Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Toán 6

--- Bài mới hơn ---

  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Mũi Nhọn Môn Toán Trường Thpt Hàn Thuyên Năm 2022
  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Trường Thcs Cát Hiệp
  • 3 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Giỏi
  • Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên Và Người Đứng Đầu
  • CHÀO MỪNG BAN GIÁM KHẢO, QUÝ THẦY CÔ

    VỀ DỰ HỘI THI THUYẾT TRÌNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN NĂM 2022

    KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ SỨC KHOẺ !

    Phan Thị Hương – Môn Toán Trường THCS Nguyễn Huệ

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    I. Thực trạng vấn đề

    1. Thuận lợi

    – Trường THCS Nguyễn Huệ có đội ngũ giáo viên luôn chấp hành tốt quy chế chuyên môn, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác. Tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu, kém.

    – Trong quá trình giảng dạy môn Toán tại trường THCS Nguyễn Huệ tôi nhận thấy đa số các em có ý thức học tập tốt, có ý chí vươn lên, có tinh thần ham học hỏi.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    I. Thực trạng vấn đề

    Thuận lợi

    Khó khăn

    Qua thực tế giảng dạy môn Toán ở trường THCS Nguyễn Huệ nói chung và lớp 6A nói riêng, năm vừa qua còn một số học sinh chưa thực sự hứng thú cũng như chưa có được những niềm vui trong học tập bộ môn Toán, bản thân một số em có cảm giác ngại học Toán, xem Toán là một bộ môn cực kì khó, và mỗi khi nghe đến tiết Toán là các em không có tâm trí để học. Do đó, hiển nhiên là kết quả học tập của những học sinh này thể hiện qua các bài kiểm tra còn nhiều điểm yếu, điểm kém; nhiều em có xếp loại trung bình môn Toán các học kì và cả năm dưới 5,0; một số em khá giỏi còn bị khống chế bởi môn này.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    I. Thực trạng vấn đề

    Thuận lợi

    Khó khăn

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    I. Thực trạng vấn đề

    Thuận lợi

    Khó khăn

    Với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường THCS và qua thực tế dạy học tôi đã tìm tòi áp dụng một số giải pháp đem lại thành công.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    I. Thực trạng vấn đề

    Thuận lợi

    Khó khăn

    Vì thế tôi mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp dành cho học sinh yếu, kém môn Toán 6 trường THCS Nguyễn Huệ, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai”.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ nhất: Lý do chọn biện pháp

    I. Thực trạng vấn đề

    Thuận lợi

    Khó khan

    Sự cần thiết của

    giải pháp:

    Dựa vào kết quả trên, việc củng cố kiến thức, phụ đạo học sinh yếu kém là một vấn đề cũng như là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết phải thực hiện của từng giáo viên giảng dạy; làm sao để các em không ngán ngại hay lo sợ khi phải nghe đến môn Toán nữa.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ hai: Nội dung biện pháp

    1. Giải pháp 1: Xây dựng tài liệu vừa sức

    – Đối với học sinh học yếu, kém giáo viên cần phải giúp các em có kiến thức vững chắc trước. Việc luyện tập theo trình độ chung sẽ không phù hợp với học sinh yếu kém, vì vậy những em này cần nhiều thời gian rèn luyện củng cố kiến thức.

    – Trước hết phải làm cho các em hiểu rõ đề bài: Đề bài cho biết cái gì? Yêu cầu làm cái gì?

    – Nếu học sinh không hiểu đề bài thì không thể tiếp tục quá trình giải toán để đưa lại kết quả đúng được. Do đó, giáo viên cần dành nhiều thời gian giúp các em vượt qua được vấp váp đầu tiên này.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ hai: Nội dung biện pháp

    1. Giải pháp 1: Xây dựng tài liệu vừa sức

    Trong quá trình giảng dạy tôi có soạn cho các em học sinh rèn luyện qua “Vở bài tập môn Toán 6”.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ hai: Nội dung biện pháp

    1. Giải pháp 1: Xây dựng tài liệu vừa sức

    Chẳng hạn, đối với bài “Nhân hai số nguyên khác dấu”, hầu hết các bài tập sách giáo khoa ở mức độ khó đối với các em học sinh yếu kém. Do đó, tôi cho các em làm bài tập trong vở bài tập trước.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ hai: Nội dung biện pháp

    1. Giải pháp 1: Xây dựng tài liệu vừa sức

    Hơn nữa, bài “Quy đồng mẫu nhiều phân số” với các em học sinh yếu kém rất là khó, vì thế cần rèn luyện cho các em ở những bài tập đơn giản. Qua đó, nhờ sự tương tự hóa mà các em có thể giải quyết những bài ở mức độ số lớn hơn, thậm chí những bài trong sách giáo khoa.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ hai: Nội dung biện pháp

    1. Giải pháp 1: Xây dựng tài liệu vừa sức

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    HỌC SINH GIỚI THIỆU THÀNH VIÊN ĐỘI MÌNH

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    CÁC PHẦN THI

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    CÁC PHẦN THI

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    CÁC PHẦN THI

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    CÁC PHẦN THI

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    CÁC PHẦN THI

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    2. Giải pháp 2: Học Toán thông qua cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia”

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    3. Giải pháp 3: Tạo hứng thú học tập thông qua trò chơi.

    Trò chơi “Ai nhanh hơn?”

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    3. Giải pháp 3: Tạo hứng thú học tập thông qua trò chơi.

    Trò chơi “Ai nhanh hơn?”

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    3. Giải pháp 3: Tạo hứng thú học tập thông qua trò chơi.

    Trò chơi “Ai nhanh hơn?”

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    3. Giải pháp 3: Tạo hứng thú học tập thông qua trò chơi.

    Trò chơi “Ai nhanh hơn?”

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP DÀNH CHO HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN 6

    TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI

    Phần thứ ba: Kết quả thực hiện biện pháp

    CẢM ƠN BAN GIÁM KHẢO, QUÝ THẦY CÔ

    ĐÃ LẮNG NGHE

    TÔI XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN !

    Phan Thị Hương – Môn Toán Trường THCS Nguyễn Huệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Trong Trường Mầm Non Long Biên
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Vật Lý Theo Mô Hình Cdio”
  • Những Ai Không Nên Đặt Vòng Tránh Thai?
  • Quy Định An Toàn Làm Việc Trên Cao
  • Huấn Luyện An Toàn Lao Động Làm Việc Trên Cao
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

     * CHUNG

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

          9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

          9/2: 8 / 27 (29,63%)

          9/3 : 5 / 31 (16,13%)

          9/4: 6/ 28 (21,43%)

          9/5: 5 / 29  (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

     Cụ thể:  9/1 Yếu: 1; kém: 1

                   9/2: yếu: 12; kém: 7

                   9/3: yếu: 12; kém : 14

                   9/4: yếu: 8; kém: 14

                   9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    -  Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

      1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

     - Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

     -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    - Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

     Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học  (nghĩa là đối chia huyền)

                                             Cosin không hư  (nghĩa là kề chia huyền)

                                             Tang đoàn kết  (nghĩa là đối chia kề)

                                             Cotang kết đoàn”  (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    V. ĐỀ XUẤT:

    *Đối với giáo viên:

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    *Đối với phụ huynh:

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    *Đối với BGH:

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Toán 6
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Mũi Nhọn Môn Toán Trường Thpt Hàn Thuyên Năm 2022
  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Trường Thcs Cát Hiệp
  • 3 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Giỏi
  • PHÒNG GD&ĐT HỮU LŨNG

    Trường THCS Hòa Sơn

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hòa Sơn, ngày 25 tháng 9 năm 2010

    KẾ HOẠCH

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN

    Họ và tên: Từ Văn Nghiêm

    Tổ: Khoa học – Tự nhiên

    Trường THCS Hòa Sơn

    Huyện Hữu Lũng-Tỉnh Lạng Sơn

    I.Căn cứ xây dựng kế hoạch:

    – Công văn 659/PGD &ĐT-CM V/v tổ chức hội thảo ” Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011 và giai đoạn 2010 – 2022″

    – Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của BGH ngày: 16/9/2010V/v thực hiện công văn 659/PGD &ĐT-CM V/v tổ chức hội thảo ” Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011 và giai đoạn 2010 – 2022″

    -Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của tổ chuyên môn ngày 17/9/2010 V/v chỉ đạo của BGH

    16/9/2010V/v thực hiện công văn 659/PGD &ĐT-CM V/v tổ chức hội thảo ” Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011 và giai đoạn 2010 – 2022″.

    -Căn cứ vào kết quả khảo sát chất lượng đầu năm.

    – Căn cứ vào nhiệm vụ được phân công.

    II. Thực trạng chất lượng giáo dục:

    Thực trạng:

    -Chất lượng giáo dục thấp, tỉ lệ HSKG chưa cao, trong những năm học gần đây không có HSG cấp huyện.

    -Tình trạng HS

    1Thuận lợi:

    -BGH có kế hoạch chỉ đạo sát sao,thông suốt từ tổ chuyên môn đến giáo viên.

    -Hầu hết giáo viên đạt trình độ chuẩn.

    -Trẻ khỏe, có năng lực ,tâm huyết với nghề, và có trình độ tin học.

    – Học sinh đi học đúng độ tuổi, được trang bị đầy đủ vở và SGK

    2. Khó khăn:

    -Hầu hết HS xuất thân trong gia đình làm nghề nông cho nên các em chưa đầu tư thời gian vào việc học.

    -Phụ huynh HS chưa thực sự quan tâm đến việc học của con.

    -Nhận thức việc học tập của các em chưa đồng đều vì ý thức HS chưa cao.

    -Tình trạng HS bỏ học vẫn xảy ra thường xuyên

    3.Nguyên nhân:

    a.Về phía HS:

    -Quá lười học.

    -HS diễn đạt nghèo vốn từ.

    -Nhận thức chậm

    -Không ham đọc sách.

    -Chưa có kiến thức tổng hợp.

    -Chưa biết cách tự học, tiếp thu kiến thức một cách thụ động.

    -Sa vào các tệ nạn xã hội: Chát, game.

    – Thời gian để học sinh ôn luyện quá ngắn

    b.Về phía giáo viên:

    -Phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa thực sự phù hợp với mọi đối tượng HS.

    – GV chưa đầu tư thời gian cho bài dạy.

    – Chưa tìm tài liệu phù hợp với đối tượng HS (Khi ôn luyện HSG), thời gian ôn luyện ngắn.

    – Chưa khai thác triệt để thiết bị dạy học.

    – GV còn trẻ nên chua có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy

    c.Phân phối chương trình.

    – Chưa phù hợp, số tiết ôn tập cuối chương còn ít nên chất lượng bài kiểm tra chưa cao.

    d.Sách giáo khoa.

    -Bài tập vận dụng cuối mỗi bài học còn hạn chế.

    III. Những mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục,nâng cao học sinh khá giỏi.

    1. Mục tiêu:

    – Nâng cao chất lượng giáo dục, tỉ lệ học sinh khá giỏi, giảm tối đa học sinh yếu kém

    2. Chỉ tiêu:

    * Môn to¸n 6:

    Stt

    Số hsGiỏiKháTBYếuTừ TB trở lên

    SLTỉ lệSLTỉ lệSLTỉ lệSLTỉ lệSLTỉ lệ

    17245,62534,73041,61318,15981,9

    3. Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục

    a.Về phía giáo viên.

    -GV tìm hiểu hs, phân loại hs .

    -Hướng dẫn hs cách tự học, quan tâm, lắng nghe thấu hiểu hs bằng tình thương của người thầy.

    -Phụ đạo HSYK, bồi dưỡng HSKG.

    -Tổ chuyên môn dự giờ trao đổi kinh nghiệm phương pháp dạy học tích cực, thống nhất phương pháp giảng dạy.Sinh hoạt theo cụm trường để học hỏi lẫn nhau.

    -Tích cực học hỏi để nâng cao trình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Trong Trường Mầm Non Long Biên
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Tâm Lí Xã Hội Trong Trường Mầm Non
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dành Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Toán 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biện Pháp Chủ Yếu Trong Việc Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Trong Hoạt Động Xuất Khẩu
  • Xác Định Và Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Các Đoạn Trích Sau
  • Bài 23: Vai Trò Và Tác Dụng Của Một Số Biện Pháp Tu Từ
  • Bí Quyết Đạt Điểm Tuyệt Đối Phần Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Tác Dụng Và Cách Ghi Nhớ
  • Một số giải pháp dành cho học sinh yếu, kém môn toán 6 trường THCS Nguyễn Huệ, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

    Trường THCS Nguyễn Huệ có đội ngũ giáo viên luôn chấp hành tốt quy chế chuyên môn, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác. Tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu, kém.

    Trong quá trình giảng dạy môn Toán tại trường THCS Nguyễn Huệ tôi nhận thấy đa số các em có ý thức học tập tốt, có ý chí vươn lên, có tinh thần ham học hỏi.

    Qua thực tế giảng dạy môn Toán ở trường THCS Nguyễn Huệ nói chung và lớp 6A nói riêng, năm vừa qua còn một số học sinh chưa thực sự hứng thú cũng như chưa có được những niềm vui trong học tập bộ môn Toán, bản thân một số em có cảm giác ngại học Toán, xem Toán là một bộ môn cực kì khó, và mỗi khi nghe đến tiết Toán là các em không có tâm trí để học. Do đó, hiển nhiên là kết quả học tập của những học sinh này thể hiện qua các bài kiểm tra còn nhiều điểm yếu, điểm kém; nhiều em có xếp loại trung bình môn Toán các học kì và cả năm dưới 5,0; một số em khá giỏi còn bị khống chế bởi môn này.

    Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán lớp 6A đầu năm học 2022 – 2022:

    môn Toán mà cả những môn học khác nữa.

    Là một giáo viên đã gắn bó với nghề nhiều năm, tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn, trăn trở của các em. Bởi vậy, trong quá trình giảng dạy tôi thường xuyên trao đổi, học hỏi đồng nghiệp và tìm tòi những phương pháp thích hợp để giúp các em học sinh yếu, kém yêu thích hơn và học tốt hơn môn toán. Với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường THCS và qua thực tế dạy học tôi đã tìm tòi áp dụng một số giải pháp đem lại thành công. Vì thế tôi mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp dành cho học sinh yếu, kém môn Toán 6 trường THCS Nguyễn Huệ, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai“.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Của Trường Tiểu Học Tân Điền, Huyện Đầm Dơi
  • Chất Thải Rắn Là Gì? Giải Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Bến Tre: Nhiều Giải Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Giải Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Các Biện Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh
  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN

    I. Bối cảnh chất lượng bộ môn toán đầu năm học 2008-2009 của nhà trường và những nguyên nhân.

    Qua khảo sát chất lượng đầu năm học ở bộ môn toán các khối lớp từ 6 đến 9 có kết quả cụ thể như sau:

    Với con số đã nêu kết hợp với thực tế nắm bắt phần nào phản ánh chất lượng bộ môn toán vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và phụ huynh. Sở dĩ chất lượng đầu vào có tỉ lệ thấp như vậy là do nhiều nguyên nhân. Có thể nêu ra đây một số nguyên nhân để cùng tham khảo.

    1. Đặc điểm rõ nét nhất của ngôi trường THCS Chu Văn An là ngôi trường đặt ở vị trí không trung tâm, đường sá đi lại không thuận lợi, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại ở cạnh 2 ngôi trường lớp có điều kiện thuận lợi hơn về nhiều mặt. Bên cạnh đó dự án trường sắp chuyển đi nơi khác phần nào gây tâm lý hoang mang nên sức thu hút học sinh ngày càng giảm sút. Đặc biệt số học sinh giỏi ở trường Lê Văn Tám chuyển đi nơi khác ngày càng nhiều gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng mũi ngọn cũng như tạo hạt nhân cho phong trào thi đua học tốt của nhà trường.

    2. Trên địa bàn Phường An Sơn có một số khu dân cư do đặc điểm nghề nghiệp nên việc quan tâm đến việc học tập của con em cũng chưa cao, môi trường sinh hoạt cũng phần nào ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Trường thu hút con em thuộc địa bàn (khu Bến Sạn, làng giết mổ An Thổ, nay lại thêm các tụ điểm vui chơi Karaoke, bi da, café, các quán nhậu mọc lên rất nhiều trên địa bàn phường).

    3. Chất lượng đầu vào lớp 6 còn thấp. Trình trạng ngồi nhầm lớp vẫn còn làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của các em.

    4. Một số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt về hạnh phúc gia đình, về hoàn cảnh kinh tế. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    5. Một bộ phận học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập, chưa thực sự có tinh thần vượt khó, vươn lên mà còn chây lười, thụ động trong học tập.

    6. Do đặc điểm của môn toán là bộ môn suy luận loogic, nó đòi hỏi học sinh không những phải nắm vững kiếm thức về định nghĩa, định lý, hệ quả, tính chất, quy tắc,… một cách cơ bản có hệ thống mà còn phải biết suy luận, phân tích, tổng hợp, lập luận. Nói chung, là bộ môn hơi khó học nên tỉ lệ học sinh yếu kém tương đối cao so với các môn khác.

    7. Một số em vì nhiều lí do khác nhau đã hỏng kiến thức cũ, nay lại phải tiếp thu kiến thức mới nên rất vất vả, đâm ra chán nãn, chây lười, quậy phá dẫn đến chất lượng yếu kém.8. Về phần giáo viên: Một bộ phận giáo viên vẫn chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nên việc dạy học ở một số tiết chưa thực sự có chất lượng.

    II. Những giải pháp mà nhóm đã thực hiện nhằm từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán.

    Qua thực tế tình hình chất lượng, nhóm đã suy nghĩ, đánh giá và bàn bạc biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng yếu kém bộ môn toán, cụ thể như sau:

    1. Ngay từ đầu năm học các giáo viên bộ môn điều tra, nắm chắc đối tượng học sinh yếu kém môn toán của lớp mình đang giảng dạy là bao nhiêu? Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân loại đặc điểm từng đối tượng: Yếu do hoàn cảnh gia đình? Yếu do hỏng kiến thức cũ? Yếu do lười học? Yếu do trí tuệ hạn chế? Yếu vì ảnh hưởng môi trường bạn bè? Để có thái độ và biện pháp thích hợp.

    2. Trên cơ sở điểu tra phân loại ban đầu mà giáo viên có cách nhìn nhận và thái độ ứng xử cho phù hợp: Nhẹ nhàng, bảo ban, động viên, khích lệ đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc mất căn bản, đồng thời nghiêm nghị, cứng rắn đối với các em chây lười, quậy phá với mục đích chung là để các em phấn khởi, tin tưởng và nổ lực trong học tập.

    3. Trong giảng dạy nói chung và trong từng bài học cụ thể, phải có sự chú ý giúp đỡ đối tượng yếu, kém thông qua câu hỏi gợi mở, bài tập (công việc này phải thực hiện ngay trong thiết kế bài giảng, và ngay cả kiểm tra bài cũ cũng có những câu hỏi dành cho học sinh yếu kém để động viên, diều dắt các em.

    4. Thường xuyên động viên, hướng dẫn các em cần phải nắm vững lý thuyết, vì kiến thức toán học là môn suy luận loogic nếu không nắm vững hệ thống lý thuyết thì không thể hiểu được khi nghe giảng chứ chưa nói gì việc giải bài toán. Để làm được việc này thì giáo viên cần giúp đỡ học sinh cách học dễ ghi nhớ, dễ thuộc, lâu quên. Có thể là như: Công thức thì luôn ghi nhiều nơi ở nhà để lúc nào cũng đập vào mắt buộc phải nhớ hoặc ghi vào sổ tay bỏ túi thỉnh thoảng mở ra xem dù bất cứ ở đâu. Học định lý thì phải vẽ hình, từ hình vẽ tưởng tượng đó để suy luận xây dựng thành lời, thỉnh thoảng giáo viên còn cung cấp thơ vui để các em dễ nhớ, dễ vận dụng.

    5. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh quy trình các bước giải một bài toán.

    B1: Tìm hiểu về bài toán: Đọc thật kỹ đề toán. Cú ý các chi tiết nổi bậc, khắc sâu từng ý cơ bản là lưu ý mối quan hệ của chúng.

    B2: Tìm lời giải: Xét xem bài toán thuộc dạng nào? Phương pháp chứng minh ra sao?

    B3: Thực hiện lời giảng: Trình bày bài viết lập luận của mình

    B4: Kiểm tra lại bài giải và thử tìm xem phương pháp khác để giải bài toán trên hoặc phát triển một bài toán mới từ bài toán đã cho.

    Đặc biệt khi giảng dạy hình học ta cần hướng dẫn các em phương pháp chứng minh bằng con đường phân tích đi lên một cách có hệ thống. Trước tiên bằng câu hỏi tổng quát dành cho học sinh giỏi, sau đó triển khai phương pháp bằng một loạt câu hỏi dẫn dắt để học sinh yếu kém tham gia xây dựng theo cơ sở phân tích. Tiếp theo yêu cầu đối tượng khá giỏi trình bày bài toán giải bằng lời và cuối cùng cho đối tượng cho đối tượng yếu kém trình bày lại bài viết để lớp nhận xét, bổ sung. Thực hiện theo quy trình này tuy mất thời gian nhưng thà rằng làm ít mà chắc, phục vụ nhiều cho đối tượng yếu, kém còn hơn là dạy nhiều nhưng chỉ phục vụ cho học sinh khá, giỏi. Do vậy, bài tập cần nghiên cứu phân dạng để rồi mỗi dạng chỉ giải một bài mẫu, các bài còn lại học sinh về nhà làm tương tự theo cách đã giải.

    6. Giáo viên cần chú ý và coi trọng bước hướng dẫn về nhà. Để giúp cho học sinh yếu, kém có thể tiếp thu bài mới thì giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài mới và đề ra các yêu cầu cần thiết để học sinh chuẩn bị. Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “Góc có đỉnh bên trong và ngoài đường tròn” thì yêu cầu học sinh về học lại tính chất góc ngoài của một tam giác ở hình học 7, tính chất góc nội tiếp ở hình học 9. Có như thế thì việc hiểu được chứng minh định lý của bài trên đối với học sinh yếu, kém là dễ dàng. Nếu không có hướng dẫn trước thì các em không biết chuẩn bị điều gì và dẫn đến việc tiếp thu bài mới rất khó khăn.

    7. Giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân đôi bạn học tập hoặc nhóm bạn học tập (cơ cấu có đối tượng khá, giỏi và yếu, kém với nhau) trong đó chú ý giao nhiệm vụ cho các học sinh khá, giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém và cần thiết đề ra các biện pháp cụ thể để thúc đẩy việc hoạt động của các nhóm có hiệu quả. Ví dụ: khi được kiểm tra đối tượng yếu, kém của nhóm mà không thuộc bài hoặc chưa làm bài thì cả nhóm cùng liên đới chịu trách nhiệm). Có như thế các em mới nhắc nhở, giúp đỡ nhau tích cực.

    8. Giáo viên cần tận dụng các tiết phụ đạo hoặc bám sát để củng cố, hệ thống, ôn tập lại các kiến thức đã học. Cung cấp cho các em phương pháp chứng minh. Việc này rất cần thiết đối với học sinh yếu, kém. Và đây cũng là dịp để giáo viên tháo gỡ những băn khoăn, thắc mắc của học sinh, muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải phân giải, thân thiện để các em mạnh dạn tỏ bày những trăn trở trong việc học toán (giáo viên nên động viên khuyến khích các đối tượng yếu, kém hỏi.Việc tháo gỡ được nhiều thắc mắc này cho các em xem như một thành công lớn của một tiết dạy bằng các hình thức phong phú để tạo không khí vui vẻ, thỏa mái, thích thú trong học tập (Chú ý các tiết sinh hoạt này nhằm đế các đối tượng yếu, kém là chính để đảm bảo mục đích từng bước nâng cao chất lượng học toán của học sinh yếu kém).

    9. Giáo viên thỉnh thoảng liên hệ với phụ huynh qua điện thoại (Ghi chép ở giáo viên chủ nhiệm) những trường hợp cần thiết nhằm mục đích phối hợp để giáo dục tốt. (nếu đối tượng có nhiều tiến bộ đáng khen thì báo phụ huynh biết để mừng và tiếp tục động viên – nếu đối tượng chậm tiến bộ, ì ạch, chây lười thì cũng báo để phụ huynh biết và cùng phối kết hợp nhắc nhở, động viên, giáo dục thích đáng hơn).

    III. Kết luận:

    Với những công việc là cụ thể bằng những biện pháp tích hợp nêu trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn toán từng bước có chuyển biến, tiến bộ. Một số em đã từng lo sợ môn học này, nay lại có khuynh hướng thích học. Từng bước gây được không khí ham học, tỷ lệ yếu, kém giảm dần. Chất lượng thống kê cuối năm 2008-2009 cho thấy điều đó.

    IV. Những bài học kinh nghiệm:

    Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, bằng các việc làm cụ thể, bằng biện pháp thích hợp, chúng tôi rút ra được một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán như sau:

    1. Phải yêu nghề, mến trẻ, luôn tận tâm với công việc, hết lòng hết sức với học sinh thân yêu.

    2. Luôn khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành tư duy tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề ở học sinh.

    3. Kết hợp chặt chẻ giữa ôn bài cũ, giảng bài mới, rèn luyện kỹ năng tư duy, phương pháp học tập, từng bước nâng cao năng lực lập luận, phân tích, tổng hợp cho học sinh.

    4. Tăng cường học tập cá thể với học tập nhóm, phải có mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường tìm tòi, phát hiện kiến thức mới.

    5. Phát huy vai trò chủ động của học sinh, phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh, nhận xét, góp ý cách phát biểu, cách làm bài của bạn, trách vấp phải sai lầm, tìm nguyên nhân sai lầm và nêu cách sửa chữa.

    6. Giáo viên cần phải chuẩn bị bài kỹ, phân loại các bài tập, phân loại phương pháp giải, phân loại theo mức độ phát triển tư duy.

    7. Giáo viên dạy toán cần quán triệt tinh thần “Tư duy quan trọng hơn kiến thức; nắm vững phương pháp hơn thuộc lý thuyết, dạy cách suy nghĩ, cách tư duy, cách phân tích, cách tổng hợp và thường xuyên cung cấp cho các em phương pháp học toán”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Bê Tông Tiết Kiệm Chi Phí ?
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • SKKN nâng cao chất lượng môn toán lớp 5

    Năm học : 2006 – 2007

    Phần mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2006-2007 là năm học đổi mới chương trình và thay SGK lớp 5; là năm học tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    Giáo viên trường TH chúng tôi đã triển khai thực hiện những thay đổi theo phương pháp dạy học mới. Mục đích giáo dục tiểu học được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn. Với chương trình mới, chúng ta đã và đang từng bước thay đổi nội dung dạy học cho nên người giáo viên cần tập trung đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh”. Vậy để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh về môn Toán cần có phương pháp dạy học phù hợp: phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi cửa học sinh, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường… Thực tế bản thân tôi, giáo viên trường tôi đã vận dụng thành thạo các phương pháp dạy học truyền thống vào dạy toán như: giảng giải, vấn đáp, trực quan… Ngoài những phương pháp này, hình thức thầy tổ chức trò hoạt động đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nhiều phương pháp và các kĩ thuật khác nữa. Chẳng hạn: phải biết theo dõi từng học sinh trong quá trình giải bài tập để kịp thời giúp đỡ học sinh yếu, giao việc cho học sinh giỏi, phải biết cách nhanh chóng chia lớp thành nhóm để tổ chức giải câu đố toán học, phải biết cách làm mẫu khi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học… Giáo viên trường tôi tuy đã biết về các kĩ thuật dạy học nói trên nhưng chưa thành thục khi sử dụng chúng, giáo viên ngại sử dụng hoặc chỉ lạm dụng một vài kĩ thuật nào đó mà thôi. Đây chính là điểm yếu của tôi, của giáo viên trường tôi và cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu áp dụng giảng dạy tại lớp 5B (lớp tôi chủ nhiệm) trong năm học 2006-2007 này nhằm nâng cao chất lượng của lớp.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Tìm hiểu nội dung dạy học toán và nghiên cứu một số biện pháp cải tiến phương pháp, hình thức dạy học toán để áp dụng nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    Phương pháp dạy học Toán của giáo viên ở trường TH

    Học sinh 5B (lớp tôi chủ nhiệm).

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Tìm hiểu thực trạng dạy học toán ở trường TH , rút kinh nghiệm, có một số biện pháp cải tiến phương pháp dạy học toán nhằm n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Vĩnh Thới

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Thực Hành Môn Tin Học 4
  • Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ Mầm Non
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

    9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

    9/2: 8 / 27 (29,63%)

    9/3 : 5 / 31 (16,13%)

    9/4: 6/ 28 (21,43%)

    9/5: 5 / 29 (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

    9/2: yếu: 12; kém: 7

    9/3: yếu: 12; kém : 14

    9/4: yếu: 8; kém: 14

    9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    – Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

    1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

    – Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

    -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    – Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

    Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học (nghĩa là đối chia huyền)

    Cosin không hư (nghĩa là kề chia huyền)

    Tang đoàn kết (nghĩa là đối chia kề)

    Cotang kết đoàn” (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Luận Văn Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Trung Dài Hạn Tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quân Đội
  • Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?
  • Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Dạy học Toán học không chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là giúp học sinh nhận thức một số kiến thức, kỹ năng cụ thể mà bằng cách dạy nào đó giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động, phát triển năng lực sáng tạo. Với những môn học tự nhiên như Toán rất khô khan nên học sinh không hứng thú học dẫn đến chất lượng bộ môn thấp. Như vậy để học sinh học tốt môn Toán, đòi hỏi người giáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo ra những hình thức dạy học sinh động, để học sinh say mê thật sự. Vì vậy, tôi nghiên cứu tìm ra giải pháp: ” sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán” giúp các em yêu thích và hứng thú môn học này. Tôi tiến hành nghiên cứu từ sau khi có kết quả điểm khảo sát. Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương ở hai lớp 6 của trường THCS Phương Thịnh. Lớp 6A2 là thực nghiệm, lớp 6A3 là kiểm chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế là áp dụng các trò chơi tích cực trong học tập môn Toán. Kết quả cho thấy: Tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến sự hứng thú, thái độ và kết quả học tập của học sinh. Lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng.

    ĐỀ TÀI: "GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN Ở LỚP 6A2 THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI" Người thực hiện: Phan Thị Thanh Hiền. Đơn vị: Trường THCS Phương Thịnh. I. TÓM TẮT: Dạy học Toán học không chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là giúp học sinh nhận thức một số kiến thức, kỹ năng cụ thể mà bằng cách dạy nào đó giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động, phát triển năng lực sáng tạo. Với những môn học tự nhiên như Toán rất khô khan nên học sinh không hứng thú học dẫn đến chất lượng bộ môn thấp. Như vậy để học sinh học tốt môn Toán, đòi hỏi người giáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo ra những hình thức dạy học sinh động, để học sinh say mê thật sự. Vì vậy, tôi nghiên cứu tìm ra giải pháp: " sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán" giúp các em yêu thích và hứng thú môn học này. Tôi tiến hành nghiên cứu từ sau khi có kết quả điểm khảo sát. Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương ở hai lớp 6 của trường THCS Phương Thịnh. Lớp 6A2 là thực nghiệm, lớp 6A3 là kiểm chứng. Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế là áp dụng các trò chơi tích cực trong học tập môn Toán. Kết quả cho thấy: Tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến sự hứng thú, thái độ và kết quả học tập của học sinh. Lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. II. GIỚI THIỆU: Môn Toán trung học cơ sở có hai phân môn: phân môn Đại Số và phân môn Hình Học. Ở mỗi phân môn lại được chia ra thành hai nội dung: Lí Thuyết và Bài Tập. Cùng với mỗi phân môn lại có những nét đặc trưng riêng biệt, cho nên việc sử dụng các phương pháp dạy học cũng đòi hỏi phải linh hoạt theo từng phân môn và nội dung của từng bài học cụ thể. Toán là môn học với những hình và số rất khô khan, nhàm chán. Do đó ở trường THCS thì không phải em nào cũng có khả năng học tốt môn Toán. Trong nhà trường cũng có một số ít các em thích học môn Toán. Tuy nhiên thích là một lẽ, nhưng học thì lại khác. Đa số học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học vì vậy ảnh hưởng không ít đến việc tiếp thu bài của các em. Để thay đổi hiện trạng trên đòi hỏi người giáo viên phải tìm ra những phương pháp dạy học hợp lí đối với từng phân môn cụ thể trong giảng dạy Toán nhưng phải đáp ứng được yêu cầu vừa thu hút học sinh vừa nâng cao được hiệu quả, chất lượng giáo dục. Với học sinh THCS nói chung, các em học sinh khối 6 nói riêng thường có tâm lí thích chơi hơn thích học. Do vậy, nhằm tạo không khí sinh động, thu hút học sinh, giúp học sinh thoải mái trong học tập mà ta có thể trong quá trình học lồng ghép vào một số trò chơi mang tính chất học mà chơi, chơi mà học, vừa chơi vừa tiếp thu kiến thức thông qua các trò chơi. Đó là lí do tôi thực hiện nghiên cứu" Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán ở lớp 6A2 thông qua phương pháp trò chơi trong học dạy học". * Giải pháp thay thế: Trong quá trình dạy học, tôi sử dung các trò chơi tích cực để giúp các em nhận thức các kiến thức, kỹ năng; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo. * Vấn đề nghiên cứu: Việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán có làm tăng hứng thú, kết quả học tập học tập của học sinh không? * Giả thuyết nghiên cứu: Việc sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán sẽ làm tăng hứng thú, kết quả học tập học tập của học sinh . Minh họa bằng sơ đồ: PPDH chưa thu hút; phát huy tính tích cực, chủ động của HS HS ham chơi, lười học Phụ huynh chưa quan tâm Đồ dùng, điều kiện lớp học chưa đáp ứng Lớp học đông HS không có khả năng HS học chưa tốt môn Toán Hiện trạng Chọn nguyên nhân Sơ đồ 1: Tìm và chọn nguyên nhân Học thông qua trò chơi Trực quan sinh động (ĐDDH trực quan, minh hoạ trực quan) Thực hành, luyện tập Học theo nhóm Nêu và giải quyết vấn đề Thuyết trình vấn đáp Một số PPDH tích cực áp dụng trong môn Toán Giải pháp Chọn giải pháp Sơ đồ 2: Tìm và chọn giải pháp Sáng kiến kinh nghiệm: " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" thông qua các trò chơi trong các tiết dạy học môn Toán của cô giáo Phan Thị Thu Ba, trường THCS Ấn Tây. III. PHƯƠNG PHÁP: 1. Khách thể nghiên cứu: Tôi lựa chọn trường THCS Phương Thịnh , vì đây là nơi tôi đang công tác, là nơi có điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện nghiên cứu của mình. Trường gồm 11 lớp. Và tôi được phân công trực tiếp giảng dạy môn Toán các lớp 6A2, 6A3, 9A1. Tôi chọn nghiên cứu trên hai lớp 6 của trường do hai lớp này có tương đồng về sĩ số, tỉ lệ giới tính. Bảng 1: Sĩ số học sinh, tỉ lệ giới tính: Lớp Số học sinh Giới tính Nam Nữ Lớp 6A2 40 21 19 Lớp 6A3 38 20 18 Về ý thức học tập: Tất cả học sinh ở hai lớp này đều tích cực, chủ động. Về kết quả học tập: năm học trước hai lớp tương đương nhau về điểm số của môn Toán. 2. Thiết kế nghiên cứu: Chọn hai lớp nguyên vẹn: Lớp 6A2 là nhóm thực nghiệm và lớp 6A3 là nhóm đối chứng. Tôi dùng bài kiểm tra khảo sát đầu năm làm bài kiểm tra trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy: Điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau. Do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động. Có kết quả như sau: Bảng 2: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương: Đối chứng(6A3) Thực nghiệm(6A2) Điểm trung bình cộng 4,95 4,9525 P = 0,992300178 Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương (được mô tả ở bảng 3). Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu: Nhóm Kiểm tra trước tác động Tác động Kiểm tra sau tác động Thực nghiệm (6A2) 01 Dạy học có sử dụng các phương pháp trò chơi để truyền tải kiến thức. 03 Đối chứng (6A3) 02 Dạy học không sử dụng các phương pháp trò chơi để truyền tải kiến thức. 04 Ở thiết kế này, tôi sử dụng phét kiểm chứng T-Test độc lập. 3. Quy trình nghiên cứu: - Tôi thực hiện tác động ở lớp thực nghiệm là trong các tiết học tùy theo từng phân môn mà áp dụng các trò chơi tích cực. Còn đối với lớp đối chứng tôi sử dụng các phương pháp dạy học như bình thường không áp dụng các phương pháp trò chơi. - Tác động được kéo dài trong suốt quá trình học. Cụ thể là bắt đầu từ tuần học thứ 4 , sau khi trường tôi cho khảo sát đầu năm ở 2 lớp đến kết thúc học kì I. - Một số trò chơi điển hình trong tiết dạy học Toán như: ¯ Trò chơi " Chung sức". ¯ Trò chơi " Thử tài thông minh". ¯ Trò chơi " Cùng nhau leo núi". ¯ Trò chơi " Ai thấy sai chỉ giúp". ¯ Trò chơi " Ai tìm được nhiều hơn?". ¯ Trò chơi " Từ điển Hán Việt". ¯ Trò chơi " Nhà sáng tạo trẻ". ¯ Trò chơi " Ai cao điểm hơn?". ¯ Trò chơi " Thử tài trí nhớ". ¯ trò chơi " Ai nhanh hơn". 4. Các phương pháp sử dụng trong đề tài: Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp quan sát : Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu, quan sát các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh. - Phương pháp đối thoại : Trực tiếp trò chuyện với học sinh để cập nhật những thơng tin phản hồi từ học sinh cho phương pháp điều tra. - Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ đạo nhằm thu thập những số liệu, hiện tượng từ đó phát hiện ra vấn đề cần giải quyết thực hiện phương pháp này dưới dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở trong phiếu điều tra để lấy ý kiến học sinh về việc hứng thú học Toán, của học sinh ở trường THCS trong quá trình dạy học. - Phương pháp đối chứng: Thông qua các bài kiểm tra để thấy được kết quả của một qúa trình nghiên cứu của học sinh ở trường THCS có hiệu quả hay không. - Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu đi đến kết luận phù hợp với giả thuyết khoa học. 5. Đo lường và thu thập dữ liệu: Bài kiểm tra trước tác động: Tôi lấy điểm bài kiểm tra khảo sát đầu năm. Bài kiểm tra sau tác động: Là kết quả trung bình môn Toán của học kì I năm học 2011- 2012. Xây dựng thang đo hứng thú, thái độ trước và sau tác động với lớp thực nghiệm và lớp đối chứng nhằm đánh giá hứng thú, thái độ học tập môn Toán của hai lớp. Hình thức là phát phiếu thăm dò cho 2 lớp. Học sinh chọn đáp án nào thì gạch chéo vào đáp án mình chọn. Bảng 4: Bảng câu hỏi đo hứng thú, thái độ trước và sau tác động của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng: STT Câu hỏi Đồng ý Không đồng ý 1 Tôi chắc chắn tôi có khả năng học tốt môn Toán 2 Các tiết học Toán luôn làm tôi thấy thú vị 3 Tôi luôn tham gia xây dựng bài trong tiết học 4 Toán không quan trọng trong việc học của tôi 5 Tôi tin mình có thể giải được bất kì bài Toán nào 6 7 Kiến thức về Toán sẽ giúp tôi giải quyết được một số vấn đề trong cuộc sống Chân thành cảm ơn sự hợp tác của các em! Chúc em mạnh khoẻ, học giỏi. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ: Bảng 5: Phân tích kết qủa đạt được của nghiên cứu thông qua các bài kiểm tra sau tác động: Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm HS Trước TĐ Sau TĐ Trước TĐ Sau TĐ Giá trị trung bình cộng 4,95 5,50526316 4,9525 6,602 Độ lệch chuẩn 1,146498783 1,13992588 1,13272702 1,134301999 Giá trị T-test độc lập, p= 0,00005624 Chêng lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) 0,96474417 Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả p = 0,00005624 < 0,05, cho thấy: sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn: SMD = . Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy học có "sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán" đến TBC học tập của nhóm thực nghiệm là rất lớn. Hình 1. Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng Từ đó: giả thuyết của đề tài: "sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn Toán" sẽ làm tăng kết quả học tập của học sinh đã được kiểm chứng. Bảng 6 : Tổng hợp kết quả đo lường về thái độ hứng thú học tập trong quá trình nghiên cứu. TT Câu hỏi Lớp đối chứng (6A3) Lớp thực nghiệm (6A2) Trước TĐ Sau TĐ Trước TĐ Sau TĐ 1 Tôi chắc chắn tôi có khả năng học tốt môn Toán 9/38 23,08% 11/38 28,2% 11/40 27,5% 25/40 62,5% 2 Các tiết học Toán luôn làm tôi thấy thú vị 15/38 38,49% 17/38 43,6% 15/40 37,5% 35/40 87,5% 3 Tôi luôn tham gia xây dựng bài trong tiết học 8/38 20,5% 12/38 30,8% ... 82 + 92 = 22 + 33 = 23 = 92 = 32 = Đội A Đội B d) Trò chơi " Ai thấy sai chỉ giúp": Cách chơi: Tuỳ lúc thích hợp trong tiết học giáo viên đưa bài toán có lời giải sai lên bảng. Các đội hội ý trong 3 phút để truy tìm ra chỗ chưa chính xác của bài toán. Đội chiến thắng là đội tìm ra trước chỗ sai của bài toán và sửa lại. Ví dụ: Khi dạy bài: " Thứ tự thực hiện các phép tính", giáo viên đưa ra lời giải của bài toán thực hiên phép tính như sau: 62 : 4 . 3 + 2 . 52 = 12 : 4 . 3 + 2 . 10 = 3 . 3 + 2 . 10 = 9 + 2 . 10 = 11 . 10 = 110. Cho hoc sinh các đội bàn bạc trong 5 phút để đưa ra chỗ sai và sửa lại cho đúng. e) Trò chơi " Ai tìm được nhiều hơn?": Cách chơi: Trong 3 phút, đội nào tìm được nhiều hình, hoặc nhiều số,...( ghi lên bảng nhóm) chính xác hơn thì đội đó chiến thắng. Ví dụ: Khi dạy các bài: " Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5", hoặc " Dấu hiệu chia hết cho 3, cho 9", hoặc " Tính chất chia hết của một tổng", hoặc " Ước và bội,... giáo viên cho bài toán : Trong các số sau, số nào chia hết cho 2?: 328; 14737; 895; 1234; 652; 850; 1546; 785; 6321; 2141. f) Trò chơi " Từ điển Hán Việt": Cách chơi: Khi dạy các bài toán có chứa các từ Hán Việt quan trọng cần làm rõ nghĩa, giáo viên đưa các từ Hán Việt đó lên bảng, yêu cầu các đội giải nghĩa từ ấy và ghi lên bảng nhóm. Các đội chơi đưa bảng nhóm lên bảng chính, giáo viên lần lượt kiểm tra, sửa sai cho từng đội. Đội nào làm rõ nghĩa, sát nghĩa hơn sẽ thắng. Ví dụ: Khi dạy bài:" Quy đồng mẫu nhiều phân số", giáo viên yêu cầ các đội chơi làm rõ nghĩa thế nào là: " Quy đồng mẫu" (đưa về cùng mẫu). g) Trò chơi " Nhà sáng tạo trẻ": Cách chơi: bài toán đã cho. Giáo viên xem xét, kiểm định bài toán của các đội rồi đưa ra kết luận đôi nào thắng cuộc. Ví dụ: Khi dạy bài: " Cộng hai số nguyên khác dấu", hoặc " Cộng hai số nguyên cùng dấu", hoặc " Phép trừ hai số nguyên", giáo viên cho học sinh giải bài toán sau: "Nhiệt độ ở Mát-xcơ-va vào một buổi trưa là -30C. Hỏi nhiệt độ buổi chiều cùng ngày là bao nhiêu độ C, biết nhiệt độ giảm 20C so với buổi trưa?" sau đó yêu cầu các đội đặt 1 đề bài toán có cách giải tương tự. h) Trò chơi " Ai cao điểm hơn?": Cách chơi: Sau khi học xong bài, giáo viên chọn ra 3 đội chơi: mỗi đội cử 1 học sinh khá giỏi và 1 học sinh thuộc diện còn lại lên bảng bốc thăm chọn bài toán theo sức học của học sinh đó, trình bày bài giải của mình. Giáo viên xem xét và cho điểm từng học sinh. Hai học sinh của đội nào mà có tổng số điểm cao nhất đội đó thắng cuộc. Ví dụ: Khi dạy bài:" Phép trừ số nguyên", giáo viên cho hai đội chơi như sau: Hãy tính: -75 - (-37). Hãy tính: -64 - (-29). Hãy tính: -82 - (-48). Hãy tính: -53 - (- 26). Hãy tính: 7 - 8. Hãy tính: 5 - 9. Hãy tính: 4 - 10. Hãy tính: 6 - 11. Câu hỏi cho học sinh khá - giỏi. Câu hỏi cho học sinh trung bình - yếu - kém. Trò chơi " Thử tài trí nhớ": Cách chơi: Giáo viên cho bốc thăm chọn hai đội chơi. Mời cả hai đội lên bảng ( đứng hai góc hướng về bảng). Giáo viên gắn nội dung cần nhớ lên bảng cho hai đội quan sát từ 30 giây đến 1 phút. Sau đó, giáo viên lấy bẳng phụ xuống, yêu cầu 2 đội ghi lại những nội dung mà mình đã nhìn thấy. Đội có nội dung ghi lại đúng và nhiều nhất là đội chiến thắng. Ví dụ: Khi dạy bài: " Phép cộng và phép nhân ", hoặc " Tính chất của phép cộng các số nguyên", hoặc " Tính chất của phép nhân", giáo viên cho 2 đội thử nhớ các tính chất sau: ¶ Tính chất kết hợp của phép cộng: (a + b) + c = a + (b + c). ¶ Tính chất giao hoán của phép cộng: a + b = b + a. ¶ Cộng với số 0: a + 0 = 0 + a = a. ¶ Tính chất giao hoán của phép nhân: a.b = b.a. ¶ Nhân với số 1: a.1 = 1.a = a. ¶ Tính chất kết hợp của phép nhân: (a.b).c = a.(b.c). ¶ Tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng: a.(b + c) = a.b + a.c. j) Trò chơi " Ai nhanh hơn": Cách chơi: Giáo viên đưa ra đề toán. Thành viên các đội hợp tác giải nhanh, trình bày vào bảng nhóm, khẩn trương đưa lên bảng chính. Giáo viên chọn ra 3 đôi lên bảng nhanh nhất, xem xét, chấm điểm và sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3 cho các đội chơi. Ví dụ: Khi dạy bài: " Trung điểm của đoạn thẳng", giáo viên cho học sinh giải bài toán sau: Trên tia Ox, vẽ hai điểm A, B sao cho OA = 2cm, OB = 4m. Điểm A có là trung điểm của đoạn thẳng OB không? Vì sao? Đề kiểm tra khảo sát đầu năm: a) Đề bài: Câu 1: (1 điểm) Viết số thích hợp vào chỗ chấm: a) 6kg 453g = kg; b) 5 ha = m2; c) dm3 = cm3; d) 4,9 dm3 = cm3. Câu 2: (1 điểm) Tính: a) b) Câu 3: (1 điểm) Tính bằng cách thuận tiện nhất: a) b) Câu 4: (1 điểm) Tính diện tích của mảnh đất có kích thước theo hình vẽ bên (được tạo bởi 1 hình chữ nhật và 1 hình vuông như hình vẽ) 7m 3m Câu 5: (2 điểm) Tìm x: a. 4m b. Câu 6: (1 điểm) Tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật có chiều dài 4 dm, chiều rộng 3 dm và chiều cao 2 dm. Câu 7: (1 điểm) Có 30 quả cam được xếp vào các đĩa. Mỗi đĩa 5 quả. Hỏi xếp được vào mấy đĩa? Câu 8; (1 điểm) Viết vào ô trống: Viết số Đọc số 716,4 dm2 cm3 Không phẩy không trăm mười lăm mét vuông Chín trăm bảy mươi mốt đề-xi-mét khối Câu 9: (1 điểm) Cho hình thang ABCD có kích thước như hình bên. Tính diện tích hình thang ABCD? b) Đáp án và thang điểm: Câu 1: a) 6kg 453g = 6,453 kg (0,25đ); b) 5 ha = 50000 m2 (0,25đ); c) dm3 = 500cm3 (0,25đ); d) 4,9 dm3 = 4900cm3 (0,25đ). Câu 2: a) (0,25đ - 0,25đ) b) (0,25đ - 0,25đ) Câu 3: a) (0,25đ - 0,25đ) b) (0,25đ - 0,25đ) Câu 4: Diện tích mảnh đất hình chữ nhật: 7 x 3 = 21 (m2) (0,25đ) Diện tích mảnh đất hình vuông: 4 x 4 = 16 (m2) (0,25đ) Diện tích mảnh đất: 21 + 16 = 37 (m2) (0,25đ) Đáp số: 37 (m2) (0,25đ) Câu 5: a. (0,5đ) (0,25đ) x = (0,25đ) b. (0,5đ) (0,5đ) Câu 6: Diện tích xung quanh: ((4 + 3) x 2)) x 2 = 28 (dm2) (0,25đ) Diện tích toàn phần: 28 + (4 x 3) x 2 = 52 (dm2) (0,25đ) Đáp số: Diện tích xung quanh: 28 (dm2); Diện tích toàn phần: 52 (dm2). (0,25đ - 0,25đ) Câu 7: Số đĩa để xếp 30 quả cam: 30 : 5 = 6 (đĩa) (0,75đ) Đáp số: 6 (đĩa) (0,25đ) Câu 8: (1 điểm) Viết vào ô trống: Viết số Đọc số 716,4 dm2 Bảy trăm mười sáu phẩy bốn đề-xi-mét vuông (0,25đ) cm3 Sáu phần tám xen-ti-mét khối (0,25đ) 0,015 m2 (0,25đ) Không phẩy không trăm mười lăm mét vuông 971 dm2 (0,25đ) Chín trăm bảy mươi mốt đề-xi-mét khối Câu 9: Diện tích hình thang: = 26 (cm3) ( 0,5đ- 0,25đ) Đáp số: 26 (cm3) (0,25đ) TRƯỜNG THCS PHƯƠNG THỊNH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ ĐỀ TÀI NCKHSPƯD NĂM HỌC 2011 - 2012 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG Tên đề tài: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN Ở LỚP 6A2 THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC. Họ và tên người viết: Phan Thị Thanh Hiền Đơn vị: Trường THCS Phương Thịnh Môn: Toán TT Tiêu chí đánh giá Nhận xét Điểm tối đa Điểm chấm 1 Tên đề tài : - Thể hiện rõ nội dung, đối tượng và tác động; - Có ý nghĩa thực tiễn. 5 2 Hiện trạng: - Nêu được hiện trạng; - Xác định được nguyên nhân gây ra hiện trạng; - Chọn một nguyên nhân để tác động, giải quyết. 5 3 Giải pháp thay thế 20 4 Vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu - Trình bày rõ ràng vấn đề nghiên cứu dưới dạng câu hỏi. - Xác định được giả thuyết nghiên cứu. 5 5 Thiết kế - Lựa chọn thiết kế phù hợp, đảm bảo giá trị của nghiên cứu. 5 6 Đo lường: - Xây dựng được thang đo phù hợp để thu thập dữ liệu; - Dữ liệu thu được đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị. 5 7 Phân tích dữ liệu và bàn luận - Lựa chọn phép kiểm chứng thống kê phù hợp với thiết kế; - Trả lời rõ được vấn đề nghiên cứu. 5 8 Kết quả : - Kết quả nghiên cứu: Đã giải quyết được các vấn đề đặt ra trong đề tài đầy đủ, rõ ràng, có tính thuyết phục; - Những đóng góp của đề tài nghiên cứu: Mang lại hiểu biết mới về thực trạng, phương pháp, chiến lược,(minh chứng) ...; - Áp dụng các kết quả: Triển vọng áp dụng tại địa phương, cả nước, quốc tế. 30 9 Minh chứng cho các hoạt động nghiên cứu của đề tài Kế hoạch bài học, bài kiểm tra/ bảng kiểm, thang đo/ băng hình, dữ liệu thô ... (đầy đủ, khoa học, mang tính thuyết phục) 15 10 Trình bày báo cáo: - Văn bản viết cấu trúc khoa học, hợp lý, diễn đạt mạch lạc, hình thức đẹp. 5 Tổng cộng 100 Xếp loại: NGƯỜI ĐÁNH GIÁ Phan Thị Thanh Hiền Nhận xét: PHÒNG GD&ĐT HUYỆN CAO LÃNH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ ĐỀ TÀI NCKHSPƯD NĂM HỌC 2011 - 2012 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG Tên đề tài: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN Ở LỚP 6A2 THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC. Họ và tên người viết: Phan Thị Thanh Hiền Đơn vị: Trường THCS Phương Thịnh Môn: Toán TT Tiêu chí đánh giá Nhận xét Điểm tối đa Điểm chấm 1 Tên đề tài : - Thể hiện rõ nội dung, đối tượng và tác động; - Có ý nghĩa thực tiễn. 5 2 Hiện trạng: - Nêu được hiện trạng; - Xác định được nguyên nhân gây ra hiện trạng; - Chọn một nguyên nhân để tác động, giải quyết. 5 3 Giải pháp thay thế 20 4 Vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu - Trình bày rõ ràng vấn đề nghiên cứu dưới dạng câu hỏi. - Xác định được giả thuyết nghiên cứu. 5 5 Thiết kế - Lựa chọn thiết kế phù hợp, đảm bảo giá trị của nghiên cứu. 5 6 Đo lường: - Xây dựng được thang đo phù hợp để thu thập dữ liệu; - Dữ liệu thu được đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị. 5 7 Phân tích dữ liệu và bàn luận - Lựa chọn phép kiểm chứng thống kê phù hợp với thiết kế; - Trả lời rõ được vấn đề nghiên cứu. 5 8 Kết quả : - Kết quả nghiên cứu: Đã giải quyết được các vấn đề đặt ra trong đề tài đầy đủ, rõ ràng, có tính thuyết phục; - Những đóng góp của đề tài nghiên cứu: Mang lại hiểu biết mới về thực trạng, phương pháp, chiến lược,(minh chứng) ...; - Áp dụng các kết quả: Triển vọng áp dụng tại địa phương, cả nước, quốc tế. 30 9 Minh chứng cho các hoạt động nghiên cứu của đề tài Kế hoạch bài học, bài kiểm tra/ bảng kiểm, thang đo/ băng hình, dữ liệu thô ... (đầy đủ, khoa học, mang tính thuyết phục) 15 10 Trình bày báo cáo: - Văn bản viết cấu trúc khoa học, hợp lý, diễn đạt mạch lạc, hình thức đẹp. 5 Tổng cộng 100 Xếp loại: NGƯỜI ĐÁNH GIÁ Phan Thị Thanh Hiền Nhận xét:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa
  • Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận
  • Hiện Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Đất Ở Thành Phố Hcm
  • Giải Pháp Về Khoa Học Công Nghệ, Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Máy Móc, Thiết Bị Và Sản Phẩm Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • I. MỞ ĐẦU:

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

    Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

    lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

    được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

    lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

    nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

    đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

    minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

    giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

    tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

    và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

    tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

    một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

    minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

    phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

    hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

    là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

    hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

    được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

    thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

    một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

    tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

    không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

    khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

    sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

    còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

    Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

    nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

    nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

    một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

    toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

    lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

    1

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

    trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

    dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

    trong nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

    học Đông Vệ 1.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp điều tra thống kê.

    – Phương pháp so sánh, đối chiếu.

    – Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

    2

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận :

    Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

    đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

    phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

    quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

    được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

    học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

    toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

    như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

    Nhiệm vụ của người giáo viên

    Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

    dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

    lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

    động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

    Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

    Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

    Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

    Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

    tam giác, hình tròn.

    Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

    Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

    cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

    trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

    + Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

    thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

    phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

    lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

    thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

    + Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

    trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

    đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

    hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

    diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

    tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

    trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

    Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

    3

    – Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

    thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

    máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

    tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

    nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

    thức.

    – Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

    môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

    chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

    để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

    – Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

    dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

    khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

    chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

    tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

    cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

    điều tra cụ thể như sau:

    42

    Hoàn cảnh học sinh

    Con gia đình cán bộ

    Con gia đình lao động tự do

    Con gia đình công nhân

    SL

    %

    Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

    những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

    * Thuận lợi:

    Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

    quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

    lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

    viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

    xử lí tình huống trong nhóm.

    Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

    hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

    5

    3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

    – Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

    bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

    không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

    động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

    thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

    chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

    tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

    tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

    thói quen cho học sinh.

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

    que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

    cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

    kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

    sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

    yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

    thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

    cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

    nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

    nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

    luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

    sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

    học sinh mới hiểu được.

    7

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

    phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

    thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9

    3+6=9

    1+8=9

    6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

    thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

    sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

    hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    * Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

    lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

    dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

    động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

    toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

    4. Nói ít, tránh nói nhiều.

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

    hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

    trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

    hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

    hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

    tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

    khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    8

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

    quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

    dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

    kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

    HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

    trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

    nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

    chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

    tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

    vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

    em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

    quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

    học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

    chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

    động nhóm …

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

    học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

    30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

    hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

    thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

    tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

    cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

    thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

    đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

    Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

    giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

    được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

    dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

    kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

    nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

    được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

    9

    1C

    42

    THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

    KẾT QUẢ

    Cuối kỳ I

    10

    Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

    viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Người thực hiện

    Hồ Thị Mai

    11

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    I. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Mục đích nghiên cứu

    3. Đối tượng nghiên cứu

    4. Phương pháp nghiên cứu

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

    3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

    3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

    dạy học.

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

    dùng trực quan.

    3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

    hơn.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    2. Kiến nghị

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Phân Môn Vẽ Trang Trí
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Phân Môn Vẽ Trang Trí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ Đạt Hiệu Quả
  • Biện Pháp Giúp Trẻ Khó Khăn Về Ngôn Ngữ Qua Các Hoạt Động Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Giúp Trẻ Khuyết Tật “chậm Phát Triển Trí Tuệ, Ngôn Ngữ Kém” Hoà Nhập Với Trường Mầm Non
  • Thứ ba – 27/05/2014 14:39

    PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

    TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO

    CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

    Người thực hiện: Phạm Thị Hằng

    Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1

    Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

    Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

    1

    1

    4

    2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

    5

    2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

    2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

    2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

    2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

    2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

    6

    2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

    Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

    Phép cộng trong phạm vi 7

    – Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    – Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.

    – HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7

    * Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.

    II : Đồ dùng dạy học

    – Bộ đồ dùng dạy toán.

    III: Các hoạt động dạy học chủ yếu

    Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7

    HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

    : Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng

    HS ghi bảng con các phép tính đã lập

    6+1=7 4+3=7

    1+6=7 3+4=7

    5+2=7 2+5=7

    HS làm việc theo nhóm đôi.

    – HS đọc và đối chiếu kết quả

    : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

    : HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập.

    – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

    Hoạt động 2: Thực hành

    Bài 1: Tính

    – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK

    – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

    Bài 2: Tính

    – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

    – Gv nhận xét chốt lại nội dung bài

    – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

    Bài 3: Tính

    – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm.

    – Gv nhận xét

    Bài 4: Viết phép tính thích hợp

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán.

    B1: Quan sát tranh

    B2: Đặt đề toán.

    a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm?

    b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim?

    B3: Viết phép tính

    * Củng cố dặn dò

    – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7

    – GV nhận xét xếp giờ

    – H/s quan sát hình và nêu thành bài toán

    – HS 6 cộng 1 bằng 7

    – HS đọc phép tính 6+1=7

    ( CN-N-L)

    – HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV.

    – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

    – HS trao đổi nhóm đôi.

    – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7.

    – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả

    – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7.

    – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

    – HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK

    – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

    6 2 3 4 1 5

    + + + + + +

    1 5 4 3 6 2

    7 7 7 7 7 7

    – HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con.

    7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7

    – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài.

    – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính

    5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6

    – HS làm bài tập và chữa bài

    – HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

    – HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

    – Viết phép tính thích hợp vào ô trống

    a/ 6+1=7

    b/ 4+3=7

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quả

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9 3+6=9

    1+8=9 6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh

    4. Nói ít

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    – Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …

    3.5

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    Phạm Thị Hằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh
  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm ?
  • Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×