“một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.

--- Bài mới hơn ---

  • Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia
  • Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội
  • Đại Đội Kho Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Chiến Sĩ
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Phê Bình Và Phê Bình Trong Sinh Hoạt Cấp Ủy
  • Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Thị Hải Vân – Phó hiệu trưởng nhà trường đã đại diện cho Tập thể cán bộ giáo viên nhà trường có bài tham luận: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT“.

    Năm học 2022-2019 là năm đầu tiên Thành phố Hà Nội thay đổi phương thức tuyển sinh vào lớp 10. Thay vì kết hợp hình thức xét tuyển và thi tuyển. Năm học này, Thành phố chỉ thực hiện hình thức thi tuyển. Số môn thi tăng từ 2 lên 4 môn. Thí sinh dự thi không được cộng điểm khuyến khích. Những thay đổi như vậy có ảnh hưởng không ít đến tâm lí giáo viên, học sinh và cha mẹ các em. Tuy nhiên, kết quả thi vào lớp 10 THPT của nhà trường vẫn duy trì ổn định và dẫn đầu Quận. Điểm TB bài thi các môn Toán, Ngữ văn, Lịch sử đứng thứ nhất; tiếng Anh xếp thứ nhì trên tổng số 20 trường THCS trong quận. Điểm TB xét tuyển 4 môn thi đạt 45.01, cao hơn TB toàn quận 4.95 điểm. Nhiều học sinh đã đỗ vào các trường THPT chuyên của thành phố.

    Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Thị Hải Vân đã trình bày 4 giải pháp mà nhà trường đã áp dụng để có thể đạt được kết quả tốt như vậy, đó là:

    1. Công tác chỉ đạo điều hành

    2. Công tác bồi đưỡng đội ngũ

    3. Công tác tổ chức ôn luyện

    4. Công tác thi đua, khen thưởng

    Các lãnh đạo dự Hội nghị đánh giá rất cao nội dung bài tham luận, ghi nhận sự nỗ lực trong công tác chỉ đạo của BGH nhà trường cũng như sự vào cuộc quyết liệt của tập thể cán bộ giáo viên ôn thi để kết quả của nhà trường có thể giữ vững và duy trì ở tốp đầu quận.

    Đồng chí Phạm Thị Hải Vân đã gửi lời cảm ơn các đ/c lãnh đạo UBND Thành phố, Sở GD&ĐT Hà Nội, các đ/c lãnh đạo Quận ủy, HĐND, UBND quận Long Biên, các phòng ban của quận, Phòng GD&ĐT quận đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho ngành giáo dục nói chung và sự phát triển của THCS Gia Thụy nói riêng. Đồng thời, xin hứa sẽ cố gắng, nỗ lực hơn nữa để phát huy những thành tích đã đạt được, tiếp tục nỗ lực, tập trung chỉ đạo xây dựng thành công một tập thể đoàn kết, thống nhất, tạo môi trường sư phạm văn minh, lành mạnh để mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui, bổ ích.

    Cũng tại Hội nghị, thay mặt tập thể cán bộ giáo viên và nhân viên, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Thanh – Hiệu trưởng nhà trường, đã lên nhận Giấy khen của Chủ tịch UBND Thành phố về danh hiệu TẬP THỂ LAO ĐỘNG XUẤT SẮC. Đặc biệt hơn, Hội nghị cũng đã trao tặng nhiều giấy khen của UBND quận cho nhiều học sinh đã đạt thành tích xuất sắc trong phong trào học tập năm học 2022-2019.

    Với nhiều giải thưởng tại các cuộc thi cấp quận, Thành phố và các cuộc thi có yếu tố Quốc tế về Toán, Tiếng Anh, giải Toán bằng Tiếng Anh,… Trường THCS Gia Thụy rất vinh dự có học sinh Nguyễn Trần Chiến lớp 8A2 trở thành một trong các học sinh tiêu biểu được tuyên dương khen thưởng trong Hội nghị lần này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán
  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10
  • Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân
  • Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Tuyển Sinh Vào Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Đáp Án Ngữ Văn Lớp 10 Trường Thpt Chuyên Đh Sư Phạm Hà Nội Năm 2022
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Sang Thu (Hữu Thỉnh)
  • Đáp Án Và Bộ Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn Đề Số 5
  • Bộ Đề Thi Thử Môn Văn Có Đáp Án, Đề Số 94
  • Bình Giảng Khổ Cuối Bài Thơ Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)
  • SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊNĐỀ CHÍNH THỨCKỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPTNăm học 2022 – 2022MÔN THI: NGỮ VĂNCâu I. (5,0 điểm)

    Bỗng nhận ra hương ổiPhả vào trong gió seSương chùng chình qua ngõHình như thu đã về

    Sông được lúc dềnh dàngChim bắt đầu vội vãCó đám mây mùa hạVắt nửa mình sang thu…

    1. Đoạn thơ trên được trích trong tác phẩm nào? Và tác giả là ai?

    2. Tìm những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ trên?

    3. Trong đoạn thơ trên, khoảnh khắc giao mùa được nhà thơ cảm nhận qua những hình ảnh nào?

    4. Gạch chân thành phần biệt lập tình thái có trong câu thơ Hình như thu đã về và nêu tác dụng.

    5. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ trong hai câu thơ Sông được lúc dềnh dàng/ Chim bắt đầu vội vã.

    Thiên nhiên êm đềm, tươi đẹp của mỗi miền quê cần phải được yêu quý, giữ gìn.

    Câu II. (5,0 điểm)

    Cảm nhận của em về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng – Kim Lân. Từ đó, em hãy nhận xét ngắn gọn về tấm lòng của tác giả với người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    Đáp án đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn

    Câu I:

    1) Đoạn thơ được trích trong bài thơ Sang thu.

    Tác giả là Hữu Thỉnh.

    2) Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ là chùng chình, dềnh dàng, vội vã.

    (Thí sinh tìm được từ 2 đến 3 từ thì được điểm tối đa; tìm được 1 từ được 0,25 điểm)

    3) Khoảnh khắc giao mùa được cảm nhận qua các hình ảnh: hương ổi phả vào gió se, sương chùng chình qua ngõ, sông dềnh dàng, chim vội vã, đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu.

    (Thí sinh tìm được từ 3 đến 5 hình ảnh thì được 0,5 điểm; tìm được từ 1 đến 2 hình ảnh thì được 0,25 điểm)

    4) Gạch chân được thành phần biệt lập tình thái: Hình như thu đã về.

    Tác dụng: Diễn tả trạng thái mơ hồ của nhà thơ khi đất trời sang thu.

    5) Biện pháp tu từ được sử dụng là nhân hóa: Sông dềnh dàng, chim vội vã. (Nếu thí sinh chỉ nêu biện pháp nhân hóa thì được 0,25 điểm)

    Hiệu quả: cảnh vật hiện lên sinh động với trạng thái như con người trước bước đi của thời gian, đất trời.

    (Nếu thí sinh chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ khác mà hợp lí thì vẫn cho điểm theo mức điểm của câu hỏi.)

    6)

    a) Về hình thức:

    Viết đúng đoạn văn diễn dịch hoặc quy nạp.

    Viết đủ số câu theo yêu cầu.

    Diễn đạt rõ ràng, chữ viết sạch sẽ, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

    Gạch chân từ ngữ sử dụng phép nối. (0,25 điểm)

    Câu II: Cảm nhận tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng, tấm lòng của Kim Lân với người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    a. Đảm bảo cấu trúc của bài nghị luận

    Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

    Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai, tấm lòng của Kim Lân với người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

    Thí sinh có thể có nhiều cách cảm nhận và triển khai khác nhau, miễn là hợp lí. Cán bộ chấm thi có thể tham khảo gợi ý sau:

    * Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và nhân vật ông Hai.

    * Cảm nhận về tình yêu làng, yêu nước của ông Hai:

    Tình yêu làng:

    Ông Hai luôn tự hào về làng, thường khoe làng.

    Khi đi tản cư, ông luôn nhớ về làng, theo dõi tin tức về làng, mong trở về làng.

    Tình yêu làng gắn bó với tình yêu nước:

    Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc: Bàng hoàng, sững sờ rồi nghi ngờ, cố chưa tin nên tìm cách hỏi gặng. Khi được xác nhận ông buộc phải tin và sống trong trong tâm trạng đau khổ, hoang mang, nơm nớp sợ hãi, xấu hổ, nhục nhã.

    Khi nghe tin người ta không chứa người làng chợ Dầu: Bị đẩy vào bước đường cùng, ông vô cùng bế tắc và quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Đó chính là biểu hiện của lòng yêu nước thiết tha.

    Tình yêu làng vẫn âm ỉ, dai dẳng khiến ông rơi vào một tâm trạng đầy mâu thuẫn. Ông tâm sự với con cho vơi bớt nỗi đau.

    Khi nghe tin cải chính làng chợ Dầu không theo giặc: Gánh nặng tâm lý được trút bỏ, ông vui sướng, tự hào về làng.

    Nghệ thuật thể hiện: Phân tích, miêu tả tâm lý nhân vật xuất sắc; tạo được tình huống giàu kịch tính.

    * Nhận xét về tấm lòng của Kim Lân với người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp: Tấm lòng gắn bó tha thiết, am hiểu, trân trọng, tin tưởng vào tình yêu làng, yêu nước và tinh thần giác ngộ cách mạng, tham gia kháng chiến của người nông dân.

    d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu.

    Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Thi Vb Thơ De Vao 10 Doc
  • Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Phân Tích Bài Thơ Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng)
  • ✅ Cảnh Khuya; Rằm Tháng Giêng
  • Xác Định Và Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • “một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.
  • Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia
  • Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội
  • Đại Đội Kho Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Chiến Sĩ
  • Theo thầy Tùng, trước khi lên lớp HS đọc bài mới sẽ được thầy cô giảng để biết một số khái niệm, định nghĩa, biết được phần nào những kiến thức khó hiểu để chú ý hoặc chủ động đề nghị thầy cô giảng chậm, kỹ hơn. Đọc lại và thực hiện ngay các bài tập đơn giản. Khi học một kiến thức mới, HS cần có ký hiệu bằng mực khác màu hoặc kẽ đóng khung để dễ nhớ những phần quan trọng.

    HS cần chuẩn bị những đồ dùng cần thiết trước khi đến lớp; trong quá trình học cần ghi chép đúng lúc. Thời gian ở nhà các em xem lại kiến thức trọng tâm vừa học; làm ngay các bài tập thầy cô đã dặn; hệthống lại các bài tập; làm các bài tập mang tính tổng hợp kiến thức của toàn chương. Các em cần chú ý chủ động trong việc giữ gìn sức khỏe, chủ động làm nhiều dạng toán, ghi chép những điều quan trọng vào sổ tay…

    Toán là môn học cần có tính tư duy cao, tính kiên trì, nhẫn nại nên một số em rất sợ môn học này. Nếu không có phương pháp học tốt, các em dễ mất căn bản và sẽ vuột mất cơ hội vào lớp 10 công lập.

    Trong các kỳ tuyển sinh vào lớp 10, trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai (TP.TDM) có chất lượng đầu vào ở môn toán cao so với các trường khác. Cô Trần Thị Kim Anh đưa ra nhận xét, tình trạng HS học yếu môn toán ở cấp THCS đang là thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    Có nhiều nguyên nhân làm cho các em học yếu môn toán, nhưng nguyên nhân chính là HS chưa có phương pháp học đúng đắn, có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng, không xác định được động cơ học tập, dẫn đến chất lượng học tập còn yếu.

    Để khắc phục phần nào tình trạng này, trường đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp thực hiện để cải thiện tình trạng HS yếu kém, trường vừa tổ chức dạy ôn tập, vừa dạy phụ đạo cho HS lớp 9. Với cô Kim Anh, cần tạo sự gần gũi với HS ngay từ đầu năm học.

    Trong quá trình giảng dạy cô có thái độ nhẹ nhàng, khéo léo, xử lý tốt các tình huống sư phạm, để những HS yếu không mặc cảm với bạn bè. Cô cũng công tâm với tất cả HS; giúp đỡ HS rèn luyện kỹ năng, thái độ và phương pháp học tập phù hợp. Cô còn xây dựng cho HS cách học tự giác, giúp các em thấy lợi ích của việc đi học phụ đạo.

    Các thầy cô trong tổ nghiệp vụ toán THCS của Sở Giáo dục – Đào tạo cũng đã phân tích những lỗi HS thường mắc phải trong bài thi tuyển sinh lớp 10. Những lỗi cơ bản HS thường mắc là ghi đề sai; đọc đề không kỹ, dẫn đến nhầm số, đảo số, thiếu dấu; đặt dấu sai trong biểu thức khi tính; khi viết phân số không có dấu gạch ngang; phần làm sai khi làm lại HS không gạch bỏ; một bài toán làm 2 cách trong bài thi…

    Thầy Đặng Minh Khâm, Tổ trưởng tổ nghiệp vụ toán THCS thì lưu ý, trong giảng dạy giáo viên cần chuẩn mực, chính xác khi dùng ký hiệu toán học.

    Nghiêm khắc, không bỏ qua các lỗi sai của HS trong quá trình chấm bài trả tại lớp; phải sửa sai rút kinh nghiệm cho HS qua bài làm của các em, tránh bỏ qua hoặc làm sơ sài khi trả bài kiểm tra; thường xuyên đóng góp cho đồng nghiệp khi dự giờthao giảng về khâu trình bày bài giải hoặc sử dụng ký hiệu không đúng.

    H.THÁI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10
  • Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân
  • Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên
  • Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang
  • Tham Luận Về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Và Thi Vào Lớp 10 Bộ Môn Toán : Trường Thcs Quảng Long

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tham Luận Về Công Tác Ôn Thi Ts Vào Lớp 10 Thpt Của Đồng Chí Trần Thị Kim Cúc Trong Hội Cb,cnvc,nlđ Năm Học 2022
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia, Chăn Nuôi, Nâng Cao Đời Sống Cán Bộ, Chiến Sĩ
  • Kho Kx3 Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Chăn Nuôi Góp Phần Nâng Cao Đời Sống Bộ Đội
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Nữ Công Công Đoàn Các Cấp Trong Nhiệm Kỳ Mới
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ban Nữ Công Công Đoàn Cơ Sở
  • tệp tin:

    Tham luận về một số giải pháp

    nâng cao chất lượng đại trà và thi vào lớp 10 bộ môn Toán

     

    Kính thưa quý vị đại biểu!

    Thưa toàn thể hội nghị!

    Lời đầu tiên, cho phép tôi được gửi tới các đồng chí lời kính chúc sức khoẻ.

    Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp!

    Vừa rồi chúng ta đã được nghe toàn văn báo cáo tổng kết năm học 2022-2019 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2022-2020, về phía cá nhân tôi hoàn toàn nhất trí, và xin tham luận trước Hội nghị một số một số giải pháp hiệu quả nâng cao chất lượng đại trà và thi vào lớp 10, vì chuyên môn của bản thân tôi là môn Toán  nên cũng xin phép hội nghị tham luận về môn này.

    Kính thưa toàn thể hội nghị!

    Các giải pháp nâng nâng cao chất lượng đại trà và thi vào lớp 10:

    – Trước hết, là giáo viên cần xác định được ý thức, trách nhiệm, lương tâm nhà giáo, thường xuyên tự nâng cao trình độ, có sự đầu tư chuyên môn. Quan tâm sâu sắc, tác động trực tiếp đến hoạt động học của học sinh để tạo ra đổi mới phương pháp dạy và học hiệu quả.

    – Trong quá trình lên lớp bản thân tôi luôn tạo một không khí cởi mở, thân thiện, chú ý việc giáo dục đạo đức học sinh, linh hoạt trong cách xử lý các tình huống nhằm tác động tình cảm trực tiếp đến các em, khơi gợi niềm yêu thích, say mê đối với bộ môn.

    – Và ngay từ đầu năm học thì chúng ta hãy xây dựng cho mình một kế hoạch chi tiết của bộ môn về thời lượng thực hiện, thời gian thực hiện, chỉ tiêu phấn đấu và chương trình ôn tập cụ thể.

    – Giáo viên dạy phải kết hợp  chặt chẽ với gvcn và phụ huynh học sinh để hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời (thông tin với phụ huynh qua điện thoại, gặp trực tiếp phụ huynh). Động viên, khích lệ với những tiến bộ dù nhỏ của các em.

    – Tổ chức cho học sinh giúp đỡ lẫn nhau trong học tập: học nhóm, phân công bạn khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém. Tạo điều kiện để các em mạnh dạn thể hiện bản thân, luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện.

    –  GV khi lên lớp cần chú trọng nhiều đến việc chuẩn bị nội dung. Đối với các tiết bài tập giải kỹ từng bài tập ở nhà, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra. Để từ đó tìm ra thuật Toán đơn giản, giúp HS từng bước nắm được kiến thức và có hứng thú học tập.

    – Trong cách dạy, chúng ta dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức không cần phải bổ sung, nâng cao đối với HS yếu kém; cần giúp HS nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài.

    – Nắm thật sát năng lực học tập của từng học sinh, của từng lớp để từ đó phân loại và  giao nhiệm vụ học tập vừa sức cho các em nhằm kích thích hứng thú học tập của các em.

    – Khai thác triệt để các sai lầm, thiết sót của HS trong quá trình giải toán, nhất là các tiết luyện tập, tiết trả bài kiểm tra.

    – Thường xuyên liên hệ toán học với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp các trò chơi toán học vào bài dạy để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm tin trong học Toán.

    – Khi xây dựng kế hoạch ôn thi vào lớp 10 phải theo cấu trúc đề thi do sở qui định.

    – Hệ thống hóa cho học sinh những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao, ôn tập cho học sinh theo dạng chuyên đề. Qua từng chuyên đề để đưa ra các bài tập áp dụng cụ thể để học sinh khắc sâu hơn kiến thức. Cần cho HS giải các đề thi của các năm trước để học sinh làm quen và cũng giúp giáo viên kiểm tra trình độ của học sinh.

    – Cập nhật kịp thời các văn bản hướng dẫn của Sở  về thi tuyển sinh, nắm được các dạng bài tập mà trong đề thi sẽ có, từ đó tìm kiếm các nguồn tài liệu phù hợp để áp dụng có hiệu quả trong quá trình ôn tập.

    Cuối cùng kính chúc các vị đại biểu sức khoẻ, hạnh phúc!

     Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp!

    Xin trân trọng cảm ơn!

     

     

     

    GV: Nguyễn Thị Hương Giang

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh 10
  • Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Hội Nông Dân
  • Sinh Hoạt Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ – Viện Nghiên Cứu Thanh Niên
  • Giải Pháp Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Nhằm Tăng Sức Hấp Dẫn Và Sức Cạnh Tranh Cho Du Lịch Hà Nội – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Nâng Cao Chất Lượng Các Sản Phẩm Du Lịch
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nào Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Mầm Non?
  • Kiến Nghị Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên
  • Kiến Nghị Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Phổ Thông
  • Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Phòng Giáo dục & Đào tạo Di Linh Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Trường THCS Nguyễn Du Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ………..o0o………..

    CHUYÊNĐỀ : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    Môn : Văn – Anh

    A. Đặt vấn đề

    Môn Văn – Anh có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình của cấp học THCS . Ngoài việc cung cấp kiến thức như các môn học khác, môn Ngữ Văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh: biết yêu thương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tới những tư tưởng cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu, bước đầu các em có năng lực cảm thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn cao cả; còn môn Anh văn là môn cần thiết cho xã hội ngày nay khi mà chúng ta hội nhập với thế giới.

    Tuy nhiên học Văn – Anh là cả một quá trình tích luỹ lâu dài, không thể học xổi, học dồn mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tác phẩm….

    Đây cũng là vấn đề mà giáo viên dạy Văn- Anh , chúng tôi trăn trở. Qua kinh nghiệm trong quá trình dạy học, qua việc tìm hiểu thực tế dạy – học môn Văn- Anh ở trường ,chúng tôi mạnh dạn đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Văn- Anh như sau:

    B. NỘI DUNG :

    I. Nguyên nhân.

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng còn thấp thì có nhiều, song theo chúng tôi có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

    1.Về phía học sinh.

    – Đa số học sinh còn lười học bài cũ và lười soạn bài nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học. Khi soạn bài ,các em còn lệ thuộc vào các tài liệu học tốt, các bài văn mẫu nên hạn chế năng lực chủ động, sáng tạo trong các hoạt động

    – Một số học sinh không biết sử dụng sách giáo khoa, thậm chí có em không bao giờ đọc sách, kể cả văn bản trong sách giáo khoa.

    -Chất lượng đầu vào lớp 7,8,9 thấp.

    – Khả năng tiếp thu , viết bài còn chậm.

    – Thụ động, thiếu linh hoạt và sáng tạo.

    – Tư duy hạn chế, học bài lâu thuộc.

    – Kĩ năng phân tích đề, hiểu đề còn hạn chế.

    – Nhận thức không đồng đều, nhiều em không có kĩ năng đặt câu, viết đoạn văn, vốn từ nghèo nàn, viết sai chính tả; kĩ năng nhận diện các phương thức biểu đạt, tóm tắt văn bản, bài Tập làm văn các dạng ở một bộ phận học sinh còn yếu.

    – Sống trong môi trường thiếu những hoạt động văn hóa như sinh hoạt câu lạc bộ, thư viện hiếm sách tham khảo. Trong khi đó, nhu cầu văn hóa ngày một nâng cao, trên địa bàn lại xuất hiện nhiều dịch vụ giải trí như : điện tử, game, bi-a ….. Đã làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn. Thiếu sự quan tâm, giám sát của gia đình, địa phương.

    -Bên cạnh đó, theo đặc thù bộ môn, theo xu thế của xã hội, môn Ngữ văn đang bị mất dần vị thế của nó. Học sinh ít mặn mà với bộ môn văn và chỉ coi môn văn là môn học bắt buộc để thi vào lớp 10.

    2.Đối với giáo viên :

    Đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy, quan tâm chăm lo đến học sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau :

    – Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếu, kém dẫn đến chất lượng chưa cao.

    – Việc sử dụng đồ dùng dạy học còn hạn chế, khai thác chưa triệt để, nên ảnh hưởng đến sự tiếp thu bài của học sinh.

    – Việc ứng dụng công nghệ thông tin : Ở một bộ phận không nhỏ giáo viên còn rất hạn chế: Ngại, lười, đi cóp, thậm chí sử dụng giáo án vi tính còn lúng túng, chưa thuần thục, thành thạo thì nói gì đến việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng.

    – Chuẩn bị một giờ dạy chưa có sự đầu tư, nghiên cứu, trăn trở về nội dung của bài, còn quan niệm lên lớp cho xong, hết giờ thì về, nên phương pháp dạy còn gò bó, khô cứng, ít sáng tạo.

    – Thời gian đầu tư cho chuyên môn còn ít do bị chi phối các hoạt động ở trường nhiều , như : hôi họp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Hiệu Quả Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh
  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Tin Học
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử
  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử?
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Sang Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bức Tranh Thu Trong Bài Thơ Sang Thu, Bài
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân.
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà
  • Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”
  • Chuyên đề 18: SANG THU

    I. Tìm hiểu chung: 1. Tác giả:

    – Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành từ trong quân đội.

    – Là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con người ởnông thôn, về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo, đang biến chuyển nhẹ nhàng.

    – Thơ Hữu Thỉnh mang đậm hồn quê Việt Nam dân dã, mộc mạc tinh tế và giàu rung cảm.

    2. Tác phẩm: a. Hoàn cảnh sáng tác:

    – Bài thơ sáng tác năm 1977.

    – In trong tập ” Từ chiến hào đến thành phố.

    b. Bố cục: 3 phần tương ứng với ba khổ thơ.

    – Khổ 1: Những tín hiệu giao mùa

    – Khổ 2: Bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa

    – Khổ 3: Những suy tư và chiêm nghiệm của nhà thơ.

    II. Đọc – hiểu văn bản: 1. Những tín hiệu giao mùa:

    – “Sang thu” ở đây là chớm thu, là lúc thiên nhiên giao mùa.Mùa hè vẫn chưa hết mà mùa thu tới có những tín hiệu đầu tiên. Trước những sự thay đổi tinh vi ấy, phải nhạy cảm lắm mới cảm nhận được.

    – Với Hữu Thỉnh mùa thu bắt đầu thật giản dị:

    Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se

    + Nếu trong “Đây mùa thu tới” cảm nhận thu sang của XuânDiệu là rặng liễu thu buồn ven hồ “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang – Tóc buồnbuông xuống lệ ngàn hàng” thì Hữu Thỉnh lại cảm nhận về một mùi hương quenthuộc phảng phất trong “gió se” – thứ gió khô và se se lạnh, đặc trưng của mùa thuvề ở miền Bắc. Đó là “hương ổi” – mùi hương đặc sản của dân tộc, mùi hươngriêng của mùa thu làng quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

    + Mùi hương ấy không hòa vào quyện vào mà “phả” vào tronggió.hocvanlop9 “Phả” nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra từng luồng. Hữu Thỉnh đã không tả mà chỉgợi, đem đến cho người đọc một sự liên tưởng thú vị: tại vườn tược quê nhà,những quả ổi chín vàng trên các cành cây kẽ lá tỏa ra hương thơm nức, thoangthoảng trong gió. Chỉ một chữ “phả” thôi cũng đủ gợi hương thơm như sánh lại.Sánh lại bởi hương đậm một phần, sánh bởi tại gió se.

    + Nếu như trong thơ ca cổ điển mùa thu thường hiện ra quacác hình ảnh ước lệ như “ngô đồng”, “rặng liễu”, “lá vàng mơ phai”, “hoa cúc”…thì với Hữu Thỉnh ông lại bắt đầu bằng “hương ổi”. Đó là một hỉnh ảnh, một tứthơ khá mới mẻ với thơ ca viết về mùa thu nhưng lại vô cùng quen thuộc và gầngũi đối với mỗi người dân Việt Nam,đặc biệt là người dân miền Bắc mỗi độ thu về.

    + “Hương ổi” gắn liền với bao kỉ niệm của thời thơ ấu, làmùi vị của quê hương đã thấm đẫm trong tâm tưởng nhà thơ và cứ mỗi độ thu vềthì nó lại trở thành tác nhân gợi nhớ. Chính Hữu Thỉnh đã tâm sự rằng: “Giữatrởi đất mênh mang, giữa cái khoảnh khắc giao mùa kì lạ thì điều khiến cho tâmhồn tôi phải lay động, phải giật mình để nhận ra đó chính là hương ổi. Với tôi,thậm chí là với nhiều người khác không làm thơ thì mùi hương đó gợi nhớ đếntuổi ấu thơ, gợi nhớ đến buổi chiều vàng với một dòng sông thanh bình, một conđò lững lờ trôi, những đàn trâu bò no cỏ giỡn đùa nhau và những đứa trẻ ẩn hiệntrong triền ổi chín ven sông…hocvanlop9Nó giống như mùi bờ bãi, mùa con trẻ…Hương ổi tựnó xốc thẳng vào những miền thơ ấu thân thiết trong tâm hồn chúng ta. Mùi hươngđơn sơ ấy lại trở thành quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mởthẳng vào tâm hồn mỗi người, có khi là cả một thế hệ…”.

    – Nếu hai câu đầu diễn tả cái cảm giác chưa hẳn đủ tin thìđến hình ảnh “Sương chùng chình qua ngõ” lại càng lung linh huyền ảo.

    + Không phải là màn sương dày đặc, mịt mù như trong câu cadao quen thuộc miêu tả cảnh Hồ Tây lúc ban mai “Mịt mù khói tỏa ngàn sương”,hay như nhà thơ Quang Dũng đã viết trong bài thơ “Tây Tiến”: “Sài Khao sươnglấp đoàn quân mỏi” mà là “Sương chùng chình qua ngõ” gợi ra những làn sương mỏng,mềm mại, giăng màn khắp đường thôn ngõxóm làng quê. Nó làm cho khí thu mát mẻ và cảnh thu thơ mộng, huyền ảo, thongthả, bình yên.

    + Nhà thơ đã nhân hóa màn sương qua từ “chùng chình” khiếncho sương thu chứa đầy tâm trạng. Nó như đang chờ đợi ai hay lưu luyến điều gì?Câu thơ lắng đọng tạo cảm giác mơ hồ đan xen nhiều cảm xúc.

    2. Bức tranh thiênnhiên lúc giao mùa

    – Sau giây phút ngỡ ngàng và khe khẽ vui mừng, cảm xúc củathi sĩ tiếp tục lan tỏa, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn:

    Sông được lúc dềnhdàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

    – Bức tranh mùa thu được cảm nhận bởi sự thay đổi của đấttrời theo tốc độ di chuyển từ hạ sang thu, nhẹ nhàng mà rõ rệt. Thiên nhiênsanh thu đã được cụ thể bằng những hình ảnh: “sông dềnh dàng”, “chim vội vã”, “đám mây vắt nửa mình”. Như thế,thiên nhiên đã được quan sát ở một không gian rộng hơn, nhiều tầng bậc hơn. Vàbức tranh sang thu từ những gì vô hình như “hươngổi” ,”gió se”, từ nhỏ hẹp như con ngõ chuyển sang những nét hữu hình, cụthể với một không gian vừa dài rộng, vừa xa vời.

    – Tác giả cảm nhận thu sang bằng cả tâm hồn:

    Sông được lúc dềnhdàng Chim bắt đầu vội vã

    + Bằng phép nhân hóa đặc sắc, nhà thơ đã rất tài hoa ghi lạilinh hồn của cảnh vật, của dòng sông quê hương nơi vùng đồng bằng Bắc Bộ ăm ắpnước phù sa, vươn mình giữa ruộng đồng vào những ngày giao mùa. Vào mùa thu,nước sông êm đềm, nhẹ nhàng, trôi lững lờ mà không chảy xiết như sau những cơnmưa mùa hạ.hocvanlop9 Cái “dềnh dàng” của dòng sông không chỉ gợi ra vẻ êm dịu của bứctranh thiên nhiên mùa thu mà còn mang đầy tâm trạng của con người như chậm lại,như trễ nải, như ngẫm ngợi nghĩ suy về những trải nghiệm trong cuộc đời.

    + Trái ngược với vẻ khoan thai của dòng sông là sự vội vàngcủa những cánh chim trời bắt đầu di trú về phương Nam. Không gian trở nên xôn xao,không có âm thanh nhưng câu thơ lại gợi được cái động.

    ( Ý thơ đồng thời còn gợi cho người đọc một liên tưởng khác:Sự chuyển động của dòng sông, của cánh chim phải chăng còn là sự chuyển mìnhcủa đất nước. Cả đất nước ta vừa trải qua chiến tranh tàn khốc mới có được hòabình, và giờ đây mới được sống một cuộc sống yên bình, êm ả. Nhưng rồi mỗingười dân Việt Nam cũng lại bắt đầu hối hả nhịp sống mới để xây dựng đất nướctrong niềm vui rộn ràng)

    – Đất trời mùa thu như đang rùng mình để thay áo mới. Cả bầutrời mùa thu cũng có sự thay đổi:

    Có đám mây mùa hạ

    Vắt nửa mình sang thu.

    + Trong thơ ca Việt Nam, không ít những vần thơ nói vềđám mây trên bầu trời thu:

    _ “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Nguyễn Khuyến – “Thuđiếu”)

    _ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” (Huy Cận – “Tràng giang”)

    + Hữu Thỉnh dùng động từ “vắt” để gợi ra trong thời điểmgiao mùa, đám mây như kéo dài ra, nhẹ trôi như tấm lụa mềm treo lơ lửng giữabầu trời trong xanh, cao rộng.

    + Hình như đám mây đó vẫn còn lại một vài tia nắng ấm củamùa hạ nên mới “Vắt nửa mình sang thu”. Đám mây vắt lên cái ranh giới mỏng manhvà ngày càng bé dần, bé dần đi rồi đến một lúc nào đó không còn nữa để toàn bộsự sống, để cả đám mây mùa hạ hoàn toàn nhuốm màu sắc thu.

    + Nhưng trong thực tế không hề có đám mây nào như thế vì mắtthường đâu dễ nhìn thấy được sự phân chia rạch ròi của đám mây mùa hạ và thu.Đó chỉ là một sự liên tưởng thú vị – một hình ảnh đầy chất thơ. Thời khắc giaomùa được sáng tạo từ một hồn thơ tinh tế, nhạy cảm, độc đáo không những mangđến cho người đọc…mà còn đọng lại những nỗi bâng khuâng trước vẻ dịu dàng êmmát của mùa thu.

    3. Những suy tư,chiêm nghiệm của nhà thơ:

    – Nếu ở hai khổ thơ đầu của bài thơ, dấu hiệu mùa thu đã khárõ ràng trong không gian và thời gian,sang khổ cuối vẫn theo dòng cảm xúc ấy, tác giả bộc lộ suy ngẫm của mình về conngười, về cuộc đời:

    Vẫn còn bao nhiêu nắng Đẵ vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứngtuổi”.

    – Hình ảnh “Nắng và mưa”:

    + Nắng, mưa vốn là hiện tượng của thiên nhiên vận hành theoquy luật riêng của nó. Hữu Thỉnh đã nhìn ra từ cái mưa nắng hàng ngày một sựhụt vơi – dấu hiệu của sự chuyển mùa từ hạ sang thu.

    + Nắng vẫn còn vàng tươi nhưng nắng thu trong và dịu hơn cáinắng chói chang, gay gắt của mùa hạ.

    + Mưa cũng vẫn còn nhưng đã vơi nhiều so với những cơn mưabong bóng kéo dài của mùa hạ. “Vơi dần” không chỉ là ít mưa đi mà còn là mưa ítnước đi. Đây cũng là dấu hiệu của sự chuyển mùa.

    – Ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh “Sấm” và “hàng cây”:

    + Cuối hạ – đầu thu, khi đã vơi đi những cơn mưa xối xả thìsấm cũng bớt bất ngờ và dữ dội. Nó không còn đột ngột, đùng đoàng rền vang cùngvới những tia sáng chớp lòe như xé rách bầu trời trong những trận mưa báo tháng6 tháng 7 nữa.

    + “Hàng cây đứng tuổi” phải chẳng là hàng cây đã đi qua baocuộc chuyển mùa nên không biết chính xác là bao nhiêu nhưng chắc cũng đủ trảinghiệm để có thể điềm nhiên đứng trước những biến động.

    – Hai câu kết của bài thơ không chỉ mang nghĩa tả thực, màcòn mang ý nghĩa ẩn dụ, gợi những suy nghĩ cho người đọc người nghe:

    Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứngtuổi

    + “Sấm” là những vang động bất thường của ngoại cảnh, cuộcđời.

    + “Hàng cây đứng tuổi” chỉ những con người đứng tuổi từngtrải.

    III. Tổng kết:

    – Bằng hình ảnh thơ tự nhiên, không trau chuốt mà giàu sứcgợi cảm.

    – Thể thơ năm chữ.

    – Hữu Thỉnh đã thể hiện một cách đặc sắc những cảm nhận tinhtế để tạo ra một bức tranh chuyển giao từ cuối hạ sang thu nhẹ nhàng, êm dịu,trong sáng nên thơ…ở vùng đông bằng Bắc Bộ của đất nước.

    – Bài thơ của Hữu Thỉnh đánh thức tình cảm của mỗi người vềtình yêu quê hương đất nước và suy ngẫm về cuộc đời.

    Tổng hợp

    Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Cảm Nhận Về Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng Lớp 8 Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Thứ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Cảm Nhận Về Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Qua Dòng Hồi Tưởng Của Người Mẹ Trong Văn Bản “cổng Trường Mở Ra”. Tác Giả Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì? Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó?
  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán
  • “một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.
  • Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia
  • Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội
  • Nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh lớp 10 năm học 2014-2015, từ cuối học kỳ 1 năm học 2013-2014, ban giám hiệu (BGH) các trường THCS trên địa bàn thành phố tích cực đẩy mạnh các giải pháp bồi dưỡng học sinh yếu kém; tư vấn, định hướng cho học sinh lớp 9 chọn trường phù hợp với năng lực, sở thích.

    Các trường THCS trên địa bàn thành phố đang nỗ lực ôn tập, tư vấn, định hướng cho học sinh để nâng cao chất lượng tuyển sinh lớp 10 năm học 2014-2015.

    Với những nỗ lực trên, lãnh đạo các trường kỳ vọng kỳ thi năm nay sẽ đạt nhiều kết quả khả quan.

    Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh

    Năm học 2013-2014, Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu (quận Thanh Khê) có 241 học sinh lớp 9. Để nâng cao chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2014-2015, bên cạnh việc thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học chính khóa, ngay từ cuối học kỳ 1, BGH nhà trường đã triển khai kế hoạch dạy phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi để dự thi vào các trường: THPT chuyên Lê Quý Đôn, THPT Phan Châu Trinh…

    Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu cho biết, để chuẩn bị kỳ thi quan trọng này, một mặt nhà trường niêm yết kế hoạch tuyển sinh, tỷ lệ chọi ở các trường THPT những năm trước để học sinh tham khảo; mặt khác tổ chức họp phụ huynh để thông báo về khả năng học tập của từng em, qua đó tư vấn việc định hướng chọn trường phù hợp với năng lực, sở thích. Ngoài ra, BGH giao giáo viên chủ nhiệm lớp theo sát nắm bắt tâm tư, sở thích… để tư vấn cho học sinh.

    Nhờ làm tốt công tác bồi dưỡng, tư vấn, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, những năm qua, tỷ lệ học sinh Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu trúng tuyển vào lớp 10 khá cao. Trong đó, có năm trường có 9 học sinh trúng tuyển vào lớp 10 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

    Cũng nhờ làm tốt công tác tư vấn, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2013-2014, Trường THCS Nguyễn Văn Cừ (quận Sơn Trà) có tỷ lệ học sinh trúng tuyển cao nhất quận, với 156 học sinh trúng tuyển trên tổng số 159 học sinh dự thi. Trong đó có 5 em trúng tuyển vào Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

    Ông Võ Xuân Tấn, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Văn Cừ cho hay, từ đầu học kỳ 2 năm học 2013-2014, nhà trường họp bàn với phụ huynh để có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác tư vấn, định hướng học sinh chọn trường, tránh tình trạng chọn nhầm trường do ảo tưởng về năng lực. Cùng với đó, nhà trường tổ chức cho học sinh khối lớp 9 tích cực ôn tập, bồi dưỡng luyện thi, định hướng cho các em, giúp học sinh ổn định về mặt tâm lý, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng bước vào kỳ thi.

    Tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém

    Thời gian qua, Sở GD-ĐT chỉ đạo các Phòng GD-ĐT quận, huyện, BGH các trường tích cực đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học; chú trọng phân loại, bồi dưỡng học sinh yếu kém; đẩy mạnh công tác tư vấn, phân luồng học sinh sau THCS nhằm giảm áp lực tuyển sinh vào lớp 10.

    Ông Nguyễn Tiến Khải, Hiệu trưởng Trường THCS Trưng Vương (quận Hải Châu), cho hay ngay từ đầu năm học, nhà trường tiến hành khảo sát đầu năm, phân loại trình độ học sinh. Qua đó, những học sinh có học lực yếu, nhà trường tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo giúp các em kịp thời bổ khuyết kiến thức. Riêng với học sinh khối lớp 9, nhà trường tập trung bồi dưỡng, tư vấn, định hướng cho các em chọn trường theo năng lực, trình độ. Nhờ vậy, những năm qua, chất lượng học sinh trúng tuyển vào lớp 10 các trường THPT công lập khá cao, luôn dẫn đầu toàn quận Hải Châu.

    Còn theo ông Vĩ Sách, Trưởng phòng GD-ĐT quận Thanh Khê, ngay từ đầu năm học 2013-2014, Phòng đã chỉ đạo BGH các trường tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời, nhà trường phân loại học sinh, có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng học sinh yếu kém ngay tại trường để tạo chất lượng giáo dục đồng đều. Với các kỳ thi tuyển sinh đầu cấp, nhất là kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, ngay cuối học kỳ 1 năm học 2013-2014, BGH các trường thực hiện công tác tư vấn, phối hợp thường xuyên với phụ huynh, định hướng học sinh lựa chọn trường dự thi theo năng lực. “Đối với những học sinh không đủ năng lực tiếp tục vào học lớp 10 THPT, nhà trường có trách nhiệm tư vấn các em học tại các trường TCCN, dạy nghề, bổ túc THPT”, ông Sách cho biết thêm.

    Theo ông Lê Trung Chinh, Giám đốc Sở GD-ĐT, để kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2014-2015 đạt kết quả cao, Sở chỉ đạo các Phòng GD-ĐT quận, huyện, các trường THCS trên địa bàn đẩy mạnh việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS; bố trí thời gian phù hợp ôn tập các môn thi trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 đối với học sinh. BGH các trường phải chủ động nâng cao hiệu quả các hoạt động tư vấn tuyển sinh đối với phụ huynh và học sinh, giúp học sinh chọn trường phù hợp với năng lực.

    Bài và ảnh: PHƯƠNG CHI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân
  • Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên
  • Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang
  • Minh Long: Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi, Tổ Hội Gắn Với Đẩy Mạnh Các Phong Trào Thi Đua Trong Nông Dân
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Ánh Trăng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Ngắn Gọn
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tây Tiến Quang Dũng, Bài Văn Mẫu 1
  • Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Phát Triễn Ngôn Ngữ Cho Trẻ Qua Hoạt Động Kể Chuyện
  • Cảm Nhận Và Phân Tích Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Khổ Thơ 2 Trong Bài Tây Tiến: Doanh Trại Bừng Lên Hội Đuốc Hoa
  • Chuyên đề 11: ÁNH TRĂNG

    I. Tìm hiểu chung: 1. Tác giả:

    – Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa.

    – 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin,tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

    – Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    – Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu.

    – Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam.

    ” Thơ Nguyễn Duy sâu lắng, thắm thiết cái hồn cái vía của ca dao, dân ca Việt Nam.Những bài thơ của ông không cố gắng tìm kiếm những hình thức mới mà đi sâu vào cái nghĩa cái tình muôn đời của con người Việt Nam. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy cũng không bóng bẩy mà gần gũi, dân dã, đôi khi hơi “bụi”, phù hợp với ngôn ngữ thường nhật”. ( Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

    – Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

    – Tác phẩm tiêu biểu: Cát trắng (1973), Mẹ và em ( 1987), Đường xa (1990), Về (1994)…

    2. Tác phẩm: a. Hoàn cảnh sáng tác:

    -Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978 ,tại thành phố Hồ Chí Minh -nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi hiện đại, nơi những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình.

    – In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy -tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

    b. Bố cục: 3phần:

    – Hai khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ.

    – Hai khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại.

    – Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

    c. Mạch cảm xúc:

    Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ.

    c. Chủ đề:

    Thông qua hình tượng nghệ thuật “Ánh trăng” và cảm xúc của nhà thơ, bài thơ đã diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa.

    II – Đọc – hiểu văn bản: 1. Vầng trăng trong quá khứ:

    – Hồi nhỏ sống:

    + với đồng.

    + với sông.

    + với bể.

    2. Vầng trăng trong hiện tại:

    -Hoàn cảnh sống:

    + Đất nước hòa bình.

    + Hoàn cảnh sống thay đổi: xa rời cuộc sống giản dị của quá khứ, con người được sống sung túc trong “ánh điện cửa gương” – cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại,xa rời thiên nhiên.

    – “Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”:

    + Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó.

    – Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:

    + Tình huống: mất điện, phòng tối om.

    3. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

    – Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

    – Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

    – Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng- biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng,những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

    – Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

    – Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

    III – Tổng kết: 1. Nội dung:

    – Bài thơ là một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu.

    – Gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

    2. Nghệ thuật:

    – Thể thơ 5 chữ, phương thức biểu đạt tự sự kết hợp với trữ tình.

    – Giọng thơ mang tính tự bạch, chân thành sâu sắc.

    – Hình ảnh vầng trăng – “ánh trăng” mang nhiều tầng ý nghĩa.

    LUYỆN TẬP BÀI THƠ ÁNH TRĂNG : Dựa vào mạch tự sự của bài thơ,hãy cho biết nhà thơ tập trung nói về sự kiện nào.Đâu là chi tiết có tính bước ngoặt để nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình. Gợi ý:

    – Sự kiện chính : Buyn-đinh mất điện,nhà thơ mở cửa,bất ngờ gặp ánh trăng.Chi tiết mở cửa gặp trăng là chi tiết có ý nghĩa bước ngoặt,mở ra 1 trường tâm trạng của nhà thơ(nhớ về quá khứ,suy ngẫm về cách sống trong hiện tại,…)

    – Những từ “thình lình”, “vội”, “đột ngột”

    – Gặp trăng trong tình thé bất ngờ nhưng đó là sự kiện tạo nếnự chuyển biến mạnh mẽ trong cảm nhận và suy nghĩ của nhà thơ.

    “Trăng cứ tròn vành vạnh”

    a. Chép tiếp các câu thơ tiếp để hoàn thành khổ cuối bài thơ?

    Gợi ý:

    a. Chép khổ cuối bài thơ:

    b. Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều ý nghĩa tượng trưng.

    – Vầng trăng là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên,tươi mát,là người bạn suốt thời nhỏ tuổi,hồi chiến tranh ở rừng.

    – Vầng trăng là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình,hơn thế trăng còn mang vẻ đẹp bình dị,vĩnh hằng của đời sống.

    – Ở khổ thơ cuối,trăng tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên,chẳng thể phai mờ,là người bạn,nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng chúng tôi người có thể vô tình,có thể lãng quyên thiên nhiên nhưng thiên nhiên (quá khứ) thì luôn tròn trịa,bất diệt.

    – Bài thơ là tiếng lòng,là những suy ngẫm thấm thía,nhắc nhở ta về thái độ,tình cảm về đối với những năm tháng gian lao,tình nghĩa,đối với thiên nhiên,đất nước.

    – Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở mọi người về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”,ân nghĩa,thuỷ chung.

    : Tính chất triết lý và chiều sâu suy ngẫm của bài thơ thể hiện rõ nhất ở đoạn thơ nào?Vì sao em khẳng định như vậy? Gợi ý:

    Khổ thơ cuối thể hiện rõ nhất tính triết lý và chiều sâu suy ngẫm của nhà thơ:

    + “Trăng cứ tròn vành vạnh” : Thể hiện sự trong sáng,tròn đầy,thuỷ chung.

    + “Ánh trăng im phăng phắc”: Đó là sự im lặng nghiêm khắc mà nhân hậu,bao dung.

    + “Đủ cho ta giật mình”: Giật mình vì trăng đầy đặn nghĩa tình,mà mình lại có lúc quên trăng;giật mình vì trăng bao dung,nhân hậu,mà mình lại là kẻ vô tình;giật mình vì đã có lúc mình quên bạn bè,quên quá khứ.

    Qua đây bài thơ nhắc nhở mọi người phải biết hướng về quá khứ,phải thuỷ chung với quá khứ.

    Câu 4: Hình ảnh người lính qua 3 bài thơ : Đồng chí (CH), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (PTD) và Ánh trăng của Nguyễn Duy.

    Gợi ý:

    – Điểm chung : Vẻ đẹp trong tâm hồn tính cách của người lính cách mạng như lòng yêu quê hương đất nước, yêu tổ quốc, sẵn sàng hi sinh vì đất nước, tinh thần dũng cảm, lạc quan vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó….

    – Điểm riêng : Mỗi người lính trong từng bài thơ có những nét đẹp riêng và đặt trong những hoàn cảnh khác nhau:

    + Đồng chí viết về người lính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là những người lính xuất thân từ nông dân ở những làng quê nghèo khổ, tình nguyện, hăng hái ra đi chiến đấu. Tình đồng chí đồng đội của họ dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ, cùng chia sẻ những gian lao thiếu thốn và cùng chung mục đích lí tưởng chiến đấu. Tình đồng chí đồng đội là vẻ đẹp nổi bật của họ.

    + Bài thơ về tiểu đội xe không kính viết về những người chiến sỹ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ. Họ là những người lính dũng cảm, lạc quan yêu đời, hiên ngang, bất chấp khó khăn nguy hiểm có ý chí khát vọng giải phóng Miền Nam cháy bỏng .Đó là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ .

    + Ánh trăng là sự trăn trở, suy ngẫm của người lính đã đi qua cuộc chiến tranh nay sống trong hòa bình tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Đó chính là nét đẹp của người lính thời bình.

    Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

    Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Cuối Bài Ánh Trăng
  • Bài Thơ: Ánh Trăng (Nguyễn Duy
  • Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, Top 10 , Nckhspud, Skkn, : Trong Câu Văn “cái Lặng Im Lúc Đó Mới Thật Dễ Sợ: Nó Như Bị Chặt Ra Từng Khúc, Mà Gió Thì Giống Những Nhát Chổi Lớn Muốn Quét Đi Tất Cả, Ném Vứt Lung Tung…” Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì? Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó.
  • Bài Thơ Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê
  • Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Hồi Hương Ngẫu Thư Của Hạ Tri Chương, Hay, Đ
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • SKKN nâng cao chất lượng môn toán lớp 5

    Năm học : 2006 – 2007

    Phần mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2006-2007 là năm học đổi mới chương trình và thay SGK lớp 5; là năm học tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    Giáo viên trường TH chúng tôi đã triển khai thực hiện những thay đổi theo phương pháp dạy học mới. Mục đích giáo dục tiểu học được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn. Với chương trình mới, chúng ta đã và đang từng bước thay đổi nội dung dạy học cho nên người giáo viên cần tập trung đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh”. Vậy để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh về môn Toán cần có phương pháp dạy học phù hợp: phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi cửa học sinh, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường… Thực tế bản thân tôi, giáo viên trường tôi đã vận dụng thành thạo các phương pháp dạy học truyền thống vào dạy toán như: giảng giải, vấn đáp, trực quan… Ngoài những phương pháp này, hình thức thầy tổ chức trò hoạt động đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nhiều phương pháp và các kĩ thuật khác nữa. Chẳng hạn: phải biết theo dõi từng học sinh trong quá trình giải bài tập để kịp thời giúp đỡ học sinh yếu, giao việc cho học sinh giỏi, phải biết cách nhanh chóng chia lớp thành nhóm để tổ chức giải câu đố toán học, phải biết cách làm mẫu khi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học… Giáo viên trường tôi tuy đã biết về các kĩ thuật dạy học nói trên nhưng chưa thành thục khi sử dụng chúng, giáo viên ngại sử dụng hoặc chỉ lạm dụng một vài kĩ thuật nào đó mà thôi. Đây chính là điểm yếu của tôi, của giáo viên trường tôi và cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu áp dụng giảng dạy tại lớp 5B (lớp tôi chủ nhiệm) trong năm học 2006-2007 này nhằm nâng cao chất lượng của lớp.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Tìm hiểu nội dung dạy học toán và nghiên cứu một số biện pháp cải tiến phương pháp, hình thức dạy học toán để áp dụng nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    Phương pháp dạy học Toán của giáo viên ở trường TH

    Học sinh 5B (lớp tôi chủ nhiệm).

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Tìm hiểu thực trạng dạy học toán ở trường TH , rút kinh nghiệm, có một số biện pháp cải tiến phương pháp dạy học toán nhằm n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ MÔN NGỮ VĂN

    TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

    Kính thưa…..

    Được sự phân công của hội nghị, sau đây tôi xin được trình bày về tham luận ” Giải pháp nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn “. Đây chỉ là một tham luận mang tính chất cá nhân, đúc rút từ kinh nghiệm trong quá trình dạy học nên rất mong quý thầy cô và đồng nghiệp chia sẻ đóng góp ý kiến để tham luận được hoàn thiện và có ý nghĩa sâu sắc trong việc nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn hiện nay trong nhà trường .

    I.Tình hình môn Ngữ văn hiện nay trong nhà trưòng THCS

    1. Thuận lợi

    – Môn Ngữ văn là môn học có tính chất đặc thù và có vai trò rất quan trọng trong nhà trường, là bộ môn đóng vai trò quan trọng để hình thành cho HS về kiến thức- kĩ năng, là môn học có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thi tuyển sinh .

    – Chúng ta có đội ngũ vững chắc về chuyên môn cốt cán, dày dạn về kinh nghiệm dạy học, nhiệt tình hăng say và trăn trở với chuyên môn, với nghề ngiệp của mình .

    – Trong các bộ môn khoa học xã hội, môn Ngữ văn là bộ môn được các bậc phụ huynh, HS quan tâm chú ý; là môn đựơc sự quan tâm chú trọng của các cấp quản lí.

    2.Khó khăn

    – Trong những năm qua do đặc thù của bộ môn KHXH nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng là đầu vào và đầu ra của nghề nghiệp rất ít, chủ yếu là các môn tự nhiên nên đây là khó khăn lớn nhất khi thực hiện nâng cao chất lượng.

    – Do đặc thù của bộ môn nên nảy sinh nhiều vấn đề trong quá trình dạy học cũng như học tập ( Như còn nặng về lí thuyết, còn dài dòng về chữ nghĩa khi cần diễn đạt một vấn đề mà với tâm lí của người học nói chung thì đây là vấn đề ái ngại vì họ muốn ngắn gọn, muốn thu nhận liền và hạn chế tính sách vở )

    – Do GV trong quá trình dạy học chưa có khả năng thu hút được sự chú ý học tập của HS, còn thiếu về năng lực chuyên môn.

    – Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở nhiều giáo viên chưa thực sự được đổi mới, còn mang tính hình thức đối phó, chưa thể hiện rõ nét qua từng tiết học. Đặc biệt, một số GV còn có tư tưởng chủ nghĩa trung bình, buông xuôi theo kiểu học được thì học không học được thì thôi, chưa thực sự quan tâm nhiệt tình trong công tác giảng dạy.

    – Trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn còn nảy sinh những vấn đề sau:

    + Việc đổi mới PP dạy học ngữ văn, đặc biêt là chú ý dạy kĩ năng, “cách học” cho học sinh; phương pháp củng cố, khắc sâu kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức, kĩ năng muốn đạt được hiệu quả thì phải thực hiện thường xuyên, liên tục, nó là cả quá trình chứ không phải ngày một ngày hai ( ngắn gọn là vấn đề cả quá trình dài về thời gian, như mưa dầm thấm mới sâu, không nóng vội được )

    + Việc đổi mới PP dạy học phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương, từng đối tượng tham gia ( HS thành phố, thị xã, thị trấn khác HS nông thôn, vùng sâu, vùng xa; HS khá giỏi khác, HS trung bình, yếu kém khác…)

    Xuất phát từ thực tiễn trên, để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt là chất lượng đại trà của bộ môn này, theo tôi cần:

    II. Giải pháp nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn

    1. Trước hết, Gv phải nắm vững kiến thức, thường xuyên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững các khả năng tình huống trong quá trình dạy học có thể nảy sinh. Chú trọng việc nắm vững những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học ( Như chương trình sách giáo khoa, các phương pháp dạy học, các kiến thức kĩ năng lồng ghép, tích hợp, cách kiểm tra-đánh giá theo đổi mới, công nghệ thông tin phối hợp và đặc biệt là dạy học sinh tự hình thành được kĩ năng sống và hình thành cách học cho các em ).

    2. GV cần xác định cho phụ huynh, HS tầm quan trọng và ý nghĩa của bộ môn Ngữ văn. Định hướng cho các em hiểu môn văn không chỉ cung cấp bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng (đặc biệt kĩ năng sống ) mà nó còn là một bộ môn đóng vai trò quan trọng trong các môn KHXH. Hơn nữa, nó là môn ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập cũng như thi tuyển sinh vào THPT .

    3. Trong quá trình dạy học, cần chú trọng đến dạy đúng trọng tâm chuẩn kiến thức kĩ năng, dạy phù hợp đặc trưng bộ môn và đối tượng. Đặc biệt là chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, chú ý hình thành cách học cho học sinh. Muốn vậy, GV cần:

    a. Tìm hiểu năng lực và điều kiện hoàn cảnh, tâm tư tình cảm của học sinh

    – Đây là việc đầu tiên mà mỗi GV trong quá trình dạy học muốn hiệu quả phải làm. Ngay từ đầu năm học Gv phải nắm bắt được khả năng học tập của các em có thể thông qua nhiều kênh thông tin: Như kết quả học tập năm trước, kiểm tra đầu năm, hay thông tin từ GV dạy năm trước hoặc thông qua bạn bè cùng lớp của HS. Đây là một việc làm rất quan trọng, bởi thông qua việc nắm bắt năng lực HS mà GV có thể thực hiện tốt phương pháp dạy học của mình, cũng vì điều này GV có thể dạy học phù hợp với đối tượng .

    – Việc nắm bắt được điều kiện hoàn cảnh tâm lí của HS cũng là bước quan trọng bởi thông qua đó chúng ta hiểu được tâm tư tình cảm, nguyện vọng của các em; cũng từ đó mà gần gũi động viên khuyến khích các em học tập tốt hơn.

    Việc nắm bắt hoàn cảnh của HS cũng bằng nhiều cách khác nhau: như xem sổ điểm, học bạ năm học trước, hay qua thông tin bạn bè HS, phụ huynh hoặc thông qua sự sẻ chia gần gũi trong nói chuyện tâm tình với các em…

    – Sau khi nắm bắt được các thông tin trên GV cần phân loại đối tượng để tổ chức dạy học và hướng dẫn hiệu quả hơn. GV có thể chia theo nhóm HS để HS khá giỏi có thể kèm cặp, giúp đỡ HS yếu kém; đồng thời có thể chia HS theo đơn vị nhóm để các em học tập có hiệu quả ( nhóm đó có thể là theo bàn học hay theo đơn vị xóm,thôn, khối , phường..)

    chúng tôi cần hướng dẫn các em cách thức tiếp cận tài liệu học tập và tài liệu tham khảo như:

    – Định hướng Hs về tài liệu chuẩn, đặc biệt là tài liệu tham khảo ( vì hiện nay tài liệu này tràn lan, có những tài liệu viết ra với cái tên rất hấp dẫn nhưng lời văn chỉ là ngôn ngữ cạn nghĩa, thiếu tính văn chương ) điều này làm ảnh hưởng đến cách nhận thức còn non trẻ của các em .

    – Hướng dẫn HS cách soạn bài học bài qua tài liệu: Có thẩ coi tài liệu (sách vở ) học tập chính là người thầy thứ hai. Việc hướng dẫn HS học tập thông qua tài liệu là một bước quan trọng để hình thành nên cách học ở HS và cũng là cách thức để các em định hình cho mình mà tìm ra cách học, cũng từ đó các em mới có sự say mê học tập, say mê nghiên cứu tìm hiểu một cách tự giác .

    c. Xác định mục tiêu môn học, bài học

    – Xác định mục tiêu là một trong những mấu chốt của quá trình dạy học bởi thông qua việc xác định mục tiêu GV có thể nắm được nội dung kiến thức, kĩ năng, các kiến thức lồng ghép tích hợp từ đó mà định hướng ra phương pháp tốt nhất để thực hiện có hiệu quả. Việc xác định mục tiêu cũng cho phép người GV nắm được các khả năng, tình huống sư phạm có thể nảy sinh trong giờ học, tiết học .

    d. Thiết kế bài học

    – Đây là khâu quan trọng của quá trình dạy học bởi thiết kế có công phu, có đầu tư thì giờ dạy mới hiệu quả. Hiện nay, có một số GV khâu thiết kế còn không được quan tâm đến nơi đến chốn nên chất lượng thấp, còn nặng về đối phó như lấy từ mạng về mà không chỉnh sửa. Ở đây Gv cũng cần vận dụng tốt công nghệ thông tin, giáo án qua mạng nếu biết vận dụng cũng rất hiệu quả vì tham khảo nhiều chúng ta có thể thấy nhiều câu hỏi hay và phù hợp .

    – Trong thiết kế cần chú trọng phương pháp được sử dụng trong giờ học, các kĩ năng, kiến thức lồng ghép, tích hợp, các phương tiện thiết bị hỗ trợ , ..

    – Đặc biệt trong quá trình thiết kế cần tính toán mọi phương án, tình huống có thể xẩy ra; khi thiết kế cần bám sát đặc trưng của thể loại, của môn học, tiết học; câu hỏi cần chú trọng tính hệ thống và hướng tới lấy vai trò người học làm trung tâm để từ đó mà hình thành được các kĩ năng cần thiết .

    – Trong thiết kế cần chú trọng câu hỏi mang tính phân loại: Với HS yếu kém thì dạng câu hỏi dễ hơn, cần có câu hỏi gợi mở phù hợp vừa sức các em, với đối tượng khá giỏi thì cần có những câu hỏi mang tình tư duy, động não sáng tạo ; việc đặt câu hỏi cũng cần tính toán tránh bỏ sót đối tượng .

    – Hệ thống câu hỏi trong môn Ngữ văn cũng cần chú trọng hình thành được cách học. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm giúp các em hình thành được kĩ năng học về một kiểu bài, dạng bài hay theo đặc trưng thể loại

    Chẳng hạn như: trong dạy học văn bản trước đây khi thiết kế phần đọc – hiểu chung văn bản chúng ta thường đi thẳng vào vấn đề như tác giả, tác phẩm ..nhưng để hình thành cách học thì nay chúng ta lại thiết kế bằng câu hỏi như : Để đọc hiểu văn bản này chúng ta phải tìm hiểu vấn đề nào đầu tiên ?

    Hay phần kết thúc văn bản phải có câu hỏi khái quát để HS có cách học theo đặc trưng thể loại …

    e. Ở hoạt động dạy- học trên lớp: Đối với môn Ngữ văn Gv phải là người có nghệ thuật sư phạm tốt, vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, không cứng nhắc, tạo hứng thú, chú trọng sức tác động vào chiều sâu tâm hồn người học.

    Muốn làm được điều này phải vận dụng linh hoạt các phương pháp mới vào dạy học như tạo một giờ học mở, dạy học theo nhóm, dạy học theo mô hình, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, thuyết trình hoặc đóng vai…

    Trong quá trình thực hiện cần chú trọng, trân trọng khả năng tư duy độc lập sáng tạo của HS, chú trọng vai trò trung tâm ngườì học; GV phải là người hướng dẫn, định hướng HS tự tìm kiếm, tri giác, lĩnh hội kiến thức.

    Nắm bắt và vận dụng linh hoạt không khiên cưỡng hoặc máy móc các phương pháp dạy học, các kĩ thuật dạy học, các phương tiện thiết bị hỗ trợ để thực hiện .

    Tạo không khí nhẹ nhàng cho giờ học, cần tránh không khí nặng nề của bản thân và gia đình để hòa vào tiết học; trong dạy học cần chú trọng những lời nhận xét đầy trân trọng của GV với HS nghĩa là khuyến khích được sự sáng tạo và động viên được các em.

    Chú ý có xoáy lướt các nội dung bài học để HS nắm đựơc những vấn đề quan trọng

    Khi lên lớp GV cũng cần chú trọng đề cập đến tất cả các đối tượng, không bỏ rơi các em. Với em yếu kém cần có câu hỏi dễ và khi các em trả lời được thì chú ý động viên khích lệ, với HS khá giỏi cần chú ý câu hỏi tư duy sáng tạo. Khi HS tham gia trả lời cần chú ý lắng nghe và điều chỉnh những sai sót kịp thời, điều chỉnh từ các khả năng: nghe, đọc, nói cho đến viết.

    g.Khâu kiểm tra đánh giá: Thực hiện theo phương án mở ( như đề mở đáp án mở ), ngoài ra cần chú trọng tính đa chiều GV-HS,HS-GV, HS-HS để từ đó có mối liên hệ đánh giá qua lại sâu sắc hơn. Kiểm tra đánh giá phải công bằng và bằng nhiều hình thức ( bài cũ, bài tập các dạng ), kiểm tra đánh giá cũng cần tuân thủ theo ma trận đề đã được xác lập ở các cấp độ tư duy khác nhau ( như nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp hay cao, phân tích, sáng tạo ) tùy vào đối tượng để có đánh giá phù hợp và đảm bảo tính toàn diện và công bằng .

    GV cần chú trọng việc trả bài cho các em, bởi qua công tác trả bài chu đáo sẽ giúp các em điều chỉnh thiếu sót trong bài làm của mình. GV cần có những lời phê mang tính động viên khuyến khích, tránh những lời phê làm các em mất đi hứng thú học tập hoặc làm thui chột sự sáng tạo của các em. Chú trọng những lời nhận xét mang tính văn chương, trân trọng .

    Trong khi trả bài cũng cần chú trọng việc hướng dẫn, định hướng cách trả lời, cách thức trình bày.

    Qua mỗi lần kiểm tra đánh giá cần xem xét sự tiến bộ của các em, trân trọng sự tiến bộ đó dù là rất nhỏ. Đặc biệt, chú trọng việc động viên khích lệ qua mỗi lần các em được kiểm tra đánh giá.

    h. Đánh giá rút kinh nghiệm: Để có được tiết học tốt, dạy học hiệu quả thì GV cần rút ra những bài học những kinh nghiệm sau những giờ lên lớp( có thể từ bản thân, từ đồng nghiệp, hay từ Hs).

    Bài học kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy học, sau mỗi giờ học là một trong những bài học mà chúng ta thu nhận được để từ đó đúc rút thành bài học cho cả quá trình dạy học lâu dài. Rút kinh nghiệm cho bản thân thì mới tích lũy được kinh nghiệm và mới vững chắc và lớn hơn trong chuyên môn .

    4. Công tác bồi dưỡng và phụ đạo học sinh yếu kém

    Để hỗ trợ tốt và hiệu quả cho công tác bồi dưỡng HS khá giỏi và phụ đạo học sinh yếu kém chính là thực hiện tốt các khâu đã nói trên đồng thời yêu cầu người GV phải có sự nhiệt tình, chịu khó. GV phải thường xuyên trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, phải tận tâm với nghề, có hiểu biết sâu rộng .

    Trong hoạt động này GV cũng cần chú ý các khâu từ phát hiện đến cách thức bồi dưỡng hay phụ đạo. Cần chú trọng hình thành cách học cho các em bằng nhiều cách như hướng dẫn các em nắm kiến thức cơ bản, kiến thức lồng ghép, tích hợp từ đó mà nâng cao dần lên. Chú trọng tính tự giác học tập bằng việc thực hành các bài tập từ thấp lên cao. Ở môn Ngữ văn cũng cần giúp các em tiếp cận với những cái mới cái hay ở thông tin đại chúng hay ngoài xã hội. Chú trọng hình thành các kĩ năng nghe đọc, nói, viết hiệu quả. Chú ý điều chỉnh những sai sót của các em trong tất cả các giờ lên lớp hay kiểm tra đánh giá .

    Cần phối kết hợp tốt gia đình – nhà trường -xã hội để động viên khuyến khích các em học tập tốt. Có những hình thức khen thưởng kịp thời để khích lệ các em tiến bộ.

    Trong dạy học, đối với HS khá giỏi thì cần có những câu hỏi những kiến thức mang tình tư duy cao, đánh giá cũng cần chú ý tính sáng tạo của các em miễn là phù hợp; đối với học sinh yếu kém chúng ta phải từ từ không nên nóng vội mà cung cấp kiến thức đến với các em một cách dồn dập, phải tinh giản làm sao cho dễ nhớ, dễ thuộc nhất thì khi đó mới có kết quả thành công

    Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy trong ban lãnh đạo phòng GD cùng các thầy cô giáo mạnh khỏe và hạnh phúc

    Xin chân thành cảm ơn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100