Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viêt Cho Học Sinh Tiểu Học
  • “một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học”
  • Du khách quốc tế trải nghiệm gói bánh chưng Việt Nam. Ảnh: Hồng Lĩnh

    Trong xu thế phát triển ngày càng đa dạng về nhu cầu du lịch, ẩm thực không chỉ đóng vai trò là yếu tố phục vụ khâu ăn uống đơn thuần của du khách, mà còn được xác định là một trong những mục đích chính của các chuyến du lịch.

    Theo báo cáo toàn cầu về du lịch ẩm thực của Tổ chức Du lịch thế giới, du khách thường chi trung bình 1/3 ngân sách chuyến đi cho ẩm thực. Ðồng thời, có tới hơn 80% số đơn vị, tổ chức du lịch khi được điều tra đều xác định du lịch ẩm thực là yếu tố chiến lược đối với điểm đến, là động lực quan trọng cho phát triển du lịch. Bên cạnh việc thưởng thức, mang đến những trải nghiệm vị giác khác lạ, ẩm thực còn giúp du khách cảm nhận được nét văn hóa bản địa đặc sắc của từng vùng, miền, địa phương, từ đó tăng cường ấn tượng về điểm đến. Với những quốc gia có nền ẩm thực đa dạng, hấp dẫn, nếu bỏ qua việc tận dụng lợi thế về ẩm thực có nghĩa là đã bỏ qua cả “mỏ vàng” để phát triển du lịch. Du lịch ẩm thực chính là cơ hội lớn để thúc đẩy kinh tế địa phương và đất nước, tạo điều kiện gia tăng chuỗi giá trị trong nông nghiệp, sản xuất chế biến thực phẩm, đồng thời giữ gìn và quảng bá văn hóa quốc gia ra thế giới… Những năm qua, di sản văn hóa ẩm thực được hình thành qua hàng ngàn năm của Việt Nam đã làm say lòng bao khách du lịch nước ngoài khi đến thăm dải đất hình chữ S. Hàng chục món ăn nổi tiếng của Việt Nam như phở, bún chả, bánh mì, nem… đã được các tổ chức thế giới, tạp chí ẩm thực, kênh truyền thông quốc tế uy tín vinh danh. Không chỉ đa dạng, hài hòa, tinh tế, dễ thưởng thức, ẩm thực nước ta còn chứa đựng tính nghệ thuật cao, thể hiện sự khéo léo, tinh tế, nhân văn trong chế biến. Ðiều này cho thấy, Việt Nam có đầy đủ điều kiện và thế mạnh để phát triển thương hiệu du lịch quốc gia một cách bền vững thông qua ẩm thực.

    Nhằm khai thác lợi thế của ẩm thực trong phát triển du lịch, thời gian gần đây, một số công ty du lịch trong nước đã bắt đầu xây dựng những tua khám phá ẩm thực cho du khách, như đưa khách đi cùng đầu bếp ra chợ để chọn thực phẩm, cùng tham gia vào quá trình chế biến; hay tổ chức các lớp học nấu ăn (kéo dài nửa ngày, một ngày) với sự hướng dẫn của các đầu bếp nổi tiếng; hoặc dẫn khách tới những khách sạn lớn trải nghiệm món ăn theo yêu cầu… Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Thường Quân, Chủ tịch Hội Ðầu bếp Việt Nam (Hiệp hội Du lịch Việt Nam), du lịch ẩm thực mới chỉ bắt đầu được phát huy ở một số địa phương là trọng điểm du lịch như Hà Nội, Hội An (Quảng Nam), Ðà Nẵng, TP Hồ Chí Minh…; các địa phương còn lại dù giàu tiềm năng vẫn lúng túng và gặp khó khăn trong phát triển du lịch ẩm thực. Nhiều người làm du lịch còn hạn chế về kiến thức ẩm thực nên cũng khó để xây dựng những sản phẩm thật sự hấp dẫn. Ðối với hình thức du lịch này, đòi hỏi từ người xây dựng tua tới người dẫn tua, hướng dẫn viên đều phải am hiểu về ẩm thực và văn hóa ẩm thực mới có thể mang đến những trải nghiệm giá trị cho du khách.

    Du lịch ẩm thực không chỉ đơn giản là để du khách được thưởng thức những món ăn, đồ uống ngon, độc đáo, mà còn là cung cấp những trải nghiệm, khám phá về bản sắc văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của điểm đến gắn với từng món ăn, đồ uống đó. Nên theo các chuyên gia, việc xây dựng những sản phẩm du lịch ẩm thực cần tính tới khả năng liên kết theo mô hình từ trang trại đến bàn ăn để khách du lịch có được những trải nghiệm thực tế sinh động. Không chỉ dừng lại ở cung cấp món ăn ngon, trải nghiệm, những người làm du lịch cần quan tâm chia sẻ với du khách về không gian ăn, hay những văn hóa ứng xử trong khi ăn theo truyền thống của người Việt, từ đó nâng hành trình khám phá du lịch ẩm thực lên một tầm cao mới, cũng là để quảng bá những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Ẩm Thực Truyền Thống Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Cho Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Luận Văn: Giải Pháp Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng, 9 Điểm!
  • Ẩm Thực Việt Nam Trong Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Quản Lý Thu Thuế Ngoài Quốc Doanh Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi
  • Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Quản Lý Thu Thuế Nhập Khẩu Tại Cục Hải Quan Thành Phố Hà Nội
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Khắc Phục Thất Thu Thuế Ở Việt Nam
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Bộ Máy Quản Lý Về Đất Đai Việt Nam
  • Đà Nẵng Thực Trạng Và Giải Pháp Quản Lý Quy Hoạch Và Xây Dựng Trong Khu Đô Thị Cũ ” Đô Thị & Phát Triển
  • Văn hóa ẩm thực cũng được coi như một tài nguyên du lịch,thu hút với những đối tượng khách muốn tìm hiểu về văn hoá ẩm thực của một quốc gia,vùng miền bởi ăn cũng là nghệ thuật, là văn hóa.

    Buổi trao đổi với BTV giữa chúng tôi Phạm Hồng Long với BTV với chur đề: Phát huy thế mạnh của ẩm thực trong thu hút phát triển du lịch Việt Nam

    Văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống con người, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý. Từ xa xưa trong dân gian nước ta đã tổng kết thành câu tục ngữ: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” chủ yếu để nhắc nhở những người mới bước vào đời thì khâu đầu tiên là “học ăn”. Ở các nước khác trên thế giới, ngoài quan niệm dân gian thì các nhà chuyên môn, những người yêu thích, hiểu ẩm thực… đều bàn luận, viết những tài liệu, những cuốn sách hay về nghệ thuật ăn uống.

    Một số món ăn vặt Việt Nam

    Có ý kiến cho rằng: “Chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi khoái lạc với các món ăn ngon.” Đó là một niềm hạnh phúc lớn lao của con người, là phần thưởng của tạo hóa dành cho con người. Mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của mình đều có phong cách ẩm thực với những đặc thù nhất định, nên đã có người nhận xét: Có thể đoán biết được phần chính yếu của số phận một dân tộc thông qua việc quan sát họ ăn như thế nào? Đối với cá nhân riêng lẻ cũng vậy, “Hãy cho tôi biết anh thường xuyên thích ăn món gì, tôi sẽ có thêm cứ luận để nói rõ cho anh biết anh là người thế nào.”

    Món ăn hè phố là một điểm hấp dẫn khách du lịch đến Việt Nam

    Đã có một vài nhận xét thú vị được rút ra như sau:

    -Ăn chính là nghệ thuật: Chúng ta dựa vào trí tuệ mẫn tiệp, tình cảm đẹp đẽ để xây dựng cuộc sống có chất lượng cao, ngày một hoàn thiện vì vậy cần phải biết chọn thức ăn ngon – một biểu hiện của chất lượng cuộc sống”. Rõ ràng là biết chọn thức ăn ngon, phù hợp với mình là cả một nghệ thuật

    – Ăn là biểu hiện văn hóa ứng xử: “Ăn uống thô tục là không biết ăn.” Cha ông ta dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là rất ý nhị. Có người còn cho rằng khi ăn cũng phải giữ phong độ uy vũ, mạnh mẽ, chân tình nhưng tránh thô lậu. “Nam thực như hổ, nữ thực như miêu” là muốn nhấn mạnh ý người nam ăn phải khỏe, tưthế vẫn tỏ rõ nam tính, còn nữ nhi trái lại phải ăn uống dịu dàng, làm dáng, thể hiện cả nữ tính yểu điệu như mèo cả trong khi ăn.

    – Ăn chính là thực hiện niềm vui sáng tạo: “Phát hiện một món ăn mới phải thấy là vui sướng như phát hiện ra một ngôi sao mới”. Tạo ra món ăn mới là một phát minh – nếu suy nghĩ được như vậy thì ẩm thực mới phát triển và thực ra nó cũng là một trong những nguồn cảm hứng vô tận cho những ai yêu nó, để tâm sức vào nghiên cứu nó. Cuối cùng, thiết nghĩ khi chuẩn bị món ăn, người đầu bếp phải sắp xếp sao cho nguyên liệu vừa đủ với số lượng khách; nồi, niêu, xoong, chảo, bát, đĩa, thìa, dao, thớt sạch sẽ. Nấu món ăn nào trước, món ăn nào sau phải hợp lý, thứ tự, thái độ nấu nướng vui vẻ, hứng khởi.

    Hy vọng trong thời gian tới, ẩm thực được khai thác tối đa nhưng bền vững trong phát triển du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Khắc Phục Những Hạn Chế Trong Quy Hoạch Xây Dựng Và Đô Thị
  • 9 Nhiệm Vụ Khắc Phục Hạn Chế, Tồn Tại Trong Quản Lý Đất Đai
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Cho Quy Hoạch Xây Dựng
  • Xử Lý Nghiêm Vi Phạm Liên Quan Đến Quy Hoạch, Quản Lý Và Sử Dụng Đất Đai Tại Đô Thị
  • Đánh Giá Nguyên Nhân, Tồn Tại Trong Việc Thực Hiện Quy Hoạch Sử Dụng Đất
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Du lịch là ngành đang thụ hưởng trực tiếp những giá trị văn hóa của ẩm thực truyền thống để phục vụ thu hút khách du lịch, nâng cao và gia tăng giá trị của ngành. Đã có ý kiến chuyên gia đề xuất, cần phân tách du lịch ẩm thực thành loại hình riêng, không nằm trong du lịch văn hóa. Tổng thống Mỹ Obama thưởng thức bún chả Hà Nội trong chuyến công du Việt Nam năm 2022 (ảnh do đầu bếp Anthony Bourdain đăng tải trên Instagram) Nâng tầm giá trị ẩm thực

    Phở, bún chả, nem…, những món ăn truyền thống Việt Nam đã nằm trong rất nhiều cuốn cẩm nang du lịch của nước ngoài, được nhiều website, tạp chí du lịch uy tín thế giới công nhận là những món ăn ngon, độc đáo hàng đầu thế giới. Không thể phủ nhận ẩm thực Việt Nam hấp dẫn khách du lịch, cả khách quốc tế và khách nội địa.

    Do gắn bó với sự phát triển hàng ngàn năm của dân tộc nên ẩm thực Việt Nam rất phong phú và độc đáo, gắn với nhiều vùng văn hóa và đặc trưng của từng dân tộc khác nhau. TS. Lê Minh Lý – Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia cho rằng ẩm thực là di sản vì chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, trong đó có thể gắn với tri thức dân gian, nghi lễ, sáng tạo nghệ thuật… Tuy nhiên, điểm yếu trong phát triển ẩm thực trong du lịch hiện nay là những nghiên cứu rõ về ẩm thực dưới góc độ di sản còn rất ít.

    Để phát triển du lịch nhanh và bền vững, việc xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc biệt là các sản phẩm du lịch gắn với văn hóa truyền thống của dân tộc có vai trò quyết định. Trong các sản phẩm đó, ẩm thực đang nổi lên là một thế mạnh của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, theo chúng tôi Vương Xuân Tình (Phó Chủ tịch Hội dân tộc học và Nhân học Việt Nam), vai trò của ẩm thực gắn với phát triển du lịch còn chưa được nhìn nhận đúng với giá trị của nó. Là người đang thực hiện bộ Bách khoa toàn thư Ẩm thực Việt Nam, chúng tôi Vương Xuân Tình nhận thấy mặc dù ẩm thực thuộc phạm trù văn hóa, song do đặc tính và hữu ích của nó nên cần tách thành loại hình riêng, không trong du lịch văn hóa. Từ đó mới có thể đề xuất phương án cần điều chỉnh, bổ sung chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2022, 2025 và tầm nhìn 2030, trong đó cần đưa du lịch ẩm thực trở thành một loại hình du lịch ở nước ta, cũng như có định hướng phát triển rõ ràng, với sự chung tay của các cơ quan, ban ngành.

    GS. Nguyễn Văn Đính cho rằng, để phát triển du lịch ẩm thực, cần đào tạo người nấu ăn giỏi. Cùng một chuỗi dịch vụ du lịch, nhưng không tập trung vào mảng ẩm thực thì cũng trở thành điểm trừ trong mắt du khách.

    Còn nghệ nhân ẩm thực Ánh Tuyết nhìn nhận hệ thống khách sạn ở Việt Nam, đặc biệt là khách sạn 5 sao cần chú trọng tới không gian ẩm thực Việt, để “đồ Việt” không bị lép vế trước “đồ Âu” ngay trên sân nhà. Bà khẳng định: “Đó là một cách quảng bá ẩm thực Việt để lan tỏa được hồn cốt văn hóa Việt nhiều hơn nữa”. Bên cạnh đó, nghệ nhân Ánh Tuyết cũng đưa ra đề xuất về những tiêu chí cụ thể khi tôn vinh nhà hàng, địa chỉ ẩm thực uy tín, trong đó bên cạnh vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chế biến ngon, có đặc trưng vùng miền thì còn phải đặt ra vấn đề thái độ phục vụ thân thiện, niềm nở… thay vì những thương hiệu “bún mắng, cháo chửi” như dư luận phản ánh.

    Với quan điểm “Nếu phát triển du lịch mà không tôn vinh ẩm thực thì thiếu sự hấp dẫn”, theo ông Trương Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội thì cần tập trung món ăn hấp dẫn nhất để thu hút khách, quảng bá tốt hơn, gắn với thương hiệu của một đất nước hay một địa phương cụ thể để nhắc tới món ăn đấy là biết địa danh cụ thể đó.

    Theo Phó Tổng cục trưởng TCDL Ngô Hoài Chung, ẩm thực là một tài nguyên có giá trị, dư địa phát triển cho du lịch rất lớn, cần được khai thác để tạo ra loại hình du lịch nổi trội và khác biệt của Việt Nam. Trong thời gian tới, ngành Du lịch cũng sẽ bổ sung những nội dung và giải pháp phát triển loại hình du lịch ẩm thực trong quy hoạch và các chính sách phát triển để thực sự phấn đấu đưa Việt Nam trở thành “bếp ăn của thế giới”.

    Về phía Hiệp hội Du lịch, ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam cũng cho biết, lực lượng đầu bếp chuyên nghiệp trong cả nước đã có trên 50.000 người. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của ẩm thực Việt Nam, trở thành sản phẩm ẩm thực hấp dẫn, Hiệp hội Du lịch Việt Nam dự kiến triển khai Dự án “Xây dựng khu bảo tồn Ẩm thực truyền thống và tôn vinh Tổ nghề Đầu bếp Việt Nam”, với mục tiêu lâu dài để nâng cao hình ảnh của Ẩm thực Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, đưa ẩm thực trở thành một sản phẩm độc đáo của Du lịch Việt Nam.

    Nguyễn Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Tồn Và Phát Triển Ẩm Thực Truyền Thống Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Cho Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Luận Văn: Giải Pháp Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng, 9 Điểm!
  • Tìm Giải Pháp Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị Thích Ứng Với Ngập Lụt
  • Giải Pháp Nào Cho Quy Hoạch Đô Thị Bình Dương
  • Một Số Giải Pháp Phát Huy Văn Hóa Ẩm Thực Quảng Ninh Nhằm Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Bảo Tồn, Phát Triển Văn Hóa Tây Nguyên
  • Nhiều Giải Pháp Bảo Tồn, Phát Triển Văn Hóa Tây Nguyên, Xã Hội, Fast News
  • Toạ Đàm Giải Pháp Bảo Tồn Phát Triển Văn Hóa Tây Nguyên.
  • Giải Pháp Nào Bảo Tồn Văn Hóa Cồng Chiêng?
  • Nhiều Thách Thức Trong Bảo Tồn Phát Triển Văn Hóa Tây Nguyên
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

    MẠC THỊ MẬN

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VĂN HÓA ẨM THỰC

    QUẢNG NINH NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

    HÀ NỘI – 2012

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MẠC THỊ MẬN MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VĂN HÓA ẨM THỰC

    QUẢNG NINH NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    Chuyên ngành: Du lịch

    (Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Trịnh Xuân Dũng

    HÀ NỘI – 2012

    MỞ ĐẦU 7

    1. Lý do chọn đề tài 7

    2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

    3. Mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu 10

    4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 10

    5. Đóng góp của luận văn 11

    6. Kết cấu luận văn 12

    Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC VÀ VĂN HÓA

    ẨM THỰC TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 13

    1.1. Khái niệm về văn hóa và văn hóa ẩm thực. 13

    1.1.1 Khái niệm về văn hóa. 13

    1.1.2. Những quan niệm về văn hóa ẩm thực. 14

    1.2. Những yếu tố tác động đến văn hóa ẩm thực. 17

    1.2.1 Điều kiện tự nhiên. 17

    1.2.2 Điều kiện văn hóa và xã hội. 18

    Nghề nghiệp 20

    1.2.3 Ảnh hưởng của kinh tế. 20

    1.2.4 Những yếu tố khác. 21

    1.3 Nội dung cơ bản của văn hóa ẩm thực Việt Nam 22

    1.3.1 Nội dung cơ bản của văn hóa ăn của Việt Nam 22

    1.3.2.Văn hóa uống ở Việt Nam. 25

    1.4. Vai trò của văn hóa ẩm thực trong du lịch. 30

    1.4.1 Văn hóa ẩm thực là tài nguyên du lịch. 30

    1.4.2 Văn hóa ẩm thực là một sản phẩm du lịch độc đáo. 30

    1.4.3 Văn hóa ẩm thực là một dịch vụ du lịch, góp phần quảng bá, xúc

    tiến hoạt động du lịch. 31

    Tiểu kết chƣơng 1 36

    2

    Chƣơng 2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC VĂN HÓA ẨM THỰC TRONG

    HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI QUẢNG NINH 37

    2.1. Khái quát về hoạt động du lịch tại Quảng Ninh. 37

    2.1.1 Tài nguyên du lịch. 38

    2.1.2 Tình hình kinh doanh du lịch. 39

    2.2 Khai thác ẩm thực trong du lịch tại Quảng Ninh. 43

    2.2.1 Nhu cầu của du khách về ẩm thực du lịch tại Quảng Ninh. 43

    2.2.2 Các sản phẩm ẩm thực du lịch tiêu biểu ở Quảng Ninh. 44

    2.2.3 Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ ẩm thực du lịch 60

    2.2.4 Các tour du lịch ẩm thực dành cho du khách. 62

    2.2.5 Nguồn nhân lực phục vụ ẩm thực du lịch. 62

    2.2.6 Công tác quảng bá, xúc tiến các sản phẩm văn hóa ẩm thực. 64

    2.2.7 Hoạt động khai thác các nguyên liệu thực phẩm phục vụ du lịch. 65

    2.2.8 Giá cả và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. 67

    2.3 Nhận xét chung. 68

    2.3.1. Những mặt được 68

    2.3.2. Những hạn chế. 69

    2.3.3. Nguyên nhân cơ bản của hạn chế. 69

    Tiểu kết chƣơng 2 72

    Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ KHAI THÁC ẨM THỰC TRONG

    HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI QUẢNG NINH 73

    3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 73

    3.1.1 Quan điểm về phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh 75

    3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch Quảng Ninh: 75

    3.1.3 Giải pháp phát triển du lịch Quảng Ninh 76

    3.2 Một số giải pháp để khai thác những giá trị văn hóa ẩm thực trong

    hoạt động du lịch tại Quảng Ninh. 77

    3.2.1 Đa dạng hóa các sản phẩm ăn uống và các loại hình phục vụ. 77

    3.2.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ du lịch ẩm thực. 78

    3

    3.2.3 Tăng cường hoạt động quảng bá các sản phẩm văn hóa ẩm thực. . 79

    3.2.4 Xây dựng các bài thuyết minh, giới thiệu về ẩm thực du lịch. 80

    3.2.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động cung cấp nguyên liệu chế

    biến món ăn và thức uống phục vụ khách du lịch 80

    3.2.6 Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, quản lý giá cả, chất

    lượng sản phẩm ăn uống và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. 82

    3.2.7 Kết hợp các tour du lịch với ẩm thực địa phương 84

    3.3. Một số kiến nghị. 85

    3.3.1. Đối với UBND Tỉnh Quảng Ninh. 85

    3.3.2. Đối với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch. 86

    Tiểu kết chƣơng 3 88

    KẾT LUẬN 89

    TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

    PHỤ LỤC

    4

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    EATOF

    East Asia Inter-Regional Tourism Forum

    Diễn đàn Hợp tác Du lịch khu vực Đông Á

    GDP

    Gross Domestic Product

    Tổng sản phẩm nội địa

    ISO

    International Organization for Standardization

    Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá

    UNESCO

    United Nations Educational Scientific and Cultural Organization.

    Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc.

    UBND

    Ủy ban Nhân dân

    VTOS

    Vietnam Tourism Occupational Skills Standards

    Tiêu chuẩn kỹ năng nghệ du lịch Việt Nam

    WTO

    World Trade Organization

    Tổ chức thương mại thế giới

    VHTT & DL

    Văn hóa Thể thao và Du lịch 5

    DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

    Bảng 2.1: Cơ cấu khách du lịch tới Quảng Ninh giai đoạn 2009 – 2012 40

    Bảng 2.2 : Doanh thu trong du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2009-2012 41

    Bảng 2.3: Thị trường tiêu biểu khách Quốc tế đến Quảng Ninh giai đoạn

    2009 – 2012 42

    Bảng 2.4: Sản lượng khai thác tỉnh Quảng Ninh chia theo nhóm sản phẩm giai

    đoạn 2009 – 2012 66

    Biểu đồ 2.1: Lượng khách du lịch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2009-2012 39

    6

    DANH MỤC HÌNH ẢNH

    Hình 2.1: Tôm he tươi 44

    Hình 2.2 : Món tôm đốt dừa 44

    Hình 2.3: Cá thu một nắng 46

    Hình 2.4: Ghẹ tươi sống 47

    Hình 2.5: Cua biển tươi sống 47

    Hình 2.6: Cù kỳ luộc 47

    Hình 2.7: Tu hài tươi sống 51

    Hình 2.8 : Tu hài hấp 51

    Hình 2.9: Chả mực 52

    Hình 2.10: Bào ngư hấp 54

    Hình 2.11: Sá sùng rang 55

    Hình 2.12: Món Chả rươi 56

    Hình 2.13: Rượu tiết ngán 60 7

    M U

    1. Lý do chn ti

    T xa xa, vic n ung ó c con ngi xem nh mt nhu cu thit

    yu. Cỏc c xa cũn cú cõu cú thc mi vc c o nhn mnh vai trũ

    ca vt cht c th v thit thc l vic n ung i vi i sng con ngi.

    F.nghen tng núi con ngi ngh n chuyn n, , mc trc khi lm vn

    hoỏ, chớnh tr, tụn giỏo

    1

    . Cõu núi ni ting ca nghen ó khỏi quỏt phộp bin

    chng ca hc thuyt Cỏc Mỏc, khng nh vt cht quyt nh ý thc trong ú

    cú cỏi n – nhu cu trc ht cho cuc sng c a lờn hàng u. Song ngy

    nay, iu kin kinh t phỏt trin, mc sng ca con ngi nõng cao nờn nhu cu n,

    ung khụng ch dng li vic tho món nhu cu con ngi m ã tr thnh mt nột

    vn hoỏ -Vn hoỏ m thc

    Vic ăn ung tng chng nh quỏ quen thuc, l mt nhu cu c bn ca

    con ngi. Khụng nhng th, m thc cũn to nờn nhng bn sc riờng bit gia

    cỏc vựng min, a phng, quc gia, gia dõn tc ny vi dõn tc khác, ng

    thi cng l kt tinh ca nhiu th h. Vn hoỏ l ng lc ca s phỏt trin an

    xen vo mi lnh vc trong i sng xó hi, trong ú vn hoỏ m thc l ni

    dung quan trng ca vn hoỏ, to nờn bn lnh v bn sc dõn tc c ỏo.

    t nc Vit Nam vi truyn thng vn hoỏ lõu i ó to dng cho

    mỡnh nhng nột vn hoỏ m thc c sc, ngoi c im chung cũn cú nhng

    phong cỏch m thc mang sc thỏi c trng ca mi vựng min. ú l khớ hu,

    th nhng, sn vt t cỏc vựng t, l nhng phng thc ch bin, cỏch thng

    thc khác nhau m ch cn nhc n tờn mún n ngi ta bit mún n ú xut

    phỏt t a phng no. chúng tôi Quc Vng ó vit: truyn thng m thc l

    mt s thc vn hoỏ ca cỏc vựng min Vit Nam hay theo tỏc gi o Ngc

    :m thc va l vn hoỏ vt cht va l vn hoỏ tinh thn. Khi m thc t

    ti phm vi vn hoỏ, thỡ nú th hin thnh mt nột ct cỏch, phm hnh mt con

    ngi, mt dõn tc. 1

    trớch iu vn c trc m Cỏc Mỏc 17-3-1883

    8

    Ngày nay, khi đời sống của con người được nâng cao, việc ăn uống càng

    trở thành vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Cơ chế thị trường thông thoáng đã

    tạo ra nhiều hướng tiếp cận với văn hoá ăn uống đặc biệt là trong lĩnh vực kinh

    doanh du lịch. Quảng Ninh là một trong những địa chỉ hấp dẫn đối với cả khách

    trong và ngoài nước bởi nơi đây có những danh lam, thắng cảnh, các di tích lịch sử

    văn hóa rất đặc biệt. Bên cạnh đó, với lợi thế có đường bờ biển dài 250 km, có nhiều

    đảo đá và môi trường tự nhiên của nước biển rất thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh

    bắt hải sản phục vụ cuộc sống người dân địa phương, kinh doanh du lịch và có giá

    trị xuất khẩu.

    Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu khi đánh giá sở thích và sự hài lòng của

    khách du lịch đã cho thấy, họ ngày càng yêu thích, lựa chọn du lịch biển và

    thưởng thức những hải sản biển. Trong đó, hải sản biển Quảng Ninh là một trong

    những nét văn hóa ẩm thực đặc sắc, hấp dẫn và ấn tượng với rất nhiều du khách

    được trải nghiệm sau một chuyến đi.

    Tuy nhiên, khi nói đến ẩm thực Việt Nam, ít khi ẩm thực Quảng Ninh

    được nhắc đến. Khách du lịch chưa có nhiều thông tin về văn hóa ẩm thực đặc

    sắc nơi đây, việc khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ kinh doanh du lịch chưa

    tương xứng với tiềm năng sẵn có.

    Mặt khác, là một tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc, Quảng Ninh là điểm đến

    của rất nhiều khách du lịch Trung Quốc cũng như khách du lịch từ nhiều khu vực

    khác nhau trên thế giới. Trong quá trình giao thoa về văn hoá, Quảng Ninh đã

    chắt lọc và giữ lại trong mình những hương vị ẩm thực mang tính độc đáo và

    khác biệt khó có thể lẫn với các vùng đất khác.

    Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

    “Một số giải pháp phát huy văn hóa ẩm thực Quảng Ninh nhằm phát triển Du

    lịch”

    2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

    Ẩm thực Quảng Ninh có vai trò rất quan trọng trong việc phục vụ phát

    triển du lịch. Kinh tế ngày càng phát triển, việc đi du lịch và thưởng thức những

    món ăn đặc sắc của vùng miền là một trong những nhu cầu của khách du lịch. Vì

    9

    vậy, những năm gần đậy, việc nghiên cứu những giá trị văn hóa ẩm thực tại

    Quảng Ninh đang rất được quan tâm.

    Trong hoạt động du lịch, ăn uống là một trong những yếu tố quan trọng

    quyết định đến chất lượng của chương trình du lịch. Nghiên cứu về vấn đề này có

    một số công trình nghiên cứu được công bố như: công trình nghiên cứu khoa học

    của tác giả Hoàng Thị Thương(2011) với đề tài: Nghiên cứu chất lượng dịch vụ

    ăn uống tại khách sạn 3 sao ở Hạ Long cho khách du lịch Trung Quốc. Đề tài

    đánh giá và đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ăn

    uống cho khách du lịch Trung Quốc tại khách sạn 3 sao ở Hạ Long. Nghiên cứu

    về ẩm thực Quảng Ninh có công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang

    Vinh(2006) về Văn hóa ẩm thực Quảng Ninh. Tác giả cũng đã đề cập đến rất

    nhiều món ăn dân gian nổi tiếng, những món ăn kiêng ở Quảng Ninh; tác giả Lê

    Thu Nga(Khóa luận tốt nghiệp Đại học, 2012) với đề tài Sức hút của ẩm thực

    biển đối với việc phát triển du lịch. Đề tài nghiên cứu các loại ẩm thực nổi tiếng,

    cách làm và cách thưởng thức một số món ăn đặc sản tại Hạ Long. Đối với việc

    đánh giá thực trạng của việc khai thác văn hóa ẩm thực Quảng Ninh chưa có

    công trình nào được nghiên cứu đầy đủ, chi tiết và bao quát toàn bộ hoạt động

    trong lĩnh vực này. Cùng với đó, trong thời gian gần đây, hoạt động kinh doanh

    ăn uống của du lịch Quảng Ninh còn nhiều vấn đề tồn tại, khách du lịch chưa có

    nhiều thông tin về văn hóa ẩm thực đặc sắc, chưa hài lòng với một số dịch vụ du

    lịch làm ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của điểm đến cũng như thời gian lưu trú của

    khách tại Quảng Ninh.

    Trước thực trạng của việc khai thác văn hóa ẩm thực tại Quảng Ninh, tác

    giả thấy rằng cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ hơn về thực trạng khai thác văn

    hóa ẩm thực Quảng Ninh, phân tích, đánh giá và từ đó đưa ra những giải pháp

    phù hợp với thực tiễn. Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ

    quan quản lý Nhà nước về du lịch, các công ty lữ hành hướng dẫn để xây dựng các

    chương trình du lịch ẩm thực, là tài liệu nghiên cứu cho các khách sạn nhà hàng

    cũng như vận dụng ở một số địa phương có sự hấp dẫn về văn hóa ẩm thực để khai

    thác, phục vụ du lịch.

    10

    3. Mục tiêu, nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu

    * Mục tiêu nghiên cứu

    Nghiên cứu thực trạng khai thác ẩm thực du lịch Quảng Ninh, trên cơ sở

    đó, làm rõ tiềm năng phát triển du lịch ẩm thực và đề xuất một số giải pháp phù

    hợp nhằm khai thác có hiệu quả hơn ẩm thực Quảng Ninh phục vụ phát triển du

    lịch.

    * Nhiệm vụ nghiên cứu

    – Thu thập các tư liệu về văn hóa và văn hóa ẩm thực để phân tích, đánh

    giá và chứng minh văn hóa ẩm thực là một trong những sản phẩm du lịch độc

    đáo, đặc sắc và hấp dẫn của mỗi vùng, miền có sức thu hút khách cao.

    – Tìm hiểu văn hóa ẩm thực của Quảng Ninh và những nhu cầu của du

    khách đối với du lịch ẩm thực, phân tích, đánh giá thực trạng của việc khai thác

    văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch.

    – Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy văn hóa ẩm thực

    Quảng Ninh để phát triển du lịch.

    * Đối tƣợng nghiên cứu

    – Nghiên cứu việc khai thác các món ăn, đồ uống mang đặc trưng ẩm thực

    biển để phục vụ phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh.

    – Nghiên cứu nhu cầu ẩm thực của khách du lịch đến Quảng Ninh

    4. Phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu

    * Phạm vi nghiên cứu

    – Về mặt không gian: luận văn tập trung nghiên cứu việc phát triển du lịch

    cũng như văn hóa ẩm thực trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là trung tâm du lịch

    Hạ Long.

    – Về mặt thời gian: luận văn tập trung thu thập số liệu từ năm 2009-2012

    * Phƣơng pháp nghiên cứu

    Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

    – Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu:

    12

    – Luận văn đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị trong việc đưa văn

    hóa ẩm thực Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng vào việc phát

    triển du lịch.

    6. Kết cấu luận văn

    Với mục đích nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu và phương pháp

    nghiên cứu ở trên, luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung được kết cấu

    thành 3 chương như sau:

    Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về văn hóa ẩm thực và văn hóa ẩm thực trong

    phát triển du lịch

    Chƣơng 2: Thực trạng khai thác văn hóa ẩm thực trong hoạt động du lịch

    tại Quảng Ninh

    Chƣơng 3: Một số giải pháp để khai thác ẩm thực trong hoạt động du lịch

    tại Quảng Ninh

    13

    Chƣơng 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC VÀ VĂN HÓA

    ẨM THỰC TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

    14

    học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền

    thống và đức tin.

    Văn hóa là một đặc trưng của con người, chỉ con người mới có và chỉ con

    người mới biết vận dụng tinh thần và lý trí để vượt bản năng, cải thiện cuộc sống

    của chính mình, làm cho mối tương giao với người khác tốt đẹp hơn, nâng tâm

    hồn lên khỏi những hệ lụy vật chất. Văn hóa là thành quả, là tài sản chung của

    loài người, nhưng không giống nhau cho mọi giống người. Văn hóa Tây phương

    khác với văn hóa Đông phương. Văn hóa Trung Hoa không giống văn hóa Việt

    Nam. Ngay trong một nước cũng có sự khác biệt văn hóa theo miền, theo sắc

    tộc.Văn hóa của người Mường ở núi rừng miền Bắc và người sắc tộc ở cao

    nguyên Trung phần có những điều không giống văn hóa người kinh. Văn hóa của

    người sống ở đồng bằng sông Hồng có những điều không giống với văn hóa của

    người sống ở đồng bằng Cửu Long.

    Để duy trì sự sống của mình, ăn là hành vi tất yếu của loài người. Nhưng

    khác với động vật, ăn không chỉ thoả mãn nhu cầu đó mà còn là một hành vi văn

    hoá. Đồ ăn thức uống của mỗi dân tộc thực sự là một sự sáng tạo văn hoá của

    mỗi vùng miền đó. Ăn uống phản ánh trình độ văn hoá, văn minh của dân tộc,

    trình độ phát triển sản xuất, trình độ kinh tế của xã hội. Món ăn chứa đựng tiềm

    tàng sự sinh động và đa dạng về đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, ý thức tín

    ngưỡng của từng tầng lớp xã hội, từng vùng miền dân cư khác nhau. Với cách

    nhìn này, ẩm thực của dân tộc chính là “lăng kính đa chiều” phản ánh nhiều quá

    trình, nhiều hiện tượng xã hội của con người. Muốn tìm hiểu văn hoá của từng

    đất nước, dân tộc hay vùng miền địa phương khác nhau có lẽ nên bắt đầu bằng

    chính sự ăn uống mà qua thời gian được nâng lên thành một thứ, người ta gọi là

    Văn hoá ẩm thực.

    1.1.2. Những quan niệm về văn hóa ẩm thực.

    Với người Việt Nam trải qua nhiều thế hệ cuộc sống đối mặt với nhiều cam

    go thử thách kiên trì vật lộn mới giành được sự sống còn, việc ăn uống trước hết

    phải đảm bảo sự sinh tồn của dân tộc. Cái hay cái khéo và cái ngẫu nhiên của ẩm

    15

    thực đó là sự xuất hiện tự thân của nó trong quá trình tồn tại của con người. Từ cuộc

    sống ăn lông ở lỗ, ăn sống rồi ăn chín bằng việc nướng trực tiếp trên lửa, tiếp theo

    thời gian lịch sử cùng với sự tiến hoá của loài người, thực phẩm được chế biến

    thành nhiều món ăn đặc trưng riêng ở các vùng địa phương khác nhau và trở thành

    nghệ thuật ở mỗi nơi mỗi khác. Đây là nhu cầu thiết yếu nâng cao chất lượng cuộc

    sống, nguyên tắc cả thế giới chấp nhận “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà

    ăn” là nguyên tắc thiết thực nhất của người Việt Nam. Bên cạnh quan niệm “ăn no

    mặc ấm” của mình, con người còn hướng tới sự lí tưởng của nghệ thuật ẩm thực “ăn

    ngon mặc đẹp” đòi hỏi phải biết chế biến gia giảm và làm giàu thêm các loại thực

    phẩm, nâng cao chất lượng của các món ăn. Văn hoá ẩm thực dần dần hình thành và

    khẳng định vị trí của nó trong toàn cảnh nền văn hoá dân tộc.

    Như vậy, ẩm thực với tính chất thực dụng là sản phẩm thoả mãn nhu cầu

    đói và khát. Dưới góc độ thẩm mĩ, chúng lại là tác phẩm nghệ thuật. Dưới góc độ

    văn hoá, chúng biểu hiện bản sắc, sắc thái riêng biệt của dân tộc.

    Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, trước tiên đặt con người trong nền sinh

    thái tự nhiên rồi trải qua diễn trình lịch sử “con người đã hoá cái văn hoá tự nhiên

    để thành văn hoá ẩm thực”. Con người sống trong quan hệ chặt chẽ với thiên

    nhiên do cách thức ứng xử môi trường tự nhiên để duy trì sự sống, sự tồn tại

    thông qua việc tìm cái ăn, cái uống, từ cách săn bắn, hái lượm trong đó có tự

    nhiên. Vì thế “ăn uống là văn hoá, chính xác hơn là văn hoá tận dụng môi trường

    tự nhiên” [26,tr187]. Và khi việc ăn uống được nâng tầm, không chỉ đơn thuần

    giúp con người tồn tại, mà còn thưởng thức, đó là thưởng thức văn hóa ẩm thực.

    “Ẩm thực” vốn là từ gốc Hán Việt. “Ẩm” có nghĩa là uống, “thực”có

    nghĩa là ăn, ẩm thực nói tóm lại là hoạt động ăn uống. Từ ngàn đời xưa dân tộc ta

    đã đúc kết nhiều câu thành ngữ, tục ngữ chỉ sự ăn uống và nhấn mạnh đến tầm

    quan trọng của sự ăn: “Dân dĩ thực vi thiên” (dân lấy ăn làm trời), một số dị bản

    “dân dĩ thực vi tiên” (dân lấy cái ăn làm đầu); việc ăn uống quan trọng tới mức

    trời cũng không dám xâm phạm “trời đánh còn tránh miếng ăn”, “có thực mới

    vực được đạo”, “thực túc binh cường”, “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất

    16

    nông nhì sĩ” Không có ăn việc đạo việc đời, triết lý cao siêu đến đâu cũng là hư

    vô, không ý nghĩa. Phải đảm bảo lương thực đầy đủ mới có quân hùng tướng

    mạnh mà đánh thắng quân thù. Kẻ sĩ ngày thường là tầng lớp cao nhất trong xã

    hội, nhưng không có ăn thì kẻ sĩ không bằng người chân lấm, tay bùn, hai sương

    một nắng vốn lao đao nhất, lầm than vất vả nhất. Không phải ngẫu nhiên trong

    lời ăn tiếng tiếng nói của người Việt thường bắt gặp những chữ có từ ăn ở đầu: ăn

    uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn chơi, ăn tiêu, ăn ngủ, ăn nằm, ăn cắp, ăn

    trộm Hay một hệ thống những câu tục ngữ dân gian phản ánh tập quán ăn uống,

    mượn chuyện ăn uống để nói việc đời “ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi”, “ăn

    cá bỏ xương, ăn quả bỏ hột”, ” ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “miếng ăn là

    miếng nhục”, “lời chào cao hơn mâm cỗ” Có thể coi đó chính là nền tảng ban

    đầu hình thành nên những đặc trưng của nghệ thuật ẩm thực Việt Nam.

    Văn hóa ẩm thực Việt Nam

    Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Châu trong cuốn “ẩm thực dưỡng sinh” cho

    rằng người Việt Nam biết tạo những món ăn ngon có sự cân bằng âm dương, biết

    lựa chọn nguyên liệu tươi ngon, sạch sẽ để chế biến. Đây là vấn đề cực quan

    trọng đối với sức khoẻ con người. Người xưa ý thức được việc này nên đã có câu

    “bệnh tòng nhập khẩu” (bệnh theo miệng mà vào). Con người không chỉ biết “ăn

    no” mà còn biết “ăn ngon”. Tiếp đó việc ăn uống phải được trình bày đẹp mắt,

    thanh nhã, ăn uống phải có lễ nghi, hiếu đễ, phải “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”

    nghĩa là phải biết chỗ ngồi của mình ở đâu, phải biết kính trên nhường dưới, đó là lễ

    nghi. Món ngon vật lạ phải biết dâng cho ông bà, cha mẹ, hay nhường cho anh chị

    em con cháu trong nhà, đó là hiếu đễ. Cổ nhân đã từng dạy, đối với người nghèo

    phải biết nhường cơm sẻ áo cho họ, biết quý trọng hạt gạo mà người nông dân một

    “nắng hai sương” làm ra để cho ta có mà ăn, đó là lòng nhân ái.Từ khi sinh ra và lớn

    lên, người Việt phải “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Vì thế, nhà nghiên cứu Bùi

    Quốc Châu trong tác phẩm” ẩm thực dưỡng sinh” đã cho rằng “văn hoá ẩm thực

    Việt Nam là sự kế thừa của truyền thống cha ông và tổng hợp phát huy được

    17

    nhiều kiến thức hiện đại của loài người trong lĩnh vực ăn uống, phối hợp với triết

    lý cổ nhân Đông Phương, trong đó có Việt Nam”.

    1.2. Những yếu tố tác động đến văn hóa ẩm thực.

    1.2.1 Điều kiện tự nhiên.

    Điều kiện tự nhiên bao gồm: đất, nước, khí hậu, sinh vật

    Đất

    Đây là yếu tố rất quan trọng quyết định đến sự hình thành các phương thức

    sản xuất, tập quán sinh hoạt và văn hoá ẩm thực. Có một số dạng địa hình, đất đai

    cơ bản sau:

    Đồi núi: Thuận lợi phát triển rừng, phát triển chăn nuôi, săn bắn và trồng

    trọt các loại cây lương thực thực phẩm chịu hạn: lúa mì, su su, lê, mận, nho, táo,

    ôliu Đặc biệt rừng là nguồn cung cấp gia vị phong phú với chất lượng cao.

    Đồng bằng được chia thành 2 loại chính: Đồng bằng trũng, ngập nước: phát triển

    mạnh các loại cây trồng ngập nước: lúa nước, rau …phát triển nông nghiệp trồng

    trọt. Cư dân phải chọn cách sống định canh, định cư, dựa vào cộng đồng và yếu

    tố nước luôn chi phối đến cuộc sống: hạn hán, lũ lụt, rủi ro Đồng bằng khô: phát

    triển các loại cao lương, rau củ quả chịu hạn phát triển trồng trọt, chăn nuôi, có

    thể du canh, du cư.

    Nƣớc

    Các khu vực gần biển, đường sông thực phẩm, gia vị; phong cách ăn

    cũng có nét đặc trưng riêng. Vùng gần sông biển, sông ngòi tạo nguồn thực phẩm

    thuỷ sinh, hình thành tập quán sống với nước và khai thác các nguồn lợi do ao hồ

    sông ngòi mang lại như trồng trọt, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản cung cấp cho bữa

    ăn hàng ngày. Đồng bằng Nam Bộ đã hình thành tập quán sống chung với sông nư-

    ớc, đây là nơi phát triển nghề đánh bắt và nuôi thả thuỷ sản. Vùng có biển tạo ra

    nguồn lợi hải sản phong phú cho đánh bắt, nuôi trồng như các loại rong, tảo, cá, tôm,

    cua, mực Khẩu vị ăn hàng ngày bị chi phối và gắn liền với các sản phẩm thu được

    từ biển.

    18

    Khí hậu và hệ sinh vật:

    Vị trí của một quốc gia hay vùng dân cư trên địa cầu, quyết định đến kiểu

    khí hậu nóng/lạnh, khô/ẩm của quốc gia đó; từ đó chi phối đến nguồn thực

    phẩm và thói quen ăn uống của con người. Đối với nguồn thực phẩm: khí hậu

    nóng/lạnh, môi trường khô/ẩm quyết định trực tiếp đến hệ động thực vật (sẵn có)

    trong tự nhiên và cả việc con người có thể nuôi trồng được nguồn nguyên liệu tại

    chỗ việc chế biến món ăn, đồ uống.

    Vùng khí hậu lạnh: hệ động thực vật phong phú và phát triển thuận lợi

    các loại rau cải, su hào, súp lơ, lê, táo, nho các loại bò, cừu, cá hồi

    Vùng khí hậu nóng: gồm khí hậu nóng khô và nóng ẩm

    – Khí hậu nóng khô: là kiểu khí hậu khắc nghiệt tạo ra các vùng sa mạc,

    hệ động thực vật nghèo nàn kém phát triển, chủ yếu là các loại cây chịu hạn, chịu

    nóng và một số loại động vật hoang dã.

    – Khí hậu nóng ẩm – đặc trưng vùng nhiệt đới: hệ động thực vật phong

    phú và phát triển thuận lợi: các loại rau muống, rau đay, rau ngót, chanh, ớt, tiêu,

    me các loại lợn, bò, trâu, cá thu, cá chim, cá chép

    Đối với ăn uống của con người: môi trường sống và khí hậu quyết định

    đến các tập quán sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và khẩu vị ăn uống của con

    người. Vùng khí hậu có nhiệt độ thấp: con người sử dụng nhiều thực phẩm động

    vật, giàu chất béo, phương pháp chế biến chủ yếu là quay, nướng, hầm. Món ăn

    đặc, nóng, ít nước và ăn nhiều bánh. Vùng khí hậu nóng: dùng nhiều món ăn

    được chế biến từ các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật; tỉ lệ thịt, chất béo

    trong món ăn ít hơn. Phương pháp chế biến chủ yếu là xào, luộc, nhúng, chần,

    nấu các món ăn thường nhiều nước, có mùi vị mạnh: rất thơm, rất cay

    1.2.2 Điều kiện văn hóa và xã hội.

    Phong tục tập quán, lối sống

    Phong tục tập quán, lối sống trong cách sinh hoạt ăn uống tác động rất lớn

    đến văn hóa ẩm thực. Những thói quen sử dụng nguyên liệu, dụng cụ ăn của

    Châu Á và Châu Âu khác nhau tạo nên nét văn hóa ẩm thực khác nhau. Lối sống

    19

    quyết định đến cách thức tổ chức bữa ăn: người phương Tây có lối sống tự do, tôn

    trọng quyền cá nhân đã tạo ra tập quán ẩm thực mang tính “động” và phục vụ cho

    cá nhân. Người Đông Á có lối sống cộng đồng tạo ra tập quán ẩm thực luôn thể

    hiện tính cộng đồng từ cách chế biến đến cách tổ chức bữa ăn

    Bên cạnh đó, lối tư duy cũng có quyết định đến cách nghiên cứu sử dụng

    các loại sản phẩm của các ngành nghề khác vào ẩm thực: sử dụng nguyên liệu,

    thực phẩm chế biến, sử dụng các công cụ vào việc chế biến, phục vụ và trong

    việc tổ chức bữa ăn.

    – Cách tư duy thiên về kỹ thuật của người phương Tây giúp cho nền ẩm

    thực áp dụng nhanh và nhiều sản phẩm công nghiệp vào trong chế biến, phục vụ

    như: dùng nhiều sản phẩm đồ hộp, ứng dụng nhiều thiết bị chuyên dùng, chuẩn

    hoá qui trình chế biến, phục vụ

    – Cách tư duy thiên về cảm tính, ước lệ của người Đông Á đã tạo điều kiện

    ẩm thực đa dạng, giàu bản sắc đậm tính địa phương nhưng thiếu sự chuẩn hoá và

    duy trì lối chế biến, phục vụ mang nặng tính phổ thông, cảm tính.

    Lịch sử

    Lịch sử gắn liền với truyền thống ẩm thực, một dân tộc có bề dày lịch sử

    thì các món ăn càng mang nặng tính cổ truyền, độc đáo truyền thống riêng đặc

    trưng của dân tộc. Dân tộc nào mạnh trong lịch sử, nền kinh tế phát triển thì hình

    thành nền ẩm thực cao cấp; món ăn phong phú, chế biến cầu kỳ, cách phục vụ đa

    dạng và luôn tìm đến sự hoàn thiện cao. Chính sách cai trị của nhà nước trong

    lịch sử càng bảo thủ thì tập quán và khẩu vị ăn uống càng ít bị lai tạp.

    Tôn giáo, tín ngƣỡng

    Đây là yếu tố phức tạp và khá quan trọng, tuỳ theo từng tôn giáo sẽ có

    mức độ ảnh hưởng hoặc chi phối đến văn hoá ẩm thực khác nhau:

    – Tôn giáo hay tín ngưỡng sử dụng thực phẩm, thức ăn làm vật thờ cúng,

    kiêng kị đều ảnh hưởng đến tập quán và khẩu vị ăn uống. Hơn nữa, nếu việc duy

    trì các giáo lý nghiêm ngặt thì sự ảnh hưởng càng nhiều văn hoá ẩm thực của các

    tín đồ.

    20

    – Tôn giáo càng mạnh thì phạm vi ảnh hưởng càng lớn và sâu sắc. Đạo Hồi

    có khoảng 900 triệu tín đồ. Trên thế giới có nhiều quốc gia coi đạo Hồi là quốc đạo

    nên đã tạo ra vùng ẩm thực Hồi giáo với khoảng 20 quốc gia. Ở đó người dân

    không mua bán hay sử dụng rượu, bia, thuốc lá hoặc những thứ gây kích thích, gây

    nghiện khác.

    Nghề nghiệp

    Nghề nghiệp chi phối trực tiếp lối sống, suy nghĩ, hành động và khẩu phần

    ăn uống, từ đó hình thành dần thói quen ăn uống của mỗi người. Điển hình ở một

    số đối tượng lao động sau:

    – Những người lao động nặng: nhu cầu ăn uống của họ nhiều hơn về lượng

    và chất, dễ tính trong việc lựa chọn các món ăn. Các món ăn nhiều chất béo,

    đạm, chắc, mùi vị mạnh luôn được lựa chọn.

    – Những người lao động nhẹ, làm việc trí óc: nhu cầu khẩu phần ăn ít hơn

    nhưng chia làm nhiều bữa. Sự đòi hỏi về khẩu vị phong phú, cẩn trọng, tinh tế và

    phức tạp hơn. Các món ăn giàu đạm, chất khoáng, vitamin, đường món ăn có

    mùi vị nhẹ, kỹ thuật chế biến cầu kỳ, món ăn cần được trình bày đẹp luôn làm hài

    lòng đối tượng lao động này.

    – Những doanh nhân: cách ăn và khẩu vị ăn cởi mở hơn, dễ chấp nhận khẩu

    vị ăn mới, ít lệ thuộc vào tập quán và khẩu vị ăn uống truyền thống của bản thân

    mà luôn sẵn sàng chiều theo ý đối tác để đạt được hiệu quả công việc. Cho nên họ

    là những người cởi mở nhưng khi nghỉ ngơi giải trí hoặc chiêu đãi đối tác họ lại là

    những người rất khó tính, khắt khe đòi hỏi cao về chuyên môn và chất lượng phục

    vụ.

    1.2.3 Ảnh hưởng của kinh tế.

    Kinh tế là cơ sở trực tiếp quyết định việc ăn uống cũng như sự phát triển của

    ẩm thực. Ở những quốc gia, vùng dân cư có nền kinh tế phát triển, các món ăn

    phong phú, đa dạng, được chế biến ngon và hoàn thiện cầu kỳ hơn, đòi hỏi việc

    ăn uống phải có tính khoa học và đảm bảo vệ sinh an toàn. Ngược lại, những

    quốc gia hay vùng dân cư có nền kinh tế kém phát triển thì việc ăn uống chỉ là để

    23

    để chế biến món ăn Việt Nam rất phong phú, bao gồm nhiều loại rau thơm như

    húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa là, mùi tàu ;gia vị thực vật như ớt, hạt

    tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá non; các gia vị lên men như mẻ, mắm

    tôm, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo đắng, nước cốt dừa. Các gia vị đặc trưng

    của các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới nói trên được sử dụng một cách tương

    sinh hài hòa với nhau và thường thuận theo nguyên lý “hài hòa âm dương”, như

    món ăn dễ gây lạnh bụng buộc phải có gia vị cay nóng đi kèm. Các món ăn kỵ

    nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không

    ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng được dân gian đúc kết thành

    nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Khi thưởng thức các món ăn, tính

    chất phối trộn nguyên liệu một cách tổng hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn:

    người Việt ít khi ăn món nào riêng biệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn

    thường là sự tổng hòa các món ăn từ đầu đến cuối bữa.

    Đây cũng là nền ẩm thực sử dụng thường xuyên nước mắm, tương, tương

    đen. Bát nước mắm dùng chung trên mâm cơm và nồi cơm chung, từ xưa đến nay

    biểu thị tính cộng đồng gắn bó của người Việt.

    Một đặc điểm ít nhiều cũng phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước

    khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu hàng

    đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món hết sức

    cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về bày biện

    có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực của Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị

    một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn

    thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo (ví dụ như các món măng, chân

    cánh gà, phủ tạng động vật v.v). Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách

    cảm tính, đặc trưng ẩm thực Việt Nam toát lộ trong sự đối sánh với các nền văn

    hóa ẩm thực khác trên thế giới: món ăn Trung Hoa ăn bổ thân, món ăn Việt ăn

    ngon miệng, món ăn Nhật nhìn thích mắt. Tuy nhiên, đặc điểm này càng ngày

    càng phai nhòa và trở nên ít bản sắc trong thời hội nhập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Phát Triển Văn Hoá
  • Đề Tài Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Văn Hóa Xã Hội
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Vì Sự Phát Triển Bền Vững Ở Lai Châu
  • Đề Thi Thử Thpt Lần 3 Môn Văn
  • Một Vài Giải Pháp Giúp Nâng Cao Văn Hoá Đọc Của Sinh Viên Saigonact
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viêt Cho Học Sinh Tiểu Học
  • “một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học”
  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Lớp 1 2 3 4 5
  • Trường Học Nói Không Với Rác Thải Nhựa
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn đồ án tốt nghiệp ngành du lịch với đề tài: Tìm hiểu ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh – phục vụ phát triển du lịch, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 4. NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI 1. Nội dung và các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. 2. Các tài liệu, số liệu cần thiết …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. 3. Địa điểm thực tập tốt nghiệp Khách sạn DASOM 333 Văn Cao, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng.
    2. 5. CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP Họ và tên : Đào Thị Thanh Mai Học hàm, học vị : ThS Cơ quan công tác : Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Nội dung hướng dẫn: Tìm hiểu ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh – phục vụ phát triển du lịch Đề tài tốt nghiệp được giao ngày 24 tháng 12 năm 2022 Yêu cầu phải hoàn thành xong trước ngày 05 tháng 04 năm 2022 Đã nhận nhiệm vụ ĐTTN Đã giao nhiệm vụ ĐTTN Sinh viên Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thanh Hương ThS. Đào Thị Thanh Mai Hải Phòng, ngày 05 tháng 04 năm 2022 HIỆU TRƯỞNG GS.TS.NGƯT Trần Hữu Nghị
    3. 6. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TỐT NGHIỆP Họ và tên giảng viên: ThS. Đào Thị Thanh Mai Đơn vị công tác: Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thanh Hương Chuyên ngành: Văn hóa du lịch Đề tài tốt nghiệp: Tìm hiểu ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh -phục vụ phát triển du lịch 1. Tinh thần thái độ của sinh viên trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp  Thực hiện nghiêm túc các yêu cầu để phục vụ nội dung nghiên cứu.  Có ý thức kỷ luật tốt, chăm chỉ, chịu khó học hỏi.  Hoàn thành đề tài đúng thời hạn. 2. Đánh giá chất lượng của khóa luận – Về lý luận, tác giả đã nêu khái quát, phân tích và đưa ra các cơ sở lý luận về du lịch nông nghiệp. – Về thực tiễn, tác giả đã nêu và đánh giá thực trạng và có giải pháp để phát triển du lịch nông nghiệp. – Đề tài đáp ứng yêu cầu đề ra về lý luận và thực tiễn, đạt chất lượng tốt của khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học (Văn hóa du lịch). 3. Ý kiến của giảng viên hướng dẫn tốt nghiệp Được bảo vệ Không được bảo vệ Điểm hướng dẫn Hải Phòng, ngày 05 tháng 04 năm 2022 Giảng viên hướng dẫn ThS. Đào Thị Thanh Mai
    4. 7. MỤC LỤC Lời mở đầu …………………………………………………………………….. 1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………… 2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài……………………………………………. 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu……………………………………… 4. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………… 5. Bố cục của bài khóa luận………………………………………………… Chương 1: Tổng quan về loại hình du lịch ẩm thực và du lịch ẩm thực đường phố ……………………………………………………………….. 1.1. Cơ sở lý luận về loại hình du lịch ẩm thực …………………………. 1.1.1. Khái niệm về ẩm thực…………………………………………………. 1.1.2. Khái niệm về du lịch ẩm thực và du lịch ẩm thực đường phố…. 1.1.2.1. Khái niệm du lịch về ẩm thực ………………………………………. 1.1.2.2. Khái niệm về du lịch ẩm thực đường phố………………………… 1.1.3. Mối quan hệ giữa Ẩm thực và Du lịch…………………………….. 1.2. GiớithiệudulịchẩmthựcđườngphốởViệtNamvàtrênthếgiới……… 1.2.1. Một số khu ẩm thực đường phố ở Việt Nam ……………………… 1.2.1.1. Ẩm thực đường phố ở Hà Nội………………………………………. 1.2.1.2. Ẩm thực đường phố ở Hải Phòng …………………………………. 1.2.1.3. Ẩm thực đường phố ở Đà Nẵng …………………………………… 1.2.1.4. Ẩm thực đường phố ở Đà Lạt ……………………………………… 1.2.2. Một số khu ẩm thực đường phố trên thế giới …………………….. 1.2.2.1. Ẩm thực đường phố ở Trung Quốc ………………………………… 1.2.2.2. Ẩm thực đường phố ở Mỹ…………………………………………… 1.2.2.3. Ẩm thực đường phố ở Australia ……………………………………. 1.2.2.4. Ẩm thực đường phố ở Anh………………………………………….. 1.3. Tiểu kết chương 1 ……………………………………………………….. Chương 2: Thực trạng khai thác ẩm thực đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh – phục vụ phát triển du lịch……………………………….. 1 1 2 3 3 3 4 4 4 5 5 6 7 8 8 8 9 10 11 12 12 12 13 13 14 15
    5. 8. 2.1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh………………………………. 2.1.1. Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên…………………………………….. 2.1.1.1. Vị trí địa lý…………………………………………………………….. 2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên …………………………………………………….. 2.1.2. Lịch sử hình thành – tổ chức hành chính và kinh tế – xã hội….. 2.1.2.1. Lịch sử hình thành…………………………………………………… 2.1.2.2. Tổ chức hành chính………………………………………………….. 2.1.2.3. Kinh tế…………………………………………………………………. 2.1.2.4. Dân cư – xã hội……………………………………………………….. 2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh ……… 2.1.3.1. Tài nguyên vật thể ……………………………………………………. 2.1.3.2. Tài nguyên phi vật thể ……………………………………………….. 2.2. Tìm hiểu về ẩm thực đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh……….. 2.2.1. Một số món ăn phổ biến từ trước năm 1975… … … … … … … … 2.2.1.1. Sủi cảo…………………………………………………………………. 2.2.1.2. Phá lấu …………………………………………………………………. 2.2.1.3. Hủ tiếu …………………………………………………………………. 2.2.1.4. Bột chiên …………………………………………………………………. 2.2.1.5. Phở …………………………………………………………………….. 2.2.1.6. Bánh xèo……………………………………………………………….. 2.2.1.7. Bánh mỳ Sài Gòn …………………………………………………….. 2.2.1.8. Cơm Tấm ………………………………………………………………. 2.2.2. Một số món ăn phổ biến ngày nay ………………………………….. 2.2.2.1. Bánh tráng……………………………………………………………… 2.2.2.2. Ốc………………………………………………………………………. 2.2.2.3. Gỏi cuốn……………………………………………………………….. 2.2.2.4. Súp cua………………………………………………………………… 2.2.2.5. Bánh kếp Thái ………………………………………………………… 2.2.2.6. Bạch tuộc viên Nhật Bản……………………………………………. 15 15 15 16 19 19 19 20 22 23 23 32 35 35 35 35 36 36 37 37 37 38 38 38 39 39 40 40 41
    6. 9. 2.2.2.7. Kimbap Hàn Quốc…………………………………………………… 2.2.2.8. Kem…………………………………………………………………….. 2.3. Đánh giá thực trạng khai thác ẩm thực đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………………………….. 2.3.1. Đặc trưng của ẩm thực Thành phố Hồ Chí Minh………………… 2.3.2. Thực trạng khai thác ẩm thực đường phố trên một vài địa điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………… 2.3.2.1. Chợ Bến Thành, Lê Lợi – quận 1…………………………………… 2.3.2.2. Con đường bán trái cây đĩa Nguyễn Cảnh Chân – quận 1……… 2.3.2.3. Đường Nguyễn Thượng Hiền – quận 3…………………………….. 2.3.2.4. Đường Cao Thắng – quận 3………………………………………… 2.3.2.5. Hẻm 14, Trần Bình Trọng – quận 4……………………………….. 2.3.2.6. Phố ốc Vĩnh Khánh – quận 4……………………………………….. 2.3.2.7. Đường An Dương Vương – quận 5………………………………… 2.3.2.8. Phố Sủi Cảo Hà Tôn Quyền – quận 11……………………………. 2.3.3. Sự giống và khác nhau ở một vài món ăn đường phố …………… 2.3.3.1. Cơm tấm Sài Gòn và Kimbap Hàn Quốc …………………………. 2.3.3.2. Bánh xèo và bánh kếp Thái Lan…………………………………… 2.3.4. Ưu điểm của ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển du lịch………………………………………………………. 2.3.5. Hạn chế của ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển du lịch………………………………………………………… 2.4. Tiểu kết chương 2 ………………………………………………………. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác ẩm thực đường phố phục vụ phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh……………. 3.1. Định hướng phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030……………………………………………………………………….. 3.1.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch……………………………. 3.1.2. Tiềm năng, thế mạnh của ẩm thực đường phố trong chính sách phát triển du lịch ………………………………………………………………. 41 41 42 42 43 43 44 44 44 45 45 45 46 46 46 49 52 53 54 55 55 55 56
    7. 11. LỜI CẢM ƠN Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo của trường Đại học Dân Lập Hải Phòng bởi suốt quãng thời gian bắt đầu học tập tại giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Du lịch đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong những năm học vừa qua. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập em tin rằng đó chính là hành trang quý báu cho con đường sự nghiệp của mình trong tương lai. Không chỉ vậy, để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Thạc sĩ Đào Thị Thanh Mai. Cô đã tận tình hướng dẫn em trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, hướng tiếp cận và giúp em chỉnh sửa những điều còn thiếu sót. Trong quá trình nghiên cứu, do trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến bài khóa luận, em rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để em có thể hoàn thiện tốt hơn. Lời cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô luôn dồi dào sức khỏe. Em xin chân thành cảm ơn !
    8. 12. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 1 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Nước Mỹ đã sinh ra những nhà hàng di động nhưng Việt Nam mới là thiên đường ẩm thực đường phố. Không đâu lại có văn hóa ẩm thực đa dạng như nơi này. Qua ẩm thực, một phần bản sắc văn hóa của Việt Nam đã được gìn giữ và phát huy trong quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa quốc tế”. Đó là nhận định của tờ báo CNNGo (Mỹ) về ẩm thực Việt Nam.Văn hóa ẩm thực Việt Nam luôn độc đáo và phong phú trên mọi phương diện. “Một đất nước nhỏ bé mà thức ăn lại tinh tế và đa đạng đến đáng kinh ngạc. Mỗi thành phố, thậm chí mỗi ngôi làng đều có món đặc sản riêng”. Đây cũng là ấn tượng chung của nhiều du khách sau khi thưởng thức những món ăn dân dã tại Việt Nam.Và trong con mắt những du khách ấy, có một phần không thể bỏ qua đó chính là ẩm thực đường phố, đặc biệt là trên những con phố của mảnh đất Hồ Chí Minh. Cùng với đó, hãng thông tấn CNN đã đánh giá Thành phố Hồ Chí Minh là thủ đô ẩm thực của nước ta.Không chỉ vậy từ nhiều năm trước, ẩm thực đường phố ở Việt Nam nói chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã được rất nhiều tạp chí nước ngoài nhắc đến như: Tạp chí ẩm thực thế giới Food and Wine đã bình chọn Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có món ăn đường phố ngon hàng đầu, trong đó món chả giò, bánh mì được nhiều tạp chí bình chọn là một trong 12 món ăn ngon nhất thế giới. Với thành tích trên, văn hóa ẩm thực có một vai trò đóng góp không nhỏ trong việc thu hút khách du lịch quốc tế và nội địa. Với cách tiếp cận kinh tế và giao lưu văn hóa vùng miền trong nước và quan hệ quốc tế, nghiên cứu văn hóa ẩm thực nói chung và văn hóa ẩm thực đường phố nói riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề cấp thiết để phát triển du lịch trong quá trình đổi mới hiện nay và cho tương lai. Đặc biệt là ở các đô thị đông dân khi mà giá cả sinh hoạt tăng cao khiến nhiều người dân chấp nhận
    9. 15. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 4 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC VÀ DU LỊCH ẨM THỰC ĐƯỜNG PHỐ 1.1. Cơ sở lý luận về loại hình du lịch ẩm thực 1.1.1. Khái niệm ẩm thực Ngay từ khi những bước chân đầu tiên của con người in dấu trên Trái Đất, ngay từ thời kì bình minh của nhân loại, việc ăn uống đã được coi như là một nhu cầu cần thiết để duy trì sự sống của sinh vật sống nói chung và con người nói riêng. Tuy nhiên ở thời kì cổ đại đó, thực phẩm vẫn còn khan hiếm buộc con người không có quyền lựa chọn thức ăn. Sau này, trải qua hàng trăm triệu năm tiến hóa, thế giới ngày một văn minh hơn. Do đó, những tri thức cơ bản đầu tiên về lĩnh vực ăn uống được hình thành, tạo nên khái niệm đầu tiên về văn hóa ăn uống: ẩm thực. Nghĩa hẹp: theo nghĩa Hán Việt thì ẩm nghĩa là uống, thực nghĩa là ăn, nghĩa hoàn chỉnh là ăn uống, là một hệ thống đặc biệt về quan điểm truyền thống và thực hành nấu ăn, nghệ thuật bếp núc, nghệ thuật chế biến thức ăn, thường gắn liền với một nền văn hóa cụ thể. Nó thường được đặt tên theo vùng hoặc nền văn hóa hiện hành. Một món ăn chủ yếu chịu ảnh hưởng của các thành phần có sẵn tại địa phương hoặc thông qua thương mại, buôn bán trao đổi. Nghĩa rộng: ẩm thực có nghĩa là nền văn hóa ăn uống của một dân tộc, đã trở thành một tập tục, thói quen. Ẩm thực không chỉ nói về “văn hóa vật chất” mà còn nói về cả mặt “văn hóa tinh thần”. Những thực phẩm mang màu sắc tôn giáo cũng mang nhiều ảnh hưởng rất lớn tới ẩm thực.
    10. 17. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 6 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Tourism” với ý nghĩa du lịch tìm hiểu, đánh giá ẩm thực có tính văn hóacủa địa phương hay dân tộc. Do đó, du lịch ẩm thực là loại hình du lịch tổ chức và hướng dẫn du khách đến các điểm du lịch để tìm hiểu, thưởng thức, trải nghiệm đồ ăn, thức uống có tínhnghệ thuật và văn hóa đặc thù của địa phương, vùng miền, quốc gia. Thuật ngữ “Food Tourism” có thể được sử dụng để chỉ loại hình du lịch ẩm thực. Theo chúng tôi Phan Thị Thu Hiền, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Du lịch ẩm thực là quảng bá, tiếp thị, tổ chức, hướng dẫn du khách đến các điểm du lịch có ẩm thực đặc sắc, độc đáo của địa phương, vùng miền, quốc gia.(Theo Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang). 1.1.2.2. Khái niệm về du lịch ẩm thực đường phố Ẩm thực đường phố hay thức ăn vỉa hè, thức ăn lề đường là các loạithức ăn, đồ uống đã chế biến sẵn hay sẵn sàng chế biến và phục vụ tại chỗ theo yêu cầu của khách hàng được bày bán trên vĩa hè, lề đường ở các đường phố, khu phố đông người hoặc những nơi công cộng khác, chẳng hạn như một siêu thị, công viên, khu du lịch, điểm giải trí, khu phố ăn uống ngoài trời… thông thường thức ăn đường phố được bày bán trên các tiệm ăn di động, quán ăn tạm thời hay là từ một gian hàng di động cho đến các loại xe đẩy. Theo khái niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thức ăn đường phố là những đồ ăn, thức uốngđược làm sẵn hoặc chế biến, nấu nướng tại chỗ, có thể ăn ngay và được bày bán trên đường phố, những nơi công cộng. Du lịch ẩm thực đường phố là hành động du khách rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến một nơi khác (có thể là một tỉnh thành khác hoặc thậm chí là một quốc gia khác) để kết hợp việc thưởng thức các món ăn đường phố với việc tậnhưởng kỳ nghỉ của họ nhằm tìm hiểu và khám phá tự nhiên, văn hóa, lịch sử,conngười tại nơi họ đến.
    11. 18. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 7 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 1.1.3. Mối quan hệ giữa ẩm thực và du lịch Du lịch ẩm thực nhiều hơn chỉ là thưởng thức một bữa ăn ngon, một chút bia hay một ly rượu vang trong suốt chuyến đi. Đó là cách chúng ta hòa mình vào nền văn hóa và di sản của một khu vực, tạo ra những kỷ niệm không thể quên theo một cách hoàn toàn khác biệt. Theo báo cáo toàn cầu về du lịch ẩm thực của Tổ chức du lịch thế giới, trung bình 1/3 ngân sách của khách du lịch được dành cho ẩm thực. Điều này chỉ ra rằng yếu tố này là một phần trải nghiệm của khách du lịch. Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng không phải tất cả khách du lịch chỉ đến đó để thưởng thức những đồ ăn ngon, cũng không phải tất cả các doanh nghiệp kinh doanh ẩm thực sẽ cung cấp dịch vụ này. Trong ẩm thực ẩn chứa những giá trị văn hóa phi vật thể cốt lõi của điểm đến và thông qua việc thưởng thức chúng, du khách có thể khám phá, cảm nhận rõ nét bản sắc văn hóa chính thống của người dân địa phương. Khi có cơ hội thưởng thức các món ăn mới lạ và hấp dẫn trong chuyến đi của mình, du khách sẵn sàng đón nhận, bởi lẽ đó là một trong những hoạt động trải nghiệm thú vị nhất gắn với tâm lý và sinh hoạt hàng ngày của mỗi con người. Bên cạnh các yếu tố có thể làm thỏa mãn nhu cầu khách như thời tiết, dịch vụ lưu trú, phong cảnh tham quan… thì ẩm thực góp phần gia tăng đáng kể giá trị cho chuyến đi của khách du lịch cũng như tạo dựng hình ảnh tốt đẹp về điểm đến đó. Đồng thời, ngoài việc là yếu tố tạo sức hấp dẫn, ẩm thực còn đóng vai trò vô cùng quan trọng, tạo dấu ấn khác biệt giữa quốc gia này với quốc gia khác. Bởi lẽ, bên cạnh bản sắc độc đáo của hương vị và nghệ thuật chế biến tinh tế của từng món ăn, khi quảng bá, chúng thường được đi kèm với tên thương hiệu của mỗi quốc gia. Ví dụ như: Ẩm thực Việt Nam, ẩm thực Pháp, ẩm thực Mê Xi Cô,… Điều này giúp dễ dàng khắc sâu vào tâm trí của du khách, dù đã từng hay chưa được trải nghiệm nhưng cũng khiến họ phải quan tâm tìm hiểu và lưu giữ được những cảm nhận ban đầu
    12. 19. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 8 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 khó quên về điểm đến du lịch, qua đó góp phần tạo thêm động lực để họ quyết định đi thăm cũng như quay trở lại điểm đến du lịch. 1.2. Giới thiệu ẩm thực đường phố ở Việt Nam và trên thế giớii 1.2.1. Một số khu ẩm thực đường phố ở Việt Nam 1.2.1.1. Ẩm thực đường phố ở Hà Nội Phố ẩm thực Hàng Buồm Phố Hàng Buồm được ví như một Hà Nội thu nhỏ hiện đại, tấp nập và đông đúc.Thực khách có thể thưởng thức đồ ăn tại quán hoặc mang đi, vừa dạo chơi phố cổ vừa nhâm nhi. Ngoài ra, cũng có nhiều loại chè hay nước ép trái cây cho thực khách lựa chọn. Do hoạt động trùng với chợ đêm Hà Nội nên phố ẩm thực Hàng Buồm thu hút rất nhiều các tín đồ ẩm thực trong nước và du khách quốc tế. Chợ Đồng Xuân Đây là ngôi chợ lâu năm, nổi tiếng và đông đúc vào bậc nhất đất Hà Thành. Không chỉ với người Hà Nội, chợ Đồng Xuân còn là địa chỉ ẩm thực yêu thíchcủa rất nhiều du khách. Vào bất kì thời điểm nào cũng có thể tới đây để tìm kiếm và thưởng thức vô vàn món ngon gồm cả bữa chính cùng các món trángmiệng béo ngậy, giòn tan. Sau đó là món bún chả kẹp que tre chuẩn chất Hà Nội, từ nguyên liệu tới cách chế biến đều cầu kì, tỉ mỉ. Nước chua gia giảm của quán không phải chế từ dấm mà là sấu dầm tự làm, vị dịu dàng vô cùng độc đáo. PhốLý Quốc Sư Một trong những thương hiệu phở nổi tiếng ở Hà Nội, được nhiều người biết đến nhất nằm trên phố Lý Quốc Sư. Phở ở đây chỉ chuyên về bò nhưng có đủ các loại tái, chín, nạm, gầu,.. tạo cho khách hàng mới đến lần
    13. 20. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 9 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 đầu có nhiều sự lựa chọn và khách hàng trung thành sẽ không bị nhàm chán. Nước dùng phở rất đặc trưng, thơm mùi gia vị mà không bị béo. Ngoài ra phải kể đến trà chanh. Dễ thấy hình ảnh du khách tấp nập đi lại và các bạn trẻ tụ tập bên những quán trà chanh, nhất là những ngày cuối tuần.Trà chanh, me muối, mơ muối là lựa chọn phổ biến. Mùa nào thức đấy, những ly sấu đá hè có thể thay bằng ly ca cao, cà phê ấm nóng khi tiết trời Hà Nội chuyển lạnh. Phố Nhà Thờ Ở phố Nhà Thờ, bạn có thể vừa ăn kem dừa kiểu Thái, vừa thưởng thức món đồ ăn Nhật Bản, sau đó nhâm nhi một chiếc bánh pizza. Nếu không, cũng có rất nhiều các hàng quán đồ ăn Việt hấp dẫn.Khu phố này cũng có cả những quán cà phê kiểu Pháp xinh xắn, sang trọng, nằm ẩn mình dưới những tán cây già cỗi. Thưởng thức ly cà phê nóng bên ban công, lặng ngắm khu phố nhỏ, bạn sẽ có một buổi chiều thật tuyệt vời. 1.2.1.2. Ẩm thực đường phố Hải Phòng Phố Cầu Đất Là một trong những con đường trung tâm của thành phố Cảng, Cầu Đất được biết đến với món Bánh đa cua nổi tiếng. Du khách có thể đến quán Bánh đa cua Bà Cụ ở số 179 hay quán Bánh đa cua bể ở số 195, chắc chắn sẽ làm hài lỏng cả những người khó tính nhất. Ngoài ra thực khách cũng có thể thưởng thức món Bánh rán Bà Lạnghoặc nhiều loạibánh ngọt trong các cửa tiệm lâu đời như: Kim Thanh, Thanh Lịch, Lâm Hương,…trên dọc con phố này. Phố Văn Cao Người Hải Phòng hay nói vui rằng: “Muốn ăn lẩu hãy đến Văn Cao, muốn ăn nướng hãy đến Hoàng Minh Thảo”. Nói như vậy để thấy được rằng Lẩu chính là món ăn được bán phổ biến ở con phố này, đặc biệt là Lẩu cua
    14. 21. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 10 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 đồng. Ngoài ra đây còn là nơi sinh sống của rất nhiều người nước ngoài nên đến đây du khách sẽ được trải nghiệm những món ăn độc đáo trong các nhà hàng Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,… Chợ Cát Bi Là khu chợ nổi tiếng với ẩm thực phong phú, chợ Cát Bi chính là thiên đường ẩm thực của thành phố Hoa Phượng đỏ với khu nhà ăn rộng lớn ngay chính trung tâm của chợ. Tại đây du khách sẽ được thưởng thức rất nhiều món ăn hấp dẫn như: Giá bể xào, bánh đa, bánh bèo, cháo, ốc, các loại chè,…Từ tầm 3 giờ chiều trở đi là khoảng thời gian thích hợp nhất để du khách có thể thưởng thức tất cả các món ngon ở nơi đây. 1.2.1.3. Ẩm thực đường phố Đà Nẵng Khu ẩm thực Phạm Hồng Thái Khu phố ẩm thực Đà Nẵng này thường hoạt động náo nhiệt vào buổi chiều khoảng từ 5h chiều cho đến 11h đêm. Đây là khu phố rất tuyệt vời chonhững ai thích ăn khuya đa dạng nhiều món khác nhau vừa ngon bổ mà lại rẻ nữa. Khu phố hội tụ tất cả những đặc sản của miền Trung vô cùng hấp dẫn như: Bánh xèo, ốc hút, ram bắp,…Ngoài ra còn có những quán nhậu hải sản bình dân rất được lòng thực khách. Khu ẩm thực chợ Cồn Đây là khu chợ có quy mô lớn ở Đà Nẵng là một địa điểm tham quan mua sắm cũng như ăn uống tuyệt vời dành cho khách du lịch khi tới Đà Nẵng. Đến phố ẩm thực Đà Nẵng này bạn tha hồ thưởng thức những món ăn vặt nổi tiếng mực rim, ốc hút, chè, nem,..Bên cạnh đó khu chợ còn có rất nhiều gian hàng bán đặc sản dành cho du khách mang về làm quà.
    15. 22. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 11 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Khu ẩm thực Ngũ Hành Khu ẩm thực này được mở hàng ngày nhân dịp pháo hoa quốc tế. Đến đây bạn có thể tham gia trò chơi và thưởng thức các món ăn đặc sản của Đà Nẵng. Với diện tích rộng và có thể đáp ứng cho 4.000 khách hàng cùng sự góp mặt của nhiều đầu bếp nổi tiếng như Thanh Hòa, Minh Nhật,…của chương trình Master ChefViệt Nam, chắc chắn đây sẽ là một điểm dừng chân thú vị. Đường Bạch Đằng Con đường này là một trong những đường đẹp nhất của thành phố, nằm kề bên bờ sông Hàn. Du khách có thể lân la ở các quán ăn, quán cafe như quán souvenir & cafe nằm ở địa chỉ 34 Bạch Đằng, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Bên cạnh đó còncó đặc sản dừa rất ngon ngọt, hay rau câu dừa, kem xôi dừa,…địa chỉ 198, Bạch Đằng, Đà Nẵng. 1.2.1.4. Ẩm thực đường phố Đà Lạt Khu ẩm thực truyền thống tại Đà Lạt Center Nằm ở tầng 2 của khu chợ mới Đà Lạt Center với 16 quầy hàng liền kề nhau là 16 mái nhà tranh. Ở đó phục vụ các món ăn như: Bún, phở, mì Quảng, cơm, cháo, xắp xắp, bánh tráng trộn, bánh tráng nướng, bánh cuốn, nem, bánh mì, hủ tiếu,…Tại khu ẩm thực truyền thống, ngoài các món ăn, du khách còn có thể lựa chọn các loại chè đa dạng hay nước giải khát, nước ép trái cây đặc trưng của Đà Lạt. Đó sẽ là lựa chọn khá lý tưởng để vừa tản bộ, vừa có nhiều thứ để nhâm nhi. Chợ đêm Đà Lạt Chợ đêm nhộn nhịp, thu hút rất nhiều khách du lịch tới tham quan, nơiđây luôn là một trong những địa điểm du lịch Đà Lạt được yêu thích. Du kháchđến đây có thể để mua sắm đồ lưu niệm, quần áo hay thưởng thức những mónăn vặt vừa ngon vừa rẻ làm nên danh tiếng của ẩm thực Đà Lạt
    16. 23. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 12 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 như: Bánh trángnướng, xiên nướng, sữa đậu nành, bánh bột lọc chén, bánh ướt lòng gà,… 1.2.2. Một số khu ẩm thực đường phố trên thế giới 1.2.2.1. Ẩm thực đường phố ở Trung Quốc Được UNESCO công nhận là “Thành phố ăn ngon” đầu tiên của Châu Á vào năm 2010, Thành Đô được biết đến nhiều nhất với món lẩu và món cay cùng loại gia vị địa phương hòa quyện với vị mặn, chua, ngọt vừa phải. Ngoài ra, du khách có thể thưởng thức ẩm thực đường phố với danh sách hơn 100 món ăn vặt tại các khu chợ Chendu Spice ( Thành Đô), chợ Lan Châu ( Cam Túc),…Hay địa danh Turpan (Tân Cương). Rất nhiều nhà hàng ngoài trời phục vụ khách dulịch bên cạnh khu nhà hàng sặc sỡ. Cừu kawop, ổ bánh mỳ siêu lớn xuất hiện ở bất kỳ quán ăn vỉa hè nào, cùng với các món ít phổ biến hơn như banshi – thịt cừu nấu với cà chua, đậu đen và rau mùi, hoặc thịt cừu chế biến với nghệ, sữa chua cho đến khi thịt chín mềm. Du khách có thể kết thúc bữa ăn với một chén sữa chua mát lành. 1.2.2.2. Ẩm thực đường phố ở Mỹ New Orleán thuộc bang Louisiana không chỉ tuyệt vời bởi di sản văn hóa đa dạng mà ẩm thực nơi đây cũng cực kỳ độc đáo với hương vị từ ẩm thực Mỹ bản địa hay người Pháp cho tớinhững người Châu Phi sinh sống ở nơi đây,…Những món ăn nổi tiếng có thể kể đến như: Sandwich Po-Boy với nguyên liệu tôm tươi rán hay thịt bò kẹp trong bánh mì Pháp. Món Gumbo quả mướp tây, một loại rau vùng Tây Mỹ ăn với cơm cùng với bánh rán vuông rán vàng phủ bột đường,… Ngoài ra phải kể đến Seattle thuộc bang Washington cũng hấp dẫn du khách với các đặc sản như: cà phê, quả anh đào, đồ nướng, hải sản đều nằm trong danh sách những món ăn địa phương nhất định phải thử một lần trong đời nếu có dịp thăm vùng đất xinh đẹp này.
    17. 24. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 13 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 1.2.2.3. Ẩm thực đường phố ở Australia Thành phố lớn thứ haicủa Australia là nơi có thể tìm thấy được mọi khẩu vị đến từ nhiều nơi trên thế giới. Với một lịch sử phong phú về những người nhập cư vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Melbourne có các khu ẩm thực cùng những món ăn đặc sắc nhất của Châu Âu, Mỹ Latin, Châu Á và Châu Phi. Đi xuống đường Londsdale để thưởng thức một vài món Hy Lạp ngon khó cưỡng hay tới Lygon Street để thưởng thức món Ý hoặc lang thang tới các khu phố người Hoa lâu đời nhất nằm trong Little Bourke Street, nơi mà bạn sẽ tìm thấy những quán ăn được mở từ những năm 1860. 1.2.2.4. Ẩm thực đường phố ở Anh Vương quốc Anh là nơi tập trung văn hóa ẩm thực phong phú . Đầu tiên phải kể đến địa danh Stockbridge. Phố Stockbridge nằm ở trung tâm thung lũng Test, vốn là thị trấn chợ cổ và giờ đây là một điểm đến tuyệt vời cho những người yêu thích ẩm thực. Stockbridge không chỉ có quầy thịt, cửa hàng rượu tư,một số món cá ngon nhất nước Anh mà còn có một chuỗi quán rượu nổi tiếng. Đây chính là con phố ẩm thực số một của đất nước Sương mù. Ngoài ra thủ đô London cũng là một địa chỉ không thể bỏ qua bởi những khu chợ tấp nập như: Chợ Broadway được mệnh danh là thiên đường ẩm thực với hơn 100 quầy hàng ăn. Du khách có thể tìm thấy từ phô mai hảo hạng, đủ loại xúc xích, ô liu, thịt rừng và dưa muối tại khu chợ Broadway này hay chợ Borough là khu chợ rau và hoa quả cổ nhất ở London. Đây là một trong những điểm dừng chân lý tưởng hấp dẫn tất cả các đầu bếp, người nấu ăn, quản lý nhà hàng và những người yêu thích nấu nướng. Đến với khu chợ, du khách sẽ bị hấp dẫn bởi các loại thực phẩm, các quầy bán đồ ăn sẵn. Đặc biệt chợ Borough cũng nổi tiếng là nơi cung cấp các loại nông sản tươi của địa phương và những loại nguyên liệu tốt nhất trên thế giới.
    18. 25. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 14 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 1.3. Tiểu kết chương 1 Du lịch ẩm thực những năm vừa qua có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước, đóng góp lớn vào nguồn thu của ngành du lịch. Tiêu biểu là ẩm thực đường phố bởi trong đó, mỗi món ăn đều đem lại nhiều giá trị sâu sắc. Nó không chỉ là thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người mà ở đó mỗi món ăn còn là biểu tượng, là đặc sản vùng miền. Vi vậy ẩm thực đường phố ngày nay đang ngày càng phát triển trở thành một loại hình du lịch không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới. Từ châu Âu, châu Mỹ cho đến châu Á, châu Đại Dương, ẩm thực đường phố luôn đem đến sựhào hứng và bất ngờ cho mỗi vị khách du lịch. Ẩm thực đường phố là một kênh quảng bá tiềm năng và khá hiệu quả cho Du lịch Việt Nam. Nhiều kênh truyền hình và tạp chí ẩm thực thế giới đã làm phóng sự về ẩm thực Việt Nam như : Tạp chí Food and Wine, kênh truyền hình CNN, kênh NAT GEO Adventure…, trong đó ẩm thực đường phố được chú ý một cách đặc biệt bởi sự độc đáo và hấp dẫn. Những năm trở lại đây các khu ẩm thực đường phố được mở rộng ngày càng nhiều, thu hút lượng khách đông đảo đã góp phần đưa hình ảnh, đất nước con người Việt Nam gần hơn tới bạn bè quốc tế. Theo xu hướng phát triển của du lịch ẩm thực đặc biệt là ẩm thực đường phố, Hồ Chí Minh là một trong những thành phố năng động, hiện đại của nước ta có nhiều khu phố ẩm thực nổi tiếng, được du khách trong và ngoài nước biết đến, hứa hẹn là điểm đến không thể bỏ qua trong mỗi chuyến du lịch khi đến vùng đất Đông Nam Bộ.
    19. 26. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 15 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC ẨM THỰC ĐƯỜNG PHỐ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh (vẫn còn phổ biến với tên gọi cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất cả nước. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương, được xếp loại đô thị đặc biệt cùng với thủ đô Hà Nội. 2.1.1. Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°22′ – 11°22′ Bắc và 106°01′ – 107°01′ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Tây giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp biển Đông và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí gần tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực: Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi. Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi. Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ. Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.
    20. 27. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 16 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên Địa hình, địa chất Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình từ 10 đến 25m. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32m như đồi Long Bình ở Quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1m, nơi thấp nhất là 0,5m. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình khoảng 5 tới 10m. Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng là đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi… hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là “giồng” cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò. Thủy văn Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi và kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi
    21. 28. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 17 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20 – 500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225m đến 370m, độ sâu tới 20m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt như: Láng The, Bàu Nông, Rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ – Kênh Đôi, Tàu Hủ,… Hệ thốngsông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt nhưng vẫn được khai thác, chủ yếu ở ba tầng: 0 – 20 m, 60 – 90 m và 170 – 200 m (tầng trầm tích Miocen). Tại quận 12, huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60 -90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.
    22. 29. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 18 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Thời tiết, khí hậu Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, cũng như một số tỉnh Nam Bộ khác, Thành phố Hồ Chí Minh không có bốn mùa: xuân, hạ,thu, đông. Nhiệt độ cao đều và mưa quanh năm (mùa khô ít mưa). Trong năm, Thành phố Hồ Chí Minh có 2 mùa là biến thể của mùa hè: mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều), còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô, nhiệt độ cao và mưa ít). Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng/tháng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại. Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió mậu dịch theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%). Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm. Với những biến đổi khí hậu, Hồ Chí Minh thuộc danh sách 10 thành phố trên thế giới bị đe dọa vì nguy cơ mực nước biển dâng cao. Theo dự tính
    23. 30. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 19 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 của Liên Hiệp Quốc thì đến năm 2050 nước biển sẽ dâng 26 cm và 70% khu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập lụt. Ngân hàng Phát triển Á châu ước lượng hậu quả là thiệt hại kinh tế lên đến hàng tỷ USD. 2.1.2. Lịch sử hình thành – tổ chức hành chính và kinh tế – xã hội. 2.1.2.1. Lịch sử hình thành Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor, thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Năm 1698,Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời của thành phố. Khi Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố được thành lập với tên gọi Sài Gòn và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887 – 1901 (về sau, Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa. Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng nhất của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ nước ta được hoàn toàn thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 2.1.2.2. Tổ chức hành chính Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam. Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện. Trong đó có 322 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn. Hệ thống quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 976 địa chỉ, trong đó 47 thuộc trung
    24. 31. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 20 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 ương, 73 thuộc thành phố, 549 thuộc các quận, huyện và 307 thuộc cấp phường xã. Các tổ chức đoàn thể, chính trị bao gồm cấp trung ương và thành phố có 291 địa chỉ, các đơn vị sự nghiệp có 2.719 địa chỉ. 2.1.2.3. Kinh tế Sau khi các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất trong tháng 12/2018 để chuẩn bị hàng dự trữ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng Tết dương lịch và Tết nguyên đán, sang tháng 01/2019 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính chỉ bằng 92,39% so với tháng trước. Trong đó, hoạt động khai khoáng giảm 59,93%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,44%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,47%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,94%. Tuy nhiên, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của năm 2022. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,51%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,1%; ngành sản xuất và phân phối điện có mức tăng trưởng cao nhất 10,82%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,25%. Về 4 ngành công nghiệp trọng điểm: Chỉ số sản xuất công nghiệp của 4 ngành trọng điểm tháng 1 tăng 1,23% so với tháng trước và tăng 5,13% so với tháng cùng kỳ, cao hơn chỉ số chung toàn ngành. Ngành chế biến lương thực thực phẩm, đồ uống có mức tăng 3,91% so với cùng kỳ, trong đó sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa; sản xuất sản phẩm mì, phở, bún, miến cháo ăn liền tăng cao. Ngành hóa dược tăng chậm 1,37% so với cùng kỳ vì một số công ty sản xuất hóa chất đã chuyển nhà máy khỏi thành phố hoặc thu hẹp sản xuất để chuyển sang các tỉnh khác, mặt khác công ty ngành dược gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Ngành cơ khí tăng 3,55% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất hàng điện tử tăng 17,73%, là ngành có chỉ số sản xuất tăng cao nhất do có thị trường tiêu thụ ổn định và các doanh nghiệp thường xuyên ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại. Trong đó nổi bật là
    25. 32. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 21 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 những loại sản phẩm điện tử sử dụng chip thương hiệu Việt (bo mạch điều khiển chiếu sáng đường, khóa xe container…) và một số sản phẩm đầu cuối đã được đưa vào sản xuất đại trà được các công ty khu công nghệ cao của thành phố thực hiện. Ngoài ra vốn đầu tư xây dựng thuộc ngân sách thành phố tháng 1/2019 ước thực hiện 415,6 tỷ đồng, bằng 93,3% so với cùng kỳ năm trước. Cấp thành phố ước thực hiện 329,2 tỷ đồng, chiếm 79,2%; cấp quận huyện ước thực hiện 185,4 tỷ đồng, chiếm 20,8%. Từ ngày 1/1/2019 đến ngày 20/1/2019, trên địa bàn thành phố đã có 68 dự án có vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 32,7 triệu USD. Trong đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài có 59 dự án, vốn đầu tư 20,9 triệu USD, liên doanh 9 dự án, vốn đầu tư 11,8 triệu USD. Điều chỉnh vốn đầu tư có 11 dự án (bao gồm các dự án tăng và giảm vốn), số vốn tăng 4,7 triệu USD. Tổng vốn đầu tư cấp phép mới và điều chỉnh vốn đến ngày 20/1/2019 đạt 37,4 triệu USD, bằng 39,4% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, thành phố đã có 191 dự án góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp là 452,7 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu bao gồm dầu thô ước thực hiện tháng 01/ 2022 đạt 2.848,7 triệu USD, tăng 2,2% so tháng trước và giảm 7,4% so cùng kỳ. Loại trừ dầu thô ước tính tháng 1 đạt 2.619,7 triệu USD, giảm 7,6% so cùng kỳ. Chia ra: Thành phần kinh tế nhà nước đạt 359,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 12,6%, tăng 15,9%. Thành phần kinh tế ngoài nhà nước đạt 892,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 31,3%, giảm 17,6%. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.596,4 triệu USD, chiếm tỷ trọng 56,0%, giảm 5,1%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu: đứng đầu là Trung Quốc với 558,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 19,6%, giảm 0,6% so cùng kỳ; vị trí thứ 2 là Hoa Kỳ với 498,8 triệu USD, chiếm 17,5%, giảm 6,0%; vị trí thứ 3 là Nhật Bản với 282,5 triệu USD, chiếm 9,9%, tăng 3,0%; vị trí thứ 4 là Hồng Kông với
    26. 33. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 22 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 135,3 triệu USD, chiếm 4,7%, giảm 12,4%; vị trí thứ 5 là Hàn Quốc với 130,3 triệu USD, chiếm 4,6%, giảm 13,2% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu tháng 01/2019 ước đạt 3.838,7 triệu USD, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 7,9% so cùng kỳ. Chia ra: Thành phần kinh tế nhà nước đạt 126,2 triệu USD, chiếm tỷ trọng 3,3%, giảm 22,0%. Thành phần kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.079,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 54,2%, tăng 3,7%. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.632,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 42,5%, tăng 17,4%; Thị trường nhập khẩu chủ yếu: đứng đầu là Trung Quốc với 1.363,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 35,5%, tăng 30,0% so cùng kỳ; vị trí thứ 2 là Singapore với 352,4 triệu USD, chiếm 9,2%, giảm 3,8%; vị trí thứ 3 là Hàn Quốc với 289,5 triệu USD, chiếm 7,5%, giảm 8,7%; vị trí thứ 4 là Thái Lan với 239,5 triệu USD, chiếm 6,2%, giảm 16,4%; vị trí thứ 5 là Hoa Kỳ với 197,3 triệu USD, chiếm 5,1%, tăng 16,0% so cùng kỳ. 2.1.2.4. Dân cư – Xã hội Theo kết quả tổng hợp sơ bộ do Ban chỉ đạo Tổng điều tra thành phố công bố, dân số của thành phố đến thời điểm 23/01/2019 là 8.859.688 người, tăng 64.823 người so với thời điểm 30/6/2018 (số liệu dân số của thành phố đến thời điểm 30/6/2018 là 8.794.865 người). Như vậy trong thời kỳ khoảng 10 năm 2009 – 2022 tốc độ tăng dân số bình quân của thành phố là 2,15% năm. Bình quân một năm thành phố tăng khoảng 170.000 người. Trong các thập niên gần đây, thành phố Hồ Chí Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số nam. Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải tình trạng quá tải dân số, tạo áp lực lớn lên nền kinh tế và đời sống người dân. Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi một số quận như 4, 5, 10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành như Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km.
    27. 34. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 23 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Những năm gần đây,dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Những khu vực tập trung nhiều người nước ngoài hay Việt kiều sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo thành một nét rất riêng đó là những khu chợ, cửa hàng,dịch vụ, món ăn đặc sản của nước đó. Có thể kể đến: Phố Mã Lai tập trung người Mã Lai, người Chăm tại đường Nguyễn An Ninh; phố Hàn Quốc tại đường Hậu Giang đến các đường lân cận thuộc Phường 4, quận Tân Bình; phố Nhật Bản tại giao lộ Thái Văn Lung – Lê Thánh Tôn thuộc phường Bến Nghé, quận 1, khu đô thị Phú Mỹ Hưng (Năm 2022, Phú Mỹ Hưng có trên 30.000 người sinh sống, chiếm hơn 50% là người nước ngoài đến từ hàng chục quốc gia, đông hơn cả vẫn là công dân các nước và vùng lãnh thổ châu Á, nhiều nhất đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc,…) 2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh 2.1.3.1. Tài nguyên vật thể Cho đến tháng 5/2017, thành phố đã có 172 di tích được xếp hạng gồm: 56 di tích quốc gia, trong đó có 24 di tích lịch sử, 30 di tích kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích quốc gia đặc biệt và 114 di tích cấp thành phố. Trong đó tiêu biểu là các công trình, di tích sau đây: Di tích Giồng Cá Vồ Giồng Cá Vồ là một di tích khảo cổ nằm ở ấp Hòa Hiệp, xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây nằm trên một giồng đất đỏ, có diện tích khoảng 7.000 mét vuông, cao hơn khoảng 1,5 mét so với mặt đất hiện tại, phần chân giồng thường xuyên bị ngập mặn.
    28. 35. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 24 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Cách cửa biển 5km, Cần Giờ có nhiều gò nổi, người dân địa phương gọi là Giồng. Một số Giồng có diện tích lớn như: Giồng cá vồ, Giồng phệt, Giồng cá trăng,… Cá Vồ là một Giồng đất đỏ rộng 7. 000m2 , cao 1,5m nằm tả ngạn sông Hà Thanh, cách bờ sông chừng 100m. Các nhà khảo cổ đã phát hiện năm 1993. Đến năm 1994, tiến hành khai quật 230m2 diện tích. Tầng văn hoá dày đến 1,50m, gồm 4 lớp: đất canh tác đến độ sâu 0,3m; đất đỏ bazan từ 0,3-0,7m; đất đen xốp lẫn nhiều gốm than tro từ 0,7 -0,9m; đất đỏ vàng nhiều gốm từ 0,9m-1,5m. Qua 2 lần đào thám sát và khai quật, các nhà khảo cổ bước đầu xác nhận đây là di chỉ cư trú sản xuất gốm là khu mộ táng của người xưa và phát hiện có 38 ngôi mộ chum trong đó 23 mộ có di cốt người. Bên cạnh đó còn phát hiện được nhiều đồ tùy táng bằng gốm, đá, thủy tinh, vỏ nhuyễn thể, sắt,… hiện vật chủ yếu là đồ trang sức. Ngày 2 tháng 4 năm 1994, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban ban hành giấy phép số 181/VHQĐ để kịp thời bảo vệ di tích trước sự phá hủy của tự nhiên và quá trình canh tác ở địa phương. Từ ngày 26 tháng 4 năm 1995 đến ngày 21 tháng 6 năm1995, các nhà Khảo cổ học Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật di tích này. Hiện đã tìm thấy gần 350 mộ chum và 10 mộ đất. Di vật trong mộ là hài cốt người, đặc biệt trong các mộ chum còn khá nguyên vẹn. Phần lớn di cốt trong chum được người cổ mai táng theo tư thế ngồi bó gối. Chum mai táng ở Giồng Cá Vồ có hai loại mộ cổ và mộ đất, trong đó mộ đất chiếm ưu thế trên 90% và hai loại này đều chưa thấy trong bất kỳ một di tích mộ chum nào ở Đông Nam Á. Số lượng chum nhiều, với sự thống nhất của phương thức và đồng nhất của loại hình chum mai táng cho thấy táng thức của cư dân Giồng Cá Vồ đã tồn tại khá lâu dài và ổn định như một truyền thống độc đáo ở khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ xác định: đây là khu mộ táng thuộc văn hoá tiền khảo cổ học Sa Huỳnh, chủ nhân là cư dân bản địa, thể hiện rõ nét của chủng Mongoloid. Hiện nay, các di vật từ cuộc khai quật khảo cổ di tích ở nơi đây đang được lưu giữ và trưng
    29. 36. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 25 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 bày tại một số bảo tàng lớn như Bảo tàng Lịch sử quốc gia ở Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng Lịch sử-Văn hóa Nam bộ thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm giới thiệu về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn tiền sơ sử trong những thế kỷ cuối TCN. Ngày 13 tháng 4 năm 2000, giồng Cá Vồ được công nhận là di tích khảo cổ học cấp quốc gia theo Quyết định số 06/2000-QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin. Dinh Thống Nhất Đây là một trong những di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến định hướng phát triển của thành phố. Dinh Độc Lập (tên gọi trước đây là dinh Norodom, ngày nay còn gọi là dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất) là một công trình kiến trúc, tòa nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nó từng là nơi ở và làm việc củaTổng thống Việt Nam Cộng hòa. Hiện nay, nó đã được chính phủ Việt Namxếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Công trình được thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500 m², trên khuôn viên đất rộng 120.000 m², gồm: 1 tầng nền, 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, 1 tầng hầm kiên cố gồm 100 phòng: phòng làm việc của Tổng thống, phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến,… Ngoài tòa nhà chính, dinh còn có hồ sen bán nguyệt, bồn hoa, vườn cây cảnh. Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (khoảng 150.000 lượng vàng). Địa đạo Củ Chi Đây là một trong những di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược của quân và dân ta. Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng
    30. 37. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 26 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 70km về hướng tây- bắc, nằm giữa sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Hệ thống này được Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Namđào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Hệ thống bí mật này được đào từ năm 1948 với khoảng 17km. Sau năm 1960, hệ thống tiếp tục được củng cố và phát triển dài hơn 200 km. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là “đất thép thành đồng”, nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công vào Sài Gòn. Địa đạo đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần. Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 – 10m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường “xương sống” toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.
    31. 38. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 27 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Năm 2022, khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sáng tạo. Trong 20 năm hoạt động, khu di tích đón hơn 20 triệu lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, tìm hiểu. Ngày 12 tháng 2 năm 2022, khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách, đặc biệt là các vị lãnh đạo Đảng, nguyên thủ Quốc gia của Việt Nam và các nước cùng nhiều cựu chiến binh,… thường chọn điểm tham quan này khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Bưu điện Thành phố Bưu điện trung tâm Sài Gòn là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh, tọa lạc tại số 2, Công trường Công xã Paris, quận 1. Đây là tòa nhà được người Pháp xây dựng vào năm 1886 đến năm 1890 thì khánh thành với phong cách châu Âu theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Đây là công trình kiến trúc mang phong cách phương Tây kết hợp với nét trang trí phương Đông.Nếu hệ thống cửa sổ của khối nhà hai bên đều có hình vòm cung hoặc hơi vòm thì riêng tại khối nhà giữa, các cửa sổ lại có hình chữ nhật. Trên các ô có đắp hình các nam nữ đội vòng nguyệt quế, trên vòng cung ngôi nhà có chiếc đồng hồ lớn. Những đường viền, đường chỉ hay hoa văn chạy ngang như muốn kéo thấp tòa nhà Bưu điện Trung tâm Thành phố, tạo thành những đường trang trí khỏe khoắn và đăng đối, gợi nhớ đến những nhà ga xe lửa ở châu Âu. Vào phía trên trong, hai bên tường cao là hai bản đồ lịch sử mang tên: Saigon et ses environs, 1892 và Lignes télégraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge, 1936.Tại đây hiện có 35 quầy phục vụ khách hàng với đủ các dịch vụ bưu phẩm cùng mạng lưới điện báo rộng khắp đến các địa phương trong nước và các nước trên thế giới. Trần nhà hình vòm
    32. 39. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 28 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 cung tương ứng với cửa ra vào được nâng đỡ bởi hai hàng trụ và hệ thống vĩ kèo bằng sắt, nổi bật với thiết kế công phu có các đấu nối là những hoa văn đẹp. Hệ thống cột, trụ của phần mặt tiền đều có kết cấu hình khối vuông vắn, trên đầu trụ có gắn những mảng phù điêu với hoa văn đắp nổi rất công phu. Riêng ở phần trụ khoảng giữa tầng hai và tầng trệt của tòa nhà Bưu điện Trung tâm Thành phố, các mảng phù điêu lại ôm trọn phiến đá hình chữ nhật, trên mỗi phiến đá ghi tên một nhà khoa học đã có những đóng góp to lớn cho nền văn minh nhân loại trong lĩnh vực điện và điện tín. Trải qua hơn trăm năm tồn tại, tòa nhà Bưu điện Trung tâm Sài Gòn hiện vẫn là một công trình kiến trúc đẹp và ấn tượng, tạo nên điểm nhấn độc đáo cho thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thờ Đức Bà Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn – tên chính thức: Vương cung thánh đường chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội là nhà thờ chính tòa củaTổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những công trình kiến trúc độc đáo đối với du khách trong và ngoài nước. Công trình được khởi công xây dựng ngày 7/10/1877 và được khánh thành vào ngày 11/4/1880 với tổng kinh phí là 2,5 triệu Phờ-răng. Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ chiều dài thánh đường là 133m. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của tháp là 57 m, sáu đại hồng chung nặng 25,850kg đặt dưới 2 lầu chuông. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người. Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ về các thánh (hơn 20 bàn
    33. 40. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 29 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 thờ) cùng các bệ thờ 14 chặng Đàng Thánh Giá làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo hình thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại. Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Bức tượng cao 4,6 m và nặng 8 tấn, làm bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chùa Giác Lâm Chùa Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nhất củaThành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế Tông ở miền Nam Việt Nam. Chùa tọa lạc tại số 565 (số cũ 118) đường Lạc Long Quân, thuộc phường 10, quận Tân Bình và đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thông tin) công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia của Việt Nam theo quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988. Chùa Giác Lâm hiện nay có lối kiến trúc chữ Tam (Ξ) gồm ba dãy nhà ngang nối liền nhau: chính điện, giảng đường và nhà trai. Chùa nguyên thủy không có cổng tam quan (cổng tam quan chỉ mới được xây dựng vào năm 1955), mái chùa gồm 4 vạt và các sống mái đều thẳng. Năm 2007, khởi
    34. 41. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 30 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 công xây dựng khu giảng đường và tăng xá. Chính điện với kiểu nhà dân gian truyền thống một gian hai chái, bốn cột chính hay còn gọi là tứ trụ. Bên trong điện khá rộng và sâu, có 56 cột to hơn vòng tay ôm màu nâu sẫm. Cột nào cũng được chạm khắc câu đối, thiếp vàng công phu. Giữa các hàng cột là các cửa võng, cũng được thiếp vàng, chạm trổ các đề tài trang trí truyền thống như tứ linh, tứ quý, hoa điểu,…Trong chính điện bày trí theo kiểu “tiên bái Phật, hậu bái Tổ”. Phía trước chính điện thờ các tượng A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc. Hai bàn thờ hai bên phải trái, có tượng Quan Thế Âm và Thế Chí. Ngoài ra, ở đây còn có tượng Cửu Long, dọc hai bên tường có bộ tượng Thập Bát La Hán, bộ tượng Thập Điện Diêm Vương, tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma và tượng Long Vương. Đằng sau chính điện là bàn thờ Tổ, thờ các vị Hòa thượng đã trụ trì tại chùa Giác Lâm. Đối diện với bàn thờ Tổ là các bàn thờ: Phật Chuẩn Đề, Phật A Di Đà và sau cùng là bàn thờ Thập Điện Diêm Vương.Ở gian này, vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, được dùng làm cơ sở hậu cần, nuôi chứa cán bộ, làm công tác trinh sát nội thành. Trước chùa là bảo tháp xá lợi gồm bảy tầng hình lục giác. Tháp được khởi công xây dựng từ năm 1970 theo bản vẽ của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng, đến năm 1975 thì tạm ngưng cho đến 1993 mới được tiếp tục. Bên trái của chùa là khu mộ tháp của các vị hòa thượng đã trụ trì ở đây, trong số ấy có tháp Tổ Phật Ý-Linh Nhạc, tháp Thiền sư Tổ Tông-Viên Quang. Ngoài ra, trước sân chùa có đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát dưới bóng cây bồ đề. Cây do Đại đức Narada mang từ Sri Lanka (Tích Lan) sang trồng vào ngày 18 tháng 6 năm 1953. Trên các cột chính của chùa đều có khắc câu đối (gồm 86 câu) thếp vàng công phu. Đáng chú ý có câu đối của Hiệp trấn Trịnh Hoài Đức (treo ở gian thờ Tổ) và câu đối của Mộc Ân đệ tử phụng cúng vào năm Gia Long thứ 3 (1804).
    35. 42. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 31 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Khu du lịch văn hóa Đầm Sen Công viên Văn hoá Đầm Sen là công viên giải trí nằm trên đường Hòa Bình, quận 11. Công viên có diện tích 50 hecta gồm 20% là mặt hồ và 60% cây xanh và vườn hoa, giáp đường Lạc Long Quân và Hòa Bình. Toàn công viên trải dài trên một diện tích rộng gồm 30 khu vực: Khu trò chơi điện tử, Sân khấu cổ tích, Lâu đài cổ tích, Sân khấu quảng trường, Hồ Tây thu nhỏ, Nam tú thượng uyển, Non bộ – thủy cung, Ðảo khiêu vũ, Khu trò chơi thiếu nhi, Ðèn tạo hình, Cầu cửu khúc, Nhà ga Monorail,… Hòn non bộ cao 22m với nhiều thác ghềnh mà tầng hang động lớn nhất được bố trí thành thủy cung với đủ các loài cá nhiều màu. Rồi Nam tú thượng uyển với một hệ thống vườn phong lan phong phú và đa dạng. Với đối tượng thiếu niên ưa hiếu động trong công viên có khá nhiều sân chơi hấp dẫn: sân trượt patanh, xe ô tô điện, tàu trượt cao tốc, công viên nước… Ngồi trên tàu chạy trên cao 5m so với mặt đất và với chiều dài gần 2.000m du khách có thể quan sát toàn bộ cảnh trí công viên Ðầm Sen với góc nhìn đẹp nhất. Công trình gây ấn tượng nhiều nhất có lẽ là vườn châu Âu – Quảng trường La Mã: đây là hệ thống vườn hoa kiểu châu Âu được tạo dáng bằng các bồn hoa hồng nhiều màu sắc, các cột trụ La Mã uy nghi, những tượng đá duyên dáng và sân khấu nhạc nước gồm 3.000 chỗ ngồi. Sân khấu Laser Nhạc Nước được xây dựng năm 2005 với số vốn đầu tư 12 tỷ đồng, vị trí nằm phía sau vườn hoa châu Âu, sân khấu có mái che với sức chứa 3.000 chỗ ngồi. Sân khấu Laser Nhạc Nước là một loại hình nghệ thuật độc đáo, hiện đại duy nhất tại Việt Nam mà các kỹ sư Đầm Sen đã học được từ mô hình nhạc nước ở đảo Sentosa (Singapore). Đây là sự kết hợp giữa chương trình ca nhạc với sân khấu thiết kế chuyên biệt có hệ thống phun nước và đèn laser, chiếu phim trên màn hình nước cao 28m. Phối hợp yếu tố nghệ thuật với kỹ thuật, những vòi phun nước chuyển động huyền ảo với ánh sáng, màu sắc và âm nhạc. Đầm Sen là một trong những khu du lịch
    36. 43. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 32 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 lớn đặc sắc nhất nước Việt Nam. Kiến trúc được kết hợp một cách hoàn mĩ nền văn hóa Đông – Tây và một chút vẻ đẹp thời La Mã. Ngoài những khu vui chơi, Đầm Sen còn có những nhà hàng, khách sạn và hàng chục các loại hình khác để phục vụ khách du lịch. Đầm Sen là nơi vui chơi giải trí rất hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. 2.1.3.2. Tài nguyên phi vật thể Nghệ thuật đờn ca tài tử Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã đượcUNESCOcông nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề án nhằm bảo tồn giá trị của Nghệ thuật Đờn ca tài tử về bài bản cũng như phong cách trình diễn, sinh hoạt và mục đích hoạt động nghệ thuật của nghệ nhân, tài tử. Đồng thời thử nghiệm, tìm tòi xây dựng những hình thức trình diễn mới phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – văn hóa và du lịch của Thành phố, phát huy các hình thức sinh hoạt, truyền nghề, thi đua sáng tạo, tranh tài nghệ thuật để không ngừng nâng cao chất lượng đờn ca và sáng tạo ra các giá trị mới cho Đờn ca tài tử. Sở Văn hóa và Thể thao sẽ triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá, tuyên truyền về nghệ thuật Đờn ca tài tử đến mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là học sinh, sinh viên và công nhân, truyền dạy thí điểm ở một số quận, huyện hiện có hoạt động này phát triến mạnh điển hình, vận động sáng tác, tố chức trại sáng tác, tố chức đi thực tế các cơ sở kinh tế, giáo dục, đi về nguồn cho nghệ nhân, nhạc sĩ hưởng ứng tham gia vận động sáng tác, ưu tiên sáng tác lời mới cho các bài bản nhạc cổ,… Cuối năm 2022, toàn Thành phố có 221 câu lạc bộ Đờn ca tài tử đang hoạt động, với số thành viên là 2.677 người ở hầu hết các quận-huyện, duy trì sinh hoạt và biểu diễn phục vụ nhân dân.
    37. 44. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 33 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Ngoài ra, Uý ban Nhân dân Thành phố cũng sẽ ban hành chế độ chính sách đãi ngộ vật chất và tinh thần cho lực lượng hoạt động Đờn ca tài tử; nghiên cứu, ban hành chính sách đãi ngộ, tôn vinh những cá nhân đã có những đóng góp cho nghệ thuật Đờn ca tài tử. Hằng năm, trung tâm Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh thường tổ chức các chương trình liên hoan Đờn ca tài tử như: giải “Hoa sen vàng”, ” Búp sen vàng”,…giành cho mọi lứa tuổi nhằm phát triển loại hình nghệ thuật này. Lễ hội nghinh Ông Hàng năm,từ ngày 15 dến 17 tháng 8 âm lịch tại lăng Ông Thủy tướng được vua Tự Đức ban sắc phong: “Nam Hải tướng quân” thuộc Xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đều diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ để tưởng nhớ công ơn cá “Ông”. Lễ hội còn có các tên gọi khác như: Lễ rước cốt Ông, Lễ cầu ngư, Lễ tế cá Ông, Lễ cúng Ông, Lễ nghinh Ông, Lễ nghinh Ông Thủy tướng… Nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá “Ông” là thần bảo trợ nghề cá và các nghề trên biển nói chung, và từ đó trở thành tín ngưỡng của ngư dân. Ngày 15/8 không khí lễ hội đã diễn ra nhộn nhịp ở bên ngoài lăng với nhiều hoạt động văn hoá sôi nổi. Sang ngày 16/8, các vị trong hội lăng trong trang phục chỉnh tề làm lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Đoàn ghe nghinh xuất phát tại bến đò Cần Giờ. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con hai bên phố bày lễ vật nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thuỷ tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vật. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước đi khoảng hai giờ thì quay về bến nơi xuất phát, rước Ông về lăng ông Thuỷ tướng. Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng. Khi rước ông vào lăng, các nghi thức đón và tế diễn ra trang trọng, đúng với
    38. 45. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 34 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thuỷ tướng. Ngoài lăng, có các hoạt động văn hoá văn nghệ. Sáng 17/8 tại lăng ông Thuỷ tướng diễn ra lễ tôn vương ông Thuỷ tướng theo sắc phong. Lễ cúng có hát thờ. Sau phần lễ tôn ông theo sắc phong cũng là lúc chấm dứt lễ hội.  Một số làng nghề thủ công truyền thống Làng nem Thủ Đức Đất Thủ Đức là để chỉ các quận Thủ Đức, quận 2, quận 9 bây giờ. Để đáp ứng cho nhu cầu của khách đối với món nem danh tiếng, xứ Thủ Đức đã từng có tới hàng trăm lò nem, mà điểm tập trung đông nhất là ven chợ Thủ Đức. Mỗi lò nem có bí quyết riêng, nhưng cũng có những nguyên tắc chung để có thể cùng nhau giữ gìn thanh danh làng nghề. Nhiều lò nem dựng gần nhau, tạo thành một làng nghề, gọi là làng nem Thủ Đức. Người ta tới Thủ Đức, thường ghé vô các quán này ăn nem, lại còn phải mua mấy đùm về làm quà biếu, để chứng tỏ với bà con là cái món mà mình và các bậc tiền bối vẫn hay ca ngợi kia không phải hữu danh vô thực. Làng hoa Gò Vấp Danh gọi “Làng Hoa Gò Vấp” xuất phát từ những gia đình nghệ nhân lâu đời về hoa Kiểng. Trải qua hàng trăm năm, trồng hoa và làm hoa kiểng với đủ thế dáng có thu nhập cao đã trở thành một nghề truyền thống mang tính uyên bác đầy tài năng, thể hiện vẻ đẹp nghệ thuật trong tâm hồn vốn yêu thiên nhiên của người dân Gò Vấp, khiến nơi đây trở thành vùng cung cấp hoa kiểng chủ lực cho Thành phố. Hoa Gò Vấp qua sự mở rộng làm ăn của các gia đình làm nghề đã du ngoạn không chỉ trong Thành phố mà còn đến khắp các vùng miền đất nước, thậm chí giao lưu với cả những xứ sở nổi tiếng về hoa trên thế giới như: Pháp, Hà Lan, Đài Loan, Singapo, Nhật, Thụy Sĩ,… Các nhà sản xuất hoa của nước bạn thường đặt mối hợp tác với

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam
  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Ẩm Thực Truyền Thống Việt Nam
  • Khai Thác Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Gắn Với Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Để Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp
  • Bàn Về Giải Pháp Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sống Cho Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Sức hấp dẫn của văn hóa ẩm thực Việt – trong đó có ẩm thực Nam Bộ gắn với các hoạt động du lịch đã được khẳng định với du khách khắp năm châu.

    Điều này cho thấy sức hấp dẫn của ẩm thực Việt – trong đó có ẩm thực Nam Bộ gắn với các hoạt động du lịch đã được khẳng định với du khách khắp năm châu.

    Thời gian tới, để tiếp tục phát huy vốn quý ẩm thực gắn với hoạt động du lịch, tạo thêm nhiều điểm nhấn cho du khách khi đến đất nước Việt Nam nói chung, vùng đất phương Nam nói riêng, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những kết quả đã đạt được mà cần có những giải pháp đột phá hơn, khai thác bền vững các giá trị văn hóa ẩm thực gắn với phát triển du lịch.

    Nói đến văn hóa ẩm thực của mỗi địa phương là nói đến cách lựa chọn, phối hợp các nguyên liệu, cách chế biến, trình bày và cả cách thưởng thức từng món ăn, qua đó thể hiện quan niệm, phong tục tập quán của cư dân bản địa. Theo đó, nhìn từ khía cạnh phát triển du lịch, ẩm thực chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn, định vị sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến để thu hút du khách đến và trải nghiệm không chỉ một lần.

    Tiềm năng đa dạng

    Đóng góp vào bức tranh tổng thể của ẩm thực Việt Nam không thể không nhắc đến sự đa dạng, phong phú trong nghệ thuật ẩm thực của các địa phương khu vực Nam Bộ. Nhiều nhà nghiên cứu từng khẳng định ẩm thực của vùng đất này gắn với lịch sử khai hoang mở cõi của ông cha ta từ bao đời, vừa thể hiện nét phóng khoáng, dễ dung nạp, giao hòa, tiếp thu những nét tinh túy của các vùng, miền lại vừa có sự sáng tạo, linh hoạt để hình thành rất nhiều đặc sản ẩm thực, tạo nên các mảng màu đặc sắc trong bức tranh ẩm thực của đất nước Việt Nam. Được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu quanh năm ấm áp, phong phú các loại sản vật nên các món ăn cũng được người phương Nam sáng tạo với sự kết hợp các nguyên liệu rất đa dạng, dồi dào. Đối với hoạt động du lịch, đây chính là nguồn tài sản vô giá, tiềm năng góp phần định vị điểm đến, ghi dấu ấn cho du khách trong và ngoài nước.

    Tại Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước, ẩm thực luôn được coi là một trong những sản phẩm chiến lược để thu hút du khách. Nhiều năm qua, ẩm thực đường phố là một bộ phận cấu thành hệ thống sản phẩm du lịch quan trọng được thành phố quan tâm gìn giữ và phát huy. Chuyên mục du lịch của Kênh Truyền hình CNN (Mỹ) từng đánh giá Thành phố Hồ Chí Minh là “kinh đô của ẩm thực Việt Nam”; đồng thời nằm trong top 23 thành phố có thức ăn đường phố hấp dẫn nhất thế giới.

    Tiến sỹ Lê Thị Ngọc Điệp, Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng: Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh với 300 năm lịch sử chính là nơi hội tụ văn hóa ẩm thực đặc sắc của các vùng miền, đặc biệt là các món ăn chơi, ăn vặt hay còn gọi là món ăn đường phố, đóng góp vào bức tranh chung của văn hóa ẩm thực của Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách có dịp đến thành phố này khó có thể bỏ qua cơ hội thưởng thức các món ăn đơn giản nhưng lại có sức thu hút, hấp dẫn bởi sự kết hợp hài hòa, sáng tạo trong từng món ăn giản dị có thể nhắc tới như: Cơm tấm sườn bì, bánh mì Sài Gòn, gỏi cuốn, bò bía, hủ tiếu gõ, phá lấu, bánh canh cua, canh bún, bánh tráng nướng, bánh tráng trộn…

    Cùng thuộc khu vực Đông Nam Bộ và giáp Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai lại hấp dẫn du khách bởi các khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng dịp cuối tuần cùng nhiều món ăn mang hương vị của nhà vườn miền Đông Nam Bộ từ các loại gỏi trái cây miệt vườn Lái Thiêu (Bình Dương) hay Long Khánh (Đồng Nai) như gỏi gà măng cụt, gỏi bưởi, gỏi xoài cho đến bánh bèo bì, bún tôm, xôi phồng, gà nướng sầu riêng, gà hấp bưởi…

    Xuôi về vùng Tây Nam Bộ – nơi có hệ thống kênh rạch chẳng chịt với những vườn cây ăn trái sum suê, nét văn hóa ẩm thực lại được định hình gắn liền với đời sống sông nước vùng đồng bằng châu thổ có khí hậu, phân chia rõ rệt mùa mưa và mùa khô, cho nguồn sản vô cùng phong phú. Theo Nghệ nhân ẩm thực Triệu Thị Chơi, Trưởng Ban Nghệ nhân – Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Việt Nam, ẩm thực Nam Bộ rất đa dạng và phong phú, mỗi món ăn thường được chế biến bởi nhiều loại nguyên liệu với sự kết hợp linh hoạt, sáng tạo. Nhờ nguồn nguyên liệu dồi dào được kết hợp, vùng đất này có nhiều món ăn chỉ mới nghe tên cũng đủ thấy hấp dẫn, mời gọi du khách như: Cá lóc hấp bầu, cá tra um lá cách, canh chua bông điên điển, lẩu mắm, bánh lọt đậu xanh nước dừa, bánh da lợn đậu xanh, bánh tằm bì, bánh ít khoai mì, bánh ống lá dứa, bánh bò thốt nốt, bánh chuối đập…

    Đậm bản sắc văn hóa ẩm thực đất phương Nam

    Những điều kiện tự nhiên mang tính đặc thù gắn với đời sống lao động, sản xuất của người dân nơi đây ngay từ những ngày đầu đến khai phá vùng đất Nam Bộ đã dần hình thành nên nhiều phong tục tập quán, nét văn hóa ẩm thực mang đậm bản sắc văn hóa của cả vùng cũng như từng địa phương trong khu vực. Các nghệ nhân ẩm thực khi nói về ẩm thực phương Nam thường nhắc tới những từ: đơn giản, đậm đà, đa dạng, mùa nào thức ấy. Dựa vào nguồn nguyên liệu có trong tự nhiên, những món ăn Nam Bộ được giới thiệu đến du khách phần lớn là những món ăn gắn với cuộc sống đời thường của người dân với nguồn nguyên liệu thực vật, động vật có sẵn trong tự nhiên. Những món ăn này mang đến sự hài lòng cho người thưởng thức, nhất là những thực khách muốn từ ẩm thực để tìm hiểu về bản sắc văn hóa, đời sống sinh hoạt, thói quen ăn uống của người dân Nam Bộ.

    Theo Nghệ nhân Triệu Thị Chơi, với vùng Tây Nam Bộ, du khách lần đầu được đến thăm và được thưởng thức trong cùng một bữa ăn hàng loạt các loại rau, sẽ thấy khá bất ngờ và thú vị. Mùa nước nổi, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều loại rau gắn với sông nước, ruộng đồng đã được người dân chế biến phục vụ bữa ăn hàng ngày một cách rất linh hoạt, phóng khoáng, có thể kể đến bông điên điển, bông súng, bông so đũa, hẹ nước, rau bồn bồn, rau dừa, đọt (ngọn) nhãn lồng, đọt mướp gai, lá xoài, lá cách, cù nèo. Các loại rau này có thể “góp mặt” trong rất nhiều món như lẩu, xào, trộn gỏi… một cách rất đa dạng, thoải mái, phóng khoáng như chính tính cách con người nơi đây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đưa Văn Hóa Ẩm Thực Việt Thành Tài Sản Quốc Gia
  • Quảng Bá Ẩm Thực Chưa Chuyên Nghiệp
  • Quảng Bá Văn Hóa Ẩm Thực: Không Chỉ Chờ “hữu Xạ Tự Nhiên Hương”
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Khai Thác Các Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Của Thành Phố Hồ Chí Minh Nhằm Phát Triển Du Lịch
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Đẩy Mạnh Xúc Tiến, Quảng Bá Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Lượng Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Với Việt Nam
  • Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Sống Cho Sinh Viên
  • Tương Lai Của Rpa: Những Xu Hướng Đổi Mới Trong 2022
  • Một Số Giải Pháp Ngăn Chặn Tác Động Tiêu Cực Từ Mạng Xã Hội Đối Với Công Nhân, Người Lao Động
  • Học Sinh Trung Học Sáng Tạo Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Ẩm thực hay nói cách khác là việc ăn uống là những hoạt động không thể thiếu trong mỗi chuyến đi du lịch, là một trong những dịch vụ quan trọng nhất của chuyến đi du lịch cùng với các dịch vụ lưu trú, vận chuyển. Tuy nhiên, ngày nay, ẩm thực không chỉ là hoạt động đáp ứng nhu cầu cơ bản của du khách trong chuyến đi mà còn trở thành mục đích, loại hình và sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách, cả khách du lịch trong nước và quốc tế. Sự tồn tại và phát triển của du lịch ẩm thực (gastronomic tourism, food tourism hay culinary tourism) với tư cách là một loại hình du lịch đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu.

    Tại Việt Nam, văn hóa ẩm thực là một trong những đặc trưng sinh động và phong phú nhất, kết tinh thành bản sắc văn hóa Việt Nam. Sự đặc sắc của văn hóa ẩm thực Việt Nam thể hiện trong việc sử dụng các nguyên liệu thực phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên, trong sự tinh tế, cầu kỳ của việc sử dụng gia vị, trong sự giao hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa phong cách, triết lý phương Đông và và phương Tây trong chế món ăn cũng như trong cách trang trí, sắp đặt và thưởng thức món ăn. Ngày nay, nhiều món ăn của Việt Nam như phở, nem, bún chả… đã trở nên nổi tiếng thế giới và ẩm thực đã trở thành một công cụ hữu hiệu để xây dựng và hình thành thương hiệu Việt Nam. Phillip Kotler, cha đẻ của marketing hiện đại đã phát biểu: “Nếu Trung Quốc là công xưởng của thế giới, Ấn Độ là văn phòng của thế giới thì Việt Nam hãy là nhà bếp của thế giới”. Nhiều nguyên thủ các nước khi đến Việt Nam đã lựa chọn những món ăn để khám phá và làm điểm nhấn cho chuyến đi của mình như cựu tổng thống Mỹ Barack Obama khi đến thăm Việt Nam năm 2022 đã chọn bún chả để thưởng thức giống như khi ông chọn sushi để ăn khi đến thăm Nhật Bản năm 2014, Thủ tướng Canada Justin Trudeau thưởng thức cà phê vỉa hè của Việt Nam khi ông đến Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022 hoặc cựu Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull đã tự ra phố thưởng thức bánh mỳ vỉa hè tại Đà Nẵng trong dịp dự hội nghị APEC năm 2022.

    Đối với ngành du lịch, ẩm thực Việt Nam vừa được sử dụng như một sản phẩm du lịch nhưng cũng được sử dụng như một công cụ để xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp du lịch đã tổ chức, khai thác các tour du lịch ẩm thực (food tour) từ việc đi trải nghiệm các món ăn đường phố, món ăn dân dã, truyền thống đến trải nghiệm tại các lớp dạy nấu ăn hay các nhà hàng sang trọng, đẳng cấp. Hình ảnh những món ăn với nhiều màu sắc được trang trí một cách nghệ thuật luôn đem lại cho du khách những cảm giác và trải nghiệm khó quên, thôi thúc những người chưa từng nếm thử món ăn hoặc chưa từng đến Việt Nam muốn được đến khám phá và nếm thử ngay những món ăn đó. Bên cạnh việc thưởng thức và trải nghiệm vị giác khác lạ của các món ăn, du khách còn được khám phá những nét văn hóa bản địa của con người, cỏ cây và thiên nhiên tại điểm đến, làm phong phú hơn trải nghiệm du lịch của chuyến đi. Đặc biệt, nước ta có dải địa hình và khí hậu thay đổi từ Bắc vào Nam cùng với sự độc đáo, đa dạng trong văn hóa ẩm thực của 54 dân tộc anh em, tạo nên sự hấp dẫn và các trải nghiệm bất tận cho khách du lịch, cả trong nước và quốc tế. Với những lý do trên, năm 2022, Việt Nam đã được bình chọn là điểm đến du lịch ẩm thực hàng đầu châu Á bởi Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới WTA (World Travel Awards).

    Trong những năm qua, yếu tố ẩm thực cũng đã được kết hợp khai thác ở nhiều sự kiện xúc tiến, quảng bá du lịch trong và ngoài nước như tại các như tại các hội chợ, các lễ hội du lịch. Tuy nhiên, để phát huy hết lợi thế của ẩm thực và du lịch ẩm thực trong phát triển du lịch Việt Nam, ngành du lịch cần có kế hoạch cụ thể cho việc phát triển du lịch ẩm thực và sử dụng ẩm thực như một công cụ để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Việt Nam trong thời gian tới. Một số giải pháp cụ thể như sau:

    2. Xây dựng các sản phẩm du lịch ẩm thực gắn với các điểm đến: cụ thể nhằm tạo ra các trải nghiệm phong phú và khó quên cho du khách như các tour du lịch ẩm thực (food tour), kết hợp các chương trình du lịch nông nghiệp, nông thôn với khám phá đặc sản ẩm thực của địa phương, xây dựng các khu ẩm thực đường phố hoặc chợ ẩm thực đêm tại các điểm đến du lịch; khuyến khích các doanh nghiệp lữ hành hợp tác với các nhà hàng, các nghệ nhân ẩm thực xây dựng các chương trình dạy nấu ăn cho khách du lịch, hướng dẫn khách từ việc đi chợ lựa chọn nguyên liệu đến cách chế biến món ăn nhằm làm phong phú trải nghiệm của khách về nghệ thuật ẩm thực của Việt Nam, dần hình thành và định vị thương hiệu sản phẩm du lịch ẩm thực của Việt Nam ra thế giới.

    3. Xây dựng cơ sở dữ liệu về du lịch ẩm thực để quảng bá du lịch ẩm thực và sử dụng hình ảnh ẩm thực để quảng bá chung cho du lịch Việt Nam: Trên cơ sở định vị được các sản phẩm ẩm thực đặc trưng để phát triển và quảng bá, hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu có thể triển khai bằng việc các hình ảnh chất lượng cao, các video clip giới thiệu các món ăn, các chương trình trải nghiệm thực tế về ẩm thực để phát trên truyền hình, các sản phẩm phục vụ cho hoạt động quảng bá khác như sách ảnh, tập gấp cả bản in và bản điện tử; các thông tin, tư liệu, công thức chế biến món ăn, hướng dẫn về trải nghiệm văn hóa ẩm thực Việt Nam. Trong tương lai, khi điều kiện cho phép, nhà nước có thể đầu tư xây dựng Bảo tàng ẩm thực Việt Nam, nơi trưng bày lưu giữ các hình ảnh, mô hình các món ăn của 54 dân tộc, các tư liệu về công thức chế biến cũng như văn hóa thường thức. Đây cũng sẽ là điểm tham quan thú vị cho khách du lịch, vừa tham quan vừa được trải nghiệm thực tế các món ăn mình ưa thích.

    4. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch ẩm thực và sử dụng ẩm thực để quảng bá cho du lịch Việt Nam. Một số kênh truyền thông, xúc tiến, quảng bá phù hợp, có thể được triển khai một cách có hiệu quả như:

    • Tăng cường quảng bá ẩm thực Việt Nam tại các sự kiện lễ hội, văn hóa do Việt Nam tổ chức ở nước ngoài như sự kiện Những ngày Việt Nam tại Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác. Các sự kiện này thường thu hút một lượng lớn công chúng nước sở tại tham gia và thường có nhu cầu cao được trải nghiệm văn hóa ẩm thực của Việt Nam tại các sự kiện. Đặc biệt, sự kiện triển lãm thế giới (World Expo) được tổ chức 5 năm một lần và thường kéo dài tới 6 tháng với hàng triệu lượt khách tham quan.
    • Thường xuyên tổ chức các Lễ hội ẩm thực trong nước tại các vùng, miền gắn với các sự kiện xúc tiến và quảng bá du lịch hoặc lễ hội ẩm thực Việt Nam ở nước ngoài. Đây là cơ hội để Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng giới thiệu, quảng bá các món ăn, các đặc sản ẩm thực của vùng miền đến khách du lịch cũng như tạo thêm các sản phẩm, điểm hấp dẫn cho du lịch ẩm thực.
    • Quảng bá tại các hội chợ, sự kiện chuyên ngành về du lịch cả trong nước và quốc tế. Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đã tham gia nhiều hội chợ du lịch quốc tế cũng như tổ chức nhiều chương trình giới thiệu du lịch Việt Nam ở nước ngoài như các Hội chợ Japan Tourism Expo tại Nhật Bản, WTM tại Anh, ITB tại Đức, Kotfa tại Hàn Quốc, Travex luân phiên tại các nước Asean… Tại các sự kiện này, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý điểm đến có thể vừa quảng bá vừa bán trực tiếp các sản phẩm du lịch ẩm thực, giới thiệu sự hấp dẫn của ẩm thực Việt Nam qua các video clip, các ấn phẩm điện tử hoặc ấn phẩm in về ẩm thực. Thực tế cho thấy, hoạt động quảng bá du lịch ẩm thực thường hấp dẫn hơn nhiều nếu khách tham quan được trực tiếp trải nghiệm và nếm thử các món ăn tại sự kiện.
    • Đẩy mạnh quảng bá văn hóa ẩm thực và du lịch ẩm thực Việt Nam trên các kênh truyền hình trong nước và quốc tế. Đến nay, các chương trình truyền hình trong nước thường giới thiệu ẩm thực qua các chương trình văn hóa ẩm thực hoặc các chương trình dạy nấu ăn trên truyền hình, chưa thực sự có sự gắn kết với du lịch hoặc truyền thông ẩm thực như một sản phẩm du lịch cần trải nghiệm. Đối với các kênh truyền hình quốc tế, do kinh phí quảng bá lớn, đến nay chúng ta hầu như chưa có chiến dịch truyền thông bài bản và quy mô nào về ẩm thực và du lịch ẩm thực trên các kênh truyền hình lớn của thế giới như CNN, BBC. Năm 2022, du lịch Việt Nam cũng đã hợp tác và quảng bá du lịch Việt Nam trên kênh Food Channel của Anh. Tuy nhiên, do kinh phí có hạn, thời gian phát sóng không dài và nội dung chưa được đầu tư bài bản nên hiệu quả chưa cao. Do đó, trong thời gian tới, cùng với việc xây dựng thương hiệu du lịch ẩm thực Việt Nam cũng như việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về ẩm thực và du lịch ẩm thực, ngành du lịch cần đầu tư một chiến dịch quảng bá bài bản và quy mô trên các kênh truyền hình lớn cả trong và ngoài nước.
    • Tăng cường quảng bá và truyền thông ẩm thực và du lịch ẩm thực Việt Nam trên các website và mạng xã hội phổ biến như Facebook, Instagram, Youtube… Đây là các kênh truyền thông có mức độ lan tỏa cao, mang lại hiệu quả tích cực trong thời gian ngắn, đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid 19 đang chưa được kiểm soát như hiện nay. Các chiến dịch quảng bá cần được xây dựng với các nội dung và mục tiêu cụ thể, có sự phối hợp với các những người nổi tiếng, người có ảnh hưởng đối với việc quảng bá du lịch và ẩm thực như các nghệ nhân ẩm thực, các đầu bếp thế giới, các nghệ sỹ, hoặc đại sứ du lịch tại các thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam.
    • Tăng cường liên kết với các nước Asean, đẩy mạnh quảng bá du lịch ẩm thực Asean, trong đó có du lịch ẩm thực của Việt Nam, coi đây là một nội dung quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược marketing du lịch Asean đến năm 2025 và thực hiện Tuyên bố chung của Hội nghị Bộ trưởng du lịch Asean tháng 1 năm 2022 về Du lịch Ẩm thực bên lề Diễn đàn Du lịch Asean và Hội chợ Du lịch Travex tại Chiang Mai, Thái Lan. Giống như các hợp tác trong phát triển du lịch di sản hay du lịch đường sông, các nước Asean hoàn toàn có thể hợp tác trong việc xây dựng và quảng bá sản phẩm “Hành trình du lịch ẩm thực Asean” với việc kết nối các điểm đến du lịch ẩm thực điển hình của các quốc gia nhằm tăng trải nghiệm cho khách du lịch khi tham gia hành trình.

    Có thể nói, du lịch ẩm thực là một trong những sản phẩm du lịch điển hình, mang tính khác biệt, phản ảnh bản sắc văn hóa của quốc gia, của cộng đồng địa phương tạo ấn tượng và sự hấp dẫn lớn đối với khách du lịch. Thực hiện tốt việc xúc tiến, quảng bá du lịch ẩm thực sẽ góp phần quan trọng trong việc quảng bá thương hiệu quốc gia nói chung cũng như thương hiệu du lịch Việt Nam nói riêng./.

    TS. Vũ Nam

    Phó Vụ trưởngVụ Thị trường Du lịch – Tổng cục Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Đề Tài: Một Số Giải Pháp Thiết Kế Quy Hoạch Và Kiến Trúc Nhằm Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường Trong Một Số Khu Ở Đô Thị Và Nông Thôn Đồng Bằng Sông Hồng
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Tình Hình Mới
  • “Bỏ Túi” Cách Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Trong Công Việc
  • Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp – Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Phát Triển Nông Nghiệp Việt Nam: Kiến Nghị Một Số Giải Pháp
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viêt Cho Học Sinh Tiểu Học
  • “một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học”
  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Lớp 1 2 3 4 5
  • MỤC LỤC

    LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………..

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU

    LỊCH ẨM THỰC………………………………………………………………………………..

    1.1. Định nghĩa loại hình du lịch ẩm thực………………………………………………

    1.1.1.Khái niệm văn hóa ẩm thực………………………………………………………

    1.1.2.Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực………………………………………….

    1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch

    tương tự………………………………………………………………………………………….

    1.2.Đặc điểm của loại hình du lịch ẩm thực……………………………………………

    1.3. Điều kiện phát triển loại hình du lịch ẩm thực………………………………..

    1.3.1.Điều kiện chung phát triển du lịch……………………………………………

    1.3.2.Điều kiện đặc trưng phát triển du lịch ẩm thực …………………………

    1.4.Ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với Việt Nam

    ……………………………………………………………………………………………………….

    1.4.1.Về mặt kinh tế……………………………………………………………………….

    1.4.2.Về mặt xã hội………………………………………………………………………………

    TỔNG KẾT CHƯƠNG I……………………………………………………………………

    CHƯƠNG II: THƯC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH

    ẨM THỰC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY……………………………………………

    2.1.Thực trạng về các điều kiện phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam

    ……………………………………………………………………………………………………

    2.1.1.Về điều kiện tài nguyên du lịch……………………………………………….

    2.1.2.Về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch…………………………………………….

    2.1.3.Về nguồn nhân lực…………………………………………………………………

    2.1.4.Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương………………………….

    2.1.5.Sự đảm bảo về vệ sinh và an toàn thực phẩm…………………………….

    2.1.6.Hệ thống chính sách và nguyên tắc đảm bảo sự phát triển lâu dài

    hoạt động kinh doanh du lịch ẩm thực của các chủ thể quản lí nhà

    nước,các đơn vị kinh doanh du lịch………………………………………………….

    2.1.7.Đối tượng khách của loại hình du lịch ẩm thực Việt Nam…………………

    2.2.Đánh giá sự phát triển loại hình du lịch ẩm thực ở Việt Nam qua

    mô hình SWOT………………………………………………………………………………..

    TỔNG KẾT CHƯƠNG II………………………………………………………………….

    CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CHỦ THỂ

    QUẢN LÍ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH NHẰM

    PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC Ở VIỆT NAM

    TRONG THỜI GIAN TỚI…………………………………………………………………

    3.1. Giải pháp phát triển du lịch ẩm thực ở Việt Nam trong thời gian tới.

    ……………………………………………………………………………………………………….

    3.1.1.Giải pháp về quy hoạch phát triển du lịch…………………………………

    3.1.2.Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch…………………….

    3.1.3.Giải pháp về đào tạo,phát triển nguồn nhân lực…………………………

    3.1.4.Tuyên truyền,nâng cao nhận thức về du lịch ẩm thực…………………

    3.1.6. Ban hành hệ thống chính sách quản lí thống nhất,đầy đủ…………..

    3.2. Kiến nghị của bản thân………………………………………………………………..

    3.2.1.Kiến nghị với Tổng cục du lịch……………………………………………….

    3.2.2.Kiến nghị với cục VSATTP……………………………………………………

    3.2.3.Kiến nghị với các đơn vị kinh doanh sản phẩm du lịch ẩm thực

    ……………………………………………………………………………………………………

    3.2.4.Kiến nghị với chính quyền địa phương…………………………………….

    3.2.5.Kiến nghị với nhân dân các địa bàn phát triển du lịch ẩm thực……

    TỔNG KẾT CHƯƠNG III…………………………………………………………………

    KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………….

    TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………….

    LỜI MỞ ĐẦU

    1.Tính cấp thiết của đề tài

    Ai cũng biết rằng: Văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời

    sống con người, nó hàm chứa trong đó những ý nghĩa triết lý.

    Từ xa xưa , trong dân gian đã tổng kết thành câu tục ngữ: “Học ăn, học nói,

    học gói, học mở” chủ yếu để nhắc nhở những người mới bước vào đời thì khâu đầu

    tiên là “học ăn”. Ở các nước khác trên thế giới, ngoài quan niệm dân gian thì các

    nhà chuyên môn, những người yêu thích,am hiểu về ẩm thực… đều bàn luận, viết

    những tài liệu, những cuốn sách hay về nghệ thuật ăn uống. Có ý kiến cho rằng:

    “Chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi

    khoái lạc với các món ăn ngon.” Đó thực sự là một niềm vui ,niềm hạnh phúc lớn

    lao của con người, là phần thưởng của tạo hóa dành cho con người. Mỗi dân tộc

    trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của mình đều có phong cách ẩm thực

    với những đặc thù nhất định, nên đã có người nhận xét: “Có thể đoán biết được

    phần chính yếu của số phận một dân tộc thông qua việc quan sát họ ăn như thế

    nào.”.Đối với cá nhân riêng lẻ cũng vậy, “Hãy cho tôi biết anh thường xuyên thích

    ăn món gì, tôi sẽ có thêm cứ luận để nói rõ cho anh biết anh là người thế nào.” Đã

    có một vài nhận xét thú vị được rút ra như sau :

    -Ăn chính là nghệ thuật : “Chúng ta dựa vào trí tuệ mẫn tiệp ,tình cảm đẹp đẽ

    để xây dựng cuộc sống có chất lượng cao ,ngày một hoàn thiện .Vì vậy cần phải biết

    chọn thức ăn ngon – đó là một biểu hiện của chất lượng cuộc sống”. Rõ ràng , biết

    chọn thức ăn ngon, phù hợp với mình là cả một nghệ thuật

    -Ăn là biểu hiện của văn hóa ứng xử: “Ăn thô tục là không biết ăn.”

    Cha ông ta dạy: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” là rất ý nhị. Có quan niệm còn

    cho rằng khi ăn cũng phải giữ phong độ uy vũ, mạnh mẽ, chân tình nhưng tránh thô

    lậu. “Nam thực như hổ, nữ thực như miêu” là muốn nhấn mạnh ý người nam ăn

    phải khỏe, tư thế vẫn tỏ rõ nam tính, trái lại ,nữ nhi phải ăn uống dịu dàng, làm

    dáng, thể hiện cả nữ tính yểu điệu như mèo cả trong khi ăn.

    – Ăn chính còn là thực hiện niềm vui sáng tạo: “Phát hiện một món ăn mới

    phải thấy là vui sướng như phát hiện ra một ngôi sao mới”. Tạo ra một món ăn mới

    được xem như một phát minh .Nếu suy nghĩ được như vậy thì ẩm thực mới phát

    triển và thực ra nó cũng là một trong những nguồn cảm hứng vô tận cho những ai

    yêu nó, để tâm sức vào nghiên cứu nó.

    Cuối cùng, thiết nghĩ khi chuẩn bị món ăn, người đầu bếp phải tính toán lượng

    nguyên liệu sao cho vừa đủ với số lượng khách; sắp xếp nồi, niêu, xoong, chảo, bát,

    đĩa, thìa, dao, thớt sao cho gọn gàng , sạch sẽ. Nấu món ăn nào trước, món ăn nào

    sau phải hợp lý, thứ tự, thái độ nấu nướng vui vẻ, hứng khởi. Khi dọn ăn, nên chú ý

    lời mời chào tiếp cho chu đáo , ý vị thì càng làm cho các món ăn ngon thêm bội

    phần. Văn hóa ẩm thực ngày được đông đảo công chúng và các chuyên gia văn hóa

    chú ý không chỉ ở nước ta mà ở nhiều nước. Chính vì vậy ,văn hóa ẩm thực cũng

    được coi như một tài nguyên du lịch,thu hút với những đối tượng khách muốn tìm

    hiểu về văn hoá ẩm thực của một quốc gia,vùng miền.Khoảng chục năm trước,trên

    thế giới đã xuất hiện loại hình du lịch ẩm thực.Kể từ khi khai sinh thật sự của nó như

    một ngành công nghiệp vào năm 2003 ,du lịch ẩm thực đã phát triển theo cấp số nhân

    mỗi năm ,được đo bằng một số chỉ số.Trước tiên ,số lượng người tiêu dùng quan tâm

    đến đối tượng đã phát triển nhanh chóng qua cách tăng cho thấy du lịch ẩm thực trên

    truyền hình.Một thực tế là ngày càng xuất hiện nhiều hơn nhiều hơn các chương trình

    ẩm thực trên các kênh du lịch và ngược lại ,du lịch trên các kênh thực phẩm .Bên

    cạnh đó ,thống kê của ICTA -hiệp hội du lịch ẩm thực -cũng cho thấy sự tăng nhanh

    về số lượng thành viên đã cho thấy sự phát triển của du lịch ẩm thực trên thế giới

    những năm gần đây.Tuy nhiên đến nay,du lịch ẩm thực vẫn còn là khái niệm khá mới

    lạ ở Việt Nam.Đó thực sự là một sự lãng phí nguồn tài nguyên phát triển du lịch.Vì

    vậy,tôi viết về đề tài này với mong muốn có thể nghiên cứu sâu hơn về các điều kiện

    phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam,từ đó đề ra một vài giải pháp nhằm

    phát triển loại hình du lịch này tại Việt Nam trong thời gian tới

    2. Mục tiêu,nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

    Mục tiêu nghiên cứu

    Phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam trong thời gian tới

    Nhiệm vụ nghiên cứu

    -Chỉ ra tiềm năng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam

    -Đánh giá mức độ phát triển của loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam hiện nay

    -Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt

    Nam trong thời gian tới

    3.Đối tượng nghiên cứu

    Loại hình du lịch ẩm thực

    4.Phạm vi nghiên cứu

    Trên lãnh thổ Việt Nam

    5.Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp luận chung

    Phương pháp này đóng vai trò nền tảng ,là căn cứ để chọn lựa ,sử dụng các

    phương pháp nghiên cứu cụ thể khác

    Phương pháp nghiên cứu tài liệu :

    -Lược thuật tài liệu

    -Thu thập ,phân tích ,tổng hợp tài liệu

    6.Nội dung nghiên cứu

    Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ,nội dung của đề tài bao gồm :

    Chương I : Cơ sở lí luận phát triển loại hình du lịch ẩm thực

    Chương II : Thực trạng phát triển loại hình du lịch ẩm thực tại Việt Nam

    hiện nay

    Chương III : Giải pháp và kiến nghị với các chủ thể quản lí và hoạt động

    kinh doanh du lịch nhằm phát triển loại hình du lịch ẩm

    thực ở Việt Nam trong thời gian tới

    CHƯƠNG I

    CƠ SỞ LÍ LUẬN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH

    DU LỊCH ẨM THỰC

    1.1. Định nghĩa loại hình du lịch ẩm thực

    1.1.1.Khái niệm văn hóa ẩm thực

    Khái niệm văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

    người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa

    con người với môi trường tự nhiên và xã hội.Văn hóa ẩm thực là nội dung nói đến

    lĩnh vực chế biến,cách thưởng thức các thức ăn,đồ uống…Đó chính là nét văn hóa

    hình thành trong cuộc sống.Văn hóa ẩm thực có 3 nội dung:

    – Cách thức chế biến các đồ ăn,thức uống

    – Các nguyên liệu ẩm thực có giá trị tôn nhau

    – Cách thức thưởng thức mà nâng cao lên thành “đạo”

    Như vậy,văn hóa ẩm thực không chỉ là nét văn hóa về vật chất mà còn là văn

    hóa về tinh thần.Nét văn hóa về vật chất thể hiện trong cách trang trí món ăn sao

    cho đẹp mắt,món ăn dậy mùi thơm…kích thích vị giác của thực khách.Nét văn hóa

    về tinh thần thể hiện ở cách giao tiếp ,ứng xử giữa con người trong bữa cơm ,những

    nguyên tắc ,chuẩn mực ,phong tục ăn uống…Vậy nên có câu: “Hãy cho tôi biết anh

    thích ăn những gì,tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào”

    1.1.2.Khái niệm loại hình du lịch ẩm thực

    Theo định nghĩa của hiệp hội du lịch ẩm thực,du lịch ẩm thực là sự theo đuổi

    những kinh nghiệm ẩm thực độc đáo và đáng nhớ,thường khi đi du lịch nhưng cũng

    có thể chỉ là du lịch ẩm thực tại nhà

    Cụm từ “độc đáo và đáng nhớ” là chìa khóa để hiểu du lịch ẩm thực .Nhiều

    người khi nghe đến cụm từ “du lịch ẩm thực” thường nghĩ ngay đến một nhà hàng

    sang trọng hay những chai rượu vang hảo hạng.Tuy nhiên ,đó không phải là tất

    cả.Đôi khi du lịch ẩm thực chỉ là thưởng thức những chiếc bánh ngọt tại cửa hàng

    địa phương hay khám phá ra một địa chỉ ẩm thực thú vị trên một con phố không tên

    mà chỉ người dân địa phương biết đến…Chính những trải nghiệm độc đáo và thú vị

    là điều hấp dẫn ,thu hút du khách đến với loại hình du lịch này

    Du lịch ẩm thực bao gồm các loại kinh nghiệm ẩm thực .Nó bao gồm các

    trường học nấu ăn ,sách dạy nấu ăn,các chương trình ẩm thực trên tryền hình,các

    cửa hàng tiện ích của nhà bếp và các tour du lịch ẩm thực…

    Như vậy ,du lịch ẩm thực qua các tour du lịch là một tập hợp con của du lịch

    ẩm thực nói chúng tôi nghĩa này,du lịch ẩm thực là một loại hình du lịch với mục

    đích tìm hiểu văn hóa ẩm thực của điểm đến.Trong phạm vi chuyên đề thực tập ,em

    cũng chỉ xin giới hạn việc nghiên cứu ở nghĩa hẹp của du lịch ẩm thực như một loại

    hình du lịch.

    1.1.3.Phân biệt loại hình du lịch ẩm thực với các loại hình du lịch tương tự

    Du lịch ẩm thực với du lịch văn hóa

    Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao nhận thức cho cá

    nhân về mọi lĩnh vực như lịch sử ,kiến trúc,hội họa ,chế độ xã hội,cuộc sống của

    người dân cùng các phong tục tập quán của điểm đến…

    Như vậy,du lịch văn hóa là khái niệm bao trùm cả du lịch ẩm thực và các loại

    hình du lịch khác nữa dựa vào văn hóa,nó đề cập đến việc nâng cao nhận thức cá

    nhân trong mọi lĩnh vực.Trong khi đó,du lịch ẩm thực chỉ là nâng cao nhận thức cá

    nhân trong lĩnh vực ẩm thưc,tập quán ăn uống của người dân.Du lịch ẩm thực là tập

    hợp con của du lịch văn hóa nên cũng giống như du lịch văn hóa,du lịch ẩm thực

    cũng phải dựa trên những gì là giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến để phát triển

    Du lịch ẩm thực với agritourism

    Agritourism,theo nghĩa rộng nhất là bất kì hoạt động du lịch nào dựa trên nông

    nghiệp hoặc khiến cho du khách tới thăm một trang trại hay trai chăn gia súc

    Agritourism bao gồm một loạt các hoạt động, bao gồm cả mua những nông

    sản được sản xuất trực tiếp từ một trang trại, điều hướng một mê cung bắp, hái trái

    cây, cho động vật ăn, hoặc ở tại một B & B trên một trang trại.

    Như vậy,agritourism khác du lịch ẩm thực ở chỗ:agritourism nhằm thỏa mãn

    nhu cầu tìm hiểu về các hoạt động nông nghiệp,tìm hiểu về cách thức ăn của con

    người được tạo ra.Còn du lịch ẩm thực nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về nghệ

    thuật ẩm thực của điểm đến.Du lịch ẩm thực là tập hợp con của du lịch văn hóa(các

    món ăn là một biểu hiện của văn hóa),trong khi đó agritourism là tập hợp con của du

    lịch nông thôn.Điều đó có nghĩa là du lịch ẩm thực và agritourism gắn bó chặt chẽ

    với nhau,như những hạt giống của các món ăn có thể được tìm thấy trong nông

    nghiệp

    1.2.Đặc điểm của loại hình du lịch ẩm thực

    Du lịch ẩm thực phản ánh và chứa đựng tài nguyên tự nhiên,văn hóa và

    lịch sử của bản địa

    Nhìn vào nền ẩm thực của một quốc gia,vùng miền nào đó ta có thể phần nào

    thấy được điều kiện tự nhiên của quốc gia,vùng miền đó.Bởi với điều kiện tự nhiên

    khác nhau như khí hậu ,địa hình…thì số lượng,chủng loại nguồn nguyên liệu cũng

    như mùi vị các món ăn cũng khác nhauVí dụ như Nhật Bản là quốc gia được bao

    bọc bởi bốn bề là biển nên thủy,hải sản rất phong phú.Bởi vậy,trong những món ăn

    thường ngày của người Nhật không bao giờ thiếu cá và các loại hải sản khác.

    Yếu tố văn hóa chính là linh hồn của du lịch ẩm thực .Chẳng ai đi du lịch chỉ

    để “ăn”một cách thuần túy.Vấn đề ăn uống trong du lịch đã được nâng lên thành cả

    một nghệ thuật.Ăn không chỉ để hưởng thụ cuộc sống mà qua ăn uống,người ta còn

    có thể nâng cao vốn tri thức của mình về một nền văn hóa.Các giá trị văn hóa được

    thể hiện trong cách chế biến hay cách thức ăn uống theo đúng kiểu của người dân

    bản địa.Bên cạnh đó,giá trị văn hóa còn thể hiện ở không gian kiến trúc,cách bài trí

    của nhà hàng,quán ăn:ở cung cách phục vụ,trang phục của nhân viên hay chính ở lối

    sống của người dân bản địa

    Du lịch ẩm thực còn phản ánh trong đó những giá trị lịch sử của mỗi vùng

    miền.Huế xưa kia từng là đất kinh kì,nơi mà lối sống của tầng lớp quý tộc và

    thượng lưu trí thức luôn được đề cao nên thực đơn và cách chế biến món ăn Huế

    luôn mang tính công phu, tỉ mỉ. Tư tưởng đó sau này dù khi không còn ở vị trí

    trung tâm của đất nước nhưng người Huế vẫn cứ muốn tìm những cái cầu kỳ trong

    ăn uống để khẳng định sắc thái của mình. Đó chính là cái không hướng đến sự ăn

    nhiều,ăn no, ăn thoải mái mà hướng đến triết lý ăn để thưởng thức cái đẹp của

    người Huế. Đó cũng chính là cái khung cảnh ăn uống mang đậm yếu tố thiên

    nhiên , hòa quyện ,gắn bó với con người. Chính đặc trưng rõ nét đó đã tạo ra một

    “lối nấu Huế” để phân biệt với những nơi khác. Lối nấu mà một nhà nghiên cứu về

    văn hóa Huế đã viết: “Trong bữa ăn, người Huế ưa ăn các món ăn đa dạng, hỗn

    hợp, dù mỗi món chỉ dùng một ít. Trong chế biến cũng như trong ăn uống, người

    Huế thích phải tinh vi, tỉ mỉ, cầu kỳ, thể hiện một ý thức mỹ cảm rõ rệt, con người

    ăn uống không chỉ để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn mà còn để thưởng thức cái mà

    mình sáng tạo ra”

    Du lịch ẩm thực hướng tới việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa

    truyền thống của điểm đến

    Du lịch ẩm thực phát triển dựa trên nền văn hóa ẩm thực mang đậm bản sắc

    của điểm đến,cái mà du khách tìm đến là bản sắc riêng của nền văn hóa đó.Điều đó

    có nghĩa là sự lai tạp giữa nền văn hóa ẩm thực bản địa với văn hóa ẩm thực của

    những vùng miền khác sẽ làm mất đi ý nghĩa của du lịch ẩm thực,làm giảm tính hấp

    dẫn của điểm đến với du khách.Vì vậy ,phát triển du lịch ẩm thực đặt ra yêu cầu

    phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến.

    Du lịch ẩm thực mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương

    Du lịch ẩm thực không có nghĩa là chỉ dẫn du khách đi ăn tại các nhà hàng

    sang trọng ,mà đó có thể chỉ là tìm đến những quán ăn bình dân ,thưởng thức những

    món ăn ở đó ,để du khách có thể hòa mình với lối sống của người dân bản địa.Du

    khách cũng có thể tới tham quan các làng nghề ẩm thực truyền thống của địa

    phương ,tham gia vào một công đoạn sản xuất hoặc được tự tay chế biến những

    món ăn từ chính những sản phẩm của làng nghề.Điều đó có nghĩa là các nhà

    hàng,quán ăn bình dân và các làng nghề truyền thống của cư dân địa phương cũng

    là một yếu tố góp phần phát triển du lịch ẩm thực.Mặt khác,du lịch ẩm thực phát

    triển cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nhà hàng,quán ăn và các làng nghề

    truyền thống ,mang lại lợi ích cho chính các hộ kinh doanh của địa phương.Bên

    cạnh đó,du lịch ẩm thực phát triển sẽ tiêu thụ một lượng lớn hơn các sản phẩm nông

    sản và thực phẩm do địa phương tạo ra,đồng thời giúp gia tăng giá trị các sản phẩm

    đó lên gấp rất nhiều lần.

    Ngoài ra,cũng giống bất kì hoạt động du lịch nào khác ,du lịch ẩm thực phát

    triển cũng sẽ mang lại nguồn thu lớn cho địa phương từ các khoản phí và thuế mà

    các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn nộp.

    Về mặt xã hội,du lịch ẩm thực cũng mang lại rất nhiều lợi ích cho địa

    phương.Du lịch ẩm thực thu hút lượng khách lớn đến từ những nền văn hóa khác,sẽ

    thổi vào một luồng sinh khí mới cho điểm đến.Nền văn hóa mới với lối sống,tác

    phong ,suy nghĩ mới sẽ giúp dân cư địa phương mở mang đầu óc,thay đổi sự nhận

    thức đối với thế giới xung quanh.Đó sẽ là động lực để nhân dân địa phương tự làm

    mới bản thân ,nắm bắt cơ hội làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình.

    Cũng chính bởi lợi ích to lớn mà du lịch ẩm thực mang lại cho cộng đồng dân

    cư địa phương sẽ giúp họ hiểu được tầm quan trọng của các giá trị văn hóa truyền

    thống của địa phương cũng như tính cấp thiết phải giữ gìn và phát huy các giá trị

    truyền thống đó.Như vậy,phát triển du lịch ẩm thực cần gắn với lợi ích cả công

    đồng dân cư địa phương

    Thời gian làm việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như mua

    hàng, dọn dẹp nhà cửa …

    Thời gian cần thiết để thoả mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý: ngủ, ăn…

    Thời gian rỗi:

    Trong sự phân chia trên, thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của môn

    khoa học về tổ chức du lịch. Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là số

    lượng thời gian rỗi của con người. Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời

    gian đó vào mục đích gì và sử dụng như thế nào. Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu

    con người sử dụng thời gian hợp lý quỹ thời gian và có chế độ lao động đúng đắn.

    Với chế độ làm việc năm ngày một tuần ở nhiều nước, số thời gian rỗi tăng lên và

    đó là điều kiện thực tế để tổ choc hợp lý du lịch và nghỉ ngơi cho nhân dân lao

    động. Thời gian rỗi còn tăng bằng cách giảm bớt thời gian của các công việc khác

    ngoài giờ làm việc.

    Tóm lại, để có thể tăng thời gian rỗi, phải có cơ cấu thời gian ngoài giờ làm

    việc hợp lý. Điều này có thể thực hiện được nếu mạng lưới thương nghiệp được mở

    rộng, mạng lưới phục vụ công cộng, giao thông, y tế…được tổ chức và quản lý tốt.

    Thời gian rỗi nằm trong quỹ thời gian, còn thời gian dành cho du lịch, thể thao và

    nghỉ ngơi lại nằm trong thời gian rỗi. Do vậy, du lịch muốn phát triển tốt phải

    nghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi, phải xác

    lập được ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi. Việc áp

    dụng phương pháp hệ thống tìm ra các phương hướng phát triển và phục cụ thích

    hợp cho thể thao, du lịch và nghỉ ngơi.

    Trên cơ sở xu hướng phát triển của thời gian làm việc, thời gian ngoài giờ làm

    việc và thời gian rỗi, các chuyên gia đã dự đoán, số ngày làm việc bình quân một

    năm sẽ không vượt qúa 200. Đó là điều kiện thực tế và khả năng tăng số ngày nghỉ

    phép trong năm cho phép các tổ chức du lịch thu hút được thêm khách đến các cơ

    sở của mình. Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sử dụng hợp lý.

    Các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền đề vật chất cho

    việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động. Các cơ sở ấy đóng vai trò trung

    tâm trong việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu

    cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân.

    1.3.1.2. Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao.

    Mức sống về vật chất cao

    Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có

    thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời

    gian mà còn phảicó đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó. Khi đi du

    lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu ding của

    nhiều loại dịch vụ, hàng hoá. Con người để có thể đi du lịch và tiêu dùng phải có

    phương tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói

    chung thành có khả năng thanh toán,vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản

    tiền cho các nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm các

    khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan…và xu hướng của con

    người khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn. Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân

    là điều kiện có nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch. Và mỗi khi thu nhập của

    nhân dân tăng thì sự tiêu dùng của du lịch tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ

    cấu của tiêu dùng du lịch. Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự

    phát triển của nền kinh tế, vào thu nhập quốc dân của đất nước đó. Vì nguyên nhân

    đó, những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một

    mặt,có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch

    trong nước và mặt khác có thể gửi khách du lịch ra nước ngoài, nhưng vì kinh tế lạc

    hậu, chậm phát triển nên không thể phát triển du lịch và càng không thể gửi nhiều

    khách du lịch ra nước ngoài được.

    Trình độ văn hoá chung của nhân dân cao

    Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch

    của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt. Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và

    mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân, thói quen

    đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt. Mặt khác, nếu trình độ văn hoá chung của

    một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ

    khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách đi du lịch đến đó.

    1.3.1.3. Điều kiện giao thông vận tải phát triển

    Từ xưa, giao thông vận tảilà tiền đề cho sự phát triển du lịch. Ngày nay, giao

    vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch,

    đặc biệt là du lịch quốc tế.

    Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông, đặc biệt là giao thông trong du

    lịch phát triển cả về lượng lẫn về chất lượng.

    Phát triển về số lượng: thực chất đó là việc tăng chủng loại và số lượng các

    phương tiện vận chuyển. Sự phát triển về số lượng của các phương tiện vận chuyển

    đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới được mọi nơi trên trái đất. Hiện nay trên

    thê giới có trên 300 triệu khách du lịch đI qua biên giới các nước bằng các phương

    tiện vận chuyển khác nhau.

    Phát triển về chất lượng của các phương tiện vận tải theo hướng:

    Tốc độ vận chuyển: Việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiêm thời gian

    đi lai và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách du lịch đến

    những nơi xa xôi

    Đảm bảo an toàn trong vận chuyển: Ngày nay, sự tiến bộ khoa hoc kỹ thuật đã

    làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách

    Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển

    Vận chuyển với giá rẻ

    Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại

    phương tiện vận chuyển. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch. Sự

    phối hợp đó có hai mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế. Cả hai mức độ có vai

    trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch. Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt

    cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo ra điều kiện thuận

    lợi khi phảiđổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách đi du lịch..

    1.3.1.4. Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước

    Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức

    độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó. Theo ý kiến của một số

    chuyên gia kinh tế thuộc Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc, một đất

    nước có thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật

    chất cần thiết cho du lịch. Nếu một nước phải nhập một khối lượng lớn hàng hoá để

    trang bị cho cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo phục vu khách du lịch thì việc cung

    ứng vật tư hàng hóa sẽ hết sức khó khăn.

    Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của một đất nước được phân tích và

    đánh giá chủ yếu theo các hướng:

    Thực trạng và xu hướng phát triển của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng

    sản phẩm quốc nội tình theo đầu người.

    Tỷ trọng và xu hướng phát triển của các ngành sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng

    và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất. Sự phát triển của ngành công nghiệp nhẹ,

    nông nghiệp và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm có ý nghĩa quan trọng

    đỗi với việc phát triển du lịch. Vì ngành du lịch sử dụng khối lượng lớn lương thực,

    thực phẩm.

    Xu hướng phát triển của nội, ngoại thương

    Tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động tích cực trong tổng dân số. Đặc biệt

    đối với ngành du lịch là ngành cần có hàm lượng lao động sống lớn thì yếu tố này

    đặc biệt quan trọng trong giúp cho hoạt động du lịch phát triển

    1.3.1.5. Tình hình chính trị hoà bình, ổn định của đất nước và các điều kiện

    an toàn đối với du khách.

    Tình hình chính trị, hoà bình ổn định là tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị,

    văn hoá, xã hội của một đất nước. Một quốc gia mặc dù điều kiện tài nguyên phong

    phú cũng không thể phát triển du lịch nếu như ở đó luôn xảy ra những sự kiện hoặc

    thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hoà bình ổn định thì không có điều kiện để

    phát triển kinh doanh du lịch và cũng không thu hút được khách du lịch.

    Các điều kiện an toàn đối với khách du lịch

    Các yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn trực tiếp hoặc gián tiếp của khách du lịch

    có thể theo các hướng sau:

    Tình hình an ninh, trật tự xã hội

    Lòng hận thù đối của dân bản địa đối với một dân tộc nào đó

    Các loai bệnh dịch

    Nói tóm lại, các điều kiện chung để phát triển du lịch ở trên tác động một cách

    độc lập lên sự phát triển du lịch. Các điều kiện ấy ảnh hưởng đến du lịch tách rời

    nhau. Do vậy, nếu thiếu một trong những điều kiện ấy thì sự phát triển của du lịch

    có thể bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn ngừng hẳn. Sự có mặt của tất cả các điều

    kiện trên đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ cả ngành du lịch như một hiện tượng

    kinh tế – xã hội đai chúng và lặp lại đều đặn.

    1.3.2.Điều kiện đặc trưng phát triển du lịch ẩm thực .

    Nền văn hóa ẩm thực phong phú,độc đáo

    Đối với những loại hình du lịch khác,ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng

    trong việc tác động tới cảm nhận của du khách về toàn bộ chuyến đi du lịch nhưng

    không được xem như là một nhân tố để du khách quyết định thực hiện chuyến du

    lịch.Vì vậy ,đôi khi chỉ cần xây dựng thực đơn cho phù hợp với khẩu vị của du

    khách.Nhưng đối với loại hình du lịch ẩm thực ,ẩm thực lại là nhân tố quyết định

    trong việc lựa chọn chương trình du lịch,các điểm đến.Chính vì vậy ,điểm đến có

    nền văn hóa ẩm thực càng phong phú, độc đáo bao nhiêu thì càng hấp dẫn với du

    khách bấy nhiêu.Mức độ phong phú của một nền ẩm thực có thể là do sự hội tụ của

    nhiều tộc người khác nhau với những sắc thái ẩm thực khác nhau trên cùng một

    vùng,miền hoặc cũng có thể đó là nơi tập trung của nhiều làng nghề ẩm thực …Sự

    phong phú của nền văn hóa ẩm thực sẽ mang đến cho du khách nhiều cơ hội khám

    phá ,học hỏi .Còn tính độc đáo được tạo nên bởi những đặc trưng của một nền ẩm

    thực,nó tạo ra sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác.Sự độc đáo có thể thể

    hiện ở cách thức chế biến món ăn,mùi vị đặc trưng ,lợi ích của món ăn hay ở kiến

    trúc nhà hàng,quán ăn…Tuy nhiên,khi đưa vào để phát triển thành một sản phẩm du

    lịch thì tình độc đáo cũng chỉ là một khái niệm tương đối vì trong du lịch,các sản

    phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước.Vì vậy,luôn tìm tòi ,sáng tạo nhưng không làm mất

    đi bản sắc riêng là yêu cầu không thể thiếu trong việc phát triển du lịch nói

    chung,du lịch ẩm thực nói riêng

    một công đoạn sản xuất tại làng nghề hay tự nấu một món ăn và thưởng thức thành

    quả tự mình làm ra.

    Tuy nhiên ,việc thiết kế ,xây dựng các nhà hàng ,quán ăn đặc biệt chú ý đến

    các điều kiện về vệ sinh và sự hài hòa với môi trường xung quanh

    Nguồn nhân lực,đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất,chế biến,dịch vụ ăn uống

    có chất lượng cao

    Du lịch là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ.Bởi thế,nhân

    tố con người càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hoạt động kinh

    doanh du lịch. Đối với loại hình du lịch ẩm thực ,lao động trong bộ phận sản xuất,chế

    biến thực phẩm và bộ phận phục vụ thức ăn,đồ uống cần được chú trọng đặc biệt.Du

    khách tìm đến với loại hình du lịch này với mong muốn có được những trải nghiệm

    độc đáo và đáng nhớ về ẩm thực.Do đó,phải làm sao để chế biến ra những món ăn,đồ

    uống ngon,bổ,trình diễn những kĩ thuật chế biến mới lạ,hấp dẫn và tạo dựng được

    phong cách phục vụ chuyên nghiệp.Để làm được điều đó,không những đòi hỏi bản

    thân người lao động cần có lòng nhiệt huyết,đam mê,tự trau dồi kiến thức mà còn có

    sự đào tạo bài bản từ phía các trường lớp ,các viện nghiên cứu.Có vậy mới tạo ra đội

    ngũ người lao động đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng

    Sự tham gia tích cực của công đồng dân cư địa phương

    Cũng như điều kiện để phát triển du lịch văn hóa ,sự tham gia của cộng đồng

    dân cư địa phương là cần thiết đối với sự phát triển của du lịch ẩm thực.Đối với loại

    hình du lịch ẩm thực,cái mà du khách tìm đến không chỉ là vị ngon của thức ăn ,đồ

    uống mà còn là những giá trị về mặt tinh thần .Đó là sự hiểu biêt về một nền văn

    hóa khác thông qua những phong tục truyền thống,lối sống của người dân bản

    địa.Hơn ai hết,chính người dân bản địa lại là những người am hiểu nhất về nền văn

    hóa địa phương.Và cũng chính họ sẽ là người quyết định sự thịnh suy của nền văn

    hóa đó.Chính vì vậy,để có thể lưu giữ và phát huy một nền văn hóa thì phải dựa vào

    chính người dân địa phương.

    Sự đảm bảo về an toàn vệ sinh thực phẩm

    Vấn đề an ninh,an toàn tính mạng luôn là vấn đề du khách quan tâm khi quyết

    định điểm đến cho chuyến hành trình du lịch của mình.Theo lý thuyết Maslow về

    nhu cầu của con người,nhu cầu an ninh,an toàn cho tính mạng được xếp ở vị trí thứ

    hai trong thang bậc các nhu cầu,chỉ sau nhu cầu sinh lí.Với loại hình du lịch ẩm

    thực,du khách dường như luôn tiếp xúc với thức ăn,đồ uống của điểm đến.Nếu

    không được đảm bảo về vệ sinh thì đó chính là nguồn khiến mầm bệnh xâm nhập

    trực tiếp và nhanh nhất vào cơ thể con người.Do đó ,cần chú trọng đặc biệt đến vấn

    đề vệ sinh,cả ở khu vực bên trong các nhà hàng,quán ăn,các làng nghề và môi

    trường xung quanh..Đối với bên trong,phải đảm bảo sự sạch sẽ ở mức cao nhất các

    trang thiết bị,dụng cụ nấu nướng,ăn uống.Nguồn nguyên liệu phải rõ ràng xuất

    xứ,đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh…Đối với bên ngoài,cần thực hiện tốt các điều

    kiện vệ sinh môi trường và các biện pháp xử lí chất thải…

    địa phương ,các đơn vị kinh doanh du lịch cần xác định những đặc trưng của nền

    văn hóa ẩm thực trên địa bàn,khu vực và nghiên cứu đặc điểm đối tượng khách

    hàng mục tiêu cho phù hợp

    1.4.Ý nghĩa của việc phát triển loại hình du lịch ẩm thực đối với Việt Nam

    1.4.1.Về mặt kinh tế

    Du lịch ẩm thực giúp làm gia tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân cho

    ngành du lịch và cho đất nước

    Cũng giống như các hoạt động du lịch khác,du lịch ẩm thực làm tăng nguồn

    thu ngân sách cho địa phương phát triển du lịch ẩm thực.Nguồn thu này lấy từ các

    khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở kinh doanh du lịch thuộc quản lí trực tiếp

    của địa phương.

    Du lịch ẩm thực còn góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển

    theo.Vì chính yêu cầu hỗ trợ liên ngành trong hoạt động du lịch là cơ sở cho các

    ngành khác phát triển như giao thông vận tải,tài chính,bưu điện…Chính du lịch

    giúp nền kinh tế trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.Với du lịch ẩm

    thực thì khách du lịch cũng không thể ăn uống liên tục cả ngày.Theo điều tra của

    hiệp hội nhà hàng quốc gia Hoa Kì,hiệp hội công nghiệp du lịch của Mỹ và ủy ban

    du lịch Canada,khách du lịch,người quan tâm đến rượu vang/ẩm thực cũng cho thấy

    một ái lực đối với các viện bảo tàng,nhà hát,mua sắm,âm nhạc,liên hoan phim và

    giải trí ngoài trời.Thực tế là chi tiêu cho các hoạt động này nhiều khi còn lớn hơn cả

    tổng hóa đơn bữa tối.Như vậy ,không chỉ ngành kinh doanh ăn uống tăng doanh thu

    mà doanh thu của các doanh nghiệp khác cũng tăng lên đáng kể nhờ phát triển hoạt

    động kinh doanh du lịch ẩm thực.

    Mặt khác,du lịch ẩm thực dựa trên nguồn tài nguyên chính là ẩm thực,nguồn tài

    nguyên hấp dẫn có sẵn quanh năm.Phát triển loại hình du lịch ẩm thực nhờ vậy sẽ kéo

    dài thời gian lưu trú của khách ,góp phần khắc phục tính mùa vụ trong du lịch

    Du lịch ẩm thực giúp tăng sản lượng tiêu thụ và gia tăng giá trị cho các sản

    phẩm nông nghiệp,chăn nuôi,thủy hải sản,công nghiệp chế biến thực phẩm

    Ta thử làm phép tính đơn giản sau:Giá của một kg cà chua bán trên thị trường

    chưa được 1USD nhưng khi đem bán vào nhà hàng ,khách sạn làm món salat trộn sẽ

    tăng gấp chục lần.Báo chí cũng đã viết rằng:1kg cà phê hạt là 1USD nhưng chế biến

    1kg cà phê để bán cho người tiêu dùng cho vào cốc cà phê thì giá sẽ lên tới

    600USD.Như vậy ,có thể thấy dịch vụ phục vụ ăn uống sẽ làm tăng giá trị các sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam
  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Ẩm Thực Truyền Thống Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Cho Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang Bền Vững
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang
  • Luận Văn: Tổ Chức Du Lịch An Giang Theo Hướng Phát Triền Bên Vững
  • Làm Sao Để Cân Bằng Giữa Việc Học Và Đi Làm Thêm Cho Sinh Viên
  • Sinh Viên Làm Thêm “được” Và “mất” Những Gì?
  • (AGO) – Là vùng đất có nhiều tiềm năng, với phong cảnh thiên nhiên đặc sắc, chùa chiền, hang động mang đậm văn hóa tín ngưỡng tâm linh cùng nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng… An Giang được đánh giá là điểm đến lý tưởng của du khách. Tuy nhiên, du lịch (DL) An Giang vẫn chưa phát triển tương xứng với thế mạnh sẵn có.

    Nhiều lợi thế

    An Giang có 4 dân tộc (Kinh, Hoa, Chăm, Khmer) cùng sinh sống với nhiều tín ngưỡng tôn giáo, như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao đài, Tin Lành, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… Cùng với đó là hệ thống các cơ sở thờ tự, như: Đền, đình, chùa, thánh đường Hồi giáo… với 82 di tích được xếp hạng (2 di tích đặc biệt quốc gia, 28 di tích cấp quốc gia, 52 di tích cấp tỉnh). Chính sự hấp dẫn từ cảnh quan, di tích đã đánh thức sự tò mò của du khách khám phá vùng Thất Sơn ngày càng đông. Bình quân mỗi năm, trên 5 triệu lượt khách tham quan, DL ở các khu- điểm DL trên địa bàn tỉnh; lượng khách quốc tế do các doanh nghiệp lưu trú, lữ hành phục vụ trên 55.000 lượt.

    Du khách tham quan rừng tràm Trà Sư (Tịnh Biên)

    Phó Giám đốc Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch Phạm Thế Triều, cho rằng: Hoạt động DL ở An Giang đã có bước phát triển tích cực, bước đầu hình thành và phát triển các loại hình DL, như: DL tâm linh, DL sinh thái, DL cộng đồng và DL nông nghiệp gắn với các khu- điểm DL trọng điểm của tỉnh. Đặc biệt, lợi thế của tỉnh so với khu vực ĐBSCL đã thu hút du khách trong và ngoài nước đến với An Giang. Cùng với đó, nhận thức về phát triển DL của các cấp, ngành, địa phương từng bước được nâng lên, trong đó có sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế và cộng đồng địa phương đầu tư phát triển DL, với nhiều dịch vụ mới được đầu tư, nâng cấp. Toàn tỉnh hiện có 90 cơ sở lưu trú đạt chuẩn hạng sao, 15 doanh nghiệp lữ hành, vận chuyển khách DL.

    Cần nhiều giải pháp

    Dù có cố gắng nhưng DL An Giang thiếu đầu tư về cơ sở hạ tầng và chậm đổi mới trong việc tạo ra nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm đặc trưng. Cụ thể, Khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư đã trở thành thương hiệu DL có tiếng của tỉnh, song do thiếu đầu tư, quản lý nên hoạt động chủ yếu là tự phát, sản phẩm DL không có gì mới, chủ yếu là: Đi xuồng tham quan rừng tràm, lên đài ngắm toàn cảnh khu rừng, thưởng thức một số món ăn đồng quê… Bên cạnh, chưa kể tình trạng chèo kéo diễn ra nhiều nơi… nên chưa thật sự hấp dẫn du khách khi đến An Giang.

    Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến việc khai thác DL chưa tương xứng tiềm năng, như: Chỉ dừng lại ở phát triển DL sinh thái, DL văn hóa- lễ hội, thiếu sản phẩm đặc thù. Thạc sĩ Phan Bửu Toàn, Phó Hiệu trưởng Trường cao đẳng Nghề DL Sài Gòn, nêu lên định hướng: “Chúng ta cứ đổ lỗi cho hạ tầng giao thông kém làm ảnh hưởng đến phát triển DL. Theo tôi, đây không phải là mấu chốt, mà vấn đề là từ nhiều năm nay chúng ta không “làm mới” các dịch vụ DL sẵn có, cũng như cách thức phục vụ quá hạn chế, thiếu sản phẩm đặc thù. Chủ yếu là “Lên xuồng- xuống ghe- vô vườn- nghe đờn ca tài tử”… An Giang là nơi thu hút rất đông khách tham quan, họ đến chỉ để hành hương, vãn cảnh; còn khách DL thì rất khiêm tốn, do chưa có nhiều dịch vụ hấp dẫn. Du khách đến An Giang rồi về ngay trong ngày, họ không cần nghỉ lại đêm, coi như chúng ta không thu được đồng nào! Trước khi chờ hạ tầng hoàn chỉnh thì An Giang chỉ cần “dọn dẹp” lại cho tươm tất, sắp xếp hợp lý các khu, điểm DL thì chắc chắn sẽ giữ du khách”.

    Với mục tiêu sớm đưa DL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tăng tỷ lệ đóng góp trong cơ cấu GDP chung của tỉnh, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành dịch vụ, tạo công ăn việc làm cho xã hội; xây dựng thương hiệu và phấn đấu đưa An Giang trở thành trung tâm DL vùng ĐBSCL và cả nước, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1008 ngày1-7-2014 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành DL An Giang từ năm 2014 đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030. Quy hoạch dự báo tổng doanh thu từ DL năm 2022 khoảng 1.103 tỷ đồng, năm 2022 khoảng 2.032 tỷ đồng, năm 2030 khoảng 6.598 tỷ đồng. Đến năm 2022, tỷ trọng đóng góp của ngành DL trong cơ cấu GDP chung của tỉnh ước khoảng 4%, năm 2022 khoảng 7% và năm 2030 khoảng 13%.

    “Sản phẩm DL rất dễ bắt chước nhau. Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện từng nơi mà chúng ta xây dựng thành sản phẩm đặc thù. Ví như Đà Lạt là DL nghỉ dưỡng, núi Cấm là DL tâm linh… dù hai nơi đều nằm cao so đồng bằng. Quan trọng là chúng ta tổ chức thế nào, cách thức khai thác và dịch vụ đi kèm ra sao… để thu hút du khách”- Thạc sĩ Phan Bửu Toàn, Phó Hiệu trưởng Trường CĐ Nghề DL Sài Gòn chia sẻ.

    Bài, ảnh: HỮU HUYNH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Hóa Đơn Điện Tử
  • Giải Pháp Hoá Đơn Điện Tử Cho Doanh Nghiệp Thời Đại Số
  • Giải Pháp Tránh Sóc Bụng Khi Dùng Máy Chạy Bộ Điện Cho Bạn?
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Sóc
  • Trung Tâm Giải Pháp Công Nghệ Và Viễn Thông Viettel Tuyển Dụng
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Tổ Chức Du Lịch An Giang Theo Hướng Phát Triền Bên Vững
  • Làm Sao Để Cân Bằng Giữa Việc Học Và Đi Làm Thêm Cho Sinh Viên
  • Sinh Viên Làm Thêm “được” Và “mất” Những Gì?
  • Giải Pháp Kiến Trúc Xanh Trong Thiết Kế Nhà Phố Hiện Đại
  • Mặt Dựng Xanh Trong Kiến Trúc Hiện Đại
  • Tiềm năng

    Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình, An Giang (AG) là tỉnh có nhiều lợi thế phát triển DL với những nét đặc sắc về văn hóa của 4 dân tộc (Kinh, Khmer, Chăm, Hoa). Từ đó, tạo ra những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, AG có nhiều di tích lịch sử – văn hóa, có tín ngưỡng thờ mẫu nổi tiếng khắp cả nước, có vùng Thất Sơn hùng vĩ, huyền bí, có 2 di tích quốc gia đặc biệt là di tích Khu lưu niệm cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng và di tích khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật Óc Eo – Ba Thê.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình tặng hoa, Bằng khen của UBND tỉnh ghi nhận, biểu dương những kết quả nghiên cứu của chuyên gia Guillaume Van Grinsven

    Chính vì thế, AG đã xác định: DL là ngành kinh tế mũi nhọn phát triển theo hướng không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Đây là quan điểm phát triển kinh tế được nêu rõ tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X (nhiệm kỳ 2022-2020). Để đạt được mục tiêu đề ra, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành. Đồng thời, ngành DL đã tích cực tham mưu ban hành nhiều văn bản quan trọng đẩy mạnh phát triển DLAG. Từ sự nỗ lực của lãnh đạo các cấp ủy, chính quyền, sự năng động của doanh nghiệp DL, ngành DLAG đã đạt nhiều kết quả quan trọng, có tác động tích cực về kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong 9 tháng của năm 2022, AG đã đón 7 triệu lượt khách (tăng 11% so cùng kỳ năm 2022, đạt 102% so với kế hoạch), doanh thu du lịch đạt 3.250 tỷ đồng (tăng 96% so cùng kỳ năm 2022).

    Hạn chế

    Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành DLAG cũng gặp không ít khó khăn. Trong đó, công tác xây dựng thương hiệu DL còn yếu, sản phẩm DL chưa tương xứng với thế mạnh và tiềm năng của tỉnh; hoạt động tuyên truyền, quảng bá chưa phát huy mạnh mẽ. Vì vậy, UBND tỉnh đã mời chuyên gia thuộc Tổ chức Hỗ trợ quốc tế Hà Lan đến nghiên cứu và tư vấn xây dựng thương hiệu DLAG.

    Theo chuyên gia Guillaume Van Grinsven, khách đến AG rất nhiều nhưng hầu hết không phải là khách DL. Bởi khách DL đúng nghĩa chỉ khi họ ở lại lâu hơn, tiêu xài nhiều hơn, quay trở lại và họ kể cho bạn bè, người thân nghe về những trải nghiệm của họ khi DLAG, để AG có thêm khách DL mới. Ông Guillaume cho rằng, hiện các quy hoạch DL ở An Giang chưa tập trung vào chất lượng cốt lõi, vào giá trị tăng thêm và USP (lợi điểm bán hàng tốt nhất). Do đó, để thu hút ngày càng nhiều du khách đến AG thì tỉnh cần: Tập trung trọng điểm và hợp tác. Về quy hoạch chỉ nên tập trung 3-4 sản phẩm trọng điểm, đủ khả năng thu hút khách DL thật sự. Điều này không có nghĩa các hoạt động khác, hoặc địa điểm DL khác không quan trọng mà các điểm này không phải là lợi điểm để trở thành sản phẩm DL độc đáo, đại diện cho DLAG nhưng có thể góp phần tạo nên giá trị tăng thêm.

    Qua khảo sát thực tế, nghiên cứu, ông Guillaume nhận thấy AG hiện có 4 sản phẩm DL trọng điểm để phát triển, gồm: Núi Sam, Núi Cấm, Óc Eo, DL xanh và DL theo dòng. Chuyên gia Guillaume Van Grinsven ví 4 sản phẩm trọng điểm này như 4 hòn đá. Nếu ném đá vào mặt nước, nó sẽ tạo ra những tác động lớn nhất tại vị trí tiếp xúc và hệ quả là sự xuất hiện của các vùng gợn sóng. Do đó, để các vùng gợn sóng này lan tỏa cho tổng thể DLAG cần có dịch vụ tốt hơn, công tác đào tạo tốt hơn, khách sạn, cơ sở hạ tầng, quảng bá, giao thông tốt hơn, quy trình xin thị thực thuận lợi hơn và hợp tác tốt hơn giữa các đơn vị trong tỉnh.

    Vực dậy thế mạnh

    Tại hội thảo đã có hơn 30 ý kiến phát biểu hết sức tập trung. Đa số đồng tình rất cao với những gì chuyên gia Hà Lan đặt ra. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh: “Nhờ sự “đồng tâm, năng động”, hội thảo đã đi đúng hướng. Qua báo cáo của chuyên gia đã giúp cho tỉnh hình dung được diện mạo, định hình, định vị sự phát triển DL tỉnh nhà đi đúng hướng hơn. Ngành DLAG được ví như “nàng công chúa” ngủ trong rừng còn nguyên sơ, xấu xí (do các khu, điểm DL phát triển tự phát). Vì vậy để “nàng công chúa” trở nên xinh đẹp thì chúng ta cần tôn tạo, tô điểm”.

    Theo đó, năm 2022, Tỉnh ủy chọn là “Năm DL An Giang” để thể hiện sự quyết tâm của tỉnh đối với sự hoàn thiện để phát triển DLAG và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh: “Các ý kiến tại hội thảo rất quý báu để UBND tỉnh báo cáo, trình Tỉnh ủy về quy hoạch tổng thể 4 điểm trọng tâm và những khu, điểm DL khác hết sức hấp dẫn du khách (3 xã Cù Lao, Khu DL Mỹ Hòa Hưng, Khu DL cồn Phó Ba) để tạo vòng DL khép kín, tạo sản phẩm DLAG độc đáo. Có thể nói, hội thảo là nguồn tài liệu thiết thực giúp tỉnh và các doanh nghiệp có cái nhìn toàn cảnh về bức tranh DLAG để quy hoạch, có kế hoạch đào tạo, vực dậy thế mạnh, đưa DLAG phát triển bền vững, đúng hướng trong thời gian tới”.

    THU THẢO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang Bền Vững
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch An Giang
  • Giải Pháp Hóa Đơn Điện Tử
  • Giải Pháp Hoá Đơn Điện Tử Cho Doanh Nghiệp Thời Đại Số
  • Giải Pháp Tránh Sóc Bụng Khi Dùng Máy Chạy Bộ Điện Cho Bạn?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100