Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán

--- Bài mới hơn ---

  • “một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.
  • Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia
  • Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội
  • Đại Đội Kho Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Chiến Sĩ
  • Theo thầy Tùng, trước khi lên lớp HS đọc bài mới sẽ được thầy cô giảng để biết một số khái niệm, định nghĩa, biết được phần nào những kiến thức khó hiểu để chú ý hoặc chủ động đề nghị thầy cô giảng chậm, kỹ hơn. Đọc lại và thực hiện ngay các bài tập đơn giản. Khi học một kiến thức mới, HS cần có ký hiệu bằng mực khác màu hoặc kẽ đóng khung để dễ nhớ những phần quan trọng.

    HS cần chuẩn bị những đồ dùng cần thiết trước khi đến lớp; trong quá trình học cần ghi chép đúng lúc. Thời gian ở nhà các em xem lại kiến thức trọng tâm vừa học; làm ngay các bài tập thầy cô đã dặn; hệthống lại các bài tập; làm các bài tập mang tính tổng hợp kiến thức của toàn chương. Các em cần chú ý chủ động trong việc giữ gìn sức khỏe, chủ động làm nhiều dạng toán, ghi chép những điều quan trọng vào sổ tay…

    Toán là môn học cần có tính tư duy cao, tính kiên trì, nhẫn nại nên một số em rất sợ môn học này. Nếu không có phương pháp học tốt, các em dễ mất căn bản và sẽ vuột mất cơ hội vào lớp 10 công lập.

    Trong các kỳ tuyển sinh vào lớp 10, trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai (TP.TDM) có chất lượng đầu vào ở môn toán cao so với các trường khác. Cô Trần Thị Kim Anh đưa ra nhận xét, tình trạng HS học yếu môn toán ở cấp THCS đang là thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    Có nhiều nguyên nhân làm cho các em học yếu môn toán, nhưng nguyên nhân chính là HS chưa có phương pháp học đúng đắn, có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng, không xác định được động cơ học tập, dẫn đến chất lượng học tập còn yếu.

    Để khắc phục phần nào tình trạng này, trường đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp thực hiện để cải thiện tình trạng HS yếu kém, trường vừa tổ chức dạy ôn tập, vừa dạy phụ đạo cho HS lớp 9. Với cô Kim Anh, cần tạo sự gần gũi với HS ngay từ đầu năm học.

    Trong quá trình giảng dạy cô có thái độ nhẹ nhàng, khéo léo, xử lý tốt các tình huống sư phạm, để những HS yếu không mặc cảm với bạn bè. Cô cũng công tâm với tất cả HS; giúp đỡ HS rèn luyện kỹ năng, thái độ và phương pháp học tập phù hợp. Cô còn xây dựng cho HS cách học tự giác, giúp các em thấy lợi ích của việc đi học phụ đạo.

    Các thầy cô trong tổ nghiệp vụ toán THCS của Sở Giáo dục – Đào tạo cũng đã phân tích những lỗi HS thường mắc phải trong bài thi tuyển sinh lớp 10. Những lỗi cơ bản HS thường mắc là ghi đề sai; đọc đề không kỹ, dẫn đến nhầm số, đảo số, thiếu dấu; đặt dấu sai trong biểu thức khi tính; khi viết phân số không có dấu gạch ngang; phần làm sai khi làm lại HS không gạch bỏ; một bài toán làm 2 cách trong bài thi…

    Thầy Đặng Minh Khâm, Tổ trưởng tổ nghiệp vụ toán THCS thì lưu ý, trong giảng dạy giáo viên cần chuẩn mực, chính xác khi dùng ký hiệu toán học.

    Nghiêm khắc, không bỏ qua các lỗi sai của HS trong quá trình chấm bài trả tại lớp; phải sửa sai rút kinh nghiệm cho HS qua bài làm của các em, tránh bỏ qua hoặc làm sơ sài khi trả bài kiểm tra; thường xuyên đóng góp cho đồng nghiệp khi dự giờthao giảng về khâu trình bày bài giải hoặc sử dụng ký hiệu không đúng.

    H.THÁI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10
  • Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân
  • Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên
  • Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang
  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán
  • “một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.
  • Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia
  • Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội
  • Nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh lớp 10 năm học 2014-2015, từ cuối học kỳ 1 năm học 2013-2014, ban giám hiệu (BGH) các trường THCS trên địa bàn thành phố tích cực đẩy mạnh các giải pháp bồi dưỡng học sinh yếu kém; tư vấn, định hướng cho học sinh lớp 9 chọn trường phù hợp với năng lực, sở thích.

    Các trường THCS trên địa bàn thành phố đang nỗ lực ôn tập, tư vấn, định hướng cho học sinh để nâng cao chất lượng tuyển sinh lớp 10 năm học 2014-2015.

    Với những nỗ lực trên, lãnh đạo các trường kỳ vọng kỳ thi năm nay sẽ đạt nhiều kết quả khả quan.

    Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh

    Năm học 2013-2014, Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu (quận Thanh Khê) có 241 học sinh lớp 9. Để nâng cao chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2014-2015, bên cạnh việc thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học chính khóa, ngay từ cuối học kỳ 1, BGH nhà trường đã triển khai kế hoạch dạy phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi để dự thi vào các trường: THPT chuyên Lê Quý Đôn, THPT Phan Châu Trinh…

    Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu cho biết, để chuẩn bị kỳ thi quan trọng này, một mặt nhà trường niêm yết kế hoạch tuyển sinh, tỷ lệ chọi ở các trường THPT những năm trước để học sinh tham khảo; mặt khác tổ chức họp phụ huynh để thông báo về khả năng học tập của từng em, qua đó tư vấn việc định hướng chọn trường phù hợp với năng lực, sở thích. Ngoài ra, BGH giao giáo viên chủ nhiệm lớp theo sát nắm bắt tâm tư, sở thích… để tư vấn cho học sinh.

    Nhờ làm tốt công tác bồi dưỡng, tư vấn, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, những năm qua, tỷ lệ học sinh Trường THCS Nguyễn Đình Chiểu trúng tuyển vào lớp 10 khá cao. Trong đó, có năm trường có 9 học sinh trúng tuyển vào lớp 10 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

    Cũng nhờ làm tốt công tác tư vấn, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2013-2014, Trường THCS Nguyễn Văn Cừ (quận Sơn Trà) có tỷ lệ học sinh trúng tuyển cao nhất quận, với 156 học sinh trúng tuyển trên tổng số 159 học sinh dự thi. Trong đó có 5 em trúng tuyển vào Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn.

    Ông Võ Xuân Tấn, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Văn Cừ cho hay, từ đầu học kỳ 2 năm học 2013-2014, nhà trường họp bàn với phụ huynh để có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác tư vấn, định hướng học sinh chọn trường, tránh tình trạng chọn nhầm trường do ảo tưởng về năng lực. Cùng với đó, nhà trường tổ chức cho học sinh khối lớp 9 tích cực ôn tập, bồi dưỡng luyện thi, định hướng cho các em, giúp học sinh ổn định về mặt tâm lý, chuẩn bị tâm thế sẵn sàng bước vào kỳ thi.

    Tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém

    Thời gian qua, Sở GD-ĐT chỉ đạo các Phòng GD-ĐT quận, huyện, BGH các trường tích cực đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học; chú trọng phân loại, bồi dưỡng học sinh yếu kém; đẩy mạnh công tác tư vấn, phân luồng học sinh sau THCS nhằm giảm áp lực tuyển sinh vào lớp 10.

    Ông Nguyễn Tiến Khải, Hiệu trưởng Trường THCS Trưng Vương (quận Hải Châu), cho hay ngay từ đầu năm học, nhà trường tiến hành khảo sát đầu năm, phân loại trình độ học sinh. Qua đó, những học sinh có học lực yếu, nhà trường tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo giúp các em kịp thời bổ khuyết kiến thức. Riêng với học sinh khối lớp 9, nhà trường tập trung bồi dưỡng, tư vấn, định hướng cho các em chọn trường theo năng lực, trình độ. Nhờ vậy, những năm qua, chất lượng học sinh trúng tuyển vào lớp 10 các trường THPT công lập khá cao, luôn dẫn đầu toàn quận Hải Châu.

    Còn theo ông Vĩ Sách, Trưởng phòng GD-ĐT quận Thanh Khê, ngay từ đầu năm học 2013-2014, Phòng đã chỉ đạo BGH các trường tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời, nhà trường phân loại học sinh, có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng học sinh yếu kém ngay tại trường để tạo chất lượng giáo dục đồng đều. Với các kỳ thi tuyển sinh đầu cấp, nhất là kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, ngay cuối học kỳ 1 năm học 2013-2014, BGH các trường thực hiện công tác tư vấn, phối hợp thường xuyên với phụ huynh, định hướng học sinh lựa chọn trường dự thi theo năng lực. “Đối với những học sinh không đủ năng lực tiếp tục vào học lớp 10 THPT, nhà trường có trách nhiệm tư vấn các em học tại các trường TCCN, dạy nghề, bổ túc THPT”, ông Sách cho biết thêm.

    Theo ông Lê Trung Chinh, Giám đốc Sở GD-ĐT, để kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2014-2015 đạt kết quả cao, Sở chỉ đạo các Phòng GD-ĐT quận, huyện, các trường THCS trên địa bàn đẩy mạnh việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS; bố trí thời gian phù hợp ôn tập các môn thi trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 đối với học sinh. BGH các trường phải chủ động nâng cao hiệu quả các hoạt động tư vấn tuyển sinh đối với phụ huynh và học sinh, giúp học sinh chọn trường phù hợp với năng lực.

    Bài và ảnh: PHƯƠNG CHI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân
  • Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên
  • Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang
  • Minh Long: Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi, Tổ Hội Gắn Với Đẩy Mạnh Các Phong Trào Thi Đua Trong Nông Dân
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như sau :

    – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần.

    – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

    – Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải một bài toán.

    + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán

    + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán

    + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán

    – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán.

    Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ?

    – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán.

    + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

    Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học

    Toán học là một môn khoa học mang tính trừu tượng cao. Để học sinh hiểu bài một cách sâu sắc, dễ tiếp thu ngoài việc sử dụng kiến thức, kĩ năng sư phạm thì giáo viên cũng cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học. Đối với tâm lí học sinh lớp 2, tư duy nhận thức của các em chưa có chủ định, thiếu tập trung. Việc sử dụng đồ dùng dạy học là một giải pháp sư phạm tạo ra chỗ dựa ban đầu giúp học sinh nhận thức được những kiến thức trừu tượng, giải pháp này tác động vào các hoạt động nhận thức của trẻ theo đúng quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Do đó, khi sử dụng đồ dùng dạy học trong một tiết học, không những học sinh hiểu sâu bài hơn mà còn làm cho các em thấy kiến thức toán học có mối quan hệ chặt chẽ với thực tiễn, tạo cho học sinh ý thức vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.

    Ví dụ: Đối với bài: Giờ, phút/ SGK trang 125

    Khi dạy học bài này, ngoài việc giúp các em nhận biết được 1 giờ bằng 60 phút, cách xem đồng hồ khi kim phút chỉ vào số 3 và số 6 thì tôi còn chuẩn bị thêm đồ dùng dạy học đó là chiếc đồng hồ. Tôi quay một số giờ cụ thể về thời gian các em thức dậy, thời gian các em ăn sáng, thời gian các em đi học, Thông qua đó các em biết vận dụng thời gian vào thực tế và sử dụng thời gian khoa học để đạt hiệu quả công việc, học tập và nghỉ ngơi phù hợp.

    Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học là một việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên khi đứng lớp. Nhưng trong quá trình dạy học người giáo viên phải biết lựa chọn thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, tránh lạm dụng dẫn đến việc sử dụng thiết bị đồ dùng dư thừa, không có mục đích. Vì vậy, khi sử dụng đồ dùng dạy học giáo viên cần phải cân nhắc kĩ về mục đích, biện pháp để đồ dùng, thiết bị dạy học mang lại hiệu quả cao nhất.

    Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán

    Trong dạy học không có phương pháp nào là tối ưu hay vạn năng, việc kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học cùng với lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của nguời thầy sẽ mang lại kết quả cao trong giảng dạy, là chiếc cầu nối giúp các em đến với tri thức của nhân loại. Khi xác định các phương pháp dạy học giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học để thông qua đó giúp các em lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu của bài học. Như vậy việc vận dụng và phát huy có hiệu quả các phương pháp dạy học sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Bằng kinh nghiệm thực tế, tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:

    Phương pháp 1: Phương pháp trực quan

    Trong môn Toán, phương tiện trực quan là chỗ dựa để giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét, so sánh, đưa ra những nhận định, những hình ảnh đặc trưng nhằm minh họa, thể hiện các kiến thức trừu tượng của toán học.

    Ví dụ : Đối với bài: Thực hành xem đồng hồ (SGK/78)

    Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả.

    Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp

    Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy luận để hiểu được nội dung của bài học.

    Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở. Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

    Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau :

    – Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở.

    – Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

    – Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ?

    Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài toán (lấy 63 – 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán. Hình thức hỏi – đáp giữa giáo viên – học sinh giúp giáo viên nhận biết được việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ kịp thời để các em cùng tiến bộ.

    Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập

    Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và trong đời sống. Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết. Phương pháp luyện tập được sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm của bộ môn Toán. Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết.

    Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79).

    Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11 trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng 1,2. Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?” Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12 mà giáo viên đã chuẩn bị.

    Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại

    Học sinh trong một lớp, vừa có sự lựa chọn và sắp xếp, vừa có sự khác nhau về phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản. Nhưng bên cạnh đó do nhu cầu xã hội, môi trường sống của gia đình dẫn đến các em cũng có sự khác nhau nhiều về nhận thức. Đối với học sinh lớp tôi, tỷ lệ học sinh người đồng bào chiếm hơn 90% học sinh trong lớp, trong số đó có khoảng 40% các em theo kịp tiến độ tiếp nhận kiến thức của các em người Kinh. Chính vì vậy trong quá trình dạy học sinh môn Toán giáo viên tiến hành phân hóa đối tượng học sinh theo từng dạng bài tập.

    Ví dụ : Bài Luyện tập chung (SGK/105)

    Đây là bài tập ôn lại các dạng toán đã học về bảng nhân, tính giá trị biểu thức, đường gấp khúc và độ dài đường gấp khúc nên khi dạy bài này giáo viên dạy theo phương pháp phân hóa đối tượng học sinh như sau :

    – Đối với các em học sinh còn hạn chế về kiến thức Toán, giáo viên cho các em làm bài tập 1, 3, 5. Các em phải học thuộc được bảng nhân và vận dụng vào làm được bài tập 1 và nhận biết được về đường gấp khúc và cách tính độ dài đường gấp khúc, giúp các em rèn kĩ năng cộng các số.

    – Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em :

    + Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10

    + Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu cái kẹo ?

    Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá

    Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học. Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì. Từ đó, giúp giáo viên và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp.

    Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em. Sau mỗi tiết dạy giáo viên thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học. Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình tiếp thu bài của các em. Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học và khắc phục những thiếu sót của bản thân. Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn.

    Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh.

    Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt tuyến kiến thức Toán học lớp 2 :

    * Tuyến kiến thức về số học :

    Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5. Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp. Học thuộc bảng cộng – trừ, bảng nhân – chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng vào đời sống thực tiễn có hiệu quả.

    Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả.

    Phép cộng :

    Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25

    Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5

    Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 9 + 5 = 14.

    Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

    9

    5

    14

    +

    Viết phép tính theo hàng dọc

    Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 5 = 4 + 1), sau đó lấy 9 + 1 = 10 viết 1 sang hàng chục, 0 + 4 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Với cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau :

    9 + 2 =

    9 + 3 =

    9 + 4 =

    9 + 9 =

    Thông qua việc học thuộc bảng cộng học sinh khắc sâu được kiến thức, tránh lạm dụng đồ dùng trực quan và vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài tập. Giáo viên cần khuyến kích tìm kết quả bằng nhiều cách, nhận xét đưa ra cách giải nhanh nhất.

    Bài tập 1 (SGK/15)

    9 + 3 = 9 + 6 = 9 + 8 = 9 + 7 = 9 + 4 =

    3 + 9 = 6 + 9 = 8 + 9 = 7 + 9 = 4 + 9 =

    Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 ). Dựa vào cách tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi).

    Bài tập 3 (SGK/ 15)

    9 + 6 + 3 = 9 + 9 + 1 = 9 + 4 + 2 = 9 + 5 + 3 =

    Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18

    2 9

    5

    34

    +

    Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng

    * 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

    * 2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

    49

    25

    74

    +

    * 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

    * 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

    Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất.

    Phép trừ :

    Các bài dạng 12 – 8 ; 32 – 8 ; 52 – 28

    Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 – 8

    Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 12 – 8 = 4.

    Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

    12

    8

    4

    Viết phép tính theo cột dọc

    Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6), sau đó lấy 12 – 2 – 6 = 10 – 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị.

    Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau :

    12 – 8 = (12 + 2) – (8 + 2)

    = 14 – 10 = 4

    Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị. Với cách tính như vậy các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn.

    Bài tập 1 (SGK/52)

    9 + 3 = 8 + 4 = 7 + 5 = 6 + 6 =

    3 + 9 = 4 + 8 = 5 + 7 = 12 – 6 =

    12 – 9 = 12 – 8 = 12 – 7 =

    12 – 3 = 12 – 4 = 12 – 5 =

    Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào phép tính. Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b.

    Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập tiếp theo.

    Đối với bài 32 – 8 ; 52 – 28, giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng trừ 12 trừ đi một số để làm tính trừ

    32

    8

    24

    Thực hiện 32 – 8 cách 1 :

    * 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

    * 3 trừ 1 bằng 2, viết 2.

    Thực hiện 32 – 8 cách 2 nhẩm như sau :

    32 – 8 = (32 + 2 ) – (8 + 2)

    = 34 – 10 = 24

    52

    28

    24

    +

    Thực hiện 52 – 28 cách 1 :

    * 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

    * 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.

    Thực hiện 52 – 28 cách 2 nhẩm như sau :

    52 – 28 = (52 + 2 ) – (28 + 2)

    = 54 – 30 = 24

    Với các bảng trừ khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng trừ và vận dụng vào thực hiện tính trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất.

    Phép nhân – chia:

    Trong chương trình môn Toán lớp 2, phép nhân và chia được học từ 2 đến 5. Đây là cơ sở ban đầu để các em tiếp cận với mạch kiến thức nhân – chia thông dụng trong tuyến kiến thức Toán học. Tôi chủ động cho các em nắm được quy luật của từng bài học rồi hướng dẫn các em cách học thuộc và nhớ lâu kiến thức của các bảng nhân – chia.

    Ví dụ : Bài bảng nhân 2

    Trước tiên, giáo viên cho học sinh nắm 2 x 1 = 2 (2 được lấy 1 lần), tiếp đến là các phép nhân 2 x 2 = 4 ; 2 x 3 = 6. Từ kết quả của các phép nhân trên giáo viên cho học sinh so sánh và nhận biết được tích của phép nhân liền kề hơn – kém nhau 2 đơn vị, rồi từ đó lập bảng nhân 2 thông qua cách trả lời câu hỏi 2 x 4 = 8 ; 2 x 5 = 10 ; . 2 x 10 = 20.

    Sau đó, giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dụng :

    Bài 1,3 (SGK/95)

    Học sinh sẽ dễ dàng tính nhẩm nhanh kết quả sau khi các em đã học thuộc bảng nhân 2. Từ bảng nhân 2 học sinh sẽ điền đúng kết quả khi đếm thêm 2 đơn vị.

    Các bảng nhân khác, giáo viên cũng tiến hành hướng dẫn các em tương tự.

    Ví dụ : Bài bảng chia 2

    Sau khi học sinh đã thuộc bảng nhân 2, giáo viên hướng dẫn các em lập bảng chia dựa vào bảng nhân. Khi các em đã nắm được phép nhân 2 x 6 = 12 thì các em sẽ trả lời được 12 : 2 = 6.

    * Tuyến kiến thức về giải toán có lời văn :

    Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như sau :

    – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần.

    – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

    – Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải một bài toán.

    + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán

    + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán

    + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán

    – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán.

    Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ?

    – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán.

    + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

    + Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai ?

    – Tiếp đến giáo viên tóm tắt bài toán bằng hình vẽ như sau :

    15 học sinh

    Học sinh gái

    3 học sinh

    Học sinh trai

    ? học sinh

    – Sau khi các em đã nắm được nội dung của bài toán, thông qua tóm tắt tôi hỏi học sinh 1 số câu hỏi gợi mở :

    + Bài toán này thuộc dạng toán nào đã học ?

    + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn.

    + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn ta làm như thế nào ?

    + Bài toán về ít hơn ta làm phép tính trừ.

    – Cuối cùng giáo viên gọi 1 em lên bảng làm bài, dưới lớp các em làm vào vở nháp. Trong quá trình học sinh làm bài giáo viên theo dõi và giúp đỡ các em kịp thời.

    Bài giải

    Số học sinh trai của lớp 2A là :

    15 – 3 = 12 (học sinh)

    Đáp số : 12 học sinh

    – Giải bài toán có lời văn các em đã được làm quen ở học kì II của chương trình môn Toán lớp 1. Từ đó sau mỗi bài học luôn có 1 bài toán giải vận dụng giúp học sinh phát triển ngôn ngữ viết trong quá trình học Toán. Lên lớp 2 các em đã thành thạo dần với giải toán có lời văn, khi giáo viên áp dụng các giải pháp trên để giải toán có lời văn đã góp phần nâng cao chất lượng môn Toán của lớp.

    * Tuyến kiến thức về hình học :

    Tuyến kiến thức hình học ở lớp 2 chủ yếu là nhận biết được đường thẳng, đường gấp khúc, hình chữ nhật, hình tứ giác; tính độ dài đường gấp khúc, chu vi hình tam giác, hình tứ giác.

    Khi dạy nhận biết các yếu tố hình học cho học sinh, việc đầu tiên là tập cho học sinh có thói quen đặt ra câu hỏi “tại sao” và tìm cách giải thích làm cho vấn đề được sáng tỏ. Hướng dẫn các em cách trình bày, lập luận thông qua các dạng toán về hình học.

    Hình học về “đoạn thẳng, đường thẳng”.

    Vấn đề “đoạn thẳng, đường thẳng” được giới thiệu ở tiểu học có thể có nhiều cách khác nhau. Trong sách toán 2, khái niệm “đường thẳng” được giới thiệu bắt đầu từ “đoạn thẳng” (đã được học ở lớp 1) như sau:

    A

    B

    – Cho điểm A và điểm B, lấy thước và bút nối hai điểm đó ta được đoạn thẳng AB.

    – Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta được đường thẳng AB

    A

    B

    Nhận biết giao điểm của hai đoạn thẳng:

    Ví dụ: Bài 4 (trang 49)

    A

    B

    C

    D

    O

    Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm nào?

    – Khi chữa bài tôi cho học sinh tập diễn đạt kết quả bài làm bằng lời: “Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm O”; “hai đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm O”, hoặc “O là điểm cắt nhau của đoạn thẳng AB và CD”.

    Nhận biết 3 điểm thẳng hàng:

    Ví dụ: Bài 2( trang 73)

    Nêu tên 3 điểm thẳng hàng (dùng thước thẳng để kiểm tra):

    O

    M

    N

    P

    Q

    D

    O

    B

    C

    A

    a)

    b)

    – Giáo viên giới thiệu cho học sinh về ba điểm thẳng hàng (ba điểm phải cùng nằm trên một đường thẳng).

    – Học sinh phải dùng thước kẻ kiểm tra xem có các bộ ba điểm nào thẳng

    hàng rồi chữa bài.

    Ví dụ như:

    a. Ba điểm O, M, N thẳng hàng; Ba điểm O, P, Q thẳng hàng.

    b. Ba điểm B, O, D thẳng hàng; Ba điểm A, O, C thẳng hàng.

    Nhận biết hình chữ nhật, hình tứ giác

    Ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được khái niệm, định nghĩa hình học dựa trên các đặc điểm, quan hệ các tỷ lệ của hình chỉ yêu cầu học sinh phân biệt được hình ở dạng “tổng thể”, phân biệt được hình này với hình khác và gọi đúng tên hình của nó. Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối các điểm hoặc vẽ dựa trên các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly)

    Ví dụ: Dạy học b

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán
  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • SKKN nâng cao chất lượng môn toán lớp 5

    Năm học : 2006 – 2007

    Phần mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2006-2007 là năm học đổi mới chương trình và thay SGK lớp 5; là năm học tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    Giáo viên trường TH chúng tôi đã triển khai thực hiện những thay đổi theo phương pháp dạy học mới. Mục đích giáo dục tiểu học được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn. Với chương trình mới, chúng ta đã và đang từng bước thay đổi nội dung dạy học cho nên người giáo viên cần tập trung đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh”. Vậy để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh về môn Toán cần có phương pháp dạy học phù hợp: phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi cửa học sinh, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường… Thực tế bản thân tôi, giáo viên trường tôi đã vận dụng thành thạo các phương pháp dạy học truyền thống vào dạy toán như: giảng giải, vấn đáp, trực quan… Ngoài những phương pháp này, hình thức thầy tổ chức trò hoạt động đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nhiều phương pháp và các kĩ thuật khác nữa. Chẳng hạn: phải biết theo dõi từng học sinh trong quá trình giải bài tập để kịp thời giúp đỡ học sinh yếu, giao việc cho học sinh giỏi, phải biết cách nhanh chóng chia lớp thành nhóm để tổ chức giải câu đố toán học, phải biết cách làm mẫu khi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học… Giáo viên trường tôi tuy đã biết về các kĩ thuật dạy học nói trên nhưng chưa thành thục khi sử dụng chúng, giáo viên ngại sử dụng hoặc chỉ lạm dụng một vài kĩ thuật nào đó mà thôi. Đây chính là điểm yếu của tôi, của giáo viên trường tôi và cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu áp dụng giảng dạy tại lớp 5B (lớp tôi chủ nhiệm) trong năm học 2006-2007 này nhằm nâng cao chất lượng của lớp.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Tìm hiểu nội dung dạy học toán và nghiên cứu một số biện pháp cải tiến phương pháp, hình thức dạy học toán để áp dụng nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    Phương pháp dạy học Toán của giáo viên ở trường TH

    Học sinh 5B (lớp tôi chủ nhiệm).

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Tìm hiểu thực trạng dạy học toán ở trường TH , rút kinh nghiệm, có một số biện pháp cải tiến phương pháp dạy học toán nhằm n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN

    CHO HỌC SINH LỚP 2

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    I.1. Lý do chọn đề tài

    Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng

    bước hội nhập với thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với việc

    đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Quá trình đổi mới phương

    pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày

    càng được chú trọng và quan tâm. Trong sự phát triển chung của nền giáo dục,

    bộ môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng. Từ đó, mỗi

    giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn

    nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước nhà.

    Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu

    trong nhà trường. Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và

    phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn

    đạt ý đúng bằng lời. Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối

    cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau

    này. Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi

    giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh

    tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng

    ngày. Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em

    nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các

    em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những

    người có ích cho xã hội. Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò

    quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học.

    Năm học 2014 – 2022 tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian

    làm quen và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy

    Lưu Thị Hạnh

    1

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    đa số các em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác

    hết khả năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh

    nhẹn trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Một số giáo

    viên khi giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học,

    hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh

    hội kiến thức. Mặt khác trường Tiểu học Võ Thị Sáu là một trong những

    trường có tỷ lệ học sinh đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên

    toàn huyện, việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm. Từ đó, bản thân luôn

    suy nghĩ để tìm ra được một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích

    cực, chủ động trong học tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện

    pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.

    Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp để nâng cao

    chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.”

    I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

    Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho

    học sinh lớp 2 năm học 2014 – 2022.

    I.3. Đối tượng nghiên cứu

    Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm

    nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.

    I.4. Phạm vi nghiên cứu

    Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho

    học sinh lớp 2A, trường Tiểu học Võ Thị Sáu, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk,

    năm học 2014 – 2022.

    I.5. Phương pháp nghiên cứu

    Lưu Thị Hạnh

    2

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    – Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan.

    – Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp.

    – Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập.

    – Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại.

    – Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá.

    II. PHẦN NỘI DUNG

    II.1. Cơ sở lý luận

    Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 11 tuổi, nhìn

    chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài. Khả năng phân

    tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể. Về sau

    các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận

    thức khác nên nó chính xác dần. Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí

    nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic,

    những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát.

    Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác

    động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn. Dần dần tư duy và khả năng

    suy luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do

    sự hướng dẫn của giáo viên. Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy

    mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp

    để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo

    của mình.

    Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải

    qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học. Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất

    hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với

    nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát. Giáo viên

    Lưu Thị Hạnh

    3

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    4

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    5

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    6

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    7

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    Lưu Thị Hạnh

    8

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    9

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    viên gọi học sinh lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo

    viên chuẩn bị cho tiết học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian

    đúng.

    Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu

    bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong

    ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và

    sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả.

    Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp

    Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh

    làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng

    hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy

    luận để hiểu được nội dung của bài học.

    Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã

    phát cho học sinh 48 quyển vở. Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

    Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau :

    – Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã

    phát cho học sinh 48 quyển vở.

    – Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

    Lưu Thị Hạnh

    10

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    – Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ?

    Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài

    toán (lấy 63 – 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán.

    Hình thức hỏi – đáp giữa giáo viên – học sinh giúp giáo viên nhận biết được

    việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ

    kịp thời để các em cùng tiến bộ.

    Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập

    Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán là

    một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và

    trong đời sống. Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng

    hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và

    đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết. Phương pháp luyện tập được

    sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả

    trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm

    của bộ môn Toán. Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải

    các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận

    dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết.

    Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79).

    Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11

    trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng

    1,2. Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày

    còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao

    hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?”

    Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12

    mà giáo viên đã chuẩn bị.

    Lưu Thị Hạnh

    11

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    12

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    phép cộng – phép trừ, rồi vận dụng vào giải được bài toán có lời văn và nắm

    được cách tính độ dài đường gấp khúc.

    – Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài

    tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể

    ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em :

    + Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10

    + Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái. Hỏi mẹ còn lại

    bao nhiêu cái kẹo ?

    Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá

    Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của

    học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học. Kiểm tra, đánh giá phải được

    thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì. Từ đó, giúp giáo viên

    và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp.

    Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm

    bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em. Sau mỗi tiết dạy giáo viên

    thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên

    bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học.

    Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình

    tiếp thu bài của các em. Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học và

    khắc phục những thiếu sót của bản thân. Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức

    dạy học phù hợp hơn.

    Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một

    số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh.

    Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt

    tuyến kiến thức Toán học lớp 2 :

    Lưu Thị Hạnh

    13

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    * Tuyến kiến thức về số học :

    Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là

    cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5.

    Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy

    học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng

    khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp.

    Học thuộc bảng cộng – trừ, bảng nhân – chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp

    học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng

    vào đời sống thực tiễn có hiệu quả.

    Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2

    giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính

    nhẩm để tìm nhanh kết quả.

    Phép cộng :

    Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25

    Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5

    Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ

    trả lời được kết quả 9 + 5 = 14.

    Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

    Viết phép tính theo hàng dọc

    +

    Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 5 = 4 + 1),

    sau đó lấy 9 + 1 = 10 viết 1 sang hàng chục, 0 + 4 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Với

    Lưu Thị Hạnh

    14

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số

    và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau :

    9+2=

    9+3=

    9+4=

    ……

    9+9=

    Thông qua việc học thuộc bảng cộng học sinh khắc sâu được kiến thức, tránh

    lạm dụng đồ dùng trực quan và vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài tập.

    Giáo viên cần khuyến kích tìm kết quả bằng nhiều cách, nhận xét đưa ra cách giải

    nhanh nhất.

    Bài tập 1 (SGK/15)

    9+3=

    9+6=

    9+8=

    9+7=

    9+4=

    3+9=

    6+9=

    8+9=

    7+9=

    4+9=

    Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau

    khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 …). Dựa vào cách

    tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền

    ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không

    thay đổi).

    Bài tập 3 (SGK/ 15)

    9+6+3=

    9+9+1=

    9+4+2=

    9+5+3=

    Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và

    chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18

    Lưu Thị Hạnh

    15

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng

    cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng

    29

    +

    5

    * 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

    * 2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

    34

    * 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

    25

    * 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

    74

    Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó

    các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong

    phạm vi 100 nhanh nhất.

    Phép trừ :

    Các bài dạng 12 – 8 ; 32 – 8 ; 52 – 28

    Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 – 8

    Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ

    trả lời được kết quả 12 – 8 = 4.

    Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

    Viết phép tính theo cột dọc

    12

    Lưu Thị Hạnh

    16

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6),

    sau đó lấy 12 – 2 – 6 = 10 – 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị.

    Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau :

    12 – 8 = (12 + 2) – (8 + 2)

    =

    14

    – 10 =

    4

    Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy

    nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn

    vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị. Với cách tính như vậy

    các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn.

    Bài tập 1 (SGK/52)

    9+3=

    8+4=

    7+5=

    6+6=

    3+9=

    4+8=

    5+7=

    12 – 6 =

    12 – 9 =

    12 – 8 =

    12 – 7 =

    12 – 3 =

    12 – 4 =

    12 – 5 =

    Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết

    quả vào phép tính. Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b.

    Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập

    tiếp theo.

    Đối với bài 32 – 8 ; 52 – 28, giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng trừ

    12 trừ đi một số để làm tính trừ

    Thực hiện 32 – 8 cách 1 :

    32

    * 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

    Lưu Thị Hạnh

    * 3 trừ 1 bằng 2, viết 2.

    17

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    Thực hiện 32 – 8 cách 2 nhẩm như sau :

    32 – 8 = (32 + 2 ) – (8 + 2)

    =

    34

    10

    = 24

    * 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

    * 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.

    Thực hiện 52 – 28 cách 2 nhẩm như sau :

    52 – 28 = (52 + 2 ) – (28 + 2)

    =

    54

    30

    = 24

    Với các bảng trừ khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó

    các em nắm được bảng trừ và vận dụng vào thực hiện tính trừ có nhớ trong

    phạm vi 100 nhanh nhất.

    Phép nhân – chia:

    Trong chương trình môn Toán lớp 2, phép nhân và chia được học từ 2 đến

    5. Đây là cơ sở ban đầu để các em tiếp cận với mạch kiến thức nhân – chia

    thông dụng trong tuyến kiến thức Toán học. Tôi chủ động cho các em nắm

    được quy luật của từng bài học rồi hướng dẫn các em cách học thuộc và nhớ

    lâu kiến thức của các bảng nhân – chia.

    Ví dụ : Bài bảng nhân 2

    Trước tiên, giáo viên cho học sinh nắm 2 x 1 = 2 (2 được lấy 1 lần), tiếp

    đến là các phép nhân 2 x 2 = 4 ; 2 x 3 = 6. Từ kết quả của các phép nhân trên

    Lưu Thị Hạnh

    18

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    giáo viên cho học sinh so sánh và nhận biết được tích của phép nhân liền kề

    hơn – kém nhau 2 đơn vị, rồi từ đó lập bảng nhân 2 thông qua cách trả lời câu

    hỏi 2 x 4 = 8 ; 2 x 5 = 10 ; …. 2 x 10 = 20.

    Sau đó, giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dụng :

    Bài 1,3 (SGK/95)

    Học sinh sẽ dễ dàng tính nhẩm nhanh kết quả sau khi các em đã học thuộc

    bảng nhân 2. Từ bảng nhân 2 học sinh sẽ điền đúng kết quả khi đếm thêm 2

    đơn vị.

    Các bảng nhân khác, giáo viên cũng tiến hành hướng dẫn các em tương tự.

    Ví dụ : Bài bảng chia 2

    Sau khi học sinh đã thuộc bảng nhân 2, giáo viên hướng dẫn các em lập

    bảng chia dựa vào bảng nhân. Khi các em đã nắm được phép nhân 2 x 6 = 12

    thì các em sẽ trả lời được 12 : 2 = 6.

    Khi các em đã thuộc bảng chia 2 sẽ vận dụng vào làm được bài tập liên

    quan.

    * Tuyến kiến thức về giải toán có lời văn :

    Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập

    thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong

    đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như

    sau :

    – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần.

    – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ?

    Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

    Lưu Thị Hạnh

    19

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2

    – Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải

    một bài toán.

    + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán

    + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán

    + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán

    – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán.

    Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp

    ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ?

    – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi

    mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán.

    + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học

    sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

    + Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai ?

    – Tiếp đến giáo viên tóm tắt bài toán bằng hình vẽ như sau :

    15 học sinh

    Học sinh gái

    3 học sinh

    Học sinh trai

    ? học sinh

    – Sau khi các em đã nắm được nội dung của bài toán, thông qua tóm tắt tôi

    hỏi học sinh 1 số câu hỏi gợi mở :

    + Bài toán này thuộc dạng toán nào đã học ?

    + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn.

    Lưu Thị Hạnh

    20

    Trường Tiểu học Hà Huy Tập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém Môn Toán Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Về Môn Toán Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Hóa Học
  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Tổ Chức Thi Online Môn Tin Học Cấp Thcs
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Sở giáo dục Và ĐàO TạO NGHệ AN

    PHòNG GIáO DụC Và ĐàO TạO VINH

    SáNG KIếN KINH NGHIệM

    MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO HIệU QUả CÔNG TáC PHụ

    ĐạO HọC SINH YếU, KéM Về MÔN TOáN LớP 4

    Họ và tên: Nguyễn Thị Nguyệt

    Chức vụ: Phó Hiệu trởng

    Đơn vị: Trờng Tiểu học Nghi Liên

    Năm học: 2011 – 2012

    PHN I : T VN

    I. LI DO CHON TAI

    Cng nh cỏc mụn hc khỏc, mụn Toỏn cú mt vai trũ ht sc quan trng trong

    vic hỡnh thnh nhõn cỏch con ngi lao ng. Vỡ vy, mi giỏo viờn cn phi cú

    trỏch nhim dy hc sao cho hc sinh ca mỡnh tip thu c nhng kin thc v k

    nng m chng trỡnh giỏo dc tiu hc quy nh. Tuy nhiờn, khụng phi mi hc

    sinh u hc tp d dng nh nhau, cú th cú nhng hc sinh nm kin thc toỏn hc

    rt nhanh chúng v sõu sc m khụng cn cú s c gng c bit, trong khi ú mt s

    em khỏc li khụng th t c kt qu nh vy mc dự ó c gng rt nhiu, ú

    chớnh l cỏc em hc sinh yu, kộm v mụn Toỏn.

    1

    – Tìm hiểu thực trạng việc phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán lớp 4.

    Phương pháp thực nghiệm.

    – Nhằm mục đích kiểm tra tính khả thi của đề tài.

    PHẦN II: NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG.

    1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:

    CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    1.1. Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập

    – Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập là những học sinh phát triển

    không bình thường về mặt năng lực nhận thức, học kém không theo kịp chương trình

    và các bạn trung bình trong lớp biểu hiện ở các dấu hiệu cơ bản sau:

    – Động cơ học tập lệch lạc, mờ nhạt hoặc bị thui chột.

    – Tri thức các môn học phiến diện, hẫng hụt, tụt hậu so với bạn bè và so với yêu

    cầu, kĩ năng thực hành yếu hoặc di chuyển sang lĩnh vực hoạt động theo những mục

    đích, động cơ ngoài việc học tập. Kết quả học tập thất thường, yếu kém và không có

    độ tin cậy cao.

    – Thái độ tiêu cực trong học tập, chán ghét, không ham thích những hoạt động

    học tập. Từ đó dẫn đến những hành vi tiêu cực, gian dối, đối phó hoặc có khi có

    những biểu hiện ghen tức bạn bè học khá, thù ghét những thầy cô giáo nghiêm khắc

    trong giáo dục, hay bỏ học, trốn tiết.

    1.2. Giáo dục học sinh yếu kém

    – Giáo dục học sinh yếu kém là quá trình tác động của những người làm công tác

    giáo dục tới đối tượng học sinh có trình độ chưa đạt tiêu chuẩn giáo dục.

    – Học sinh yếu kém là những em mà trong quá trình hình thành và phát triển

    nhân cách đã có những biểu hiện không bình thường về thể chất, tinh thần, trí tuệ,

    đạo đức cần được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường – gia đình – xã hội cũng như sự

    nỗ lực của chính các em. Vì vậy, giáo dục học sinh yếu kém trước hết là quan tâm

    chăm sóc, bồi dưỡng nhân cách cho người học; hướng dẫn các em có phương pháp

    học tập đúng đắn; động viên, khuyến khích các em có hứng thú, niềm tin trong học

    tập.

    2. THỰC TRẠNG.

    Để tìm hiểu thực trạng tôi đã đối chiếu kết quả dạy học môn Toán của mấy năm

    gần đây, dự giờ thăm lớp, trao đổi với giáo viên, khảo sát chất lượng học sinh, tìm

    hiểu học sinh yếu, kém môn Toán.

    3

    2.1 Thực trạng chất lượng môn toán lớp 4.

    Ở tuần học thứ 2 năm học 2011-2012 tôi đã chỉ đạo giáo viên tiến hành khảo

    sát chất lượng môn Toán khối lớp 4.

    Đề khảo sát môn Toán (Thời gian làm bài: 40 phút)

    Bài 1: Đặt tính rồi tính:

    a) 47085 + 1750

    c) 437 × 4

    b) 75897 – 18756

    d) 50585 : 5

    Bài 2: Tìm X, biết;

    a) 75405 +

    x = 94186

    b) x – 1325 = 29100

    c) 575 :

    x

    =5

    g) 7 ×

    x = 1799

    Bài 3: Điền đáp số vào chỗ trống của mỗi bài toán sau:

    a) Một hình chữ nhật có chiều rộng 18m, chiều dài gấp 3lần chiều rộng. Chu vi hình

    chữ nhật đó là:………………………………………..

    b) Diện tích hình vuông có cạnh 8cm là: …………………………………………

    Bài 4: Một tổ công nhân trong 5 ngày làm được 375 sản phẩm. Hỏi với mức làm như

    thế thì trong 9 ngày tổ công nhân đó làm được bao nhiêu sản phẩm?

    Hướng dẫn chấm bài kiểm tra:

    Bài 1 (2 điểm) : Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,5 điểm.

    Bài 2 (2 điểm) : Mỗi ý đúng yêu cầu cho 0,5 điểm.

    Bài 3 (4điểm): Mỗi ý đúng cho 2 điểm.

    Bài 4 (2điểm): Bài giải thực hiện đúng yêu cầu trình bày đầy đủ cho 2 điểm

    Điểm 9-10

    Điểm 7-8

    Điểm 5- 6

    Điểm dưới 5

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    18

    22.8%

    21

    26.6%

    29

    36.7%

    11

    13.9%

    Với đề khảo sát chất lượng như trên, qua kết quả làm bài của học sinh thì 11 em

    học sinh có điểm yếu các em còn vướng phải các lỗi sau: Còn chậm trong thực hành

    tính toán, chưa thuộc bảng cửu chương; Cộng, trừ, nhân, chia có nhớ còn chậm, quên

    không nhớ; Còn lẫn lộn, quên cách tìm thành phần chưa biết của phép tính; Kỹ năng

    giải toán có lời văn còn yếu.

    2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu, kém môn Toán .

    4

    *) Về phía học sinh: Như chúng ta đã biết, sự yếu kém về môn Toán của học

    sinh có biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau nhưng nhìn chung thường có

    các đặc điểm sau đây:

    – Có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng; Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng

    chậm;

    – Phương pháp học tập chưa tốt; Năng lực tư duy yếu; Có thái độ thờ ơ với học

    tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin.

    – Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.

    – Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học

    tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.

    – Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn

    kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.

    – Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền.

    – Mỗi em có một khả năng nổi trội riêng nhưng các em chưa biết phát huy khả

    năng của mình.

    – Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết (cộng, trừ,

    nhân, chia).

    – Học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức.

    *) Về phía giáo viên: Một bộ phận giáo viên còn chưa chú ý đúng mức đến đối

    tượng học sinh yếu, chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của

    học sinh mà nhiều em đã kém lại càng kém thêm, lỗ hổng kiến thức ngày càng lớn

    hơn. Nhiều giáo viên chỉ chú ý đến học sinh Khá, Giỏi, thích tổ chức các hoạt động

    học tập trên lớp với những học sinh khá, giỏi để tránh xử lí các tình huống phức tạp

    mất thời gian; Một số giáo viên tổ chức các hoạt động học tập chưa tốt còn để học

    sinh khá giỏi nói leo, nói hộ học sinh yếu. Giáo viên chưa quan tâm đến tất cả HS

    trong lớp còn để học sinh yếu ngoài lề các tiết học, GV chỉ chú trọng vào các em HS

    khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp như vậy các em học yếu không có cơ

    hội bộc lộ khả năng của mình và đã ngại học lại thêm tính ì, ngại suy nghĩ, ngại vận

    động; Chưa chú trọng đến tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh học kém để phân loại

    đối tượng; giảng dạy mang tính dàn trải chưa có biện pháp dạy học phù hợp với từng

    đối tượng học sinh, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm đối tượng còn hạn chế, chưa

    động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực hay sáng tạo dù là

    rất nhỏ.

    Mặt khác, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm và gia đình

    học sinh nên chưa có biện pháp phù hợp trong quá trình phụ đạo, giúp đỡ học sinh

    học tập. Chính vì vậy vẫn tồn tại một số học sinh yếu, kém về môn Toán.

    5

    *) Đối với phụ huynh: Một bộ phận phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc

    học tập của con cái, giao việc học tập của con em cho nhà trường. Bên cạnh đó phụ

    huynh chưa nắm được phương pháp sư phạm, không nắm được cách giải Toán ở Tiểu

    học khiến cho trẻ không hiểu và thiếu tin tưởng. Mặt khác, một số phụ huynh điều

    kiện kinh tế gia đình quá khó khăn không có điều kiện chăm lo cho con em học tập, ở

    nhà các em còn phải làm nhiều việc phụ giúp gia đình vì vậy các em đến trường

    thường trong trạng thái mệt mỏi, uể oải. Một số phụ huynh đi làm ăn xa phải gửi con

    cho ông bà, cô bác trông hộ. Các em trong đối tượng này thì bị thiếu thốn tình cảm

    của bố mẹ nên khi học thường không chú tâm vào việc học tập.

    Từ những thực trạng nói trên, để tập trung nâng chất lượng học tập của học

    sinh, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém về môn Toán, tránh để tình

    trạng học sinh ngồi nhầm lớp tôi đã suy nghĩ và trao đổi cùng đồng nghiệp đưa ra

    “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phụ đạo học sinh lớp yếu kém môn

    Toán lớp 4″ như sau:

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHỤ ĐẠO

    HỌC SINH YẾU, KÉM VỀ MÔN TOÁN LỚP 4.

    Giải pháp 1. Chỉ đạo giáo viên theo dõi thường xuyên, nắm bắt cụ thể tình

    hình học sinh yếu.

    Tôi đã chỉ đạo giáo viên theo dõi kết quả làm bài tập trên lớp và làm bài tập về

    nhà hàng ngày, theo dõi kết quả kiểm tra định kỳ, sớm phát hiện ra các trường hợp

    học sinh có khó khăn trong học tập và đi sâu tìm hiểu từng trường hợp cụ thể, phân

    tích đúng nguyên nhân dẫn đến tình hình đó đối với các em.

    – Ngay từ đầu năm học, tiến hành khảo sát chất lượng học sinh về môn Toán.

    – Lập danh sách và phân loại học sinh yếu, kém về môn Toán, phân tích nguyên

    nhân.

    Tôi hướng dẫn giáo viên phân loại học sinh học yếu theo những nguyên nhân

    chủ yếu như: Do hổng kiến thức, kỹ năng từ lớp dưới, do điều kiện hoàn cảnh gia

    đình, do trí tuệ chậm phát triển…

    Thực hiện theo kế hoạch, tôi cùng với giáo viên dạy khối 4 đã khảo sát và phân

    loại học sinh yếu môn toán theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:

    + Nhóm khả năng tiếp thu bài chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức lớp dưới

    như chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, chưa biết tìm thành phần chưa biết của phép

    tính, giải toán có lời văn còn yếu: Nhóm này có 7 em.

    + Nhóm do hoàn cảnh gia đình và các nguyên nhân khác: Nhóm này có 4 em.

    Trong nhóm này các em có khả năng tiếp thu bài tốt. Nhưng vì điều kiện gia đình khó

    khăn không có người chăm lo, đôn đốc học tập nên các em chưa tích cực học tập,

    6

    không hoàn thành nhiệm vụ học tập, dẫn đến kết quả học tập sa sút và liên tục bị điểm

    yếu.

    Giải pháp 2. Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạo

    học sinh yếu, kém về môn toán phù hợp với đối tượng học sinh.

    Khi nắm được nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu, kém về môn Toán của

    từng em, tôi đã hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạo

    học sinh yếu, kém với yêu cầu:

    + Lập kế hoạch bài học phải phù hợp với từng đối tượng học sinh kể cả tiết

    chính khóa cũng như tiết phụ đạo. Nội dung kế hoạch phải xuyên suốt cả năm học và

    cụ thể cho từng tuần, từng tháng.

    + Nội dung các tiết phụ đạo tập trung rèn luyện kĩ năng và ôn tập các kiến thức

    đã học cho học sinh.

    + Đặc biệt giúp các em củng cố những kiến thức cơ bản theo yêu cầu chuẩn kĩ

    năng kiến thức của lớp dưới mà các em còn bị hổng. Như nhớ được bảng nhân, bảng

    chia, giải được một số dạng toán cơ bản đã học ở lớp dưới… Mục đích là lấp lỗ hổng

    về kiến thức cho học sinh.

    * Ví dụ nội dung phụ đạo học sinh học yếu môn toán lớp 4:

    Tuần 1: Khảo sát, tìm hiểu nguyên nhân, phân loại học sinh.

    Tuần 2: Củng cố về bảng nhân, bảng chia 2,3,4,5.

    Tuần 3: Củng cố về bảng nhân, bảng chia 6,7,8,9.

    Tuần 4: Củng cố về bảng nhân, bảng chia kết hợp với củng cố về tìm thành

    phần chưa biết của phép tính.

    Tuần 5: Củng cố về bốn phép tính với số tự nhiên kết hợp với củng cố về giải

    toán có lời văn.

    Tuần 6: Tiếp tục củng cố về bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự nhiên

    kết hợp với củng cố về giải toán có lời văn.

    Tuần 7: Tiếp tục củng cố về bốn phép tính với số tự nhiên, củng cố mối quan

    hệ các đơn vị đo lường và vận dụng làm toán có lời văn…

    Cứ tiếp tục như vậy, nội dung các buổi phụ đạo sau phải có sự củng cố lại

    những kiến thức đã học ở các buổi học trước và tập trung chủ yếu vào củng cố cho

    học sinh kĩ năng thực hiện thành thạo bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia với số tự

    nhiên ở học kì I. Nội dung củng cố kĩ năng thực hành làm tính với số tự nhiên, giáo

    viên linh hoạt bằng nhiều bài toán khác nhau. Có thể là các dạng bài như: đặt tính rồi

    tính; tính giá trị biểu thức; tìm x; toán có lời văn… Phải cho học sinh làm đi làm lại

    7

    nhiều lần một dạng bài tập để các em thành thạo. Việc củng cố kiến thức đã học thực

    hiện đồng thời với việc dạy kiến thức mới của lớp 4. Căn cứ vào yêu cầu chuẩn kiến

    thức kĩ năng của từng bài, giáo viên giúp học sinh yếu tiếp thu những kiến thức và

    làm bài tập vừa sức với các em.

    + Cuối tuần kiểm tra 1 lần, cuối mỗi tháng, mỗi kỳ có bài kiểm tra theo dõi kết

    quả học tập của các em. Lập sổ theo dõi quá trình phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu

    (suốt cả năm học).

    + Kết hợp chặt chẽ với gia đình và nhà trường. Có sổ liên lạc giữa giáo viên

    chủ nhiệm và phụ huynh học sinh, thường xuyên đến thăm và động viên gia đình học

    sinh.

    + Thời gian phụ đạo chủ yếu vào các buổi chiều trong tuần( thứ 3 và thứ 5),

    lồng ghép vào chương trình chính khoá và với một số tiết hoạt động tập thể hay giờ

    giải lao( trong đó tổ chức các trò chơi có nội dung toán học).

    + Kế hoạch bồi dưỡng phải có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể là: cuối học kì I không

    còn tình trạng học sinh bị hổng kiến thức đã học. Học kì II, các em học đến đâu phải

    đạt yêu cầu đến đó (theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình toán lớp

    4). Đến cuối năm học, không còn học sinh nào học yếu môn toán.

    Giải pháp 3 : Hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch:

    Phụ đạo học sinh học yếu nói chung và học sinh học yếu môn toán nói riêng là

    việc làm khó, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng nhiệt tình và kiên trì, yêu thương

    học sinh. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viên khi thực hiện kế hoạch phụ đạo học sinh

    yếu, giáo viên không được nóng vội, phải thực hiện kế hoạch theo từng bước hợp lí.

    Đồng thời không cứng nhắc rập khuôn theo kế hoạch mà cần phải linh hoạt điều chỉnh

    nội dung và cách thức thực hiện.

    Căn cứ vào kết quả tìm hiểu nguyên nhân của học sinh học yếu môn toán ở

    khối 4, tôi hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch phụ đạo với những nội chủ yếu

    như sau:

    1. Củng cố 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia.

    Bởi vì số học sinh học kém môn Toán khối 4, đa số do khả năng tiếp thu bài

    chậm, còn hổng kiến thức từ lớp dưới, vì thế đã học lên lớp 4 nhưng các em này vẫn

    chưa thuộc lòng bảng nhân, bảng chia ở lớp 2, 3 còn yếu trong việc vận dụng bốn

    phép tính cộng, trừ, nhân, chia để giải toán có lời văn. Điều đó rất bất lợi cho các em

    trong quá trình học toán ở lớp 4 và lên lớp 5. Để các em làm thành thạo 4 phép tính

    cộng, trừ, nhân, chia, tôi xác định việc làm đầu tiên dạy lại những kiến thức cơ bản

    giúp học sinh lấp được lỗ hổng kiến thức.

    8

    Vì vậy, tôi đã hướng dẫn cho giáo viên giao cho học sinh yếu cứ mỗi tuần phải

    học thuộc 3 đến 5 bảng nhân, bảng chia, mỗi buổi học giáo viên dành 5 phút với buổi

    chính khoá, 15 phút với buổi phụ đạo để kiểm tra việc học của học sinh. Cuối tuần

    giáo viên lại tổ chức cho các em thi đọc bảng cửu chương (15-20 phút).

    Sau hai tuần đầu tôi kiểm tra đã nhận thấy rằng: Các em đều học thuộc bảng

    nhân, bảng chia nhưng khi vận dụng làm một phép tính cụ thể (VD: 124 : 2) thì có em

    làm được nhưng rất chậm, có em không làm được. Tôi trăn trở tìm nguyên nhân, thì ra

    các em chỉ thuộc “vẹt” bảng nhân, bảng chia.

    Tiếp theo tôi hướng dẫn giáo viên điều chỉnh cách kiểm tra, phải chỉ định học

    sinh đọc bảng nhân, chỉ rõ bản chất của phép nhân là kết quả của phép cộng của các

    số bằng nhau, hướng dẫn các em học thuộc nhừ bảng nhân 5, thuộc nhừ cách tính một

    số nhân với mười để các em dựa vào đó tìm kết quả phép tính nhân, chia trong bảng

    khi chưa thuộc lòng: Ví dụ bảng nhân 3, hỏi phép nhân, phép chia bất bất kì 3 × 6 = ?

    (học sinh vận dụng kết quả phép nhân 3 × 5 = 15 suy ra kết quả 3 × 6 = 15 + 3 = 18);

    3 × 9 = ?… (suy từ 3 × 10=30 ra 3 × 9 = 30- 3 =27). Từ đó giúp các em học thuộc lòng.

    Đồng thời củng cố vận dụng bảng nhân chia, bảng chia bằng cách giao cho các em

    thực hiện những phép tính đơn giản không có nhớ như: 24 × 2; 123 × 3; 84 : 2;

    124: 4 …

    Đến tuần sau, vào các buổi chiều phụ đạo HS yếu, kém tôi hướng dẫn giáo viên

    thay đổi hình thức kiểm tra, khác với các tuần trước.

    Giáo viên ghi sẵn nội dung kiểm tra lên 2 tấm bìa và gắn lên bảng:

    5 × 6 = …

    35 : 7= ….

    4× 5=…

    25 : 5 = ….

    7 × 8 = ….

    48 : 6 = …

    3× 9=…

    36 : 6 = …..

    4 × 9 = ….

    64 : 8 = …

    9 × 6 = ….

    42 : 7 = …..

    6 × 9 = ….

    72 : 9 = …

    7× 7=…

    45 : 5 = ….

    …..

    ……

    ….

    ……

    Cứ mỗi lần, gọi 2 HS lên bảng làm bài (HS ghi kết quả vào chỗ chấm). Lần này

    không ghi theo thứ tự phép tính của bảng nhân hay bảng chia mà ghi bất kì phép nhân

    hay phép chia trong bảng, mục đích là để học sinh thuộc lòng bảng nhân, bảng chia

    mà các em đã học. Đồng thời tiếp tục củng cố kĩ năng vận dụng thực hành các phép

    tính nhân, chia bằng các bài như đặt tính rồi tính, tính giá trị biểu thức đơn giản, tìm

    x…

    Không những yêu cầu các em học thuộc bảng nhân, bảng chia mà giáo viên còn

    phải giao cho các em về nhà viết lại nhiều lần thay cho bài kiểm tra và được giáo viên

    chấm điểm chặt chẽ các bài này. Ngoài ra giờ ra chơi hay giờ giải lao của buổi học,

    giáo viên phải gần gũi và nói chuyện với các em, lồng vào đó là những mẫu chuyện

    9

    vui về toán học, những câu đố đơn giản đố các em về phép nhân hay phép chia. Các

    em đã thi nhau trả lời và như vậy đã giúp các em dễ nhớ được bảng nhân, bảng chia

    đã học ở lớp 2,3.

    2. Củng cố kỹ năng giải toán.

    Kết hợp củng kĩ năng tính toán với củng cố rèn luyện kĩ năng giải toán có lời

    văn sẽ giúp các em giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán. Bởi vì có những em

    nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai hoặc biết tính toán nhưng cách giải sai

    dẫn đến bài toán giải sai. Vì vậy sau khi các em làm thành thạo 4 phép tính cộng, trừ,

    nhân, chia thì chú ý đến việc giải toán có lời văn. Bởi chúng ta biết rằng đa số các em

    yếu, kém về môn Toán thường gặp khó khăn trong việc giải Toán có lời văn. Tôi đã

    hướng dẫn giáo viên lựa chọn cách dạy phù hợp để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nội

    dung bài học, nhớ kĩ được từng dạng bài toán.

    Tôi đã định hướng cho giáo viên củng cố cho học sinh cách giải các dạng toán

    điển hình của lớp 3 kết hợp với củng cố kỹ năng tính toán với bốn phép tính cộng,

    trừ, nhân, chia. Vì học sinh yếu có đặc điểm là rất ngại, thậm chí sợ làm toán có lời

    văn vì khả năng tư duy “phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế” nên chưa

    có khả năng phán đoán suy luận. Do đó, khi làm toán có lời văn các em giải chưa

    đúng, tính toán còn sai. Có em giải “bừa” cho xong. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viên

    khi củng cố kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh yếu thì chỉ cần ra với dạng cơ

    bản nhất, đơn giản nhất mang tính chất vận dụng củng cố lý thuyết mà thôi. Không

    nên ra những bài lắt léo hay những bài phải qua bước trung gian mới về dạng cơ bản.

    Đến khi học sinh lấp được những chỗ hổng kiến thức đã học thì mới nâng dần mức độ

    lên.

    * Một số dạng toán điển hình lớp 3 cần phải ôn tập củng cố là:

    – Dạng bài gấp một số lên nhiều lần.

    Ví dụ: Thủy có 35 que tính. Hà có số que tính gấp 3 lần Thủy. Hỏi hai bạn có

    bao nhiêu que tính?

    – Dạng bài giảm một số đi nhiều lần.

    Ví dụ: Thủy có 105 que tính. Thủy có số que tính gấp ba lần số que tính của

    Hà. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu que tính?

    – Dạng bài tìm một phần mấy của một số:

    Ví dụ: Một đàn gia cầm của một nhà có 128 con vịt và gà. Trong đó số gà bằng

    1

    cả đàn. Hỏi đàn gia cầm đó có mấy con gà?

    4

    10

    Ví dụ: Có 70 xếp giấy gói đều thành 7 bọc. Hỏi có 100 xếp giấy sẽ gói được

    bao nhiêu bọc như thế?

    – Dạng bài tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật;

    Ví dụ:

    + Tính chu vi, diện tích thửa ruộng hình vuông có cạnh 24 m.

    + Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều rộng 9m, chiều dài gấp 3 lần chiều

    rộng. Tính chu vi và diện tích của thửa ruộng đó.

    Để kết hợp tốt giữa lấp lỗ hổng kiến thức và dạy kiến thức mới, tôi chỉ đạo giáo

    viên thực hiện nội dung củng cố kĩ năng giải các bài toán điển hình lớp 3 trong những

    tuần đầu của năm học (khoảng 6 đến 8 tuần đầu). Song song với việc bổ sung chỗ

    hổng kiến thức lớp 3 thì trong các tiết học chính khóa, giáo viên giúp học sinh yếu

    biết giải các bài toán giải dạng toán điển hình lớp 4 đồng thời cần phải ôn tập củng cố

    ngay ở các tiết học phụ đạo. Nhất định không để học sinh hổng kiến thức đã học nữa.

    Tôi đã đề ra một số lưu ý với giáo viên: Khi hướng dẫn cho học sinh cách giải

    và trình bày bài giải, giáo viên phải hướng dẫn gợi mở từng bước cụ thể, giúp học

    sinh thể hiện khả năng giải toán của mình là cần thiết. Vì vậy giáo viên cần phải

    hướng dẫn học sinh đọc, tìm hiểu kĩ đề bài toán, Tóm tắt đề bài toán, nhìn vào tóm tắt

    đọc lại đề bài toán. Đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt học sinh từng bước tìm cách

    giải và chọn cách giải hợp lý nhất, ngắn gọn nhất, lời giải rõ ràng chính xác, đúng nội

    dung bài toán yêu cầu tìm gì. Đồng thời chú ý hướng dẫn các em khi thực hiện tìm kết

    quả của phép tính cần làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả rồi mới viết vào bài làm.

    Từ đó tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy.

    3. Quan tâm động viên kịp thời học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

    Với những đặc điểm của học sinh yếu, kém nói chung và môn toán nói riêng,

    tôi đã khẳng định rằng học sinh yếu, kém môn Toán cần được quan tâm, hỗ trợ dạy

    học một cách tích cực. Còn với học sinh học yếu nguyên nhân do điều kiện hoàn cảnh

    gia đình tôi chỉ đạo giáo viên phải có sự quan tâm đặc biệt. Ngoài việc tích cực hỗ trợ

    cho các em lấp lỗ hổng kiến thức đồng thời phải có sự quan tâm đặc biệt về tình cảm

    và vật chất.

    Vì vậy tôi chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thường xuyên đến thăm một số gia đình

    học sinh yếu trong khối 4 như gia đình em Huyền Thương lớp 4B, gia đình em Đình

    Hiếu lớp 4C … và một số gia đình học sinh khó khăn khác. Cảm thông được nỗi vất

    vả của các em, tôi đề nghị Ban giám hiệu nhà trường hỗ trợ cho các em quần áo, sách

    vở, kết hợp cùng với Đội Thiếu niên nhà trường, tôi đã cùng các cô giáo chủ nhiệm

    trao quà cho các em trong dịp Tết Nguyên Đán. Nhận được sự quan tâm, động viên

    kịp thời của nhà trường cũng như cô giáo chủ nhiệm, gia đình các em đã hiểu và tạo

    11

    12

    lại bảng nhân 6 cho thuộc. Tức là phát hiện học sinh hổng kiến thức ở đâu thì giáo

    vên phải linh hoạt điều chỉnh nội dung dạy để ôn tập, bổ sung ở đó.

    – Trong các buổi dạy phụ đạo, nội dung chủ yếu là kiểm tra việc lĩnh hội các

    kiến thức giảng dạy trên lớp hoặc ôn tập, củng cố kiến thức để các em nắm chắc hơn.

    Tôi hướng dẫn giáo viên, trong mỗi tiết dạy, xác định rõ mục tiêu của từng bài, từng

    hoạt động của học sinh dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên.

    – Khi hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, Giáo viên cần giao việc phù hợp với

    từng đối tượng học sinh. Cụ thể là: Bài tập dành cho học sinh cả lớp; Bài tập cho học

    sinh khá giỏi; Riêng đối với học sinh yếu, kém về môn Toán giáo viên không nên

    giao nhiều bài tập về nhà, chỉ cần 1 đến 2 bài thôi. Em nào yếu quá giáo viên phải ghi

    bài tập vào phiếu và kèm theo một vài câu hỏi để học sinh có thể tự kiểm tra hay chỉ

    rõ ý chính cần đi sâu, nhớ kỹ để hiểu rõ “cái đã cho, cái phải đi tìm”. Bài tập về nhà

    do các em làm, yêu cầu phụ huynh kí vào phía dưới để có sự giám sát, đốc thúc kịp

    thời của gia đình. Đến lớp, giáo viên kiểm tra cụ thể các sai lầm mắc phải của học

    sinh để phân tích và sửa chữa.

    2. Gây hứng thú học tập cho học sinh.

    Bởi vì học sinh yếu vốn ngại học, ngại bày tỏ ý kiến nên để cuốn hút các em

    tích cực tham gia các hoạt động học tập thì giáo viên phải có những hình thức tổ chức

    các hoạt động học tập gây được hứng thú cho tất cả học sinh tham gia, kể cả học sinh

    yếu.

    Để gây hứng thú cho các em học tập, trong dạy học toán giáo viên có thể thực

    hiện như sau: Trong các tiết học vận dung các hình thức dạy tích cực như: Tổ chức

    hoạt động nhóm (hoặc tổ chức làm bài theo hình thức tiếp sức) có thi đua giữa các

    nhóm, tất cả các thành viên trong nhóm đều được giao phần việc làm vừa sức phù hợp

    với năng lực từng em, các nhóm học tập linh hoạt thay đổi như nhóm nhỏ, nhóm lớn,

    nhóm cùng trình độ, nhóm ngẫu nhiên… Giáo viên phải tạo cơ hội cho tất cả các em

    được phát biểu, đặc biệt quan tâm đến học sinh yếu. Động viên khuyến khích kịp thời

    khi học sinh có tiến bộ dù là nhỏ nhất để học sinh yếu mạnh dạn, tự tin hơn. Thường

    xuyên tổ chức “Hội vui học tập” vào các tiết hoạt động tập thể. Hoặc tổ chức trò chơi

    có lồng nội dung Toán học: Hái hoa dân chủ, Tuổi thơ khám phá…

    3. Tổ chức phong trào đôi bạn cùng tiến, xây dựng môi trường học tập thân

    thiện .

    Ở lớp cũng như ở nhà, giáo viên tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên

    giúp đỡ các bạn yếu, kém. Trên lớp, cần sắp xếp 1 học sinh giỏi giúp đỡ 1 bạn học

    sinh yếu bên cạnh. Tổ chức thi đua giữa các nhóm giúp bạn, nếu bạn nào có tiến bộ

    thì biểu dương cả nhóm vào tiết chào cờ sáng thứ 2 đầu tuần. Ở nhà, giáo viên sắp xếp

    các em gần nhà nhau thành 1 nhóm và cử 1 học sinh làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng

    13

    có nhiệm vụ nhắc nhở, kiểm tra việc học bài, làm bài của các bạn và báo cáo với cô

    giáo chủ nhiệm vào đầu mỗi buổi học. Không những thế, tôi còn hướng dẫn giáo viên

    yêu cầu các em Nhóm trưởng kiểm tra kỹ về cách học, cách trình bày bài làm, chữ

    viết, của các bạn. Giáo viên kiên trì uốn nắn và sửa những thói quen xấu của các em

    như: chưa đọc kĩ đề bài trước khi làm bài tập, tính toán cẩu thả, không làm nháp hoặc

    viết lộn xộn, phát biểu không chính xác, trình bày bài tuỳ tiện, giải toán xong không

    chịu thử lại…

    Khuyến khích, động viên đúng lúc, kịp thời khi các em có tiến bộ hay đạt được

    một số kết quả (dù sự tiến bộ nhỏ nhất); phân tích, phê bình đúng mức thái độ vô

    trách nhiệm hoặc lơ là đối với nhiệm vụ học tập, nhưng tuyệt đối tránh thái độ lời nói

    chạm lòng tự ái của học sinh để các em phấn khởi học tập xóa đi ấn tượng sợ học môn

    Toán.

    Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi đã chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể, chi tiết

    cho giáo viên vận dụng các biện pháp, linh hoạt sử dụng các phương pháp dạy học

    tích cực như trên. Qua kết quả kiểm tra trên lớp, qua các bài kiểm tra… Tôi thấy các

    em học sinh yếu đã tiến bộ rất nhiều. Đến tuần thứ 6, bảy em hổng kiến thức lớp dưới

    đã nắm được bảng nhân, bảng chia đã học ở lớp 2, 3; Bốn em học yếu do hoàn cảnh

    gia đình khó khăn có tiến bộ rõ rệt, đã cố gắng vươn lên trong học tập. Đặc biệt tất cả

    các em đã tích cực, hứng thú học Toán và tiếp thu bài mới lớp 4 đạt yêu cầu.

    Giải pháp 5: Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh.

    Tôi chỉ đạo giáo viên phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức của phụ huynh về

    trách nhiệm lớn lao của phụ huynh và gia đình trong việc góp phần nâng cao chất

    lượng giáo dục. Tôi yêu cầu giáo viên phải trao đổi với phụ huynh để tìm ra biện pháp

    tốt nhất phù hợp với điều kiện và tính cách từng em giúp các em vươn lên trong học

    tập. Giáo viên phải hướng dẫn phụ huynh biết kiểm tra việc học tập của con mình.

    Phải thường xuyên giữ liên lạc với phụ huynh. Thường xuyên liên lạc thông báo kết

    quả học tập của các em qua sổ liên lạc cho phụ huynh và đề nghị phụ huynh theo dõi

    và kiểm tra bài vở của con em mình, giúp đỡ các em trong quá trình học tập ở nhà ,

    quản lý thời gian biểu của con em, ghi đầy đủ lời nhận xét vào sổ (đảm bảo thông tin

    2 chiều). Tổ chức cho giáo viên gặp mặt phụ huynh học sinh thường xuyên. Khi thấy

    học sinh chưa tiến bộ cần chủ động gặp phụ huynh để trao đổi về việc học tập của học

    sinh tiếp tục cùng với phụ huynh điều chỉnh biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn.

    Thấy được sự lo lắng của giáo viên nên phụ huynh đã thường xuyên kiểm tra việc học

    bài, làm bài của con em mình, đôn đốc các em đi học chuyên cần. Vì vậy, Học sinh

    lớp 4 của nhà trường đã tiến bộ lên rất nhiều.

    Giải pháp 6: Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn.

    14

    Toán trong toàn trường phù hợp với đối tượng học sinh yếu và điều kiện thực tế của

    lớp mình.

    Sau khi vận dụng vào thực tế dạy học “Các giải pháp cải tiến khắc phục tình

    trạng học sinh học yếu, kém môn Toán” của toàn trường nói chung và đặc biệt ở khối

    4 nói riêng, tôi thấy kết quả đạt được đáng mừng, các em học sinh yếu có nhiều

    chuyển biến rõ rệt. Tỉ lệ học sinh yếu giảm hẳn, tỉ lệ học sinh trung bình, khá giỏi

    tăng cao.

    III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

    Khi áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy các em học sinh ở lớp 4 đã tiến bộ rõ

    rệt, chất lượng học tập ngày càng được nâng lên, tỉ lệ học sinh yếu giảm.

    *) Kết quả kiểm tra định kì cuối học kì I về môn Toán ở khối lớp 4:

    Tổng

    số HS

    79

    Điểm 9-10

    Điểm 7-8

    Điểm 5- 6

    Điểm dưới 5

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    20

    25,3%

    23

    29.1%

    35

    44.3%

    1

    1.3%

    So sánh với kết quả khảo sát đầu năm tôi nhận thấy:

    Nhờ thực hiện tốt các giải pháp phụ đạo học sinh yếu, kém về môn toán mà tôi

    đã xây dựng chất lượng học tập môn toán được nâng lên rõ rệt. Tất cả học sinh yếu,

    kém môn toán ở đầu năm học của học sinh khối 4 đã lên loại trung bình có em đã đạt

    điểm khá. Không phát sinh thêm học sinh nào yếu, kém về môn toán. Số lượng học

    sinh yêu thích môn toán ngày càng tăng.

    Đồng thời, khi vận dụng các giải pháp trên cho toàn trường thực hiện, đến hết

    học kì I chất lượng nâng bậc học sinh yếu, kém về môn toán của trường chúng tôi đã

    chuyển biến rõ rệt. Toàn trường quyết tâm phấn đấu đến cuối năm học không còn học

    sinh nào còn yếu, kém về môn toán.

    16

    2. Giáo viên phải kịp thời phát hiện ra những học sinh yếu, kém thông qua các hoạt

    động học tập cũng như việc làm bài tập hàng ngày của học sinh và làm các bài kiểm

    tra định kì.

    3 . Tìm ra nguyên nhân cùng với những biểu hiện của học sinh yếu kém về môn

    Toán.

    4. Lập kế hoạch và đề ra các biện pháp phụ đạo cụ thể, rõ ràng; khi lên lớp phải

    nghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy để đề ra phương pháp và hình thức dạy học thích hợp,

    giúp các em thích thú học tập và dễ tiếp thu bài.

    5. Vận dung các phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.

    Đặc biệt, nếu học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới thì giáo viên phải dạy lại

    nội dung đó vào các buổi học tăng cường hoặc trong ngay tiết học chính khoá để “lấp

    lỗ hổng kiến thức” cho học sinh.

    6. Tổ chức các giờ dạy một cách linh hoạt, biết vận dung các trò chơi học tập để kích

    thích sự hứng thú của học sinh.

    7. Trong giảng dạy, giáo viên phải nhẹ nhàng, kiên trì, chịu khó, biết động viên kịp

    thời khi các em tiến bộ (dù là một tràng vỗ tay của cả lớp hay lời khen của cô) nhưng

    cũng cần khéo léo nhắc nhở những học sinh có thái độ lơ là đối với nhiệm vụ học tập.

    8. Thường xuyên liên lạc, trao đổi với phụ huynh học sinh về kết quả học tập của các

    em. Biết thông cảm và chia sẻ với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp các

    em xoá bỏ những mặc cảm và biết vươn lên trong học tập.

    9. Tổ chức cho học sinh khá giỏi thường xuyên giúp đỡ những bạn yếu, kém về cách

    học tập, về phương pháp vận dung kiến thức, giúp các em có phương pháp học tập tốt.

    10. Áp dụng thường xuyên các biện pháp phụ đạo học sinh yếu, kém môn toán song

    song với các môn học khác đối với tất cả học sinh yếu các khối lớp.

    2. Ý kiến đề xuất:

    a. Đối với giáo viên:

    Phải đề cao trách nhiệm của mỗi giáo viên trong việc khắc phục học sinh học

    yếu. Bởi vì giáo viên là người chủ đạo trong việc này. Khi lập kế hoạch bài học (tất cả

    các tiết học), Giáo viên phải xây dựng các hoạt động học tập phù hợp với từng nhóm

    đối tượng học sinh. Phải có nội dung dạy cho học sinh yếu. Phải tích cực cùng với tổ

    chuyên môn và nhà trường đề ra biện pháp hợp lý và thực hiện có hiệu quả việc khắc

    phục tình trạng học sinh học yếu.

    b. Đối với nhà trường:

    18

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Viết Đúng Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Phân Môn Vẽ Trang Trí
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Phân Môn Vẽ Trang Trí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ Đạt Hiệu Quả
  • Biện Pháp Giúp Trẻ Khó Khăn Về Ngôn Ngữ Qua Các Hoạt Động Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Giúp Trẻ Khuyết Tật “chậm Phát Triển Trí Tuệ, Ngôn Ngữ Kém” Hoà Nhập Với Trường Mầm Non
  • Thứ ba – 27/05/2014 14:39

    PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

    TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO

    CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

    Người thực hiện: Phạm Thị Hằng

    Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1

    Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

    Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

    1

    1

    4

    2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

    5

    2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

    2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

    2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

    2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

    2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

    6

    2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

    Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

    Phép cộng trong phạm vi 7

    – Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    – Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.

    – HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7

    * Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.

    II : Đồ dùng dạy học

    – Bộ đồ dùng dạy toán.

    III: Các hoạt động dạy học chủ yếu

    Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7

    HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

    : Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng

    HS ghi bảng con các phép tính đã lập

    6+1=7 4+3=7

    1+6=7 3+4=7

    5+2=7 2+5=7

    HS làm việc theo nhóm đôi.

    – HS đọc và đối chiếu kết quả

    : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

    : HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập.

    – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

    Hoạt động 2: Thực hành

    Bài 1: Tính

    – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK

    – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

    Bài 2: Tính

    – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

    – Gv nhận xét chốt lại nội dung bài

    – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

    Bài 3: Tính

    – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm.

    – Gv nhận xét

    Bài 4: Viết phép tính thích hợp

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán.

    B1: Quan sát tranh

    B2: Đặt đề toán.

    a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm?

    b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim?

    B3: Viết phép tính

    * Củng cố dặn dò

    – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7

    – GV nhận xét xếp giờ

    – H/s quan sát hình và nêu thành bài toán

    – HS 6 cộng 1 bằng 7

    – HS đọc phép tính 6+1=7

    ( CN-N-L)

    – HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV.

    – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

    – HS trao đổi nhóm đôi.

    – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7.

    – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả

    – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7.

    – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

    – HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK

    – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

    6 2 3 4 1 5

    + + + + + +

    1 5 4 3 6 2

    7 7 7 7 7 7

    – HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con.

    7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7

    – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài.

    – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính

    5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6

    – HS làm bài tập và chữa bài

    – HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

    – HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

    – Viết phép tính thích hợp vào ô trống

    a/ 6+1=7

    b/ 4+3=7

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quả

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9 3+6=9

    1+8=9 6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh

    4. Nói ít

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    – Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …

    3.5

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    Phạm Thị Hằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh
  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm ?
  • Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì?
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • I. MỞ ĐẦU:

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

    Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

    lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

    được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

    lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

    nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

    đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

    minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

    giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

    tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

    và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

    tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

    một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

    minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

    phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

    hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

    là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

    hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

    được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

    thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

    một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

    tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

    không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

    khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

    sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

    còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

    Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

    nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

    nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

    một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

    toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

    lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

    1

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

    trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

    dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

    trong nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

    học Đông Vệ 1.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp điều tra thống kê.

    – Phương pháp so sánh, đối chiếu.

    – Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

    2

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận :

    Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

    đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

    phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

    quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

    được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

    học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

    toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

    như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

    Nhiệm vụ của người giáo viên

    Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

    dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

    lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

    động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

    Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

    Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

    Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

    Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

    tam giác, hình tròn.

    Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

    Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

    cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

    trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

    + Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

    thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

    phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

    lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

    thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

    + Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

    trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

    đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

    hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

    diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

    tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

    trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

    Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

    3

    – Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

    thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

    máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

    tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

    nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

    thức.

    – Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

    môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

    chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

    để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

    – Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

    dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

    khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

    chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

    tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

    cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

    điều tra cụ thể như sau:

    42

    Hoàn cảnh học sinh

    Con gia đình cán bộ

    Con gia đình lao động tự do

    Con gia đình công nhân

    SL

    %

    Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

    những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

    * Thuận lợi:

    Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

    quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

    lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

    viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

    xử lí tình huống trong nhóm.

    Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

    hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

    5

    3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

    – Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

    bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

    không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

    động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

    thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

    chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

    tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

    tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

    thói quen cho học sinh.

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

    que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

    cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

    kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

    sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

    yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

    thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

    cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

    nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

    nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

    luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

    sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

    học sinh mới hiểu được.

    7

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

    phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

    thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9

    3+6=9

    1+8=9

    6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

    thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

    sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

    hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    * Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

    lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

    dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

    động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

    toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

    4. Nói ít, tránh nói nhiều.

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

    hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

    trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

    hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

    hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

    tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

    khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    8

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

    quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

    dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

    kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

    HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

    trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

    nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

    chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

    tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

    vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

    em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

    quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

    học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

    chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

    động nhóm …

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

    học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

    30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

    hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

    thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

    tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

    cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

    thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

    đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

    Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

    giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

    được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

    dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

    kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

    nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

    được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

    9

    1C

    42

    THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

    KẾT QUẢ

    Cuối kỳ I

    10

    Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

    viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Người thực hiện

    Hồ Thị Mai

    11

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    I. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Mục đích nghiên cứu

    3. Đối tượng nghiên cứu

    4. Phương pháp nghiên cứu

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

    3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

    3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

    dạy học.

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

    dùng trực quan.

    3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

    hơn.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    2. Kiến nghị

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Và Thi Vào Lớp 10 Bộ Môn Toán : Trường Thcs Quảng Long
  • Bài Tham Luận Về Công Tác Ôn Thi Ts Vào Lớp 10 Thpt Của Đồng Chí Trần Thị Kim Cúc Trong Hội Cb,cnvc,nlđ Năm Học 2022
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia, Chăn Nuôi, Nâng Cao Đời Sống Cán Bộ, Chiến Sĩ
  • Kho Kx3 Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Chăn Nuôi Góp Phần Nâng Cao Đời Sống Bộ Đội
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Nữ Công Công Đoàn Các Cấp Trong Nhiệm Kỳ Mới
  • PHÒNG GD-ĐT DẦU TIẾNG

    TRƯỜNG THCS THANH AN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập  -  Tự do  -  Hạnh phúc

    Số:           /THCS

     

    Thanh An, ngày  06  tháng 9

    năm 2022

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP

     NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN SINH 10

      

    Thực hiện Công văn số 101/PGDĐT về việc yêu cầu xây dựng Kế hoạch, giải pháp nâng cao chất lượng kỳ thi tuyển sinh 10 năm học 2022-2019 ngày 24 tháng 8 năm 2022 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Dầu Tiếng;

      Trường THCS Thanh An xây dựng kế hoạch, giải pháp gổm những nội dung trọng tâm sau:

    I . CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA BGH:

    Lãnh đạo nhà trường  làm tốt công tác tham mưu với các cấp ngành quan tâm đầu tư cở sở vật chất trường học.

    Tổ chức họp sinh hoạt chuyên môn đi vào chiều sâu, có hiệu quả từng bước đổi mới sinh hoạt  chuyên môn. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao vai trò và phát huy hiệu quả hoạt động của tổ/nhóm chuyên môn.

     Phối hợp Ban đại diện cha mẹ học sinh để giáo dục học sinh.

                   

     

    Tận dụng nguồn ngân sách nhà nước, tạo điều kịên quan tâm mua sắm nhu cầu phục vụ chuyên môn mua sắm thiết bị phục vụ dạy học.

    Phân công giáo viên có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình,tận tụy để giảng dạy khối cuối cấp.         

    Sử dụng có hiệu quả các nguồn quỹ vận động đúng quy định để bồi dưỡng  Giáo viên ôn tuyển sinh 10.      

    Phân bố sĩ số ở khối 9  phù hợp không quá đông để  giáo viên có điều kiện tiếp cận từng học sinh, từ đó có kế hoạch ôn tập phù hợp cho từng loại đối tượng.

    Chia lớp ôn tuyển sinh theo 3 loại đối tượng HS để dễ dàng ôn theo từng loại đối tượng sao cho thích hợp.

    Kiên quyết xử lý học sinh vi phạm nội quy và  ôn thi tuyển sinh 10.

    Nhà trường  vận động PHHS cùng quan tâm quản lý học sinh, tránh tư tưởng chủ quan, không động viên khích lệ các em.

    Quản lý chuyên môn chú trọng tính kế thừa, yêu cầu tất cả giáo viên các bộ môn từ 6 đến 9 cùng chung tay, cùng chia sẻ trách nhiệm với nhau, cùng chung sức tận tâm, tận tụy, cùng nhận trách nhiệm chung kết quả tuyển sinh 10 là kết quả của một quá trình học tập và giảng dạy của cả cấp học, không phải là chỉ là kết quả của giáo viên giảng dạy lớp cuối cấp hay  chỉ của  ba môn Văn- Toán – Anh.        

    Bố trí coi thi kiểm tra, thi học kỳ, phân công  giám thị coi kiểm tra nghiêm túc  để giúp các em quen dần tránh áp lực gây căng thẳng khi các em đi thi tuyển sinh.

    Tổ chức cho học sinh lớp cuối cấp tham gia các hoạt động phong trào, TDTT vừa đủ để các em có nhiều thời gian đầu tư cho học tập.

    Tham mưu chính quyền địa phương tìm ra phương án hạn chế tối đa các tác hại từ các tụ điểm game.

    II. ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN

    1.Giải pháp chung:

    Nghiên cứu kĩ nội dung và phân tích các hoạt động sư phạm chuẩn bị kỹ trước khi lên lớp.

    Soạn kế hoạch lên lớp, xác định trọng tâm kiến thức, kĩ năng bài học và các hình thức tổ chức các hoạt động trong tiết dạy.

    Khi soạn bài phải chú ý đến tính vừa sức của học sinh.

    Lựa chọn hình thức tổ chức tiết dạy phù hợp với điều kiện cở sở vật chất của lớp, phù hợp với nội dung bài dạy môn dạy.

    Chuẩn bị đồ dùng dạy học

    . L

    ựa chọn phư

    ơng 

     pháp

    phù hợp.Th

    ườ

    ng xuyên tăng cường việc dự giờ thăm lớp và kiểm tra chất lượng học  tập của học sinh.

     Nhiệt tình, sáng tạo, tạo tâm thế vững vàng khi được nhà trường giao nhiệm vụ.

     Nắm chắc từng đối tượng học sinh, nhất là học sinh yếu kém, tạo cơ hội bằng cách hướng dẫn cho các em biết tìm tòi, suy nghĩ nhằm nâng cao chất lượng đại trà.

    Bám chuẩn kiến thức kĩ năng, bám theo các chuyên đề ôn thị vào lớp 10 mà giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong huyện đã xây dựng

    Liên hệ mật thiết giữa giáo viên bộ môn với giáo viên giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh khi có học sinh nghỉ học…

    Lên chương trình có sự bàn bạc, thống nhất giữa hai giáo viên cùng dạy/ bộ môn.

    Nghiên cứu, soạn bài kĩ trước khi đến lớp.

    Có đủ hồ sơ theo quy định của chuyên môn.  

    Thường xuyên kiểm tra vở ghi, vở bài tập để kịp thời uốn nắn đối với những em học đối phó, lười học.

    Luôn gần gũi, động viên, khích lệ để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các em.

    Trong trường, trước mắt tăng cường phụ đạo HS yếu kém của lớp 9,  (vấn đề này không chỉ giáo viên mà đòi hỏi cả địa phương, phụ huynh cùng nhau bàn bạc tháo gỡ)

    Huy động gia đình, xã hội cùng chia sẻ trách nhiệm với nhà trường trong việc khắc phục tình trạng học sinh học yếu kém.

    2.Giải pháp riêng

    a.Môn Toán:

    Giáo viên không ngừng đầu tư, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm qua các tiết dự giờ đồng nghiệp, sinh hoạt chuyên môn theo cụm, trường,… Nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến và đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với các đối tượng học sinh.

     Giáo viên luôn có nhiệt huyết với nghề, quan tâm, động viên khi các em cần sự giúp đỡ để tạo động lực, chỗ dựa tinh thần giúp các em cố gắng vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như cuộc sống riêng ở gia đình.

    Dành nhiều thời gian kiểm tra bài tập của học sinh, trả bài kiểm tra phải có nhận xét cụ thể trên bài, giúp các em nhận ra cái sai khi trình bày. Giáo viên cần tập cho học sinh thấy cái hay và những hạn chế, nhất là những lỗi sai cơ bản để các em có hướng khắc phục ở những bài làm sau.

    Cho HS làm bài tập phù hợp từng loại đối tượng, tránh quá tải gây ra cho HS chán nản “ buông xuôi”.

    Luôn chú trọng phương pháp học tập : “Đôi bạn cùng tiến”, Phát huy tối đa tinh thần tự học của HS mà qua đó GV chỉ là người hỗ trợ.

      Chú ý hệ thống bài tập phải đa dạng

    v

    à phân mức từ dễ đến

    khó để HS có thể nâng cao. Thường xuyên giải mẫu những  đề thi của các năm trước qua đó HS tự đánh giá khả năng của mình.

    Tham mưu với BGH nhà trường những kế hoạch ôn tập khi cần sự hỗ trợ từ nhà trường.

    Kết hợp chặt chẽ với GVCN, PHHS thường xuyên quan tâm, nhắc nhở, uốn nắn các em. Giáo dục học sinh nhận thức đúng đắn về thái độ học tập của các em từ đó các em mới có phương pháp và ý thức học tập tốt.

    Định hướng  cho các em có nhận thức đúng về mục đích, động cơ học tập. Bên cạnh cần nghiêm khắc phê bình học sinh học tập chưa tốt phải luôn động viên các em có tiến bộ dù ít nhất.

    b.Môn Anh Văn

    Tổ chức thi thử bằng cách sử dụng đề thi tuyển sinh của những năm trước.

     Tăng cường tiết dạy phụ đạo cho học sinh.

     Dạy từng điểm ngữ pháp rõ ràng và cách làm các dạng bài tập cho kỳ thi tuyển sinh.

     Bám sát các dạng bài tập có trong đề thi : Multiple choice, Gap fill, Rewrite the sentences, …..

      Dành thời gian kiểm tra lý thuyết (công thức, cách biến đổi…) và sửa bài tập về nhà cho học sinh ngay ở tiết sau đó.

    Đối với phần từ vựng: thực tế tình hình học sinh không thuộc từ rất nhiều, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả bài thi của các em. Các em sẽ gặp khó ở phần thay đổi từ loại của từ và bài đọc. Vì thế, cần hệ thống lại từ vựng theo từng đơn vị bài học.

     Sau khi hoàn tất kế hoạch giảng dạy. Cần dành thời gian để cho học sinh làm quen với các dạng đề tuyển sinh.

    Giáo viên tổ chức thi thử và hướng dẫn học sinh cách làm bài và quy chế thi

    c.Môn Ngữ văn

    Giáo viên bộ môn duy trì kiểm tra miệng đầu giờ học.

    Kết hợp chặt chẽ và kịp thời với GVCN khi HS vi phạm nội qui nhà trường. (không học bài cũ nhiều lần, không chép bài đầy đủ, đi học không chuyên cần).

     Tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch dự giờ thăm lớp thuận lợi nhất để giáo viên cùng môn tham gia dự giờ góp ý. Thực hiện tốt công tác động viên, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của giáo viên để có giải pháp hiệu quả nhất phù hợp với đặt điểm của lớp học và khả năng tiếp hu bài của học sinh.

    Tập thể giáo viên trong tổ  cần nhiệt tình góp ý kiến xây dựng bài mỗi khi dự giờ thao giảng đồng nghiệp .

    Giáo viên trực tiếp giảng dạy nắm vững kết quả học tập của học sinh để kịp thời phối hợp với GVCN, phối hợp với phụ huynh để có biện pháp giáo dục tốt nhất.

    Giáo viên cần hướng dẫn HS cách ghi chép, trình bày đủ nội dung.

    Đa dạng hóa hình thức kiểm tra (kiểm tra sgk, vỡ ghi, kiểm tra miệng thường xuyên).

    Giáo viên chủ nhiệm quản lý lớp chú trọng nề nếp học tập của học sinh, nội quy và khen thưởng khích lệ học sinh có tiến bộ.

    Hướng dẫn HS đọc và tóm tắt văn bản ở nhà.Tiết ôn buổi chiều rèn cho học sinh cách viết đoạn.

    Học sinh cần thuộc tất cả các khái niệm để vận dụng vào bài tập ở phân môn Tiếng việt.

    3. Yêu cầu học sinh:

    Học sinh phải có kỷ luật tốt, lễ phép, thực hiện tốt nội quy của nhà trường

    Học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa. Tích cực trong học tập nghiên cứu và tham khảo tài liệu.

     Chủ động trong học tập, rèn luyện và tự học theo hướng dẫn của thầy cô.       

    Tham gia các hoạt động phong trào mang tính giáo dục cộng đồng và tham gia các hoạt động về nguồn, ngoại khoá; vừa giúp trò thư giãn vừa rèn luyện kỷ năng sống, kỷ năng ứng xử giao tiếp….

              

    Cần xác định động cơ, thái độ học tập đúng đắn; học cho ai, học để làm gì để từ đó có cách học cho mình.  

    Thực hiện nghiêm túc lịch ôn thi, thời khóa biểu của nhà trường.         

    Tham gia học ôn đầy đủ, đi học chuyên cần.        

     

    Đ

    ến lớp ghi chép bài đầy đủ, lắng nghe thầy cô giáo giảng bài.        

     Làm đầy đủ bài tập mà thầy cô

    hướng dẫn tự học ở

    nhà.         

    Sắp xếp lịch  tự học phù hợp cho các bộ môn

    .

     Học sinh lớp 9 cần hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học theo hướng dẫn của giáo viên, học cần cù, chịu khó, sáng tạo, không lệ thuộc vào giáo viên. Trong quá trình kiểm tra phải nghiêm túc, phải dành thời gian trong một ngày để tự học, hạn chế việc đi chơi điện tử, trốn học,…. mắc các tệ nạn xã hội.

    III. CÔNG TÁC QUẢN LÝ, THỰC HIỆN:

     Tuyên truyền vận động, Hiệu trưởng nhà trường thường xuyên nhắc nhở học sinh nội dung tuyển sinh 10 trong các buổi sinh hoạt đầu tuần, nhằm mục đính  giúp các em hiểu rõ tầm quan trọng của lớp cuối cấp và tầm quan trọng của tuyển sinh 10. Tránh hiện tượng các em lơ là, chủ quan như học lớp 6,7,8, chống tư tưởng học đối phó đến cuối năm mới lo thì không kịp.

     Hiệu trưởng tổ chức họp PHHS riêng cho khối 9 nội dung bàn sâu về công tác chuẩn bị thi tuyển sinh 10 ngay từ đầu, giữa học kỳI. Trong đó yêu cầu GVCN phải nêu rõ những ưu khuyết điểm của từng em để thông qua đó nhờ PHHS tác động  thêm về tầm quan trọng của lớp cuối cấp và tuyển sinh 10 cùng với nhà trường quản lý con em của mình tốt hơn tránh hiện tượng vì bảo vệ con nên PHHS bao che, tạo thói quen ỷ lại của học sinh.

     Phân công cụ thể trách nhiệm của Tổ trưởng trong việc hỗ trợ, dự giờ góp ý cho giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp cuối cấp tạo môi trường thân thiện trao đổi về phương pháp, cách dạy… hiệu quả phù hợp với học sinh.

    Hiệu phó chuyên môn thường xuyên kiểm tra thực tế công tác giảng dạy tại lớp, kiểm tra đột xuất về công tác giảng dạy của giáo viên. Đặc biệt chú ý đến hiệu quả giảng dạy tiết dạy buổi chiều, thực hiện ngay từ đầu năm học đến đâu định hướng nội dung trọng tâm ôn tuyển sinh để các em có sự ghi nhớ trong học tập.

    Ban giám hiệu hỗ trợ giáo viên chủ nhiệm trong việc xử lý học sinh chậm tiến, thường xuyên vi phạm nội quy, tránh hiện tượng xử lý không đến nơi đến chốn tạo tâm lý xem thường nội quy, chậm tiến lôi kéo nhiều học sinh khác cùng tham gia.

    Thực hiện tốt công tác kiểm tra đánh giá theo mức độ tiến bộ của học sinh  lớp chủ nhiệm, của chất lượng bộ môn để đánh giá xếp loại giáo viên.

    Thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ của nhà trường.

    Thực hiện đúng quy định của ngành về việc xử lý cán bộ giáo viên vi phạm quy chế.

    Sử dụng kinh phí khen thưởng phù hợp  để khen thưởng những giáo viên có kết quả ôn tuyển sinh 10 đạt, bằng và trên tỷ lệ chung của huyện và của tỉnh.

    Căn cứ vào kết quả tuyển sinh 10 để xét thi đua của tổ ( mỗi tổ chịu trách nhiệm 1 môn  trong ba môn trọng tâm Văn- Tóan- Anh) và thi đua cá nhân.

    Thực hiện tốt công tác thi đua trong học sinh, giữa các lớp tạo động lực các em quan tâm giúp đỡ nhau trong học tập.  

    Đề nghị 100% CB-GV-NV cùng chung tay vào cuộc, thì kết quả tuyển sinh lớp 10 năm học 2022-2020 sẽ có những tiến bộ rõ rệt./.

                                                                     HIỆU TRƯỞNG

                                                                      Lê Văn Hải

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Hội Nông Dân
  • Sinh Hoạt Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ – Viện Nghiên Cứu Thanh Niên
  • Giải Pháp Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Nhằm Tăng Sức Hấp Dẫn Và Sức Cạnh Tranh Cho Du Lịch Hà Nội – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Nâng Cao Chất Lượng Các Sản Phẩm Du Lịch
  • Skkn Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Của Tổ Chuyên Môn Trường Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Vật Lý Theo Mô Hình Cdio”
  • Những Ai Không Nên Đặt Vòng Tránh Thai?
  • Quy Định An Toàn Làm Việc Trên Cao
  • Huấn Luyện An Toàn Lao Động Làm Việc Trên Cao
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

     * CHUNG

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

          9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

          9/2: 8 / 27 (29,63%)

          9/3 : 5 / 31 (16,13%)

          9/4: 6/ 28 (21,43%)

          9/5: 5 / 29  (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

     Cụ thể:  9/1 Yếu: 1; kém: 1

                   9/2: yếu: 12; kém: 7

                   9/3: yếu: 12; kém : 14

                   9/4: yếu: 8; kém: 14

                   9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    -  Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

      1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

     - Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

     -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    - Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

     Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học  (nghĩa là đối chia huyền)

                                             Cosin không hư  (nghĩa là kề chia huyền)

                                             Tang đoàn kết  (nghĩa là đối chia kề)

                                             Cotang kết đoàn”  (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    V. ĐỀ XUẤT:

    *Đối với giáo viên:

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    *Đối với phụ huynh:

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    *Đối với BGH:

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100