Top 10 # Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Toàn Diện Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Cần Giải Pháp Đồng Bộ Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Toàn Diện, Bền Vững

Tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Trà Ôn lần thứ XII (nhiệm kỳ 2020- 2025), các đại biểu đã có nhiều ý đóng góp cho dự thảo văn kiện, cũng như đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp để góp phần thực hiện Nghị quyết đại hội đã đề ra. Đồng chí Nguyễn Văn Tám- Trưởng Phòng Nông nghiệp- PTNT huyện

Đồng chí Nguyễn Văn Tám.

Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh, đúng định hướng.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, có chất lượng cao. Ngoài việc vận dụng các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp, Huyện ủy- UBND huyện đã tập trung chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp như tăng cường cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; quy hoạch sản xuất gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ đảm bảo số lượng và chất lượng dần sang phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện và bền vững.

Tuy nhiên, để phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, phòng chống hạn mặn, xâm nhập mặn giai đoạn 2020- 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể.

Đó là tiếp tục tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung phát huy lợi thế từng vùng, bố trí lịch thời vụ sản xuất phù hợp với tình hình thực tế, cơ cấu lại cây trồng thích ứng tình hình hạn, xâm nhập mặn. Bên cạnh, đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ mới, chuyển giao các ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất; thực hiện đa dạng các hình thức đầu tư và cung ứng giống chất lượng.

Củng cố, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp như trang trại, tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã, phát triển kinh tế trang trại các ngành trồng rau màu, cây ăn trái đặc sản; phấn đấu đến năm 2025 mỗi xã- thị trấn xây dựng mô hình có một sản phẩm chủ lực gắn với nhãn hiệu hàng hóa theo chương trình OCOP mỗi xã một sản phẩm.

Đồng thời, có chính sách hỗ trợ trang thiết bị máy móc, khuyến cáo ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; phát triển mô hình sản xuất có liên kết khai thác chuỗi giá trị hàng hóa nông sản và đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn phục vụ kinh tế nông nghiệp và đời sống nhân dân theo các tiêu chí nông thôn mới…

Đồng chí Nguyễn Văn Hai- Bí thư Đảng ủy xã Hựu Thành

Đồng chí Nguyễn Văn Hai.

Qua nghiên cứu dự thảo Báo cáo chính trị, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp của BCH Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020- 2025, tôi cơ bản thống nhất cao dự thảo báo cáo.

Tuy nhiên, tôi cũng đóng góp một số giải pháp để thúc đẩy, tạo sự chuyển biến trong phát triển nông nghiệp thời gian tới. Theo đó, cần chỉ đạo mạnh mẽ thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, có chất lượng hiệu quả.

Trong đó, cần tập trung chỉ đạo chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cam sành, nhất là ở những vùng từ xã Vĩnh Xuân đến Hòa Bình.

Bên cạnh, cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng đề xuất phương án giải quyết khi cần thiết, kỹ năng chuyển giao kiến thức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật đến với nông dân cho cán bộ nông nghiệp ở các địa phương.

Đồng thời, mạnh dạn nhân giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng để cung ứng phục vụ nhu cầu sản xuất của nhân dân.

Để thực hiện thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020- 2025, đối với Hựu Thành cần sớm thực hiện tốt công tác quy hoạch cụm công nghiệp xã nhằm thu hút, mời gọi doanh nghiệp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, cơ sở trên địa bàn đầu tư phát triển chế biến các sản phẩm thế mạnh địa phương như cam, bưởi… để nâng cao giá trị sản phẩm, tạo thêm việc làm cho người dân ở địa phương và các xã lân cận, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần phát triển kinh tế.

Đồng chí Nguyễn Thị Thưởng- Phó Bí thư Đảng ủy xã Phú Thành

Đồng chí Nguyễn Thị Thưởng.

Phú Thành là xã cù lao với đa dạng các mô hình vườn cây ăn quả, các loại rau màu phong phú. Đặc biệt, người dân có truyền thống đoàn kết, gắn bó, ân cần, hiếu khách… lợi thế đó giúp xã trở thành vùng đất tiềm năng trong phát triển du lịch sinh thái miệt vườn.

Đến nay, địa phương có 3 điểm phục vụ hàng ngàn khách du lịch mỗi năm, bước đầu mang lại tín hiệu tích cực, tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên thời gian qua, xã vẫn chưa được đầu tư, khai thác đúng mức; chưa có sự liên kết giữa các điểm du lịch và làng nghề để đa dạng hóa loại hình tham quan, giải trí…

Để góp phần thực hiện hiệu quả các khâu đột phá Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020- 2025, xã sẽ tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương, chính sách phát triển du lịch cũng như chính sách hỗ trợ phát triển du lịch của Đảng, Nhà nước để nhân dân có điều kiện mạnh dạn đầu tư phát triển.

Song song đó, tăng cường xây dựng hạ tầng giao thông đến khu du lịch, xây dựng cơ sở vật chất khu mua quà lưu niệm; đào tạo kiến thức du lịch cho cán bộ, công chức để tăng cường công tác quản lý ngành du lịch.

Cùng với đó là xây dựng phát triển du lịch sinh thái kết hợp với bảo vệ môi trường, xây dựng cảnh quan sáng- xanh- sạch- đẹp, đảm bảo nguồn nước sạch; đồng thời tạo các mô hình du lịch sinh thái gắn với phát triển nông nghiệp bền vững…

Tôi cũng đề xuất cấp trên cần có cơ chế, chính sách phù hợp để tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái của địa phương như hỗ trợ vốn vay cho các hộ kinh doanh các điểm du lịch để mở rộng các loại hình dịch vụ du lịch, xây dựng cơ sở lưu trú du lịch, khu vui chơi giải trí; có chính sách đãi ngộ thu hút nhà đầu tư đến đầu tư và phát triển du lịch…

CẨM HUỆ (thực hiện)

Giải Pháp Cho Phát Triển Nông Nghiệp Toàn Diện: Câu Lạc Bộ Đổi Mới Sáng Tạo

Tiếp nối sự kiện “Lễ ra mắt Câu lạc bộ Đổi mới sáng tạo cho HTX và doanh nghiệp nhỏ ngành hàng rau hoa quả” tổ chức ngày 6/10/2020 tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam là hội thảo “Câu lạc bộ Đổi mới sáng tạo: Kế hoạch hành động và cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ ngành rau hoa quả” được tổ chức tại Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả.

Mục tiêu của Hội thảo là tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và chuyển giao công nghệ, tiến bộ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và hợp tác xã. Câu lạc bộ đổi mới sáng tạo ngành rau hoa quả được kỳ vọng là nơi các nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, doanh nghiệp và các hợp tác xã gặp gỡ, trao đổi về nhu cầu và các vấn đề nổi cộm của doanh nghiệp và HTX để đề xuất các giải pháp đổi mới sáng tạo, nâng cao tính ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất và kinh doanh trong ngành rau, hoa và quả. Hội thảo được tổ chức bởi sự phối hợp của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Chương trình Aus4Innovation – Tổ chức Nghiên cứu Khoa học Công nghiệp Liên bang Úc (CSIRO) cùng Viện Nghiên cứu Rau quả.

Hội thảo có sự tham gia của gần 100 cá nhân và tổ chức như chúng tôi Đào Thế Anh-Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam; chúng tôi Đặng Văn Đông-Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả; TS. Nguyễn Việt Khoa – đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc Gia và bà Trần Hương Giang-Quản lý hợp tác thương mại hóa khoa học thuộc Chương trình A4Innovation của Đại sứ quán Úc cùng đông đảo các nhà khoa học và nhà quản lý, các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ thuộc ngành hàng rau, hoa, quả đến từ nhiều địa phương khác nhau như Yên Bái, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng… Đặc biệt, có sự tham gia của các đơn vị cung ứng vật tư đầu vào cho sản xuất và các đơn vị cung ứng thiết bị khoa học như công ty điện lạnh Quang Thắng, Công ty Cổ phần giải pháp thời tiết WeatherPlus…

Ban chủ nhiệm Câu Lạc Bộ đổi mới sáng tạo ngành hàng rau hoa quả

PGS.TS. Đào Thế Anh – Chủ nhiệm Câu lạc Bộ

TS. Nguyễn Viết Khoa, đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã có bài phát biểu để khẳng định vai trò của cây ăn quả, rau và hoa trong tái cơ cấu cây trồng ở Việt Nam. Ông cũng đã nhận được sự đồng thuận cao của các thành viên CLB khi bầu cử vị trí Phó Chủ nhiệm CLB, phụ trách các hoạt động đào tạo, khuyến nông.

Ông Nguyễn Viết Khoa – Phát biểu tại hội thảo

PGS.TS Đặng Văn Đông – một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển hoa, cây cảnh đã được bầu chọn để giữ vị trí Phó Chủ nhiệm thường trực CLB, phụ trách về khoa học, chuyển giao, đặc biệt trong ngành hàng hoa. Ông cũng đã dành nhiều tâm huyết để phác thảo bản Kế hoạch hành động cho CLB với mục tiêu giúp CLB phát triển hiệu quả và bền vững. Ngoài ra, các chức danh của các thành viên khác trong Ban chủ nhiệm cũng được đề xuất.

Ông Đặng Văn Đông cũng chia sẻ nhiều dự định sẽ được triển khai thông qua các hoạt động của CLB như những vấn đề về giống, vườn ươm, công nghệ sau thu hoạch, kết nối thị trường … Các vấn đề này được đổi mới sáng tạo nhằm giúp nâng cao hiểu quả của các tác nhân tham gia.

PGS.TS Đặng Văn Đông – Phát biểu tại hội thảo

Bà Trần Hương Giang -Quản lý hợp tác thương mại hóa khoa học thuộc Chương trình A4Innovation của Đại sứ quán Úc phát biểu tại Hội thảo. Bà mong muốn CLB hoạt động bền vững, đáp ứng mong đợi của các thành viên.

Bà Trần Hương Giang – Phát biểu tại hội thảo

Hội thảo đã giành thời gian để các đại diện của các HTX, các doanh nghiệp nêu ra những vấn đề nổi cộm và đã được giải quyết từng phần. Các đại biểu cũng đã cùng nhau phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cũng như chia sẻ mong muốn và đặc biệt họ đã chủ động kết nối với nhau. Một số ý tưởng đã được hình thành. Ví dụ Ông Nguyễn Tiến Hưng, bên cạnh việc chủ động nhận vai trò kết nối bao tiêu sản phẩm rau, quả sạch, ông đã có ý tưởng mở ra điểm bán sản phẩm hoa chất lượng được sản xuất tại Trung tâm Nghiên cứu hoa và cây cảnh thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả. Bên cạnh các nội dung trao đổi tại hội trường, các đại biểu còn thăm quan mô hình sản xuất hoa lan tại Viện.

Các đại biểu tham quan mô hình sản xuất lan hồ điệp tại Viện Nghiên cứu Rau quả

Theo Nguyễn Thị Tân Lộc và Nguyễn Thị Sáu

Viện Nghiên cứu Rau quả

Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Doanh Nghiệp Nông Nghiệp

Dưới tác động của các Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong những năm qua xuất khẩu Việt Nam nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng có sự phát triển nhanh chóng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng GDP.

Chúng ta cũng chịu sự cạnh tranh gay gắt của các nước có lợi thế về hàng hóa nông sản xuất khẩu tương tự như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia… Phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu, nhất là các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc EU. Rào cản lớn nhất là phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt của nước nhập khẩu như chất lượng, sự đa dạng, cam kết về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững, hợp pháp…

Nông sản Việt cơ bản chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô, chưa qua chế biến nên giá trị gia tăng không nhiều, không bán được giá cao. Các doanh nghiệp (DN), cơ sở chế biến còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về công nghệ. Số DN có dây chuyền sản xuất, chế biến hiện đại còn ít, chỉ chiếm khoảng 20-30%.

Nguồn hàng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào thời vụ, số lượng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, chất lượng sản phẩm không đồng đều, không đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Các sản phẩm hữu cơ (organic) chiếm tỷ lệ rất nhỏ, mặc dù đây là xu hướng tiêu dùng của thế giới, được người tiêu dùng ưa chuộng dù giá cả cao hơn các sản phẩm thông thường.

Các hạn chế, yếu kém trên là nguyên nhân cơ bản của tình trạng “được mùa mất giá”, “được giá mất mùa”, làm cho người nông dân lao đao, mất định hướng trong việc “trồng cây gì”, “nuôi con gì” và nuôi trồng bằng giống nào, cách nào, phương thức nào, bán hàng cho ai? Vì thế, khi các FTA có hiệu lực, có những mặt hàng thuế nhập khẩu giảm về 0% đối với một số thị trường nhưng các nông sản chủ lực của Việt Nam vẫn chưa thể thâm nhập.

Mục tiêu xuất khẩu bền vững

Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đề ra mục tiêu: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài”.

Việt Nam đang thực hiện 13 FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới mang lại rất nhiều cơ hội cho xuất khẩu nông sản sang các thị trường lớn và tiềm năng như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Để có thể tận dụng được các cơ hội của hội nhập quốc tế mang lại, cần phát huy tối đa thế mạnh về các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, xây dựng quy trình chuẩn cho sản xuất và xuất khẩu nông sản hữu cơ (organic) chủ lực. Theo đó, Nhà nước (các bộ ngành, địa phương) đặt hàng các cơ quan, tổ chức (trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội doanh nghiệp…) xây dựng quy trình chuẩn cho việc sản xuất các nông sản hữu cơ xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Quy trình này cần nghiên cứu nhu cầu thị trường quốc tế và tiềm năng của Việt Nam, xác định mặt hàng nông sản chủ lực, thị trường chính và tiềm năng, đối thủ cạnh tranh, xây dựng chiến lược phát triển nguồn hàng nông sản organic (bao gồm công tác quy hoạch vùng nguyên liệu, giống cây con, phương thức canh tác, thu hoạch, chế biến…).

Xây dựng thương hiệu sản phẩm và chiến lược phát triển thương hiệu ở các thị trường mục tiêu. Đầu tư dây chuyền công nghệ cho việc chế biến các sản phẩm bảo đảm yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, không hóa chất, không độc hại. Xác định các yếu tố cần thiết để bảo đảm sản phẩm sau chế biến có thể đạt được các chứng chỉ quốc tế về chất lượng sản phẩm.

Nhà nước cần có cơ chế, chính sách để hỗ trợ việc thực hiện quy trình sản xuất và xuất khẩu nông sản hữu cơ chủ lực, trước hết là cơ chế, chính sách tạo nguồn hàng xuất khẩu. Cụ thể, cần quy hoạch các vùng sản xuất, nuôi trồng tập trung các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với thế giới và xu hướng tiêu dùng của thế giới; lợi thế so sánh của các vùng, miền, địa phương; bảo đảm cung cấp đủ nguồn hàng cho sản xuất, chế biến nông sản xuất khẩu ở quy mô sản xuất lớn.

Đặt hàng xây dựng các quy trình chuẩn sản xuất nông sản hữu cơ xuất khẩu chủ lực (đề cập ở phần trên) và chuyển giao quy trình cho DN thực hiện. Tạo điều kiện tích tụ, tập trung ruộng đất ở quy mô lớn (từ hàng trăm đến hàng nghìn hecta) cho việc đầu tư nhà máy sản xuất chế biến tập trung, nuôi trồng các loại cây con được xác định là mặt hàng nông sản xuất khẩu hữu cơ chủ lực.

Xây dựng các thương hiệu quốc gia

Về cơ chế, chính sách xây dựng thương hiệu nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam, Nhà nước cần sớm bổ sung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam đối với hàng hóa nông sản theo hướng phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn thế giới, phát triển và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý… đối với nông sản xuất khẩu chủ lực. Nhân rộng mô hình sản xuất nông sản theo các tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP, HACCP…

Có chiến lược bài bản xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc xuất khẩu nông sản vì hiện nay đây là khâu yếu nhất trong xuất khẩu nông sản, chủ yếu do các DN thực hiện dẫn tới tình trạng mặc dù hàng hóa nông sản Việt Nam có chất lượng tốt, giá cạnh tranh nhưng không được người tiêu dùng quốc tế biết đến, không xuất khẩu được ra thế giới.

Việc Nhà nước xây dựng “Thương hiệu quốc gia” nông sản xuất khẩu chủ lực không có nghĩa là Nhà nước bỏ tiền làm thay DN mà Nhà nước cùng với DN phối hợp thực hiện một cách chiến lược, bài bản việc xây dựng “Thương hiệu quốc gia” cho các nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Nhà nước sẽ là “bà đỡ”

Về cơ chế, chính sách xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, cần huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng các trung tâm logistics ở các địa bàn đầu mối trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của DN. Nghiên cứu việc thành lập các kho ngoại quan, trung tâm logistics ở nước ngoài để hỗ trợ DN tập kết, phân phối hàng hóa đến các thị trường quốc tế với chi phí thấp.

Xây dựng các chương trình quảng bá hình ảnh quốc gia, xúc tiến thương mại quốc gia với các thị trường trọng điểm (như Mỹ, Ấn Độ, EU…) và các thị trường tiềm năng sau khi các FTA được ký kết. Việc triển khai các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia cần tập trung vào từng mặt hàng, từng thị trường, tránh tình trạng dàn trải, thiếu chiều sâu như hiện nay. Nhà nước giao nhiệm vụ cho các cơ quan đại diện ngoại giao, thương vụ Việt Nam ở nước ngoài nhiệm vụ xúc tiến thương mại, chắp mối kinh doanh và có cơ chế, chính sách khuyến khích đối với hoạt động này (chẳng hạn được phép nhận hoa hồng khi tư vấn, chắp mối kinh doanh hiệu quả cho DN).

Hỗ trợ và hướng dẫn DN tận dụng các cơ hội của các FTA mang lại, nhất là các hiệp định vừa ký kết như CPTPP, EVFTA về ưu đãi thuế quan, cơ hội thị trường. Thông tin kịp thời cho DN về các rào cản thương mại, hệ thống quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn thị trường nhập khẩu để DN chủ động phòng tránh nguy cơ dẫn đến các vụ điều tra phòng vệ thương mại, các vi phạm về kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các thị trường có yêu cầu khắt khe về điều kiện nhập khẩu hàng nông sản.

Xây dựng và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa “5 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng (ngân hàng, các tổ chức tín dụng) và nhà nông trong quá trình sản xuất và xuất khẩu các nông sản hữu cơ chủ lực.

Với các giải pháp trên, Nhà nước thực hiện đúng vai trò “Chính phủ kiến tạo” hướng dẫn, hỗ trợ, là “bà đỡ” cho DN và các hộ nông dân trong quá trình sản xuất và xuất khẩu nông sản chủ lực Việt Nam. Đầu tư công của Nhà nước có hiệu quả hơn, thể hiện qua việc đổi mới cách thức đầu tư vào khoa học công nghệ, công tác quy hoạch, huy động hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội, cải cách hành chính hướng tới hỗ trợ người dân và DN ngày càng tốt hơn.

Đặng Đức Thành

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Xanh Bền Vững

(TN&MT) – Tại Hội thảo “Phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” diễn ra ngày 26/11, các đại biểu đều có chung nhận định, sản xuất nông nghiệp xanh để phát triển nông nghiệp bền vững là giải pháp hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng thu nhập cho người dân… “Quang cảnh Hội thảo “phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” – Ảnh: Lê Hùng Thách thức từ BĐKH, nước biển dâng…

ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chiếm hơn 50% sản lượng lúa hàng hóa, cung ứng 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản, đặc biệt cung cấp đến 80% lượng tôm xuất khẩu và đóng góp khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL đang gặp rất nhiều rủi ro, bấp bênh và chịu sự tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng…

Nhiều đại biểu cho rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp xanh là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả, bền vững. Thực tế thời gian qua, các địa phương trong vùng đã tích cực triển khai đồng loạt nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, như: mô hình “ruộng lúa bờ hoa”, “ba giảm ba tăng”, mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp xanh của Hợp tác xã Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), Hợp tác xã Bưởi Năm Roi (tỉnh Vĩnh Long), sản xuất rau các loại an toàn theo hường GAP tại xã Tân Đông, Gò Công Đông (Tiền Giang), mô hình mẫu sử dụng khí sinh học trong chăn nuôi heo… đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Hậu Giang triển khai trồng hoa ven đường, áp dụng mô hình công nghệ sinh thái, chuẩn bị sản xuất vụ Đông xuân 2013-2014. Ảnh: Hùng Long.

Thế nhưng việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp tại vùng ĐBSCL hiện vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên mà chưa bền vững về môi trường. Giá bán nông sản sạch không cao hơn mô hình sản xuất truyền thống, khiến nông dân không mặn mà tham gia mô hình.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT – Trần Thanh Nam, cho rằng: “Sản xuất nông nghiệp thường xuyên gặp rủi ro, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, liên kết “4 nhà” yếu kém, khâu tiêu thụ còn nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân rộng mô hình. Một số nông dân tham gia mô hình sản xuất điểm được hỗ trợ chi phí sản xuất, khi mô hình kết thúc, thì họ không quan tâm duy trì mô hình, có khi quay về kiểu sản xuất truyền thống. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp cũng là thách thức lớn”.

Theo các đại biểu đại diện các địa phương trong vùng ĐBSCL, việc nhân rộng các mô hình rất cần được sự quan tâm hỗ trợ của các Bộ, ngành trung ương và sự vào cuộc tích cực hơn của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trước thách thức của biến đổi khí hậu, xu thế toàn cầu hóa, nông sản sẽ chật vật trong cuộc cạnh tranh, do đó yêu cầu bức bách đặt ra cho người nông dân ĐBSCL hiệ nay là phải đổi mới tư duy sản xuất, năng động hội nhập.

“Cách mạng xanh” trong nông nghiệp

Theo Bộ NN& PTNT, đối với ngành nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp xanh sạch là việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua đó, giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản, phát triển công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, phế thải… đảm bảo bền vững cho nền kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh.

“Ngày nay, nông nghiệp xanh không chỉ tạo ra những sản phẩm sạch, mà còn là yếu tố quan trọng cho sự ổn định kinh tế- xã hội. Đây là hướng đi bền vững và ưu việt nhất để ngành nông nghiệp nước ta vừa đảm bảo an ninh lương thực,vừa tăng cường xuất khẩu nông sản ra thế giới. Hiện sản xuất nông nghiệp xanh hay nông nghiệp sinh thái, phòng trừ dịch hại tổng hợp theo hướng GAP… được nhiều tỉnh, thành quan tâm thực hiện. Đây là con đường tạo ra nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu”- ông Phan Anh Vũ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định. Song, phát triển nông nghiệp xanh cần thực hiện rất nhiều giải pháp đồng bộ.

Thu hoạch lúa ở ĐBSCL – Ảnh: Hoài Thanh

Theo các nhà khoa học, trong sản xuất nông nghiệp xanh cần chú ý đến giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. chúng tôi Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Đại học Cần Thơ, cho biết: Trong canh tác lúa, giảm khí thải nhà kính là thực thi chính sách kép, vì giảm yếu tố đầu vào mà hiện nay nông dân quản lý nước không tốt và sử dụng dư thừa về mật độ sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vừa làm tăng chi phí vừa làm tăng khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó việc áp dụng mô hình “1 phải 6 giảm” sẽ giảm chi phí sản xuất trung bình từ 5- 10% nhờ cắt giảm được 40 đến 50% giống, giảm từ 15 đến 30% lượng phân, giảm 20 đến 40% lượng nước tưới, tăng năng xuất từ 5 đến 10%, lợi nhuận mang lại cho nông dân cao hơn khoảng 10% và các đồng lợi ích cho môi trường như giảm lượng khí thải, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, môi trường.

Nhiều đại biểu kiến nghị: cần đánh giá thành tựu, hạn chế của các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh mà vùng ĐBSCL đã phát triển thời gian qua để có hướng đi cụ thể thời gian tới. Bởi, hiện tại lực lượng sản xuất (số lượng các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp, khoa học công nghệ…) liên tục phát triển trong khi các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp lại chưa có sự đổi mới tương xứng; nhu cầu liên kết sản xuất cao, nhưng việc triển khai vẫn chậm, qui mô sản xuất manh mún, diện tích đất sản xuất bình quân trên nông hộ nhỏ. Vai trò của quy hoạch và chiến lược phát triển vùng chưa rõ ràng. Các mối liên kết dọc và ngành hình thành và phát triển khó khăn. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn còn lòng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm các bên tham gia…

Những khó khăn này cần được giải quyết rốt ráo mới có thể tạo ra “cách mạng xanh” cho ngành nông nghiệp. Và để giải quyết hiệu quả, nhất thiết phải có sự nhập cuộc tích cực của các bộ, ngành Trung ương cùng các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân.