, vì người vay tiền luôn có lợi và kinh tế sẽ có khả năng phát triển, nhưng nếu chi tiêu của Nhà nước chỉ nhằm vào các khoản phi sản xuất thì nền kinh tế sẽ tồi tệ đi. Các nhà kinh doanh có khuynh hướng ngâm hàng để hưởng lợi, bởi nếu tiếp tục sản xuất chưa chắc đã có lợi bằng việc giữ hàng. 2.2/ Đối với vấn đề thất nghiệp Đối với kinh tế tiền tệ, khi lạm phát xảy ra nói chung nó có tác động làm tăng trưởng nền kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm. Nhưng trong nền kinh tế bao cấp thì không như vậy, vì việc sản xuất nhiều hay ít đều do nhà nước quyết định, chỉ tiêu giá cả đều do nhà nước quy định, nên sự thúc đẩy của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế là không có. Tất nhiên sản xuất không ra tăng thì khối lượng công ăn việc làm cũng không nhiều lên và từ đó thu nhập danh nghĩa từ lương không thể đủ sống, do vậy có hiện tượng họ làm lấy lệ rồi tìm một việc giì đó có thu nhập để kiếm thêm, có khi thu nhập này còn lớn hơn cả tiền lương. Trong cơ chế thị trường lạm phát làm biến dạng giá cả tương đối, đặc biệt là tiền tệ bị mất giá nghiêm trọng, lãi suất thực tế bị giảm đến mức dưới 0. Ví dụ những người gửi tiền trong năm 1980 ở Đức thu được lãi suất thực tế bằng-12,6%. Lý do là giá cả của đầu vào được định theo các quy tắc lâu dài, còn giá cả đầu ra thì không chịu theo quy tắc đó Tuy nhiên, cần lưu ý là tuỳ vào mức độ lạm phát mà sự thiệt hại của lạm phát sẽ như thế nào. Lạm phát thấp vừa phải sẽ gây ra những tác động vừa phải. lạm phát cao sẽ có những tác hại lớn hơn. Về khía cạnh chính trị lạm phát làm nhân dân phẫn nộ. Xung đột giai cấp sẽ xảy ra ở các nước tư bản , ở các nước XHCN nhân dân sẽ phản ứng do việc phân phối không công bằng: bộ phận sản xuất luôn được tăng thu nhập, bộ phận hành chính sự nghiệp thu nhập bị giảm sút. 2.3/ Tác động của lạm phát dự kiến Chúng ta sẽ tìm hiểu về loại lạm phát dự kiến Giả sử mỗi tháng giá cả tăng 1%. Loại lạm phát ổn định và biết trước 12%/ năm này gây ra những tổn thất cho xã hội Thứ nhất là tác dụng gây biến dạng thuế lạm phát đối với số tiền mà mọi người đang giữ. Thứ hai , tổn thất của lạm phát sinh khi lạm phát cao buộc các dạn phải thay đổi biểu giá thường xuyên hơn. Việc thay đổi giá đôi khi cũng tốn kém Thứ ba, tổn thất của lạm phát sinh ra do các doanh nghiệp tránh điều chỉnh giá cả thường xuyên khi chi phí cho việc điều chỉnh đó phát sinh, vì vậy, lạm phát càng cao , sự biến động của giá tương đối càng lớn. lạm phát gây ra sự biến động giá cả tương đối. Vì nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, nên lạm phát dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên giác độ vi mô. Loại tổn thất thứ tư của lạm phát do luật thúê gây ra. Nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến lạm phát. lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân, thường trái với ý định người làm luật.Một ví dụ về thất bại của luật thuế trong việc đối phó với lạm phát là cách sử lý của thuế đối với lãi về vốn. Tổn thất thứ năm của lạm phát là sự bất tiện của cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thường xuyên thay đổi. Tiền là thước đo mà chúng ta dựa vào để tính toán các giao dịch kinh tế. Khi có lạm phát phát, cái thước này co giãn. Khi mua người nào đó đo bằng thước, chúng ta cần xác định xem anh ta đo bằng thước đo năm 1995 hay 1996. để so sánh chiều dài qua các năm người ta cần điều chỉnh “lạm phát “. Cũng như vậy, đồng đô la là cái thước kém tác dụng hơn khi giá trị của nó thường xuyên thay đổi. Phần III Nhìn nhận lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Do nôi dung bài tiểu luận có hạn, không cho phép phân tích được một cách toàn diện các cuộc lạm phát ở Việt Nam trong tất cả các năm trở lại đây, vì vậy trong phần III sẽ chỉ đi sâu vào phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam trong 2 năm( 2004 – 2005) Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét có vẻ ngày càng khởi sắc, chẳng hạn như tốc độ phát triển kinh tế đã từ 4,8% năm 1999 lên đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy có những đám mây mù dường như đang kéo lại từ phía chân trời. Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Châu á năm 1997, Việt Nam chủ trương kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và bù lại mức giảm đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Ta thấy mức đầu tư nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6% GDP năm 1999 lên tới 35%GDP năm 2003. Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế giới, thế nhưng do hiệu quả sản xuất thấp vì chính sách đầu tư vẫn tập trung vào khu vực Nhà nước, tốc độ phát triển cũng chỉ đạt được 7,35. Trong đầu tư, chính sách của Nhà nước vẫn là tập trung phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu( thay thế sắt thép, xi măng, đường) ,kể cả v iệc đưa tới việc bảo vệ thị trường nội địa cho đầu tư nước ngoài( xe hơi, xe gắn máy ), thay vì việc tập trung phát triển sản xuất nhằm xuất khẩu. Do chính sách kinh tế trên, thiếu hụt cán cân xuất nhập khẩu ngày càng cao, tăng từ 0% GDP năm 1999 lên 13,5 % năm 2003. Chính sách kích cầu, đi liền và đòi hỏi ngân hàng tín dụng đã đưa lạm phát đến mức báo động. Cả năm 2003 lạm phát là 3%. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2004 lạm phát đã lên tới 7,2 % và cho cả năm 2004. Việc tăng tiền lương không bắt kịp với tỷ lệ lạm phát . Từ “Lạm phát ” là dịch nghĩa của chữ inflation. Về chữ nghĩa thì “lạm phát ” là lạm phát in tiền. Do đó có thể lý luận một cách vô nghĩa rằng tăng giá không nhất thíêt là do lạm phát tiền. Nhưng lý thuyết tiền tệ đã chỉ ra rằng tăng gía nói chung cho cùng là tăng vấn đề về tiền tệ Mặc dù trong thời gian 2004 và đầu năm 2005 tình hình lạm phát đang ở mức có thể kiểm soát được, nhưng nguy cơ bùng nổ lạm phát vẫn ở mức cao đe doạ sự ổn định và phát triển của kinh tế Việt Nam. 1/ Tình hình biến động giá cả Từ những tháng đầu năm 2004, tình hình giá cả trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, giá một số vật tư và hàng tiêu dùng thiết yếu tăng cao ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống. Chỉ số giá tiêu dùng hầu như tăng liên tục trong cả năm 2004. Đặc biệt trong 6 tháng đầu năm : tháng 1 tăng 1,1 %, tháng 2 tăng 3 %, tháng 3 tăng 0,8 %, tháng 4 tăng 0,5 %, tháng 5 tăng 0,9 %, cao hơn tháng 2, 3, 4. Chỉ số giá tiêu dùng đầu năm 2004 đã tăng 7,2 % so với tháng 12/2003. Sau một loạt các biện pháp được áp dụng thì tình hình giá cả được cải thiện. Giá cả 6 tháng cuối năm có tăng chậm và thấp hơn so với 6 tháng đầu năm và chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2004 so với thagn 12 năm 2003 tăng 9,5 % , trong đó giá lương thực thực phẩm vẫn là tăng cao nhất ( 15,5%). Mức độ tăng gía 6 tháng và cả năm 2004 chỉ tập trung vào các nhóm hàng lương thực thực phẩm, thuốc tân dược , giá nhà ở và vật liệu xây dựng. 6 tháng đầu năm 2004 giá nhóm hàng lương thực thực phẩm tăng cao nhất là 12,3%, trong đó giá lương thực tăng 11,5%, thực phẩm tăng 14,6 %. Tình hình giá cả cả năm 2004 cũng phản ánh xu thế như 6 tháng đầu năm tuy có chuyển biến đôi chút. Việc giá thực phẩm tăng cao được giải thích do dịch cúm gà nên gây ra tổng cung thực phẩm thấp hơn tổng cầu thực phẩmvào các tháng đầu năm. Còn giá lương thực các tháng cuối năm tăng chậm lại do giảm bớt xuất khẩu lương thực nên giảm bớt sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu. Mặt khác, 6 tháng cuối năm nhờ có các chính sách chống đầu cơ thuốc và luật đất đai có hiệu lực, cũng như có nhiều công trình xây dựng nhà đang dần đưa vào cuộc sống hơn nên đã làm cho mức giá các mặt hàng này giảm xuống. Quan sát 6 tháng đầu năm 2004 thì thấy có đến 4 nhóm hàng có chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng 5/2004. Đó là nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng . Ngoài ra một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhẹ như may mặc, giày dép, mũ nón( tăng 2,1%), thiết bị và đồ dùng gia đình cũng tăng 1,6% so với tháng 12/2003. Tháng 6, chỉ số giá đôla Mỹ vẫn giữ nguyên trong khi giá vàng đã giảm tới 1,4%. Nhưng đến tháng 7/2004 thì giá các mặt hàng tăng không đáng kể so với thang6 trừ giá dược phẩm và y tế tăng 0,7 %, giá lương thực thực phẩm giảm 0,3%, chỉ có gia phương tiện đi lại và bưu điện vẫn tăng cao là 3%, giá vang tăng 0,5% và gía đô la giảm 0,1%. Theo thông báo của cục thống kê, tình hình giá cả bốn tháng đầu năm 2005, tuy còn cao nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2004. Nếu đến tháng 2 năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng là 3,0% thì tháng 2 năm 2005 chỉ số này chỉ ở mức 2,5%, thấp hơn 0,5%. Đến tháng 3 thì dấu hiệu sáng sủa hơn ở chỗ chỉ số giá tháng 3 năm 2005 chỉ tăng 0,1% , trong khi tháng 3 năm 2004 chỉ số này là 0,85. Xét cả 4 tháng cho thấy chỉ số giá ở mức 4,3% thấp hơn hẳn chỉ số này so với 4 tháng đầu năm 2004(5,4%), tức là chỉ bằng 79,6% của 4 tháng đầu năm 2004. Sở dĩ chỉ số giá chung 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 là do giá lương thực thực phẩm giảm khá. Tốc độ tăng gía lương thực 4 tháng đầu năm 2005 (5,4%) chỉ bằng 64,2 % mức tăng giá trong 4 tháng đầu năm 2004(8,4%). Tình hình giá cả và chỉ số giá 4 tháng đầu năm 2005 tăng thấp hơn 4 tháng đầu năm 2004 có thể lý giải ngay là do ngay từ đầu năm chung ta đã có nhiều biện pháp chống lạm phát và đẩy lùi lạm phát , đẩy mạnh phát triển sản xuất. Thứ nhất là nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao hơn cùng kỳ năm trước. Thứ hai, sản xuất công nghiệp có tăng cao hơn trước, giá trị sản xuất công nghiệp ba tháng đầu năm tăng 13,4%. Thứ ba, sản xuất nông nghiệp có chuyển biến tích cực tăng 5% so với mức tăng 0,8% cùng kỳ năm ngoái. Thứ tư, kim nghạch xuất khẩu tăng 23,25. Thứ năm, dịch cúm gia cầm được khoanh cùng và tiêu diệt nên không gây ra tổn thất lớn. Mặc dù giá cả các mặt hàng trong nước 4 tháng đầu năm đã có chuyển biến tích cực, đã thấp hơn so với 4 tháng đầu năm 2004, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn ở mức cao trong năm 2005. Tình hình giá cả thế giới trong năm 2005 vẫn còn nhiều phức tạp, đặc biệt là giá dầu thế giới tăng cao vượt kỷ lục từ trước tới nay ảnh hưởng lớn tới mọi mặt sản xuất của xã hội. Trong nước, hạn hán kéo dài… Như vậy, nguy cơ làm cho tổng cung hàng hoá thấp hơn tổng cầu về hàng hoá luôn luôn túc trực xuất hiện và lạm phát cao đe doạ không phải là không có. Mục tiêu mà Quốc hội đề ra cả năm 2005 là 6,5%, tuy nhiên các chuyên gia dự đoán rằng, lạm phát cả năm có thể là 7%, cao hơn so với mục tiêu là 0,5%. Bởi vậy, cần cảnh giác hơn nữa với lạm phát nước ta. 2/ Nguyên nhân tăng giá Nguyên nhân tăng giá 2004 – 2005 về cơ bản có thể phân chia thành nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan 2.1/ Nguyên nhân khách quan Nguồn gốc sinh ra lạm phát không chỉ từ bên ngoài mà còn có cả từ bên trong, chứ không phải từ một phía nào cả. Lạm phát là do giá cả trên thị trường thế giới tăng mạnh kéo theo sự tăng giá hàng hoá nhập khẩu. Nhưng tăng giá hàng nhập khẩu đã làm chi phí sản xuất của các dạn tăng hơn. Kết quả là để có lãi các dạn phải tăng giá bán hàng hoá lên và khi giá hàng hoá và dịch vụ này tăng giá thì giá hàng hoá và dịch vụ khác sẽ tăng lên theo. Sự tác động dây truyền sẽ khó có điểm dừng nếu không có giải pháp phù hợp. Những khó khăn về thời tiết, dịch cúm gia cầm và những khó khăn khác đã làm cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ thấp hơn tổng cầu hàng hoá. Kết quả khan hiếm nàyđã làm cho giá tăng lên. Mà gía tăng lên đồng loạt tức là lạm phát Hệ quả của chính sách kích cầu các năm trước đây đã làm cho lượng tiền ngoài lưu thông vẫn còn cao, có thể làm cho tổng cung tiền tệ cao hơn tổng cầu tiền tệ và tác động tăng gí là không tránh khỏi. Sự tăng lương và tăng một số khoản chi từ NSNN cho các hoạt động xã hội nhân các ngày lễ lớn trong năm cũng góp phần tăng tiền tệ thị trường. Nhu cầu tăng trưởng cao đòi hỏi phải đưa vốn ra thị trường nên tăng tiền ra thị trường là khó tránh khỏi và như vậy thì việc gía tăng lên cũng là điều trông thấy. 2.2/ Các nguyên nhân chủ quan Do tình trạng độc quyền tương đối một số mặt hàng nên nhiều doanh nghiệp sẽ có xu hướng tăng giá lên và gây ra sự khan hiếm giả tạo để tăng giá lên kiếm lời. Sự điều hành và quản lý kinh tế còn nhiều bất cập cũng gây khó khăn cho phát triển sản xuất và bình ổn giá. Buôn lậu và tham nhũng sẽ góp phần phức tạp thêm sự điều hành và ổn định giá cả và đẩy nhanh tăng trưởng nền kinh tế. Phần IV Các giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam Trước những tác hại do lạm phát gây ra đòi hỏi cần có những chính sách hợp lý, hữu hiệu ngắn hạn hay dài hạn chống lại tình hình lạm phát. Việc đẩy lùi lạm phát ở mức độ có thể duy trì đòi hỏi các quốc gia có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về lạm phát để đưa ra các biện pháp vừa hiệu quả lâu dài, vừa có tác dụng kìêm chế lạm phát tức thì, ổn định đời sống xã hội . Việc đưa ra các chính sách đúng đắn đòi hỏi mỗi quốc gia cần đặt những vấn đề trong điều kiện hoàn cảnh của riêng nước mình từ đó có những biện pháp sát với thực tế nhằm kiểm soát lạm phát có hiệu quả. Đối với tình hình diễn biến lạm phát ở nước ta trong những năm vừa qua, dựa trên những nguyên nhân của nó, với những tác động mà nó gây ra cho nền kinh tế và đời sống của người dân, cần có các biện pháp có tác dụng tức thì. Trong phần IV, người viết xin đưa ra một số giải pháp ngắn hạn cũng như lâu dài chống lại tình hình lạm phát ở nước ta. 1/ Các giải pháp lâu dài để kiềm chế lạm phát Dựa trên những kinh nghiệm chống lạm phát của các nước cũng như từ thực tế tình hình xã hội ở Việt Nam để đưa ra các biện pháp lâu dài. Mất cân đối về kinh tế vĩ mô được thể hiện bằng lạm phát , thâm hụt ngân sách, sự chênh lệch giá cao của của thị trường không chính thức, có tương quan ngược chiều rất rõ đối với sự tăng trưởng. Nhiệm vụ hoạch định chính sách là làm thế nào để giảm thiểu được các tác động suy giảm đối với sản lượng, đồng thời tạo được các điều kiện nhằm tăng cường khả năng tăng trưởng lâu dài. Tất cả các chính sách đề ra trên cơ sở đảm bảo hai yêu cầu cơ bản là tăng trưởng cao liên tục và vững chắc, giữ mức lạm phát ở một con số. Tăng trưởng cao gắn liền với việc duy trì lạm phát thấp và chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có sức cạnh tranh cao. Đầu tư vào các nguồn lực thông qua các khoản chi tiêu công cộng về giáo dục; khuyến

Giải Pháp Phát Triển Cho Doanh Nghiệp Việt Thời Hội Nhập

Thực Trạng Sử Dụng Erp Tại Việt Nam

Top 5 Công Ty Tư Vấn Triển Khai Erp Tại Việt Nam

Các Nhà Cung Cấp Erp Tại Việt Nam: Đâu Là Lựa Chọn Tốt Nhất?

Thực Trạng Triển Khai Hệ Thống Erp Ở Việt Nam 2022

Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Giai Đoạn 2011

Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ, Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc

Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

Đảm Bảo Chất Lượng Giáo Dục Đại Học Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp

Chống Bệnh Thành Tích Trong Giáo Dục Không Dễ

Chống Bệnh Thành Tích, Không Dễ!

BÀI THU HOẠCH

Câu hỏi: Trình bày các giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2022. Tại sao giải pháp 1 được xem là giải pháp đột phá, giải pháp 2 là giải pháp then chốt

……………………………………………………

Bài làm:

Để đạt được mục tiêu chiến lược, cần thực hiện tốt 8 giải pháp, trong đó các giải pháp 1 là giải pháp đột phá và giải pháp 2 là giải pháp then chốt.

1. Đổi mới quản lý giáo dục

a) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ làm cơ sở triển khai thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

b) Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện thống nhất đầu mối quản lý và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục. Thực hiện đồng bộ phân cấp quản lý, hoàn thiện và triển khai cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý nhà nước về giáo dục theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền gắn với trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đi đôi với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch, đảm bảo sự giám sát của cơ quan nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân.

Bảo đảm dân chủ hóa trong giáo dục. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá người dạy, giáo viên và giảng viên tham gia đánh giá cán bộ quản lý, cán bộ quản lý cấp dưới tham gia đánh giá cán bộ quản lý cấp trên, cơ sở giáo dục tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.

c) Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, xây dựng khung trình độ quốc gia về giáo dục tương thích với các nước trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo phân luồng trong hệ thống, đặc biệt là phân luồng sau trung học cơ sở, trung học phổ thông và liên thông giữa các chương trình giáo dục, cấp học và trình độ đào tạo; đa dạng hóa phương thức học tập đáp ứng nhu cầu nhân lực, tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân.

d) Phân loại chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và đại học theo các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn phải có lộ trình để tiến tới đạt chuẩn; chú trọng xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến, trọng điểm, chất lượng cao để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế – xã hội.

đ) Thực hiện quản lý theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và quy hoạch phát triển nhân lực của từng ngành, địa phương trong từng giai đoạn phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh.

e) Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu ra và các điều kiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về khoa học giáo dục, khoa học công nghệ và khoa học quản lý, từng bước vận dụng chuẩn của các nước tiên tiến; công khai về chất lượng giáo dục, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính của các cơ sở giáo dục; thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục; xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học.

g) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp.

2. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

a) Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo giáo viên, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2022. Tập trung đầu tư xây dựng các trường sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.

b) Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện theo chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, dạy học 2 buổi/ngày, giáo viên dạy ngoại ngữ, giáo viên tư vấn học đường và hướng nghiệp, giáo viên giáo dục đặc biệt và giáo viên giáo dục thường xuyên.

c) Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong và tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học

Skkn Một Số Giải Pháp Tích Hợp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Bộ Môn Sinh Học Lớp 9

Thông Điệp Về Bảo Vệ Môi Trường

Giáo Dục Trẻ Em Bảo Vệ Môi Trường Bằng Truyện Tranh

Một Số Giải Pháp Nâng Cao “tính Đảng” Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Ở Đảng Bộ Học Viện Lục Quân Hiện Nay

Xây Dựng Đạo Đức Cách Mạng Cho Cán Bộ, Đảng Viên Để Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?

Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480

Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam

Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát

BNEWS Nhiều chuyên gia cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ.

Theo các chuyên gia kinh tế, năm 2022, giá cả thị trường Việt Nam tiếp tục gắn kết ngày càng chặt chẽ với biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới. Do đó, khi các yếu tố bên ngoài biến động, cần tính toán kỹ càng để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% như Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022.

Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, trong những tháng đầu năm 2022, thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi khiến nhu cầu mua sắm, đi lại, du lịch gia tăng đẩy giá một số mặt hàng thiết yếu biến động tăng cao hơn tháng trước. Trong bối cảnh đó, việc điều hành giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý đã được các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ và thực hiện đồng bộ các biện pháp, góp phần kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Ông Phạm Minh Thụy, Viện Kinh tế – Tài chính cho rằng, năm nay sẽ điều chỉnh tăng giá điện, dịch vụ, y tế, giáo dục theo lộ trình thực hiện cơ chế giá thị trường và xã hội hóa giá dịch vụ y tế, giáo dục. Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, bảo đảm sở hữu trí tuệ sẽ mang lại cơ hội cho Việt Nam trong thu hút các nguồn lực từ nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là áp lực cạnh tranh rất lớn đối với khu vực trong nước, tương quan cung – cầu hàng hóa trên thị trường sẽ biến động rất nhanh.

Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết một số yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá trong năm 2022 như áp dụng tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đến 4.180.000 đồng/tháng từ ngày 1/1/2019; hay việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường, giá điện sẽ được điều chỉnh, biến động phức tạp của giá xăng dầu và các hàng hóa cơ bản khác trên thị trường thế giới. Xu hướng tăng giá của đồng USD cũng sẽ tác động đến tỷ giá trong nước.

Do đó, ông Ngô Trí Long cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ.

Phân tích kỹ hơn, TS. Lê Quốc Phương, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP tương đối cao, trong khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng chưa đổi mới căn bản cũng là nguyên nhân tạo sức ép lên lạm phát, cùng đó việc một số địa phương tiếp tục tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục theo lộ trình; thuế đánh vào xăng dầu tăng kịch trần là những yếu tố gây tăng lạm phát.

Riêng về giá điện, Bộ Công Thương đã đề xuất Chính phủ dự kiến trong tháng 3 này tăng giá bán lẻ điện bình quân năm 2022 khoảng 8,36% so với giá bán điện bình quân hiện hành là 1.720,65 đồng/kWh. Theo tính toán, việc này có thể làm tăng CPI trong khoảng từ 0,26 – 0,31%.

Tuy nhiên, theo TS. Lê Quốc Phương, chỉ tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% vẫn có thể đạt được bởi nhiều yếu tố thuận lợi. Đó là những năm gần đây (2016-2018) CPI thấp dưới 4%, lạm phát cơ bản thấp dưới 2%; cung hàng hóa tương đối dồi dào không gây biến động lớn về giá; kinh tế vĩ mô ổn định tạo dư địa tiếp tục kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Xuất siêu liên tục trong giai đoạn 2012-2018 (trừ năm 2022) giúp tỷ giá ổn định và giảm áp lực lạm phát; dự trữ ngoại hối cao kỷ lục giúp Ngân hàng Nhà nước có công cụ ổn định tỷ giá cũng làm giảm áp lực lạm phát.

BNEWS Nhiều chuyên gia cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ.

Theo các chuyên gia kinh tế, năm 2022, giá cả thị trường Việt Nam tiếp tục gắn kết ngày càng chặt chẽ với biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới. Do đó, khi các yếu tố bên ngoài biến động, cần tính toán kỹ càng để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% như Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022.

Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết, trong những tháng đầu năm 2022, thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi khiến nhu cầu mua sắm, đi lại, du lịch gia tăng đẩy giá một số mặt hàng thiết yếu biến động tăng cao hơn tháng trước. Trong bối cảnh đó, việc điều hành giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý đã được các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ và thực hiện đồng bộ các biện pháp, góp phần kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Ông Phạm Minh Thụy, Viện Kinh tế – Tài chính cho rằng, năm nay sẽ điều chỉnh tăng giá điện, dịch vụ, y tế, giáo dục theo lộ trình thực hiện cơ chế giá thị trường và xã hội hóa giá dịch vụ y tế, giáo dục. Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, bảo đảm sở hữu trí tuệ sẽ mang lại cơ hội cho Việt Nam trong thu hút các nguồn lực từ nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là áp lực cạnh tranh rất lớn đối với khu vực trong nước, tương quan cung – cầu hàng hóa trên thị trường sẽ biến động rất nhanh.

Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho biết một số yếu tố gây áp lực lên mặt bằng giá trong năm 2022 như áp dụng tăng lương tối thiểu vùng từ 2.920.000 đến 4.180.000 đồng/tháng từ ngày 1/1/2019; hay việc điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo lộ trình thị trường, giá điện sẽ được điều chỉnh, biến động phức tạp của giá xăng dầu và các hàng hóa cơ bản khác trên thị trường thế giới. Xu hướng tăng giá của đồng USD cũng sẽ tác động đến tỷ giá trong nước.

Do đó, ông Ngô Trí Long cho rằng việc giữ lạm phát khoảng 4% như Quốc hội đề ra là một thách thức không nhỏ.

Phân tích kỹ hơn, TS. Lê Quốc Phương, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP tương đối cao, trong khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng chưa đổi mới căn bản cũng là nguyên nhân tạo sức ép lên lạm phát, cùng đó việc một số địa phương tiếp tục tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục theo lộ trình; thuế đánh vào xăng dầu tăng kịch trần là những yếu tố gây tăng lạm phát.

Riêng về giá điện, Bộ Công Thương đã đề xuất Chính phủ dự kiến trong tháng 3 này tăng giá bán lẻ điện bình quân năm 2022 khoảng 8,36% so với giá bán điện bình quân hiện hành là 1.720,65 đồng/kWh. Theo tính toán, việc này có thể làm tăng CPI trong khoảng từ 0,26 – 0,31%.

Tuy nhiên, theo TS. Lê Quốc Phương, chỉ tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% vẫn có thể đạt được bởi nhiều yếu tố thuận lợi. Đó là những năm gần đây (2016-2018) CPI thấp dưới 4%, lạm phát cơ bản thấp dưới 2%; cung hàng hóa tương đối dồi dào không gây biến động lớn về giá; kinh tế vĩ mô ổn định tạo dư địa tiếp tục kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Xuất siêu liên tục trong giai đoạn 2012-2018 (trừ năm 2022) giúp tỷ giá ổn định và giảm áp lực lạm phát; dự trữ ngoại hối cao kỷ lục giúp Ngân hàng Nhà nước có công cụ ổn định tỷ giá cũng làm giảm áp lực lạm phát.

Tiếp Tục Thực Hiện Tốt 8 Nhóm Giải Pháp Trong Đó Kiềm Chế Lạm Phát Là Hàng Đầu

6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát 2011

Luận Văn Đề Tài Một Số Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Năm 2022 Lạm Phát 3,54%

Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Kiềm Chế Lạm Phát Dưới 4% Năm 2022

6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

Làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Hiện Nay

Những Giải Pháp Xã Hội Cho Tình Trạng Ly Hôn Ngày Càng Tăng

Chung Tay Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn

Nguyên Nhân, Thực Trạng Ly Hôn Hiện Nay Và Đưa Ra Giải Pháp Hạn Chế Thực Trạng Này.

Giải Pháp Nào Hạn Chế Ly Hôn?

Theo yêu cầu của Chính phủ, vừa qua Bộ KH-ĐT đã có báo cáo về tình hình, nguyên nhân lạm phát và những giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong thời gian tới. Với báo cáo này, lạm phát tại Việt Nam đã được nhận diện một cách “tỏ tường”.

Cung tiền tăng

Theo báo cáo này, trong gần 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 so với tháng 12 năm trước tăng 6,5%, còn các năm khác đều tăng trên 10%/năm. So sánh với các nước, lạm phát của nước ta cao hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Báo cáo này cũng đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến CPI cao ngất ngưởng trong những năm qua, trong đó, nguyên nhân về tiền tệ, tín dụng được “chỉ mặt điểm tên” đầu tiên. Cụ thể, Bộ KH-ĐT cho rằng, cung tiền trong những năm vừa qua có sự nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở nước ta. Nếu như năm 2000, tỷ lệ cung tiền trên GDP của Việt Nam chỉ ở mức dưới 60% thì đến cuối năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110% GDP). Cung tiền của Việt Nam khá nhanh so với các nước trong khu vực. Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế trong thời gian dài. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm 2007, mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lại lặp lại dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao.

Ngoài nguyên nhân chính nêu trên, báo cáo của Bộ KH-ĐT cũng chỉ ra hàng loạt các nguyên nhân khác gây lạm phát cao, trong đó có chi phí sản xuất tăng, tài khóa…

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu và hiệu quả đầu tư cũng đẩy lạm phát lên cao. Báo cáo Bộ KH-ĐT nhận định, đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao trong thời gian vừa qua. Những yếu kém trong nội tại nền kinh tế đó là: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả kéo dài, tích tụ trong nhiều thời kỳ, chưa được đổi mới. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và dựa nhiều vào tăng vốn đầu tư; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Cơ cấu nền kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chậm được chuyển đổi; sản xuất trong nước chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng gia công kéo dài quá lâu, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dựa vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài…

Ngoài ra, hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, hệ thống ngân hàng phát triển nhanh nhưng chưa bền vững, tài chính không minh bạch, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

6 giải pháp

Từ thực trạng này, Chính phủ thống nhất cao các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ. Thứ hai, tăng cường công tác quản lý giá cả phù hợp với cơ chế thị trường. Thực hiện quản lý nhà nước về giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền phù hợp với cơ chế thị trường và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế bằng các biện pháp giám sát thị trường, kiểm soát chi phí, áp thuế. Thứ ba, tái cơ cấu nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ tư, tạo động lực từ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Thứ năm, thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước. Thứ sáu, tăng cường công tác phân tích, dự báo tình hình thế giới, khắc phục triệt để nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý.

Mục tiêu của Chính phủ trong năm 2011 là kiềm chế bằng được lạm phát ở mức 18% và kéo xuống dưới 10% trong các năm tiếp theo để đến năm 2022 kiềm chế lạm phát ở mức khoảng 5%.

Kiềm Chế Lạm Phát Và Những Biện Pháp

Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

Bảy Giải Pháp Chống Lạm Phát Của Chính Phủ

6 Nhóm Giải Pháp Chủ Yếu Kiềm Chế Lạm Phát

Giải Pháp Âm Thanh Thanh Công Cộng Cho Doanh Nghiệp Vpa Của Aex

Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022

Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát

Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục

Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua

Thực Trạng Và Giải Pháp Của Chính Phủ Về Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam

Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giạm tức thời “cơn sốt lạm phát ” trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài . Các biện pháp này thường được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát .

Thứ nhất :các biện pháp tình thế thường được chính phủ các nước áp dụng , trước hết là giảm lượng tiền giấy trong nền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào lưu thông . Biện pháp này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ . Tỷ lệ lạm phát tăng cao ngay lập tức ngân hàng trung ương phải dừng các biện pháp có thể đưa đến tăng cung ứng tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ triết khấu và tái triết khấu đối với các tổ chức tín dụng , dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách. Nhà nước áp dụng các biện pháp làm giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như: ngân hàng trung ương bán ra các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , bán ngoại tệ vàvay , phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước , tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tăng lãi suất tiền gửi tiét kiệm dân cư . các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm bớt được một khối lươngj khá lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư do đó giảm được sức ép lên giá cả hàng hoá vầ dịch vụ trên thị trường . ở việt nam các biện pháp này đã dược áp dụng thành công vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 .

Thứ hai :thi hành chính sách tài chính thắt chặt như tạm hoãn những khoản chi chưa cần thiết trong nền kinh tế , cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức có thể được .

Thứ ba : tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông bằng cách khuyến khichs tự do mậu dịch , giảm nhẹ thuế quan và các biện pháp cần thiết khác để thu hút hàng hoá từ ngoài vào.

Thứ tư : đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài .

Thứ năm : cải cách tiền tệ , đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp trên chưa đem lại hiệu quả mong muốn .

II. Những biện pháp chiến lược

Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân . Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài cho đất nước

Thứ nhất : thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng lưu thông hàng hoá. Đây là biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát , duy trì sự ổn định tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân . Sản xuất trong nước càng phát triển thì càng tạo tiền đề vững chắc cho sự ổn định tiền tệ . Chú trọng thu hút ngoại tệ qua việc xuất khẩu hàng hoá , phát triển ngành du lịch …

Thứ hai : kiện toàn bộ máy hành chính , cắt giảm biên chế quản lý hành chính . Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường xuyên của ngân sách do đó giảm bội chi ngân sách nhà nước .

Thứ ba : tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nước trên cơ sở tăng các khoản thu cho ngân sách một các hợp lý , chống thất thu , đặc biệt là thất thu về thuế , nâng cao hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước .

III. Một số biện pháp chủ yếu để kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay

Tình hình kinh tế tài chính của nước ta trong những năm vừa qua đạt được sự ổn định và có chiều hướng tốt, nạn lạm phát đã được kiềm chế và đẩy lùi từ 67.5% năm 1991 xuống còn 17,5% năm 1992, 5,2% (1993), 14.2% (1994), trong khi đó vẫn đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế 8,6% (!992), 8,1% (1993), 8,7% (1994). Tỷ giá VNĐ so với đôla Mỹ từ cuối năm 1991 là 14,194 VNĐ đã lên giá dần và giữ ở mức trên dưới 10.800 VNĐ/USD từ tháng 11.1992 cho đến nay. Đồng thời cán cân thanh toán được cải thiện rõ rệt. Mặt khác xuất nhập khẩu có xu hướng tăng lên.

Để khắc phục và kiềm chế lạm phát trong giai đoạn hiện nay cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như sau :

– Trước hết phải khống chế tỷ lệ bội chi ngân sách ở dưới mức 5% GDP. Bởi và bội chi ngân sách là một nhân tố quan trọng gâỵ ra sự mất cân đối giữa cung và cầu.

– Phải nâng cao sản lượng hàng hoá trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất công, nông nghiệp, cụ thể là tạo ra nhiều lương thực, thực phẩm, một số hàng hoá là tư liệu sản xuất và các loại hàng hoá là nhiên liệu, năng lượng. Mặt khác cần tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ, cải tiến kỹ thuật đảm bảo từng bước giảm chi phí sản xuất.

– Về lĩnh vực ngân hàng với trách nhiệm là một ngành đóng vai trò quan trọng nhất trong việc kiềm chế lạm phát, cần tiến hành các bước sau :

+ Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trên cơ sở tích cực huy động vốn và cho vay hiệu quả các dự án

+ Kiểm soát chặt chẽ cung ứng tiền tệ của ngân hàng nhà nước cho mục tiêu ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại tệ và tỷ giá đồng Việt Nam.

+ Nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc.

+ Tăng cường hiệu lực của công tác thanh tra đối với ngân hàng thương mại.

+ Xử lý tôt mối quan hệ với ngân sách nhà nước, phát triển thị trường vốn, đồng thời xúc tiến nhanh việc thiết lập thị trường chứng khoán ở Việt Nam và sự hoà nhập của thị trường này vào cộng đồng kinh tế quốc tế, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của khối ASEAN để thuhútnhanh chóng hơn nữa nguồn vốn nước ngoài góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Ngoài ra cần tổ chức quản lý nợ nước ngoài có kế hoạch và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vào Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau như vay vốn của IMF, WB, ADB,..

Tóm lạ, trong tình hình hiện nay cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện có hiệu quả về chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô của nhà nước (giải quyết tốt vấn đề thâm hụt ngân sách, chấn chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều hành tốt giá cả và lưu thông hàng hoá,..) để đảm bảo vừa tăng trưởng kinh tế vừa kiềm chế lạm phát ở mức tốt nhất.

Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát

Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam

Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480

Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?

🌟 Home
🌟 Top