Top #10 ❤️ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán Violet Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán

“một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.

Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia

Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội

Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội

Đại Đội Kho Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Chiến Sĩ

Theo thầy Tùng, trước khi lên lớp HS đọc bài mới sẽ được thầy cô giảng để biết một số khái niệm, định nghĩa, biết được phần nào những kiến thức khó hiểu để chú ý hoặc chủ động đề nghị thầy cô giảng chậm, kỹ hơn. Đọc lại và thực hiện ngay các bài tập đơn giản. Khi học một kiến thức mới, HS cần có ký hiệu bằng mực khác màu hoặc kẽ đóng khung để dễ nhớ những phần quan trọng.

HS cần chuẩn bị những đồ dùng cần thiết trước khi đến lớp; trong quá trình học cần ghi chép đúng lúc. Thời gian ở nhà các em xem lại kiến thức trọng tâm vừa học; làm ngay các bài tập thầy cô đã dặn; hệthống lại các bài tập; làm các bài tập mang tính tổng hợp kiến thức của toàn chương. Các em cần chú ý chủ động trong việc giữ gìn sức khỏe, chủ động làm nhiều dạng toán, ghi chép những điều quan trọng vào sổ tay…

Toán là môn học cần có tính tư duy cao, tính kiên trì, nhẫn nại nên một số em rất sợ môn học này. Nếu không có phương pháp học tốt, các em dễ mất căn bản và sẽ vuột mất cơ hội vào lớp 10 công lập.

Trong các kỳ tuyển sinh vào lớp 10, trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai (TP.TDM) có chất lượng đầu vào ở môn toán cao so với các trường khác. Cô Trần Thị Kim Anh đưa ra nhận xét, tình trạng HS học yếu môn toán ở cấp THCS đang là thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

Có nhiều nguyên nhân làm cho các em học yếu môn toán, nhưng nguyên nhân chính là HS chưa có phương pháp học đúng đắn, có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng, không xác định được động cơ học tập, dẫn đến chất lượng học tập còn yếu.

Để khắc phục phần nào tình trạng này, trường đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp thực hiện để cải thiện tình trạng HS yếu kém, trường vừa tổ chức dạy ôn tập, vừa dạy phụ đạo cho HS lớp 9. Với cô Kim Anh, cần tạo sự gần gũi với HS ngay từ đầu năm học.

Trong quá trình giảng dạy cô có thái độ nhẹ nhàng, khéo léo, xử lý tốt các tình huống sư phạm, để những HS yếu không mặc cảm với bạn bè. Cô cũng công tâm với tất cả HS; giúp đỡ HS rèn luyện kỹ năng, thái độ và phương pháp học tập phù hợp. Cô còn xây dựng cho HS cách học tự giác, giúp các em thấy lợi ích của việc đi học phụ đạo.

Các thầy cô trong tổ nghiệp vụ toán THCS của Sở Giáo dục – Đào tạo cũng đã phân tích những lỗi HS thường mắc phải trong bài thi tuyển sinh lớp 10. Những lỗi cơ bản HS thường mắc là ghi đề sai; đọc đề không kỹ, dẫn đến nhầm số, đảo số, thiếu dấu; đặt dấu sai trong biểu thức khi tính; khi viết phân số không có dấu gạch ngang; phần làm sai khi làm lại HS không gạch bỏ; một bài toán làm 2 cách trong bài thi…

Thầy Đặng Minh Khâm, Tổ trưởng tổ nghiệp vụ toán THCS thì lưu ý, trong giảng dạy giáo viên cần chuẩn mực, chính xác khi dùng ký hiệu toán học.

Nghiêm khắc, không bỏ qua các lỗi sai của HS trong quá trình chấm bài trả tại lớp; phải sửa sai rút kinh nghiệm cho HS qua bài làm của các em, tránh bỏ qua hoặc làm sơ sài khi trả bài kiểm tra; thường xuyên đóng góp cho đồng nghiệp khi dự giờthao giảng về khâu trình bày bài giải hoặc sử dụng ký hiệu không đúng.

H.THÁI

Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10

Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân

Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân

Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên

Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang

Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10

Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán

“một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.

Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia

Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội

Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội

Nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh lớp 10 năm học 2014-2015, từ cuối học kỳ 1 năm học 2013-2014, ban giám hiệu (BGH) các trường THCS trên địa bàn thành phố tích cực đẩy mạnh các giải pháp bồi dưỡng học sinh yếu kém; tư vấn, định hướng cho học sinh lớp 9 chọn trường phù hợp với năng lực, sở thích.

Các trường THCS trên địa bàn thành phố đang nỗ lực ôn tập, tư vấn, định hướng cho học sinh để nâng cao chất lượng tuyển sinh lớp 10 năm học 2014-2015.

Với những nỗ lực trên, lãnh đạo các trường kỳ vọng kỳ thi năm nay sẽ đạt nhiều kết quả khả quan.

Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh

Năm học 2013-2014, Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu (quận Thanh Khê) có 241 học sinh lớp 9. Để nâng cao chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2014-2015, bên cạnh việc thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học chính khóa, ngay từ cuối học kỳ 1, BGH nhà trường đã triển khai kế hoạch dạy phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi để dự thi vào các trường: THPT chuyên Lê Quý Đôn, THPT Phan Châu Trinh…

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu cho biết, để chuẩn bị kỳ thi quan trọng này, một mặt nhà trường niêm yết kế hoạch tuyển sinh, tỷ lệ chọi ở các trường THPT những năm trước để học sinh tham khảo; mặt khác tổ chức họp phụ huynh để thông báo về khả năng học tập của từng em, qua đó tư vấn việc định hướng chọn trường phù hợp với năng lực, sở thích. Ngoài ra, BGH giao giáo viên chủ nhiệm lớp theo sát nắm bắt tâm tư, sở thích… để tư vấn cho học sinh.

Nhờ làm tốt công tác bồi dưỡng, tư vấn, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, những năm qua, tỷ lệ học sinh Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu trúng tuyển vào lớp 10 khá cao. Trong đó, có năm trường có 9 học sinh trúng tuyển vào lớp 10 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

Cũng nhờ làm tốt công tác tư vấn, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2013-2014, Trường THCS Nguyễn Văn Cừ (quận Sơn Trà) có tỷ lệ học sinh trúng tuyển cao nhất quận, với 156 học sinh trúng tuyển trên tổng số 159 học sinh dự thi. Trong đó có 5 em trúng tuyển vào Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

Ông Võ Xuân Tấn, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Văn Cừ cho hay, từ đầu học kỳ 2 năm học 2013-2014, nhà trường họp bàn với phụ huynh để có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác tư vấn, định hướng học sinh chọn trường, tránh tình trạng chọn nhầm trường do ảo tưởng về năng lực. Cùng với đó, nhà trường tổ chức cho học sinh khối lớp 9 tích cực ôn tập, bồi dưỡng luyện thi, định hướng cho các em, giúp học sinh ổn định về mặt tâm lý, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng bước vào kỳ thi.

Tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém

Thời gian qua, Sở GD-ĐT chỉ đạo các Phòng GD-ĐT quận, huyện, BGH các trường tích cực đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học; chú trọng phân loại, bồi dưỡng học sinh yếu kém; đẩy mạnh công tác tư vấn, phân luồng học sinh sau THCS nhằm giảm áp lực tuyển sinh vào lớp 10.

Ông Nguyễn Tiến Khải, Hiệu trưởng Trường THCS Trưng Vương (quận Hải Châu), cho hay ngay từ đầu năm học, nhà trường tiến hành khảo sát đầu năm, phân loại trình độ học sinh. Qua đó, những học sinh có học lực yếu, nhà trường tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo giúp các em kịp thời bổ khuyết kiến thức. Riêng với học sinh khối lớp 9, nhà trường tập trung bồi dưỡng, tư vấn, định hướng cho các em chọn trường theo năng lực, trình độ. Nhờ vậy, những năm qua, chất lượng học sinh trúng tuyển vào lớp 10 các trường THPT công lập khá cao, luôn dẫn đầu toàn quận Hải Châu.

Còn theo ông Vĩ Sách, Trưởng phòng GD-ĐT quận Thanh Khê, ngay từ đầu năm học 2013-2014, Phòng đã chỉ đạo BGH các trường tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời, nhà trường phân loại học sinh, có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng học sinh yếu kém ngay tại trường để tạo chất lượng giáo dục đồng đều. Với các kỳ thi tuyển sinh đầu cấp, nhất là kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, ngay cuối học kỳ 1 năm học 2013-2014, BGH các trường thực hiện công tác tư vấn, phối hợp thường xuyên với phụ huynh, định hướng học sinh lựa chọn trường dự thi theo năng lực. “Đối với những học sinh không đủ năng lực tiếp tục vào học lớp 10 THPT, nhà trường có trách nhiệm tư vấn các em học tại các trường TCCN, dạy nghề, bổ túc THPT”, ông Sách cho biết thêm.

Theo ông Lê Trung Chinh, Giám đốc Sở GD-ĐT, để kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2014-2015 đạt kết quả cao, Sở chỉ đạo các Phòng GD-ĐT quận, huyện, các trường THCS trên địa bàn đẩy mạnh việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS; bố trí thời gian phù hợp ôn tập các môn thi trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 đối với học sinh. BGH các trường phải chủ động nâng cao hiệu quả các hoạt động tư vấn tuyển sinh đối với phụ huynh và học sinh, giúp học sinh chọn trường phù hợp với năng lực.

Bài và ảnh: PHƯƠNG CHI

Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân

Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân

Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên

Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang

Minh Long: Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi, Tổ Hội Gắn Với Đẩy Mạnh Các Phong Trào Thi Đua Trong Nông Dân

Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6

Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN

CHO HỌC SINH LỚP 2

I. PHẦN MỞ ĐẦU

I.1. Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng

bước hội nhập với thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với việc

đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Quá trình đổi mới phương

pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày

càng được chú trọng và quan tâm. Trong sự phát triển chung của nền giáo dục,

bộ môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng. Từ đó, mỗi

giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn

nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước nhà.

Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu

trong nhà trường. Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và

phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn

đạt ý đúng bằng lời. Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối

cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau

này. Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi

giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh

tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng

ngày. Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em

nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các

em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những

người có ích cho xã hội. Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò

quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học.

Năm học 2014 – 2022 tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian

làm quen và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy

Lưu Thị Hạnh

1

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

đa số các em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác

hết khả năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh

nhẹn trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Một số giáo

viên khi giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học,

hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh

hội kiến thức. Mặt khác trường Tiểu học Võ Thị Sáu là một trong những

trường có tỷ lệ học sinh đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên

toàn huyện, việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm. Từ đó, bản thân luôn

suy nghĩ để tìm ra được một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích

cực, chủ động trong học tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện

pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.

Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp để nâng cao

chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.”

I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho

học sinh lớp 2 năm học 2014 – 2022.

I.3. Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm

nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.

I.4. Phạm vi nghiên cứu

Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho

học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk,

năm học 2014 – 2022.

I.5. Phương pháp nghiên cứu

Lưu Thị Hạnh

2

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan.

– Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp.

– Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập.

– Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại.

– Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá.

II. PHẦN NỘI DUNG

II.1. Cơ sở lý luận

Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 11 tuổi, nhìn

chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài. Khả năng phân

tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể. Về sau

các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận

thức khác nên nó chính xác dần. Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí

nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic,

những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát.

Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác

động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn. Dần dần tư duy và khả năng

suy luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do

sự hướng dẫn của giáo viên. Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy

mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp

để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo

của mình.

Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải

qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học. Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất

hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với

nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát. Giáo viên

Lưu Thị Hạnh

3

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

4

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

5

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

6

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

7

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Lưu Thị Hạnh

8

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

9

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

viên gọi học sinh lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo

viên chuẩn bị cho tiết học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian

đúng.

Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu

bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong

ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và

sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả.

Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp

Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh

làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng

hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy

luận để hiểu được nội dung của bài học.

Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã

phát cho học sinh 48 quyển vở. Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau :

– Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã

phát cho học sinh 48 quyển vở.

– Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

Lưu Thị Hạnh

10

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ?

Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài

toán (lấy 63 – 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán.

Hình thức hỏi – đáp giữa giáo viên – học sinh giúp giáo viên nhận biết được

việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ

kịp thời để các em cùng tiến bộ.

Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập

Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán là

một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và

trong đời sống. Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng

hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và

đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết. Phương pháp luyện tập được

sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả

trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm

của bộ môn Toán. Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải

các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận

dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết.

Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79).

Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11

trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng

1,2. Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày

còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao

hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?”

Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12

mà giáo viên đã chuẩn bị.

Lưu Thị Hạnh

11

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

12

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

phép cộng – phép trừ, rồi vận dụng vào giải được bài toán có lời văn và nắm

được cách tính độ dài đường gấp khúc.

– Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài

tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể

ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em :

+ Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10

+ Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái. Hỏi mẹ còn lại

bao nhiêu cái kẹo ?

Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của

học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học. Kiểm tra, đánh giá phải được

thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì. Từ đó, giúp giáo viên

và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp.

Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm

bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em. Sau mỗi tiết dạy giáo viên

thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên

bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học.

Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình

tiếp thu bài của các em. Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học và

khắc phục những thiếu sót của bản thân. Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức

dạy học phù hợp hơn.

Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một

số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh.

Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt

tuyến kiến thức Toán học lớp 2 :

Lưu Thị Hạnh

13

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

* Tuyến kiến thức về số học :

Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là

cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5.

Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy

học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng

khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp.

Học thuộc bảng cộng – trừ, bảng nhân – chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp

học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng

vào đời sống thực tiễn có hiệu quả.

Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2

giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính

nhẩm để tìm nhanh kết quả.

Phép cộng :

Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25

Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5

Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ

trả lời được kết quả 9 + 5 = 14.

Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

Viết phép tính theo hàng dọc

+

Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 5 = 4 + 1),

sau đó lấy 9 + 1 = 10 viết 1 sang hàng chục, 0 + 4 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Với

Lưu Thị Hạnh

14

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số

và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau :

9+2=

9+3=

9+4=

……

9+9=

Thông qua việc học thuộc bảng cộng học sinh khắc sâu được kiến thức, tránh

lạm dụng đồ dùng trực quan và vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài tập.

Giáo viên cần khuyến kích tìm kết quả bằng nhiều cách, nhận xét đưa ra cách giải

nhanh nhất.

Bài tập 1 (SGK/15)

9+3=

9+6=

9+8=

9+7=

9+4=

3+9=

6+9=

8+9=

7+9=

4+9=

Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau

khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 …). Dựa vào cách

tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền

ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không

thay đổi).

Bài tập 3 (SGK/ 15)

9+6+3=

9+9+1=

9+4+2=

9+5+3=

Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và

chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18

Lưu Thị Hạnh

15

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng

cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng

29

+

5

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

* 2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

34

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

25

* 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

74

Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó

các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong

phạm vi 100 nhanh nhất.

Phép trừ :

Các bài dạng 12 – 8 ; 32 – 8 ; 52 – 28

Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 – 8

Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ

trả lời được kết quả 12 – 8 = 4.

Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

Viết phép tính theo cột dọc

12

Lưu Thị Hạnh

16

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6),

sau đó lấy 12 – 2 – 6 = 10 – 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị.

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau :

12 – 8 = (12 + 2) – (8 + 2)

=

14

– 10 =

4

Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy

nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn

vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị. Với cách tính như vậy

các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn.

Bài tập 1 (SGK/52)

9+3=

8+4=

7+5=

6+6=

3+9=

4+8=

5+7=

12 – 6 =

12 – 9 =

12 – 8 =

12 – 7 =

12 – 3 =

12 – 4 =

12 – 5 =

Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết

quả vào phép tính. Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b.

Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập

tiếp theo.

Đối với bài 32 – 8 ; 52 – 28, giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng trừ

12 trừ đi một số để làm tính trừ

Thực hiện 32 – 8 cách 1 :

32

* 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

Lưu Thị Hạnh

* 3 trừ 1 bằng 2, viết 2.

17

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

Thực hiện 32 – 8 cách 2 nhẩm như sau :

32 – 8 = (32 + 2 ) – (8 + 2)

=

34

10

= 24

* 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

* 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.

Thực hiện 52 – 28 cách 2 nhẩm như sau :

52 – 28 = (52 + 2 ) – (28 + 2)

=

54

30

= 24

Với các bảng trừ khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó

các em nắm được bảng trừ và vận dụng vào thực hiện tính trừ có nhớ trong

phạm vi 100 nhanh nhất.

Phép nhân – chia:

Trong chương trình môn Toán lớp 2, phép nhân và chia được học từ 2 đến

5. Đây là cơ sở ban đầu để các em tiếp cận với mạch kiến thức nhân – chia

thông dụng trong tuyến kiến thức Toán học. Tôi chủ động cho các em nắm

được quy luật của từng bài học rồi hướng dẫn các em cách học thuộc và nhớ

lâu kiến thức của các bảng nhân – chia.

Ví dụ : Bài bảng nhân 2

Trước tiên, giáo viên cho học sinh nắm 2 x 1 = 2 (2 được lấy 1 lần), tiếp

đến là các phép nhân 2 x 2 = 4 ; 2 x 3 = 6. Từ kết quả của các phép nhân trên

Lưu Thị Hạnh

18

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

giáo viên cho học sinh so sánh và nhận biết được tích của phép nhân liền kề

hơn – kém nhau 2 đơn vị, rồi từ đó lập bảng nhân 2 thông qua cách trả lời câu

hỏi 2 x 4 = 8 ; 2 x 5 = 10 ; …. 2 x 10 = 20.

Sau đó, giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dụng :

Bài 1,3 (SGK/95)

Học sinh sẽ dễ dàng tính nhẩm nhanh kết quả sau khi các em đã học thuộc

bảng nhân 2. Từ bảng nhân 2 học sinh sẽ điền đúng kết quả khi đếm thêm 2

đơn vị.

Các bảng nhân khác, giáo viên cũng tiến hành hướng dẫn các em tương tự.

Ví dụ : Bài bảng chia 2

Sau khi học sinh đã thuộc bảng nhân 2, giáo viên hướng dẫn các em lập

bảng chia dựa vào bảng nhân. Khi các em đã nắm được phép nhân 2 x 6 = 12

thì các em sẽ trả lời được 12 : 2 = 6.

Khi các em đã thuộc bảng chia 2 sẽ vận dụng vào làm được bài tập liên

quan.

* Tuyến kiến thức về giải toán có lời văn :

Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập

thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong

đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như

sau :

– Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần.

– Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ?

Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

Lưu Thị Hạnh

19

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

– Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải

một bài toán.

+ Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán

+ Bước 2 : Viết phép tính của bài toán

+ Bước 3 : Ghi đáp số bài toán

– Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán.

Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp

ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ?

– Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi

mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán.

+ Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học

sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

+ Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai ?

– Tiếp đến giáo viên tóm tắt bài toán bằng hình vẽ như sau :

15 học sinh

Học sinh gái

3 học sinh

Học sinh trai

? học sinh

– Sau khi các em đã nắm được nội dung của bài toán, thông qua tóm tắt tôi

hỏi học sinh 1 số câu hỏi gợi mở :

+ Bài toán này thuộc dạng toán nào đã học ?

+ Bài toán thuộc dạng toán ít hơn.

Lưu Thị Hạnh

20

Trường Tiểu học Hà Huy Tập

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen

Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc

Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5

8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học

I. MỞ ĐẦU:

1. Lý do chọn đề tài:

Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

1

2. Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

trong nhà trường.

3. Đối tượng nghiên cứu:

Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

học Đông Vệ 1.

4. Phương pháp nghiên cứu:

– Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

– Phương pháp điều tra thống kê.

– Phương pháp so sánh, đối chiếu.

– Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

2

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1. Cơ sở lý luận :

Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

Nhiệm vụ của người giáo viên

Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

không nhớ trong phạm vi 100.

Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

tam giác, hình tròn.

Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

+ Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

+ Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

3

– Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

thức.

– Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

– Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

điều tra cụ thể như sau:

42

Hoàn cảnh học sinh

Con gia đình cán bộ

Con gia đình lao động tự do

Con gia đình công nhân

SL

%

Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

* Thuận lợi:

Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

xử lí tình huống trong nhóm.

Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

5

3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

– Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

– Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

– Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

– Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

tuần học…

– Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

tuyên dương …

– Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

thói quen cho học sinh.

Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

que tính. 9 + 1 = 10.

Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

học sinh mới hiểu được.

7

Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

phạm vi 9.

Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

Sau khi xây dựng xong công thức

8+1=9

3+6=9

1+8=9

6+3=9

Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

* Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

+ Phương pháp trực quan

+ Phương pháp hỏi đáp

+ Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

+ Phương pháp luyện tập thực hành

+ Phương pháp kỉ luật tích cực.

+ Phương pháp trò chơi

Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

không nhớ trong phạm vi 100.

Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

4. Nói ít, tránh nói nhiều.

5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

8

3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

quan.

Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

– Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

động nhóm …

Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

9

1C

42

THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

KẾT QUẢ

Cuối kỳ I

10

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2022

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

viết, không sao chép nội dung của người khác.

Người thực hiện

Hồ Thị Mai

11

MỤC LỤC

NỘI DUNG

I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1. Cơ sở lý luận

2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

dạy học.

3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

dùng trực quan.

3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

hơn.

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

2. Kiến nghị

12

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2

🌟 Home
🌟 Top