Top 9 # Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Môn Toán Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém Môn Toán Lớp 4

Sở giáo dục Và ĐàO TạO NGHệ ANPHòNG GIáO DụC Và ĐàO TạO VINH

SáNG KIếN KINH NGHIệM

MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO HIệU QUả CÔNG TáC PHụĐạO HọC SINH YếU, KéM Về MÔN TOáN LớP 4

Họ và tên: Nguyễn Thị NguyệtChức vụ: Phó Hiệu trởngĐơn vị: Trờng Tiểu học Nghi LiênNăm học: 2011 – 2012PHN I : T VN I. LI DO CHON TAICng nh cỏc mụn hc khỏc, mụn Toỏn cú mt vai trũ ht sc quan trng trongvic hỡnh thnh nhõn cỏch con ngi lao ng. Vỡ vy, mi giỏo viờn cn phi cútrỏch nhim dy hc sao cho hc sinh ca mỡnh tip thu c nhng kin thc v knng m chng trỡnh giỏo dc tiu hc quy nh. Tuy nhiờn, khụng phi mi hcsinh u hc tp d dng nh nhau, cú th cú nhng hc sinh nm kin thc toỏn hcrt nhanh chúng v sõu sc m khụng cn cú s c gng c bit, trong khi ú mt sem khỏc li khụng th t c kt qu nh vy mc dự ó c gng rt nhiu, ú

chớnh l cỏc em hc sinh yu, kộm v mụn Toỏn.

1

– Tìm hiểu thực trạng việc phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán lớp 4.Phương pháp thực nghiệm.– Nhằm mục đích kiểm tra tính khả thi của đề tài.PHẦN II: NỘI DUNGI. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1. Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập– Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập là những học sinh phát triểnkhông bình thường về mặt năng lực nhận thức, học kém không theo kịp chương trìnhvà các bạn trung bình trong lớp biểu hiện ở các dấu hiệu cơ bản sau:– Động cơ học tập lệch lạc, mờ nhạt hoặc bị thui chột.– Tri thức các môn học phiến diện, hẫng hụt, tụt hậu so với bạn bè và so với yêucầu, kĩ năng thực hành yếu hoặc di chuyển sang lĩnh vực hoạt động theo những mụcđích, động cơ ngoài việc học tập. Kết quả học tập thất thường, yếu kém và không cóđộ tin cậy cao.– Thái độ tiêu cực trong học tập, chán ghét, không ham thích những hoạt độnghọc tập. Từ đó dẫn đến những hành vi tiêu cực, gian dối, đối phó hoặc có khi cónhững biểu hiện ghen tức bạn bè học khá, thù ghét những thầy cô giáo nghiêm khắctrong giáo dục, hay bỏ học, trốn tiết.1.2. Giáo dục học sinh yếu kém– Giáo dục học sinh yếu kém là quá trình tác động của những người làm công tácgiáo dục tới đối tượng học sinh có trình độ chưa đạt tiêu chuẩn giáo dục.– Học sinh yếu kém là những em mà trong quá trình hình thành và phát triểnnhân cách đã có những biểu hiện không bình thường về thể chất, tinh thần, trí tuệ,đạo đức cần được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường – gia đình – xã hội cũng như sựnỗ lực của chính các em. Vì vậy, giáo dục học sinh yếu kém trước hết là quan tâmchăm sóc, bồi dưỡng nhân cách cho người học; hướng dẫn các em có phương pháphọc tập đúng đắn; động viên, khuyến khích các em có hứng thú, niềm tin trong họctập.2. THỰC TRẠNG.Để tìm hiểu thực trạng tôi đã đối chiếu kết quả dạy học môn Toán của mấy nămgần đây, dự giờ thăm lớp, trao đổi với giáo viên, khảo sát chất lượng học sinh, tìmhiểu học sinh yếu, kém môn Toán.3

2.1 Thực trạng chất lượng môn toán lớp 4.Ở tuần học thứ 2 năm học 2011-2012 tôi đã chỉ đạo giáo viên tiến hành khảosát chất lượng môn Toán khối lớp 4.Đề khảo sát môn Toán (Thời gian làm bài: 40 phút)Bài 1: Đặt tính rồi tính:a) 47085 + 1750

c) 437 × 4

b) 75897 – 18756

d) 50585 : 5

Bài 2: Tìm X, biết;a) 75405 +

x = 94186

b) x – 1325 = 29100

c) 575 :

x

=5

g) 7 ×

x = 1799

Bài 3: Điền đáp số vào chỗ trống của mỗi bài toán sau:a) Một hình chữ nhật có chiều rộng 18m, chiều dài gấp 3lần chiều rộng. Chu vi hìnhchữ nhật đó là:………………………………………..b) Diện tích hình vuông có cạnh 8cm là: …………………………………………Bài 4: Một tổ công nhân trong 5 ngày làm được 375 sản phẩm. Hỏi với mức làm nhưthế thì trong 9 ngày tổ công nhân đó làm được bao nhiêu sản phẩm?Hướng dẫn chấm bài kiểm tra:Bài 1 (2 điểm) : Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,5 điểm.Bài 2 (2 điểm) : Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,5 điểm.Bài 3 (4điểm): Mỗi ý đúng cho 2 điểm.Bài 4 (2điểm): Bài giải thực hiện đúng yêu cầu trình bày đầy đủ cho 2 điểm

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5- 6

Điểm dưới 5

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

18

22.8%

21

26.6%

29

36.7%

11

13.9%

Với đề khảo sát chất lượng như trên, qua kết quả làm bài của học sinh thì 11 emhọc sinh có điểm yếu các em còn vướng phải các lỗi sau: Còn chậm trong thực hànhtính toán, chưa thuộc bảng cửu chương; Cộng, trừ, nhân, chia có nhớ còn chậm, quênkhông nhớ; Còn lẫn lộn, quên cách tìm thành phần chưa biết của phép tính; Kỹ nănggiải toán có lời văn còn yếu.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu, kém môn Toán .4

*) Về phía học sinh: Như chúng ta đã biết, sự yếu kém về môn Toán của họcsinh có biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau nhưng nhìn chung thường cócác đặc điểm sau đây:– Có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng; Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năngchậm;– Phương pháp học tập chưa tốt; Năng lực tư duy yếu; Có thái độ thờ ơ với họctập, ngại cố gắng, thiếu tự tin.– Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.– Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong họctập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.– Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốnkiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.– Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền.– Mỗi em có một khả năng nổi trội riêng nhưng các em chưa biết phát huy khảnăng của mình.– Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết (cộng, trừ,nhân, chia).– Học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức.*) Về phía giáo viên: Một bộ phận giáo viên còn chưa chú ý đúng mức đến đốitượng học sinh yếu, chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút củahọc sinh mà nhiều em đã kém lại càng kém thêm, lỗ hổng kiến thức ngày càng lớnhơn. Nhiều giáo viên chỉ chú ý đến học sinh Khá, Giỏi, thích tổ chức các hoạt độnghọc tập trên lớp với những học sinh khá, giỏi để tránh xử lí các tình huống phức tạpmất thời gian; Một số giáo viên tổ chức các hoạt động học tập chưa tốt còn để họcsinh khá giỏi nói leo, nói hộ học sinh yếu. Giáo viên chưa quan tâm đến tất cả HStrong lớp còn để học sinh yếu ngoài lề các tiết học, GV chỉ chú trọng vào các em HSkhá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp như vậy các em học yếu không có cơhội bộc lộ khả năng của mình và đã ngại học lại thêm tính ì, ngại suy nghĩ, ngại vậnđộng; Chưa chú trọng đến tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh học kém để phân loạiđối tượng; giảng dạy mang tính dàn trải chưa có biện pháp dạy học phù hợp với từngđối tượng học sinh, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế, chưađộng viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo dù làrất nhỏ.Mặt khác, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm và gia đìnhhọc sinh nên chưa có biện pháp phù hợp trong quá trình phụ đạo, giúp đỡ học sinhhọc tập. Chính vì vậy vẫn tồn tại một số học sinh yếu, kém về môn Toán.5

*) Đối với phụ huynh: Một bộ phận phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việchọc tập của con cái, giao việc học tập của con em cho nhà trường. Bên cạnh đó phụhuynh chưa nắm được phương pháp sư phạm, không nắm được cách giải Toán ở Tiểuhọc khiến cho trẻ không hiểu và thiếu tin tưởng. Mặt khác, một số phụ huynh điềukiện kinh tế gia đình quá khó khăn không có điều kiện chăm lo cho con em học tập, ởnhà các em còn phải làm nhiều việc phụ giúp gia đình vì vậy các em đến trườngthường trong trạng thái mệt mỏi, uể oải. Một số phụ huynh đi làm ăn xa phải gửi concho ông bà, cô bác trông hộ. Các em trong đối tượng này thì bị thiếu thốn tình cảmcủa bố mẹ nên khi học thường không chú tâm vào việc học tập.Từ những thực trạng nói trên, để tập trung nâng chất lượng học tập của họcsinh, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém về môn Toán, tránh để tìnhtrạng học sinh ngồi nhầm lớp tôi đã suy nghĩ và trao đổi cùng đồng nghiệp đưa ra“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phụ đạo học sinh lớp yếu kém mônToán lớp 4″ như sau:II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHỤ ĐẠOHỌC SINH YẾU, KÉM VỀ MÔN TOÁN LỚP 4.Giải pháp 1. Chỉ đạo giáo viên theo dõi thường xuyên, nắm bắt cụ thể tìnhhình học sinh yếu.Tôi đã chỉ đạo giáo viên theo dõi kết quả làm bài tập trên lớp và làm bài tập vềnhà hàng ngày, theo dõi kết quả kiểm tra định kỳ, sớm phát hiện ra các trường hợphọc sinh có khó khăn trong học tập và đi sâu tìm hiểu từng trường hợp cụ thể, phântích đúng nguyên nhân dẫn đến tình hình đó đối với các em.– Ngay từ đầu năm học, tiến hành khảo sát chất lượng học sinh về môn Toán.– Lập danh sách và phân loại học sinh yếu, kém về môn Toán, phân tích nguyênnhân.Tôi hướng dẫn giáo viên phân loại học sinh học yếu theo những nguyên nhânchủ yếu như: Do hổng kiến thức, kỹ năng từ lớp dưới, do điều kiện hoàn cảnh giađình, do trí tuệ chậm phát triển…Thực hiện theo kế hoạch, tôi cùng với giáo viên dạy khối 4 đã khảo sát và phânloại học sinh yếu môn toán theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:+ Nhóm khả năng tiếp thu bài chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức lớp dướinhư chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, chưa biết tìm thành phần chưa biết của phéptính, giải toán có lời văn còn yếu: Nhóm này có 7 em.+ Nhóm do hoàn cảnh gia đình và các nguyên nhân khác: Nhóm này có 4 em.Trong nhóm này các em có khả năng tiếp thu bài tốt. Nhưng vì điều kiện gia đình khókhăn không có người chăm lo, đôn đốc học tập nên các em chưa tích cực học tập,6

không hoàn thành nhiệm vụ học tập, dẫn đến kết quả học tập sa sút và liên tục bị điểmyếu.Giải pháp 2. Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạohọc sinh yếu, kém về môn toán phù hợp với đối tượng học sinh.Khi nắm được nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu, kém về môn Toán củatừng em, tôi đã hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạohọc sinh yếu, kém với yêu cầu:+ Lập kế hoạch bài học phải phù hợp với từng đối tượng học sinh kể cả tiếtchính khóa cũng như tiết phụ đạo. Nội dung kế hoạch phải xuyên suốt cả năm học vàcụ thể cho từng tuần, từng tháng.+ Nội dung các tiết phụ đạo tập trung rèn luyện kĩ năng và ôn tập các kiến thứcđã học cho học sinh.+ Đặc biệt giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản theo yêu cầu chuẩn kĩnăng kiến thức của lớp dưới mà các em còn bị hổng. Như nhớ được bảng nhân, bảngchia, giải được một số dạng toán cơ bản đã học ở lớp dưới… Mục đích là lấp lỗ hổngvề kiến thức cho học sinh.* Ví dụ nội dung phụ đạo học sinh học yếu môn toán lớp 4:Tuần 1: Khảo sát, tìm hiểu nguyên nhân, phân loại học sinh.Tuần 2: Củng cố về bảng nhân, bảng chia 2,3,4,5.Tuần 3: Củng cố về bảng nhân, bảng chia 6,7,8,9.Tuần 4: Củng cố về bảng nhân, bảng chia kết hợp với củng cố về tìm thànhphần chưa biết của phép tính.Tuần 5: Củng cố về bốn phép tính với số tự nhiên kết hợp với củng cố về giảitoán có lời văn.Tuần 6: Tiếp tục củng cố về bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự nhiênkết hợp với củng cố về giải toán có lời văn.Tuần 7: Tiếp tục củng cố về bốn phép tính với số tự nhiên, củng cố mối quanhệ các đơn vị đo lường và vận dụng làm toán có lời văn…Cứ tiếp tục như vậy, nội dung các buổi phụ đạo sau phải có sự củng cố lạinhững kiến thức đã học ở các buổi học trước và tập trung chủ yếu vào củng cố chohọc sinh kĩ năng thực hiện thành thạo bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tựnhiên ở học kì I. Nội dung củng cố kĩ năng thực hành làm tính với số tự nhiên, giáoviên linh hoạt bằng nhiều bài toán khác nhau. Có thể là các dạng bài như: đặt tính rồitính; tính giá trị biểu thức; tìm x; toán có lời văn… Phải cho học sinh làm đi làm lại7

nhiều lần một dạng bài tập để các em thành thạo. Việc củng cố kiến thức đã học thựchiện đồng thời với việc dạy kiến thức mới của lớp 4. Căn cứ vào yêu cầu chuẩn kiếnthức kĩ năng của từng bài, giáo viên giúp học sinh yếu tiếp thu những kiến thức vàlàm bài tập vừa sức với các em.+ Cuối tuần kiểm tra 1 lần, cuối mỗi tháng, mỗi kỳ có bài kiểm tra theo dõi kếtquả học tập của các em. Lập sổ theo dõi quá trình phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu(suốt cả năm học).+ Kết hợp chặt chẽ với gia đình và nhà trường. Có sổ liên lạc giữa giáo viênchủ nhiệm và phụ huynh học sinh, thường xuyên đến thăm và động viên gia đình họcsinh.+ Thời gian phụ đạo chủ yếu vào các buổi chiều trong tuần( thứ 3 và thứ 5),lồng ghép vào chương trình chính khoá và với một số tiết hoạt động tập thể hay giờgiải lao( trong đó tổ chức các trò chơi có nội dung toán học).+ Kế hoạch bồi dưỡng phải có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể là: cuối học kì I khôngcòn tình trạng học sinh bị hổng kiến thức đã học. Học kì II, các em học đến đâu phảiđạt yêu cầu đến đó (theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình toán lớp4). Đến cuối năm học, không còn học sinh nào học yếu môn toán.Giải pháp 3 : Hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch:Phụ đạo học sinh học yếu nói chung và học sinh học yếu môn toán nói riêng làviệc làm khó, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng nhiệt tình và kiên trì, yêu thươnghọc sinh. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viên khi thực hiện kế hoạch phụ đạo học sinhyếu, giáo viên không được nóng vội, phải thực hiện kế hoạch theo từng bước hợp lí.Đồng thời không cứng nhắc rập khuôn theo kế hoạch mà cần phải linh hoạt điều chỉnhnội dung và cách thức thực hiện.Căn cứ vào kết quả tìm hiểu nguyên nhân của học sinh học yếu môn toán ởkhối 4, tôi hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch phụ đạo với những nội chủ yếunhư sau:1. Củng cố 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia.Bởi vì số học sinh học kém môn Toán khối 4, đa số do khả năng tiếp thu bàichậm, còn hổng kiến thức từ lớp dưới, vì thế đã học lên lớp 4 nhưng các em này vẫnchưa thuộc lòng bảng nhân, bảng chia ở lớp 2, 3 còn yếu trong việc vận dụng bốnphép tính cộng, trừ, nhân, chia để giải toán có lời văn. Điều đó rất bất lợi cho các emtrong quá trình học toán ở lớp 4 và lên lớp 5. Để các em làm thành thạo 4 phép tínhcộng, trừ, nhân, chia, tôi xác định việc làm đầu tiên dạy lại những kiến thức cơ bảngiúp học sinh lấp được lỗ hổng kiến thức.

8

Vì vậy, tôi đã hướng dẫn cho giáo viên giao cho học sinh yếu cứ mỗi tuần phảihọc thuộc 3 đến 5 bảng nhân, bảng chia, mỗi buổi học giáo viên dành 5 phút với buổichính khoá, 15 phút với buổi phụ đạo để kiểm tra việc học của học sinh. Cuối tuầngiáo viên lại tổ chức cho các em thi đọc bảng cửu chương (15-20 phút).Sau hai tuần đầu tôi kiểm tra đã nhận thấy rằng: Các em đều học thuộc bảngnhân, bảng chia nhưng khi vận dụng làm một phép tính cụ thể (VD: 124 : 2) thì có emlàm được nhưng rất chậm, có em không làm được. Tôi trăn trở tìm nguyên nhân, thì racác em chỉ thuộc “vẹt” bảng nhân, bảng chia.Tiếp theo tôi hướng dẫn giáo viên điều chỉnh cách kiểm tra, phải chỉ định họcsinh đọc bảng nhân, chỉ rõ bản chất của phép nhân là kết quả của phép cộng của cácsố bằng nhau, hướng dẫn các em học thuộc nhừ bảng nhân 5, thuộc nhừ cách tính mộtsố nhân với mười để các em dựa vào đó tìm kết quả phép tính nhân, chia trong bảngkhi chưa thuộc lòng: Ví dụ bảng nhân 3, hỏi phép nhân, phép chia bất bất kì 3 × 6 = ?(học sinh vận dụng kết quả phép nhân 3 × 5 = 15 suy ra kết quả 3 × 6 = 15 + 3 = 18);3 × 9 = ?… (suy từ 3 × 10=30 ra 3 × 9 = 30- 3 =27). Từ đó giúp các em học thuộc lòng.Đồng thời củng cố vận dụng bảng nhân chia, bảng chia bằng cách giao cho các emthực hiện những phép tính đơn giản không có nhớ như: 24 × 2; 123 × 3; 84 : 2;124: 4 …Đến tuần sau, vào các buổi chiều phụ đạo HS yếu, kém tôi hướng dẫn giáo viênthay đổi hình thức kiểm tra, khác với các tuần trước.Giáo viên ghi sẵn nội dung kiểm tra lên 2 tấm bìa và gắn lên bảng:5 × 6 = …

35 : 7= ….

4× 5=…

25 : 5 = ….

7 × 8 = ….

48 : 6 = …

3× 9=…

36 : 6 = …..

4 × 9 = ….

64 : 8 = …

9 × 6 = ….

42 : 7 = …..

6 × 9 = ….

72 : 9 = …

7× 7=…

45 : 5 = ….

…..

……

….

……

Cứ mỗi lần, gọi 2 HS lên bảng làm bài (HS ghi kết quả vào chỗ chấm). Lần nàykhông ghi theo thứ tự phép tính của bảng nhân hay bảng chia mà ghi bất kì phép nhânhay phép chia trong bảng, mục đích là để học sinh thuộc lòng bảng nhân, bảng chiamà các em đã học. Đồng thời tiếp tục củng cố kĩ năng vận dụng thực hành các phéptính nhân, chia bằng các bài như đặt tính rồi tính, tính giá trị biểu thức đơn giản, tìmx…Không những yêu cầu các em học thuộc bảng nhân, bảng chia mà giáo viên cònphải giao cho các em về nhà viết lại nhiều lần thay cho bài kiểm tra và được giáo viênchấm điểm chặt chẽ các bài này. Ngoài ra giờ ra chơi hay giờ giải lao của buổi học,giáo viên phải gần gũi và nói chuyện với các em, lồng vào đó là những mẫu chuyện9

vui về toán học, những câu đố đơn giản đố các em về phép nhân hay phép chia. Cácem đã thi nhau trả lời và như vậy đã giúp các em dễ nhớ được bảng nhân, bảng chiađã học ở lớp 2,3.2. Củng cố kỹ năng giải toán.Kết hợp củng kĩ năng tính toán với củng cố rèn luyện kĩ năng giải toán có lờivăn sẽ giúp các em giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán. Bởi vì có những emnhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai hoặc biết tính toán nhưng cách giải saidẫn đến bài toán giải sai. Vì vậy sau khi các em làm thành thạo 4 phép tính cộng, trừ,nhân, chia thì chú ý đến việc giải toán có lời văn. Bởi chúng ta biết rằng đa số các emyếu, kém về môn Toán thường gặp khó khăn trong việc giải Toán có lời văn. Tôi đãhướng dẫn giáo viên lựa chọn cách dạy phù hợp để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nộidung bài học, nhớ kĩ được từng dạng bài toán.Tôi đã định hướng cho giáo viên củng cố cho học sinh cách giải các dạng toánđiển hình của lớp 3 kết hợp với củng cố kỹ năng tính toán với bốn phép tính cộng,trừ, nhân, chia. Vì học sinh yếu có đặc điểm là rất ngại, thậm chí sợ làm toán có lờivăn vì khả năng tư duy “phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế” nên chưacó khả năng phán đoán suy luận. Do đó, khi làm toán có lời văn các em giải chưađúng, tính toán còn sai. Có em giải “bừa” cho xong. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viênkhi củng cố kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh yếu thì chỉ cần ra với dạng cơbản nhất, đơn giản nhất mang tính chất vận dụng củng cố lý thuyết mà thôi. Khôngnên ra những bài lắt léo hay những bài phải qua bước trung gian mới về dạng cơ bản.Đến khi học sinh lấp được những chỗ hổng kiến thức đã học thì mới nâng dần mức độlên.* Một số dạng toán điển hình lớp 3 cần phải ôn tập củng cố là:– Dạng bài gấp một số lên nhiều lần.Ví dụ: Thủy có 35 que tính. Hà có số que tính gấp 3 lần Thủy. Hỏi hai bạn cóbao nhiêu que tính?– Dạng bài giảm một số đi nhiều lần.Ví dụ: Thủy có 105 que tính. Thủy có số que tính gấp ba lần số que tính củaHà. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu que tính?– Dạng bài tìm một phần mấy của một số:Ví dụ: Một đàn gia cầm của một nhà có 128 con vịt và gà. Trong đó số gà bằng

1cả đàn. Hỏi đàn gia cầm đó có mấy con gà?4

10

Ví dụ: Có 70 xếp giấy gói đều thành 7 bọc. Hỏi có 100 xếp giấy sẽ gói đượcbao nhiêu bọc như thế?– Dạng bài tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật;Ví dụ:+ Tính chu vi, diện tích thửa ruộng hình vuông có cạnh 24 m.+ Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều rộng 9m, chiều dài gấp 3 lần chiềurộng. Tính chu vi và diện tích của thửa ruộng đó.Để kết hợp tốt giữa lấp lỗ hổng kiến thức và dạy kiến thức mới, tôi chỉ đạo giáoviên thực hiện nội dung củng cố kĩ năng giải các bài toán điển hình lớp 3 trong nhữngtuần đầu của năm học (khoảng 6 đến 8 tuần đầu). Song song với việc bổ sung chỗhổng kiến thức lớp 3 thì trong các tiết học chính khóa, giáo viên giúp học sinh yếubiết giải các bài toán giải dạng toán điển hình lớp 4 đồng thời cần phải ôn tập củng cốngay ở các tiết học phụ đạo. Nhất định không để học sinh hổng kiến thức đã học nữa.Tôi đã đề ra một số lưu ý với giáo viên: Khi hướng dẫn cho học sinh cách giảivà trình bày bài giải, giáo viên phải hướng dẫn gợi mở từng bước cụ thể, giúp họcsinh thể hiện khả năng giải toán của mình là cần thiết. Vì vậy giáo viên cần phảihướng dẫn học sinh đọc, tìm hiểu kĩ đề bài toán, Tóm tắt đề bài toán, nhìn vào tóm tắtđọc lại đề bài toán. Đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh từng bước tìm cáchgiải và chọn cách giải hợp lý nhất, ngắn gọn nhất, lời giải rõ ràng chính xác, đúng nộidung bài toán yêu cầu tìm gì. Đồng thời chú ý hướng dẫn các em khi thực hiện tìm kếtquả của phép tính cần làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả rồi mới viết vào bài làm.Từ đó tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy.3. Quan tâm động viên kịp thời học sinh có hoàn cảnh khó khăn.Với những đặc điểm của học sinh yếu, kém nói chung và môn toán nói riêng,tôi đã khẳng định rằng học sinh yếu, kém môn Toán cần được quan tâm, hỗ trợ dạyhọc một cách tích cực. Còn với học sinh học yếu nguyên nhân do điều kiện hoàn cảnhgia đình tôi chỉ đạo giáo viên phải có sự quan tâm đặc biệt. Ngoài việc tích cực hỗ trợcho các em lấp lỗ hổng kiến thức đồng thời phải có sự quan tâm đặc biệt về tình cảmvà vật chất.Vì vậy tôi chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thường xuyên đến thăm một số gia đìnhhọc sinh yếu trong khối 4 như gia đình em Huyền Thương lớp 4B, gia đình em ĐìnhHiếu lớp 4C … và một số gia đình học sinh khó khăn khác. Cảm thông được nỗi vấtvả của các em, tôi đề nghị Ban giám hiệu nhà trường hỗ trợ cho các em quần áo, sáchvở, kết hợp cùng với Đội Thiếu niên nhà trường, tôi đã cùng các cô giáo chủ nhiệmtrao quà cho các em trong dịp Tết Nguyên Đán. Nhận được sự quan tâm, động viênkịp thời của nhà trường cũng như cô giáo chủ nhiệm, gia đình các em đã hiểu và tạo11

12

lại bảng nhân 6 cho thuộc. Tức là phát hiện học sinh hổng kiến thức ở đâu thì giáovên phải linh hoạt điều chỉnh nội dung dạy để ôn tập, bổ sung ở đó.– Trong các buổi dạy phụ đạo, nội dung chủ yếu là kiểm tra việc lĩnh hội cáckiến thức giảng dạy trên lớp hoặc ôn tập, củng cố kiến thức để các em nắm chắc hơn.Tôi hướng dẫn giáo viên, trong mỗi tiết dạy, xác định rõ mục tiêu của từng bài, từnghoạt động của học sinh dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên.– Khi hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, Giáo viên cần giao việc phù hợp vớitừng đối tượng học sinh. Cụ thể là: Bài tập dành cho học sinh cả lớp; Bài tập cho họcsinh khá giỏi; Riêng đối với học sinh yếu, kém về môn Toán giáo viên không nêngiao nhiều bài tập về nhà, chỉ cần 1 đến 2 bài thôi. Em nào yếu quá giáo viên phải ghibài tập vào phiếu và kèm theo một vài câu hỏi để học sinh có thể tự kiểm tra hay chỉrõ ý chính cần đi sâu, nhớ kỹ để hiểu rõ “cái đã cho, cái phải đi tìm”. Bài tập về nhàdo các em làm, yêu cầu phụ huynh kí vào phía dưới để có sự giám sát, đốc thúc kịpthời của gia đình. Đến lớp, giáo viên kiểm tra cụ thể các sai lầm mắc phải của họcsinh để phân tích và sửa chữa.2. Gây hứng thú học tập cho học sinh.Bởi vì học sinh yếu vốn ngại học, ngại bày tỏ ý kiến nên để cuốn hút các emtích cực tham gia các hoạt động học tập thì giáo viên phải có những hình thức tổ chứccác hoạt động học tập gây được hứng thú cho tất cả học sinh tham gia, kể cả học sinhyếu.Để gây hứng thú cho các em học tập, trong dạy học toán giáo viên có thể thựchiện như sau: Trong các tiết học vận dung các hình thức dạy tích cực như: Tổ chứchoạt động nhóm (hoặc tổ chức làm bài theo hình thức tiếp sức) có thi đua giữa cácnhóm, tất cả các thành viên trong nhóm đều được giao phần việc làm vừa sức phù hợpvới năng lực từng em, các nhóm học tập linh hoạt thay đổi như nhóm nhỏ, nhóm lớn,nhóm cùng trình độ, nhóm ngẫu nhiên… Giáo viên phải tạo cơ hội cho tất cả các emđược phát biểu, đặc biệt quan tâm đến học sinh yếu. Động viên khuyến khích kịp thờikhi học sinh có tiến bộ dù là nhỏ nhất để học sinh yếu mạnh dạn, tự tin hơn. Thườngxuyên tổ chức “Hội vui học tập” vào các tiết hoạt động tập thể. Hoặc tổ chức trò chơicó lồng nội dung Toán học: Hái hoa dân chủ, Tuổi thơ khám phá…3. Tổ chức phong trào đôi bạn cùng tiến, xây dựng môi trường học tập thânthiện .Ở lớp cũng như ở nhà, giáo viên tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyêngiúp đỡ các bạn yếu, kém. Trên lớp, cần sắp xếp 1 học sinh giỏi giúp đỡ 1 bạn họcsinh yếu bên cạnh. Tổ chức thi đua giữa các nhóm giúp bạn, nếu bạn nào có tiến bộthì biểu dương cả nhóm vào tiết chào cờ sáng thứ 2 đầu tuần. Ở nhà, giáo viên sắp xếpcác em gần nhà nhau thành 1 nhóm và cử 1 học sinh làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng13

có nhiệm vụ nhắc nhở, kiểm tra việc học bài, làm bài của các bạn và báo cáo với côgiáo chủ nhiệm vào đầu mỗi buổi học. Không những thế, tôi còn hướng dẫn giáo viênyêu cầu các em Nhóm trưởng kiểm tra kỹ về cách học, cách trình bày bài làm, chữviết, của các bạn. Giáo viên kiên trì uốn nắn và sửa những thói quen xấu của các emnhư: chưa đọc kĩ đề bài trước khi làm bài tập, tính toán cẩu thả, không làm nháp hoặcviết lộn xộn, phát biểu không chính xác, trình bày bài tuỳ tiện, giải toán xong khôngchịu thử lại…Khuyến khích, động viên đúng lúc, kịp thời khi các em có tiến bộ hay đạt đượcmột số kết quả (dù sự tiến bộ nhỏ nhất); phân tích, phê bình đúng mức thái độ vôtrách nhiệm hoặc lơ là đối với nhiệm vụ học tập, nhưng tuyệt đối tránh thái độ lời nóichạm lòng tự ái của học sinh để các em phấn khởi học tập xóa đi ấn tượng sợ học mônToán.Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi đã chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể, chi tiếtcho giáo viên vận dụng các biện pháp, linh hoạt sử dụng các phương pháp dạy họctích cực như trên. Qua kết quả kiểm tra trên lớp, qua các bài kiểm tra… Tôi thấy cácem học sinh yếu đã tiến bộ rất nhiều. Đến tuần thứ 6, bảy em hổng kiến thức lớp dướiđã nắm được bảng nhân, bảng chia đã học ở lớp 2, 3; Bốn em học yếu do hoàn cảnhgia đình khó khăn có tiến bộ rõ rệt, đã cố gắng vươn lên trong học tập. Đặc biệt tất cảcác em đã tích cực, hứng thú học Toán và tiếp thu bài mới lớp 4 đạt yêu cầu.Giải pháp 5: Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh.Tôi chỉ đạo giáo viên phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức của phụ huynh vềtrách nhiệm lớn lao của phụ huynh và gia đình trong việc góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục. Tôi yêu cầu giáo viên phải trao đổi với phụ huynh để tìm ra biện pháptốt nhất phù hợp với điều kiện và tính cách từng em giúp các em vươn lên trong họctập. Giáo viên phải hướng dẫn phụ huynh biết kiểm tra việc học tập của con mình.Phải thường xuyên giữ liên lạc với phụ huynh. Thường xuyên liên lạc thông báo kếtquả học tập của các em qua sổ liên lạc cho phụ huynh và đề nghị phụ huynh theo dõivà kiểm tra bài vở của con em mình, giúp đỡ các em trong quá trình học tập ở nhà ,quản lý thời gian biểu của con em, ghi đầy đủ lời nhận xét vào sổ (đảm bảo thông tin2 chiều). Tổ chức cho giáo viên gặp mặt phụ huynh học sinh thường xuyên. Khi thấyhọc sinh chưa tiến bộ cần chủ động gặp phụ huynh để trao đổi về việc học tập của họcsinh tiếp tục cùng với phụ huynh điều chỉnh biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn.Thấy được sự lo lắng của giáo viên nên phụ huynh đã thường xuyên kiểm tra việc họcbài, làm bài của con em mình, đôn đốc các em đi học chuyên cần. Vì vậy, Học sinhlớp 4 của nhà trường đã tiến bộ lên rất nhiều.Giải pháp 6: Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn.

14

Toán trong toàn trường phù hợp với đối tượng học sinh yếu và điều kiện thực tế củalớp mình.Sau khi vận dụng vào thực tế dạy học “Các giải pháp cải tiến khắc phục tìnhtrạng học sinh học yếu, kém môn Toán” của toàn trường nói chung và đặc biệt ở khối4 nói riêng, tôi thấy kết quả đạt được đáng mừng, các em học sinh yếu có nhiềuchuyển biến rõ rệt. Tỉ lệ học sinh yếu giảm hẳn, tỉ lệ học sinh trung bình, khá giỏităng cao.III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢCKhi áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy các em học sinh ở lớp 4 đã tiến bộ rõrệt, chất lượng học tập ngày càng được nâng lên, tỉ lệ học sinh yếu giảm.*) Kết quả kiểm tra định kì cuối học kì I về môn Toán ở khối lớp 4:Tổngsố HS79

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5- 6

Điểm dưới 5

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

20

25,3%

23

29.1%

35

44.3%

1

1.3%

So sánh với kết quả khảo sát đầu năm tôi nhận thấy:Nhờ thực hiện tốt các giải pháp phụ đạo học sinh yếu, kém về môn toán mà tôiđã xây dựng chất lượng học tập môn toán được nâng lên rõ rệt. Tất cả học sinh yếu,kém môn toán ở đầu năm học của học sinh khối 4 đã lên loại trung bình có em đã đạtđiểm khá. Không phát sinh thêm học sinh nào yếu, kém về môn toán. Số lượng họcsinh yêu thích môn toán ngày càng tăng.Đồng thời, khi vận dụng các giải pháp trên cho toàn trường thực hiện, đến hếthọc kì I chất lượng nâng bậc học sinh yếu, kém về môn toán của trường chúng tôi đãchuyển biến rõ rệt. Toàn trường quyết tâm phấn đấu đến cuối năm học không còn họcsinh nào còn yếu, kém về môn toán.

16

2. Giáo viên phải kịp thời phát hiện ra những học sinh yếu, kém thông qua các hoạtđộng học tập cũng như việc làm bài tập hàng ngày của học sinh và làm các bài kiểmtra định kì.3 . Tìm ra nguyên nhân cùng với những biểu hiện của học sinh yếu kém về mônToán.4. Lập kế hoạch và đề ra các biện pháp phụ đạo cụ thể, rõ ràng; khi lên lớp phảinghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy để đề ra phương pháp và hình thức dạy học thích hợp,giúp các em thích thú học tập và dễ tiếp thu bài.5. Vận dung các phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.Đặc biệt, nếu học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới thì giáo viên phải dạy lạinội dung đó vào các buổi học tăng cường hoặc trong ngay tiết học chính khoá để “lấplỗ hổng kiến thức” cho học sinh.6. Tổ chức các giờ dạy một cách linh hoạt, biết vận dung các trò chơi học tập để kíchthích sự hứng thú của học sinh.7. Trong giảng dạy, giáo viên phải nhẹ nhàng, kiên trì, chịu khó, biết động viên kịpthời khi các em tiến bộ (dù là một tràng vỗ tay của cả lớp hay lời khen của cô) nhưngcũng cần khéo léo nhắc nhở những học sinh có thái độ lơ là đối với nhiệm vụ học tập.8. Thường xuyên liên lạc, trao đổi với phụ huynh học sinh về kết quả học tập của cácem. Biết thông cảm và chia sẻ với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp cácem xoá bỏ những mặc cảm và biết vươn lên trong học tập.9. Tổ chức cho học sinh khá giỏi thường xuyên giúp đỡ những bạn yếu, kém về cáchhọc tập, về phương pháp vận dung kiến thức, giúp các em có phương pháp học tập tốt.10. Áp dụng thường xuyên các biện pháp phụ đạo học sinh yếu, kém môn toán songsong với các môn học khác đối với tất cả học sinh yếu các khối lớp.2. Ý kiến đề xuất:a. Đối với giáo viên:Phải đề cao trách nhiệm của mỗi giáo viên trong việc khắc phục học sinh họcyếu. Bởi vì giáo viên là người chủ đạo trong việc này. Khi lập kế hoạch bài học (tất cảcác tiết học), Giáo viên phải xây dựng các hoạt động học tập phù hợp với từng nhómđối tượng học sinh. Phải có nội dung dạy cho học sinh yếu. Phải tích cực cùng với tổchuyên môn và nhà trường đề ra biện pháp hợp lý và thực hiện có hiệu quả việc khắcphục tình trạng học sinh học yếu.b. Đối với nhà trường:18

19

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dành Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Toán 6

Một số giải pháp dành cho học sinh yếu, kém môn toán 6 trường THCS Nguyễn Huệ, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

Trường THCS Nguyễn Huệ có đội ngũ giáo viên luôn chấp hành tốt quy chế chuyên môn, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác. Tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu, kém.

Trong quá trình giảng dạy môn Toán tại trường THCS Nguyễn Huệ tôi nhận thấy đa số các em có ý thức học tập tốt, có ý chí vươn lên, có tinh thần ham học hỏi.

Qua thực tế giảng dạy môn Toán ở trường THCS Nguyễn Huệ nói chung và lớp 6A nói riêng, năm vừa qua còn một số học sinh chưa thực sự hứng thú cũng như chưa có được những niềm vui trong học tập bộ môn Toán, bản thân một số em có cảm giác ngại học Toán, xem Toán là một bộ môn cực kì khó, và mỗi khi nghe đến tiết Toán là các em không có tâm trí để học. Do đó, hiển nhiên là kết quả học tập của những học sinh này thể hiện qua các bài kiểm tra còn nhiều điểm yếu, điểm kém; nhiều em có xếp loại trung bình môn Toán các học kì và cả năm dưới 5,0; một số em khá giỏi còn bị khống chế bởi môn này.

Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán lớp 6A đầu năm học 2018 – 2019:

môn Toán mà cả những môn học khác nữa.

Là một giáo viên đã gắn bó với nghề nhiều năm, tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn, trăn trở của các em. Bởi vậy, trong quá trình giảng dạy tôi thường xuyên trao đổi, học hỏi đồng nghiệp và tìm tòi những phương pháp thích hợp để giúp các em học sinh yếu, kém yêu thích hơn và học tốt hơn môn toán. Với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường THCS và qua thực tế dạy học tôi đã tìm tòi áp dụng một số giải pháp đem lại thành công. Vì thế tôi mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp dành cho học sinh yếu, kém môn Toán 6 trường THCS Nguyễn Huệ, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai“.

Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng bước hội nhập với thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày càng được chú trọng và quan tâm. Trong sự phát triển chung của nền giáo dục, bộ môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng. Từ đó, mỗi giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước nhà. Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu trong nhà trường. Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn đạt ý đúng bằng lời. Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau này. Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng ngày. Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những người có ích cho xã hội. Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học. Năm học 2014 – 2015 tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian làm quen và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy

Lưu Thị Hạnh

1

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

đa số các em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác hết khả năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh nhẹn trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Một số giáo viên khi giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Mặt khác trường Tiểu học Võ Thị Sáu là một trong những trường có tỷ lệ học sinh đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên toàn huyện, việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm. Từ đó, bản thân luôn suy nghĩ để tìm ra được một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2. Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.” I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2 năm học 2014 – 2015. I.3. Đối tượng nghiên cứu Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2. I.4. Phạm vi nghiên cứu Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk, năm học 2014 – 2015. I.5. Phương pháp nghiên cứu

Lưu Thị Hạnh

2

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan. – Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp. – Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập. – Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại. – Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá. II. PHẦN NỘI DUNG II.1. Cơ sở lý luận Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 11 tuổi, nhìn chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài. Khả năng phân tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể. Về sau các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên nó chính xác dần. Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic, những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát. Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn. Dần dần tư duy và khả năng suy luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do sự hướng dẫn của giáo viên. Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của mình. Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học. Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát. Giáo viên Lưu Thị Hạnh

3

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

4

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

5

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

6

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

7

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Lưu Thị Hạnh

8

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

9

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

viên gọi học sinh lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo viên chuẩn bị cho tiết học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian đúng.

Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả. Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy luận để hiểu được nội dung của bài học. Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở. Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ? Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau : – Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở. – Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ? Lưu Thị Hạnh

10

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ? Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài toán (lấy 63 – 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán. Hình thức hỏi – đáp giữa giáo viên – học sinh giúp giáo viên nhận biết được việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ kịp thời để các em cùng tiến bộ. Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và trong đời sống. Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết. Phương pháp luyện tập được sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm của bộ môn Toán. Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết. Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79). Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11 trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng 1,2. Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?” Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12 mà giáo viên đã chuẩn bị. Lưu Thị Hạnh

11

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

12

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

phép cộng – phép trừ, rồi vận dụng vào giải được bài toán có lời văn và nắm được cách tính độ dài đường gấp khúc. – Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em : + Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10 + Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu cái kẹo ? Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học. Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì. Từ đó, giúp giáo viên và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp. Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em. Sau mỗi tiết dạy giáo viên thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học. Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình tiếp thu bài của các em. Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học và khắc phục những thiếu sót của bản thân. Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn. Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh. Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt tuyến kiến thức Toán học lớp 2 : Lưu Thị Hạnh

13

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

* Tuyến kiến thức về số học : Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5. Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp. Học thuộc bảng cộng – trừ, bảng nhân – chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng vào đời sống thực tiễn có hiệu quả. Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả. Phép cộng : Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25 Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5 Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 9 + 5 = 14. Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau : Viết phép tính theo hàng dọc +

Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 5 = 4 + 1), sau đó lấy 9 + 1 = 10 viết 1 sang hàng chục, 0 + 4 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Với Lưu Thị Hạnh

14

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau : 9+2= 9+3= 9+4= …… 9+9= Thông qua việc học thuộc bảng cộng học sinh khắc sâu được kiến thức, tránh lạm dụng đồ dùng trực quan và vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài tập. Giáo viên cần khuyến kích tìm kết quả bằng nhiều cách, nhận xét đưa ra cách giải nhanh nhất. Bài tập 1 (SGK/15) 9+3=

9+6=

9+8=

9+7=

9+4=

3+9=

6+9=

8+9=

7+9=

4+9=

Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 …). Dựa vào cách tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi). Bài tập 3 (SGK/ 15) 9+6+3=

9+9+1=

9+4+2=

9+5+3=

Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18 Lưu Thị Hạnh

15

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng 29 + 5

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1. * 2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

34

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

25

* 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

74

Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất. Phép trừ : Các bài dạng 12 – 8 ; 32 – 8 ; 52 – 28 Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 – 8 Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 12 – 8 = 4. Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau : Viết phép tính theo cột dọc 12 –

Lưu Thị Hạnh

16

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6), sau đó lấy 12 – 2 – 6 = 10 – 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau : 12 – 8 = (12 + 2) – (8 + 2) =

14

– 10 =

4

Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị. Với cách tính như vậy các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn. Bài tập 1 (SGK/52) 9+3=

8+4=

7+5=

6+6=

3+9=

4+8=

5+7=

12 – 6 =

12 – 9 =

12 – 8 =

12 – 7 =

12 – 3 =

12 – 4 =

12 – 5 =

Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào phép tính. Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b. Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập tiếp theo. Đối với bài 32 – 8 ; 52 – 28, giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng trừ 12 trừ đi một số để làm tính trừ Thực hiện 32 – 8 cách 1 : 32 –

* 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

Lưu Thị Hạnh

* 3 trừ 1 bằng 2, viết 2. 17

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Thực hiện 32 – 8 cách 2 nhẩm như sau : 32 – 8 = (32 + 2 ) – (8 + 2) =

34

10

= 24

* 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1. * 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.

Thực hiện 52 – 28 cách 2 nhẩm như sau : 52 – 28 = (52 + 2 ) – (28 + 2) =

54

30

= 24

Với các bảng trừ khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng trừ và vận dụng vào thực hiện tính trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất. Phép nhân – chia: Trong chương trình môn Toán lớp 2, phép nhân và chia được học từ 2 đến 5. Đây là cơ sở ban đầu để các em tiếp cận với mạch kiến thức nhân – chia thông dụng trong tuyến kiến thức Toán học. Tôi chủ động cho các em nắm được quy luật của từng bài học rồi hướng dẫn các em cách học thuộc và nhớ lâu kiến thức của các bảng nhân – chia. Ví dụ : Bài bảng nhân 2 Trước tiên, giáo viên cho học sinh nắm 2 x 1 = 2 (2 được lấy 1 lần), tiếp đến là các phép nhân 2 x 2 = 4 ; 2 x 3 = 6. Từ kết quả của các phép nhân trên Lưu Thị Hạnh

18

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

giáo viên cho học sinh so sánh và nhận biết được tích của phép nhân liền kề hơn – kém nhau 2 đơn vị, rồi từ đó lập bảng nhân 2 thông qua cách trả lời câu hỏi 2 x 4 = 8 ; 2 x 5 = 10 ; …. 2 x 10 = 20. Sau đó, giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dụng : Bài 1,3 (SGK/95) Học sinh sẽ dễ dàng tính nhẩm nhanh kết quả sau khi các em đã học thuộc bảng nhân 2. Từ bảng nhân 2 học sinh sẽ điền đúng kết quả khi đếm thêm 2 đơn vị. Các bảng nhân khác, giáo viên cũng tiến hành hướng dẫn các em tương tự. Ví dụ : Bài bảng chia 2 Sau khi học sinh đã thuộc bảng nhân 2, giáo viên hướng dẫn các em lập bảng chia dựa vào bảng nhân. Khi các em đã nắm được phép nhân 2 x 6 = 12 thì các em sẽ trả lời được 12 : 2 = 6. Khi các em đã thuộc bảng chia 2 sẽ vận dụng vào làm được bài tập liên quan. * Tuyến kiến thức về giải toán có lời văn : Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như sau : – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần. – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

Lưu Thị Hạnh

19

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải một bài toán. + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán. Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ? – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán. + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. + Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai ? – Tiếp đến giáo viên tóm tắt bài toán bằng hình vẽ như sau : 15 học sinh Học sinh gái 3 học sinh Học sinh trai ? học sinh – Sau khi các em đã nắm được nội dung của bài toán, thông qua tóm tắt tôi hỏi học sinh 1 số câu hỏi gợi mở : + Bài toán này thuộc dạng toán nào đã học ? + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn. Lưu Thị Hạnh

20

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

-Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

-Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

-Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

-Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

II. THỰC TRẠNG:

 * CHUNG

– Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

-Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

-Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

-Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

-Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

Đối với bộ môn toán:

– Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

      9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

      9/2: 8 / 27 (29,63%)

      9/3 : 5 / 31 (16,13%)

      9/4: 6/ 28 (21,43%)

      9/5: 5 / 29  (17,24%)

– Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

– Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

 Cụ thể:  9/1 Yếu: 1; kém: 1

               9/2: yếu: 12; kém: 7

               9/3: yếu: 12; kém : 14

               9/4: yếu: 8; kém: 14

               9/5: yếu: 8; kém: 16

III. NGUYÊN NHÂN

-  Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

– Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

– Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

– Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

– Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

IV. GiẢI PHÁP

  1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ - Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin. -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.– Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.- Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

 Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học  (nghĩa là đối chia huyền)

                                         Cosin không hư  (nghĩa là kề chia huyền)

                                         Tang đoàn kết  (nghĩa là đối chia kề)

                                         Cotang kết đoàn”  (nghĩa là kề chia đối)

Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

V. ĐỀ XUẤT:

*Đối với giáo viên:

-Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

-Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

-Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

-Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

*Đối với phụ huynh:

-Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

-Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

*Đối với BGH:

-Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

-Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.