Một Số Vấn Đề Của Mĩ La Tinh ( Bài 6

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Một Số Vấn Đề Của Mĩ La Tinh
  • 10 Giải Pháp Khôi Phục Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh Sau Dịch Bệnh Covid
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế Trong Mùa Dịch Covid 19
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Khu Vực Kinh Tế Tập Thể, Hợp Tác Xã
  • Kinh Tế Mỹ Latin Năm 2022: Cần Điều Chỉnh Đột Phá
  • Tiết 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA MĨ LA TINH

    MỤC TIÊU BÀI HỌC:

    1. Kiến thức:

    – Nhận thức được Mĩ La Tinh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế.

    – Biết và giải thích được tình trạng nền kinh tế Mĩ La Tinh thiếu ổn định và những biện pháp để giải quyết những khó khăn.

    2. Kĩ năng:

    Rèn luyện kỹ năng phân tích lược đồ, bảng số liệu, bảng thông tin.

    3. Thái độ:

    NỘI DUNG BÀI HỌC

    1. Tự nhiên:

    – Cảnh quan chủ yếu: Rừng nhiệt đới ẩm và xa van cỏ.

    – Khoáng sản: đa dạng: Kim loại màu, kim loại quý và năng lượng.

    – Đất đai, khí hậu thuận lợi trồng cây nhiệt đới, chăn nuôi gia súc lớn.

    – Khó khăn: Tự nhiên giàu có, tuy nhiên đại bộ phận dân cư không được hưởng các nguồn lợi này.

    2. Dân cư và xã hội:

    – Cải cách ruộng đất không triệt để.

    – Chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội rất lớn.

    – Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ lớn 37%- 62%.

    – Đô thị hoá tự phát.

    II. Một số vấn đề về kinh tế

    1. Thực trạng:

    – Nền kinh phát triển thiếu ổn định: Tốc độ tăng trưởng GDP thấp, dao động mạnh.

    – Phần lớn các nước Mĩ La Tinh nợ nước ngoài lớn.

    – Phụ thuộc vào nước ngoài.

    2. Nguyên nhân:

    – Tình hình chính trị thiếu ổn định.

    – Nguồn đầu tư nước ngoài giảm mạnh.

    – Duy trì chế độ phong kiến lâu.

    – Các thế lực thiên chúa giáo cản trở.

    – Đường lối phát triển kinh tế- xã hội.

    3. Biện pháp:

    – Củng cố bộ máy nhà nước.

    – Phát triển giáo dục.

    – Quốc hữu hoá 1 số ngành kinh tế.

    – Tiến hành công nghiệp hoá.

    -Tăng cường và mở rộng buôn bán với thế giới.

    THAM KHẢO VỀ MỸ LA TINH

    Mỹ Latinh là một khu vực của châu Mỹ, nơi mà người dân chủ yếu nói các ngôn ngữ Roman (có nguồn gốc từ tiếng Latinh) – đặc biệt là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha, và một mức độ nào đó là tiếng Pháp. Mỹ Latinh là một khu vực có diện tích xấp xỉ 21.069.500 km², chiếm gần 3,9% diện tích bề mặt và 14,1% tổng diện tích đất liền của Trái đất. Tính đến năm 2010, tổng dân số Mỹ Latinh được ước tính là trên 590 triệu người.

    Đặc biệt tại Hoa Kỳ, thuật ngữ Mỹ la tinh được sử dụng với một phạm vi rộng rãi hơn để chỉ tất cả các quốc gia ở phía nam Hoa Kỳ. ( nguồn: wikipedia).

    – Một phần ở phía bắc của châu Mỹ ( nằm ở phía nam của nước Mỹ )

    – Vùng Caribe

    – Trung Mỹ

    – Toàn bộ Nam Mỹ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Địa Lí 11 Bài 5 Tiết 2: Một Số Vấn Đề Của Mĩ La Tinh
  • Công An Nghệ An:phòng Ngừa, Đấu Tranh Có Hiệu Quả Với Tội Phạm Giết Người Và Cố Ý Gây Thương Tích Do Nguyên Nhân Xã Hội
  • Bvpl: Kiến Nghị Biện Pháp Giảm Thiểu Tội Phạm Cố Ý Gây Thương Tích
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Cố Ý Gây Thương Tích
  • Nguyên Nhân Và Những Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Cố Ý Gây Thương Tích Trên Địa Bàn Thành Phố Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh
  • Bài 6. Một Số Vấn Đề Của Mĩ La Tinh

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Giải Pháp Khôi Phục Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh Sau Dịch Bệnh Covid
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế Trong Mùa Dịch Covid 19
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Khu Vực Kinh Tế Tập Thể, Hợp Tác Xã
  • Kinh Tế Mỹ Latin Năm 2022: Cần Điều Chỉnh Đột Phá
  • Một Số Giải Pháp Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế
  • Bài 5 :

    Tiết 2 :Một số vấn đề của mỹ la tinh

    Nội dung chính

    I)Một số vấn đề về tự nhiên , dân cư và xã hội :

    Một số vấn đề về kinh tế :

    I)một số vấn đề về tự nhiên , dân cư và xã hội :

    Mỹ Latinh là một phần của Châu Mỹ nơi mà các ngôn ngữ thuộc nhóm Rôman được sử dụng một cách rộng rãi. Đây cũng là nơi chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của nền văn hóa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

    Vị trí địa lí:

    Lãnh thổ kéo dài từ chí tuyến Bắc đến gần vòng cực Nam

    tiếp giáp với 2 đại dương lớn ở phía Đông & Tây

    Tự nhiên

    Cảnh quan thiên nhiên đa dạng, tài nguyên phong phú nhưng chưa mang lại lợi ích cho đại bộ phận dân cư Mĩ la tinh

    Và 1 trong những cảnh quan nổi bật ở khu vực này là rừng nhiệt đới amazon

    Rừng mưa Amazon :là một khu rừng lá rộng ẩm ở Lưu vực sông Amazon của Nam Mỹ. Khu vực này, được gọi là Amazonia hoặc Lưu vực Amazon bao gồm một diện tích 7 triệu km2 (1,2 tỷ acre), dù khu rừng này thì chiếm 5,5 triệu km2, nằm trong 9 quốc gia: Brazil (với 60% của rừng mưa), Colombia, Peru, Venezuela, Ecuador, Bolivia, Guyana, Suriname, và Guiana thuộc Pháp. Các bang hoặc tỉnh của 4 quốc được đặt tên (Amazonas) theo tên khu rừng này. Rừng Amazon chiếm hơn 50% rừng mưa nhiệt đới còn lại của trái đất.rung amazon la mot khu bao ton thien nhien tren the gioi do la khu du tru sinh quyen cho loai nguoi chinh vi vay su bao ton cac loai dong vat quy hiem va cac loai tai nguyen nhat la nguon tai nguyen nhat la nguon tai nguyen sinh vat tai khu vuv nay nham bao ve su ton tai va phat trien cua the gioi loai nguoi

    Sông Amazonlà sông dài thứ hai trên thế giới (đứng sau Sông Nin ở châu Phi) và là sông có lưu vực lớn nhất thế giới.

    lưu vựcBrasil (62.4%), Peru (16.3%)

    Bolivia (12.0%), Colombia (6.3%)

    Ecuador (2.1%)

    Độ dài :6.400 km (4.000 dặm)

    Cao độ thượng nguồn:5.597 m (18.364 ft)

    Lưu lượng trung bình: 219.000 m³/s (7.735,080 ft³/s)

    Diện tích lưu vực :6.915.000 km² (2.669.882 mi²)

    Thượng nguồn sông amazon

    Các đới cảnh quan và khoáng sản

    Mĩ la tinh có các cảnh quan chính:

    Rừng xích đạo ẩm chủ yếu ở ĐB Amazon, sơn nguyên Guy an, ĐB La pla ta

    Xa van & xa van rừng ở sơn nguyên Bra xin, Bắc Mê hi cô, một phần lãnh thổ Vê nê zu ê la

    Thảo nguyên & thảo nguyên rừng ở ĐB Pam pa, khu vực Mon tê vi đê ô

    Vùng núi cao thuộc dãy An det, các núi cao thuộc Mê hi cô

    Khoáng sản:

    Giàu nhiên liệu: dầu mỏ, khí tự nhiên, than đá

    Giàu kim loại đen(sắt), kl màu( đồng, vàng bạc, chì kẽm, bô xít…)

    Rừng xích đạo, rừng nhiệt đới ẩm vùng núi An dét hùng vĩ

    Tài nguyên biển cũng là 1 thế mạnh của Mĩ la tinh

    1/3 lượng đồng s/x trên thế giới xuất phát từ quặng mỏ ở chi lê

    Nhà máy lọc dầu tại venezueala

    Những cảnh đẹp nổi bật

    Thác sato angel (thác nước cao nhất thế giới )

    Thác icuagu (thác nước rộng nhất thế giới

    Agua azul (thác nước nằm trong nền văn minh maya huyền bí )

    hồ nước cao nhất thế giới titicaca

    Dân cư và xã hội :

    Dân cư và xã hội :

    Phần lớn dân cư nghèo đói: dưới mức nghèo khổ: 37% – 62% (chênh lệch thu nhập giàu nghèo rất lớn)

    75% dân thành thị (đô thị hóa nhanh-tự phát Hầu hết các nước Mĩ la tinh có sự chênh lệch giàu nghèo rất lớn & rất rõ ràng: 10% nhóm dân cư giàu nhất đã chiếm giữ 1/3 đến ½ GDP của quốc gia. Trong khi đó 10% dân cư nghèo nhất chỉ có chưa được 1-3% GDP quốc gia

    Số lượng 10% dân cư nghèo nhất chắc chắn đông gấp nhiều lần 10% dân cư giàu nhất

    Cũng có những nước (như Ha mai ca) sự chênh lệch giàu nghèo có giảm hơn đôi chút

    Tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập GDP trong các nhóm dân cư còn rất nặng nề

    Tình trạng đói nghèo diễn ra khá phổ biến chiếm từ 37-62%

    Tình trạng đô thị hóa quá mức làm cho tỉ lệ dân số thành thị đạt tới 75%, nhưng 1/3 dân cư sống trong đói nghèo là mầm mống của nhiều hiện tượng tệ nạn xã hội phát triển

    Tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập GDP trong các nhóm dân cư còn rất nặng nề

    Tình trạng đói nghèo diễn ra khá phổ biến chiếm từ 37-62%

    Hầu hết các nước Mĩ la tinh đều mắc nợ nước ngoài nhiều. Hoa kì là chủ nợ của Mĩ la tinh vì chiếm trên 50% vốn đầu tư vào khu vực này

    gần đây Mĩ la tinh mạnh dạn cải cách kinh tế, mở rộng giao lưu với nước ngoài, tăng cường liên kết kinh tế trong khu vực. Vì vậy nền kinh tế khu vực đã có những dấu hiệu khả quan

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ:

    Củng cố

    Những nguyên nhân làm cho nền kinh tế các nước Mĩ la tinh phát triển không ổn định?

    He he đúng ùi bạn tài quá

    Xin chữ kí koi

    sai gòi kq dành cho

    Bạn nè hì hì

    sai gòi kq dành cho

    Bạn nè hì hì

    nè hì hì sai gòi kq dành cho

    Bạn

    b)Rừng x.đạo & nh.đới ẩm

    a)Cảnh quan núi

    c) Xa van & xa van rừng

    d) Thảo nguyên & th. Nguyên rừng

    Loại cảnh quan có diện tích lớn nhất Mĩ la tinh & được coi là lá phổi của thế giới là:

    Khoáng sản có ý nghĩa kinh tế lớn nhất Mĩ la tinh là:

    Tên thành viên nhóm:

    Phương Khanh

    Văn Thêm

    Cám ơn cô và các bạn đã lắng nghe bài thuyết trình của nhóm em

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Của Mĩ La Tinh ( Bài 6
  • Giáo Án Địa Lí 11 Bài 5 Tiết 2: Một Số Vấn Đề Của Mĩ La Tinh
  • Công An Nghệ An:phòng Ngừa, Đấu Tranh Có Hiệu Quả Với Tội Phạm Giết Người Và Cố Ý Gây Thương Tích Do Nguyên Nhân Xã Hội
  • Bvpl: Kiến Nghị Biện Pháp Giảm Thiểu Tội Phạm Cố Ý Gây Thương Tích
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Cố Ý Gây Thương Tích
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Nghiên Cứu Thực Trạng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • 6 Giải Pháp Thực Hiện Đề Án Thống Kê Khu Vực Kinh Tế Chưa Quan Sát
  • Nền Kinh Tế Ngầm Ở Vn Và Cách Xử Lý
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Những Giải Pháp Cơ Bản Để Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • (QNO) – Đề án “Phát triển kinh tế – xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2022-2020, định hướng năm 2025” được trình bày tại Kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh (khóa IX) đã nhận được nhiều ý kiến góp ý của các ngành, địa phương với mong muốn chung tay xây dựng một nghị quyết chất lượng nhằm tạo động lực, cơ chế thúc đẩy miền núi phát triển trong những năm đến.

    Theo ông Nguyễn Phi Hùng – Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, sau khi tổ chức hội nghị phản biện đề án này, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã tổng hợp đầy đủ và phản ảnh kịp thời ý kiến góp ý đến cơ quan chủ trì soạn thảo theo quy định. Qua theo dõi, phần lớn nội dung góp ý đã được cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, chỉnh sửa trước khi chính thức trình HĐND tỉnh. Thay mặt Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh góp ý vào dự thảo đề án được trình tại kỳ họp lần này, ông Nguyễn Phi Hùng cho rằng: nhìn chung 9 nhóm giải pháp thực hiện của dự thảo đề án đề ra vẫn còn mang tính định hướng là chủ yếu.

    Giải pháp đầu tiên mà dự thảo đề án đề ra là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức để người dân khắc phục tư tưởng trông chờ ỷ lại, tự chủ trong tổ chức sản xuất và đời sống. Theo ông Nguyễn Phi Hùng, đây là vấn đề cốt lõi của công tác giảm nghèo. Phải xác định con người là chủ thể, phải tự thay đổi để thoát nghèo vươn lên làm giàu. Do đó giải pháp quan trọng là tập trung làm thay đổi căn bản tâm lý trông chờ, ỷ lại của cán bộ và nhân dân cơ sở vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng. Với giải pháp này cần chú trọng công tác giáo dục tư tưởng thoát nghèo, nâng cao nhận thức của cộng đồng, gia đình và mỗi người dân về tư duy, cách nghĩ phát triển kinh tế để tự vươn lên thoát nghèo. Nhà nước cần phải thay đổi phương thức đầu tư cho người nghèo để xóa bỏ tình trạng trông chờ, ỷ lại và tăng cường trách nhiệm của người dân đối với công tác giảm nghèo. Đặc biệt, cần lồng ghép các giải pháp của Đề án giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022-2021 vào nhóm giải pháp này với cơ chế: chỉ hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ nghèo có nhu cầu, có đất sản xuất và quyết tâm thoát nghèo nhằm làm thay đổi tư tưởng, tâm lý của người nghèo.

    Cũng theo ông Nguyễn Phi Hùng, hiện nay công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại các huyện miền núi đang hết sức khó khăn, tỷ lệ lao động trong độ tuổi chưa được đào tạo nghề khá lớn; số lao động sau đào tạo được giải quyết việc làm thường xuyên rất thấp. Hơn nữa, số học sinh cử tuyển, tốt nghiệp đại học, cao đẳng hiện chưa được bố trí việc làm tại địa phương còn khá nhiều đang là vấn đề nan giải của các địa phương. Do vậy, cần có giải pháp vận động lực lượng lao động trẻ đi học nghề và làm việc ở đồng bằng. Trước mắt, vận động điểm mỗi huyện một nhóm lao động đi học nghề và làm việc ở đồng bằng. Đồng thời cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp bố trí chuyền sản xuất riêng cho công nhân miền núi để làm quen dần với tác phong làm việc công nghiệp, sau đó nhân ra diện rộng. Đề án cần nghiên cứu giải pháp thực hiện chương trình khởi nghiệp nhằm huy động, tập hợp những người có năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để tạo ra chuỗi giá trị sản phẩm gắn với thị trường tiêu thụ; chú trọng việc hình thành, phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế khuyến khích đối với các hợp tác xã, tổ hợp tác để tập trung xây dựng hợp tác xã kiểu mới nhằm thu hút lao động, giải quyết việc, thực hiện việc liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm… tại địa phương.

    HÀN GIANG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mỹ Latinh, Tiềm Năng Và Thách Thức
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Luận Văn Thực Trạng Và Những Biện Pháp Chủ Yếu Nhằm Phát Triển Kinh Tế Làng Nghề Ở Hải Phòng
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Phát Triển Làng Nghề
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Làng Nghề Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đbqh Đơn Vị Tỉnh Lâm Đồng Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Quận 9: Triển Khai Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Ngăn Chặn Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Tìm Giải Pháp Ngăn Chặn Xâm Hại Trẻ Em
  • Được sự đầu tư của Nhà nước, Gia Lai là một trong những tỉnh ở Tây Nguyên triển khai thực hiện tương đối tốt các chương trình, mục tiêu dành riêng cho vùng DTTS, như: Chương trình 135, 132, 134, 167… hay Nghị quyết 30a của Chính phủ. Trong giai đoạn 2013-2016, Gia Lai đã thực hiện hơn 100 dự án định canh, định cư tập trung và xen ghép trong các vùng DTTS, qua đó giải quyết cho gần 3.000 hộ người dân tộc Gia Rai, Ba Na ổn định cuộc sống tại các buôn làng mới, chấm dứt hiện tượng du canh, du cư.

    Cùng với phát triển kinh tế, công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đời sống văn hóa, tinh thần cũng được quan tâm và có nhiều tiến bộ. Diện mạo nông thôn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS có nhiều thay đổi, phát triển. Đến nay, 100% thôn, làng (96% số hộ) sử dụng điện lưới quốc gia và được phủ sóng phát thanh, truyền hình, sóng điện thoại di động; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã và có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; 60% thôn, làng đạt tiêu chuẩn văn hóa; 88,9% người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Thu nhập bình quân đầu người ở Gia Lai đạt 35 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3-4%/năm (theo tiêu chí mới). Chất lượng giáo dục, đào tạo không ngừng được nâng lên với 100% xã được phổ cập giáo dục THCS; 136/222 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn và phát huy, các tập tục lạc hậu ở vùng đồng bào DTTS dần được loại bỏ khỏi đời sống cộng đồng, khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố bền chặt…

    Thành quả đó là sự vào cuộc ráo riết, kiên trì của các cấp, các ngành trong toàn tỉnh với nhiều mô hình dân vận khéo, mô hình gắn kết, hỗ trợ giữa cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị-xã hội các cấp với địa phương vùng DTTS, giữa người Kinh với người DTTS, giữa đảng viên với quần chúng… Qua đó, huy động được cả hệ thống chính trị và sức mạnh đoàn kết toàn dân để làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào DTTS. Điều đó cũng cho thấy, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Gia Lai đã và đang thực hiện đúng Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đồng bào DTTS… nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”.

    Những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc thời gian qua rất đáng khích lệ, nhưng Gia Lai vẫn là một tỉnh có tỷ lệ hộ đồng bào DTTS nghèo cao, chiếm 82,9% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh (hiện toàn tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn 19,71% theo tiêu chí mới). Trình độ sản xuất còn thấp, các tập tục lạc hậu như: Mê tín dị đoan, tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, ma lai, thuốc thư còn xảy ra ở một số nơi. Các lực lượng phản động thường xuyên lợi dụng kích động, lôi kéo đồng bào vượt biên, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc…

    Để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm sự phát triển bình đẳng giữa các dân tộc, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Gia Lai triển khai nhiều chủ trương, giải pháp cụ thể, phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng vùng, từng địa phương. Đặc biệt, chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh đã huy động vốn từ các chương trình, dự án, giúp nhiều hộ nghèo người DTTS vay vốn đầu tư phát triển kinh tế gia đình, đào tạo nghề, hỗ trợ mua nông cụ, máy móc, cây trồng, phân bón… cho đồng bào DTTS. Đồng thời, huy động các nguồn lực để thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào DTTS. Tạo sự đổi thay toàn diện, thực chất cho nông thôn ở vùng đồng bào DTTS.

    Mới đây, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 702/QĐ-UBND về “Phê duyệt đề án hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2022-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai” với mục tiêu giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc về đời sống, sản xuất; từng bước cải thiện và nâng cao đời sống cho hộ đồng bào DTTS nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn; góp phần giảm nghèo bền vững, giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa vùng DTTS với các vùng khác của tỉnh. Giảm tỷ lệ hộ nghèo DTTS so với tổng số hộ DTTS trong toàn tỉnh xuống dưới 12,5% vào cuối năm 2022. Giải quyết đất sản xuất, chuyển đổi nghề cho hơn 80% hộ đồng bào DTTS nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn thiếu đất sản xuất.

    Triển khai thực nghiêm túc kế hoạch đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực là con em đồng bào DTTS của tỉnh giai đoạn 2022-2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2022, có ít nhất 25% trẻ em người DTTS trong độ tuổi đi nhà trẻ và 75% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ học sinh người DTTS đi học đúng độ tuổi bậc tiểu học trên 94%, THCS hơn 93% và 50% người trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và tương đương; sinh viên cao đẳng, đại học người DTTS đạt 130 đến 150 người/ 1 vạn dân…

    Tích cực đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào DTTS theo Chỉ thị số 49-CT/TW của Ban Bí thư, nhằm tăng cường công tác tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc, tạo sự chuyển biến toàn diện, sâu sắc về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và công tác dân tộc. Phát huy vai trò của mặt trận, các tổ chức chính trị-xã hội để già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS.

    Thạc sĩ TRẦN ĐÌNH HIỆP, Phó trưởng ban Thường trực, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tuyên Truyền Phát Triển Kt
  • Hà Nội: Cần Giải Pháp Hữu Hiệu Để Phát Triển Kinh Tế
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Các Giải Pháp Để Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Đề Tài Các Giải Pháp Cơ Bản Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Xem Xét, Quyết Định Các Giải Pháp Về Phát Triển Kinh Tế
  • Những Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế
  • Những Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Những Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kt
  • Những Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Năm 2022
  • Giải Pháp Quản Lý Kho Hàng Swm
  • Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022.

    Nghị quyết nêu rõ: Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022 đã được Quốc hội thông qua là: Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thực hiện mạnh mẽ các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn đấu tăng trưởng cao hơn năm 2014.

    Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022 là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh

    Tiếp tục phát triển các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống nhân dân. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế.

    Các chỉ tiêu chủ yếu của năm 2022 như phấn đấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,2%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%; tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu khoảng 5%; tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 5%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 30-32% GDP; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,7-2%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động.

    Thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt

    Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nỗ lực phấn đấu để thực hiện cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực trong năm 2022; thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các đột phá chiến lược, các chương trình, đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, pháp luật phục vụ phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra; trong đó tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp.

    Cụ thể, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để chủ động kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ phát triển thị trường tài chính, chứng khoán để tăng khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển.

    Bên cạnh đó, điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ. Tăng dư nợ tín dụng phù hợp gắn với việc kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng; chủ động thực hiện các giải pháp quản lý hiệu quả thị trường ngoại tệ, thị trường vàng, tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế, tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước. Nghiên cứu thực hiện các giải pháp huy động nguồn lực vàng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội khi các điều kiện thị trường thuận lợi.

    Đồng thời, phối hợp với các bộ, cơ quan có các biện pháp phù hợp để đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, bảo đảm tuyệt đối an toàn hệ thống; xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của pháp luật.

    Chính sách tài khóa chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả

    Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương điều hành, quản lý chi ngân sách Nhà nước chặt chẽ theo đúng dự toán được giao. Không ban hành các chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách Nhà nước khi chưa có nguồn bảo đảm. Rà soát, sắp xếp các nhiệm vụ chi, hạn chế tối đa xử lý bổ sung ngoài dự toán.

    Bên cạnh đó, hướng dẫn các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công. Cắt giảm tối đa và công khai các khoản chi khánh tiết, hội nghị, hội thảo, lễ hội, động thổ, khởi công, khánh thành công trình và đi công tác nước ngoài từ ngân sách Nhà nước; định kỳ hằng quý, báo cáo Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Không mua xe công, trừ xe chuyên dụng theo quy định của pháp luật, xe ô tô phục vụ công tác chung của cơ quan, đơn vị mới thành lập mà không có xe để điều chuyển, xe ô tô bị hư hỏng do nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến không còn xe phục vụ công tác và xe cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã đến hạn thay thế theo quy định. Không ứng trước dự toán ngân sách Nhà nước năm sau; trường hợp đặc biệt (thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh, nhiệm vụ cấp thiết về quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ quan trọng, cấp bách…), trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tập trung vốn đầu tư cho các công trình quan trọng, cấp bách có khả năng hoàn thành trong năm 2022 để sớm đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả. Kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quy trình, thủ tục để đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn đầu tư phát triển. Bảo đảm vốn đối ứng cho các dự án ODA.

    Các bộ, cơ quan và địa phương cắt giảm tối đa các khoản kinh phí hội nghị, hội thảo, các hoạt động phô trương, lãng phí không cần thiết. Tổ chức hội nghị, hội thảo trực tuyến, trừ các cuộc họp đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tổ chức Đại hội Đảng các cấp, các ngày lễ lớn bảo đảm chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Không đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách, chế độ mới hoặc tăng định mức chi dẫn đến tăng chi ngân sách nhà nước; Chính phủ không xem xét, xử lý các đề xuất này.

    Tăng cường kiểm soát thị trường, giá cả

    Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tăng cường công tác quản lý điều hành, theo dõi sát diễn biến thị trường, có biện pháp điều tiết kịp thời, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, không để xảy ra thiếu hàng, tăng giá bất hợp lý, đặc biệt là các dịp lễ, Tết.

    Bên cạnh đó, chủ động áp dụng các biện pháp bình ổn thị trường, giá cả. Giám sát chặt chẽ hoạt động đăng ký, kê khai giá của doanh nghiệp, kiểm soát chặt chẽ phương án giá và mức giá đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, được mua sắm từ nguồn ngân sách Nhà nước.

    Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu

    Bộ Công Thương chủ trì thực hiện đồng bộ các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu. Mở rộng thị trường, khai thác tốt những thị trường hiện có và những thị trường tiềm năng để xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng và giá trị kim ngạch cao; tập trung quyết liệt tháo gỡ rào cản về thị trường; chủ động, tích cực tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các thỏa thuận thương mại khác theo hướng thúc đẩy mở cửa thị trường cho các loại nông, lâm, thủy sản của Việt Nam; bảo hộ hợp lý các ngành hàng còn khó khăn.

    Các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện các biện pháp khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao tỷ trọng sản xuất hàng xuất khẩu từ nguyên liệu trong nước, giảm dần tỷ trọng hàng gia công lắp ráp, giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô. Xây dựng và bảo vệ thương hiệu mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành, lĩnh vực và địa phương. Tăng cường quản lý chất lượng hàng xuất khẩu, nhất là trong các khâu nuôi trồng, sản xuất, thu hoạch, chế biến các mặt hàng nông, lâm, thủy sản xuất khẩu chủ lực để bảo vệ và phát triển thị trường xuất khẩu.

    Phấn đấu đến cuối năm 2022 đưa tỷ lệ nợ xấu dưới 3%

    Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, áp dụng đổi mới công nghệ, đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt.

    Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, phấn đấu đến cuối năm 2022 đưa tỷ lệ nợ xấu dưới 3% gắn với cơ cấu lại các tổ chức tín dụng theo hướng: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường mua, bán, xử lý nợ, tài sản bảo đảm, trách nhiệm của người đi vay và quyền hạn của chủ nợ; khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia mua, bán nợ xấu; tăng cường tiềm lực tài chính, nâng cao năng lực, phát huy vai trò của Công ty TNHH một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), trong đó thực hiện việc mua bán nợ theo cơ chế thị trường; tăng cường thanh tra, giám sát về nợ xấu, chất lượng tín dụng và việc thực hiện quy định pháp luật về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro.

    Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

    Các bộ, cơ quan và địa phương tiếp tục thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế và các Đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực theo hướng phát triển bền vững; khẩn trương hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực và từng địa phương chậm nhất là cuối quý II năm 2022.

    Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Tập trung vào cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Phấn đấu hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2014-2015 đúng thời hạn đặt ra. Tiếp tục rà soát, phân loại, bổ sung phương án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước cho giai đoạn sau năm 2022.

    Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng theo hướng: Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, quản trị rủi ro, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ đi đôi với tiếp tục hiện đại hóa công nghệ ngân hàng; ban hành các chuẩn mực về hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời triển khai các bước tiến tới áp dụng Basel II.

    Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, chế biến và dịch vụ nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới hướng tới các mục tiêu đã đề ra; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

    Phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ, giá trị gia tăng và tỷ trọng giá trị nội địa cao. Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến chế tạo, điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, sản xuất vật tư và máy móc phục vụ nông nghiệp, vật liệu mới, khai thác chế biến dầu khí, năng lượng tái tạo, môi trường…

    Tái cơ cấu thị trường chứng khoán theo định hướng đã đề ra, phát triển bền vững thị trường chứng khoán nhằm thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trong và ngoài nước, hỗ trợ công tác cổ phần hóa và xử lý nợ xấu.

    Đổi mới cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập

    Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tăng cường phân cấp và tăng tính tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính trên cơ sở có tính đến đặc điểm từng loại hình dịch vụ, khả năng và nhu cầu thị trường, trình độ quản lý. Thực hiện theo lộ trình việc xóa bao cấp qua tính đúng, tính đủ chi phí giá, phí dịch vụ sự nghiệp công.

    Đẩy mạnh xã hội hóa cung cấp dịch vụ công; công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá đối với các dịch vụ công thiết yếu, bao gồm dịch vụ y tế, giáo dục mà Nhà nước đang kiểm soát giá; kiên định thực hiện giá thị trường theo lộ trình phù hợp. Chuyển đổi cơ chế cấp phát kinh phí sang hình thức đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ. Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách xã hội, các đối tượng nghèo. Bảo đảm công bằng giữa đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập.

    Cải thiện rõ nét việc giảm quá tải bệnh viện

    Chính phủ cũng nhấn mạnh đến các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Trong đó, Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan và địa phương nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường y tế dự phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra; chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với tình hình dịch bệnh; duy trì tỷ lệ tiêm chủng, xây dựng và triển khai các hoạt động phòng chống và quản lý các bệnh không lây nhiễm.

    Theo baodautu

    Bên cạnh đó, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, các dự án bệnh viện vệ tinh, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới phục vụ công tác khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, cải thiện rõ nét việc giảm quá tải bệnh viện.

    Triển khai hiệu quả Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi), chiến lược phát triển ngành dược, phát triển hệ thống bệnh viện y học cổ truyền. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2022.

    Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc nhập khẩu, sử dụng thiết bị y tế; có giải pháp chấm dứt việc sử dụng thiết bị y tế không bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn trong các cơ sở y tế; xử lý nghiêm tình trạng gian lận trong nhập khẩu trang thiết bị y tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xã Vạn Thắng Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Nâng Cao Thu Nhập Cho Người Dân
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Thực Hiện Kế Hoạch Phát Triển Ktxh Năm 2022
  • Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Bình Chánh: Triển Khai 22 Chỉ Tiêu, 12 Nhóm Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Hộ, Kinh Tế Trang Trại

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng: 7 Giải Pháp Đảm Bảo Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô
  • 7 Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Trong Năm 2022
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Giữ Vững Ổn Định An Ninh Trật Tự Ở Cơ Sở
  • Khung Hoang Tai Chinh 2008
  • Việt Nam Trước Khủng Hoảng Và Suy Thoái Kinh Tế Toàn Cầu
  • Chỉ vì địa phương chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất nên nhiều trường hợp người dân nuôi bò sữa phải đổ bỏ hàng trăm tấn sữa tươi do không tiêu thụ được

    Hiện nay, nước ta có trên 10 triệu nông hộ, trong đó các hộ trang trại chiếm tỷ trọng còn rất ít, mới khoảng 15 ngàn hộ đang trong giai đoạn phát triển ban đầu. Do vậy việc phát triển kinh tế hộ, từng bước chuyển kinh tế hộ lên kinh tế trang trại là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài được khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước.

    Tuy kinh tế trang trại đã có bước phát triển nhanh, nhưng vẫn còn những tồn tại cần sớm được khắc phục, đó là: Kinh tế trang trại chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình nông dân và gia đình cán bộ, công nhân viên đã nghỉ hưu. Sự tham gia của các thành phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa nhiều. Hầu hết các trang trại có quy mô diện tích dưới mức hạn điền, có nguồn gốc đa dạng, đã gây không ít những bất cập trong việc quản lý, sử dụng diện tích đất để phát triển kinh tế trang trại.

    Mặt khác, các trang trại chủ yếu sử dụng lao động của gia đình; một số trang trại có thuê lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công lao động chỉ được thực hiện theo hình thức thoả thuận, chưa thực sự tạo sự ổn định về giải quyết việc làm. Hầu hết vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng. Vốn vay của các tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ.

    Nhiều địa phương có kinh tế trang trại chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất, hệ thống thuỷ lợi, điện, thị trường… làm cho không ít trang trại gặp khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đã có nhiều trường hợp người dân nuôi bò sữa phải đổ bỏ hàng trăm tấn sữa tươi do không tiêu thụ được. Nhiều chủ trang trại vẫn áp dụng phương pháp sản xuất truyền thống, chưa chú ý tới việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất cũng như tìm hiểu thị trường đầu ra cho sản phẩm, dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm làm ra chưa cao, sản phẩm làm ra có lúc khó tiêu thụ…

    Trước mắt, Nhà nước cần phổ biến thông tin thị trường cụ thể và thường xuyên hàng năm nhất là trước khi bắt đầu các mùa vụ gieo trồng và thu hoạch; tiếp tục hoàn thiện và cải tiến các chính sách về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài; chuyển giao công nghệ thiết thực, trung thực, có chất lượng và bảo đảm; đầu tư và cho vay vốn gắn với các dự án kinh doanh của các nông hộ, các trang trại hoặc dự án phát triển nông nghiệp hàng hoá của cộng đồng thôn xã và được ngân hàng kiểm chứng.

    Còn nông hộ nông trại với tư cách đơn vị kinh tế cơ sở tự chủ, cần chủ động lựa chọn lấy ngành sản xuất hàng hoá thiết thực có thị trường tiêu thụ trong tầm tay và đưa lại lợi nhuận cao hơn, trên cơ sở đó mạnh dạn tổ chức lại đồng ruộng của mình. Thâm canh theo đúng quy trình kỹ thuật thông qua việc chủ động thực hiện các hợp đồng về đầu vào với các doanh nghiệp dịch vụ vật tư kỹ thuật và công nghệ.

    Phát triển mạnh thị trường nông thôn, đưa kinh tế nông hộ và kinh tế trang trại dần dần trở thành tế bào của kinh tế thị trường. Do đó phải công khai và pháp lý hoá thị trường các yếu tố sản xuất hoạt động đúng với quy luật khách quan và được Nhà nước kiểm soát, vừa cho phép hạch toán đầy đủ và tương đối chính xác giá thành sản phẩm trong cạnh tranh và tránh không bị thiệt thòi trong hội nhập.

    Mạng lưới thị trường nông thôn cần được mở rộng, chú ý xây dựng các trung tâm thương mại ở các thị tứ, thị trấn tổ chức và hướng dẫn các quan hệ giao dịch giữa trang trại với các doanh nghiệp dịch vụ đầu vào và đầu ra.

    Cần kết hợp với các chương trình trồng 5 triệu ha rừng trên đất trống đồi núi trọc, chương trình nuôi trồng thủy sản trên diện tích mặt nước ở các vùng ven biển và vùng đồng bằng để xây dựng các vùng kinh tế trang trại sản xuất hàng hoá cao.

    Đối với các vùng đã có dân cư được Nhà nước xác định hướng kinh doanh quy hoạch tổng thể, giúp đỡ xây dựng kết cấu hạ tầng và hướng dẫn cộng đồng đi vào sản xuất theo mô hình trang trại.

    Ở những vùng kinh tế mới, Nhà nước nên tiến hành quy hoạch cụ thể, xây dựng trước một bước kết cấu hạ tầng rồi mới chuyển dần đến. Dân tiến hành sản xuất trên đất được giao theo hướng kinh doanh và quy trình kỹ thuật đã được quy hoạch và liên kết với các công ty Nhà nước hoặc công ty tư nhân để được dịch vụ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm.

    Trên cả hai vùng nói trên, vai trò của các công ty cực kỳ quan trọng. Ngoài những công ty Nhà nước cần có, nên có chính sách đầu tư thông thoáng hơn các khu công nghiệp để khuyến khích các công ty tư nhân bỏ vốn vào các vùng phát triển các cụm chế xuất nông lâm sản hoặc các cụm dịch vụ chế biến – bao tiêu.

    Cuối cùng cần hoàn thiện hệ thống chính sách đối với phát triển kinh tế trang trại như các chính sách: Đất đai, đầu tư và tín dụng, công nghệ và chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, việc làm và thị trường nông sản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Ở Huyện Đại Từ
  • Luận Văn Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trên Địa Bàn Huyện Kim Thành, Tỉnh Hải Dương
  • Giải Pháp Phát Triển Của Kinh Tế Tư Nhân Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giải Pháp Phát Triển Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Hiệu Quả, Bền Vững
  • Hợp Tác Phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn
  • Đề Ra Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Chánh: Triển Khai 22 Chỉ Tiêu, 12 Nhóm Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Thực Hiện Kế Hoạch Phát Triển Ktxh Năm 2022
  • Xã Vạn Thắng Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Nâng Cao Thu Nhập Cho Người Dân
  • Sản xuất các sản phẩm cơ khí tại Công ty CP Kết cấu thép và Xây dựng Tân Khánh, xã Đắc Sơn, T.X Phổ Yên.

    HĐND T.X Phổ Yên khóa I, nhiệm kỳ 2022-2021, vừa tổ chức kỳ họp thứ 7 nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2022; đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2022.

    Theo báo cáo tại Kỳ họp, năm 2022, kinh tế – xã hội địa phương tiếp tục phát triển, các chỉ tiêu đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, như: Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt trên 602,5 nghìn tỷ đồng (tăng 12,5% so với cùng kỳ); tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 60.844 tấn (bằng 109% kế hoạch); thu ngân sách ước đạt trên 545,6 tỷ đồng, bằng 116,9% kế hoạch; tạo việc làm mới cho 5.300 lao động (bằng 135,9% kế hoạch); thu nhập bình quân đầu người ước đạt 53 triệu đồng/người/năm, vượt kế hoạch 6,5 triệu đồng… Cùng với đó, tình hình an ninh chính trị được củng cố, giữ vững; lĩnh vực văn hóa xã hội được quan tâm thực hiện tốt; các chính sách xã hội được thực hiện đầy đủ kịp thời, đúng đối tượng….

    Trên cơ sở những kết quả đạt được, Thị xã đã đề ra một số giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2022. Trong đó, tập trung thực hiện tốt Chương trình Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp làng nghề T.X Phổ Yên giai đoạn 2022-2020; tiếp tục thực hiện công tác giải phóng mặt bằng các dự án, công trình trọng điểm; triển khai thực hiện vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Tiên Phong và Tân Phú…; phấn đấu, giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn đạt 675 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách đạt 512 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 56 triệu đồng/người/năm…

    Tại Kỳ họp, 39 đại biểu đã thực hiện quy trình lấy phiếu tín nhiệm đối với 23 người giữ chức vụ do HĐND Thị xã bầu. Kết quả, tất cả các đại biểu đều có số phiếu tín nhiệm cao chiếm từ 41% trở lên. Trong đó, ông Bùi Văn Lương, Chủ tịch UBND Thị xã có 38 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 97,4%; ông Nguyễn Văn Tùy, Chủ tịch HĐND Thị xã có 38 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 97,4%; bà Vũ Thị Thơm, Phó Chủ tịch HĐND Thị xã có 37 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 94,9%…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Lối Phát Triển Kinh Tế
  • Triển Khai Các Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế
  • 5 Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Vùng Đông Nam Bộ
  • 5 Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế Vùng Đông Nam Bộ
  • Tăng Trưởng Gdp Việt Nam Năm 2022 Giảm Ít Nhất 0,55%
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Huyện Vũ Quang
  • Huyện Như Xuân Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Chủ Động Xây Dựng Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế Của Từng Địa Phương
  • Giải Pháp Nào Để Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em?
  • 8 Biện Pháp Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em Cực Quan Trọng
  • Năm 2022 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm cuối của nhiệm kỳ, của kế hoạch 5 năm 2022 – 2022, chuẩn bị, tạo đà cho kế hoạch 5 năm 2022 – 2025, Chiến lược 10 năm 2022 – 2030, là năm tổ chức nhiều sự kiện, kỷ niệm những ngày lễ lớn, 90 năm thành lập Đảng, 75 năm thành lập Nước, 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 90 năm ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và Quốc hội khóa XV.

    6 trọng tâm chỉ đạo điều hành

    Kế thừa những kết quả quan trọng và toàn diện đã đạt được, phát huy mạnh mẽ tinh thần đổi mới, thành tựu tích cực trong công tác chỉ đạo, điều hành từ đầu nhiệm kỳ, với quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, góp phần hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2022 – 2022 và Chiến lược 10 năm 2011 – 2022, Chính phủ xác định phương châm hành động của năm 2022 là “Kỷ cương, liêm chính, hành động, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả” với 6 trọng tâm chỉ đạo, điều hành như sau:

    Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khơi thông nguồn lực, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi; nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật.

    Hai là, tập trung ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng thực chất, hiệu quả hơn; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, công trình trọng điểm; phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn.

    Ba là, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, thực chất hơn gắn với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Bốn là, thực hiện nghiêm việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế; cải cách hành chính. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

    Năm là, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; nâng cao uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên; thực hiện tốt vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022, Chủ tịch AIPA 41, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2022 – 2022.

    Sáu là, chủ động thực hiện tốt công tác thông tin, truyền thông, tạo đồng thuận xã hội, lan tỏa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp; phát huy tinh thần thi đua yêu nước, đổi mới sáng tạo ở tất cả các ngành, các cấp; tổ chức tốt các sự kiện, lễ kỷ niệm lớn của đất nước.

    10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

    Nghị quyết đưa ra 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2022 gồm:

    1- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, hiện đại, hội nhập, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo và phát triển; tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh;

    2- Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững;

    3- Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh một cách thực chất, hiệu quả hơn;

    4- Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đẩy mạnh xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn;

    5- Tập trung nâng cao chất lượng nguồn lực gắn với đổi mới sáng tạo và phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu thị trường với số lượng lớn, cơ cấu ngành, nghề hợp lý, có cơ chế phù hợp thu hút, trọng dụng nhân tài;

    6- Chú trọng phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;

    7- Tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai;

    8- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;

    9- Củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế;

    10- Đẩy mạnh công tác thông tin, báo chí, truyền thông, tranh thủ sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Nhiệm Vụ Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Hộ Tại Phường Túc Duyên
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế
  • Nguyên Nhân Và Những Giải Pháp Ngăn Chặn Tình Trạng Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Ở Việt Nam
  • Báo Động Đỏ Thực Trạng Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Mùa Dịch Covid
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Sáng Chế Là Gì? Giải Pháp Kỹ Thuật Là Gì ?
  • Giải Pháp Kỹ Thuật Trong Sáng Chế Việt Nam
  • Link Là Gì? Khái Niệm Và Cách Sử Dụng Các Loại Link Trong Website
  • Để có thêm kiến thức, anh đăng ký tham gia lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây ăn quả do huyện tổ chức tại xã. Anh Thào cho biết: “Quá trình học đã cung cấp cho tôi rất nhiều kiến thức bổ ích để áp dụng vào chăm sóc vườn cây của gia đình. Vụ quýt vừa qua gia đình tôi thu về trên 20 tấn quả, thu nhập gần 300 triệu đồng. Thông qua lớp học, có thêm những hội viên mới để cùng nhau hợp tác xây dựng thương hiệu quýt ngọt Mường Khương”.

    Ông Nguyễn Chí Sử, Bí thư Huyện ủy Mường Khương cho biết: Nhiều học viên sau học nghề đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đầu tư và áp dụng kiến thức vào thực tế sản xuất để tạo thu nhập ổn định hơn. Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương trong tuyên truyền, vận động nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất cùng với việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư đào tạo… sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Quan tâm đào tạo nghề cho lao động nông thôn bằng các ngành nghề đào tạo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội là một trong những bước đi quan trọng trong công tác giảm nghèo bền vững ở Mường Khương.

    Qua các lớp học nghề, người dân đã dần thay đổi phương thức sản xuất cũ, chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẻ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo hướng dịch vụ có giá trị kinh tế cao, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực theo hướng tích cực, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay của huyện lên 34,4%. Giai đoạn 2022 – 2022 huyện Mường Khương phấn đấu mỗi năm sẽ đào tạo, dạy nghề cho 400 lao động nông thôn; trong đó chú trọng nhu cầu học nghề của người lao động, gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

    Theo ông Vương Đức Quân, Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Mường Khương, năm 2022, huyện đã tổ chức được hơn 10 lớp đào tạo nghề nông nghiệp, với gần 1.000 người tham gia; 50 lớp phi nông nghiệp cho 2.572 lao động nông thôn. “Từ cuối năm 2013, huyện đã đẩy mạnh tuyên truyền, chủ động khảo sát nhu cầu đào tạo nghề của lao động nông thôn, để xây dựng kế hoạch đào tạo gắn với tình hình thực tế, đặc biệt là gắn với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo Nghị quyết của huyện ủy đề ra, nên các lớp học tổ chức ra đã thu hút học viên nhiệt tình tham gia”, ông Quân cho biết.

    Từ hiệu quả bước đầu, đến nay gia đình ông Phà lại tiếp tục trồng thêm 7.000 gốc sa nhân nữa. Đến nay, nhiều hộ gia đình trong xã Tung Chung Phố đã mạnh dạn nhân giống và trồng dưới tán rừng, với diện tích trên 10 ha, tất cả đều phát triển tốt.

    Từ khi có kiến thức về trồng và chăm sóc cây sa nhân, sau hơn 3 năm trồng, trên 5.000 gốc sa nhân dưới tán rừng, gia đình ông đã cho thu hoạch ổn định, thu nhập trên 200 triệu đồng/năm. Nhờ cây sa nhân mà từ một hộ nghèo trong thôn, ông Phà đã thoát nghèo và xây được ngôi nhà kiên cố, khang trang, mua sắm được nhiều vật dụng sinh hoạt cho gia đình. Ông Phà cho biết, so với các loại cây trồng khác, trồng cây sa nhân không phải làm cỏ mà chỉ phải bón phân một lần duy nhất vào lúc mới trồng, nên ít tốn chi phí đầu tư, hiệu quả kinh tế cao.

    Cũng như anh Thào, ông Phào Seo Phà, ở thôn Cán Hồ, xã Tung Chung Phố cũng là một trong những hộ tiên phong trồng cây sa nhân. Lúc đầu ông cũng chỉ đi “học mót” để trồng theo kiểu “được ăn, thua chịu” và ông cũng đã bị thất bại khá nhiều tưởng chừng như phải đoạn tuyệt với cây sa nhân. Nhờ nắm bắt nhu cầu của người dân, cũng như lợi thế của địa phương với cây trồng này, huyện đã chỉ đạo các phòng chức năng phối hợp với trung tâm dạy nghề huyện mời những người có kinh nghiệm trồng sa nhân về truyền dạy kinh nghiệm, kỹ thuật trồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng
  • Sự Khác Nhau Giữa Biện Pháp Thuế Chống Bán Phá Giá Và Biện Pháp Thuế Đối Kháng Theo Quy Định Của Wto
  • Giới Thiệu Hiệp Định Về Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng (Scm)
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Giải Pháp Xây Dựng Chính Sách Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế
  • Tp.hcm Cần Tận Dụng Lịch Sử, Văn Hóa Để ‘móc Hầu Bao’ Khách Du Lịch
  • Các DTTS ở nước ta cư trú chủ yếu ở miền núi, suốt dọc biên giới phía Bắc và phía Tây của Tổ quốc. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam với nhiều thành phần khác nhau, mỗi thành phần dân tộc không phải là một cộng đồng riêng rẽ, biệt lập về chính trị-xã hội, mà là bộ phận cấu thành dân tộc Việt Nam thống nhất. Các thành phần dân tộc cư trú đan xen lẫn nhau và phân tán trên mọi vùng miền của đất nước, không có lãnh địa riêng biệt của từng dân tộc. Dân số các DTTS ở nước ta chỉ chiếm trên 14% dân số nhưng cư trú ở những vùng đất rộng lớn, chiếm 3/4 diện tích cả nước, là nơi có nguồn tài nguyên phong phú, địa bàn chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Trong mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên suốt trong mọi thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước. Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau, nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử. Đoàn kết gắn bó là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc, cũng như của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển.

    Các DTTS ở Việt Nam có vai trò rất to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Lịch sử dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm qua đã khẳng định, các DTTS là một lực lượng cơ bản, không thể thay thế trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các DTTS ở nước ta ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Trong lịch sử, các DTTS luôn là lực lượng che chắn, là “phên giậu”, thường xuyên phải chống lại những âm mưu, thủ đoạn xâm phạm bờ cõi của kẻ thù. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của các triều đại phong kiến, đều có sự đóng góp sức người, sức của rất to lớn của đồng bào các DTTS. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chiến khu Việt Bắc, vùng rừng núi miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ… không những là căn cứ vững chắc của cách mạng, mà còn là nơi chứng kiến những thất bại cuối cùng của kẻ thù. Ngày nay, sự vững mạnh về an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các DTTS, có ý nghĩa quan trọng đến thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, chúng ta đã ban hành và thực hiện rất nhiều chính sách nhằm phát triển mọi mặt đời sống, xã hội đồng bào DTTS. Đến nay, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ở nước ta ngày càng được cải thiện. Các quyền cơ bản của đồng bào DTTS về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế… được đảm bảo.

    Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và khách quan, đời sống của đồng bào DTTS ở nước ta nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể so với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và miền ngược. Việc thể chế quyền của DTTS bằng pháp luật cũng như cơ chế thực hiện quyền của DTTS còn không ít bất cập. Hiện nay, vùng DTTS vẫn là những vùng nghèo, lạc hậu nhất nước, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp.

    Nhằm mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS, đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế của Đảng, Nhà nước, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, chúng ta cần quán triệt thực hiện các giải pháp về cơ chế thực hiện chính sách, pháp luật về DTTS như sau:

    Xác định công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo các quyền các DTTS là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cơ quan, ban, ngành từ Trung ương tới địa phương. Trong đó, vai trò nòng cốt thuộc trách nhiệm của cơ quan làm công tác dân tộc của Quốc hội và Chính phủ, được tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống cơ sở. Giữa các cơ quan cần có cơ chế phối hợp trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc đảm bảo các quyền của DTTS.

    Trước hết, cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động đồng bào tích cực thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc. Tuyên truyền, giáo dục, vận động và tổ chức đồng bào tích cực, chủ động tham gia thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ra sức xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo, nhanh chóng hội nhập với sự phát triển chung của đất nước.

    Cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội từ Trung ương xuống địa phương cần quán triệt, tuyên truyền để mỗi cán bộ và nhân dân hiểu rõ vai trò, vị trí, tiềm năng to lớn của địa bàn DTTS và chính sách dân tộc nhất quán của Đảng, Nhà nước, cũng như tầm quan trọng của việc thực hiện công tác dân tộc đối với sự phát triển của đồng bào DTTS trên cả nước.

    Bên cạnh đó, tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Củng cố xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc đảm bảo đủ số lượng và chất lượng, để làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyến địa phương trong việc quản lý, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Tiếp tục đổi mới công tác dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ của ngành công tác dân tộc, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở. Quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi.

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của vùng DTTS và miền núi, vì vậy, cần quan tâm đến chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng chăm sóc sức khỏe đồng bào. Thành lập Học viện Dân tộc gắn với đào tạo nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi. Ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo được ban hành. Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn (vùng “lõi nghèo”), tránh đầu tư dàn trải, lãng phí. Thực hiện nghiêm chỉnh việc phân cấp cho cơ sở, công khai các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư,… để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện.

    Một giải pháp đặc biệt quan trọng là, điều chỉnh lại cơ chế quản lý thực hiện chính sách dân tộc theo hướng xây dựng chương trình, chính sách tổng hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Thống nhất đầu mối cơ quan chủ trì, tổ chức thực hiện chính sách đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân tộc. Tập trung xây dựng, củng cố toàn diện, đồng bộ và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc và miền núi. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS tại chỗ.

    Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những điểm “nóng” về an ninh trật tự ở vùng dân tộc và miền núi. Tích cực chăm lo xây dựng và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và bản sắc dân tộc. Từng bước xây dựng, tiến tới hoàn thiện thiết chế văn hóa cơ sở vùng DTTS và miền núi. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS và miền núi được hưởng thụ những thành tựu của sự phát triển do công cuộc đổi mới đem lại.

    Mặt khác, thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, việc quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật ở các cấp, đặc biệt là ở cơ sở. Có cơ chế khuyến khích người dân, các tổ chức đoàn thể nhân dân tham gia công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào DTTS…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cao Bằng: Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Sau Dịch Covid
  • Combo Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Covid
  • Hà Nội Bàn Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Dịch Covid
  • Tp Hcm Tìm Giải Pháp Khôi Phục Và Phát Triển Kinh Tế Sau Covid
  • Việt Nam Nêu 3 Nhóm Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Đại Dịch Covid
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100