Top 2 # Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Yêu Cầu Điều Tra Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Bản Yêu Cầu Điều Tra.

Đề ra yêu cầu điều tra là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên. Thực hiện tốt việc đề ra yêu cầu điều tra sẽ góp phần xử lý vụ án đảm bảo đúng pháp luật, không xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Khoản 2 Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra”.

Điều 19 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 2/1/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao) quy định: “Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình điều tra”.

Chỉ thị số06/CT-VKSTCngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” yêu cầu Viện kiểm sát các cấp chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra đảm bảo có căn cứ, sát với nội dung vụ án. Kiểm sát viên phải nắm chắc tiến độ điều tra, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra để xử lý vụ án kịp thời.

Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của VKSTC-BCA-TATC hướng dẫn quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung quy định về trách nhiệm của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung: “Không đề ra yêu cầu điều tra hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với những vấn đề có thể phát hiện được dẫn đến sau đó vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung”.

Kế hoạch công tác hàng năm của ngành Kiểm sát Bắc Giang đều yêu cầu các đơn vị phải thực hiện tốt các quy định tại Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự trong đó chú trọng việc đề ra yêu cầu điều tra…

Như vậy, đề ra yêu cầu điều tra là nhiệm vụ và nhưng cũng là quyền hạn của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự và có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, Kiểm sát viên cần xác định việc đề ra yêu cầu điều tra là việc làm bắt buộc nghĩa là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra bất kỳ vụ án hình sự nào thì đều phải ban hành yêu cầu điều tra không phân biệt tính chất vụ án, mức độ, hậu quả của tội phạm.

Trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra về những nội dung sau:

Thứ nhất, yêu cầu điều tra với những nội dung mang tính định hướng cho hoạt động điều tra, thể hiện qua các dạng yêu cầu như yêu cầu tiến hành điều tra những tình tiết của vụ án chưa được điều tra hoặc đã được điều tra nhưng chưa rõ; chứng minh tính có căn cứ của những chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập; giải quyết các mâu thuẫn giữa các chứng cứ; yêu cầu Cơ quan điều tra ban hành và thực hiện các quyết định tố tụng hình sự để giải quyết vụ án hoặc định hướng giải quyết vụ án như: Quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định nhập, tách, chuyển vụ án hình sự, các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra , quyết định bổ sung, thay đổi quyết định khởi tố bị can …

Thứ hai, yêu cầu điều tra về những nội dung mang tính chỉ dẫn cho hoạt động điều tra như: Yêu cầu áp dụng và thực hiện các biện pháp để thu thập chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; thực nghiệm điều tra; khám xét dấu vết trên thân thể; trưng cầu giám định; giám định bổ sung; giám định lại; khám xét, thu giữ đồ vật tài sản; yêu cầu lấy lời khai người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can về những nội dung cần chứng minh, làm rõ, yêu cầu tiến hành đối chất, nhận dạng; yêu cầu áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn…

Một bản yêu cầu điều tra có chất lượng phải đảm bảo cả về hình thức và nội dung. Hình thức văn bản được soạn thảo và ban hành theo mẫu quy định. Nội dung yêu cầu điều tra phải đảm bảo cụ thể, rõ ràng, đúng trọng tâm và cần thiết để làm rõ tất cả các vấn đề pháp lý của vụ án, có tính khả thi, không mang tính hình thức.

Từ thực tiễn công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, chúng tôi cho rằng để nâng cao chất lượng bản yêu cầu điều tra cần thực hiện một số giải pháp sau:

– Kiểm sát viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ban hành yêu cầu điều tra; phải xác định việc ban hành yêu cầu điều tra là nhiệm vụ bắt buộc trong quá trình kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, đối với bất kỳ vụ án nào và nhất thiết phải thực hiện bằng văn bản; tuyệt đối tránh hình thức, qua loa.

– Trước khi ban hành yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án. Nội dung yêu cầu điều tra phải được xây dựng dựa trên thông tin được phản ánh qua các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật, không được dựa trên suy diễn chủ quan và điều quan trọng là Cơ quan điều tra có thể thực hiện được theo quy định của pháp luật; cần tập chung vào việc yêu cầu thực hiện các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ và thủ tục tố tụng của vụ án.

– Yêu cầu điều tra phải được đề ra sớm ngay khi vụ án được khởi tố hoặc Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Đồng thời phải được thay đổi, bổ sung khi hoạt động điều tra thu thập được những tài liệu, chứng cứ mới của vụ án mà cần thiết phải được chứng minh làm rõ.

– Lãnh đạo Viện kiểm sát cần chú trọng quan tâm việc hướng dẫn, chỉ đạo kiểm sát viên đối với việc ra yêu cầu điều tra và nhất thiết phải duyệt văn bản này trước khi ban hành; thường xuyên tiến hành rút kinh nghiệm trong đơn vị; tăng cường công tác bồi dưỡng tại chỗ cho Kiểm sát viên về kỹ năng xây dựng bản yêu cầu điều tra.

Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả việc đề ra yêu cầu điều tra góp phần giải quyết vụ án đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; phát huy vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp./.

Nguyễn Ngọc Cường

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bản Yêu Cầu Điều Tra Của Kiểm Sát Viên

   Một số giải pháp nâng cao chất lượng Bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên

Thứ hai – 14/11/2016 20:27

          Yêu cầu điều tra là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên. Trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, một bản Yêu cầu điều tra có chất lượng giúp ích rất nhiều cho Cơ quan điều tra trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng, góp phần tích cực vào việc giải quyết vụ án. Điều này được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 37 và Khoản 2 Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003; Điểm e Khoản 1 Điều 42 và Khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 và Chỉ thị 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.

          Đồng chí Bùi Mạnh Cường – Phó Viện trưởng VKSNDTC đã khái quát đầy đủ, cụ thể, chi tiết và bao quát toàn bộ những việc cần làm của một bản yêu cầu điều tra, đó là: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện, nêu rõ những vấn đề điều tra cần thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật”.

          Theo quy định, yêu cầu điều tra được thể hiện dưới hai hình thức: bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Chỉ có thể thực hiện bằng lời nói khi kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra. Tóm lại là trong các trường hợp Kiểm sát viên không thể hoặc không có điều kiện ra yêu cầu điều tra bằng văn bản. Trong phạm vi bài viết này, tôi muốn nhấn mạnh đến yêu cầu điều tra bằng văn bản.

          Tuy nhiên trên thực tiễn cho thấy, một số Kiểm sát viên chưa thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình kiểm sát điều tra. Kiểm sát viên đã không thường xuyên nghiên cứu hồ sơ để nắm chắc tiến độ điều tra vụ án nên không đề ra những yêu cầu điều tra sát thực, đầy đủ để định hướng điều tra, chỉ đạo điều tra vụ án. Hơn nữa, do chủ quan nên một số Kiểm sát viên đã coi nhẹ yêu cầu điều tra chỉ xem nó như một thủ tục tố tụng cần phải có, vô hình chung làm mất đi quyền năng vốn có mà pháp luật đã trao cho.

          Để có một văn bản yêu cầu điều tra có chất lượng, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, trên cơ sở những chứng cứ tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, định hướng đúng và phải suy luận có căn cứ, không suy đoán hoặc suy diễn một cách tùy tiện. Kinh nghiệm cho thấy, khi đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên cần tập trung vào hai vấn đề chính đó là về thủ tục tố tụng và về thu thập chứng cứ.

          Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu điều tra đặt ra là việc thu thập chứng cứ phải đảm bảo đúng thủ tục tố tụng là một yêu cầu bắt buộc để đảm bảo giá trị pháp lý, giá trị chứng minh của chứng cứ trong vụ án hình sự. Do vậy Kiểm sát viên phải hết sức chú ý, khi kiểm tra tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập, nếu phát hiện có vi phạm thì kiên quyết phải yêu cầu bổ sung cho đúng thủ tục.

          Về chứng cứ vụ án: Yêu cầu Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp điều tra để thu thập chứng cứ như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; thực nghiệm điều tra; khám xét dấu vết trên thân thể; trưng cầu giám định; giám định bổ sung; giám định lại; khám xét, thu giữ đồ vật tài sản; yêu cầu lấy lời khai người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can về những nội dung cần chứng minh, làm rõ; yêu cầu tiến hành đối chất, nhận dạng…

          Làm rõ có hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can và những đặc điểm về nhân thân của bị can; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra…

          Qua thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố, để có một bản yêu cầu điều tra hiệu quả, thật sự có chất lượng, tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

          Thứ nhất, cần quán triệt cho Kiểm sát viên có nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của bản yêu cầu điều tra; phải xác định việc ban hành yêu cầu điều tra là nhiệm vụ bắt buộc trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, đối với bất kỳ vụ án nào, bắt đầu ngay từ giai đoạn tin báo.

          Thứ hai, nắm chắc các bước quan trọng trong việc xây dựng bản yêu cầu điều tra. Cụ thể:

          – Bước 2: Đặt các giả thuyết để hình dung toàn bộ diễn biến của vụ án, rồi đặt ra các câu hỏi và câu trả lời về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án (đánh giá chứng cứ để xác định về câu hỏi đó có thể trả lời được không? Có chắc chắn đủ căn cứ không? Nếu không, thì phải làm gì để có câu trả lời chính xác?…).

          – Bước 3: Xem xét kỹ những nội dung nào về thủ tục tố tụng chưa thực hiện hay đã thực hiện nhưng chưa đúng quy định của BLTTHS thì phải yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện và khắc phục bổ sung.

          – Bước 4: Soạn thảo yêu cầu điều tra đảm bảo đúng hình thức, nội dung quy định và phải thông qua lãnh đạo phụ trách trước khi ban hành.

          Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi tiến độ điều tra, nắm những vấn đề phát sinh cần điều tra tiếp thì trao đổi trực tiếp bằng lời nói với Cơ quan điều tra hoặc ra bản yêu cầu điều tra bổ sung. Trước khi kết thúc điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ lại một lần cuối để xác định những nội dung trong bản yêu cầu điều tra đã thực hiện hết chưa, nếu chưa hoàn thiện thì yêu cầu hoàn thiện trước khi ban hành kết luận điều tra.

          Thứ ba, làm tốt công tác phối hợp giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên trong việc thực hiện bản yêu cầu điều tra nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Trong những trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung bị can, lấy lời khai, tiến hành xác minh… 

          Thứ năm, Lãnh đạo phụ trách cần giám sát, kiểm tra đối với Kiểm sát viên trong quá trình đề ra yêu cầu điều tra, việc thực hiện yêu cầu điều tra của Cơ quan điều tra để có những điều chỉnh kịp thời khi cần thiết.

          Nếu làm tốt được những nội dung nêu trên chắc chắn chất lượng bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên sẽ được nâng cao, xứng đáng là sản phẩm của ý chí, thể hiện năng lực, trình độ cá nhân của Kiểm sát viên và đại diện cho quyền năng của đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự.

 

Phùng Gia Tự

Cần Nhận Thức Đầy Đủ Để Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Lực Và Hiệu Quả Bản Yêu Cầu Điều Tra Của Kiểm Sát Viên

Đề ra yêu cầu điều tra là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên. Trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, việc đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Tuy nhiên, việc thực hiện bằng văn bản là cơ bản và chủ yếu, nó thể hiện đầy đủ ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án và được lưu trong hồ sơ tố tụng. Một bản yêu cầu điều tra có chất lượng giúp ích rất nhiều cho Điều tra viên trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng, góp phần tích cực vào việc giải quyết vụ án. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi sẽ bàn sâu về một số nội dung cần nhận thức đầy đủ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, không bàn về việc đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói.

Khái niệm về bản yêu cầu điều tra Để nâng cao chất lượng của bản yêu cầu điều tra, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là bản yêu cầu điều tra.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Kiểm sát viên có quyền “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra” (điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 112 BLTTHS).

Từ những quy định nêu trên, bản yêu cầu điều tra có thể được khái niệm như sau:

“Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện, nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật “.

Về vị trí vai trò, tầm quan trọng của bản yêu cầu điều tra

Cần phải khẳng định rằng, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra” là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với một vụ án hình sự. Thông qua bản yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng của một vụ án hình sự; nó là quyền năng nhưng đồng thời cũng thể hiện trình độ, năng lực của Kiểm sát viên. Kinh nghiệm cho thấy, nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực, bám sát tiến độ điều tra, nắm chắc hồ sơ vụ án thì đề ra được bản yêu cầu điều tra có chất lượng, giúp ích rất nhiều cho Điều tra viên nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên không có trình độ, năng lực, không nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án thì chỉ đề ra những yêu cầu chung chung, thậm chí nêu lên những yêu cầu không cần thiết khiến cho Điều tra viên không thể thực hiện được, làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả điều tra đối với vụ án.

Từ phân tích trên cho thấy, bản yêu cầu điều tra có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt, là biểu hiện tập trung nhất của việc tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên, gắn trách nhiệm của Kiểm sát viên với Điều tra viên trong việc điều tra vụ án.

Về giá trị pháp lý (hiệu lực) của bản yêu cầu điều tra

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 112 BLTTHS thì Kiểm sát viên có quyền “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra”.

Theo quy định tại Điều 19 của Quy chế số 07, và trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát quy định tại Điều 114 BLTTHS thì bản yêu cầu điều tra là văn bản tố tụng, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, bản yêu cầu điều tra không phải là văn bản bắt buộc thực hiện như các quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam… (khoản 4 Điều 112 BLTTHS); huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật (khoản 5 Điều 112 BLTTHS); và quyết định truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ bị can (khoản 6 Điều 112 BLTTHS) mà nó có tính chất “bắt buộc tương đối”. “Bắt buộc tương đối” ở đây có thể hiểu: Nếu bản yêu cầu điều tra có chất lượng, nêu rõ được những vấn đề cần điều tra, thu thập để củng cố chứng cứ, hoàn thiện thủ tục tố tụng để xử lý vụ án thì Điều tra viên bắt buộc phải thi hành; trường hợp bản yêu cầu điều tra nêu không cụ thể, thậm chí những nội dung nêu ra không cần thiết thì không bắt buộc Điều tra viên phải thực hiện nhưng Cơ quan điềutra phải nói rõ lý do trong bản kết luận điều tra vụ án (Điều 19 của quy chế số 07).

Như vậy, muốn cho Cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện nghiêm chỉnh bản yêu cầu điều tra, thì Kiểm sát viên phải nâng cao chất lượng bản yêu cầu điều tra, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bản yêu cầu điều tra.

Về hình thức và nội dung của một bản yêu cầu điều tra

Các nội dung đề ra phải rõ ràng, cụ thể và có chất lượng, không nêu chung chung hoặc nêu không rõ ý; những vấn đề đương nhiên Điều tra viên phải làm như: Lập danh chỉ bản, xác định căn cước lý lịch bị can… thì không cần nêu. Kiểm sát viên chỉ đề ra những nội dung “cần thiết” để củng cố chứng cứ, hoàn thiện đầy đủ thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án. Nội dung yêu cầu điều tra cần chia ra các ý nhỏ, rõ ràng để Điều tra viên dễ hiểu và dễ thực hiện.

Để đề ra bản yêu cầu điều tra có chất lượng, Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, kịp thời nghiên cứu những tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên mới thu thập được chuyển đến để phát hiện ra những mâu thuẫn trong các lời khai, những nội dung (yếu tố cấu thành tội phạm) chưa được làm rõ hoặc còn thiếu chưa được thu thập, từ đó đề ra yêu cầu điều tra để Điều tra viên thực hiện.

Về phạm vi và thời điểm ban hành bản yêu cầu điều tra

Về phạm vi : Theo quy định tại khoản 2 Điều 112 BLTTHS thì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra,Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: “2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra”. Như vậy, có thể hiểu đây là một trong những quyền năng thuộc phạm vi quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát (không thuộc phạm vi công tác kiểm sát điều tra quy định tại Điều 113 BLTTHS). Việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc bằng bản cáo trạng hoặc đình chỉ vụ án.

Về thời điểm ban hành bản yêu cầu điều tra: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Quy chế số 07 thì: “Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra, nêu rõ những vấn đề cần điều tra, thu thập để củng cố chứng cứ, hoàn thiện thủ tục tố tụng… “.

Tại khoản 2 Điều 19 quy chế số 07 quy định: “Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động của Điều tra viên, bảo đảm các yêu cầu điều tra được thực hiện đầy đủ. Khi thấy có vấn đề cần phải điều tra thêm, Kiểm sát viên kịp thời bổ sung yêu cầu điều tra… “.

Như vậy có thể hiểu bản yêu cầu điều tra chỉ được ban hành “khi thấy cần thiết”. Có thể có vụ án không cần đề ra yêu cầu điều tra vì vụ án đơn giản, chứng cứ và thủ tục tố tụng đã đầy đủ, rõ ràng để xử lý vụ án. Ngược lại, đối với vụ án phức tạp, án đặc biệt nghiêm trọng hoặc là án truy xét, Kiểm sát viên có thể phải đề ra nhiều yêu cầu điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố và trong suốt quá trình điều tra. Để làm được việc này, Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, nắm chắc nội dung vụ án, kịp thời phát hiện những vấn đề chưa rõ, còn thiếu hoặc có mâu thuẫn để yêu cầu Điều tra viên thu thập, củng cố. Tuỳ vào tính chất, mức độ và yêu cầu giải quyết đối với từng vụ án, Kiểm sát viên có thể đề ra một hoặc nhiều bản yêu cầu điều tra trong cùng một vụ án để yêu cầu Điều tra viên thực hiện. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần lưu ý: “Đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp, những vụ án được dư luận đặc biệt quan tâm và những trường hợp thấy có thể phải thay đổi, bổ sung quyết đinh khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến củaViện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền trước khi ký văn ban yêu cầu điều tra. Văn bản yêu cầu điều tra phải được lưu vào hồ sơ kiểm sát một bản” (Điều 19 Quy chế số 07).

Quan hệ giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên là quan hệ phối hợp, cùng chung nhiệm vụ, đó là: Làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực và có trách nhiệm cao trước công việc thì sẽ đề ra được các yêu cầu điều tra có chất lượng giúp cho Điều tra viên trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng để sớm kết thúc vụ án. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên không có trình độ, năng lực, lại thiếu tinh thần trách nhiệm, không nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án thì không đề ra được yêu cầu điều tra, hoặc có đề ra được thì bản yêu cầu điều tra cũng không có chất lượng, gây phản cảm cho Điều tra viên.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính chất lượng các bản yêu cầu điều tra và thái độ của Kiểm sát viên sẽ chi phối mối quan hệ giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên, tạo nên hiệu lực và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra và kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên phải không ngừng nâng cao trình độ, năng lực và trách nhiệm trước công việc, chủ động góp phần tích cực vào việc xây dựng mối quan hệ trong việc thực hiện bản yêu cầu điều tra.

Để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra, chúng tôi xin đề xuất, kiến nghị một số nội dung sau:

– Tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự;

– Tăng cường tập huấn, rút kinh nghiệm trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra, đặc biệt là kỹ năng ban hành, trình tự và các bước tiến hành một bản yêu cầu điều tra;

– Tăng cường kiểm tra nghiệp vụ, nhất là trình độ và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc đề ra các yêu cầu điều tra; có quy định cụ thể về trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc để vụ án kéo dài, vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, án bị huỷ vì thiếu chứng cứ hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng… do Kiểm sát viên chưa làm hết trách nhiệm, không kịp thời phát hiện đề ra các yêu cầu điều tra để Điều tra viên khắc phục.

Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới

Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới

Đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục. Bởi vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên luôn được Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm phát triển đội ngũ nhà giáo có chất lượng, đáp ứng yêu cầu dạy học, đổi mới giáo dục trong thời kỳ mới.

Thi giáo viên dạy giỏi bậc Tiểu học, cấp thành phố Bắc Kạn năm học 2019-2020.

Năm học 2019-2020, toàn ngành có 6.942 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên. Thực hiện tinh gọn bộ máy đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, mạng lưới trường lớp giảm; số lượng giáo viên, cán bộ quản lý giảm, so với năm học 2015-2016 giảm 463 người. Cụ thể, bậc mầm non giảm 100 người, tiểu học giảm 260 người, TH&THCS tăng 119 người, THCS giảm 95 người, các trường THPT và các trung tâm trực thuộc Sở giảm 127 người (TH&THCS tăng là do việc dồn, ghép trường, đa số thực hiện ghép trường tiểu học với trường THCS).

Hiện nay, tổng số giáo viên trực tiếp đứng lớp là 5.535 người; trong đó mầm non 1.516 người, tiểu học 2.154 người, THCS 1.359 người, THPT 506 giáo viên. So với năm học 2015-2016 giảm 238 người, cụ thể: Mầm non giảm 58 người, tiểu học giảm 128 người, THCS tăng 31 người, THPT giảm 83 người, qua đó góp phần tinh gọn bộ máy. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên hiện nay cơ bản đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng ngày một nâng cao đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tuy nhiên, đối với đội ngũ nhân viên, nhiều đơn vị chưa đáp ứng về số lượng, cơ cấu theo quy định.

Thực hiện nhiệm vụ nâng cao chất lượng giảng dạy, đội ngũ giáo viên đã và đang nỗ lực phấn đấu để có những bước phát triển toàn diện và vững chắc trong công tác GD&ĐT. Công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo được đẩy mạnh, toàn tỉnh hiện có 99,8% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo trở lên.

Để chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao, theo Sở Giáo dục và Đào tạo, thời gian tới, ngành tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nhà giáo; thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức nhà giáo gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và Chỉ thị số 05-CT/TW. Tiếp tục tham mưu thực hiện nghiêm túc công tác rà soát, sắp xếp, tuyển dụng, bố trí cán bộ quản lý và giáo viên; thực hiện việc điều chuyển giáo viên các trường học để cân đối lại đội ngũ giáo viên, khắc phục tình trạng vừa “thừa” vừa “thiếu”. Tham mưu thực hiện công tác tuyển dụng giáo viên nhằm kịp thời bố trí, sắp xếp đội ngũ đáp ứng nhiệm vụ theo từng năm học.

Đồng thời, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên như bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên phổ thông trên địa bàn tỉnh; tổ chức khảo sát lại giáo viên phổ thông, trên cơ sở đó, xây dựng phương án đào tạo lại hoặc có giải pháp cụ thể đối với những giáo viên sau khi sát hạch lại không đạt yêu cầu. Lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phổ thông cốt cán để thực hiện bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, ưu tiên bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy lớp 1. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ… theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và vị trí việc làm của giáo viên trong toàn ngành nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình GDPT mới.

Thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá, phân loại, chế độ chính sách đối với giáo viên; đánh giá, phân loại gắn với việc thực hiện chủ trương tinh giản biên chế; rà soát, điều chỉnh kịp thời vị trí việc làm, tổ chức thi, xét thăng hạng và bổ nhiệm, xếp lương theo quy định; thực hiện tốt chế độ, chính sách, làm tốt công tác thi đua, khen thưởng nhằm tạo động lực cho đội ngũ nhà giáo chuyên tâm với nghề.

Cùng với đó, ngành Giáo dục tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm túc Chương trình  giáo dục phổ thông hiện hành, đổi mới  phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; đổi mới hình thức tổ chức dạy học, tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, dạy học gắn với thực tiễn; tăng cường phụ đạo, giúp đỡ học sinh có học lực yếu, kém và bồi dưỡng học sinh giỏi đảm bảo hiệu quả, chất lượng, tránh chung chung, hình thức. Ngành chỉ đạo tăng cường sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường; đổi mới nội dung sinh hoạt tập trung theo hướng nghiên cứu bài học và việc sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học…

Tiếp tục chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên và nâng cao ý thức tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; tổ chức tập huấn chuyên đề về bồi dưỡng học sinh giỏi cho giáo viên cấp THCS và THPT; thực hiện hiệu quả công tác phân luồng học sinh; tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường với phụ huynh học sinh, cộng đồng dân cư trong việc quản lý, giáo dục học sinh trong thời gian ở ngoài nhà trường; tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, hỗ trợ cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của ngành Giáo dục trong việc cùng toàn xã hội tạo ra điều kiện, môi trường tốt nhất cho giáo viên được phát triển và cống hiến./.

Hồng Hạnh