Top #10 ❤️ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs Violet Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ

Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen

Nhận thức tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng chuyên môn và bản thân 16 năm làm công tác giảng dạy tại một trường học và đã chuyển công tác về phòng Giáo dục và đào tạo huyện Krông Buk vào tháng 6/2009, được lãnh đạo tín nhiệm phân công trực tiếp đảm nhiệm chuyên môn khối trung học cơ sở. Bản thân là người luôn yêu nghề và có tâm huyết với ngành Giáo dục và người trực tiếp đảm nhiệm trọng trách của ngành nên bản thân luôn có nhiều điều suy nghĩ và trăn trở về thực trạng chất lượng dạy và học trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ các yếu tố trên tôi xin mạnh dạn đưa ra những suy nghĩ và giải pháp của mình nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học khối trung học cơ sở.

B. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP: I. THỰC TRẠNG: 1. Khảo sát chất lượng học sinh:

Thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ năm học 2009-2010 Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện đã tổ chức kiểm tra trắc nghiệm khách quan (TNKQ) học sinh lớp 8, lớp 9 gồm 5 môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học và Tiếng Anh nhằm đánh giá năng lực chuyên môn của giáo viên và học lực của học sinh. Qua mỗi lần khảo sát Phòng Giáo dục chấm điểm, thống kê kết quả và tỉ lệ giỏi, khá, trung bình, yếu, kém để từ đó các trường có biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và học lực của học sinh của đơn vị mình.

BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ CHẤM TRẮC NGHIỆM KHẢO SÁT ĐẦU NĂM TỶ LỆ % CHUNG TOÀN HUYỆN MÔN HÓA LỚP 9 MÔN LÝ LỚP 9 MÔN SINH LỚP 9 MÔN TOÁN LỚP 9 MÔN TIẾNG ANH LỚP 9 MÔN HÓA LỚP 8

MÔN SINH LỚP 8

MÔN TOÁN LỚP 8

MÔN TIẾNG ANH LỚP 8

Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs

Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A

Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Sinh Học Cấp Thcs

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Sinh Học 6

Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Và Học Tập Môn Sinh Học Lớp 6 Sách Giáo Khoa Mới Ở Các Trường Thcs Tỉnh An Giang

Bài 14. Thực Hiện Trật Tự, An Toàn Giao Thông

Kiểm Tra Các Đơn Vị Vận Tải Đảm Bảo An Toàn Khi Tham Gia Giao Thông Trong Điều Kiện Dịch Bệnh Covid

Biện Pháp Ứng Phó Của Các Nước Trước Xu Hướng Già Hóa Dân Số

Chất lượng ở các lớp học thường thấp và không ổn định. Thực tế là đầu năm học chất lượng rất thấp, cuối năm học chất lượng được nâng lên rõ rệt nhưng sau 2 tháng nghỉ hè tất cả lại quay về điểm xuất phát. Hiện tượng này vẫn lặp đi lặp lại nhiều năm nay nhưng chưa có cách giải quyết hiệu quả. Qua quá trình giảng dạy , học tập và đúc rút kinh nghiệm, tôi mạnh dạn chỉ ra những nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên như sau:

* Về phía giáo viên:

– Có thể phương pháp dạy học chưa phù hợp với các đối tượng học sinh có trình độ khác nhau( lớp có nhiều đối tượng học sinh), chưa thực sự quan tâm đến tất cả học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.

– Xem nhẹ dẫn đến không khắc sâu kiến thức cơ bản , các kĩ năng cần thiết như: Kỹ năng phân tích, liên kết các các dữ liệu kiến thức, kĩ năng vẽ hình, viết giả thiết, kết luận, liên hệ thực tế….

– Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề cao quá mức đối với học sinh, dẫn tới hiện tượng: Dạy lướt (nghĩ học sinh nắm được rồi), thích chữa bài tập khó bỏ qua bài tập dễ, trung bình, mà không chú ý tới khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh.

– Chưa tạo được không khí học tập thân thiện vì yêu cầu cao của giáo viên . Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.

* Về phía học sinh:

– Chất lượng đầu vào thấp. Chẳng hạn một số em vào lớp 6 khả năng đọc ,viết, tính toán chưa thành thạo.

– Có quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học tập.

– Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề ở các môn học.

– Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động.

* Về phía phụ huynh:

– Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con em mình còn hạn chế. Đặc biệt, có những phụ huynh của những em học sịnh yếu không bao giờ kiểm tra sách vở của các em, phó thác việc học tập của các em cho nhà trường.

– Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.

– Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.

– Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó.

– Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

– Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân (Sinh 8) , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

– Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

– Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

– Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

– Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

– Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

– Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

– Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

– Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

– Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

– Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

– Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

– Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

– Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

– Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

– Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

– Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi! Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

– Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

– Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

– Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

– Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

– Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

– Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

– Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

– Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

– Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

– Ví dụ: Khi dạy bài 25. Tiêu hóa ở khoang miệng, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ với thực tế giải thích vì sao:

+ Tại sao khi nhai cơm lâu trong miệng ta thấy có vị ngọt?

+ Tại sao khi ăn uống ta không nên cười đùa thái quá?

+ Khi ăn uống ta có thực hiện đồng thời phản xạ nuốt không?….

Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Thpt Năm 2013

Các Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Công Tác Ôn Thi Tốt Nghiệp

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Địa Lý

Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp?

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán

Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập

Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.

GD&TĐ – Những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cấp trung học được Sở GD&ĐT Bến Tre kết luận sau 2 hội thảo chuyên môn được Sở GD&ĐT tổ chức mới đây.

Tăng cường tự học, khuyến khích trải nghiệm sáng tạo

Về đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, Sở GD&ĐT Bến Tre đưa giải pháp: Căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn Toán, tổ chuyên môn tiếp tục xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp năng lực học sinh, theo hướng tăng cường phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh.

Tùy theo đối tượng học sinh, giáo viên lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp, tốt nhất để đạt được mục tiêu dạy học, đồng thời phát huy được sự tích cực, chủ động của học sinh.

Giáo viên linh hoạt tổ chức các hoạt động dạy học, không cứng nhắc hỏi – đáp theo các câu hỏi, bài tập có sẵn trong sách giáo khoa; mạnh dạn thay thế các câu hỏi, bài tập phù hợp năng lực học sinh trong tổ chức các hoạt dạy học.

Tăng cường hoạt động hướng dẫn học sinh tự học, đặc biệt là hoạt động tự học ngoài lớp học, cần phải hướng cụ thể nhiệm vụ học tập: hệ thống các câu hỏi, bài tập cần chuẩn bị, tham khảo tài liệu nào,…

Giáo viên thường xuyên theo dõi, nắm bắt tâm lý học sinh, giao nhiệm vụ phù hợp năng lực, tránh gây áp lực, nặng nề cho học sinh; rèn luyện học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập.

Tiếp tục ứng dụng có hiệu quả các phần mềm Toán: Maple, Sketchpad, Geogebra,…để tổ chức các hoạt động dạy học; các công cụ như Zalo, Messenger vào tổ chức hướng dẫn học tự học; khuyến khích soạn giáo án E- learning đăng website trường để học sinh có thể xem lại, ôn tập kiến thức.

Khuyến khích xây dựng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo góp phần phát triển năng lực học sinh, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

Đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá

Nhấn mạnh đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá, Sở GD&ĐT Bến Tre yêu cầu tổ chuyên môn, giáo viên tổ chức ra đề, coi, chấm và nhận xét, đánh giá học sinh trong việc thi và kiểm tra đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh.

Chú trọng đánh giá sản phẩm của học sinh như: các hoạt động trên lớp, hồ sơ học tập, vở học tập; kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học- kỹ thuật, qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.

Giáo viên có thể sử dụng các hình thức đánh giá này thay cho các bài kiểm tra hiện hành. Tiếp tục thực hiện xây dựng đề kiểm tra 1 tiết, cuối học kỳ, cuối năm học theo ma trận với 4 mức độ yêu cầu: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Kết hợp một cách hợp lý giữa hình thức kiểm tra tự luận với trắc nghiệm khách quan.

Không đánh giá, xếp loại giờ dạy của các tiết dạy theo nghiên cứu bài học nếu giáo viên dạy không có yêu cầu. Chủ động thực hiện dạy học theo chuyên đề, dạy học theo dự án.

Giáo viên tự nghiên cứu, tìm tòi, đề xuất các giải pháp mới để đưa vào nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn. Chủ động trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tài liệu giảng dạy với đồng nghiệp trong – ngoài tỉnh.

Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs

Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8

Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ

ho một tiết dạy là hết sức cần thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc, sát với thực tế, hiểu được các kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ? Còn rất nhiều các vấn đề khác nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn, dễ học và gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài. Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học sinh chưa kịp hiểu bài. Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập; bằng những câu hỏi trọng tâm, cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng học sinh; chú ý đến học sinh yếu, cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong nội dung bài học; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó, từ những bài toán rất đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra một lúc được nhiều học sinh; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được. Chẳng hạn khi dạy bài " Luỹ thừa của một số hữu tỉ" giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng cao dần như sau: Thực hiện các phép tính sau: a) 23 b) (- 5)3 c) ( 23 )2 d) e) (1,5)3.8 f) g) h) i) v.v. Các bài tập a, b, c, d dành cho học sinh yếu và kiểm tra một lúc đồng thời 4 học sinh lên bảng. Là các bài tập yêu cầu tối thiểu sau một tiết dạy học sinh phải tự làm được. Định lí 1: Trong một tam giác, góc đối diện với cạnh lớn hơn là góc lớn hơn. Định lí 2: Trong một tam giác cạnh đối diện với góc lớn hơn là cạnh lớn hơn. Để giúp học sinh nắm được định lí, cách vận dụng định lí để giải bài tập, yêu cầu tối thiểu để học sinh đạt được, giáo viên ra một bài tập: Bài tập 1: So sánh các góc của tam giác ABC, biết rằng: AB = 2cm; BC = 4cm; AC = 5cm Bài tập 2: So sánh các cạnh của tam giác ABC, biết rằng: Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí 1 và định lí 2 để giải: Bài tập 1: Áp dụng định lí 1, ta có: Tronghay 2cm < 4cm < 5cm Bài tập 2: Áp dụng định lí 2, ta có: Trong Hay do đó hay 450 < 550 < 800 AC < AB < BC Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy: Trong một tam giác nếu biết độ dài ba cạnh của tam giác thì ta có thể so sánh ba góc của tam giác đó và nếu biết số đo hai góc của một tam giác thì ta có thể so sánh ba cạnh của tam giác đó. Sau khi học sinh nắm được bài tập này, giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như sau: Ba bạn Hạnh, Nguyên, Trang đi đến trường theo ba con đường AD, BD, CD ( hình vẽ sau). Biết rằng ba điểm A, B, C cùng nằm trên một đường thẳng và là góc tù. Hỏi ai đi xa nhất, ai đi gần nhất ? Hãy giải thích ? Để giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh khá giúp học sinh yếu, giáo viên có thể tạo ra các cặp học tập khá yếu. Trong những lúc rãnh rỗi, trong những giờ giải lao, kể cả ở nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá. Khi đã tổ chức làm thì phải có những hình thức tuyên dương điển hình, khuyến khích thi đua với nhau, có kiểm tra việc tiến bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học tập sôi nổi. Trong sách bồi dưỡng môn Toán cấp tiểu học cho giáo viên có viết: "Số học là hạt nhân của chương trình toán". Vì vậy người giáo viên cần dạy học sinh nắm vững chắc về cấu trúc của số học và các phép tính trên tập N, tập Z, tập Q. Do đó chương trình Toán lớp 6 là nền tảng để có cơ sở học các nội dung khác. Trong chương trình có những chỗ căn bản, trọng tâm nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện và ra bài tập thật nhiều để học sinh thực hành để kiến thức mới được khắc sâu và lâu quên. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập chương, cách liệt kê các công thức toán để tóm tắt và chốt lại những điểm trọng tâm vận dụng vào giải bài tập. Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình, chịu khó, tinh thần trách nhiệm của người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Nhưng đó cũng chỉ là một mặt, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt chất lượng cao. Phải có sự kết hợp, vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất là phương pháp dạy học mới hiện nay. Người giáo viên cần chú ý trong từng trường hợp, từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình có điều kiện phát triển khả năng tư duy, chiếm lĩnh kiến thức. 4.Kế hoạch ra bài tập về nhà: Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với nhau giữa lý thuyết và thực hành. Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy. Ở phạm vi SGK sau mỗi bài học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành, luyện tập nhưng đôi khi còn ít, hệ thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng bước nâng dần giải những bài tập khó hơn. Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực hành và nội dung bài tập phong phú hơn. Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết. Vì vậy vấn đề luyện tập thật nhiều để học sinh nhớ lâu, củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết. Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn, lí thuyết không được khắc sâu đậm nét. Chẳng hạn khi dạy cộng, trừ, nhân, chia số hữu tỉ ở học sinh lớp 7, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu kiến thức. Khi dạy học sinh mới giải toán hình, nếu học sinh ít giải bài tập, ngại thực hành thì chắc chắn các em không nhạy bén,vận dụng lý thuyết ít được linh hoạt vào giải bài tập. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến đợt kiểm tra, đợt thi, làm giảm sút chất lượng trầm trọng. Nói chung do đặc điểm của môn Toán là môn học không thể nói suông, nói và làm phải luôn đi song song với nhau. Vì vậy, cần thực hành để rèn luyện kỹ năng, khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy. 5.Kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà: Kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập về nhà là việc rất cần thiết. Nếu chúng ta kiểm tra thường xuyên thì việc học bài cũ và làm bài tập ở nhà của các học sinh sẽ chu đáo hơn. Ngược lại, nếu bị xem nhẹ thì việc chuẩn bị bài tập, học bài cũ sẽ hạn chế và chất lượng học tập giảm rõ rệt. Ở lứa tuổi của các em nhất là đầu cấp học đôi khi nhận thức còn kém, học là để đối phó thầy cô giáo, học là để giáo viên kiểm tra bài mình đã làm, đã thuộc. Chưa có sự hiểu biết phải tự giác học để hiểu, để bản thân mình được tiến bộ. Do vậy kiểm tra bài cũ thường xuyên là biện pháp để học sinh tự giác học bài và làm bài ở nhà trước khi đến lớp. Từ đó tạo nên không khí lớp học nghiêm túc, trật tự, mọi học sinh đều ở tư thế chuẩn bị giáo viên sẽ kiểm tra mình. Thời gian kiểm tra bài cũ ở đầu các tiết học rất có giới hạn, không thể kiểm tra hết được. Vì vậy muốn nắm được việc làm bài tập ở nhà của học sinh một cách toàn diện người giáo viên phải nghĩ ra kế hoạch phân công các tổ trưởng chịu trách nhiệm kiểm tra từng thành viên trong tổ ở đầu buổi học. Đầu tiết học các tổ trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài tập ở nhà của từng tổ viên. Học sinh nào chưa làm bài tập ở nhà sẽ có biện pháp xử phạt thích đáng. Trong trường hợp học sinh không làm bài tập ở nhà mà lên lớp mượn vở bạn chép cũng được báo lại và sẽ xử phạt nặng hơn. Sau khi các tổ trưởng báo cáo lại xong giáo viên mới kiểm tra bài cũ. Nếu kiểm tra có gì không khớp với báo cáo của tổ trưởng thì sẽ có biện pháp xử phạt tổ trưởng vì chưa thực hiện đúng với sự phân công. Có như vậy trong từng tiết học mới sớm phát hiện được những học sinh lười học bài, lười làm bài tập giúp giáo viên sớm có biện pháp xử lý và tìm ra nguyên nhân cụ thể để sớm khắc phục. Với kế hoạch kiểm tra bài tập ở nhà như trên, người giáo viên đã kiểm tra được toàn diện học sinh. Phải làm thường xuyên, liên tục mới thấy được kết quả nâng cao chất lượng rõ rệt tạo thành nếp thi đua học tập sôi nổi ở học sinh. Học sinh hứng thú học tập, giáo viên biết được các học sinh cá biệt của mình. Khi trở thành thói quen, giáo viên làm việc rất nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao. Từ các báo cáo tổng quát đến cụ thể tình hình học tập của học sinh, giáo viên kịp thời nắm bắt được lỗ hổng của học sinh mà kịp thời sửa chữa. Tóm lại, những kế hoạch ở lớp, kế hoạch ra bài tập về nhà đến kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà là những suy nghĩ tìm ra phương pháp làm việc của bản thân trong thời gian qua. Với những kế hoạch đó bản thân tôi đã làm nhiều năm và thấy chất lượng dạy học tăng rõ rệt. Nhưng dù sao thì tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, hăng say trong nghề nghiệp là không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy. Kế hoạch làm việc theo nhóm: Hướng dẫn học sinh học cách thu thập các nguồn tài liệu từ sách báo, từ thư viện, từ mạng hoặc cách đánh số trang tài liệu tìm được. - Đối với học sinh: Tích cực tham gia và làm theo hướng dẫn của giáo viên, chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện hỗ trợ để giúp cho việc học của mình đạt kết quả cao hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó các cá thể trong nhóm có thể hoạt động không đồng đều (giáo viên lưu ý trước các nhóm, người trình bày trước lớp của các nhóm được giáo viên lựa chọn ngẫu nhiên). 7. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh: Mục tiêu chính của kế hoạch này là: ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh. Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập tích cực (tức là tự học tập). Ở kế hoạch này còn nhằm mục đích khắc phục được hai nhược điểm của học sinh là khả năng diễn đạt và khả năng làm việc theo nhóm. Ở kế hoạch này đòi hỏi giáo viên phải là người tiếp thu những phương tiện mới trong dạy học cụ thể là máy vi tính, máy chiếu, giáo án điện tử, biết truy cập Internet tìm kiếm thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy. Giáo viên tăng cường giám sát tính tự học của học sinh thông qua kế hoạch làm việc của các nhóm, cách thức làm việc của các nhóm đã khoa học chưa ? Còn học sinh là người tự giác tích cực trong trong việc học của mình để chiếm lĩnh kiến thức, nâng cao kiến thức cho bản thân. 8. Kế hoạch phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn với gia đình trong quá trình giáo dục đào tạo: Việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác dạy học cũng là điều cấn thiết. Giáo viên bộ môn phải trao đổi với giáo viên chủ nhiệm những học sinh cá biệt, học sinh lười để cùng hợp tác kiểm điểm, nhắc nhở, xử phạt; dùng đủ hình thức từ mềm dẽo đến cứng nhắc sao cho các em sửa chữa tiến bộ dần đà theo cả lớp. Cũng thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mới nắm được tình hình gia đình của những em cá biệt có hoàn cảnh khó khăn, gia đình buông lỏng hay ảnh hưởng của bạn bè xunh quanh để có biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có trách nhiệm trao đổi với giáo viên bộ môn những học sinh cá biệt ở lớp mình, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để giáo viên bộ môn nắm bắt được tình hình trước, có cách xử lý khéo là liều thuốc chữa bệnh có hiệu quả nhất mang lại kết quả nhanh nhất. Còn vấn đề phối hợp giữa gia đình học sinh và nhà trường cũng không thiếu được; cụ thể là giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và gia đình. Giáo viên có trách nhiệm báo về gia đình kịp thời những sai sót, bê tha của học sinh cho gia đình biết. Từ đó gia đình cho biết ý kiến, giáo viên mới dò theo ý đó mà xử lý phù hợp. Những trường hợp vi phạm quá mức có thể báo cáo với chính quyền địa phương để xử lý như: nghiện hút, chích hêrôin Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn diện. Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và gia đình đó là phương pháp đánh bao vây vào một mục tiêu, chỉ có con đường bị tê liệt và hòa vào quỹ đạo. Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: - Khi chưa áp dụng chuyên đề đã nêu trên, học kì I môn Toán ở khối 7 năm học 2006 - 2007 đạt kết quả như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 2,3% 14,2% 28,2% 29,4% 25,9% - Sau khi áp dụng chuyên đề này thì kết quả học kì I môn Toán khối 7 năm học 2007 - 2008 đạt kết quả như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 7,2% 25,3% 39,8% 24,1% 3,6% C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: I. Kết luận: Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn Toán nói riêng, học sinh yếu kém càng ngày càng nở ra, học sinh khá giỏi càng ngay bị co lại. Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân chính, cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu, tìm ra giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng, đảm bảo yêu cầu của cấp trên. Theo tôi nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt. Về phía giáo viên phải có sự nhiệt tình, phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy. Về phía học sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy, trật tự, kỉ cương của lớp học, của nhà trường hay chưa ? Một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể lớp có tổ chức, có kỉ cương, tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó. Nếu một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo kịp cũng buộc đầu quay theo quỹ đạo để trở thành một lớp học có nề nếp, im lặng, trật tự. Giáo viên vào lớp tự nhiên thấy hứng thú, hưng phấn, say mê trong công tác dạy học của mình. Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ, nhiều hơn nữa những gì đã trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay. Làm sao các em đều học được môn Toán, môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em. Các em không ngại giải bài tập, xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy, trí tuệ, tính chịu khó, cần cù, làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng. Tính suy luận logic, chính xác, chặt chẽ là cơ hội để rèn luyện bản thân, rèn luyện nhân cách của con người bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. II. Kiến nghị: Đối với phụ huynh học sinh cần quan tâm hơn nữa về việc học tập của con em mình. Thường xuyên kiểm tra việc học của con em mình thông qua việc học ở nhà và thông qua điểm của các bài kiểm tra. Đối với nhà trường: Tham mưu cho phòng giáo dục tạo điều kiện cho các em có một phòng thư viện để hỗ trợ tài liệu giúp các em trong việc học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học là một việc làm cần thiết và cấp bách đặt biệt hỗ trợ dạy môn hình học. Do cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn, nhà trường có thể tham mưu phòng giáo dục hỗ trợ giúp đỡ nhà trường có một đầu máy chiếu để phục vụ cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh. Tuy nhiên với trình độ tay nghề còn non trẻ, chuyên đề còn nhiều sai sót, khiếm khuyết. Rất mong sự thông cảm và chân thành góp ý của các thành viên trong tổ Tự nhiên, của BGH nhà trường để tôi hoàn thiện chuyên đề này hơn. KonTum, ngày 15 tháng 03 năm 2008 Người viết Trần Lê Ánh Nguyệt D. TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách Phương pháp dạy học môn Toán ( Dành cho GV THCS) - Nhà xuất bản giáo dục. SGK Toán 7 - Của nhà xuất bản giáo dục. Sách giáo viên Toán 7 Tài liệu về ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy bộ môn Toán. MỤC LỤC Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 B. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH 4 II. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 4 III. BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG 5 MÔN TOÁN 7 CHO HỌC SINH 1. Dạy nâng cao chất lượng môn Toán để phát 5 triển tư duy, trí tuệ. Học sinh học tốt môn Toán là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác. 2. Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức 6 nói chung và kiến thức toán học nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình giáo dục đào tạo. 3. Kế hoạch dạy ở lớp. 6 4. Kế hoạch ra bài tập về nhà. 11 5. Kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà. 11 6. Kế hoạch làm việc theo nhóm. 12 7. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin 13 và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh. 8. Kế hoạch phối hợp giữa giáo viên bộ môn 13 với giáo viên chủ nhiệm, giữa giáo viên bộ môn với gia đình trong quá trình giáo dục đào tạo. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14 C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 14 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A

Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi

Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập

🌟 Home
🌟 Top