Top 19 # Giải Pháp Phát Triển Cây Xanh / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Pháp Phát Triển Cây Xanh Đô Thị Ở Thành Phố Việt Trì / 2023

Cùng với chủ trương xây dựng thành phố Việt Trì trở thành thành phố du lịch, thành phố Lễ hội về với cội nguồn Dân tộc Việt Nam, thời gian qua, công tác đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị được chú trọng, bộ mặt đô thị của thành phố ngày một khang trang. Đặc biệt hệ thống cây xanh trên một số tuyến phố, khu vực được cải tạo, trồng mới như: Công viên Văn Lang, đường Hùng Vương, khu đô thị Trầm Sào… đã góp phần xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, cải tạo vi khí hậu, bảo vệ môi trường sống, tạo không gian kiến trúc, tăng thẩm mỹ cảnh quan đô thị.

Số lượng cây cổ thụ, có giá trị về sinh thái, cảnh quan trên địa bàn thành phố còn ít, chưa xác định được các loại cây đặc trưng của vùng Đất Tổ để tạo ra những giá trị đặc trưng, riêng biệt của thành phố với ý nghĩa là thành phố về với cội nguồn dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh những nguyên nhân yếu tố thiên nhiên, một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc phát triển cây xanh trên địa bàn thành phố Việt Trì đó là thiếu quy định riêng về quản lý cây xanh đô thị, chậm bổ sung, rà soát quy hoạch tổng thể về phát triển cây xanh đô thị và lập hồ sơ quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn. Quỹ đất dành cho cây xanh chưa tương xứng; tỷ lệ diện tích cây xanh, vườn hoa, công viên chưa đáp ứng các định mức, tiêu chuẩn đối với đô thị loại I. Việc trồng cây xanh ở những nơi công cộng vẫn còn mang tính tự phát, manh mún, thiếu quy hoạch về lựa chọn, bố trí loại cây trồng phù hợp ở từng công trình. Sự tham gia, vào cuộc của các cấp, các ngành trong công tác quản lý, phát triển cây xanh đô thị chưa nhiều; chưa tạo được các phong trào về cải tạo, phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố xanh, sạch, đẹp, tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị Việt Trì, cần ban hành Quy định về quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn của thành phố Việt Trì, trong đó quy định cụ thể về công tác quản lý cây xanh, đồng thời phân công trách nhiệm cho các cơ quan chuyên môn và phân cấp quản lý cho Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thôn, xóm, phố, tổ dân phố về quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn.

Tiến hành quy hoạch tổng thể hệ thống cây xanh đô thị, triển khai lập hồ sơ quản lý cây xanh trên địa bàn thành phố, đồng thời quản lý tốt việc cải tạo, thay thế hoặc trồng mới cây xanh đô thị trên địa bàn. Các dự án đầu tư, cải tạo, chỉnh trang vỉa hè, xây dựng mới các tuyến đường, các dự án phát triển kinh tế – xã hội phải theo quy hoạch phát triển cây xanh đô thị, tiến tới đảm bảo các tiêu chí, tiêu chuẩn về cây xanh, vườn hoa, công viên đối với đô thị loại I. Vị trí, diện tích đất (kể cả dự phòng) dành cho cây xanh đô thị phải được đưa vào quy hoạch và công khai quy hoạch để quản lý. Trước mắt, thành phố cần rà soát quỹ đất hiện có và xây dựng lộ trình, kế hoạch để triển khai thực hiện. Lựa chọn các loại cây xanh đô thị nhằm đảm bảo phù hợp về thẩm mỹ, công năng, tính đặc trưng của từng khu vực.

Đồng thời nghiên cứu xây dựng những tuyến phố có cây xanh mang tính đặc trưng, biểu tượng của thành phố Việt Trì, thành phố Lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam để góp phần quảng bá và tạo ấn tượng đối với khách du lịch. Đặc biệt, tại Công viên Văn lang cần phải được quy hoạch, thiết kế cây xanh thật chi tiết, tỉ mỉ và khoa học. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về cây xanh đô thị, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm và kêu gọi cộng đồng cùng chung tay quản lý, phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố. Đồng thời khuyến khích xã hội hóa công tác quản lý, trồng, chăm sóc, bảo vệ cây xanh đô thị; phát động phong trào các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình tự trồng, chăm sóc, bảo vệ cây xanh khu vực nhà mình, trên các tuyến phố đã quy hoạch… Tăng cường sự giám sát của xã hội đối với bảo vệ và chăm sóc cây xanh. Có cơ chế khuyến khích các cá nhân, tập thể tích cực tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh, biến việc trồng, chăm sóc cây xanh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục./.

Theo dòng sự kiện

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Xanh Bền Vững / 2023

(TN&MT) – Tại Hội thảo “Phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” diễn ra ngày 26/11, các đại biểu đều có chung nhận định, sản xuất nông nghiệp xanh để phát triển nông nghiệp bền vững là giải pháp hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng thu nhập cho người dân… “Quang cảnh Hội thảo “phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” – Ảnh: Lê Hùng Thách thức từ BĐKH, nước biển dâng…

ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chiếm hơn 50% sản lượng lúa hàng hóa, cung ứng 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản, đặc biệt cung cấp đến 80% lượng tôm xuất khẩu và đóng góp khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL đang gặp rất nhiều rủi ro, bấp bênh và chịu sự tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng…

Nhiều đại biểu cho rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp xanh là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả, bền vững. Thực tế thời gian qua, các địa phương trong vùng đã tích cực triển khai đồng loạt nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, như: mô hình “ruộng lúa bờ hoa”, “ba giảm ba tăng”, mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp xanh của Hợp tác xã Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), Hợp tác xã Bưởi Năm Roi (tỉnh Vĩnh Long), sản xuất rau các loại an toàn theo hường GAP tại xã Tân Đông, Gò Công Đông (Tiền Giang), mô hình mẫu sử dụng khí sinh học trong chăn nuôi heo… đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Hậu Giang triển khai trồng hoa ven đường, áp dụng mô hình công nghệ sinh thái, chuẩn bị sản xuất vụ Đông xuân 2013-2014. Ảnh: Hùng Long.

Thế nhưng việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp tại vùng ĐBSCL hiện vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên mà chưa bền vững về môi trường. Giá bán nông sản sạch không cao hơn mô hình sản xuất truyền thống, khiến nông dân không mặn mà tham gia mô hình.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT – Trần Thanh Nam, cho rằng: “Sản xuất nông nghiệp thường xuyên gặp rủi ro, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, liên kết “4 nhà” yếu kém, khâu tiêu thụ còn nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân rộng mô hình. Một số nông dân tham gia mô hình sản xuất điểm được hỗ trợ chi phí sản xuất, khi mô hình kết thúc, thì họ không quan tâm duy trì mô hình, có khi quay về kiểu sản xuất truyền thống. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp cũng là thách thức lớn”.

Theo các đại biểu đại diện các địa phương trong vùng ĐBSCL, việc nhân rộng các mô hình rất cần được sự quan tâm hỗ trợ của các Bộ, ngành trung ương và sự vào cuộc tích cực hơn của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trước thách thức của biến đổi khí hậu, xu thế toàn cầu hóa, nông sản sẽ chật vật trong cuộc cạnh tranh, do đó yêu cầu bức bách đặt ra cho người nông dân ĐBSCL hiệ nay là phải đổi mới tư duy sản xuất, năng động hội nhập.

“Cách mạng xanh” trong nông nghiệp

Theo Bộ NN& PTNT, đối với ngành nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp xanh sạch là việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua đó, giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản, phát triển công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, phế thải… đảm bảo bền vững cho nền kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh.

“Ngày nay, nông nghiệp xanh không chỉ tạo ra những sản phẩm sạch, mà còn là yếu tố quan trọng cho sự ổn định kinh tế- xã hội. Đây là hướng đi bền vững và ưu việt nhất để ngành nông nghiệp nước ta vừa đảm bảo an ninh lương thực,vừa tăng cường xuất khẩu nông sản ra thế giới. Hiện sản xuất nông nghiệp xanh hay nông nghiệp sinh thái, phòng trừ dịch hại tổng hợp theo hướng GAP… được nhiều tỉnh, thành quan tâm thực hiện. Đây là con đường tạo ra nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu”- ông Phan Anh Vũ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định. Song, phát triển nông nghiệp xanh cần thực hiện rất nhiều giải pháp đồng bộ.

Thu hoạch lúa ở ĐBSCL – Ảnh: Hoài Thanh

Theo các nhà khoa học, trong sản xuất nông nghiệp xanh cần chú ý đến giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. chúng tôi Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Đại học Cần Thơ, cho biết: Trong canh tác lúa, giảm khí thải nhà kính là thực thi chính sách kép, vì giảm yếu tố đầu vào mà hiện nay nông dân quản lý nước không tốt và sử dụng dư thừa về mật độ sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vừa làm tăng chi phí vừa làm tăng khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó việc áp dụng mô hình “1 phải 6 giảm” sẽ giảm chi phí sản xuất trung bình từ 5- 10% nhờ cắt giảm được 40 đến 50% giống, giảm từ 15 đến 30% lượng phân, giảm 20 đến 40% lượng nước tưới, tăng năng xuất từ 5 đến 10%, lợi nhuận mang lại cho nông dân cao hơn khoảng 10% và các đồng lợi ích cho môi trường như giảm lượng khí thải, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, môi trường.

Nhiều đại biểu kiến nghị: cần đánh giá thành tựu, hạn chế của các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh mà vùng ĐBSCL đã phát triển thời gian qua để có hướng đi cụ thể thời gian tới. Bởi, hiện tại lực lượng sản xuất (số lượng các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp, khoa học công nghệ…) liên tục phát triển trong khi các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp lại chưa có sự đổi mới tương xứng; nhu cầu liên kết sản xuất cao, nhưng việc triển khai vẫn chậm, qui mô sản xuất manh mún, diện tích đất sản xuất bình quân trên nông hộ nhỏ. Vai trò của quy hoạch và chiến lược phát triển vùng chưa rõ ràng. Các mối liên kết dọc và ngành hình thành và phát triển khó khăn. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn còn lòng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm các bên tham gia…

Những khó khăn này cần được giải quyết rốt ráo mới có thể tạo ra “cách mạng xanh” cho ngành nông nghiệp. Và để giải quyết hiệu quả, nhất thiết phải có sự nhập cuộc tích cực của các bộ, ngành Trung ương cùng các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân.

Giải Pháp Hữu Ích Để Phát Triển Du Lịch Xanh / 2023

Phát triển du lịch theo hướng thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng và hiệu quả kinh tế cao, giá cả thu hút du khách là những nội dung chính được bàn luận trong hội thảo diễn ra mới đây tại Hà Nội trong khuôn khổ Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam lần thứ nhất năm 2013.

Khách du lịch quốc tế thích thú khám phá du lịch xanh tại Việt Nam.

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có sự kết hợp của nhiều ngành nghề, không chỉ trong lĩnh vực du lịch mà còn với nhiều lĩnh vực khác. Việt Nam là một trong những nước có nhiều tiềm năng phát triển du lịch cả về văn hóa và thiên nhiên. Những năm gần đây, du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh, lượng khách quốc tế đến nước ta liên tục tăng, doanh thu từ du lịch ngày càng lớn; năm 2012 du lịch là một điểm sáng trong nền kinh tế Việt Nam. Du lịch Việt Nam cũng đang rất cần những giải pháp đồng bộ để duy trì tốc độ tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững, thân thiện với môi trường và cộng đồng.

Một số khách sạn, cơ sở lưu trú ở Việt Nam đang áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng, thu lại vốn đầu tư ban đầu rất nhanh chóng. Điển hình là mô hình tại khách sạn REX Sài Gòn, mỗi năm đã tiết kiệm hơn 600 triệu tiền từ đun nước nóng bằng hệ thống năng lượng mặt trời… Hơn 150 khách sạn, đơn vị lưu trú của Việt Nam đang tích cực tham gia chương trình Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh do Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thực hiện. Đến nay, hàng chục đơn vị đã được cấp nhãn Bông sen xanh, đạt đủ các tiêu chí về bảo vệ môi trường, di sản, phát triển kinh tế, văn hóa…

Thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế và nội địa luôn là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp nhằm kích cầu du lịch. Trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, để thu hút du khách, việc giảm giá, khuyến mại, du lịch tiết kiệm mà chất lượng cao luôn là giải pháp được các đơn vị lữ hành lựa chọn để thu hút du khách. Các hãng hàng không đóng vai trò chính trong việc giảm giá tour thu hút du khách. Việt Nam hiện có 2 hãng hàng không tham gia chương trình giảm giá, kích cầu thu hút du khách là Hãng hàng không quốc gia Việt Nam Airlines và Vietjet Air. Mức giá hai bên đưa ra đã được giảm tới 49-50%. Tại Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2013, khoảng 10.000 vé máy bay giá rẻ được bán trực tiếp cho các đơn vị lữ hành cũng như du khách có nhu cầu. Giá vé máy bay hạ đã góp phần hạ giá tour du lịch, nhiều hãng lữ hành đã chào bán sản phẩm tour mùa hè 2013 với giá mức giá “sốc” để thu hút du khách, nhất là khách nội địa. Từ ngày 20-4, Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2013 mở cửa cho người dân vào tham quan, trực tiếp mua tour du lịch với giá ưu đãi 20%.

Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2013 diễn ra đến hết 21/4 với nhiều chương trình hội thảo, giới thiệu điểm đến trong nước, quốc tế. Du lịch Việt Nam tham gia giới thiệu 2 điểm đến là Đà Lạt (Lâm Đồng) và du lịch Tây Bắc.

Thanh Giang (thethaovietnam.vn)

Thực Trạng Và Giải Pháp Cây Xanh Đô Thị / 2023

Tổng quan

Cây xanh đô thị có một vai trò quan trọng trong đời sống con người, giúp cải thiện môi trường sống, làm đẹp thành phố, làm phong phú cuộc sống văn hóa dân cư đô thị. Các mảng xanh tạo nên những khu nghỉ ngơi yên tĩnh cho người lớn, nơi hoạy động thể dục thể thao cho thanh thiếu niên, chỗ vui chơi giải trí cho trẻ em. Bên cạnh đó, cây xanh còn là một trong những yếu tố rất quan trọng trong kiến trúc cảnh quan. Về mặt thẩm mỹ cây xanh làm giảm bớt những nét khô ráp của kiến trúc, nhiều hình dáng đa dạng cùng với các màu sắc phong phú của hoa lá tạo nên sự hài hòa và sinh động trong cảnh quan.

Việt Nam là đất nước có bề dày kịch sử và văn hóa, trong đó truyền thống trồng cây xanh cho làng xã, và đô thị. Theo quan niệm của người Việt, cây xanh có tâm hồn, có ngữ nghĩa. Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam có các vùng khí hậu đa dạng, với các điều kiện tự nhiên, điều kiện nguồn nước và đất đai khác nhau giữa các địa phương, đó cũng chính là môi trường tốt cho sự phát triển đa dạng và phong phú của cây trồng.

Quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ trên cả nước, hàng loạt các công trình kiến trúc mới xây dựng đang mọc lên nhanh chóng trong không gian đô thị. Trong khi đó, hệ thống cây xanh đô thị hiện vẫn còn trong tình trạng kém về hình thức và chất lượng cây trồng, chưa ăn nhập với cảnh quan kiến trúc, chưa thật sự góp phần tạo dựng đặc trưng cho các đô thị Việt Nam. Bởi vậy chúng ta cần phải nghiên cứu về quy hoạch cây xanh, không chỉ tăng về số lượng, mà đảm bảo lựa chọn loại cây xanh phù hợp với sinh thái, điều kiện tự nhiên và truyền thống của từng địa phương, để tạo bản sắc cho từng đô thị.

Thực trạng

Theo nội dung Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội đã đưa ra mục tiêu phát triển 1 triệu cây xanh vào năm 2020; quy hoạch phát triển hạ tầng đô thị, mục tiêu là tăng tỷ lệ cây xanh để cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Xây dựng quy hoạch chiến lược hệ thống cây xanh đô thị nhằm phát triển dạng “đi tắt, đón đầu” trong quá trình phát triển đô thị, phù hợp với định hướng quy hoạch tổng thể thủ đô đến 2030, tầm nhìn đến 2050. Quy hoạch này cần chỉ rõ ba giai đoạn cụ thể: 1) ngắn hạn, 2) trung hạn, và 3) dài hạn. Các kịch bản hoạt động cần được cụ thể hóa trong các hoạt động thực tiễn và thường xuyên được cập nhất và điều chỉnh theo yêu cầu và điều kiện thực tế trong quá trình triển khai.

UBND thành phố Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận, việc tỉa, cắt cành nhánh chính của cây trong quá trình chăm sóc trước đây ảnh hưởng đến sự phát triển của cây xanh ở giai đoạn sau, tạo ra nhiều chồi bất định, cành nhánh thứ cấp rất dễ bị tét, gãy khi bị nặng hoặc khi có mưa, giông. Tình trạng xâm hại cây xanh diễn biến phức tạp dưới nhiều hình thức từ chủ động phá hoại (vướng mặt tiền nhà, quan điểm “phong thủy”…) hay sự thiếu ý thức trong quá trình thi công các công trình khiến hệ thống cây xanh luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ. Ngoài ra, các đơn vị thường sử dụng phương tiện cơ giới trong quá trình thi công gần gốc cây, cây bị xâm hại, thân bị tróc vỏ, gãy cành nhánh, rễ bị đứt, phơi lộ rễ trên mặt đất, thậm chí gây nghiêng cây, buộc phải đốn hạ khẩn cấp để bảo đảm an toàn. Cạnh đó, nhiều tuyến đường vẫn chưa ngầm hóa được hệ thống lưới điện, xảy ra tình trạng xung đột lưới điện với cây xanh. Cây xanh bị khai quang nhiều lần để bảo đảm an toàn điện cho nên phần lớn cây xanh bị lệch tán, thân nghiêng… mất mỹ quan đô thị và dễ gây ra gãy đổ trong mùa mưa bão.

Nghiên cứu thử nghiệm, trồng bổ sung một số loài cây mới (cây từ tự nhiên và cây nhập nội) theo quy trình cụ thể và nghiêm ngặt nhằm tìm ra những loài cây phù hợp với các điểu kiện mới; cây cần được tạo tán từ vườn ươm từ 5-10 năm để đảm bảo thích ứng với mọi điều kiện thời tiết. Có thể trồng thử mỗi nằm một vài loài cây mới tại các khu vực đặc trưng khác nhau về môi trường, điều kiện tự nhiên (nước ngầm, ô nhiễm…), không gian kiến trúc cảnh quan để lựa chọn các loài phù hợp trước khi trồng đại trà.

Tình trạng ô nhiễm môi trường càng trở nên trầm trọng, đòi hỏi các nhà chuyên môn cần nghiên cứu giá trị sinh thái cây xanh đô thị; khả năng hấp thụ chất ô nhiễm môi trường của từng loài cây xanh với các chất độc hại có trong đó… góp phần hình thành các không gian cảnh quan mang lại giá trị thẩm mỹ và môi trường. Sự đa dạng của thành phần loài góp phần đa dạng sinh học cho môi trường đô thị và cũng góp phần nâng cao tính ổn định và hạn chế rủi ro về dịch bệnh của hệ sinh thái đô thị (đa dạng sinh học bao gồm cả phát triển các loài sinh vật mang vai trò thiên địch đối với các loài sâu bệnh hại đô thị ví dụ như: cóc, ếch, kiến và bọ ngựa).

Chuyên gia về phát triển đô thị của tổ chức JICA, ông Mizosicho rằng: Việc các đô thị Việt Nam thiếu cây xanh có nguyên nhân từ ý thức con người, từ người quy hoạch/quản lý đến người dân, trong việc phát triển và gìn giữ một môi trường xanh.

Còn theo TS-KTS. Nguyễn Trọng Hòa, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển TP. Hồ Chí Minh: Nhìn nhận chung, quy hoạch và quản lý đô thị ở nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng của tập quán bao cấp, chủ yếu dựa vào các nguyên tắc thiết kế tĩnh, thiếu linh hoạt theo hướng thị trường.

Đơn cử như quy định về tỷ lệ cây xanh ở đô thị cũng như quy hoạch đều rất chuẩn nhưng thực tế những quy hoạch đó, quy chuẩn đó có ai làm không? Nó có được tuân thủ không? Điều đó sẽ quyết định từ những con người quản lý, thực thi và ý thức của người dân.

Với kinh nghiệm từ những nước như Singapore, Malaysia… thì việc cây xanh là việc của toàn thể người dân ở đô thị. Người dân có ý thức thực sự trong việc phát triển cây xanh ở chính nơi họ sinh sống, làm việc. Họ ý thức được rằng điều này có được lợi ích cho chính bản thân họ và cho công đồng.

Công tác phát triển hệ thống cây xanh không thể chỉ dựa vào nguồn lực của nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân đóng vai trò vô cùng to lớn và hiệu quả khi được phát huy. Tuyên truyền và vận động người dân trồng cây xanh theo định hướng quy hoạch chung và các hồ sơ thiết kế cảnh quan cây xanh đường phố cho các vị trí trồng cây xanh trước cửa nhà cũng là giải pháp nhằm tăng cường sự đóng góp của người dân, đồng thời tăng cường ý thức bảo vệ theo tinh thần “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong việc đầu tư hạ tầng cây xanh ở quy mô lớn cần gắn giữa lợi ích các bên. Giải pháp đổi đất lấy hạ tầng (xanh) hay cơ chế về lợi ích của các bên tham gia đầu tư cây xanh rõ ràng sẽ góp phần không nhỏ trong việc kêu gọi đầu tư phát triển hệ thống cây xanh đô thị của Hà Nội từ nguồn lực ngoài nhà nước.

Việc xã hội hoá phát triển cây xanh cho đô thị cũng là một hướng đi cần phải nhân rộng. Ví dụ như tại Hà Nội, một số dự án nhà ở đang là một điển hình tốt cho một khu đô thị xanh. Tại đó, chủ đầu tư đã đưa ra một bài toán đúng khi quyết định xây dựng một khu đô thị xanh, được nghiên cứu, quy hoạch với diện tích cây xanh, mặt nước chiếm tỷ lệ cao…