“Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh

--- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Mầm Non Tam Thanh
  • Tp Cẩm Phả: Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • BÁO CÁO KẾT QUẢ

    NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

     

    1. Lời giới thiệu

    Như chúng ta đã biết: Nhà giáo giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới GD&ĐT vì chính họ là những người thực thi công cuộc đổi mới. Nếu họ không có đủ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ thì vô tình họ sẽ trở thành lực cản cho công cuộc đổi mới. Trong khi đó, phát triển một đội ngũ nhà giáo đạt chuẩn chất lượng, đủ về số lượng và đồng bộ về  trình độ cho các cấp học, bậc học là một việc rất khó khăn và phải thực hiện quyết liệt trong nhiều năm mới có được.         Trước xu thế phát triển của lịch sử, những thách thức lớn của thời đại, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội trong giai đoạn cách mạng mới, nhất là trong điều kiện đất nước đang trong thời kỳ hội nhập mạnh mẽ, sâu rộng với thế giới thì vai trò của người giáo viên trong Nghị quyết trung ương II khoá VIII cũng chỉ rõ “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh, giáo viên phải có đủ đức tài”. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; có tinh thần đoàn kết, tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm …”.

    Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn mới đòi hỏi người cán bộ quản lý không ngừng đổi mới công tác quản lý nhà giáo, không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả, quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, các ngành, các cơ quan quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cao, đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

     Với vị trí vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục nói chung và của từng nhà trường nói riêng, ngành giáo dục đưa sự nghiệp giáo dục nước nhà ngày một đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Năm học 2021-2017 là năm học tiếp tục thực hiện chương trình  hành động  của Chính phủ, của Tỉnh ủy, kế hoạch của UBND tỉnh về  thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

    Thực hiện các giải pháp phát triển qui mô, mạng lưới trường, lớp đáp ứng nhu cầu gửi trẻ. Tăng cường huy động trẻ nhà trẻ độ tuổi 24-36 tháng ra nhóm trẻ. Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho vùng khó khăn; đẩy mạnh xây dựng trường Mầm non đạt Chuẩn Quốc gia.

    Thực hiện các giải pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non. Tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình GDMN, đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”. Nâng cao chất lượng tổ chức bữa ăn bán trú cho trẻ; chất lượng phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi.

              Tiếp tục đổi mới công tác quản lý theo hướng phân cấp, hiệu quả; tăng cường tính tự chủ của cơ sở Giáo dục Mầm non. Tập trung quản lý chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong các sơ sở GDMN. Tăng cường các biện pháp quản lý và hỗ trợ các cơ sở GDMN ngoài công lập.

    Phát triển đội ngũ quản lý, GVMN theo hướng nâng cao phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDMN. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và của Bộ về đổi mới và phát triển Giáo dục mầm non.

              Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”; đưa các nội dung của cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thành các hoạt động thường xuyên, tự giác trong các cơ sở GDMN.

    Với trách nhiệm lớn lao của một người cán bộ quản lý, tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà trường. Đây là nhiệm vụ quan trọng và cần phải có sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm cao. Cần phải chú trọng công tác nâng cao chất lượng giáo dục trẻ nhằm duy trì và phát triển chất lượng giáo dục trong nhà trường ngày càng đi lên đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp giáo dục mầm non trong thời đại hiện nay, góp phần thực hiện tốt cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự hoc và sáng tạo” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trò quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục bởi giáo viên là người trực tiếp thực hiện công tác giáo dục. Đội ngũ  có trẻ, khỏe, nhiệt tình, có “vừa hồng- vừa chuyên” thì mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục mà Đảng và Nhà nước giao phó. Đội ngũ có vai trò quan trọng, góp phần thắng bại cho nhà trường nói riêng, cho ngành học nói chung, và đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước của toàn nhân loại.

    Bản thân được giao nhiệm vụ Phụ trách nhà trường. Trăn trở với mục tiêu chung của giáo dục bậc học mầm non có nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ phát triển một cách toàn diện kể cả thể chất lẫn tinh thần. Cùng với nhiệm vụ chung của năm học tiếp tục thực hiện “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” và các cuộc vận động lớn của ngành. Đảm bảo tốt về chất lượng giúp cho trẻ phát triển ngày càng khỏe mạnh và thông minh để mai này làm những chủ nhân trong tương lai góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước góp phần thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua vì trẻ ở lứa tuổi mầm non ngoài sự dạy dỗ của ông bà, cha mẹ ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của trẻ là sự dạy dỗ của cô giáo mầm non. Để thực hiện tốt việc đó thì đội ngũ cán bộ giáo viên là một trong những nhân tố quan trọng để góp phần cho sự thành công. Từ những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, tôi đã quyết định nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ trong nhà trường nhằm năng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.

    2. Tên sáng kiến:

    Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ ở trường mầm non ĐồngTĩnh – huyện Tam Dương-  tỉnh Vĩnh Phúc”.

    3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

    – Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Dung

    – Địa chỉ tác giả sáng kiến: Xã Đồng Tĩnh- huyện Tam Dương- Vĩnh Phúc

    – Số điện thoại: 01684.850.188   

      Email: [email protected]

    4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

    Thực hiện nâng cao chất lượng  đội ngũ ở trường mầm non ĐồngTĩnh – huyện Tam Dương-  tỉnh Vĩnh Phúc

    5. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:

    Tháng 07/2016 đến tháng 02/2017.

    6. Bản chất của sáng kiến:

    6.1. Về nội dung của sáng kiến:

      6.1.1. Cơ sở lý luận.

    Chất lượng giáo dục quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Có thể nói nhân cách con người trong tương lai như thế nào phụ thuộc lớn vào sự giáo dục của trẻ trong trường mầm non.

     Trách nhiệm lớn đặt trên vai ngành giáo dục, đòi hỏi ngành phải có đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên giỏi, vì đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non. Mục tiêu của giáo dục nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục những thiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục để theo kịp những yêu cầu của xã hội. Để đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có phẩm chất chính trị, trình độ năng lực, có lương tâm nghề nghiệp và nhân cách nhà giáo, có lòng nhân ái tận tuỵ, thương yêu trẻ hết mình, có như vậy thì chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mới đạt hiệu quả cao.

    Đội ngũ cán bộ, giáo viên là lực lượng nòng cốt của toàn bộ sự nghiệp giáo dục nói chung và sự nghiệp giáo dục mầm non nói riêng, bởi vì: Họ là lực lượng đông đảo nhất trong nhà trường, hàng ngày họ trực tiếp chăm sóc giáo dục hàng triệu trẻ em từ tuổi nhà trẻ đến tuổi các em vào học lớp 1 trường tiểu học. Họ là những người hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người, là người quyết định, người chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ; chuẩn bị nguồn lực ban đầu cho giáo dục phổ thông, cung cấp nguồn lực trực tiếp cho giáo dục tiểu học. Sự nghiệp giáo dục mầm non thành hay bại quyết định phần lớn là đội ngũ cán bộ, giáo viên trường mầm non.

    Quan điểm của Đảng về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên. Chỉ thị số 40CT/TW ngày 15 tháng 06 năm 2004 của Ban Bí thư trung ương về việc xây dựng, nầng  cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu rõ: Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những hạn chế, bất cập như: Số lượng giáo viên còn thiếu, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Một số bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục; chế độ chính sách còn bất hợp lý. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Mục tiêu là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đặc biệt chú trọng nầng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo”

    6.1.2. Thực trạng về đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên trường mầm non Đồng Tĩnh- Tam Dương- Vĩnh Phúc

    Trường mầm non Đồng Tĩnh trong những năm qua luôn có sự thay đổi về công tác đội ngũ, số lượng quản lý, giáo viên, nhân viên nghỉ hưu; chuyển đến và đi do yêu cầu công tác; giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm giảng dạy, giáo viên lớn tuổi không còn năng động sáng tạo; giáo viên cũ trình độ chuyên môn đào tạo trước đây là trung cấp học tại  chức.  Với trình độ chuyên môn, tay nghề của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, vì vậy trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ gặp nhiều khó khăn; không đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

    Tình hình đội ngũ đầu năm học 2021- 2021 như sau:

    – Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường là: 26 người

                  + Ban giám hiệu : 03

                  + Giáo viên :        22

                  + Nhân viên:        01

    – Trình độ đào tạo:

                 + Đại học:     16

                          + Trung cấp: 10 (trong đó đang học đại học 4 )

    * Thuận lợi:

    – Trường mầm non Đồng Tĩnh có 100% cán bộ giáo viên nhân viên đã đạt chuẩn đào tạo. Đội ngũ giáo viên nhà trường tích cực tham gia học tập nâng cao

     trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm cho bản thân.

    – Phần đông, đội ngũ nhà trường có tuổi đời tương đối trẻ khỏe, nhiệt tình, tận tụy, tâm huyết với nghề, yêu thương trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và phần lớn là người địa phương nên thuận tiện trong việc đến trường và thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục.

    * Khó khăn:

    – Tỷ lệ giáo viên trên lớp thiếu, thiếu nhân viên kế toán

    – Sự thay đổi về công tác đội ngũ, số lượng nghỉ hưu,  đến và đi do yêu cầu công tác nên ảnh hưởng đến việc phân công, bố trí công việc.

    – Một số giáo viên lớn tuổi (trên 45 tuổi 5/22 chiếm 22,7 %), không ứng dụng được công nghệ thông tin vào giảng dạy, lúng túng trong việc lập kế hoạch. Còn có giáo viên mới vào ngành (3/22 chiếm 13,6 %), nên chưa có kinh nghiệm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và công  tác chủ nhiệm lớp.

    – 4/22=18,2 % giáo viên có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, nên còn lo làm kinh tế gia đình;  một số giáo viên trẻ con nhỏ (chiếm khoảng 50%); một số nhà xa…. chưa có sự đầu tư cho việc giảng dạy.

    – Một số giáo viên (5/22 chiếm 22,7%) không có năng lực chuyên biệt của bậc học mầm non: Không có năng khiếu hát, múa, kể chuyện đọc thơ, …Còn một số ít giáo viên chưa cố gắng  đầu tư vào công tác giảng dạy, chưa tiếp thu sự góp ý của đồng nghiệp để tiến bộ.

     Từ thực tế trên đã thúc đẩy tôi tìm biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên sao cho phù hợp với thực tế của đơn vị, phù hợp với đặc thù của trường vùng nông thôn, đồng thời tìm những bước chuyển biến mới để bồi dưỡng cho đội ngũ nhà trường, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành đánh giá chất lượng đội ngũ như sau:

    Bảng 1: Tình hình đội ngũ tháng 7/2016

     

     

    Số lượng: 26

    Trình độ

    CBQL

    GV

    NV

    Đại học

    Cao đẳng

    Trung cấp

    Sơ cấp

    3

    22

    1

    16

    0

    10

    0

     

     

     

    61,5%

     

    38,5%

     

    Nhận xét:

    Nhân viên thiếu; Tỷ lệ giáo viên trên lớp còn thiếu so với quy định.

    Bảng 2: Đánh giá chất lượng đội ngũ tháng 7/2016

    Tổng số : 26 người

    Tiêuchí

     

    Kết quả

    Tư tưởng nhận thức

    Năng lực chuyên môn

     

    Kết quả kiểm tra, dự giờ

    Hồ sơ sổ sách

     

    Các hoạt động khác

    TT

    KK

    TTB

    TT

     

    K

    TTB

    TT

    KK

    TTB

    TT

    KK

    TTB

    TT

    KK

     

    TB

    SL

    115

    112

    2

    113

    114

     

    110

    112

     

    110

    117

     

    114

    113

     

    %

    557

    443

     

    448

    552

     

    445

    555

     

    559

    441

     

    552

    448

     

    Nhận xét:

    Qua đánh giá tháng 07/2016, kết  quả chất lượng giảng dạy, chất  lượng hồ sơ sổ sách; trình độ chuyên môn, tay nghề của một số giáo viên chưa cao.

    Việc nhận thức, tư tưởng và tinh thần tham gia các hoạt đông của một số giáo viên trong nhà trường còn  hạn chế.

    Bảng 2: Đánh giá chất lượng học sinh tháng 9/2016

    Tổng số: 442 học sinh

    Lĩnh

    vực

     

     

    Kết quả

    Phát triển thể chất

    Phát triển nhận thức

    Phát triển ngôn ngữ

    Phát triển tình cảm -kỹ năng xã hội

    Phát triển thẩm mỹ

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    SL

    304

    138

    310

    132

    302

    140

    304

    138

    300

    142

    %

    69

    31

    70

    30

    68

    32

    69

    31

    68

    32

    Nhận xét:

    Qua đánh giá tháng 09/2016, số lượng trẻ chưa đạt ở các lĩnh vực phát triển còn cao.

    Trước tình hình thực trạng về chất lượng của nhà trường, tôi suy nghĩ và tìm ra một số biện pháp chỉ đạo như sau:

    6.1.3. Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ trong trường mầm non Đồng Tĩnh

    Biện pháp 1: Phân công, sắp xếp, đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên

    Con người là tổng hợp các mối quan hệ của xã hội vì thế con người có đầy đủ những mặt xấu, hay tốt, điều quan trọng là chúng ta phát huy mặt tốt một cách tích cực và hạn chế mặt tiêu cực. Muốn làm điều đó việc đầu tiên ta phải hiểu được giáo viên, nắm bắt được khả năng, năng lực của từng giáo viên, nếu chúng ta làm tốt việc này sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc quản lý và phân công nhiệm vụ được hoàn thành tốt đẹp. Phân công nhiệm vụ hợp lý sẽ tạo nên hiệu quả bất ngờ.

    Tập thể cán bộ giáo viên- nhân viên  trường mầm non Đồng Tĩnh

    Trong Ban giám hiệu, bản thân tôi phụ trách chung nhà trường và phần nhân sự, tài chính, tài sản. Đồng chí Thảo phụ trách về mảng chuyên môn, phổ cập, kiểm định chất lượng, công nghệ thông tin. Đồng chì Hoan phụ trách bán trú, chăm sóc sức khỏe, phòng cháy chữa cháy, giúp đỡ công việc cho kế toán vì nhà trường không có nhân viên kế toán phải cho giáo viên kiêm nhiệm. Các hoạt động khác BGH phối hợp với các đoàn thể (công đoàn, đoàn thanh niên… ) cùng thực hiện

    Thật vậy, những giáo viên yếu không chỉ noi gương mà còn tiến bộ rõ rệt về mọi mặt.  Đứng trước những con người giỏi ai cũng nhìn lại mình để suy xét, để xem lại bản thân mình  từ đó mà cố gắng học tập noi gương người bên cạnh để phấn đấu vươn lên. Còn những giáo viên giỏi vì tinh thần trách nhiệm chung, vì danh hiệu và thành tích của lớp, và hơn hết vì tình đồng nghiệp đồng cam cộng khổ  sẽ tích cực giúp đỡ giáo viên yếu, tận tình chỉ bảo, trao hết kinh nghiệm những kiến thức mình có để đồng nghiệp có thể tiến bộ hơn.

    Bên cạnh việc nắm bắt năng lực và khả năng của từng thành viên để bố trí lớp chúng tôi còn phân công, công việc hợp lý, mỗi người với những đặc điểm khác nhau sẽ phù hợp với từng công việc khác nhau.

    Ví dụ: 

    Giáo viên có năng khiếu âm nhạc thì bố trí và tổ chức các phong trào văn nghệ như: (Cô giáo Nguyễn Thị Thuỷ, Cô giáo Trần Thị Hải Oanh)

    Những giáo viên linh hoạt có khả năng về công nghệ thông tin phân công chuyên tìm hiểu về các chương trình phần mềm hỗ trợ cho việc soạn giáo án điện tử để tập huấn lại cho các giáo viên trường như: (Cô giáo Đào Hồng Ngọc, Cô giáo Nguyễn Thị Thuỳ Dung).

    Việc sắp xếp, phân công nhiệm vụ sao cho mặt tích cực luôn được phát huy tối đa, mặt tiêu cực hạn chế tối thiểu đồng thời cũng phải biết tổ chức phân công theo từng nhóm tùy từng nhiệm vụ tạo cho giáo viên có tinh thần tập thể, làm việc theo nhóm.

    Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó của các thành viên trong mái nhà chung vừa hình thành ý thức xây dựng một đội ngũ, một tập thể luôn luôn có trách nhiệm chung, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân làm cho mọi công việc của nhà trường được hoàn thành tốt đẹp. Đây là một biện pháp quan trọng dẫn dắt đến nhiều thành công trong quá trình xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường.

    Việc lựa chọn tổ trưởng, tổ phó chuyên môn chúng tôi chọn các đồng chí giáo viên có năng lực tốt nhất để đồng chí này sẽ “ lôi kéo” các thành viên trong tổ, để phát triển năng lực của đội ngũ. Cho nên việc phát hiện đúng nhân tài của đội ngũ và khuyến khích họ thể hiện và cống hiến hết khả năng của mình là một việc làm không thể thiếu của người cán bộ quản lý.

    Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ

           Xác định rõ mục tiêu đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho đội ngũ theo từng giai đoạn đảm bảo  đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú ý bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

          Xây dựng Kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ cụ thể theo từng giai đoạn :

    * Bồi dưỡng dài hạn:

    – Đối với giáo viên tham gia học nâng chuẩn trường sẽ phân công hợp lý

     để tạo điều kiện cho giáo viên đó tham gia học, không bố trí những công việc

     kiêm nhiệm nhiều, để khỏi chồng chéo thời gian học

    – Hiện nay trường  có 04 giáo viên đang theo học đại học tại trung tâm giáo dục thường xuyên

    Kế hoạch quy hoạch, đào tạo dài hạn:

    Quy hoạch đào tạo

    2016

    2017

    2018

    2019

    2020

    Tng

    Chính trị

    Trung cấp

    01

    01

    01

    01

    04

    CC, CN

     

     

     

     

     

     

    Chuyên môn

    Đại học

    04

    02

    02

    03

    11

    Sau đại học

     

     

    01

     

    01

    02

    Quản lý

    QLNN

     

     

     

     

     

     

    QLGD

     

    01

     

     

    01

    Tin học

    A

     

    02

    02

    01

    01

    06

    B

     

    02

    02

    02

    01

    07

    Ngoại ngữ

    A

    02

    02

    02

    02

    02

    10

    B

    01

    02

    02

    02

    01

    08

     ơ                    Bồi dưỡng ngắn hạn:

     Nhà trường phân công dạy thay và sự hỗ trợ giúp đỡ đồng nghiệp để tạo điều kiện cho giáo viên  tham gia học các lớp bồi dưỡng ngắn ngày về chuyên môn cũng như bồi dưỡng nghiệp vụ

     Tham gia các lớp bồi dưỡng khi phòng tổ chức, nhà trường sẽ sắp xếp thời gian tạo điều kiện cho đội ngũ tham gia .

    Bồi dưỡng giáo viên mới: Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mớivề thực hiện chương trình giáo dục mầm non về các hoạt động, thiết kế bài giảng điện tử….

    Bồi dưỡng nhân viên:

    Song song với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu

    cầu giảng dạy cho các cháu thì việc nâng cao chất lượng bữa ăn, An toàn thực phẩm trong nhà trường cũng rất quan trọng do đó trong năm học 2021- 2021 nhà trường tạo điều kiện  cho 4 nhân viên cấp dưỡng mới tham dự lớp tập huấn về An toàn thực phẩm nhằm nâng cao kiến thức cho bộ phận cấp dưỡng

    Bồi dưỡng thường xuyên:

    Nhà trường tăng cường bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ với nhiều hình thức như sau:

    + Tăng cường việc dự giờ thăm lớp.

    + Tạo điều kiện cho tất cả các giáo viên mới được dự giờ học tập rút kinh nghiệm qua các chuyên đề do tổ cũng như nhà trường, phòng tổ chức.

    + Tạo mọi điều kiện cho giáo viên được đi tham quan học tập,  tham gia dự giờ học tập, rút kinh nghiệm  ở các trường bạn trong và ngoài huyện.

    Tiếp tục thực hiện kế hoạch cử CBGVNV học các lớp nâng chuẩn, các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ và khả năng thực hành: Học các lớp Đại học, trung cấp chính trị, bồi dưỡng công tác y tế trường học, thiết kế bài giảng điện tử và các lớp tập huấn bồi dưỡng của ngành cấp trên triệu tập.

              Tiếp tục chỉ đạo chuyên môn nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, lấy đơn vị tổ nhóm chuyên môn nhà trường là nơi chỉ đạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp dạy học.Tiếp tục tăng cường hoạt động của tổ chuyên môn, tổ cốt cán trong kiểm tra, bồi đưỡng cho đội ngũ giáo viên. Nâng cao chất lượng nội dung về việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề tại các tổ chuyên môn, cấp trường và giao lưu học tập các trường bạn.

               Từng CBGVNV tự bồi dưỡng và bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lí; năng lực chỉ đạo chuyên môn cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và năng lực sư phạm cho giáo viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dạy.        Biện pháp 3: Nâng cao tư tưởng và nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên.

    Cán bộ giáo viên nhân viên tham gia học tập, bồi dưỡng chính trị.

    Trong từng thời điểm của năm học, nhà trường tổ chức cho cán bộ, giáo viên học tập: Đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Xây dựng nề nếp, kỷ cương trong trường. Triển khai chỉ thị 16 của Bộ trưởng  Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đạo đức nhà giáo. Tuyên truyền những tấm gương tiêu biểu trong trường. Phát động phong trào“ giỏi việc trường đảm việc nhà”,  đăng ký gia đình nhà giáo văn hóa. Trường đã có tổ chức công đoàn chăm lo đời sống,  động viên tinh thần cho cán bộ giáo viên yên tâm học tập công tác.

    Với những việc làm trên, đã từng bước nâng cao tư tưởng nhận thức cho đội ngũ nhà trường; mọi người đều nổ lực cùng nhau thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.

    Biện pháp 4: Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên

    Có thể nói đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên Mầm non nói riêng  là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, đội ngũ này giữ vai trò quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Bởi vậy phải nhanh chóng cũng cố và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn vững vàng về nghiệp vụ tay nghề có phẩm chất đạo đức tốt, có phong cách sư phạm đẹp, là điều kiện tiên quyết, là khâu đột phá, cần làm ngay để chuẩn bị cho việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT nước nhà. 

    Bồi dưỡng chuyên môn là biện pháp tích cực, hiệu quả nhất trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

         a) Chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn thông qua sinh hoạt chuyên môn

    Đầu năm học, nhà trường phân công hiệu phó chuyên môn tổ chức bồi dưỡng những điểm yếu trong chuyên môn của giáo viên, đồng thời cũng thông tin cho giáo viên nắm những điểm mới trong chuyên môn theo sự chuyển biến và phát triển của ngành học nên giáo viên có vận dụng được phương pháp mới vào trong giảng dạy được hay không chính là nhờ ở điểm này. Lựa chọn và sàng  lọc những điểm phù hợp với sự phát triển của ngành học để bồi dưỡng cho giáo viên, giúp cho giáo viên tiếp cận được thời đại của giáo dục và ngược lại. Bên cạnh việc lựa chọn những nội dung phù hợp để bồi dưỡng giáo viên còn phải lựa chọn thời điểm bồi dưỡng phù hợp như: Đầu năm học triển khai việc thực hiện chương trình, qui chế chuyên môn, các chuyên đề của năm học, trong năm học sẽ tổ chức bồi dưỡng những điểm yếu của giáo viên.

    Hàng tháng, chỉ đạo hiệu phó chuyên môn triển khai họp chuyên môn toàn trường để rút kinh nghiệm chuyên môn tháng , lấy hoạt động sinh hoạt chuyên môn làm trung tâm, là động lực thúc đẩy mọi mặt hoạt động của trường. Phải đánh giá đúng thực chất họat động chuyên môn của trường trong tháng, phân tích và tìm ra nguyên nhân của từng ưu điểm và hạn chế của từng thành viên nhằm có hướng phấn đấu tốt hơn cho công việc mình đảm nhiệm và triển khai công tác chuyên môn tháng tới. Thời gian để thực hiện công việc phải rõ ràng, nhiệm vụ giao cho từng người phải cụ thể, đảm bảo nguyên tắc “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Họp chuyên môn phải mang tính thực tiễn, không máy móc rập khuôn.

    Tổ trưởng chuyên môn triển khai hoạt động chuyên môn của tổ theo kế họach của trường, trao đổi chuyên môn, tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong chuyên môn. Hàng tháng tổ chức sinh hoạt chuyên môn 02 lần theo đúng Điều lệ tạo nề nếp trong sinh hoạt, có đánh giá kết quả và kế hoạch tiếp theo.

    Tôi bổ trí, phân công BGH sắp xếp thời gian, mỗi tháng dự họp chuyên môn của tổ 1 lần để tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong chuyên môn như: Làm thế nào để có nhiều đồ dùng đồ chơi mới lạ hấp dẫn trẻ? Cách sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào cho đạt hiệu quả? Cách thiết kế các hoạt động như thế nào để phù hợp với tình hình thực tế của lớp? Phương pháp dạy như thế nào để phát huy tính tích cực của trẻ?  Trong phiên họp chuyên môn của tổ cuối tháng, tôi chỉ đạo tổ chuyên môn bình bầu, xếp loại giáo viên trong tháng và báo cáo bằng văn bản với nhà trường, để từ đó có cơ sở đánh giá từng cá nhân trong mỗi tổ

    Dự  sinh hoạt tổ chuyên môn

    Từ đó năng lực giảng dạy của đội ngũ giáo viên nhà trường từ các đồng chí giáo viên nhiều tuổi cho đến các đồng chí giáo viên mới ra trường trong đã có bước chuyển biến đáng kể. Nề nếp sinh hoạt chuyên môn được duy trì nghiêm túc, chất lượng và nội dung sinh hoạt chuyên môn của các tổ chuyên môn đã được nâng cao, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, học tập nâng cao trình độ chuyên môn được nhà trường hết sức chú trọng với nhiều hình thức như dự giờ thăm lớp, giảng dạy trước tổ,… Tổ chức trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, phương pháp truyền thụ kiến thức…. Qua đó giúp cho đội ngũ giáo viên nắm vững phương pháp giảng dạy chương trình giáo dục mầm non mới, hệ thống kiến thức cần truyền đạt tới học sinh.

         a) Chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn qua việc tổ chức hội thảo chuyên đề, kiến tập, dự giờ, xây dựng tiết mẫu.

    Đầu năm học, tôi chỉ đạo bộ phận chuyên môn triển khai các chuyên đề của năm học và. Cần nghiên cứu kỹ chuyên đề, đồng thời học tập kinh nghiệm ở đơn vị bạn và sau đó triển khai cho giáo viên nắm. Phụ trách chuyên môn cùng các đồng chí tổ trưởng, tổ phó chuyên môn xây dựng các tiết mẫu chuyên đề cho mỗi tổ,  cung cấp cho giáo viên tài liệu để thực hiện các chuyên đề. Tạo điều kiện để 100% giáo viên được dự tập huấn chuyên môn do các cấp tổ chức.

    Trong công tác quản lý chỉ đạo chuyên môn tôi đặc biệt chú ý đến hoạt động như tổ chức hội thảo chuyên đề, đây là mộtviệc làm rất cần bởi vì các hoạt động với các đề tài cụ thể sẽ là những ví dụ sinh động giúp cho giáo viên mắt thấy, tai nghe những gì mình được học ở lý thuyết và nghe qua hội thảo. Nhận thức vấn đề này tôi thường xuyên chỉ đạo tổ chức chuyên đề mới theo kế hoạch đầu năm của trường, cấp trên đề ra cho toàn giáo viên được dự và đúc kết rút kinh nghiệm sau thực hiện chuyên đề, đồng thời tiến đến công tác kiểm tra và đánh giá chuyên đề, bổ sung những khiếm khuyết giáo viên kịp thời chỉnh sửa những sai sót của mình.

    Trước đây mỗi khi tổ chức kiến tập dự giờ thường chỉ định một giáo viên khá hoặc giáo viên lớp điểm dạy cho cả tổ cùng dự, sau khi dự giờ mức độ tiếp thu của mỗi giáo viên chưa rõ, một số giáo viên đi dự giờ chưa có ý thức nghiêm túc ghi chép không đầy đủ nên kết quả quả không cao. Ban giám hiệu đã cải tiến lại cách tổ chức như sau: Mỗi hoạt động nào đó từng giáo viên ai cũng tổ chức hoạt động và được góp ý;  giáo viên nào chưa mạnh dạn thì được góp ý giúp đỡ để lần sau dạy tiếp cho đến khi đạt kết quả cao hơn. Với biện pháp này giúp giáo viên học tập lẫn nhau rất nhiều. Khi dự giờ, giáo viên đã có ý thức tốt hơn, chuẩn bị chu đáo, theo dõi ghi chép đầy đủ để tham gia ý kiến cùng rút kinh nghiệm.

    Từ những hình thức này sẽ tạo cơ hội cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm về việc thực hiện, đối chiếu với việc thực hiện của đồng nghiệp để rút ra những tồn tại cần khắc phục, học hỏi những cái hay, cái tốt. Chúng tôi thực sự thấy hiệu quả với những buổi dự giờ kiến tập và hội thảo chuyên đề, sau mỗi hoạt động  là những bài học không chỉ cho chính người giảng dạy mà cho tất cả thành viên trong Hội đồng sư phạm, những lời góp ý sâu sắc, chính xác, chân thành và đầy tinh thần xây dựng, luôn được tôn trọng, xem xét và hưởng ứng.

    b) Bồi dưỡng qua các phong trào thi đua, các hội thi…

    Có thể nói, biện pháp bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua, tổ chức các hội thi, hội giảng thường xuyên sẽ giúp cho giáo viên mạnh dạn, bình tĩnh tự tin khi lên lớp. Để đạt được thành tích đòi hỏi mỗi người phải trau dồi năng lực sư phạm, nghệ thuật lôi cuốn trẻ, phải chịu khó suy nghĩ tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp, bạn bè …Từ đó trình độ chuyên môn và tay nghề của giáo viên được nâng lên. Phong trào thi đua gắn liền với các hội thi sẽ làm cho phong trào thi đua trong nhà trường càng sôi nổi, có tác dụng tuyên truyền đến đa số  phụ huynh; Trong các  phong trào thi đua nhà trường luôn xác định rõ mục tiêu, luôn thể hiện tốt  tinh thần công khai, minh bạch, đảm bảo công bằng và dân chủ trong các Hội thi. Hằng năm trường đã tổ chức các hội thi: “Thi trang trí lớp, thi thiết kế giáo án điện tử, thi hội giảng chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam, thi giáo viên giỏi cấp trường, thi làm đồ dùng dạy học…” đều đạt kết quả tốt.

    Việc tổ chức các hội thi trong nhà trường có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của các giáo viên. Trong các hội thi, họ có điều kiện khẳng định mình trước tập thể. Song bên cạnh đó, việc tổ chức các hội thi cũng tạo được mối quan hệ thân ái, giúp đỡ nhau trong tập thể giáo viên nhà trường để cùng nhau tiến bộ.

    Để các hội thi thành công và có kết quả tốt, tôi  xây dựng kế hoạch chuyên môn cụ thể cho từng tháng, thông báo với toàn chị em để họ nắm được nội dung, thời gian thi.

    Ví dụ:

    – Tháng 9, 10: Thi trang trí nhóm lớp.

    – Tháng 11: Thi thiết kế bài giảng điện tử,  Hội giảng chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

                 -  Tháng 12: Thi giáo viên giỏi cấp trường, Thi làm đồ dùng dạy học

    -  Tháng 3:  Thi chế biến món ăn ngon vào dịp 8/3 .

    Tổ chức thi giáo viên giỏi cấp trường có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên vì khi tham gia giáo viên dạy giỏi đòi hỏi giáo viên phải suy nghĩ nghiên cứu nội dung chương trình kỹ hơn, tìm tòi những phương pháp, biện pháp thật linh hoạt, sáng tạo trong khi lên lớp, tạo những tình huống mới lạ để trẻ tập trung chú ý hơn, hứng thú trong giờ học, bên cạnh đó giáo viên đầu tư nhiều hơn về việc làm đồ dùng dạy học, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi, đồ dùng có nhiều sáng tạo để tham gia dự thi đạt kết quả cao. Và một điều quan trong hơn đây là đợt sinh hoạt, giao lưu học hỏi, trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ. Cứ sau mỗi lần tổ chức thi, thì số giáo viên tham gia nhanh chóng nắm vững chuyên môn, tạo được uy tín đối với đồng nghiệp với các bậc cha mẹ trẻ.

    Riêng giáo án thi giáo  viên dạy  giỏi; thao giảng của giáo viên trong trường và ở đơn vị bạn được đóng lại thành quyển để cho giáo viên tham khảo.

    Trong các đợt thi,  giáo viên  luôn có sự chuẩn bị và nỗ lực phấn đấu để đạt kết quả cao nhất. Sau hội thi, trường có tổng kết rút kinh nghiệm khen thưởng các cá nhân có thành tích xuất sắc. Chính vì vậy nên phần nào cũng đã động viên tinh thần của chị em, nâng dần chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường .

    Nâng cao trình độ chuyên môn qua viết sáng kiến kinh nghiệm: Đầu năm đăng ký đề tài; tổ chức chấm sáng kiến kinh nghiệm và chọn sáng kiến hay vào cuối năm. Nhờ có việc tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm hàng năm mà những kinh nghiệm hay đã được phổ biến áp dụng, chất lượng giảng dạy trong trường ngày một tốt hơn.

    Khuyến khích và tạo điều kiện để giáo viên làm nhiều đồ dùng dạy học từ nguyên vật liệu mở: 

    Tôi chỉ đạo giáo viên các lớp xin các vật liệu phế thải của phụ huynh như: vỏ hộp bánh, vỏ hôp sữa, vỏ hộp thuốc lá, vỏ hộp kem đánh răng… và các nguyên vật liệu ở địa phương như: mo cau, quả bàng, bông dừa, hột hat…. Mỗi học kỳ tổ chức cho giáo viên làm đồ dùng dạy học 1,2 lần. Trong buổi làm đồ dùng chủ yếu là mỗi người đưa lên 1 ý tưởng mới, hoặc tạo ra mẫu mới, hoặc sưu tầm được mẫu mới phổ biến lại cho đơn vị, phần còn lại thì giáo viên tự làm ở nhà.

              c) Công tác bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường.

    Như chúng ta đã biết một điều vô cùng quan trọng cần thiết hơn phải làm trước mắt đó là giảm tải sức lao động cho cán bộ, giáo viên, nhân viên. Vì vậy giáo viên mới có hứng thú và có thời gian đến với công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin là phương tiện giúp cho giáo viên học hỏi, nâng cao trình độ hiểu biết, chứ không chỉ đơn thuần chỉ soạn những giáo án điện tử để dạy trẻ.

    Chính vì lẽ đó hằng năm nhà trường đã xây dựng kế hoạch, phổ biến cho toàn trường đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và dạy học. Ban giám hiệu tổ chức tập huấn cho tất cả cán bộ giáo viên- nhân viên toàn trường bồi dưỡng và bổ sung về kĩ năng vi tính, đồng thời khuyến khích tinh thần tự học ở mỗi cán bộ giáo viên- nhân bởi kiến thức công nghệ thông tin là vô tận. Qua đó tổ chức thi đua dạy và soạn giáo án điện tử ở tất cả các khối lớp, trao đổi thông tin lẫn nhau. Chỉ đạo và động viên cho số giáo viên trẻ giảng dạy bằng giáo án điện tử, được Ban giám hiệu, Ban công nghệ thông trường học và các bạn đồng nghiệp trong toàn trường dự giờ, rút kinh nghiệm.

    Bên cạnh đó, nhà trường cũng đã triển khai cho giáo viên tổ chức cho trẻ ở khối các lớp mẫu giáo làm quen với máy vi tính thông qua các phần mềm phát triển trí tuệ: Kidsmart nhằm hình thành cho trẻ thói quen và kĩ năng sử dụng máy tính đơn giản cũng như tạo điều kiện cho hoạt động tương tác giữa trẻ và cô trong giờ học bằng giáo án điện tử.

    Ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả: Do cơ sở vật chất thiếu thốn, trường chưa trang bị máy tính đầy đủ cho giáo viên, nhưng tôi đã tạo điều kiện để giáo viên được ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy và đã tổ chức được những tiết dạy thao giảng khá thành công mà tôi muốn chia xẻ cùng đồng nghiệp: Giáo viên phải là người có kế họach bài dạy phù hợp. Trong khi xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy, giáo viên cần có sự đầu tư cao, phải tính đến khả năng của trẻ, kiến thức trọng tâm để sử dụng các thiết bị hổ trợ tiết dạy cũng như các nội dung ứng dụng công nghệ sao cho tiết dạy hấp dẫn được trẻ và đạt hiệu quả cao. Sưu tầm tranh ảnh, hình ảnh sinh động để đưa vào bài dạy. 

    Nếu chỉ dừng lại ở mức độ tranh ảnh với những hình ảnh mờ nhạt, hình ảnh chết thiếu sinh động, không có nhiều tác dụng tình huống thì sự hứng thú của trẻ và sự tiếp thu kiến thức ở trẻ sẽ không cao. Vì vậy, giáo viên phải tìm tòi và sưu tầm tranh ảnh, những hình ảnh động gần gũi thực tế với trẻ gây cho trẻ sự hứng thú hơn. Nhờ đó trẻ tiếp thu được bài một cách nhẹ nhàng theo phương châm “ Học mà chơi – Chơi mà học”. Trong quá trình xây dựng bài nên kết hợp nhiều phần mềm khác nhau để dạy có âm thanh tự nhiên, quen thuộc, gần gũi với trẻ hàng ngày. Âm thanh là cần thiết những hình ảnh động cũng cần thiết không kém. Vì vậy, giáo viên phải đưa ra những hình ảnh động và âm thanh cùng cách thể hiện phù hợp với nội dung kiến thức của bài, giúp cho trẻ tri giác cụ thể và cuốn hút vào bài học.

     

    Giờ dạy ứng dụng CNTT của lớp 5TA

    Hưởng ứng việc ứng dụng công nghệ thông tin nhà trường đã phát động phong trào xây dựng và sử dụng soạn giáo án bằng vi tính  trong suốt cả năm học. Nhằm tạo cho giáo viên có tính chủ động, có nhiều biện pháp tích cực và hình thức sáng tạo trong các hoạt động chung…

    Ví dụ:

    Khi chẳng may bấm nhằm quá hình ảnh thì khôi phục bằng cách nào? Hay giáo án đã hoàn thiện muốn thêm chữ minh họa thì làm thế nào?… Mỗi giáo viên nghiêm túc thực hiện kế hoạch giáo dục trẻ, tổ chức đầy đủ các hoạt động trong ngày như: Hoạt động chung; hoạt động góc; hoạt động ngoài trời; hoạt động chiều… Giáo án soạn đầy đủ, đúng nội dung, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng phát triển ngôn ngữ, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ. Biết lựa chọn, vận dụng phương pháp giáo dục tích cực tạo tình huống, cơ hội nhằm phát huy trí tuệ, tính sáng tạo của trẻ.

    Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, dự giờ, đánh giá giáo viên.

    Kiểm tra là một chức năng quan trọng, vừa là một biện pháp quản lý có hiệu quả. Kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn là trách nhiệm của cán bộ quản lý. Kiểm tra là một việc làm thường xuyên, kiểm tra bằng nhiều hình thức, kiểm tra toàn diện, chuyên đề, kiểm tra theo định kỳ, kiểm tra đột xuất… một số nội dung: Kiểm tra việc thực hiện chương trình, kiểm tra hồ sơ, giáo án, kiểm tra thực hiện chế độ sinh hoạt, kiểm tra việc đánh giá chất lượng….

    Qua kiểm tra, cán bộ quản lý nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về tình hình thực hiện chuyên môn, đánh giá đúng phẩm chất năng lực của giáo viên, phát hiện đúng những lệch lạc, thiếu sót để kịp thời bổ sung, điều chỉnh và uốn nắn giáo viên nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động chuyên môn của giáo viên. Trong công tác quản lý nhà trường nếu thiếu kiểm tra chuyên môn thì việc chỉ đạo chuyên môn của người Hiệu phó sẽ mất đi một nội dung quan trọng. Mặt khác qua kiểm tra chuyên môn, cán bộ quản lý tác động đến hành vi của giáo viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc, nâng cao ý thức tự bồi dưỡng phấn đấu đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của nhà trường.

    Vì vậy để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý không được phép buông lỏng công tác kiểm tra. Để công tác kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý cần đảm bảo:

    + Xác định rõ mục đích yêu cầu của từng đợt kiểm tra dựa trên yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của nhà trường của năm học.

    + Phải có kế hoạch cụ thể trên cơ sở kế hoạch kiểm tra cả năm , học kỳ, đi sâu vào kế hoạch từng đợt kiểm tra xác định rõ mục đích yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra.

    + Làm tốt công tác tuyên truyền giúp cho giáo viên thông suốt việc kiểm tra, khuyến khích tinh thần tự giác, trung thực của giáo viên để giáo viên chuẩn bị mọi phương tiện và điều kiện tích cực góp phần thực hiện tốt cùng đợt kiểm tra đó

    Về nội dung kiểm tra: kiểm tra về qui chế chuyên môn, hồ sơ sổ sách ( Kế hoạch, bài soạn, sổ chuyên đề, sổ theo dõi trẻ, sổ ghi chép cá nhân về các buổi bồi dưỡng chuyên môn…), phương pháp dạy của bộ môn, cách trang trí nhóm lớp để đánh giá tình hình triển khai và thực hiện chuyên môn. của giáo viên có đúng như kế hoạch mà trường đã chỉ đạo hay không.

    Phương pháp kiểm tra: Kiểm tra dự giờ có báo trước đột xuấtvề các tiết dạy cũng như hoạt động thông qua phiếu dự giờ

    Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá

    + Trong công tác kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan và công khai, công bằng và dân chủ.

    +Sau kiểm tra phảicó những nhận xét đánh giá chính xác, phân tích các ưu điểm, tồn tại của giáo viên để giúp họ phát huy những mặt mạnh, khắc phục những hạn chế áp dụng vào thực tế chăm sóc giáo dục trẻ.

    Thời gian kiểm tra: Trong một tháng ít nhất giáo viên phải được dự ít nhất một giờ dạy hoặc một hoạt động. trong một học kỳ, mỗi giáo viên phải được kiểm tra 3- 4 lần. Ngoài ra, tôi còn kiểm tra đột xuất hàng ngày, hàng tuần để kịp thời nhắc nhở giúp đỡ giáo viênvề chuyên môn

    Tổng số dự giờ các tiết dạy và hoạt động của giáo viên từ tháng 9 cho đến nay:  Tổng số tiết được kiểm tra 121 tiết.

     Xếp loại: Tốt : = 108/121= 89%

                    Khá: 13/121= 11%      

     Kiểm tra toàn diện 11 giáo viên trong đó: Tốt =8/11=73% ; Khá=3/11=27%

     Kiểm tra HSSS được 22 bộ ;  Tốt: 16/22 bộ = 72,7% ; Khá: 6/22 = 27,3%

              Có thể nói, kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Có kiểm tra, đánh giá chính xác thì mới tìm ra những ưu điểm, tồn tạicủa giáo viên trong giảng dạy. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường

     

    Dự Hoạt động học của lớp 4TC

    Biện pháp 6: Xây dựng khối đoàn kết nhất trí, chăm lo đời sống cho đội ngũ

    Trong sự nghiệp giáo dục, Lê- nin đã nói: “Sự nhất trí trong một tập thể sư phạm là yếu tố quyết định mọi sự thành công trong nhà trường”. Do đó, muốn xây dựng tập thể đoàn kết, thì Hiệu trưởng phải là trung tâm xây dựng khối đoàn kết trong nhà trường. Xác định được yêu cầu trên, Hiệu trưởng phải thực sự là con chim đầu đàn, gương mẫu trong công tác, trong sinh hoạt, đầu tư nghiên cứu để tạo được niềm tin thật sự của tập thể, luôn gần gũi tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh từng giáo viên để có những giúp đỡ, giải quyết phù hợp, chân tình, giải toả những mâu thuẫn để tránh “Bằng mặt nhưng không bằng lòng”. Phối hợp với các đoàn thể trong trường, địa phương để làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, xây dựng đơn vị thực sự là tổ ấm, trao đổi giúp đỡ nhau trong công tác, trong chuyên môn, trong đời sống để từ đó tình cảm gắn bó và yên tâm công tác.

     Để làm được việc trên, BGH luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, lập trường tư tưởng vững vàng, sẵn sàng giúp đỡ những khó khăn vướng mắc của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong công tác, đời sống, biết lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh của từng  giáo viên qua đồng nghiệp, qua các đợt kiểm tra, qua các lớp bồi dưỡng hay những lúc tâm tư, trò chuyện cùng đồng nghiệp,

    Để có biện pháp giải quyết, giúp đỡ đội ngũ kịp thời, phù hợp từng hoàn cảnh BGH thường xuyên thăm hỏi động viên nhau cùng công tác tốt và điều quan trọng là phải tạo được uy tín, niềm tin đối với từng cán bộ giáo viên về mọi mặt nhất là những hiểu biết về chuyên môn, về quản lý, về tham gia học tập … Đồng thời tạo điều kiện để cùng thăm hỏi, quan tâm giúp đỡ nhau tạo thành một tập thể yêu thương, tôn trọng nhau, cùng chung sức và hoàn thành nhiệm vụ.

    Từng bước thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với người lao động theo quy định hiện hành của Nhà nước. Bên cạnh việc đầu tư để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ trên các mặt cơ bản về chuyên môn, năng lực sư phạm, phẩm chất nghề nghiệp, một điều mà người quản lý nào cũng cần quan tâm sâu sát, đó chính là đời sống tinh thần vật chất cho đội ngũ giáo viên là yếu tố cần thiết đây là một trong những vấn đề mà ngành học mầm non nói chung và trường mầm non Đồng Tĩnh  nói riêng, chế độ giáo viên không đảm bảo đã làm hạn chế khả năng làm việc của đội ngũ.

    Nắm bắt được tâm tư nguyện vọng, cũng như hiểu được những vất vả khó khăn của giáo viên, ngay từ đầu năm học, nhà trường phối hợp với phụ huynh thống nhất thỏa thuận mức bồi dưỡng công tác bán trú tại trường tuy mức bồi dưỡng không cao nhưng đó cũng là nguồn động viên tinh thần rât lớn với chị em để chị em yên tâm công tác, ngoài ra trong các ngày lễ, ngày tết nhà trường tham mưu với địa phương,  phối hợp với Hội phụ huynh tặng quà cho chị em kịp thời.

    Bên cạnh đời sống vật chất thì đời sống tinh thần cũng không thiếu được, BGH thường xuyên phối hợp với công đoàn tổ chức sinh hoạt, tọa đàm, giao lưu văn nghệ trong các ngày lễ 20/10, 20/11 và ngày 8/3, …với nội dung phong phú, thể hiện bầu không khí đầm ấm, vui vẻ yêu thương, đoàn kết rất cao trong nhà trường, 100% chị em thực hiện ba giúp, mỗi khi chị em nào bị ốm hoặc có tâm sự gì không vui thì toàn thể hội đồng thăm hỏi, động viên giúp đỡ nên chị em

     gắn bó, đoàn kết thực hiện tốt công việc

    Tọa đàm kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam

    Những biện pháp trên không phải là điều kiện để nâng cao chất lượng đội ngũ nhưng đó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ. Nếu giải quyết thỏa mãn những nhu cầu về chế độ đời sống, có khen thưởng vật chất và tinh thần kịp thời, công bằng, dân chủ sẽ giúp cho giáo viên, các thành viên trong hội đồng làm việc tốt hơn, tạo được động cơ phấn đấu rèn luyện học tập trong đội ngũ, các yếu tố này đảm bảo sẽ tạo năng suất và chất lượng lao động cao, đồng thời làm cho chất lượng đội ngũ ngày càng cao hơn.

               6.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến:                                       

    Đề tài được nghiên cứu, áp dụng tại trường mầm non Đồng Tĩnh – xã Đồng Tĩnh – huyện Tam Dương – tỉnh Vĩnh Phúc.

    Có thể áp dụng ở các đơn vị khác cũng có điều kiện thực tế giống như ở

     trường tôi.

    7. Những thông tin cần được bảo mật: Không

    8. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

     - Cơ sở vật chất nhà trường, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi…

    – Con người: Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trường mầm non Đồng Tĩnh

    9. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến:

    Giáo dục là dạy làm người, là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Đó cũng chính là hai mục tiêu nhằm mà ngành giáo dục nói chung, trường mầm non Đồng Tĩnh nói riêng đã và đang thực hiện để đạt được .

    Khi nói về sự tác động của xã hội đến con người, Bác Hồ đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò giáo dục của xã hội, nhất là với lớp người trẻ. Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn. Phát triển Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt có vai trò rất quan trọng.

     Ngành học mầm non là nền tảng đầu tiên của ngành giáo dục và đào tạo, chất lượng giáo dục trẻ tốt góp phần vào việc xây dựng và phát triển trường học, đưa chất lượng giáo dục đảm bảo yêu cầu xây dựng trường tiên tiến và yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện về “Đức – Trí – Thể – Mỹ”. Hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề vững chắc cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.

    Chính vì vậy cần tập trung vào việc thực hiện đổi mới nâng cao chất lượng, nội dung, phương pháp,  phát huy hiệu quả cao nhất trong việc tổ chức, chỉ đạo công tác giảng dạy, giáo dục học sinh. Chất lượng giáo dục của chúng ta mới đáp ứng được sự kỳ vọng mà sự nghiệp đổi mới giao cho ngành giáo dục.

    `        Nhờ sự nỗ lực của bản thân trong công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường đã đẩy mạnh chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo được niềm tin trong phụ huynh và các bạn đồng nghiệp. Với những biện pháp nêu trên đã đạt kết quả như sau:

    Bảng 4: Tình hình đội ngũ tháng 2/2017

     

    Số lượng: 27

    Trình độ chuyên môn

    CBQL

    GV

    NV

    Đại học

    Cao đẳng

    Trung cấp

    Sơ cấp

    3

    22

    2

    16

    0

    11

    0

     

     

     

    59,3%

     

    40,7,5%

     

    Nhận xét:

    Số lượng đội ngũ tăng hơn 01 so với  đầu năm, nhà trường được bổ sung thêm nhân viên kế toán; Tỷ lệ giáo viên trên lớp còn thiếu so với quy định.

    Bảng 5: Đánh giá chất lượng đội ngũ tháng 2/2017

    Tổng số : 27 người

    Tiêu chí

    Kết quả

    Tư tưởng nhận thức

    Năng lực chuyên môn

     

    Kết quả kiểm tra, dự giờ

    Hồ sơ sổ sách

     

    Các hoạt động khác

    T

    K

    TB

    T

    K

    TB

    T

    K

    TB

    T

    K

    TB

    T

    K

    TB

    SL

    18

    9

     

    20

    7

     

    17

    5

     

    18

    9

     

    22

    5

     

    %

    67

    33

     

    74

    26

     

    77

    23

     

    67

    33

     

    82

    18

     

    Nhận xét:

    Qua đánh giá tháng 02/2017,  kết quả các tiêu chí đều nâng lên rõ rệt, đảm bảo yêu cầu.

    Chất lượng giảng dạy, chất  lượng hồ sơ sổ sách; trình độ chuyên môn, tay nghề của cán bộ, giáo viên đều nâng cao.

    Việc nhận thức, tư tưởng và tinh thần tham gia các hoạt đông của cán bộ,  giáo viên, nhân viên trong nhà trường được nâng cao hơn rất nhiều

    Bảng 6: Đánh giá chất lượng học sinh tháng 2/2017

    Tổng số: 442 học sinh

    Lĩnh

    vực

     

    Kết quả

    Phát triển thể chất

    Phát triển nhận thức

    Phát triển ngôn ngữ

    Phát triển tình cảm -kỹ năng xã hội

    Phát triển thẩm mỹ

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    Đạt

    Chưa đạt

    SL

    422

    20

    414

    28

    430

    12

    404

    38

    400

    42

    %

    95

    5

    94

    6

    97

    3

    91

    9

    90

    10

    Nhận xét:

    Qua đánh giá tháng 02/2017, số lượng trẻ đạt ở các lĩnh vực phát triển tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với đầu năm.

    Chính vì vậy tôi nhận thấy cần tập trung vào việc thực hiện đổi mới nâng cao chất lượng, nội dung, phương pháp,  phát huy hiệu quả cao nhất trong việc tổ chức, phân công đúng người đúng việc; chỉ đạo công tác giảng dạy, giáo dục học sinh. Chất lượng giáo dục của chúng ta mới đáp ứng được sự kỳ vọng mà sự nghiệp đổi mới giao cho ngành giáo dục. 

    Muốn đạt được điều điều đó, người cán bộ quản lý phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, học tập, nghiên cứu, chỉ đạo sát sao trong việc đánh giá chất lượng giáo dục, đưa chất lượng giáo dục ngày càng đi lên đáp ứng với yêu cầu đổi mới góp phần thực hiện Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ tốt sẽ là cơ sở tốt để nhà trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục mà Đảng và nhà nước đã giao phó.

    9.1. Đối với bản thân:

              Giáo dục mầm non là một bậc học đòi hỏi có nghệ thuật khoa học khác với các bậc học khác. Vì vậy, trước hết người cán bộ quản lý phải có sự năng động, sáng tạo, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức lối sống, chủ động trong công tác chỉ đạo nhà trường, chỉ đạo chuyên môn, chất lượng các hoạt động giáo dục trong nhà trường.

    Bản thân tôi  tuổi đời tuy không còn trẻ, song với lòng quyết tâm trong quá trình rèn luyện, tích cực học tập nghiệp vụ chuyên môn đã giúp tôi vượt qua những khó khăn và gặt hái được thành công trong công tác.

    Biết lắng nghe ý kiến tâm sự của đồng nghiệp, biết phát huy quyền dân chủ trong hội họp. Mạnh dạn, năng động, sáng tạo tìm tòi những biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà trường. 

    Biết rõ đặc điểm tình hình của đội ngũ về mọi mặt: Tư tưởng, tình cảm,

    chuyên môn nghiệp vụ, điều kiện, hoàn cảnh… để có biện pháp phân công, bồi dưỡng cụ thể và phải có khả năng phát triển năng lực của đội ngũ.

    Trong công tác bồi dưỡng đội ngũ phải chú ý xây dựng bằng được nền nếp, phong cách làm việc nghiêm túc, tạo sự công bằng trong tập thể qua kiểm tra dự giờ, đánh giá khen thưởng, phát huy tinh thần tự học, tự rèn về chuyên môn, phẩm chất đạo đức ở mỗi cán bộ, giáo viên Mầm non.

    Vai trò của người quản lý hết sức quan trọng, phải thực sự gương mẫu, phải giỏi về chuyên môn, có uy tín, phải xây dựng được sự tin yêu và tin tưởng đối với đội ngũ. Xây dựng kế hoạch một cách khoa học và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc .

    Tham mưu tích cực với các cấp lãnh đạo để mua sắm, bổ sung đầy đủ các trang thiết bị, đồ dùng dạy học.

    Thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục, khảo sát chất lượng trẻ đúng quy trình.

    Chỉ đạo tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn.       

    Chỉ đạo đội ngũ luôn học tập không ngừng nâng cao phẩm chất, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nắm bắt kịp thời các thông tin đổi mới về phương pháp giáo dục góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong Trường mầm non, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

                9.2. Đối với nhà trường:

    Nhờ sự nỗ lực của bản thân trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường đã đẩy mạnh chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo được niềm tin trong phụ huynh và các bạn đồng nghiệp đã  đạt được kết quả như sau:

    – Cán bộ, giáo viên, nhân viên  có  nhận thức, tư tưởng vững vàng, tích cực tham gia các phong trào nhà trường.  Đánh giá chất lượng chuẩn có 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên  đạt từ khá trở lên về chuẩn đạo đức nhà giáo. CBGV đều phát huy tốt vai trò gương mẫu thực hiện tốt các nghĩa vụ tại địa phương nơi cư trú. Đánh giá công chức hàng năm đối với CBGV có 82% đạt loại xuất sắc.

    – Giáo viên có năng lực chuyên môn đồng đều, 100% giáo viên có khả năng vận dụng sáng tạo hiệu quả các hoạt động theo chương trình đổi mới và 82% ứng dựng tốt CNTT vào trong giảng dạy, qua CNTT đã nâng cao trình độ kiến thức và năng lực chuyên môn của giáo viên: 91% giáo viên soạn bài vi tính 82% giáo viên biết dạy giáo án điện tử đồng thời biết sử dụng các phần mềm, biết sử dụng chương trình  Kidsmart, và vận dụng tốt vào các hoạt động giáo dục cho trẻ.

    – 100% giáo viên sáng tạo trong việc làm đồ dùng đồ chơi và trang trí môi trường thân thiện, tạo hướng mở theo chương trình GDMN  đạt hiệu quả cao; 100% giáo viên tham gia  thi làm đồ dùng đồ chơi cấp trường, có: 20 giáo viên tham gia và đạt giải Ba trở lên; thi giáo viên giỏi cấp trường có 20 giáo viên tham gia và có 07 giáo viên đạt giải Nhì; có 04 giáo viên tham gia thi giáo viên giỏi cấp huyện và 01 giáo viên đạt giải Nhì.

    – Nhờ sự xây dựng những biện pháp đảm bảo, phù hợp với đặc điểm và tình hình của trường nên trong năm học này từng giáo viên có nhiều đầu tư sáng tạo đã dẫn đến kết quả Kiểm tra toàn diện, Kiểm tra Hồ sơ sổ sách 100% GV đạt khá, tốt, không còn giáo viên đạt yêu cầu.

    – Tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường luôn đoàn kết, nhất trí, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    10. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu.

     

    Số TT

    Tên tổ chức/cá nhân

    Địa chỉ

    Phạm vi/Lĩnh vực

    áp dụng sáng kiến

     

     

    1

    Trường MN Đồng Tĩnh

    Thôn Đông Trung,

    xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Thực tế hoạt động và một số biện pháp mới nâng cao chất lượng đội ngũ trường Mầm non Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

     

     

    2

    Nguyễn Thị Kim Dung

    Xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Thực tế hoạt động và một số biện pháp mới nâng cao chất lượng đội ngũ trường Mầm non Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

     

    Đồng Tĩnh, ngày 26 tháng 02 năm 2021

    Thủ trưởng đơn vị

     

    Đồng Tĩnh, ngày 22 tháng 02 năm 2021

    Tác giả sáng kiến

     

     

    Nguyễn Thị Kim Dung

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường .công An Tra Vinh
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn Trong Bậc Học Mầm Non Ở Huyện Đông Sơn
  • Skkn Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Đạt Hiệu Quả Cao Tại Trường Mầm Non Hải Vân, Huyện Như Thanh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng
  • 7 Cách Marketing Ít Vốn Nhưng Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tự Học Học Phần Ktm1 Cho Sinh Viên Ngành Công Nghệ May

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Quy Trình Lắp Đặt Và Phương Án Thi Công
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Công Nghệ An Phát
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Kỹ Thuật Năng Lượng Trường Thịnh
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Kỹ Thuật Ấn Tượng
  • Giải Pháp Hotel Tv Và Hệ Thống Iptv Cho Khách Sạn
  • Tự học có vai trò, ý nghĩa rất lớn không chỉ trong giáo dục nhà trường mà cả trong cuộc sống. Trong nhà trường, bản chất của quá trình học là tự học, kết quả học tập của người học tỉ lệ thuận với năng lực tự học của SV.

    Trên thực tế còn một số SV ngành Công nghệ may chưa nhận thức đúng về vai trò tự học, đ

    a số SV đã hiểu được tầm quan trọng của vai trò tự học nhưng chưa dành đủ thời gian cho việc tự học. Việc xác định nội dung tự học chưa chủ động, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho bản thân, hình thức tự học chưa hợp lý, chưa có phương pháp tự học hiệu quả. D

    o vậy đánh giá được thực trạng trong vấn đề tự

    học sẽ là cơ sở giúp nâng cao hiệu quả dạy và học trong trường hiện nay. Bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả tự học học phần KTM1 cho sinh viên ngành công nghệ may” với mong muốn nâng cao hiệu quả tự học cho sinh viên ngành Công nghệ may của Trường Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

                                                                     

    I. KHÁI NIỆM VỀ TỰ HỌC, HIỆU QUẢ TỰ HỌC, CÁC VAI TRÒ VÀ HÌNH THỨC TỰ HỌC

    1. Khái niệm tự học

    Tự học: là sự tự giác, chủ động và độc lập của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức. Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, giao tiếp, thực hành, kiểm tra, đánh giá… để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra.

    2. Khái niệm hiệu quả, hiệu quả tự học

         – Hiệu quả:

    là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc khả năng sản xuất ra sản lượng mong muốn. Khi cái gì đó được coi là có hiệu quả, có nghĩa là có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động.

       – Hiệu quả tự học: có thể cho rằng hiệu quả tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các khả năng trí tuệ để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình sao cho đạt được kết quả mong muốn.

    3. Vai trò của tự học

         Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như hiện nay cùng với sự bùng nổ công nghệ thông tin, việc tự học có vai trò vô cùng quan trọng. Tự học được xem là “chìa khóa vàng” giúp con người đã và đang bước vào thiên niên kỷ mới với trình độ khoa học – công nghệ hiện đại. Việc tự học giúp con người không ngừng nâng cao hiểu biết, cập nhật tri thức nghề nghiệp, phát huy được năng lực của bản thân trong lao động và sáng tạo. 

     

     Hình 1. Vai trò của tự học

    4. Đặc điểm tự học trong đào tạo tín chỉ

    Đào tạo theo hình thức tín chỉ là phương pháp đào tạo có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống. Theo hình thức tín chỉ thì SV là trung tâm, ngoài kiến thức GV truyền đạt trên lớp thì SV phải tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu. Việc tự học của SV đại học còn có một đặc điểm; đó là hoạt động tự học diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức.

    Đặc biệt việc tự học các học phần nói chung và thực hành nói riêng của SV đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để chuẩn bị cho một nghề trong tương lai. Do đó SV phải tự trang bị cho mình những hiểu biết cơ bản, vững vàng về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác theo yêu cầu của cuộc sống. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

    5. Các hình thức tự học

    – Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: Tự học theo 

    – Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): SV được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không trao đổi, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, SV cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình.  

      – Tự học qua tài liệu hướng dẫn:

     Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học SV cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai.

    – Hình thức tự học trên lớp: Đa số SV đại học hiện nay tự học ở lớp, với hình thức này SV tập trung nghe giảng, suy nghĩ, mạnh dạn và hăng hái phát biểu xây dựng bài ở lớp bởi vì thường nhớ rất nhanh. Tích cực trong những bài tập nhóm tại lớp, kết hợp với việc sử dụng các thao tác tư duy và ghi chép bài trên lớp, tự ghi những ý cơ bản, có chọn lọc, ghi nhanh, tạo những chữ viết tắt cho riêng mình và tránh thay đổi nó, phối hợp nhiều màu mực trong cách ghi bài để thể hiện một dàn bài hiệu quả.

    II. THỰC TRẠNG TỰ HỌC CÁC HỌC PHẦN KỸ THUẬT MAY

    1. Đặc điểm ngành công nghệ may

       Trong chương trình đào tạo Đại học ngành Công nghệ may học phần KTM1 là học phần đầu tiên hướng dẫn sinh viên các thao tác cơ bản, may các chi tiết và lắp ráp áo sơ mi. Học phần này rèn luyện kỹ năng nghề cho SV vì thế học phần này có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kỹ năng, kỹ xảo cho SV. Bài tập tự học thường là phân tích kết cấu các chi tiết áo sơ mi, chuẩn bị bài may theo trình tự, hoặc phân tích một số lỗi của các chi tiết áo sơ mi, 1 số lỗi trong quá trình lắp ráp sản phẩm.

    2. Đặc điểm sinh viên ngành công nghệ may

    Trong thời gian học tập học phần KTM1 SV được trang bị kiến thức lý thuyết, được thực hành kỹ năng may các chi tiết, lắp ráp áo sơ mi, được bố trí phòng tự học thực hành ngoài giờ lên lớp khi có nhu cầu.

    Nhưng theo kết quả khảo sát SV trình độ Đại học của trường Đại học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội về tình hình tự học của SV thì số SV dành thời gian dưới 2 giờ tự học hàng ngày chiếm tới gần 60%. Cũng theo khảo sát có tới hơn 90% SV tự học có nội dung, phương pháp tự học chủ yếu do GV giao và theo đề cương học phần. Điều này cho thấy SV chưa chủ động trong việc tìm kiếm thông tin, chưa có phương pháp tự học hiệu quả. Ngoài ra môi trường sống hiện nay cũng gây ảnh hưởng lớn tới tinh thần và ý thức học tập của SV, một số SV đã dành phần lớn quỹ thời gian cho những hoạt động vui chơi như chơi game, tham gia các mạng xã hội, bán hàng đa cấp, online…

    3. Thực trạng về cơ sở vật chất của trường

    Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng góp phần bảo đảm chất lượng đào tạo của nhà trường bên cạnh các điều kiện bảo đảm khác như đội ngũ GV, chương trình học tập.

    Hiện tại nhà trường có 41 phòng thực hành trong đó có 8 phòng được trang bị máy điện tử, 33 phòng máy cơ, trong phòng có máy một kim, máy vắt sổ, bàn là để SV thực hành các học phần KTM. Ngoài thiết bị may nhà trường còn trang bị trung tâm thư viện với hàng nghìn đầu sách tham khảo các loại, có hệ thống thư viện điện tử phục vụ cho SV trong việc tham khảo tài liệu. Bên cạnh đó để giúp SV hoàn thiện viêc tự học trung tâm THM đã chủ động cho SV đăng ký tự học, sắp xếp phòng học thực hành, GV hướng dẫn lớp tự học.

    III.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ HỌC CHO SINH VIÊN

    1. Tạo hứng thú trong tự học

    * Mục đích: Tạo hứng thú trong tự học để khích lệ SV tích cực tham gia vào các hoạt động tự học và hình thành thái độ làm việc cũng như ý chí vượt khó để hoàn thành các bài tập được giao.

     * Nội dung:

    – Định hướng tư tưởng, động viên, khích lệ SV;

            - Vận dụng phương pháp giảng dạy tích cực nhằm kích thích hứng thú tự học cho SV.

     

    * Cách thực hiện:

           - SV:

    + Có thái độ học tập nghiêm túc: Chuẩn bị bài trước khi khi đến lớp, đọc giáo trình Công nghệ may áo sơ mi

         – Giảng viên:

    + Áp dụng tốt các phương pháp giảng dạy tích cực và khai thác có hiệu quả các phương tiện giảng dạy hiện đại như: máy tính, ti vi, các thiết bị chuyên dùng, cữ, dưỡng… có thể sử dụng trong từng bài giảng;

    2. Lập kế hoạch và quản lý thực hiện kế hoạch học tập theo tuần của SV

    * Mục đích:

    – Đảm bảo cho hoạt động tự học của SV có định hướng, mục tiêu rõ ràng;

    – Giúp cho SV nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tự học và có ý thức với bản thân trong việc lập kế hoạch học tập và quản lý thực hiện kế hoạch đề ra.

    * Nội dung:

         -  SV tự lập và quản lý kế hoạch thực hiện

         – SV tự xây dựng kế hoạch học tập theo từng tuần  

         – SV tự xây dựng kế hoạch học tập theo từng bài

    * Cách thực hiện

        - SV:

     Bước 1: Xác định mục đích và nhu cầu học tập

     

    KẾ HOẠCH THỰC HIỆN THEO TUẦN

    Họ và tên sinh viên:                                          Lớp:

     

    STT

    Ngày thực hiện

    Nội dung thực hiện

    Cách thức thực hiện

    Định mức thời gian

    Ghi chú

    Kế hoạch

    Thực tế

    1

     

     

     

     

     

     

    2

     

     

     

     

     

     

     

    Bước 3: Thực hiện kế hoạch học tập

    Bước 4: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập (Sinh viên tự kiểm tra, đánh giá kết quả bài học theo mẫu sau): 

    PHIẾU KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

    2.3. Rèn luyện phương pháp tự học

     a/  Kỹ năng tìm, đọc, nghiên cứu tài liệu, giáo trình

        * Mục tiêu:

          - Rèn thói quen đọc sách, nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy

    – Giúp SV xác định được nội dung kiến thức cơ bản và xác định được những nội dung cần hiểu và những nội dung còn thắc mắc.

         * Nội dung:

          - Tìm, đọc, nghiên cứu nội dung bài học qua giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu các mã hàng

         * Cách thực hiện:

          – SV tự tìm, đọc, nghiên cứu tài liệu tham khảo theo các bước sau

    Bước 1: Xác định nội dung bài học cần tìm, nghiên cứu đúng nội dung bài học

    Bước 2: Nghiên cứu tài liệu của 1 số mã hàng đang sản xuất hiện nay (GV cung cấp cho SV tài liệu).

    Bước 5: Đọc các loại giáo trình, tài liệu phù hợp với nội dung bài học như: giáo trình công nghệ may áo sơ mi, vật liệu may, thiết bị may…

    Giảng viên:

         – Hướng dẫn SV kỹ năng đọc giáo trình, khuyến khích SV tự đọc, tự nghiên cứu trau dồi kiến thức;

           - GV

    kiểm

    tra việc chuẩn bị bài trước khi đến lớp của SV

    qua

    các bài kiểm tra 5 phút về nội dung bài đọc đã

    yêu

    cầu

    SV xem trước.

             – GV đánh giá kỹ năng ghi nhớ của SV qua những câu hỏi tái hiện kiến thức đã học.

          - Nhấn mạnh những ý chính, từ khóa giúp SV ghi nhớ tốt hơn.

    b/  Kỹ năng ghi nhớ bài học bằng sơ đồ tư duy

    * Mục tiêu:

                - Giúp SV nắm vững kiến thức cơ bản, biết lập đề cương và phát triển tư duy logic, tăng khả năng tổng hợp.               

      – SV khái quát được nội dung kiến thức đã đọc trong giáo trình, các tài liệu tham khảo một cách ngắn gọn, dễ hiểu.

     * Nội dung:

      Ghi tóm tắt nội dung nghiên cứu được bằng sơ đồ tư duy hoặc lập bảng…

     * Cách thực hiện:

       – SV

                SV có thể khái quát lại nội dung kiến thức SV đọc trong giáo trình, nghiên cứu tài liệu ở dạng lập bảng biểu (Bảng trình tự may), vẽ sơ đồ nhận thức như: sơ đồ tư duy.

    Bước 1:

    SV thực hiện  đọc hiểu các thông số, quy cách, yêu cầu của bài

    Bước 2: Tóm tắt lại nội dung đã nghiên cứu (trình tự, phương pháp may…)  bằng cách lập bảng hay vẽ sơ đồ tư duy.

        – Giảng viên:

     + Hướng dẫn SV ghi nhớ nội dung bài học một cách ngắn gọn, dễ hiểu như: dùng từ khóa, lập bảng, vẽ sơ đồ tư duy;

      + GV kiểm tra, nhận xét nội dung, cách thức ghi bài của SV.

    c/  Kết hợp nghe giảng với tự ghi chép

    * Mục tiêu:

        – Giúp SV vừa theo dõi được bài giảng của GV để lĩnh hội kiến thức, hiểu kiến thức và tự ghi vào vở những điều cần thiết;

        – Giáo dục cho SV ý thức tự giác, kiên nhẫn, khả năng chú ý vào đối tượng và tư duy nhanh.

    * Nội dung:

       -  SV chú ý nghe giảng

       – Chọn lọc kiến thức để ghi chép nội dung bài học theo ý hiểu của bản thân

    * Cách thực hiện:

       – SV:

                 Trước hết, biết xác định nội dung cần ghi khi nghe giảng: SV có thể tự ghi dàn ý bài học theo dàn bài của GV và đối chiếu khi theo dõi giáo trình để ghi những thông tin (thông số, quy cách, trình tự, phương pháp may…) những kiến thức cơ bản của bài học. Bên cạnh đó SV cần ghi lại những kiến thức phân tích, đánh giá mở rộng của GV khi giảng bài.

    Hai là, biết gác lại những chỗ khó chưa hiểu và tìm hiểu điều đó ở phần sau, để việc nghe giảng và ghi chép không bị gián đoạn.

    Ba là, tự nêu câu hỏi sau khi nghe giảng để hiểu sâu kiến thức và làm rõ những chỗ chưa hiểu.

       – Giảng viên:

           + Quan sát sự tập chung, chú ý của SV trong bài giảng;

           + GV cần hướng dẫn cho SV ghi lại những kiến thức phân tích, đánh giá mở rộng của GV khi giảng bài.

    2.4. Điều kiện về cơ sở vật chất hỗ trợ hoạt động tự học của SV

    * Mục đích

                – Tạo điều kiện cho SV tự học, học theo nhóm;

               – Giúp SV rèn luyện tay nghề.

    * Nội dung thực hiện

                – Phòng tự học

    cho

    SV (xưởng thực hành chuyên ngành may);

                – Phòng đọc trong thư viện;

    * Cách thực hiện:

    -  Tại mỗi phòng học thực hành cần trang bị đầy đủ về ánh sáng, sự thoáng mát về mùa hè, đầy đủ các thiết bị:

                + 01 tivi có kết nối Internet

                +  02 bàn là

                + 02 bàn làm dấu

                +  02 máy vắt sổ

                +  01 máy 2 kim

                + Các dưỡng có sử dụng trong mã hàng: Dưỡng, cổ, bác tay

                + Các loại cữ có sử dụng: Cữ cuốn viền…

                + Các loại chân vịt: Chân vịt lé, diễu, mí, bánh xe

     - Tại thư viện: Tăng số lượng sách tham khảo về chuyên ngành may, các bộ video về phương pháp may các bộ phận áo sơ mi.

     - Các phòng tự học nên bố trí thường xuyên kể cả ngày thứ

    7,

    chủ

    nhật.

      

    KẾT LUẬN

    Tự học của SV là một đòi hỏi thiết yếu, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phương thức đào tạo theo tín chỉ. Kết quả và hiệu quả của tự học phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tự học của bản thân người học. Tuy nhiên, năng lực tự học lại chịu sự tác động của các yếu tố bên trong thuộc về bản thân người học cũng như các yếu tố bên ngoài như sự giảng dạy của GV, nhà trường, gia đình, xã hội, môi trường xung quanh… Vì vậy, nâng cao tự học của SV chính là nâng cao các yếu tố thuộc nội hàm khái niệm năng lực tự học và nâng cao tính tích cực của các yếu tố tác động đến năng lực tự học của SV. Để nâng cao hiệu quả tự học của SV Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phía bản thân SV đến phía giảng viên, Nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội SV, gia đình và xã hội, trong đó bản thân SV giữ vai trò quyết định.

    Tác giả

    Ths. Dương Thị Hân – TT. THM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Tâm Cải Thiện Điều Kiện Làm Việc Cho Người Lao Động
  • Nghệ Thuật Giữ Chân Nhân Viên Dành Cho Nhà Lãnh Đạo
  • Chăm Sóc Giấc Ngủ Cho Người Làm Việc Ca Đêm
  • Làm Ca Đêm Và Những Vấn Đề Về Sức Khỏe
  • Các Phương Pháp Chống Ồn Cho Nhà Gần Đường
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em Trên Địa Bàn Tỉnh Lào Cai

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Gì Để Vượt Qua
  • Một Số Giải Pháp Chủ Yếu Về Phát Triển Kinh Tế Những Tháng Cuối Năm 2011
  • Lạm Phát Năm 2021 Cơ Bản Nằm Trong Tầm Kiểm Soát Của Chính Phủ
  • Kiểm Soát Lạm Phát, Tiếp Tục Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Để Duy Trì Đà Tăng Trưởng Năm 2021
  • Khủng Hoảng Venezuela: Giải Pháp Nào?
  • Đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới, về tình dục, về quyền của phụ nữ và trẻ em một cách sâu rộng, có trọng tâm, trọng điểm để các nạn nhân, gia đình nạn nhân hiểu và nhận thức đầy đủ quyền của mình để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em, đặc biệt là việc lồng ghép nội dung truyền thông vào trong sinh hoạt của thôn, bản, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp… Đặc biệt là việc quan tâm quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt, có nhiều khả năng bị xâm hại.

    Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp liên ngành giữa các cơ quan, đơn vị hữu quan, trong công tác giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.

    Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ và người thân để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Bên cạnh đó, do khả năng nhận thức và tự bảo vệ của trẻ em còn nhiều hạn chế nên các em có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại tình dục cao. Vì vậy, cha mẹ cũng cần phải trang bị cho con cái biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Phát Triển Kinh Tế Số Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Chương Trình Phần Mềm Đồ Họa Paint Môn Tin Học Lớp 3
  • Kinh Nghiệm Để Dạy Tốt Môn Tin Học Lớp 3 : Phòng Gd&đt Mỹ Lộc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt Môn Tin Học Ở Trường Tiểu Học Nga Lĩnh
  • Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Của Giáo Dục Và Đào Tạo Bắc Giang Năm Học 2021
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Triển Khai Các Hoạt Động Giới Thiệu, Quảng Bá Hình Ảnh Của Đất Nước Và Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Các Showroom Trong Thời Đại 4.0
  • Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Ngành Kiến Trúc/ Xây Dựng Trong Thời Đại 4.0
  • Đâu Là Giải Pháp Lưu Trữ Ảnh Tối Ưu Cho Các Nhiếp Ảnh Gia?
  • Những Giải Pháp Lưu Trữ Ảnh Thay Thế Cho Dịch Vụ Google Photos
  • Giải Pháp Lưu Trữ Hình Ảnh Không Lo Hết Dung Lượng
  • Những năm qua, công tác quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa nghệ thuật của Việt Nam diễn ra trong và ngoài nước đã góp phần tăng cường sự hiểu biết và tình cảm yêu mến của nhân dân thế giới đối với Việt Nam, qua đó thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị và thúc đẩy sự hợp tác trên các lĩnh vực khác như chính trị – kinh tế – giáo dục – du lịch, khẳng định uy tín, nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

    Tuy nhiên, việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới còn chưa thật đầy đủ, nguyên nhân chủ yếu là do sự hạn chế của các phương tiện truyền tải các sản phẩm văn hóa của Việt Nam chưa nhiều, còn nghèo nàn về nội dung, đơn điệu về hình thức, chưa linh hoạt áp dụng những phương pháp, hình thức quảng bá theo chuẩn thị hiếu và nhu cầu của quốc tế.

    Để nâng cao hiệu quả triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới, trong thời gian tới chúng ta cần phát triển những loại hình, mô hình, phương thức hoạt động văn hóa đối ngoại đa dạng, hiệu quả để giới thiệu các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua các hoạt động văn hóa – nghệ thuật và truyền thống phù hợp với từng địa bàn. Ví dụ như Ngày Văn hóa, Tuần Văn hóa Việt Nam, các Lễ hội Văn hóa – Du lịch…

    Hai là, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, xây dựng biểu tượng văn hóa quốc gia và một số thương hiệu sản phẩm văn hóa quốc gia.

     Ba là, tiến hành xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ văn hóa Việt Nam ra nước ngoài, xây dựng thị phần cho công nghiệp văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Bốn là, thành lập một số trung tâm văn hóa ở một số địa bàn trọng điểm trên thế giới và xây dựng trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.

    Năm là, thiết lập đội ngũ tham tán văn hóa, tùy viên văn hóa tại các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và hệ thống trung tâm văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài.

    Sáu là, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận thông tin và sản phẩm văn hóa từ trong nước. Có các chính sách nhằm gắn kết cộng đồng, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác văn hóa đối ngoại. Hợp tác với các nước để đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn hóa, nghệ thuật; đào tạo cán bộ chuyên môn trình độ cao.

    Bảy là, xây dựng và phát triển một số liên hoan nghệ thuật quốc tế có thương hiệu tại Việt Nam, tạo điều kiện cho công chúng được tiếp cận với các nền văn hóa nghệ thuật đa dạng của thế giới; khẳng định năng lực tổ chức các sự kiện quốc tế của Việt Nam nhằm nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

    Tám là, tạo điều kiện thuận lợi để các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài giới thiệu đất nước, con người, văn hóa, du lịch tại Việt Nam. Phối hợp triển khai các Tuần văn hóa, những sự kiện văn hóa lớn của các nước tại Việt Nam.

    Chín là, thu hút các nguồn lực hỗ trợ cho phát triển văn hóa nghệ thuật, góp phần thực hiện chính sách xã hội hóa. Tổ chức các hoạt động văn hóa đối ngoại theo hình thức xã hội hóa với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

    Mười là, tăng cường các hoạt động giao lưu nhân dân đặc biệt là giao lưu khu vực biên giới.

    Việc triển khai các hoạt động đối ngoại quy mô quốc gia về văn hóa – thể thao – du lịch luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam; nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.

    (Theo tài liệu Công tác thông tin đối ngoại, những điều cần biết – Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương)

    Thanh Giang

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Thương Hiệu Cho Doanh Nghiệp
  • Sự Đổi Mới Hoạt Động Kinh Doanh Kỹ Thuật…
  • Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Lĩnh Vực Bất Động Sản Trong Thời Đại 4.0
  • Công Nghệ Nhận Diện Và Xử Lí Hình Ảnh
  • Giải Pháp Nhận Diện Hình Ảnh Ivms – Công Ty Tnhh Công Nghệ An Ninh Việt
  • Giải Pháp Nâng Cao Thương Hiệu Cho Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Triển Khai Các Hoạt Động Giới Thiệu, Quảng Bá Hình Ảnh Của Đất Nước Và Con Người Việt Nam
  • Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Các Showroom Trong Thời Đại 4.0
  • Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Ngành Kiến Trúc/ Xây Dựng Trong Thời Đại 4.0
  • Đâu Là Giải Pháp Lưu Trữ Ảnh Tối Ưu Cho Các Nhiếp Ảnh Gia?
  • Những Giải Pháp Lưu Trữ Ảnh Thay Thế Cho Dịch Vụ Google Photos
  • Câu chuyện thương hiệu đến từ lỗi sản phẩm

    Một loại Nước giải khát có ga đóng chai bị lỗi, bị xì ga mà không phát hiện được. Khi đưa ra thị trường khách hàng uống phải sẽ đánh giá như thế nào???. Nhẹ thì bị đánh giá là hãng nước giải khát này không đảm chất lượng. Nếu cộng với thời đại thông tin bùng nổ, khi việc này được đăng tải rộng rãi thì ảnh hưởng đến mức nào Bạn có thể tưởng tượng và… Thiệt hại có thể khó đánh giá được.

    Một chai nước suối đóng chai có dị vật bên trong nếu khách hàng uống phải thì sao???. Việc này không chỉ ảnh hưỏng lớn đến thương hiệu hàng hóa của Bạn mà còn có khả năng Doanh nghiệp của Bạn có thể bị kiện ra tòa án gây ra tổn thất lớn về tài chính và uy tín.

    Một dây chuyền sản xuất bánh kẹo nếu chỉ một gói bánh đóng gói bị hở, khi đến tay khách hàng thì chất lượng sản phẩm đã biến đổi nhiều thử hỏi Thương hiệu của Bạn có duy trì được không…

    Và còn rất nhiều câu chuyện khác………….

    Câu chuyện thương hiệu từ thông tin của thành phẩm

    Thường các thông tin in đó sẽ được in khi sản phẩm đã là thành phẩm ở cuối dây chuyền trước khi được đưa ra thị trường .

    Việc in ấn này đối với các doanh nghiệp hiện nay cũng là 1 bài toán sao cho chi phí bỏ ra là hiệu quả nhất, mà vẫn đạt được mục tiêu sản phẩm của mình như  dùng máy in gì để in logo in sắc nét ,thông tin in rõ ràng, chính xác, ổn định, độ bền thông tin cao trên nhưng dây chuyền sản xuất có tốc độ từ trung bình đến cao hoặc rất cao

    Câu chuyện thương hiệu từ việc marketing QR CODE.

    Mã QR code có thể được mã hóa từ hơn 7000 ký tự số hoặc hơn 4000 ký tự vừa số vừa chữ. Vậy QR Code có thể chứa được gì???  Nó chứa được rất nhiều thông tin về sản phẩm, dịch vụ của Bạn đó, bao gồm:

    • Tên sản phẩm đầy đủ
    • Loại sản phẩm (màu sắc, mã màu, mã số sản phẩm)
    • Tên công ty / thương hiệu
    • Nơi sản xuất, địa chỉ công ty sản xuất, quốc gia
    • Mô tả sản phẩm
    • Các trang thương mại điện tử đang có bán sản phẩm + Link
    • Hình ảnh demo của sản phẩm
    • Thành phần sản phẩm
    • Review của khách hàng về sản phẩm đó
    • Ngày sản xuất, hạn sử dụng
    • …..

    Với số liệu thực tế, đa phần người sử dụng điện thoại là smart phone có camera. Mạng 2G đã bỏ chỉ còn lại mạng 3G, 4G thậm chí 5G. Mọi điện thoại đều có thể kết nối internet mọi nơi, mọi chỗ. Với xu thế sản phẩm nào cũng được in QR Code như bây giờ đây là cơ hội Marketing trên QR Code rất tốt.

    Thật tuyệt vời nếu In QR Code lên sản phẩm để giới thiệu Doanh nghiệp và sản phẩm của Bạn với chi phí thấp hiệu quả quảng bá thương hiệu lại rất cao có đúng không Bạn?

    Các giải pháp nâng cao thương hiệu của HƯNG PHÁT

    Chúng tôi chuyên cung cấp những giải pháp tự động hóa lắp trên dây truyền sản xuất trong tất cả các Ngành nghề để kiểm tra phát hiện lỗi sản phẩm sử dụng thiết bị camera của Mỹ (Microscan) và tự động loại trừ  những sản phẩm lỗi đảm bảo thương hiệu cho doanh nghiệp của Bạn.

    Chúng tôi cũng cung cấp những giải pháp in ấn tự động cho dây truyền sản suất trên mọi loại vật liệu sản phẩm với những thiết bị chính hãng ngoại nhập nổi tiếng trên thế giới như Citronic, Videojet…giúp nâng cao thương hiệu, quảng bá sản phẩm và tăng lợi nhuận cho Bạn.

    Nếu Bạn có nhu cầu hãy liên hệ với chúng tôi, chúng tôi rất hân hạnh được phục vụ Bạn.

    Bạn hãy liên hệ:

    • Công Ty Cổ phần Sản Xuất, Thương Mại Và Dịch Vụ Kỹ Thuật Hưng Phát
    • Trụ sở chính:

      B44 TT17, phố Yên Phúc, phường Phúc La, Văn Quán Hà Đông, Hà Nội.

    • Website: www.hupha.com.vn
    • Email: [email protected]
    • Hotline: 0913 55 88 22

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Đổi Mới Hoạt Động Kinh Doanh Kỹ Thuật…
  • Giải Pháp Quảng Bá Hình Ảnh Dành Cho Lĩnh Vực Bất Động Sản Trong Thời Đại 4.0
  • Công Nghệ Nhận Diện Và Xử Lí Hình Ảnh
  • Giải Pháp Nhận Diện Hình Ảnh Ivms – Công Ty Tnhh Công Nghệ An Ninh Việt
  • Giải Pháp Đổi Mới, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Nghị Quyết Của Đảng, Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Xi Đảng Bộ Tỉnh
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đưa Người Lao Động Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học
  • Sáu Nhóm Giải Pháp Bảo Đảm An Toàn Cho Người Bệnh
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Sử Dụng Điện An Toàn Trong Nhân Dân
  • Nắm Bắt Hình Dịch Covid
  • 7 Phương Pháp Dịch Thuật Cơ Bản
  • Trang chủĐào tạo nghề

    Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 

      

     

        Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng đã có những bước tiến quan trọng, sản xuất phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện… Cùng với sự phát triển đó thì vấn đề đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh để giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động được HĐND, UBND tỉnh và các sở, ngành, địa phương hết sức quan tâm chỉ đạo thực hiện, các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện cho người lao động, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này được được thực hiện thường xuyên, liên tục. Tỉnh Quảng Bình được đánh giá là một trong những địa phương thực hiện có hiệu quả công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong những năm trở lại đây.

        Hàng năm nhu cầu người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của người lao động trên địa bàn tỉnh là khoảng từ 5.000 – 7.000 lao động/năm. Hiện nay, có khoảng 15-17 ngàn lao động của tỉnh đang làm việc ở nước ngoài, hàng tháng gửi về nước hàng trăm tỷ đồng. Như vậy người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao hơn gấp nhiều lần so với việc làm trong nước trong khi đó vốn đầu tư ít nhưng mang lại lợi ích kinh tế cao, đời sống bản thân và gia đình được cải thiện đáng kể. Mặt khác trong quá trình làm việc tại nước ngoài người lao động được học hỏi thêm về ngoại ngữ, tiếp cận với các phương pháp làm việc tiên tiến, tiếp thu công nghệ mới, có điều kiện nâng cao tay nghề… mà không phải trả tiền chi phí đào tạo chính điều này sẽ tạo cơ hội cho người lao động sau khi về nước sẽ tiến thân, lập nghiệp.

        Mặt khác, công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được coi là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, hơn nữa trong khi làm việc tại nước ngoài người lao động sẽ có tác phong làm việc công nghiệp, kỷ luật lao động được nân lên (đây là phần rất yếu của lao động Việt Nam), đặc biệt được giao lưu với các nền văn hoá đa dạng trên thế giới góp phần thay đổi nhận thức của một bộ phận trong xã hội về các vấn đề mang tính hủ tục, lạc hậu. Ngoài ra còn góp phần quan trọng làm giảm bớt các tệ nạn xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra như mại dâm, ma tuý, tội phạm hình sự, nạn lừa đảo buôn bán phụ nữ, trẻ em… Hiệu quả mà lao động đi làm việc ở nước ngoài mang lại là không thể phủ nhận về cả mặt kinh tế lẫn mặt xã hội.

          Thực trạng công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong những năm qua như sau:

           1. Thực trạng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh.

           - Đến cuối năm 2021 có 01 doanh nghiệp của tỉnh có chức năng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (Công ty Cổ phần sách thiết bị trường học Quảng Bình) và 139 lượt doanh nghiệp ngoài tỉnh được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về tuyển lao động trên địa bàn tỉnh;

           - Có 02 Trung tâm dịch vụ việc làm, gồm: Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh, Trung tâm Dịch vụ việc làm Thanh Niên (01 Trung tâm Dịch vụ việc làm Nông dân trước đây nay đã đổi tên thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Hỗ trợ nông dân – phụ nữ Quảng Bình chưa đủ điều kiện để thành lập và hoạt động)

           - Có 10 đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ việc làm đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, gồm: Công ty TNHH Vĩnh Nam; Công ty TNHH Cung ứng lao động Bảo Lâm; Công ty CP Cảng Quảng Bình; Công ty cổ phần sách và thiết bị trường học Quảng Bình; Công ty cổ phần cung ứng nhân lực và du học quốc tế; Công ty TNHH phát triển nhân lực Anh Quân; Công ty TNHH Bảo Minh Phát; VPĐD Công ty CP đào tạo và phát triển công nghệ Nhật Bản 24h; CTCP du học quốc tế SHB

             2. Kết quả đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh trong 3 năm trở lại đây.

             - Năm: 2021 có 3.350 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó: Đài Loan: 1.250, Nhật Bản: 950, Hàn Quốc 650,…);

             - Năm: 2021 có 4.129 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó: Đài Loan: 1.080, Nhật Bản: 1.250, Hàn Quốc 450,…);

             - Năm: 2021 có 2.100 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó: Đài Loan: 690, Nhật Bản: 450, Hàn Quốc 80,…)

            Năm 2021, với sự xuất hiện và bùng phát của đại dịch Covid-19 ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã gây ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống, kinh tế – xã hội. Theo đó, số người lao động được tuyển chọn đi làm việc ở nước ngoài cũng buộc tạm hoãn thời gian xuất cảnh do diễn biến phức tạp của dịch bệnh.

            Nhằm mở rộng thị trường lao động và tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội đi làm việc ở nước ngoài, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Đoàn công tác sang làm việc tại thành phố Yeongju và hai địa phương đã ký Bản ghi nhớ về Chương trình hợp tác về lao động thời vụ trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh nên Chương trình thí điểm đưa lao động nông nghiệp sang làm việc tại Hàn Quốc đến nay vẫn chưa thể triển khai được.

    Ảnh: Lao động tham gia kỳ thi năng lực tiếng Hàn để đăng ký đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS

             Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn một số tồn tại một số vấn đề sau:

            – Một số địa phương, công tác chỉ đạo, quản lý có lúc chưa thường xuyên hoặc chưa kịp thời; nhiều mô hình, kinh nghiệm trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có hiệu quả chưa được áp dụng, phổ biến kịp thời; thiếu chủ động, sáng tạo, còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại nên không phát huy được tiềm năng, thế mạnh để tạo việc làm thông qua hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Công tác thông tin, tuyên truyền đã được quan tâm, tuy nhiên việc tiếp cận các thông tin của người lao động về thị trường lao động do các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp còn nhiều hạn chế;

             - Một số doanh nghiệp dịch vụ và chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ khi tuyển chọn lao động tại địa phương không xuất trình Giấy phép và không thông báo với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, chính quyền cấp huyện, xã nơi doanh nghiệp dịch vụ tuyển chọn lao động nên gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý; Còn một số trường hợp doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài nhưng trên thực tế thu nhập, vị trí việc làm, điều kiện làm việc,… không đúng như thông báo trước khi xuất cảnh; Việc quản lý các chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh còn gặp phải một số khó khăn;

             - Số lao động của tỉnh làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài hiện nay còn cao, khoảng trên 1.500 người, nhiều nhất là thị trường Hàn Quốc, với khoảng 700 người.

             - Các doanh nghiệp, cá nhân không có chức năng, không có giấy phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lợi dụng sự thiếu thông tin, kém hiểu biết cộng với tâm lý người lao động để thực hiện lừa đảo đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về xã hội vẫn còn xẩy ra;

           - Mặc dù có quy định chế độ báo cáo định kỳ số lượng người lao động được tuyển chọn đi làm việc ở nước ngoài tại Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp khi tuyển chọn lao động trên địa bàn tỉnh đã không báo cáo, hoặc báo cáo chậm so với thời gian quy định nên gây khó khăn trong công tác thống kê, báo cáo của Sở;

             Một số giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời gian tới.

            – Thời gian tới tỉnh Quảng Bình tiếp túc đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế, chính sách và đưa ra các chính sách hỗ trợ đặc thù đối với người lao động trên địa bàn tỉnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

            – Nâng cao hiệu quả của công tác thông tin, tuyên truyền về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh để người lao động biết và thực hiện có hiệu quả;

            – Có các giải pháp phù hợp đưa những doanh nghiệp được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về hoạt động tại địa phương hiệu quả, bên cạnh đó cần phát triển, mở rộng thị trường đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giữa các địa phương của hai nước, đặc biệt chú ý đến các thị trường trọng điểm, có thu nhập cao.

           - Tiếp tục đề ra các giải pháp về đào tạo và giáo dục định hướng nghề nghiệp cho người lao động để tạo nguồn cung lao động có chất lượng để đưa đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm có mức thu nhập cao và thâm nhập váo các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn cao;

             - Quan tâm hơn nữa đến việc hỗ trợ người lao động trong và sau khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trở về sử dụng đồng vốn, nhân lực có hiệu quả.

            – Tăng cường sự giám sát, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ở địa phương nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mang lại, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

             - Cuối cùng cần khen thưởng kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân làm tốt công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mang lại hiệu quả cao về cả mặt kinh tế và xã hội.

                                                                         Phan Nam

     

    [Trở về]

    Các tin đã đăng

    • Kết quả 10 năm thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2021” 
    • Lễ công bố Quyết định thành lập Trường Cao đẳng Luật Miền Trung 
    • Đồng chí Nguyễn Thị Việt Hương – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thăm và tặng quà cho giáo viên và học sinh bị ảnh hưởng lũ lụt tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh 
    • Đồng chí Nguyễn Thị Việt Hương – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thăm và tặng quà cho giáo viên và học sinh bị ảnh hưởng lũ lụt tại một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh 
    • Hội nghị hướng nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên Trường Trung cấp Du lịch – Công nghệ số 9 
    • Trường cao đẳng kỹ thuật Công – Nông nghiệp Quảng Bình tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2021 – 2021 
    • Tọa đàm kỷ niệm 38 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quảng Bình: Chú Trọng Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn
  • Quảng Bình Quan Tâm Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động
  • Quảng Bình Nỗ Lực Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Bị Ảnh Hưởng Sự Cố Môi Trường Biển
  • Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Di Chúc
  • Diễn Đàn Giao Thông Đường Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Các Ngành, Nghề Đầu Tư Kinh Doanh Có Điều Kiện Về An Ninh Trật Tự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình – Công An Tỉnh Quảng Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Siết Chặt Quản Lý Cơ Sở Kinh Doanh Có Điều Kiện
  • Giải Pháp Công Nghệ Cho Đề Án “Quản Lý Tài Liệu Lưu Trữ Điện Tử Của Các Cơ Quan Nhà Nước”
  • Quản Lý Sinh Vật Ngoại Lai Để Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Tại Vườn Quốc G
  • An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp
  • Đề Tài Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ubnd
  • Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 1.627 cơ sở ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT, trong đó có 405 cơ sở kinh doanh lưu trú, 256 cơ sở kinh doanh karaoke, 357 cơ sở dịch vụ cầm đồ, 18 cơ sở xoa bóp (Massage), 74 cơ sở in, 466 cơ sở kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, 07 cơ sở sản xuất con dấu, 42 cơ sở kinh doanh có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp (VLNCN), 02 công ty dịch vụ bảo vệ.

    Trong những năm qua, các hoạt động lợi dụng cơ sở đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp, như: Thuê khách sạn, nhà nghỉ để hoạt động mại dâm, tổ chức đánh bạc, sử dụng trái phép chất ma túy; đặc biệt một số đối tượng lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ để tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, cho vay với lãi suất cao… Trong  năm 2021 và 6 tháng đầu năm 2021, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh Quảng Bình đã tiến hành kiểm tra trên 1.000 cơ sở đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT; nhắc nhở, chấn chỉnh hàng trăm thiếu sót, vi phạm, phát hiện lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính 27 trường hợp với số tiền 71.250.000 đồng.

    Thực tiễn, qua công tác quản lý, kiểm tra các cơ sở ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT trên địa bàn tỉnh nổi lên một số vấn đề sau:

    1. Tính chất, mức độ vi phạm của các cơ sở ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT trên địa bàn chủ yếu mang tính chất vi phạm hành chính, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe nên một số chủ cơ sở còn xem nhẹ, buông lỏng quản lý để các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội; mặt khác, sự phát triển của các nhóm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT như dịch vụ cầm đồ, karaoke … kéo theo sự phức tạp về ANTT như hoạt động bảo kê, đòi nợ thuê trái phép…

    Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, kiểm tra ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc có hiệu quả Nghị định số 96/2016/NĐ-CP, ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về ANTT đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Chỉ thị số 08/CT-BCA, ngày 19/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an về tăng cường công tác quản lý nhà nước về ANTT đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ, dịch vụ đòi nợ. Quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT phù hợp với thực tế, vừa đảm bảo quyền giao dịch dân sự vừa đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động này.

    Đối với kinh doanh dịch vụ cầm đồ, tập trung kiểm tra quá trình hoạt động, nắm được những người đang làm việc trong các cơ sở; thống kê được chủng loại, số lượng, nguồn gốc, thủ tục, giấy tờ của các tài sản được đem cầm cố; nơi cất giữ tài sản, đặc biệt là những tài sản không có giấy tờ, giấy tờ có nghi vấn hoặc tài sản không xác định được chủ sở hữu. Chú ý phát hiện những tài sản là những vật chứng trong các vụ án hình sự như: Cướp, cướp giật, trộm cắp…

    Đối với kinh doanh karaoke, dịch vụ massage, kiểm tra, rà soát các quy định về ANTT, các điều kiện an toàn về PCCC. Đối với những cơ sở kinh doanh karaoke, massage có dấu hiệu phức tạp về ANTT đã có vi phạm, nhất là tổ chức, chứa chấp hoạt động tệ nạn xã hội chủ động phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ để có biện pháp đấu tranh xử lý kịp thời. Kiên quyết không để các cơ sở kinh doanh karaoke, dịch vụ xoa bóp hoạt động không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.

     Đối với kinh doanh lưu trú, kiểm tra chấn chỉnh công tác đăng ký, quản lý khách lưu trú. Nâng cao ý thức cảnh giác của nhân viên lễ tân, nhân viên bảo vệ, chủ động phòng ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm, tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm… lợi dụng các cơ sở kinh doanh lưu trú để hoạt động.

     Đối với hoạt động kinh doanh, sản xuất có sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tập trung kiểm tra công tác bảo vệ, hệ thống hàng rào bảo vệ kho, cửa kho, khóa kho; công tác nhập, xuất kho và trong quá trình sử dụng VLNCN, việc niêm yết nội quy, biển báo, biển cấm, thông báo thời gian nổ mìn tại khu vực bảo quản, sử dụng VLNCN; việc lập và duyệt hộ chiếu nổ mìn…

    Bốn là, tăng cường công tác quản lý cán bộ, rà soát, bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt để quản lý cơ sở đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT. Tổ chức quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT. Quan tâm, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, ý thức chấp hành quy chế làm việc, quy trình công tác, Điều lệnh Công an nhân dân; kịp thời phát hiện những cán bộ, chiến sĩ có hành vi bao che các vi phạm của cơ sở để có biện pháp ngăn chặn hoặc xử lý nghiêm minh theo quy định của Ngành và quy định của pháp luật.

    Đại tá Nguyễn Văn Long                        

    Trưởng phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khung Pháp Lý Và Thực Trạng Nợ Công Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Trường Cao Đẳng Hàng Hải Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội
  • Nông Nghiệp Việt Nam: Những Vấn Đề Tồn Tại
  • Thực Trạng Về Tổ Chức, Hoạt Động Thanh Tra Hành Chính Của Công An Tỉnh Quảng Bình Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Thanh Tra Hành Chính – Công An Tỉnh Quảng Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Triển Khai Digital Marketing Tổng Thể Tại Đà Nẵng
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ
  • Thực Trạng Và Giải Pháp: Phát Triển Du Lịch Đông Nam Bộ
  • Thực Chất Nguyên Nhân Của Tham Nhũng Và Những Vấn Đề Đặt Ra Ở Việt Nam
  • Hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra hành chính nói riêng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý của Thủ trưởng Công an các cấp; tăng cường pháp chế; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong việc thực hiện quy trình công tác; giúp Công an các đơn vị, địa phương thực hiện đúng quy định của pháp luật và của Bộ Công an. Xác định được ý nghĩa, tầm quan trọng đó, trong thời gian qua, công tác thanh tra hành chính được Thường vụ Đảng ủy, Lãnh đạo Công an tỉnh Quảng Bình quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trên tất cả các mặt, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra.

    Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ thanh tra hành chính của Công an Quảng Bình đã được quan tâm, tạo điều kiện tăng cường về số lượng và chất lượng. Tại Thanh tra Công an tỉnh lực lượng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành được biên chế chung một đội (Đội thanh tra hành chính và chuyên ngành); Đội được biên chế 03 cán bộ (02 Thanh tra viên, 01 cán bộ thanh tra) và do một đồng chí Phó chánh thanh tra phụ trách. Tất cả cán bộ thanh tra đều có trình độ đại học, được đào tạo cơ bản, phần lớn đã qua đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra, có trình độ lý luận chính trị; có năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm thực tiễn, chủ động tham mưu lãnh đạo Công an tỉnh tiến hành nhiều cuộc thanh tra hành chính trên các lĩnh vực. Các cuộc thanh tra đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hướng dẫn của Bộ Công an và yêu cầu quản lý của Lãnh đạo Công an tỉnh.

    Trong 06 năm thi hành Luật thanh tra năm 2010 (Từ năm 2011 đến năm 2021), Công an tỉnh Quảng Bình đã triển khai 09 cuộc thanh tra hành chính, trong đó bao gồm các cuộc thanh tra diện rộng theo chỉ đạo của Bộ Công an và các cuộc thanh tra do Giám đốc Công an tỉnh chỉ đạo tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm như công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự; việc quản lý, sử dụng kinh phí được trích lại từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ… Qua thanh tra phát hiện nhiều tồn tại, thiếu sót trên các lĩnh vực, đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương chấn chỉnh, khắc phục 43 vấn đề, kiến nghị Bộ Công an 15 nội dung. Công tác thanh tra hành chính đã giúp Công an các đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ thực hiện đúng hành lang pháp lý, đúng quy định của Bộ Công an theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Các kết luận, kiến nghị thanh tra được đối tượng thanh tra chấp hành nghiêm túc, ý thức chấp hành pháp luật, chấp hành quy trình công tác của cán bộ, chiến sĩ được nâng lên, góp phần xây dựng lực lượng Công an Quảng Bình ngày càng trong sạch, vững mạnh.

    Nhìn chung, công tác thanh tra hành chính của Công an tỉnh Quảng Bình đã có chuyển biến tích cực, cán bộ thanh tra hành chính đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; tính dân chủ, công khai, minh bạch đã được thực hiện nghiêm túc theo quy định, nhất là từ khi Bộ Công an ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BCA ngày 05/01/2015 Quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra hành chính trong Công an nhân dân, hoạt động thanh tra hành chính từng bước đi vào nề nếp, chất lượng các cuộc thanh tra ngày càng được nâng lên và có ảnh hưởng tốt đến hoạt động của đối tượng thanh tra.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác thanh tra hành chính của Công an tỉnh Quảng Bình còn có một số tồn tại, hạn chế, bất cập: Trình độ năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn của một số ít cán bộ thanh tra, thanh tra viên còn có những hạn chế nhất định; chưa tương xứng với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Chất lượng, hiệu quả một số cuộc thanh tra hành chính còn thấp; việc xác định trách nhiệm để xảy ra tồn tại, thiếu sót chưa cụ thể; kiến nghị một số nội dung trong kết luận thanh tra còn mang tính chung chung; công tác đôn đốc, kiểm tra sau thanh tra hiệu quả chưa cao. Lực lượng làm công tác thanh tra hành chính còn thiếu; Công an các huyện, thành phố, thị xã chưa có cán bộ thanh tra chuyên trách mà đang còn kiêm nhiệm và thường xuyên luân chuyển, điều động sang làm công tác khác, do đó khó khăn trong tổ chức và hoạt động; Công an cấp huyện chưa triển khai được cuộc thanh tra hành chính nào.

    Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do: Thủ trưởng Công an một số đơn vị, địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác thanh tra; chưa coi đây là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên trong công tác quản lý của đơn vị. Sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong công tác theo dõi, đôn đốc sau thanh tra còn hạn chế. Công tác tổ chức cán bộ tuy đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; biên chế cán bộ làm công tác thanh tra hành chính còn ít.

    Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra hành chính:

    Thứ nhất, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Lãnh đạo Công an tỉnh đối với công tác thanh tra hành chính, trong đó quan tâm bổ sung biên chế cho lực lượng thanh tra hành chính; trang bị cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc cho đơn vị thanh tra. Tăng cường thanh tra trách nhiệm của Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương trong việc thực hiện quy định của pháp luật, của Bộ Công an.

    Thứ hai, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra có tâm, có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, bản lĩnh nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Thứ ba, nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc thanh tra hành chính trong toàn bộ quy trình của cuộc thanh tra, từ giai đoạn chuẩn bị thanh tra, quá trình thanh tra và báo cáo, kết luận cuộc thanh tra. Đảm bảo tiến hành đúng trình tự, thủ tục từ công tác chuẩn bị đến kết thúc thanh tra. Tăng cường công tác giám sát hoạt động của đoàn thanh tra.

    Thứ tư, nâng cao hiệu quả hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra, trong đó cần thực hiện tốt một số nội dung như: Tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng Công an các đơn vị, địa phương trong công tác chỉ đạo, điều hành và nâng cao chất lượng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra. Tăng cường giáo dục pháp luật về thanh tra nhằm nâng cao nhận thức, ý thức cho các đối tượng thanh tra trong việc chấp hành nghiêm túc các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra. Đẩy mạnh phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.

    Đại úy Nguyễn Mạnh Trường    

    Đội trưởng, Thanh tra Công an tỉnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra Cải Cách Hành Chính Tại Các Đơn Vị, Địa Phương Năm 2021
  • Tổng Hợp Kết Quả Đề Tài: “thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Chính Quyền Xã, Phường, Thị Trấn Tỉnh Bắc Giang”
  • Phòng, Chống Tác Hại Của Thuốc Lá Cần Nâng Cao Nhận Thức Từ Nhiều Phía – Cdc Bắc Giang
  • 6 Giải Pháp Phòng, Chống Tác Hại Thuốc Lá
  • Giải Pháp Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Tổng Hợp Kết Quả Đề Tài: “thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Chính Quyền Xã, Phường, Thị Trấn Tỉnh Bắc Giang”

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Cải Cách Hành Chính Tại Các Đơn Vị, Địa Phương Năm 2021
  • Thực Trạng Về Tổ Chức, Hoạt Động Thanh Tra Hành Chính Của Công An Tỉnh Quảng Bình Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Thanh Tra Hành Chính – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Giải Pháp Triển Khai Digital Marketing Tổng Thể Tại Đà Nẵng
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ
  • Cơ quan chủ trì: Ban Dân vận Tỉnh ủy

    Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ. Lâm Thị Hương Thành

    Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2014

     

    I. Mục tiêu nghiên cứu

    – Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của chính quyền xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bắc Giang.

    – Đánh giá thực trạng công tác dân vận của chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2010- 2013.

    – Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận của chính quyền ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

    II. Kết quả nghiên cứu

    1. Thực trạng công tác dân vận của chính quyền xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bắc Giang

    1.1. Bồi dưỡng, tập huấn công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ của chính quyền xã, phường, thị trấn

    Trong những năm qua, Ban Dân vận Tỉnh uỷ đã phối hợp với Trường Chính trị tỉnh tham mưu đưa nội dung về Công tác Dân vận thành một môn học (môn Nghiệp vụ công tác MTTQ và đoàn thể nhân dân ở cơ sở) trong chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị- hành chính. Thông qua môn học này, tất cả học viên là cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể (đương chức, dự nguồn) ở các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, huyện và cơ sở đều được trang bị kiến thức về quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác dân vận. Bên cạnh đó, Ban Dân vận Tỉnh uỷ thường xuyên phối hợp với Trường Chính trị tỉnh tổ chức chương trình bồi dưỡng, tập huấn công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, từ năm 2010 đến 2013, đã mở được 3 lớp, hơn 500 lượt học viên. Đối tượng là cán bộ dân vận các huyện ủy, thành ủy, cán bộ làm công tác dân vận cấp xã.

    1.2. Tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách ở xã, phường, thị trấn

    Chính quyền xã phường, thị trấn đã bám sát các cơ chế, chính sách, mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của cấp trên, gắn với tình hình thực tiễn địa phương để cụ thể hoá và triển khai chỉ đạo có hiệu quả như: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi; đổi điền dồn thửa, giao đất, giao rừng; chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất; phát triển kinh tế trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh; thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu trong nông thôn gồm: điện, đường, trường, trạm; xoá nhà tranh tre tạm bợ, dột nát cho hộ nghèo.

    1.3. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

    Trong những năm qua chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh đã chủ động phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến từng đối tượng quần chúng nhân dân ở địa phương, đồng thời vận động nhân dân tự giác thực hiện nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương; xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp. Về hình thức tuyên truyền: Được tiến hành bằng nhiều hình thức phong phú, phù hợp với điều kiện cụ thể và khả năng nhận thức của nhân dân ở từng địa phương, như phân công cán bộ xã trực tiếp phổ biến ở hội nghị, triển khai thông qua cán bộ thôn, bản, tổ dân phố, phối hợp với MTTQ và các đoàn thể tổ chức hội nghị, sinh hoạt đảng, đoàn thể, tổ dân phố, thôn, làng, bản; phát thanh trên hệ thống truyền thanh, bảng tin của địa phương, in phát tài liệu đến từng hộ gia đình; thông qua các tình nguyện viên ở cơ sở tham gia tuyên tuyền, giải thích pháp luật cho nhân dân.

    1.4. Công tác cải cách thủ tục hành chính

    Sau nhiều năm thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ, tỉnh Bắc Giang luôn được đánh giá là đơn vị tốp đầu (Bộ Nội vụ xếp hạng chỉ số CCHC của tỉnh Bắc Giang năm 2012 đứng thứ 8 toàn quốc, năm 2013 đứng thứ 12 toàn quốc). Trong đó, tỉnh chỉ đạo chuẩn hoá thu gọn từ 230 bộ thủ tục hành chính cấp xã xuống còn 01 bộ, từ 10 bộ thủ tục hành chính cấp huyện xuống còn 01 bộ thủ tục.

    1.5. Tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo

    Trong những năm qua, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân trên địa bàn tỉnh đã đạt được một số kết quả đáng kể. Công tác tiếp dân được chính quyền cơ sở quan tâm chỉ đạo, thực hiện; đã bố trí phòng tiếp dân tại trụ sở xã, phường, thị trấn; có sổ ghi chép từng vụ việc, có bảng ghi nội quy tiếp dân và những quy định cần thiết; xây dựng và niêm yết công khai lịch tiếp dân hàng tuần của lãnh đạo và cán bộ tiếp dân của chính quyền cơ sở. Quan tâm xây dựng, bố trí cán bộ có năng lực, trình độ hiểu biết pháp luật làm công tác tiếp dân. Khi tiếp dân đã tạo điều kiện để công dân có thể trình bày ý kiến của mình với cơ quan Nhà nước; cán bộ tiếp dân đã hướng dẫn, giải thích cho công dân hiểu các chính sách của Nhà nước, quy định của tỉnh, huyện nhằm hạn chế khiếu kiện vượt cấp đồng thời hướng dẫn công dân đến đúng nơi có thẩm quyền giải quyết.

    1.6. Phối hợp với MTTQ, các tổ chức chính trị- xã hội.

    Chính quyền cơ sở đã phối hợp với MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội xây dựng và ban hành quy chế phối hợp hoạt động; hàng năm có chương trình công tác, thường xuyên sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả, đề ra những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa chính quyền với MTTQ và các đoàn thể trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương; qua điều tra cho thấy trên 93% người được hỏi cho rằng UBND cấp xã có quy chế phối hợp với MTTQ và các đoàn thể ở cấp xã; phối hợp làm tốt công tác nắm bắt và định hướng dư luận xã hội trên địa bàn, nắm bắt nguyện vọng, các đề xuất, kiến nghị chính đáng của nhân dân để giải quyết kịp thời. Từ đó, đã tạo ra sức mạnh đồng bộ trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

    2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Dân vận của chính quyền xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

    2.1. Nhóm giải pháp tăng cường, đổi mới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác dân vận của chính quyền cơ sở

    Nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp uỷ đảng trên tất cả các phương diện: Ban hành nghị quyết, chỉ thị; tuyên truyền, giáo dục; công tác cán bộ, công tác kiểm tra theo hướng dân chủ, kỷ cương, sát thực tế và gần dân. Lãnh đạo chính quyền xây dựng, hoàn thiện quy chế hoạt động trong hệ thống chính trị, trong mối quan hệ giữa tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị- xã hội, đảm bảo theo quan điểm của Đảng về công tác dân vận trong tình hình mới: “Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt”. Trong nhiệm kỳ đại hội Đảng, đảng uỷ xã, phường, thị trấn ban hành nghị quyết về công tác dân vận chính quyền, xác định lãnh đạo công tác dân vận chính quyền là một bộ phận quan trọng trong công tác dân vận của Đảng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Đưa nội dung công tác dân vận vào quy chế làm việc của cấp uỷ, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp ủy viên, từng đảng viên hoạt động trong chính quyền cấp xã; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp ủy viên, đảng viên, nhất là các chức danh lãnh đạo chính quyền. Phân công đồng chí phó bí thư, chủ tịch UBND phụ trách công tác dân vận của chính quyền ở cơ sở.

    2.2. Nhóm giải pháp tăng cường và đổi mới công tác dân vận của chính quyền cơ sở

    – Thực hiện Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị

    – Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

    – Tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chính quyền cấp trên

    – Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính

    – Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tiếp dân; công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân

    2.3. Nhóm giải pháp tăng cường thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

    Tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 Quy định chi tiết khoản 3 điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Gắn việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với đẩy mạnh “việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở”. Đưa nội dung về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở vào các cuộc thi, hội thảo, hội diễn của quần chúng, qua đó nhằm tuyên truyền tới đông đảo các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về quyền và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.

    2.4. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

    Chính quyền cơ sở phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đổi mới công tác cán bộ, bảo đảm công tác cán bộ phải thật sự dân chủ, khách quan, khoa học, công bằng. Xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt; đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng, trong đó, quan tâm rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ hiện có; xây dựng quy hoạch cán bộ đến năm 2021 và những năm tiếp theo; có kế hoạch bố trí, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức hiện có. Đánh giá cán bộ, công chức cơ sở phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ. Đánh giá cán bộ, rà soát, sửa đổi quy định cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức; cải tiến lề lối, chấn chỉnh tác phong làm việc theo hướng “Gần dân, sát cơ sở”, khắc phục tình trạng vô cảm, quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân. Công khai, niêm yết đầy đủ quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ, những việc cán bộ công chức không được làm, quy định về thái độ tiếp công dân tại trụ sở làm việc của UBND xã, phường, thị trấn để nhân dân biết, giám sát và kiểm tra việc thực hiện. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra công vụ; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, công chức cấp xã vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng và triển khai khảo sát chỉ số hài lòng của người dân với sự phục vụ của cán bộ, công chức cấp xã.

    2.5. Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội

    Chính quyền cơ sở xây dựng mối quan hệ với các tổ chức trong hệ thống chính trị một cách đồng bộ, chặt chẽ, nhất là đối với các tổ chức chính trị- xã hội. Cần cụ thể hoá việc phân công nhiệm vụ, phối hợp giữa chính quyền với các tổ chức chính trị- xã hội bằng các quy định, quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp… Trong đó cần làm rõ nội dung hoạt động phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương; nâng cao vai trò đại diện cho nhân dân, đại diện các thành viên trong tổ chức, đoàn thể; vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị- xã hội và vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của chính quyền; đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở./.

    Nguyễn Tươi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phòng, Chống Tác Hại Của Thuốc Lá Cần Nâng Cao Nhận Thức Từ Nhiều Phía – Cdc Bắc Giang
  • 6 Giải Pháp Phòng, Chống Tác Hại Thuốc Lá
  • Giải Pháp Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Phát Triển Du Lịch Hiệu Quả Và Bền Vững
  • Giải Bài Toán Thu Hút Đầu Tư, Tạo Động Lực Phát Triển Mới
  • Khánh Hòa Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Pci

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Trung Cải Thiện, Nâng Cao Chỉ Số Hiệu Quả Quản Trị Và Hành Chính Công Tỉnh Thái Nguyên Năm 2021
  • Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019
  • Giải Pháp Quản Lý Nhà Hàng Cafe
  • Một Số Kinh Nghiệm Để Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trên Địa Bàn Dân Cư Xã Quỳnh Giang, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An
  • Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Các Quan Điểm Sai Trái, Thù Địch Chống Phá Đảng Và Nhà Nước Ta Hiện Nay
  • Năm 2021, tỉnh Khánh Hòa giảm 12 bậc so với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2021, với 5 chỉ số 5 chỉ số thành phần giảm điểm.

    Để tìm giải pháp bền vững, mới đây, tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức hội nghị phân tích chỉ số PCI (chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh) năm 2021 và đề ra nhiều giải pháp cải thiện chỉ số PCI của tỉnh cho các năm tới.

    Khánh Hòa đã phân tích chỉ số PCI năm 2021 và đề ra giải pháp cải thiện chỉ số PCI chop các năm tới

    Khánh Hòa đã phân tích chỉ số PCI năm 2021 và đề ra giải pháp cải thiện chỉ số PCI cho các năm tới

    Theo kết quả công bố bảng xếp hạng của VCCI, năm 2021, chỉ số PCI Khánh Hòa đạt 65,37 điểm, tăng 0,95 điểm so với năm 2021 và xếp hạng 29/63 tỉnh, thành, giảm 12 bậc. So với năm 2021, có 5 chỉ số thành phần tăng bậc, gồm: Tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, đào tạo lao động; 5 chỉ số giảm bậc, gồm: Gia nhập thị trường, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động và tiên phong của chính quyền, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, thiết chế pháp lý và an ninh trật tự.

    Kết quả khảo sát cảm nhận của doanh nghiệp trong năm 2021 cho thấy, doanh nghiệp đánh giá về chất lượng phục vụ môi trường kinh doanh của tỉnh còn một số mặt chưa tốt, thể hiện ở các chỉ số thành phần tụt giảm.

    Ông Đậu Anh Tuấn, Giám đốc Dự án PCI, Trưởng Ban Pháp chế VCCI chia sẻ: Tiềm năng và lợi thế của tỉnh Khánh Hòa là rất lớn. Cơ sở hạ tầng có chất lượng khá tốt so với mức trung bình của cả nước; giàu tiềm năng phát triển du lịch; điều kiện tự nhiên phù hợp với phát triển kinh tế biển…Trong đó, mật độ doanh nghiệp bình quân trên 1000 dân khá cao và đứng thứ 6 cả nước. Tuy nhiên, tổng vốn đầu tư FDI tích lũy đến hết năm 2021 vào tỉnh Khánh Hòa còn khá khiêm tốn, và theo kết quả khảo sát thu hút đầu tư thì Khánh Hòa được rất ít doanh nghiệp FDI cân nhắc khi mở rộng đầu tư.

    Cũng theo ông Đậu Anh Tuấn, Điểm số PCI của Khánh Hòa tăng dần trong 4 năm liên tục nhưng thứ hạng chưa được cải thiện, thậm chí giảm 12 bậc là do các tỉnh khác có tốc độ cải thiện mạnh hơn.

    Theo ông Trần Minh Hải – Phó Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư, 2021 là một năm gặp nhiều khó khăn trong công tác chỉ đạo điều hành ở tỉnh, dẫn đến chỉ số PCI bị tụt hậu so với mặt bằng chung cả nước. Nhìn chung, chỉ số PCI của tỉnh có tăng nhưng ko bằng các tỉnh khác, mặc dù cơ sở hạ tầng và điều kiện tự nhiên tốt. Ngoài ra, thu hút đầu tư nhiều năm nay rất yếu, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài. Ông Hải cho rằng, UBND tỉnh cũng có chương trình hành động cải thiện chỉ số PCI 2021-2020 nhưng chưa thật sự hiệu quả. Cần phải xây dựng chương trình cải thiện chỉ số PCI giai đoạn 2021-2025 và có đánh giá từng năm để rút kinh nghiệm.

    Để cải thiện chỉ số PCI, ông Đậu Anh Tuấn khuyến nghị, tỉnh Khánh Hòa cần tích cực, chủ động và sáng kiến để xây dựng phương án nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên các Nghị quyết của Chính phủ; các sở ngành phải rà soát lại theo từng lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực cần cải thiện; xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn; các cơ quan chính quyền cần công khai minh bạch thông tin trên Website về quy hoạch, đấu thầu, kêu gọi dự án đầu tư…

    Nâng cao chất lượng các hội nghị đối thoại doanh nghiệp là giải pháp cải thiện chỉ số PCI

    Nâng cao chất lượng các hội nghị đối thoại doanh nghiệp là giải pháp cải thiện chỉ số PCI

    Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc Sở Nội vụ cho biết, sở đã trình UBND tỉnh 3 dự thảo về thành lập tổ công tác, thành lập tổ giúp việc tham mưu cho tổ công tác, quy chế làm việc của tổ công tác. Kết quả năm 2021 cho thấy rất rõ, trong 10 chỉ số thành phần thì có 2 chỉ số giảm điểm là gia nhập thị trường và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên có chỉ số tăng điểm nhưng không tăng xếp hạng; có những chỉ số giảm xếp hạng rất sâu như: gia nhập thị trường giảm 27 bậc, tính tiên phong lãnh đạo tỉnh giảm 23 bậc…

    Nếu làm tốt cải thiện môi trường kinh doanh, đương nhiên cảm nhận của doanh nghiệp sẽ được cải thiện và chỉ số PCI chắc chắn sẽ tăng lên bền vững. “Thời gian qua, lãnh đạo tỉnh rất quan trọng trong việc truyền đi các thông điệp thu hút doanh nghiệp. Tuy nhiên theo tôi là chưa đủ, và lãnh đạo tỉnh cần phải xuất hiện nhiều hỡn nữa. Ví dụ mô hình “Cà phê doanh nhân” ở Đồng Tháp tuy có nhiều vấn đề chưa đánh giá hết nhưng chắc chắn đã tạo được hình ảnh thân thiện của lãnh đạo trong mắt doanh nghiệp”, ông Minh cho hay. Cùng quan điểm này, ông Tuấn cho rằng chỉ số PCI là công cụ để địa phương nhìn thấy và cải thiện chứ không phải cách đích hướng tới.

    Theo bà Đặng Thị Thu Nguyệt, Trưởng Văn phòng Đại diện VCCI tại Khánh Hòa: việc khẩn trương xây dựng và thực thi Chương trình hành động cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thông qua cách làm hay, mô hình thực tiễn tốt như ĐCI, Cà phê Doanh nhân, ứng dụng công nghệ, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo…đã và đang trở thành cuộc đua gay gắt giữa các tỉnh, thành trong cả nước để cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tiếp nối “sức nóng” lan tỏa cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh của Nghị Quyết 02/CP ngày ngày đầu tiên của năm 2021.

    Với quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo tỉnh thì chương trình hành động nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, quyết tâm giao nhiệu vụ cho từng sở, ngành để xử lý, khắc phục những tồn tại, vướng mắc, từng bước cải thiện, nâng cao chỉ số PCI của tỉnh trong thời gian đến.

    Ông Lê Hữu Hoàng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa chia sẻ: sắp tới, tỉnh sẽ thành lập tổ công tác và ban hành chương trình hành động về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI. Các cơ quan, đơn vị, địa phương được phân công nhiệm vụ trong chương trình hành động phải cụ thể hóa bằng kế hoạch triển khai chi tiết, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, đạt chỉ tiêu đề ra. Tỉnh đặt mục tiêu phấn đấu giai đoạn 2021 – 2025, Khánh Hòa sẽ lọt vào top 15 tỉnh, thành phố có chỉ số PCI dẫn đầu cả nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Năng Lực Cạnh Tranh (Pci) Của Tỉnh Bắc Giang
  • 3 Lưu Ý Lựa Chọn Dac Nghe Nhạc Lossless Phù Hợp
  • Tư Vấn Dàn Âm Thanh Nghe Nhạc Lossless
  • Các Nước Đang Phát Triển Gặp Khó Khăn Trong Năm 2021 Do Chi Phí Vốn Vay Tăng Và Giá Dầu Và Giá Hàng Hóa Giảm
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Làng Nghề Truyền Thống Ở Tỉnh Quảng Ninh Hiện Nay * Tóm Tắt: – Trường Đại Học Hạ Long
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50