Một Số Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Vốn Tài Liệu Của Thư Viện

--- Bài mới hơn ---

  • Xem Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Trường Học Thân Thiện Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Xanh, Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học
  • Một Vài Giải Pháp Quan Trọng Nhằm Thu Hút Bạn Đọc Đến Thư Viện
  • Giải Pháp Xây Dựng Mạng Lan Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • Giải Pháp Mạng Wifi Cho Doanh Nghiệp Nhỏ Có 1 Lớp Mạng
  • Thư viện trường học là một bộ phận trọng yếu không thể thiếu được. Sách báo, đang góp phần làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, góp phần quyết định chất lượng và không ngừng nâng cao năng lực giảng dạy của giáo viên, mở rộng kiến thức và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh. Đứng trước những nhiệm vụ to lớn của công cuộc cải cách giáo dục hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

    Từ mục đích yêu cầu vai trò của thư viện trong trường học hoạt động chủ yếu của giáo viên và học sinh là giảng dạy và học tập. Cả hai hoạt động này đều phải sử dụng sách báo. Vì vậy tổ chức thư viện trong nhà trường nhằm thoả mãn nhu cầu về sách, báo cho giáo viên và học sinh là một yêu cầu khách quan không thể thiếu được. Thư viện còn giúp các em xây dựng được phương pháp học tập và phong cách làm việc khoa học, biết sử dụng sách báo trong thư viện. Đồng thời tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn hoá mới trong nhà trường.

    Đối với yêu cầu trên tôi nhận thấy đối tượng phục vụ của thư viện bao gồm tất cả mọi thành viên trong nhà trường: Cán bộ, giáo viên,nhân viên và học sinh…. Trong từng loại đối tượng có sự thuần nhất tương đối về yêu cầu phục vụ. Trong những đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh để mượn sách, báo cho phù hợp.

    PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

    Sự nghiệp giáo dục ở nước ta được Đảng và Nhà nước xác định là: “Quốc sách hàng đầu”. Trong Luật giáo dục năm 2005 đã nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng và vai trò người thầy giáo: “Không có thầy thì không có giáo dục… không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế – văn hóa”; trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động các cuộc vận động, điển hình là cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” với mục đích tạo sự mạnh mẽ trong đội ngũ nhà giáo và trong cán bộ quản lý giáo dục về ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, thường xuyên tự nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sáng tạo trong các hoạt động giáo dục.

    Việt Nam đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những các sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, làm sói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu.Trong nhà trường phổ thông nói chung và Trường THCS nói riêng, một số cán bộ, giáo viên, nhân viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo quan tâm đến việc dạy tri thức khoa học, ít chú trọng đến việc dạy người.

    Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cán bộ, giáo viên, nhân viên trong giai đoạn hiện nay và qua thực tiễn công tác quản lý ở trường THCS, tôi nhận thấy công tác xây dựng đạo đức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người cán bộ quản lý nhà trường. Vì vậy tôi chọn đề tài “Xây dựng đạo đức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên theo đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”.

    I.1. Tính cấp thiết của vệc phát triển vốn tài liệu của thư viện.

    Bên cạnh những thành tích và kết quả mà thư viện nhà trường đã đạt được thì việc phát triển vốn tài liệu, phát triển nguồn thông tin cũng đang còn nhiều bất cập cần phải nghiên cứu và tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất

    I.2. Năng lực nghiên cứu.

    lượng nguồn thông tin, đảm bảo và đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.

    Dựa trên cơ sở lý luận và quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách, báo và thông tin thư viện.

    Qua nhiều năm làm công tác thư viện trường học, với những kinh nghiệm của bản thân đã tích lũy được trong công tác và thông qua học hỏi các đồng nghiệp; căn cứ vào tình hình thực tiễn của thư viện nhà trường tôi nhận thấy việc

    phát triển vốn tài liệu, phát triển nguồn thông tin của thư viện là rất cần thiết.

    Vì vậy, tôi mạnh dạn xây dựng đề tài nghiên cứu Một số giải pháp xây dựng và phát triển vốn tài liệu của thư viện.

    Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu của Thư viện, tôi muốn đánh giá những kết quả đã đạt được và tìm ra những điểm còn hạn chế, ảnh hưởng đến công tác phát triển nguồn thông tin. Từ đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất và các giải pháp nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phát triển vốn tài liệu của thư viện trường học.

    Đề tài tập trung chuyên sâu nghiên cứu về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ bạn đọc; công tác phát triển vốn tài liệu của thư viện trường THCS trong giai đoạn hiện nay.

    III. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM.

    Thành phần vốn tài liệu như: Tài liệu bổ sung, kinh phí cho hoạt động bổ sung, kế hoạch và chính sách bổ sung, các nguồn bổ sung, nhân lực thực hiện công tác bổ sung…

    Thư viện trường THCS nơi tôi đang công tác hiện nay.Trước khi thực hiện đề tài vốn tài liệu của thư viện trường nơi tôi đang công tác như sau:Hiện nay, thư viện nhà trường đang phục vụ bạn đọc với trên 3450 các ấn phẩm trong đó:

    Sách chiếm 2550 bản( 65,2%)

    IV. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.

    Báo; tạp chí gồm 1200 bản (34,8%)

    Đề tài nghiên cứu được triển khai áp dụng trong hai năm học kế tiếp: năm học 2021 – 2021; năm học 2021 – 2021.

    gian nghiên cứu.

    Đề tài: ” Một số giải pháp xây dựng và phát triển vốn tài liệu của thư viện”

    Về mặt lý luận: Đề tài đã khẳng định được tầm quan trọng và giá trị thiết thực của công tác xây dựng và phát triển vốn tài liệu. Ngoài ra, nó còn giúp chúng ta hiểu được quy trình của công tác bổ sung vốn tài liệu trong hoạt động thông tin thư viện trường học.

    I. THỰC TRẠNG NHÀ TRƯỜNG TRƯỚC NHIỆM VỤ ĐỔI MỚI

    Về mặt thực tiễn: Phản ánh thực trạng hoạt động bổ sung vốn tài liệu tại thư viện đơn vị mình công tác, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, đưa ra những kiến nghị cho thư viện trường THCS, từ đó góp phần đẩy mạnh, phát huy những mặt mạnh đồng thời hạn chế và khắc phục những mặt yếu để đưa thư viện ngày càng phát triển hơn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hoá.

    Thế kỷ XXI, thế kỷ của Công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức; trong thế kỷ này hơn bao giờ hết thông tin có ý nghĩa quan trọng và quyết định sự phát triển của mỗi Quốc gia. Vì vậy, việc đảm bảo nguồn tin đầy đủ, nhanh chóng và chất lượng cho mọi lĩnh vực và đời sống xã hội đang là vấn đề có tính cấp thiết. Điều đó đỏi hỏi mỗi Quốc gia bên cạnh việc củng cố và phát triển nguồn tin trong nước còn cần phải mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác trong khu vực và trên thế giới để chia sẻ và phát triển nguồn tin.

    Đối với Việt Nam, trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, việc đảm bảo và phát triển nguồn thông tin cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội có ý nghĩa hết sức lớn lao. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường”…Thực hiện nghị quyết IX của Trung ương Đảng, để góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; với chức năng và nhiệm vụ đặc thù của nhà trường, trong những năm qua đặc biệt trú trọng đến việc đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học và nghiên cứu phương pháp dạy học có hiệu quả nhằm cung cấp, bồi dưỡng cho đất nước những nhân tài cho tương lai, có đầy đủ phẩm chất đạo đức, là con ngoan trò giỏi, những mầm non tương lai của đất nước trong thời kì đổi mới.

    Trong trường THCS, bên cạnh các hoạt động chuyên môn, hoạt động phong trào,…thì hoạt động thông tin – thư viện không ngừng được trú trọng và đầu tư phát triển, nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của bạn đọc; nâng cao hiệu quả phục vụ thông tin cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh trong và ngoài nhà trường.

    Bên cạnh những thành tích và kết quả mà thư viện nhà trường đã đạt được thì việc phát triển vốn tài liệu, phát triển nguồn thông tin cũng đang còn nhều bất cập cần phải nghiên cứu và tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng nguồn thông tin, đảm bảo và đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.

    Dựa trên cơ sở lý luận và quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

    Hồ Chí Minh về công tác sách, báo và thông tin thư viện.

    Qua nhiều năm làm công tác thư viện trường học, với những kinh nghiệm của bản thân đã tích lũy được trong công tác và thông qua học hỏi các đồng nghiệp; căn cứ vào tình hình thực tiễn của thư viện nhà trường tôi nhận thấy việc phát triển vốn tài liệu, phát triển nguồn thông tin của thư viện là rất cần thiết.

    Vì vậy, tôi mạnh dạn xây dựng đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp xây dựng và phát triển vốn tài liệu của thư viện”.

    Cơ sở vật chất của nhà trường trước đây còn nghèo nàn, lạc hậu, không đủ phòng học và các phòng chức năng, chủ yếu là nhà cấp 4 đã xuống cấp trầm trọng. Nhưng trong những năm gần đây, cơ sở vật chất nhà trường được đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp. Do đó chất lượng giảng dạy và học tập ngày càng được nâng cao.

    Cơ sở vật chất trong thư viện được trang bị khá đầy đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của giáo viên và học sinh.

    * Cơ sở vật chất của thư viện bao gồm:

    – Phòng Thư viện được xây dựng kiên cố, có diện tích 80m 2, được chia ra làm 2 phòng: phòng đọc cho giáo viên và học sinh.

    PHÒNG ĐỌC CỦA HỌC SINH

    PHÒNG ĐỌC CỦA GIÁO VIÊN

    BẢNG GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

    – Sách báo được bảo quản tốt, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp và có khoa học.

    – Trang thiết bị chuyên dùng đầy đủ và được bố trí hợp lý theo nghiệp vụ quản lý thư viện, từng bước được hiện đại hoá theo xu thế phát triển chung.

    * Kho sách được chia thành các bộ phận:

    KHO SÁCH

    a. Sách giáo khoa hiện hành.

    – Đối với học sinh: Đảm bảo mỗi học sinh có đủ 1 bộ sách để học.

    – Đối với giáo viên: Sách giáo khoa phục vụ cho giáo viên soạn giảng: 500 cuốn.

    b. Sách nghiệp vụ của giáo viên.

    – Sách bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm: 500 cuốn

    c. Sách tham khảo.

    – Sách tham khảo bộ môn: 2.780 cuốn

    – Sách tra cứu, từ điển, tác phẩm kinh điển: 16 cuốn

    – Sách mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ các môn học phù hợp với chương trình từng cấp học có: 242 bản

    – Sách nâng cao trình độ chuyên môn ngoại ngữ, tin học, tài liệu bồi dưỡng thường xuyên: 26 cuốn.

    – Có kế hoạch bổ sung sách thư viện trong 5 năm: 1.062 cuốn

    – Số lượng sách tham khảo bình quân đạt 03 cuốn / học sinh.

    d. Báo, tạp chí:

    – Có các loại báo phù hợp với lứa tuổi học sinh và các tạp chí, báo chung của Đảng, nhà nước, địa phương và các đoàn thể quần chúng.

    – Hàng năm nhà xuất bản Giáo dục và các Công ty sách – Thiết bị trường học ở các tỉnh dành một khoản kinh phí trong chi phí sản xuất kinh doanh để sử dụng vào việc hướng dẫn, tuyên truyền, giới thiệu sách, báo; chỉ đạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng của nhân viên phụ trách công tác thư viện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện trường học.

    I.4.3 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của thư viện trường học trước nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu của nhà trường.

    Thư viện trường học là kho tàng tri thức của nhân loại, là một bộ phận trọng yếu không thể thiếu được trong trường phổ thông, là nơi lưu giữ nét đẹp tinh hoa, văn hoá, những thành quả lao động trí óc và kinh nghiệm trong quá trình sống và tồn tại của con người. Ngày nay, nhu cầu học tập và nghiên cứu của con người ngày càng được nâng cao, đòi hỏi thư viện trường học phải tổ chức phục vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó và cán bộ thư viện là cầu nối giữa kho tài liệu của thư viện với bạn đọc và người sử dụng.

    Thực hiện kế hoạch chỉ đạo của các cấp, thư viện trường học đã xây dựng cho mình kế hoạch hoạt động rõ ràng theo từng tháng dựa trên cơ sở hoạt động của thư viện ngành. Nhà trường đã trú trọng đầu tư thêm trang thiết bị cho thư viện tương đối đầy đủ như: Các loại sổ sách thư viện, mua bổ sung thêm các loại sách giáo khoa, sách nghiệp vụ, cho thư viện và phục vụ cho giáo viên – học sinh giảng dạy và học tập.

    Dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, được sự quan tâm của các cấp và sự hướng dẫn tận tình của cán bộ quản lý. Thư viện đã có được điều kiện thuận lợi để phát huy được chuyên môn nghiệp vụ của mình và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

    Cán bộ thư viện đã xây dựng được kế hoạch hoạt động của thư viện. Thực hiện việc phục vụ cho mượn và trả sách đúng theo yêu cầu; xử lý nghiệp vụ các loại sách mới nhập, phục vụ bạn đọc một cách chặt chẽ và có khoa học.

    I.4.4. Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện trường học.

    Thư viện đã hoàn thành tốt các nội dung hồ sơ thư viện theo đúng kế hoạch. Hàng quý thư viện đều bổ sung thêm các loại báo mới như: tạp chớ giỏo dục,giáo dục thủ đô…

    Thư viện là một bộ sưu tập có tổ chức các loại sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu, văn hoá, giáo dục

    hoặc giải trí.

    Với chức năng lưu trữ và luân chuyển sách, báo; thông qua nội dung sách,

    báo thư viện góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học, tuyên truyền đường lối. Chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng thế giới quan khoa học, nếp sống văn minh cho giáo viên và học, thư viện trường học ra đời nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ sau:

    * Chức năng:

    Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập, đồng thời thư viện tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị xây dựng nếp sống văn hoá mới cho các thành viên của nhà trường.

    Thư viện trường phổ thông thuộc thư viện khoa học chuyên ngành Giáo

    dục và đào tạo, nằm trong hệ thống thư viện chung và thực hiện nghiêm chỉnh những văn bản quy phạm pháp luật về công tác thư viện của nhà nước.

    Thư viện chuyên thực hiện chức năng giáo dục, tham gia vào việc giảng dạy, học tập của thầy và trò; nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường.

    Với chức năng thông tin: Thư viện luôn đáp ứng nhu cầu tin của bạn đọc trong nhà trường.

    Ngoài chức năng giáo dục và thông tin: Thư viện trường còn là trung tâm văn hoá, giải trí cung cấp kiến thức xã hội và nâng cao tầm hiểu biết của độc giả.

    * Nhiệm vụ:

    Cung ứng cho giáo viên và học sinh đầy đủ các loại sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiệp vụ, các loại từ điển, tác phẩm kinh điển để tra cứu và các loại sách báo cần thiết khác, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và tự bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên và học sinh.

    Sưu tầm và giới thiệu rộng rãi trong cán bộ, giáo viên và học sinh những sách báo cần thiết của Đảng, nhà nước và của ngành Giáo dục và đào tạo, phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, bổ sung kiến thức của các bộ môn khoa học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

    Tổ chức thu hút toàn thể giáo viên và học sinh tham gia sinh hoạt thư viện,

    thông qua các hoạt động phù hợp với chương trình và kế hoạch dạy học, tìm hiểu nhu cầu của giáo viên và học sinh, giúp họ chọn sách, đọc sách có hệ thống, biết cách sử dụng bộ máy tra cứu sách, tra cứu thư mục nhằm sử dụng triệt để kho sách, nhất là các sách nghiệp vụ và sách tham khảo, nhằm huy động các nguốn vốn kinh phí ngoài ngân sách và các loại sách báo, tạp chí, tư liệu để đảm bảo nguồn vốn bổ sung, làm phong phú nội dung kho sách và tăng cường cơ sở

    vật chất kỹ thuật thư viện.

    Tổ chức quản lý theo đúng nghiệp vụ thư viện, có sổ sách quản lý chặt

    chẽ, bảo quản giữ gìn sách báo tránh hư hỏng, mất mát, thường xuyên thanh lọc sách báo cũ, rách nát, lạc hậu, kịp thời bổ sung các loại sách, tài liệu mới, có kế hoạch chủ động tiếp thu sự phát triển của mạng lưới thông tin – thư viện điện tử, từng bước đưa các trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác quản lý thư viện phục vụ bạn đọc.

    Tổ chức phục vụ cho các đối tượng bạn đọc sử dụng vốn tài liệu thư viện; bố trí thời gian phục vụ phù hợp với điều kiện làm việc và học tập của giáo viên và học sinh trong nhà trường; đẩy mạnh các hoạt động phục vụ tài liệu ngoài thư viện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng; không đặt ra những quy định làm hạn chế quyền sử dụng sách báo, tài liệu trong thư viện của người đọc.

    Phát triển vốn tài liệu phù hợp với tính chất, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của Thư viện. Thực hiện theo định kỳ việc thanh lọc ra khỏi kho các loại tài liệu không còn giá trị sử dụng, tài liệu hư nát không thể phục hồi.

    Lưu giữ, bảo quản vốn tài liệu như: sách, báo, tạp chí, phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất và các tài sản khác của thư viện.

    Phổ biến rộng rãi, kịp thời vốn tài liệu thư viện bằng các hình thức thông tin thư mục; hướng dẫn tra cứu và các hình thức thông tin tuyên truyền khác, phát huy triệt để nội dung vốn tài liệu có trong thư viện nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của nhà trường.

    Hướng dẫn cho tất cả học sinh mới vào trường cách tra cứu thông tin.Tổ chức cho cán bộ thư viện đi tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện; tạo điều kiện cho cán bộ thư viện nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn.

    Xác định rõ những chức năng, nhiệm vụ trên trong hoạt động thông tin, thư viện nhà trường đang cố gắng thực hiện tốt những nhiệm vụ đặt ra để đưa thư viện ngày càng phát triển hơn.

    I.4.4. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của trường học.

    * Về đội ngũ giáo viên nhà trường: Đến thời điểm này tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường có 42 đ/c; trong đó BGH: 03, giáo viên: 30, nhân viên: 09.

    Công tác thông tin thư viện là một thiết chế văn hoá giáo dục và thông tin

    khoa học đảm bảo tổ chức sử dụng vốn tài liệu hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất. Tổ chức công tác thông tin thư viện là nhằm thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp cho sự tồn taị và phát triển (như xây dựng hệ thống phòng ban, quy định nhiệm vụ, chức năng, xếp đặt cán bộ đúng khả năng chuyên môn, mua sắm trang thiết bị…); lập kế hoạch, đào tạo cán bộ và hướng dẫn nghiệp vụ. Công tác

    tổ chức thông tin thư viện là tổ chức hai nhóm công việc: công tác kỹ thuật nghiệp vụ và công tác phục vụ người dùng tin với các nhiệm vụ như: tổ chức định mức lao động, tổ chức phân công lao động hợp lý tổ chức công tác phục vụ người dùng tin, quy trình kỹ thuật thông tin thư viện tổ chức đào tạo và chỉ đạo nghiệp vụ…

    Một thư viện muốn hoạt động tốt cần phải có một cơ cấu tổ chức tốt. Tổ chức trong thư viện được chia thành các phòng, ban và chịu sự chỉ đạo của cán bộ thư viện theo quy tắc nhất định. Sự thống nhất giữa các phòng, ban sẽ quyết định chất lượng hoạt động của hệ thống thư viện.

    Ban điều hành Thư viện bao gồm một Phó Hiệu trưởng trực tiếp chịu trách nhiệm và điều hành chung mọi hoạt động của thư viện đồng thời chịu trách nhiệm trước Phòng Giáo dục và đào tạo về việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của thư viện đã được Đảng uỷ và cấp phòng giáo dục giao phó.

    Dưới ban điều hành của thư viện có nhân viên làm công tác thư viện có nhiệm vụ làm tất cả các công tác thư viện như: bổ sung, phân loại, xếp giá, lưu trữ và bảo quản vốn tài liệu.

    Về việc quản lý thư viện: Ban quản lý thư viện gồm một cán bộ chuyên quản lý chung mọi hoạt động và sự phát triển của thư viện cũng như việc tiếp nhận nguồn kinh phí của nhà trường và nguồn ngân sách của Nhà nước. Ngoài ra, Ban quản lý còn chịu trách nhiệm việc phát triển vốn tài liệu, số lượng tài liệu bổ sung hay loại bỏ, đầu tư trang thiết bị và các hoạt động khác. Bộ phận nghiệp vụ và phục vụ bạn đọc đều hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu phụ trách Thư viện. Cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho công tác phục vụ bạn đọc như bổ sung tài liệu, xử lý tài liệu, phân loại tài liệu, làm phích, làm sổ đăng kí cá biệt, làm thẻ cho học sinh. Có đủ các loại hồ sơ đúng theo quy định để theo dõi hoạt động của thư viện.

    Bên cạnh đó, cán bộ thư viện cần phải xem xét tài liệu mới mà nhà xuất bản gửi đến để chọn ra tài liệu thích hợp cần bổ sung. Tất cả các hoạt động trên đều nhằm mục đích phục vụ tốt công tác bạn đọc.

    Các phòng trong thư viện đều tập hợp tất cả các loại sách, báo, tạp chí và các loại sách tham khảo được phục vụ tại chỗ cho nhu cầu tin, giảng dạy, học tập của cán bộ giáo viên và học sinh. Với mô hình tổ chức trên thư viện trường đã thực hiện tốt công tác phục vụ bạn đọc. Ngoài ra thư viện còn cải tiến mở rộng phạm vi các loại hình tài liệu nhằm làm phong phú thêm kho sách.

      Nhu cầu đọc của cán bộ, giáo viên giảng dạy:

    Cán bộ và giáo viên trong nhà trường là những người có trình độ từ trung cấp trở lên. Chính vì vậy loại hình tài liệu mà họ quan tâm chủ yếu là những tài liệu

    phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên môn cấp trường.

    Nhu cầu tin của cán bộ và giáo viên trong trường vừa mang tính chất tổng hợp vừa mang tính cụ thể vì các nghành khoa học ngày càng phát triển có xu hướng chuyên sâu hoặc kết hợp với nhau nên họ phải thu thập thông tin vừa thích hợp vừa chi tiết. Nội dung thông tin cần đầy đủ, kịp thời và có tính chính xác cao.

    Ngoài các loại sách, báo, tạp chí, 55% trong số cán bộ giáo viên, nhân viên đến thư viện đều có nhu cầu đối với các loại sách tham khảo, 50% cán bộ có nhu cầu sử dụng tạp chí. Vì cán bộ giảng dạy là những người quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo của nhà trường nên thư viện trường đã đặc biệt quan tâm và tạo mọi điều kiện đáp ứng tốt nhu cầu tin đối với đối tượng này. Đồng thời, Thư viện cũng gửi các tài liệu mới đến từng bộ môn để họ có cơ hội nắm bắt thông tin một cách nhanh nhất, cập nhật nhất.

    * Nhu cầu đọc của học sinh:

    Học sinh là nhóm người dùng tài liệu có số lượng đông đảo nhất chiếm 90-95% tổng số người sử dụng tin của thư viện. Nhu cầu tra cứu hệ thống mạng Internet cũng như sách báo của học sinh được chia làm hai giai đoạn:

    Những năm đầu cấp, khối lượng kiến thức ít hơn lên học sinh chủ yếu mượn các loại sách giáo khoa, sách tham khảo về các môn học như: toán, lý, hoá, anh ,văn…

    Ngoài các giáo trình bắt buộc, thư viện còn đáp ứng các loại tài liệu giải trí đối

    với học sinh như sách văn học, truyện ngắn, bách khoa toàn thư, báo, tạp chí…

    Xác định đặc điểm người sử dụng tài và nhu cầu sử dụng các tài liệu đó trong hoạt động thông tin thư viện, Thư viện trường đã đáp ứng nhu cầu tin của cán bộ, giáo viên và học sinh một cách tối đa. Trong những năm gần đây, thư viện đã thành công trong công tác phục vụ bạn đọc và điều này được thể hiện qua số lượng bạn đọc đến thư viện ngày càng đông.

    * Hoạt động của thư viện:

    với chức năng của thư viện và phục vụ tốt nhu cầu của bạn đọc.

    Đối với giáo viên: Mỗi tháng một giáo viên đọc sách trong thư viện 15 lượt, đảm bảo 100 %.

    Đối với học sinh : Mỗi tháng học sinh đọc sách 16 lượt / học sinh, đảm bảo 85%:

    Thư viện có nội dung hoạt động phù hợp với giáo dục toàn diện. Phục vụ cho hoạt động ngoại khóa của nhà trường .

    II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN VỐN TÀI LIỆU TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG HỌC.

    Tình hình đọc sách trong thư viện của giáo viên và học sinh trong nhà trường luôn diễn ra thường xuyên và đúng nguyên tắc. Thư viện luôn mở cửa thường xuyên để bạn đọc vào thư viện đọc sách.

    II.1.1 Vai trò của công tác phát triển vốn tài liệu trong hoạt động thông tin thư viện của hệ thống các Trường THCS.

    II.1 Vai trò của công tác phát triển vốn tài liệu trong hoạt động thông tin thư viện tại các Trường THCS nói chung và trường học nói riêng.

    Vốn tài liệu được coi là di sản văn hoá, tiềm lực và niềm tự hào của thư viện. Nó chỉ ra sự phát triển về trí tuệ, văn minh của một Quốc gia, một dân tộc. Vốn tài liệu chứa đựng những tri thức kinh nghiệm của loài người được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác, sự tiến bộ của loài người có được là nhờ tiếp thu, khai thác và phát triển những tri thức của các thế hệ trước để lại. Nội dung của vốn tài liệu càng phong phú, loại hình tài liệu càng đa dạng thì khả năng đáp ứng nhu cầu càng lớn và nó càng có sức thu hút càng cao đối với người sử dụng. Một thư viện sẽ có khối lượng bạn đọc đông đảo, nếu thư viện đó có vốn tài liệu phong phú, đa dạng, phù hợp với nhu cầu tin của bạn đọc và đặc biệt là phải cập nhật với trình độ phát triển khoa học công nghệ trong nước và thế giới.

    Vốn tư liệu là cơ sở, tiền đề cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của thư viện. Pháp lệnh thư viện đã qui định, muốn thành lập một thư viện trong các trường THCS phải có bốn điều kiện: vốn tài liệu; độc giả; cơ sở vật chất và các trang thiết bị chuyên dụng; cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ. Vốn tư liệu giúp thư viện hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ của mình, quan trọng nhất là phục vụ nhu cầu của độc giả trong trường. Trong đó, nhu cầu của độc giả luôn luôn thay đổi và không ngừng phát triển, vì vậy cán bộ thông tin thư viện làm việc trong lĩnh vực này không chỉ có tri thức rộng cần có chính sách bổ sung vốn tư liệu thường xuyên và hợp lý. Phát triển vốn tài liệu được coi là quá trình làm cho các nhu cầu thông tin của người dùng tin được đáp ứng kịp thời và tiết kiệm bằng cách sử dụng các nguồn lực thông tin sinh ra bên trong và bên ngoài của tổ chức đó. Để phát triển nguồn vốn tài liệu, bất cứ cơ quan thông tin nào đều phải

    tiến hành thường xuyên công tác bổ sung vốn tài liệu. Bổ sung vốn tài liệu là quá trình lựa chọn có hệ thống và thu thập theo kế hoạch những tài liệu đưa vào thư viện làm tăng cường về mặt số lượng và chất lượng vốn tài liệu của thư viện đồng thời loại bỏ những tài liệu đã lỗi thời, không phù hợp.

    Theo thông tư số 30 – VH/TT ngày 17/03/1971 của Bộ Văn hoá hướng dẫn về thi hành Quyết định số 178/CP của Hội đồng Chính phủ về công tác thư viện đã đề cập đến vấn đề bổ sung sách báo của thư viện như sau: “Bổ sung sách báo cho thư viện là công tác then chốt về mặt chất lượng của kho sách thư viện, việc bổ sung sách báo phải được làm thường xuyên và có kế hoạch. Uỷ ban hành chính các cấp, các ngành quản lý thư viện cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm và yêu cầu trong loại thư viện để cung cấp kinh phí cho các thư viện có đủ điều kiện làm cho kho sách của mình càng phong phú. Ngoài các loại sách báo mới xuất bản, các thư viện còn có nhiệm vụ bổ sung các loại sách quý cần thiết mà thư viện còn thiếu bằng cách sưu tầm trong nhân dân hoặc trao đổi giữa các thư viện”

    Hầu hết, mọi đối tượng vật chất nào truyền đạt thông tin tư tưởng hoặc cảm giác đều có thể thuộc vào vốn tài liệu của thư viện. Vốn tài liệu là một tập hợp có hệ thống các xuất bản phẩm và các vật mang tin được lựa chọn phù hợp với thư viện và nhu cầu bạn đọc, được đưa ra sử dụng và bảo quản trong suốt thời gian mà nó còn có ý nghĩa.

    Trong giai đoạn đổi mới của đất nước, giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục THCS nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhận thức rõ trách nhiệm lớn lao trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước ngành giáo dục nói chung và giáo dục đào tạo THCS nói riêng không ngừng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là quá trình đổi mới phương pháp đào tạo; đổi mới phương pháp giảng dạy của thầy và phương pháp học tạp của trò, phát huy tối đa tính tích cực, chủ động tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Phương pháp đào tạo mới sẽ giúp học sinh nắm vững phương pháp học, tự tin trong việc tra tìm tài liệu, nghiên cứu tài liệu… Với ý nghĩa như vậy, hệ thống các trung tâm Thông tin – Thư viện trong các trường THCS có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây chính là giảng đường thứ hai cung cấp tài liệu cho sinh viên và là nơi lý tưởng để học sinh tự học, tự nghiên cứu… Như vậy, quá trình đổi mới giáo dục THCS phải đồng nghĩa với quá trình đổi mới hệ thống các trung tâm thông tin – thư viện. Mà trước hết là quá trình nâng cao chất lượng nguồn tin và phương pháp phục vụ.

    Hệ thống thư viện các trường THCS có chức năng giống như các thư viện khác đó là: Chức năng văn hoá; Chức năng thông tin; Chức năng giáo dục; Chức năng giải trí. Hệ thống các trung tâm thông tin – thư viện của các trường THCS để thực hiện tốt chức năng của mình thì vấn đề cốt tử là phải chú trọng tới công tác chọn lọc, sưu tầm, bổ sung vốn tài liệu với số lượng bản lớn, phù hợp với nội dung đào tạo các môn học của trường để phục vụ nhu cầu thông tin khoa học cho cán bộ, giáo viên, học sinh trong hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu dạy và học. Từ sự phân tích trên, ta thấy bổ sung vốn tài liệu trong các trường THCS là một công việc rất quan trọng. Nêú bổ sung vốn tài liệu tốt, thư viện sẽ trở nên gần gũi và gắn liền với đời sống xã hội, phục vụ tốt được nhu cầu của độc giả, củng cố niềm tin của độc giả, phát huy vai trò của thư viện và góp phần truyền tải thông tin , tri thức để đào tạo tốt nhất cho những mầm non của đất nước.

    Ngược laị, nếu bổ sung vốn tư liệu không tốt, thư viện sẽ trở nên lạc hậu, lỗi thời, không theo kịp sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, không phục vụ được nhu cầu của độc giả và tất yếu thư viện đó không thể tồn tại lâu dài. Chính vì vậy, thư viện tại mỗi trường THCS cần xây dựng cho mình một chính sách bổ sung khoa học, có kế hoạch, dựa theo những nguyên tắc nhất định (như nguyên tắc tính tư tưởng, nguyên tắc tính khoa học), cũng như chức năng, nhiệm vụ, thực tế của cơ quan mình.

    II.1.2. Vai trò của công tác phát triển vốn tài liệu trong hoạt động thông tin thư viện của trường học.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển vốn tài liệu tại thư viện các trường THCS nói chung, thư viện trường đã thực hiện công tác phát triển vốn tài liệu thông qua chức năng, nhiệm vụ sau:

    – Giúp tạo bộ sưu tập mới.

    – Chỉnh sửa hoặc thêm mới.

    – Xoá bộ sưu tập đã có.

    – Tóm tắt nội dung các bộ sưu tập đã có trong hệ thống.

    Ngoài việc bổ sung các tài liệu về các môn học, thư viện còn thường xuyên bổ sung các lĩnh vực khác như: văn hoá, chính trị, lịch sử, xã hội. Do công tác bổ sung luôn chịu sự tác động của chế độ xã hội của đất nước nên tính Đảng là nguyên tắc đầu tiên và cũng là nguyên tắc chỉ đạo trong công tác bổ sung vốn tài liệu của các thư viện Trường. Nguyên tắc tính Đảng đòi hỏi cán bộ bổ sung thư viện Trường phải lựa chọn đưa vào những tài liệu phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam như các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin; những văn kiện của Đảng và Nhà nước…

    Giáo viên và học sinh có điều kiện tiếp xúc với nhiều loại hình tài liệu hơn, thu thập nhiều kiến thức hơn và hiệu quả học tập và giảng dạy chất lượng hơn. Với hoạt động này, thư viện đã đảm bảo tính chính xác, tính cập nhật và tần số sử dụng thông tin đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao cho người dùng tin

    trong và ngoài trường.

    III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.

    * Những mặt đã đạt được:

    Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước đòi hỏi các cấp, các ngành phải có những đổi mới phù hợp để phát triển. Đối với hệ thống các cơ quan thông tin thư viện; năm 2001 Pháp lệnh thư viện có hiệu lực thi hành, đánh dấu một bước phát triển mới, một hướng đi mới cho hệ thống thư viện Việt Nam. Pháp lệnh thư viện thông qua đã tạo cho ngành thông tin thư viện một tiếng nói riêng trên diễn đàn văn hóa chung của dân tộc. Cũng chính vì vậy, hệ thống thư viện đang đứng trước nhiệm vụ mới quan trọng và cũng gặp không ít khó khăn.

    Một trong những nhiệm vụ cấp bách của thư viện nói chung và thư viện trừng tôi nói riêng là việc đổi mới nâng cao chất lượng vốn tài liệu. thư viện cần phải xây dựng vốn tài liệu đủ lớn về số lượng, phong phú về chủng loại với chất lượng tốt phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của người dùng tin. Cùng với sự phát triển của hệ thống thư viện trong nước, thư viện nhà trường đang ngày càng khẳng định được vị trí của mình.

    Nhà trường đã chú trọng đến việc đầu tư các hạng mục, nâng cấp cơ sở vật chất cho thư viện. Các phòng, ban được bố trí hợp lý, thuận tiện cho công tác bổ sung, thống kê và phục vụ bạn đọc.

    Sách báo tạp chí trong thư viện được quản lý chặt chẽ, đóng thành tập, bọc và tu sủa thường xuyên đảm bảo cho việc sử dụng lâu dài thuận lợi.

    Thư viện đã có đủ các loại hồ sơ, sổ sách để theo dõi mọi hoạt động của thư viện như: Sổ đăng kí tổng quát, sổ đăng kí cá biệt, sổ đăng kí sách giáo khoa, sổ theo dõi mượn sách của giáo viên và học sinh…

    Ngày 24/5 hằng năm thư viện tổ chức kiểm kê.

    Sách ở trong thư viện được sắp xếp theo từng kho sách riêng biệt và theo khối lớp thuận tiện cho việc mượn trả sách của giáo viên và học sinh.

    Các nguồn bổ sung vốn tài liệu được chú trọng mở rộng và tăng cường về

    nội dung và số lượng bản.

    Kho tài liệu không chỉ phong phú, đa dạng với nhiều thể loại mà còn đảm bảo được giá trị thông tin, đảm bảo được tính chính xác, phạm vi bao quát nội dung, tần số sử dụng. Các tài liệu ở đây hầu hết được bổ sung thường xuyên theo kinh phí Nhà nước và một số nguồn tặng biếu cố định nên đảm bảo tính hiện đại của thông tin trong hệ thống thư viện. Cán bộ thư viện đã cố gắng rất nhiều và sự quan tâm đầu tư đúng mức của lãnh đạo nhà trường, thư viện trường đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc đào tạo nguồn nhân lực, tri thức tương lai cho đất nước. Với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn phù hợp với chuyên ngành cùng với lòng yêu nghề sâu sắc đã đưa thư viện phát triển theo chiều hướng tích cực, đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của người sử dụng.

    * Những mặt hạn chế:

    Mặc dù đã đạt được những thành công đáng kể song trên thực tế nguồn bổ sung vốn tài liệu của thư viện hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề:

    – Cơ sở vật chất vẫn còn nhều thiếu thốn, tủ giá còn ít, số lượng sách tham khảo chưa phong phú, chưa đảm bảo. Mặc dù, sách tham khảo chiếm số lượng khá lớn nhưng thư viện vẫn không đáp ứng được nhu cầu bạn đọc vì hầu hết các loại tài liệu này lạc hậu, lỗi thời.

    Kinh phí phục vụ cho công tác bổ sung vốn tài liệu còn quá eo hẹp và không được giới hạn cố định trong một khoản nhất định cho hoạt động thông tin thư viện trong một năm. Điều này đã gây khó khăn cho công tác bổ sung bởi những tài liệu được bổ sung hầu hết phụ thuộc vào sự xét duyệt của phòng Giáo dục.

    Mặc dù đã triển khai hệ thống thư viện điện tử trong hoạt động thông tin nhưng cho đến hiện nay, số lượng máy tính có được còn rất hạn chế chưa đủ để đáp ứng nhu cầu áp dụng tin học hóa vào trong hoạt động thông tin thư viện.

    III.2.1. Vấn đề kinh phí.

    III.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trong công tác phát triển vốn tài liệu của Thư viện nhà trường.

    Trên cơ sở đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu các nguồn bổ sung vốn tài liệu của thư viện trường học, tôi xin đưa ra một số kiến nghị và giải pháp hy vọng sẽ đóng góp phần nào trong việc mở rộng nguồn khai thác mở rộng vốn tài liệu, nâng cao chất lượng nguồn tin của thư viện trường.

    Hàng năm, lãnh đạo nhà trường cần dành riêng một khoản kinh phí nhất

    định cho hoạt động thông tin thư viện nói chung và công tác bổ sung vốn tài liệu nói riêng. Với nguồn kinh phí cụ thể để cán bộ thư viện có thể chủ động hơn trong công tác bổ sung vốn tài liệu. Lập chương trình hoạt động và có kế hoạch đầu tư sách.Ngoài ra thư viện đã có kế hoạch cụ thể để mua sắm cơ sơ vật chất

    III.2.2. Trú trọng bổ sung các loại tài liệu đặc thù cho đối tượng người thông tin của thư viện.

    trong thư viện. Các loại hình tài liệu sẽ được bổ sung đồng đều hơn. Những loại tài liệu mới, nhu cầu bạn đọc cao sẽ được bổ sung nhanh chóng.

    Để đảm bảo hệ thống vốn tài liệu chất lượng cao, thư viện trường THCS xây dựng kế hoạch huy động các nguồn quỹ để bổ sung sách và xây dựng cơ sơ vật chất trong thư viện nhưng do các nguồn bổ sung còn hạn chế nên không tránh khỏi dẫn tới tình trạng tài liệu bị cắt giảm, hạn chế các nguồn tài liệu. Chính vì vậy, điều thiết yếu nhất cho công tác bổ sung tài liệu là tăng thêm nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước.

    Thư viện cần phải khắc phục tình trạng học chay cho học sinh bằng việc đầu tư một khoản kinh phí cho việc bổ sung các sách giáo trình đại cương và các máy chiếu, máy tính. Đây là loại hình tài liệu cung cấp những kiến thức cơ bản cho học sinh, có nhu cầu cao và được sử dụng thường xuyên nên việc đáp ứng đầy đủ loại hình này là rất cần thiết.

    III.2.3. Mở rộng nguồn bổ sung và hình thức bổ sung.

    Thư viện vẫn chưa chú trọng tới việc bổ sung các tài liệu mang tính chất giải trí hay những loại tài liệu mang tính chất xã hội.

    III.2.4. Trú trọng bổ sung các tài liệu phi giấy.

    Mặc dù là trường THCS nhưng việc bổ sung các loại hình tài liệu này là điều rất cần thiết vì nó có thể mở rộng vốn kiến thức và sự hiểu biết của bạn đọc.

    Bổ sung vốn tài liệu không chỉ dừng lại ở việc trao đổi, tặng biếu hay mua từ các nhà xuất bản, thư viện cần thông qua mạng thông tin toàn cầu Internet để tìm kiếm những nguồn tin phục vụ cho công tác bổ sung.

    Ngoài các tài liệu truyền thống, thư viện cần đẩy mạnh công tác bổ sung những tài liệu hiện đại như: băng từ, đĩa từ, đĩa CD-ROM, … Những tài liệu này tuy chưa được sử dụng rộng rãi nhưng cũng cần được bổ sung để độc giả có điều kiện làm quen với các loại hình tài liệu mới và phát huy thế mạnh của trường

    III.2.5. Các giải pháp hỗ trợ khác.

    Mỗi thư viện đều có số lượng vốn tài liệu nhất định và mang những nét đặc trưng riêng. Về cơ bản vốn tài liệu của tất cả thư viện đều đựơc cấu thành bởi hai dạng tài liệu đó là tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại.

    Trước đây, vốn tài liệu có trong thư viện chỉ dừng lại ở tài liệu truyền thống như sách, báo, tạp chí. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, hàng loạt các tài liệu mới được ra đời và mang tính năng vượt trội. Vật mang tin không chỉ đơn thuần là sách, báo mà nó còn bao gồm các băng, đĩa.

    Việc tìm kiếm và bổ sung vốn tài liệu là trách nhiệm của mỗi cán bộ trong

    các thư viện. Do vậy, thư viện cần phải thường xuyên lập kế hoạch điều tra xác

    định cụ thể nhu cầu của bạn đọc, xây dựng chiến lược ngắn hạn và dài hạn để thực hiện đúng chức năng của thư viện là phục vụ nhu cầu tin bạn đọc một cách đầy đủ và hiệu quả nhất.

    Những nguồn tài liệu tặng biếu có giá trị, do chỉ có một hoặc hai bản nên thư viện cần có các hình thức sao chụp và có những biện pháp bảo quản thích hợp.

    Các phòng ban trong cơ cấu tổ chức của thư viện trường học được trang bị

    tương đối đầy đủ về trang thiết bị cơ sở vật chất. Vì vậy, thư viện cũng cần có

    dự án xây dựng kho mở để phục vụ bạn đọc một cách tốt hơn.

    Cán bộ thông tin thư viện trong thư viện trường học được đào tạo theo đúng chuyên ngành. Song, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay nhà trường cũng cần tạo điều kiện cho cán bộ thư viện nâng cao trình độ

    chuyên môn và thông qua các lớp nâng cao nghiệp vụ, các dự án hay các chương trình giới thiệu những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thư viện…

    Sau hai năm học áp dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm cho thấy vốn tài liệu của thư viện nhà trường tăng lên đáng kể; qua theo dõi sổ nhật kí thư viện của nhà trường cũng cho thấy tỷ lệ giáo viên và học sinh vào thư viện đọc sách ngày một tăng, ngày một nhiều giáo viên và học sinh ham thích đọc sách và yêu sách, vòng quay của sách tăng lên đáng kể góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường

    Thông qua sơ đồ hình cột thống kê số lượt bạn đọc đến thư viện trong 5 năm (2012 – 2021) ta đã thấy tốc độ bạn đọc đến thư viện ngày một tăng đáng kể. Trong 3 năm 2012, 2013,1014 số lượt bạn đọc đến thư viện tăng không đáng kể, nhưng từ năm 2021 số lượt bạn đọc đã tăng vọt từ 12500 lượt bạn đọc trong năm

    I. KẾT LUẬN.

    016 đã tăng 19800 lượt trong năm.

    Biểu đồ trên đã cho thấy sách là loại hình tài liệu chiếm số lượng lớn nhất. Trong quá trình học tập và giảng dạy tại trường, sách luôn được đông đảo học sinh và cán bộ trong nhà trường quan tâm bởi đây là loại hình tài liệu quen thuộc, có nội dung phong phú phù hợp với tính chất của nhà trường. Số lượng các loại sách hiện có trong thư viện.Từ kết quả thu được sau khi nghiên cứu và áp dụng đề tài này tôi nhận thấy đề tài rất thiết thực và hiệu quả, đồng thời bản thân là cán bộ thư viện cần phải làm tốt công việc của mình, phải thấy hết trách nhiệm và tâm huyết với nghề.

    Trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu. Đây là cơ hội hết sức thuận lợi, song cũng gặp không ít khó khăn cần phải vượt qua của ngành giáo dục nói chung và trường học nói riêng. Sự đổi mới giáo dục, đào tạo trong phương pháp giảng dạy của người giáo viên và học tập của người học sinh phải được quán triệt song hành với việc đổi mới hệ thống các trung tâm thông tin –

    thư viện trong các trường THCS.

    Hiện nay, thư viện nhà trường đang phục vụ bạn đọc với trên 5750 các ấn phẩm trong đó:

    Sách chiếm 4750 bản( 79%)

    Báo; tạp chí gồm 1000 bản (21%)

    Thành phần vốn tài liệu của thư viện trường được thể hiện qua biểu đồ hình tròn

    Sau:

    Biểu đồ số: Thành phần vốn tài liệu có trong thư viện

    Biểu đồ trên đã cho thấy sách là loại hình tài liệu chiếm số lượng lớn nhất

    Đây chính là nơi giúp cho giáo viên và học sinh có điều kiện tự học tập, tự nghiên cứu. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông phát triển như vũ bão. Vì vậy, thư viện phải là nơi được hiện đại hoá đầu tiên về cơ sở vật chất, thao tác nghiệp vụ trong quản lý và trong việc phát triển nguồn tin để đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin nâng cao chất lượng phục vụ thông tin cho thầy và trò của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội trong thời kỳ đổi mới.

    II. KHUYẾN NGHỊ.

    Một khâu then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả phục vụ thông tin cho thầy và trò của trường chính là nguồn lực thông tin. Nhiều năm qua thư viện trường học đã xác định xây dựng một nguồn lực thông tin đầy đủ về số lượng, phù hợp về nội dung và đa dạng về hình thức trên cơ sở phù hợp với nội dung nhu cầu thông tin của người dùng tin của thư viện trường.

    Đối với Phòng Giáo dục: Cần quan tâm và chỉ đạo sát sao, tiếp tục đầu tư về trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của thư viện nhà trường; bổ sung thêm cho thư viện nhà trường các loại sách, báo, tạp chí…

    Đối với Ban giám hiệu nhà trường: Tiếp tục đầu tư tu bổ về cơ sở vật chất, huy động mọi nguồn lực trong xã hội vào công tác phát triển vốn tài liệu của thư viện nhà trường.

    Đối với tổ công tác thư viện: Cần phối hợp chặt chẽ với cán bộ thư viện trong việc triển khai kế hoạch hoạt động của thư viện.

    Tôi xin trân thành cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Mô Hình Thư Viện Trường Học Thân Thiện Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Làm Gì Để Thư Viện Hoạt Động Hiệu Quả ?
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Thư Viện Trường Chính Trị Lê Duẩn
  • Nâng Cao Chất Lượng Thư Viện Trường Học
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Thư Viện Trường Tiểu Học Lê Lợi
  • Số Hóa Tài Liệu Trong Thư Viện

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Hệ Thống Số Hóa Tài Liệu
  • Giải Pháp Số Hóa Tài Liệu
  • Dịch Vụ Số Hóa Tài Liệu Chất Lượng, Uy Tín
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Giúp Trẻ 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Sáng Tạo Trong Tổ Chức Hoạt Động Cho Trẻ 4
  • Trong thời đại công nghệ 4.0 thì việc áp dụng công nghệ thông tin vào trong mọi lĩnh vực, ngành nghề đã không còn là điều xa lạ. Các bạn có thể thấy những phần mềm, công cụ điện tử, thiết bị máy móc,… đã dần len lỏi có mặt trong nhiều công đoạn và quy trình sản xuất, sáng tạo giúp ích phục vụ thỏa mãn nhu cầu con người. Trong lĩnh vực thư viện thì có thể kể đến một khía cạnh về sự can thiệp của công nghệ giúp phục vụ người dung tin được tốt hơn đó là số hóa tài liệu.

    Số hóa tài liệu là một hình thức hiện đại mới trong việc chuyển đổi và lưu trữ thông tin. Cụ thể và dễ hình dung nhất đó là số hóa tài liệu dạng giấy với nhiều khổ cỡ khác nhau xuất ra nhiều dạng tập tin khác nhau như PDF, BMP, JPG,… hoặc số hóa hình ảnh, hiện vật sang các file lưu trữ phần mềm như đĩa, ổ cứng,… Vậy ta có thể hiểu đơn giản Số hóa tài liệu trong thư viện là hình thức chuyển đổi các dạng tài liệu của thư viện từ truyền thống (sách, báo, tạp chí, truyện tranh,…) và các loại tài liệu khác như ( tranh, ảnh, bản đồ, hình vẽ,..) sang chuẩn dữ liệu trên các thiết bị số và các dữ liệu có thể sử dụng phục vụ cho người đọc và dễ quản lý cho cán bộ thư viện.

    Những lợi ích của việc số hóa tài liệu trong thư viện:

    – Đầu tiên việc số hóa tài liệu sẽ giúp làm giảm thiểu đáng kể diện tích và không gian lưu giữ.

    – Thứ hai đó là giúp việc bảo quản và duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống sẽ được kéo dài lâu hơn.

    – Thứ ba là dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện.

    – Thứ tư là tiện ích trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng.

    – Thứ năm là thuận lợi trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin của thư viện với các thư viện khác.

    – Thứ sáu là giảm thiểu tối đa sức người, sức của cho việc quản lý nguồn tài nguyên thông tin truyền thống.

    – Thứ bảy là góp phần nhanh chóng tái tạo thông tin mới có giá trị gia tăng cao hơn.

    Tốc độ số hóa tài liệu ở Việt Nam hiện nay

    Sau hơn 20 năm triển khai số hóa tài liệu, thì đến thời điểm hiện nay tốc độ số hóa tài liệu ở các thư viện nước ta vẫn còn bị chậm bởi nhiều khó khăn cản trở. Vì vậy để trở thành một nước với nền số hóa đi đầu trong tất cả mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực thư viện đòi hỏi các thư viện cần liên kết chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện nhiều cách làm số hóa tài liệu hiệu quả, góp phần phục vụ bạn đọc ngày càng tốt hơn.

    Với tình hình hiện nay nhận thấy nhiều lợi ích của số hóa tài liệu, ngay từ khi internet chưa đến Việt Nam, một số thư viện lớn như Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Khoa học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh đã tiên phong thực hiện. Hiện nay, số hóa tài liệu đã trở thành một hoạt động nghiệp vụ thư viện phổ biến và được nhiều đơn vị ngành nghề tin dùng, nhưng quá trình thực hiện nhanh hay chậm tùy thuộc vào kinh phí và nhân lực mà các thư viện có được. Kinh phí cơ quan chủ quản cấp cho thư viện hiện nay chủ yếu phục vụ việc mua sách in mới, bảo quản, kiểm kê tài liệu đang lưu trữ.

    Số hóa tài liệu trong thư viện quân đội

    Thư viện Quân đội là một điểm sáng nổi bật trong những thư viện có tốc độ số hóa tài liệu tương đối nhanh hiện nay, với 600-700 đầu sách số hóa/năm. Theo trung tá Mạc Thùy Dương hiện đang là Phó giám đốc Thư viện Quân đội đã cho chúng tôi biết: “Thư viện Quân đội đã được Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công tác số hóa tài liệu như: Máy số hóa tài liệu tự động của Áo rất hiện đại, nâng cấp phần mềm quản lý tài liệu số… Đây là những điều kiện cần thiết để Thư viện Quân đội tiếp tục đẩy nhanh tốc độ số hóa, phục vụ một cách tốt hơn nhu cầu bạn đọc trong và ngoài quân đội”.

    Các thư viện cũng xác định được số hóa tài liệu là việc cần thiết, phải được duy trì thường xuyên nhưng cần phải lựa chọn tài liệu xưa cũ có nguy cơ bị hư hỏng cao, những tài liệu quý, những tài liệu có độc bản và tài liệu bạn đọc có nhu cầu cao để tiến hành số hóa trước tiên. Những tài liệu được ưu tiên số hóa gồm những tài liệu chữ Hán Nôm, sách, báo và các tạp chí trước năm 1954, riêng với Thư viện Quốc gia là các luận án tiến sĩ.

    Việc số hóa tài liệu của các thư viện hiện nay đang diễn ra theo tình trạng “một mình mình biết, một mình mình hay”, ít khi chia sẻ tài liệu số hóa với nhau. Ông Nguyễn Xuân Dũng, Phó giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam, nêu kinh nghiệm: “Ở nước ngoài, việc số hóa tài liệu được giao cho một đầu mối. Đầu mối này sẽ nhận kinh phí trực tiếp từ nhà nước, các cá nhân và tổ chức khác nhau; từ đó làm hoạt động điều phối giữa các thư viện, tránh chồng chéo bởi các thư viện thường có nguồn tài liệu lưu trữ giống nhau. Ngoài ra, quy vào một đầu mối sẽ quy chuẩn được các tiêu chí số hóa tài liệu (độ phân giải ảnh chụp tài liệu, cách làm biên mục…), để đến khi cần chia sẻ tài liệu với thư viện các nước bạn không mất thời gian xử lý lại”.

    Nhu cầu số hóa tài liệu trong thư viện trong tương lai

    Với lượng sách xuất bản hiện nay ngày càng nhiều sẽ để lại một lượng sách phải tiến hành số hóa lớn trong tương lai; vì vậy, cần phải có quy định mới là khi các nhà xuất bản (NXB), cá nhân nộp sách và tài liệu lưu chiểu bên cạnh bản in cần có bản số hóa để không làm khó các thư viện về sau. Ngoài ra, có một số giải pháp khác để giải quyết vấn đề trên cũng cần được nhân rộng đó là thư viện liên kết với nhà xuất bản để có thể sử dụng chung tài liệu số hóa như Thư viện tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu liên kết với NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh và NXB Trẻ. Các NXB thường số hóa sách in để bán giá rẻ cho độc giả thích đọc trên các thiết bị số; thư viện sẽ dùng các tài liệu số hóa để cho bạn đọc sử dụng trực tuyến có tính phí thông qua hình thức làm thẻ thư viện. Các thư viện cũng có thể liên kết với các cá nhân sở hữu lượng sách lớn thường xuyên số hóa tài liệu để lưu trữ dài lâu.

    Các bước số hóa tài liệu trong thư viện

    Một Quy trình số hóa tài liệu sẽ được tiến hành như thế nào ? Nó sẽ trải qua 8 bước làm việc :

    – Bước 1: Lựa chọn, phân loại tài liệu để tiến hành số hóa

    – Bước 2: Tiến hành scan tài liệu bằng máy chuyên dụng

    – Bước 3: Xử lý tập tin, hình ảnh bằng phần mềm chuyên dụng

    – Bước 4: Chuyển dạng PDF và nhập file PDF đơn lẻ thành 1 file PDF sách điện tử

    – Bước 5: Cách tiến hành bóc tách tài liệu đang ở dạng PDF

    – Bước 6: Tiến hành lưu file trên đĩa cứng, ghi đĩa, chép đĩa, xem thử sản phẩm

    – Bước 8: Tiến hành hoạt động check, kiểm tra sản phẩm, phục vụ,… hoàn thành một sản phẩm số hóa.

    Dịch vụ số hóa tài liệu trong thư viện

    Theo thời gian, số lượng thư viện sẽ ngày càng tăng lên đồng nghĩa với việc số lượng tài liệu sẽ ngày càng nhiều hơn. Gây khó khăn trong quá trình tìm kiếm, lưu trữ và giữ gìn. Khi đó nhu cầu số hóa tài liệu trong thư viện sẽ tăng theo. Dịch vụ số hóa tài liệu trong thư viện sẽ giúp các thư viện tiết kiệm được không gian lưu trữ, dễ dàng tìm kiếm, chuyển giao và không lo hỏng hóc, mục nát với các tài liệu quan trọng của thư viện.

    Là một trong những đơn vị đầu tiên gia nhập vào thị trường số hóa tài liệu của Việt Nam. Trải qua nhiều năm hoạt động, đến nay FSI trở thành đơn vị đi đầu về dịch vụ số hóa tài liệu trên thị trường Việt Nam.

    Những lợi thế cạnh tranh của FSI trong lĩnh vực số hóa tài liệu:

    • Đơn vị cung cấp giải pháp chuyển đổi số uy tín hàng đầu Việt Nam.
    • Với công nghệ mới nhận dạng và bóc tách thông tin tự động IONE giúp tăng độ chính xác và tiết kiệm thời gian, chi phí cho khách hàng.
    • Là đơn vị có năng lực thực tiễn, kinh nghiệm triển khai nhiều dự án số hóa tài liệu, xây dựng CSDL trọng điểm cho các bộ ngành, các tỉnh và các tập đoàn.
    • Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ số hóa tài liệu đáp ứng mọi thể loại, kích cỡ và hình thức tài liệu: tài liệu giấy, sách, bản vẽ, video…
    • Đội ngũ nhân sự triển khai số hóa đông đảo được đào tạo bài bản, giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Số Hóa Tài Liệu Lưu Trữ Là Gì? Dịch Vụ Số Hóa Tài Liệu Uy Tín
  • Công Nghệ Và Các Giải Pháp Sáng Tạo Bao Phủ Chăm Sóc Sức Khỏe Toàn Dân
  • Nhiều Giải Pháp Sáng Tạo Của Học Sinh Gắn Liền Với Thực Tế Đời Sống
  • Ngày Đa Dạng Sinh Học: Giải Pháp Sẵn Có Trong Thiên Nhiên
  • Tìm Giải Pháp Giúp Giới Trẻ Ứng Xử Văn Minh Trên Mạng Xã Hội
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn, Tài Chính Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Luận Án Đánh Giá Thực Trạng Và Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Tại Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Ở Việt Nam
  • Tiếp Tục Phát Triển Thị Trường Vốn Cả Về Chiều Rộng Và Chiều Sâu
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Gạo Bền Vững
  • Phát Triển Thị Trường Là Gì? Chiến Lược Phát Triển Thị Trường
  • Bên cạnh đó còn có đại diện Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, Đại sứ Australia tại Việt Nam – ông Craig Chittick, Đại sứ Israel tại Việt Nam – ông Nadav Eshcar, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam – ông Kim Do Hyon, các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty bảo hiểm, các chuyên gia về vốn, tài chính, công nghệ… trong nước và quốc tế.

    Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại Diễn đàn. (Ảnh: DL)

    Phát biểu tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh, tới thời điểm hiện tại, quy mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn so với các nước trong khu vực; đặc biệt là khả năng cung ứng vốn còn hạn chế, chưa phát huy hết vai trò là kênh dẫn vốn của nền kinh tế, tỷ lệ vốn hóa từ các thị trường như bất động sản, chứng khoán… còn hạn chế. Cấu trúc thị trường trái phiếu mất cân bằng.

    Cũng theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn cao trong khi tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn thấp khiến nền kinh tế không đủ nguồn lực bảo đảm phát triển bền vững. Thị trường vốn vẫn phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng ngân hàng, thị trường tín dụng phát triển thiếu tính ổn định. Hệ thống luân chuyển dòng vốn cũng chưa hiệu quả, thể hiện qua sự bất hợp lý trong việc phân bổ nguồn lực giữa các ngành kinh tế.

    Phó Thủ tướng mong muốn các diễn giả đánh giá “sức khỏe” các chủ thể tham gia thị trường vốn, thị trường tài chính bởi đây là điều đang khiến Chính phủ băn khoăn. Bởi lẽ, theo con số từ Tổng cục Thống kê, tính đến 31/2/2016, có đến 53% doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam không có lợi nhuận. Tỷ lệ này đã có bước tiến so với những năm trước nhưng vẫn còn thiếu khả quan. Tỷ lệ 53% doanh nghiệp không có lời phải chăng là do vốn mỏng gây nên? Nhiều doanh nghiệp hiện nay hoạt động chủ yếu dựa vào vốn ngân hàng, dự án đầu tư có vốn chủ sở hữu thấp, do đó chi phí tài chính rất cao. Vậy giải pháp sắp tới là gì?

    Theo ông Fiachra MacCanna, Giám đốc điều hành, Giám đốc bộ phận phân tích Công ty Chứng khoán TP. HCM (HSC), vốn dài hạn là một trong những giải pháp cho các ngân hàng cần nâng vốn, đồng thời giúp ngân hàng thương mại cung cấp các gói vay thế chấp kỳ dài hạn hơn. Việc thiếu vốn dài hạn cũng dẫn tới hạn chế nguồn mua lại cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp.

    Vốn dài hạn là một trong những giải pháp cho các ngân hàng cần nâng vốn, đồng thời giúp ngân hàng thương mại cung cấp các gói vay thế chấp kỳ dài hạn hơn. (Nguồn: VNA)

    Nêu giải pháp cho vấn đề này, theo ông Fiachra MacCanna, phát triển quỹ hưu trí tư nhân là cần thiết cho việc cung cấp vốn dài hạn cho nền kinh tế bởi phần lớn đầu tư của các quỹ hưu trí tư nhân tập trung vào trái phiếu và cổ phiếu. Với thị trường vốn, chứng lưu ký không có quyền biểu quyết và cổ phần vàng sẽ là giải pháp cho nâng trần khối ngoại. Còn với thị trường trái phiếu, quỹ xếp hạng tín nhiệm là cần thiết cho việc phát triển dài hạn bởi việc phát hành trái phiếu có thể bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm.

    Về giải pháp mở rộng thị trường vốn dài hạn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, theo ông Ketut Kusuma, chuyên gia cao cấp về thị trường vốn Ngân hàng Thế giới, là tăng cường tính minh bạch của dữ liệu, thông tin, hiện đại hóa khung pháp lý và cơ sở hạ tầng thị trường, nâng cao năng lực giám sát. Với thị trường chứng khoán, cần lồng ghép chiến lược cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vào phát triển thị trường, hướng tới tham gia vào các chỉ số của thị trường mới nổi nhằm minh bạch hóa hơn thông tin về phân khúc và hợp nhất thị trường.

    “Với thị trường trái phiếu chính phủ thì cần tiếp tục công cuộc cải cách, hướng tới tham gia vào các chỉ số của thị trường mới nổi toàn cầu” – ông Ketut Kusuma chia sẻ.

    Hàn Quốc hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy thị trường vốn đầu tư mạo hiểm

    Chiều 26/10, tại Hà Nội, Lotte Accelerator (Hàn Quốc) và Vietnam Silicon Valley Accelerator (VSVA) đã chính thức công bố Hợp tác chiến lược giữa …

    Chính phủ rất coi trọng phát triển thị trường vốn

    Đây là khẳng định của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại hội nghị “Gateway to …

    Lạc quan về thị trường bất động sản nhà ở tại Việt Nam

    Theo bà Regina Lim, Giám đốc Bộ phận Thị trường vốn, Công ty nghiên cứu bất động sản toàn cầu Jones Lang Lasalle (JLL), 9 …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Chính Phủ Tại Việt Nam Hiện Nay
  • Gỡ ‘nút Thắt’ Thị Trường Mua Bán Nợ Xấu
  • Những Giải Pháp Tạo Lập Thị Trường Mua Bán Nợ
  • Phát Triển Thị Trường Mua, Bán Nợ Xấu Tập Trung Giải Pháp Bền Vững Cho Xử Lý Nợ Xấu Tại Việt Nam
  • 6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam
  • Bộ Tài Chính Đưa Ra Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tiền Tệ Việt Nam
  • 11 Cách Tiết Kiệm Điện Cho Gia Đình
  • Cách Tiết Kiệm Điện Hiệu Quả Khi Sử Dụng Các Thiết Bị Điện Cho Gia Đình
  • Công Ty Điện Lực Điện Biên
  • Các Giải Pháp Tiết Kiệm Năng Lượng Trong Hệ Thống Lò Hơi
  • Ngoài các giải pháp quản lý, Bộ Tài chính chỉ đạo đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán, phát triển thị trường chứng khoán phái sinh.

    Thứ trưởng Bộ Tài Chính Vũ Thị Mai cho biết tại họp báo chính phủ chiều 29/10: Tính đến 19/10/2016, chỉ chố VNIndex đã đạt 688,9 điểm, tăng 1,6% so với cuối tháng trước, tăng 19% so với cuối năm 2021. Chỉ số HNXindex đóng cửa ở mức 85,5 điểm và tăng 0,6% so với cuối tháng trước và tăng 7% so với cuối năm 2021. Mức vốn hóa của thị trường đạt 1.687.000 tỷ, tăng 24% so với cuối năm 2021, tương đương 40% GDP. Phải nói đây là những kết quả hết sức tích cực trên thị trường chứng khoán.

    Về giá trị giao dịch, quy mô giao dịch bình quân của phiên đã đạt 8.500 tỷ, tăng 4% so với tháng trước, trong đó giao dịch TPCP là 5.400 tỷ, tăng 14%. Giao dịch cổ phiếu chứng chỉ quỹ đạt 3.080 tỷ/phiên.

    Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai

    Để thúc đẩy thị trường vốn tiếp tục phát triển và phát triển mạnh, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho biết, các giải pháp chủ yếu được đưa ra là: Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý và giám sát thị trường; tăng cung hàng hóa cho thị trường và cải thiện chất lượng nguồn cung.

    Về cụ thể thì gồm các giải pháp: Nâng cao chuẩn mực về kế toán và báo cáo tài chính, công bố thông tin và quản trị thông tin theo thông lệ quốc tế, đa dạng phương thức chào bán chứng khoán, đổi mới phương thức định giá và gắn cổ phần hóa DNNN với niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đây cũng là giải pháp ta đang tích cực triển khai và thực hiện đề án Tái cơ cấu nền kinh tế trong đó có đề án tái cơ cấu DNNN gắn bó mật thiết với giải pháp này để thúc đẩy cổ phần hóa DNNN và thông qua thị trường chứng khoán.

    Đồng thời, đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán, phát triển thị trường chứng khoán phái sinh. Hiện, các văn bản về chứng khoán phái sinh đã được ban hành và Bộ Tài chính đã chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chuẩn bị tích cực về cơ sở hạ tầng, hệ thống CNTT để đưa thị trường chứng khoán phái sinh đi vào hoạt động trong năm 2021. Tiếp tục hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, cải thiện chất lượng đầu tư nhằm hướng tới cầu đầu tư bền vững.

    Đồng thời là giải pháp nâng cao năng lực trong hệ thống các tổ chức trung gian. Giải pháp tái cấu trúc tổ chức thị trường, tức là tổ chức lại 2 Sở Giao dịch chứng khoán hiện nay, hoàn thiện mô hình tổ chức đồng thời căn cứ theo thông lệ quốc tế, triển khai hạ tầng CNTT đồng bộ, hiện đại tại Sở Giao dịch chứng khoán cũng như tại trung tâm lưu ký để phục vụ cũng như quản lý các nhà đầu tư, các công ty chứng khoán; hiện đại hóa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để tăng cường chức năng quản lý Nhà nước. Đồng thời tăng cường chức năng quản lý giám sát và cưỡng chế thực thi. Đây là những giải pháp rất cơ bản để phát triển thị trường vốn của Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tài Chính Tại Việt Nam
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tài Chính Tại Việt Nam
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cổ Phần Đào Tạo Và Chuyển Giao Công Nghệ Cao Bách Khoa
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cp Đào Tạo Và Chuyển Giao Công Nghệ Cao Bách Khoa
  • Giải Pháp Quản Lý Hiệu Quả Tài Sản Công
  • Vốn Xã Hội – Tài Sản Cho Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Ở Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)

    --- Bài mới hơn ---

  • Vốn Xã Hội, Tinh Thần Kinh Doanh Và Khả Năng Thích Ứng Tác Động Đến Hiệu Quả Hoạt Động Của Doanh Nghiệp Có Vốn Nhà Nước
  • Npp Chính Thức Tại Việt Nam
  • Van An Toàn, Van Xả Áp, Van An Toàn Cho Hơi, Van An Toàn Hơi
  • Nguyên Lí Hoạt Động Hệ Thống Phun Xăng Điện Tử Fi
  • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Phun Xăng Điện Tử Trên Xe Máy
  • Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về những loại vốn đóng vai trò nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội như vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn thể chế, vốn văn hóa và vốn xã hội, trong đó, vốn xã hội được nhận định là một nguồn lực có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mang lại lợi ích cho các bên tham gia và là nguồn lực vốn quan trọng trong phát triển du lịch.

    Vốn xã hội là gì?

    Khái niệm vốn xã hội (social capital) đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực du lịch. Phần lớn các học giả cho rằng L.J. Hanifan (một quan sát viên quốc gia các trường học vùng nông thôn ở Tây Virginia – Mỹ) là người đầu tiên đưa ra khái niệm thuật ngữ này vào năm 1916 và từ những năm 1980 trở lại đây thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội quan tâm nhiều hơn và trở nên phổ biến hơn. Theo Hanifan: “Vốn xã hội là những giá trị vô hình được tích lũy trong đời sống hàng ngày của con người, như thiện chí, sự đoàn kết, sự đồng cảm, quan hệ xã hội giữa các cá nhân và cộng đồng tạo nên một chỉnh thể xã hội. Mỗi cá nhân sẽ trở nên lạc lõng nếu làm việc đơn độc. Nhưng nếu họ giao tiếp với những người xung quanh, những giá trị xã hội sẽ được tích lũy, nó sẽ mang lại lợi ích cho cá nhân mỗi người cũng như cho xã hội và cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của toàn cộng đồng” . Như đã đề cập ở trên, có thể có và cần nhiều nguồn lực cho phát triển du lịch cộng đồng như vốn tài nguyên, vốn tài chính, vốn con người, vốn thể chế, vốn văn hóa và vốn xã hội. Hiện nay, vốn xã hội đang được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội trong đó có phát triển du lịch cộng đồng. Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng, giúp cho người dân có thể trực tiếp quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển sản phẩm, tiếp cận khách du lịch, nâng cao năng lực, nhận thức, tăng cường sự tham gia vào hoạt động du lịch từ đó hưởng lợi từ hoạt động du lịch do mình tổ chức, quản lý, khai thác để nâng cao đời sống, bảo tồn các giá trị tự nhiên – văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội của chính cộng đồng địa phương.

    Vốn xã hội trong phát triển du lịch du lịch cộng đồng và các bên tham gia

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

    Vốn xã hội và phát triển du lịch cộng đồng

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

    Sự tin cậy là chìa khoá cho việc phát triển vốn xã hội và được xem như là một yếu tố trong việc kết nối và tạo dựng các mối quan hệ trao đổi, hợp tác và mạng lưới. Từ sự tin tưởng, cộng đồng sẽ được trao thêm quyền, tăng cường năng lực trong phát triển du lịch và ngược lại cộng đồng sẽ tin tưởng vào các bên tham gia và tăng khả năng trao đổi, hợp tác cùng phát triển du lịch.

    Văn hoá hoạt động tập thể và sự trao đổi, quan hệ hợp tác có thể giúp tăng sự sáng tạo và hiệu quả, tạo ra nguồn năng lượng cho phát triển du lịch, tác động tích cực lên tình hình tài chính và trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh du lịch đang có những thay đổi nhanh chóng. Các hoạt động tập thể, sự trao đổi, hợp tác trong cộng đồng là các hoạt động chung trong các mối quan hệ ngang và dọc (với các bên tham gia như chính quyền địa phương, cộng đồng lân cận, quản lý du lịch, doanh nghiệp du lịch…).

    Mạng lưới xã hội là một yếu tố quan trọng của vốn xã hội, thúc đẩy sự phát triển du lịch cộng đồng. Có mạng lưới chính thức như các tổ chức hiệp hội du lịch, hiệp hội lữ hành, hiệp hội hướng dẫn viên, mạng lưới du lịch cộng đồng, câu lạc bộ du lịch cộng đồng… và mạng lưới không chính thức như họ hàng thân thích, bạn bè, người quen, đại lý du lịch…

    Vốn xã hội được phát huy trong phát triển du lịch cộng đồng có thể giúp cải thiện hoạt động du lịch như huy động nguồn lực cho phát triển du lịch từ tài chính đến đất đai đến nguồn nhân lực…, tạo nhiều ý tưởng sáng tạo trong phát triển sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và tăng khả năng tiếp cận thị trường cũng như hạn chế những lo ngại về vấn đề bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Vốn xã hội, cụ thể là về sự tin tưởng, các hoạt động chung trong cộng đồng cũng như phát triển qua mạng lưới xã hội có thể giúp tăng trưởng kinh tế thông qua những sáng tạo mới. Tuy nhiên, nghiên cứu về nguồn lực vốn xã hội tập trung vào xây dựng niềm tin, các hoạt động chung cũng như mạng lưới chính thức hay phi chính thức nhằm phát triển Du lịch cộng đồng ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được thực hiện rộng rãi, bài bản. Cần thiết có những nghiên cứu cụ thể hơn về vốn xã hội và vai trò của nó trong phát triển du lịch cộng đồng để giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng nói riêng như vấn đề về phát triển và phân phối sản phẩm, cơ chế và chia sẻ lợi ích nhất là sự vào cuộc của các bên tham gia trong phát triển du lịch cộng đồng./.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Quốc hội, Luật du lịch, Luật số: 09/2017/QH14.

    2. Phùng Thị Hằng, Ảnh hưởng của vốn xã hội đến lợi ích của người dân địa phương trong phát triển du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải đông bắc, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.

    3. The Asia Foundation, ViRi, Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng.

    4. Doohyun Hwang, Luận án “Tác động của vốn xã hội đến hành động dựa vào cộng đồng trong phát triển du lịch: Nghiên cứu phân tích mạng lưới xã hội”, Đại học Illinois tại Urbana-Champaign, Hoa Kỳ.

    5. Purwanti Dyah Pramanik, Rahmat Ingkadijaya, Mochamad Achmadi, Vai trò của vốn xã hội trong du lịch dựa vào cộng đồng, Sekolah Tinggi Pariwisata Trisakti, Jakarta, Indonesia.

    6. https://en.wikipedia.org/wiki/Social_capital

    TS. Đỗ Thị Thanh Hoa

    Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xà Gồ Là Gì? Các Loại Xà Gồ Và Những Ứng Dụng Của Nó Trong Xây Dựng
  • Xà Gồ Là Gì? Các Loại Xà Gồ U, C, Z Giá Tốt
  • Xà Gồ Là Gì? Có Ứng Dụng Gì Đặc Biệt Trong Xây Dựng
  • Xà Gồ Là Gì? Công Dụng Của Xà Gồ Trong Xây Dựng
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Và Công Dụng Của Xà Gồ
  • Skkn Một Số Biện Pháp Bổ Sung Vốn Tài Liệu Cho Thư Viện Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Nga Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Lắp Đặt Mạng Lan Quang Nội Bộ
  • Giải Pháp Mạng Văn Phòng
  • Lắp Đặt Tổng Đài Điện Thoại Nội Bộ 4.0 Nên Thuê Hay Mua
  • Giải Pháp Tổng Đài Điện Thoại Nội Bộ Cho Doanh Nghiệp
  • Cách Lắp Đặt Hệ Thống Điện Thoại Nội Bộ Trong Nhà Cao Tầng
  • 1.1 Lí do chọn đề tài

    Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Thông tin và trí thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Sự nghiệp thông tin – thư viện trên thế giới và sự nghiệp thông tin – thư viện Việt Nam đang có những chuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu trí thức và thông tin không ngừng tăng lên của xã hội.

    Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng – 2005) thì thư viện được định nghĩa là “Nơi tàng trữ, giữ gìn sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng”

    Thư viện Trường Tiểu học Nga Thủy là một thư viện trường Tiểu học tiên tiến trong huyện, một trong những thư viện được đánh giá cao về sự phong phú, đa dạng của vốn tài liệu, thư viện đã và đang đáp ứng đủ nhu cầu cho mọi đối tượng bạn đọc trong trường, tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc cả về nội dung và hình thức tài liệu, thư viện cần phải có kế hoạch bổ sung nhiều loại hình tài liệu thật đa dạng và phong phú để đáp ứng kịp thời nhu cầu đọc của bạn đọc. Nếu thư viện bổ sung những tài liệu tốt, phù hợp với yêu cầu bạn đọc thì thư viện sẽ thu hút được nhiều độc giả, tần số sách phục vụ bạn đọc sẽ cao, tiết kiệm nhiều kinh phí và đem lại nhiều hiệu quả kinh tế lẫn tinh thần.

     Bên cạnh nhu cầu sử dụng tài liệu đa dạng của bạn đọc là sự phát triển 

    mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin của thế kỷ 21, kỷ 

    nguyên của nền kinh tế tri thức, sự ham hiểu biết khám phá tri thức, chinh 

    phục khó khăn của con người đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy thư 

    viện phải luôn tăng cường bổ sung vốn tài liệu (nguồn lực thông tin) để thỏa mãn cao nhất nhu cầu đọc của bạn đọc. Tuy nhiên do nhu cầu ngày càng cao, yêu cầu cấp thiết đặt ra cho thư  viện là phải có thêm nhiều tài liệu mới phong phú về nội dung và hình thức, bên cạnh những tài liệu truyền thống thư viện cần bố sung nhiều dạng tài liệu ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu đọc tại thư viện.

    2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    Khi nhắc tới thư viện, theo suy nghĩ truyền thống là kho chứa sách, nhưng trong xu thế hội nhập quốc tế lại là kho dữ liệu dưới dạng số hóa. Trên con đường thực hiện chức năng của mình, thư viện trường học đang đứng trước những thách thức về cơ sở vật chất, tài chính, công nghệ, nhân lực và cả những chính sách.

    Thực tiễn hoạt động thư viện của nhiều trường còn rất hạn chế: cơ sở vật chất thiếu thốn, phòng đọc sách không có hoặc diện tích quá ít, không có trang thiết bị tối thiểu, sách và báo chí còn hết sức nghèo nàn, cách thức tổ chức phục vụ bạn đọc còn sơ sài Và thư viện trường tiểu học Nga Thủy cũng không nằm ngoài thực trạng trên.

    Trước khi áp dụng các biện pháp của đề tài này tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng thư viện trường tôi và thấy được những thuận lợi, khó khăn như sau:

    * Thuận lợi

    – Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 do đó cơ sở vật chất tương đối đảm bảo phục vụ cho công tác dạy và học, là trường có bề dày thành tích trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Ban giám hiệu rất quan tâm đến công tác thư viện, nên kế hoạch thư viện cũng như kế hoạch bổ sung vốn tài liệu cho thư viện được coi trọng và thực hiện thường xuyên.

    – Có hồ sơ, sổ sách ghi chép, đánh giá kết quả bổ sung, ghi chép cụ thể và chi tiết.

    – Thư viện luôn nhận được sự quan tâm của hội cha mẹ học sinh về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học.

    – Chất lượng mọi hoạt động trong nhà trường được nâng lên.

    – Học sinh có nề nếp học tập tốt, có ý thức chấp hành nội quy, quy định của nhà trường cũng như nội quy của thư viện, tích cực tham gia các buổi đọc sách, các hoạt động tập thể, nâng cao khả năng phát triển toàn diện.

    Đặc biệt hơn nữa là đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên của trường ham mê đọc sách rất quan tâm đến hoạt động thư viện. Cán bộ Thư viện có trình độ chuyên môn đúng chuyên nghành, ham học hỏi, năng động và sáng tạo, luôn cầu tiến, biết tư vấn cho lãnh đạo về công tác chuyên môn Thư viện.

    – Độc giả và công tác viên :

    + Cán bộ giáo viên : 26

    + Giáo viên chủ nhiệm : 14

    + Tổng phụ trách đội : 1

    + BCH Đoàn : 2

    + Học sinh : 380

    * Khó khăn

    Trong những năm qua trường học nơi tôi công tác, mặc dù công tác bổ sung vốn tài liệu đã được nhà trường quan tâm, thực hiện thường xuyên song thực tế khi thực hiện vẫn còn mặt hạn chế nhất định:

    – Sách tham khảo trong quá trình sử dụng đã bị rách, hư hỏng nhà trường đã lập biên bản thanh lý nhưng chưa kịp thời bổ sung.

    – Cộng tác viên của thư viện là cán bộ giáo viên, Ban chấp hành Đoàn – Đội và các chi đội vừa giảng dạy, vừa học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nên vốn thời gian còn eo hẹp do đó công tác phối hợp giữa cán bộ thư viện và cộng tác viên thư viện hoạt động chưa có chiều sâu.

    – Nguồn ngân sách của địa phương, của nhà trường rất hạn hẹp, việc huy động các nguồn ngân sách ngoài để tăng cường nguồn tài liệu cho thư viện còn gặp nhiều khó khăn.

    * Thống kê vốn tài liệu có trong thư viện

    Năm học

    Tài liệu năm học trước

    Tài liệu mua bổ sung mới

    Tổng số trong năm

    Năm học 2014 – 2021

    2759

    50

    2809

    Năm học 2021 – 2021

    2809

    89

    2898

    Năm học 2021 – 2021

    2898

    110

    3008

    Năm học 2021 – 2021

    3008

    450

    3458

    * Bình quân số lượt bạn đọc đến thư viện/ tuần

    Năm học

    Đối tượng

    2014-2015

    2015-2016

    2016-2017

    2017 – 2021

    Học sinh

    256

    278

    352

    460

    Giáo viên

    25

    21

    42

    65

    Tổng

    281

    299

    394

    525

    Tóm lại: Số lượng sách chưa phong phú về chủng loại, không đủ để đáp ứng nhu cầu mượn của giáo viên và học sinh. Số lượng học sinh và giáo viên tham gia tìm đọc sách chưa nhiều. Giáo viên chỉ mượn sách giảng dạy đầu năm. Học sinh đến thư viện còn ít, rải rác ở các lớp do các em còn ngại, chưa biết cách tra cứu mục lục, tìm kiếm còn chậm. Số lượng bản sách của mỗi tên sách không nhiều (tối đa 2-4bản/ tên sách) nên không thể đáp ứng nhu cầu đọc tại chỗ và mượn về nhà cùng lúc cho nhiều bạn đọc. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào trong thư viện còn hạn chế, bạn đọc chưa biết sử dụng các công cụ tìm tin trên Internet, do đó chưa biết khai thác thông tin một cách hiệu quả.

    Về hoạt động công tác thư viện chỉ diễn ra một cách đơn thuần, hoạt động chưa phong phú, chỉ đơn giản là đầu năm cho giáo viên mượn sách giảng dạy, học sinh mượn sách giáo khoa, cuối năm thu về, vào sổ sách, làm báo cáo.

    * Nguyên nhân của thực trạng

    Từ khảo sát thực tế tôi tìm thấy rất nhiều nguyên nhân tồn tại từ thực trạng trên. Nguyên nhân chủ yếu theo tôi là do:

    Một là: Người cán bộ thư viện chưa thể hiện hết vai trò và trách nhiệm của mình. Chưa có thái độ nghiêm túc, đúng đắn và kịp thời với công tác thư viện trường học khiến cho “ Trái tim của nhà trường” dần dần mất đi sức sống và không nhận được sự quan tâm của các thành viên nhà trường.

    Hai là: Chưa tổ chức tốt kho sách, Sách báo còn nghèo nàn về số lượng, lạc hậu về nội dung, trang thiết bị chưa đáp ứng được nhu cầu bạn đọc.

    Ba là: Chưa tìm ra được các biện pháp để bổ sung vốn tài liệu hợp lý. Nhiều khi còn chưa chủ động, chưa sáng tạo, chưa biết định hướng nguồn bổ sung vốn tài liệu.

    Bốn là: Công tác xây dựng kế hoạch và các quy định, lịch hoạt động của thư viện chưa khoa học.

    Năm là: Chưa xây dựng được mạng lưới cộng tác viên thư viện là học sinh.

    Sáu là: Chưa huy động được các nguồn lực trong nhà trường, các tổ chức đoàn thể địa phương, chưa làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục trong đó có thư viện, để góp phần xây dựng thư viện vững mạnh và đầy đủ vốn tài liệu hơn.

    Để bổ sung vốn tài liệu cho thư viện thật sự mang lại hiệu quả, tổ chức các hoạt động của Thư viện trường học thực sự thân thiện tôi đã tiến hành thực hiện các giải pháp sau:

    2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

    2.3.1 Xây dựng kế hoạch bổ sung vốn tài liệu

    – Kế hoạch bổ sung vốn tài liệu càng cụ thể càng chi tiết sẽ giúp người quản lý định hình nội dung và kiểm soát công việc dễ dàng. Kế hoạch gồm các bước sau:

    Bước 1: Kế hoạch đề ra phải chặt chẽ, đầy đủ các nội dung, hình thức bổ sung và phương pháp bổ sung. Trong đó: Bổ sung vốn tài liệu, tiện ích cho việc dạy và học nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là quan trong hàng đầu.

    Cụ thể :

    + Ưu tiên bổ sung sách giáo khoa: Đảm bảo cho giáo viên và học sinh mỗi ngưòi có đủ 1 bộ sách để giảng dạy, học tập

    + Bổ sung sách nghiệp vụ, sách thiết kế bài giảng và các loại sách tham khảo khác.

    + Tạo nguồn kinh phí để bổ sung thêm các loại sách văn hoá của thiếu nhi : Như truyện cổ tích Việt Nam, cổ tích thế giới, truyện các danh nhân

    Bước 2: Phát động các phong trào bổ sung vốn tài liệu và đánh giá kết quả đã đạt được sau các phong trào.

    + Phong trào bổ sung vốn tài liệu được phát động trong toàn trường để cán bộ giáo viên và học sinh cùng biết, cùng thực hiện .

    + Sau kết thúc các đợt phát động phong trào bổ sung bổ sung vốn tài liệu tôi ghi chép đầy đủ, chính xác, lưu trong hồ sơ, được công bố ngay sau khi kết thúc đợt bổ sung, tuyên dương tập thể, cá nhân tham gia bổ sung, giúp họ phát huy mạnh mẽ tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình hơn trong đợt bổ sung sau và được tính điểm trong phong trào thi đua của lớp.

    Bước 3: Tổng kết rút kinh nghiệm.

    + Tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra phương hướng tiếp tục triển khai đợt sau.

    Bước 4: Xây dựng một tập thể cộng tác viên đoàn kết, nhất trí cao để thực hiện tốt kế hoạch.

    ( Kèm theo phụ lục 1 : Kế hoạch bổ sung vốn tài liệu cho thư viện )

    2.3.2 Xây dựng mạng lưới cộng tác viên cho thư viện

    Đội ngũ cộng tác viên bao gồm nhiều thành phần tham gia, không phân biệt tuổi tác nghề nghiệp. Nếu thư viện biết xây dựng, tạo lập một đội ngũ cộng tác viên thì sẽ hỗ trợ đắc lực cho thư viện trong nhiều khâu công tác như: Đóng dấu, dán nhãn, di chuyển sách báo trên giá,…Thư viện Trường Tiểu học Nga Thủy thu hút đông đảo bạn đọc ở nhiều lứa tuổi, riêng bạn đọc là học sinh chiếm số lượng đông nhất. Thư viện có thể tổ chức một buổi nói chuyện với bạn đọc, mời họ tham gia vào đội ngũ cộng tác viên, nói rõ những công việc và quyền lợi của họ khi họ tham gia. Bên cạnh đó, thư viện có thể thông qua các bài giới thiệu trong buổi chào cờ của trường giới thiệu và mời bạn đọc tham gia đội ngũ cộng tác viên thư viện. Có như vậy thư viện sẽ giảm bớt nhiều khâu công tác đơn giản, tập trung thời gian, sức lực vào các khâu như: Phân loại, biên mục,…

    Những thành viên trong tổ mạng lưới là những người tích cực, nhiệt tình, bởi các thành viên này thành phần là những học sinh giỏi, rất uy tín với các bạn mà lại siêng đọc sách, dạn dĩ khi xuất hiện trước đám đông và các em có năng khiếu như: biết kể chuyện, có giọng đọc hay, có năng khiếu ca hát, múa, viết chữ đẹp, khéo tay…, có điều kiện thời gian tiếp cận với bạn nhiều nên những nội dung hay, nội dung cần của sách sẽ đến với bạn đọc một cách nhanh nhất và rộng khắp nhất.

    Khi đã có tổ cộng tác viên là các em học sinh thì cần nhờ đến giáo viên chủ nhiệm để hiểu rõ khả năng của từng em để phân công công việc cho các em đúng và phù hợp, phải hướng dẫn thật cụ thể từng phần việc được giao cho các em, để các em hiểu và thực hiện tốt phần việc của mình phát huy tối đa vai trò của mạng lưới cộng tác viên

    Số lượng học sinh trong mạng lưới này tôi đã tùy theo điều kiện cụ thể của hoạt động để chọn.

    – Tôi phân công học sinh theo khả năng của từng em, hướng dẫn từng phần việc được giao cho các em để các em hiểu và thực hiện tốt công việc của mình. Có thể chia học sinh thành các mạng lưới thư viện theo từng nhóm dựa vào từng loại tài liệu được bổ sung, nhóm được phân công sẽ phụ trách tất cả các tài liệu trước và sau bổ sung, từ khâu tuyên truyền, tiếp nhận tài liệu, đến các bước xử lý kỹ thuật để đưa tài liệu vào sử dụng.

    Tôi phân nhóm như sau:

    – Nhóm phụ trách Tài liệu giáo khoa:

    – Nhóm phụ trách tài nghiệp vụ

    – Nhóm phụ trách tài liệu tham khảo mở rộng

    – Nhóm phụ trách tài liệu báo, tạp chí

    – Nhóm phụ trách tài liệu thiếu nhi

    Để mạng lưới cộng tác viên thư viện thể hiện hết khả năng của mình, hỗ trợ tốt trong các hoạt động của thư viện thì người cán bộ thư viện cần hướng dẫn, rèn luyện và giúp đỡ các em trong từng nhóm nắm được một số vấn đề về nghiệp vụ thư viện, nắm được phương pháp và kỹ năng, cũng như những phương pháp tuyên truyền sách báo. Cộng tác viên thư viện phải là những người đi đầu, nhiệt tình trong công tác bổ sung vốn tài liệu, sau đó tuyên truyền cho các bạn đọc khác. Hơn nữa tổ công tác thư viện còn là nơi tư vấn tin cậy cho bạn đọc mỗi khi bổ sung sách mới. Đây là công việc không đơn giản chút nào vì nó luôn đòi hỏi ở người cán bộ thư viện không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của mình, cũng như cập nhật những tin tức hàng ngày

    ( Kèm theo phụ lục 2 : Danh sách mạng lưới cộng tác viên )

    2.3.3. Tăng cường kinh phí cho thư viện

    Đây là một trong những yếu tố tác động lớn đến số lượng cũng như chất lượng vốn tài liệu. Ngân sách bổ sung không chỉ là yếu tố ảnh hưởng mà là yếu tố quyết định đến việc phát triển vốn tài liệu. Để có vốn tài liệu đa dạng, phong phú và thỏa mãn nhu cầu bạn đọc, thư viện nên có sự đầu tư thích đáng cho việc phát triển vốn tài liệu.

    + Quỹ nhà trường: 10.000.000đ

    2.3.4. Phối hợp với các đoàn thể để thực hiện bổ sung vốn tài liệu.

    – Tham mưu với Ban giám hiệu tạo điều kiện về thời gian để tổ cộng tác viên làm việc một cách nhịp nhàng, khoa học.

    – Phối hợp với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường như : Công đoàn – Đoàn thanh niên – Đội – Hội chữ thập đỏ để thực hiện công tác bổ sung vốn tài liệu có hiệu quả.

    + Phối hợp trao đổi giữa thư viện xã, thư viện trường bạn cùng hợp tác để bổ sung vốn tài liệu phong phú hơn, khắc phục được một phần khó khăn về kinh tế, tạo điều kiện cho bạn đọc được sử dụng nhiều tài liệu có tác dụng bổ ích.

    Trong năm học thư viện chia làm 3 đợt bổ sung lớn và phát động phong trào đến từng cán bộ giáo viên và học sinh cùng biết cùng thực hiện.

    * Đợt 1 : Từ 05/09/2018 đến 20/11/2018 Tập t

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tiếp Nhận, Phân Loại, Xử Lý Đơn Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Hoạt Động Tư Pháp
  • Quản Lý Đơn Thư Hành Chính Và Khiếu Nại Tố Cáo
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Tiếp Công Dân, Giải Quyết Đơn Thư Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Lĩnh Vực Tư Pháp Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tiếp Nhận, Phân Loại Và Xử Lý Đơn Tại Vksnd 2 Cấp Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tiếp Công Dân, Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Của Công Dân
  • Giải Pháp Thư Viện Số Dlib

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phần Mềm Cho Thư Viện
  • Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Trường Học Thân Thiện Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Giải Pháp Nào Để Thư Viện Trường Học “hút” Học Sinh?
  • Một Số Giải Pháp Mới Trong Việc Tổ Chức Hoạt Động Đọc Sách Tại Thư Viện
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Xanh, Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học
  • Từ đó cho thấy, hoạt động dạy học giữa giảng viên và sinh viên rất cần được sự tiếp sức của thư viện; đối với hoạt động nghiên cứu khoa học thì vai trò của thư viện điện tử càng hiện ra rõ ràng hơn. Khi làm bất cứ công trình nghiên cứu nào, người ta đều phải hiểu rõ lịch sử nghiên cứu vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và phương tiện nghiên cứu… Hệ thống tài liệu tham khảo phong phú mà thư viện điện tử cung cấp, bao gồm cả tài liệu sách in và tài liệu số, sẽ phần nào giúp chúng ta giải quyết được những câu hỏi đó.

    Để xây dựng và tiếp cận nguồn tài nguyên phong phú của thời đại số hóa, VDOC đưa ra giải pháp THƯ VIỆN SỐ DLIB giúp thư viện phối hợp với các phòng nghiệp vụ phát triển nguồn tài liệu, giáo trình, luận văn, tạp chí nghiên cứu khoa học và khuyến khích bạn đọc, giảng viên, sinh viên hay các nhà nghiên cứu chia sẻ các tài nguyên lên hệ thống thư viện của nhà trường. Bên cạnh đó DLib cũng cung cấp giải pháp liên kết thư viện các trường ĐH-CĐ khác để tạo thành một nguồn tài nguyên dùng chung và tích hợp hơn 1.4 triệu tài liệu tham khảo từ nguồn tài nguyên cộng đồng của TaiLieu.VN.

    Giải pháp DLib được VDOC đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin miễn phí cho các Thư viện để xây dựng bộ sưu tập tài nguyên dạng số cho phép tất cả các bạn đọc, giảng viên, sinh viên và học sinh khai thác nguồn tài liệu số mọi lúc mọi nơi.

    Mô hình Thư Viện Số DLib

    Để quản lý tập trung cũng như khai thác triệt để nguồn kinh phí đầu tư cho TVS, giải pháp TVS DLib đáp ứng mô hình với các tiêu chí:

    • Hạ tầng công nghệ thông tin được đầu tư tập trung, được quản lý và vận hành tập trung, sử dụng chung một phần mềm quản lý thư viện số nhằm đảm bảo tính liên thông, liên kết và các Thư viện trên toàn quốc có thể chia sẻ nguồn tài nguyên học tập với nhau. Nhưng vẫn đảm bảo tính độc lập cho mỗi một thư viện của mỗi khách hàng.
    • Mỗi khách hàng sẽ có một website riêng, có một hệ thống quản lý tài khoản bạn đọc, tài liệu số, báo cáo thống kê, … riêng và độc lập giữa các thư viện với nhau. Mỗi một website TVS sẽ vẫn mang nét đặc trưng riêng của trường như: logo, biểu tượng, slogan, màu sắc và đặc biệt là tên miền con website lấy theo tên domain chính của trường.
    • Toàn bộ nguồn tài liệu nội sinh của các thư viện sẽ được quản lý một cách an toàn, bảo mật và các thư viện toàn quyền về mặt quản lý những đối tượng nào được khai thác nguồn tài liệu này bằng cách gán quyền chỉ xem, quyền được tải về hay cho phép chia sẻ trên từng tài liệu.

    Giải pháp Công Nghệ TVS DLib

    • Xây dựng trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây và web 2.0: dễ sử dụng, tiết kiệm, ổn định, sử dụng mọi lúc mọi nơi, an toàn an ninh thông tin và có tính tương tác mạng xã hội cao.
    • Tích hợp phần mềm quản lý thư viện số theo chuẩn nghiệp vụ thư viện số DUBLINE CORE.
    • Tích hợp hệ thống quản trị người dùng đăng nhập bằng Mã số GV, Mã số SV của Trường.
    • Tích hợp công cụ tìm kiếm theo: từ khóa, tiêu đề, miêu tả, toàn văn và các tìm kiếm nâng cao khác.
    • Cho phép tham khảo tài liệu trực tuyến trên tất cả các thiết bị đầu cuối như máy tính, máy tính bảng hay điện thoại thông minh.

    Triển khai và vận hành TVS DLib

    • DLib đảm bảo việc triển khai thư viện số sẽ không làm tác động đến hệ thống công nghệ thông tin hiện tại của Thư viện và tiết kiệm chi phí vận hành dịch vụ.
    • Nhà trường không phải đầu tư xây dựng phần mềm, phần cứng và đặc biệt là nhân sự tay nghề cao về công nghệ thông tin để vận hành hệ thống TVS.
    • Nhanh chóng có một thư viện số với nguồn tài nguyên khổng lồ từ hơn 100 trường ĐH-CĐ đã triển khai thành công và hơn 1.4 triệu tài liệu tham khảo trên chúng tôi để phục vụ sinh viên và đáp ứng tiêu chí kiểm định của bộ.
    • Được hỗ trợ công cụ quảng bá miễn phí gồm: băng rôn, standee, brochure để truyền thông đến sinh viên, giảng viên và bạn đọc.
    • Để cung cấp dịch vụ hỗ trợ bạn đọc tốt nhất, DLib cung cấp tài liệu và video hướng dẫn khai thác tài nguyên thư viện số ngay trên website của thư viện. Điều này, giúp cán bộ thư viện dễ dàng chia sẻ, biên mục tài liệu và tất các các bạn đọc của thư viện có thể dễ dàng biết cách tìm kiếm, upload, download hoặc xây dựng các bộ sưu tập tài liệu học tập cho cá nhân.
    • Được hỗ trợ phát triển tài nguyên theo yêu cầu đáp ứng nhu cầu bổ sung nguồn tài liệu mới của thư viện nhà trường và hỗ trợ chăm sóc bạn đọc trực tuyến qua công cụ hỗ trợ Chat Online 24/24.
    • Với giải pháp TVS DLib nhà trường sẽ miễn phí đầu tư, tiết kiệm 50% vận hành so với giải pháp tự thư viện xây dựng nhưng tăng 90% hiệu quả đầu tư.

    Hơn 100 Trường ĐH-CĐ Triển Khai DLIB

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Thư Viện Điện Tử Của Lạc Việt Tiếp Tục Được Nhân Rộng Ở Đbscl
  • Lợi Ích Của Giải Pháp Thư Viện Điện Tử
  • Phần Mềm Thư Viện Điện Tử Tích Hợp Ilib V8.0
  • Giải Pháp Hệ Thống Thư Viện Điện Tử
  • Ứng Dụng Giải Pháp Thư Viện Điện Tử Trong Trường Học
  • Một Số Giải Pháp Phát Huy Hiệu Quả Phòng Đọc Sách Thư Viện

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Thư Viện Trường Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc
  • Thư Viện Số Và Vấn Đề Xây Dựng Thư Viện Số Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Xây Dựng Các Bộ Sưu Tập Tài Liệu Số
  • Giải Pháp Thư Viện Tổng Thể
  • MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ PHÒNG ĐỌC SÁCH THƯ VIỆN

    MỞ ĐẦU :

    1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

    Chúng ta đã biết , hiện nay một trong những vấn đề quan trọng mà ngành Giáo Dục và Đào taọ đã và đang quan tâm đó là việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở trong nhà trường với mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo nhằm: “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ”. Từ đó cho thấy rằng cơ sở vật chất trong nhà trường nói chung , thư viện trường học nói riêng là cơ sở quan trọng góp phần vào việc nâng cao giáo dục. Thư viện trường học được sử dụng để phục vụ việc giáo dục và đào tạo toàn diện học sinh trong nhà trường .

    Thư viện trường học là thành phần không thể thiếu được trong việc đào tạo con người trong nhà trường, là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục và góp phần quyết định vào chất lượng giáo dục của nhà trường, là điều kiện thiết yếu của quá trình sư phạm, là phương tiện để tác động đến thế giới tâm hồn của học sinh và cũng là phương tiện để truyền thụ lĩnh hội tri thức .

    Để phát huy hiệu quả phòng đọc sách thư viện , cần có những giải pháp thu hút giáo viên và học sinh thường xuyên đến phòng đọc sách thư viện .

    2/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

    Giáo viên và học sinh của trường THCS Bàu Đồn .

    Một số giải pháp phát huy hiệu quả phòng đọc sách thư viện .

    3/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

    Đầu tư nghiên cứu nâng cao hiệu quả phòng đọc sách của thư viện

    Nội dung trình bày trong đề tài dựa vào đặc điểm tình hình riêng của trường THCS Bàu Đồn , lấy kết quả một năm học 2007 – 2008 thực hiện.

    4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

    Đưa ra nhiều giải pháp để thu hút học sinh đến với phòng đọc sách thư viện , nâng cao công tác quản lý của giáo viên chuyên trách thư viện .

    Kiểm tra hồ sơ thư viện sau đó đối chiếu với các đối tượng học sinh .

    B. NỘI DUNG

    1 . CƠ SỞ LÝ LUẬN

    Thư viện trường học là một trong những yếu tố cơ sở vật chất quan trọng của nhà trường, là phương tiện không thể thiếu được để phục vụ cho việc dạy và học . Lê_nin đã chỉ rõ: “ Sự nghiệp thư viện là một bộ phận quan trọng của cách mạng văn hóa và tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.”

    Thư viện trường học không chỉ là một phần cơ sở vật chất trọng yếu mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và nếp sống văn hóa mới cho các thành viên trong nhà trường. Đồng thời thư viện giúp bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học thư viện và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu ­ cho học sinh. Trích lời phát biểu của Krupskaia: “Sự nghiệp thư viện phát triển sẽ củng cố thêm nhà trường và làm cho công việc của nhà trường dễ dàng hơn”.

    Sách báo là nguồn sức mạnh để nhận thức cuộc sống , giáo dục con người và là công cụ lao động của con người . Sách báo giúp bồi dưỡng thêm tri thức cho các ngành giáo dục , góp phần cập nhật , hiện đại hoá những phương thức giáo dục mới nhằm thực hiện tốt mục tiêu đào tạo . Sách cũng là nguồn sức mạnh ảnh hưởng đến nhận thức , tình cảm , lý trí , trí tuệ và tâm hồn con người . Sách giúp con người tìm hiểu quá khứ , nắm vững hiện tại và hiểu biết tương lai . Sách giúp nâng cao khả năng độc lập suy nghĩ sáng tạo trong học tập . Sách là phương tiện tái hiện giờ lên lớp , mở rộng thêm kiến thức đã học cho học sinh .

    2. CƠ SỞ THỰC TIỄN :

    Thư viện trường THCS Bàu Đồn được đặt nơi thuận tiện trong trường , có các phòng đọc và kho sách .

    Năm học 2006 – 2007 trường đầu tư thư viện theo quy cách thư viện tiên tiến gồm 2 phòng : 1 phòng làm phòng đọc , 1 phòng làm kho sách ; có 1 giáo viên chuyên trách thư viện

    Năm học 2007 – 2008 trường được đầu tư xây dựng 12 phòng học lầu , do đó phải tháo dỡ 6 phòng học vì vậy 1 phòng đã lấy làm phòng học – họp hội đồng. Mặc dù vậy trường vẫn sắp xếp nơi đọc thoáng mát , sử dụng thêm phòng truyền thống đội , nửa phòng thiết bị , có 1 giáo viên chuyên trách thư viện và bố trí thêm giáo viên dạy thiếu giờ trực đầy đủ các buổi trong tuần. Số bản sách của trường là 7906 bản , trong đó : Sách giáo khoa 3178 bản ; sách tham khảo 3270 bản ; sách nghiệp vụ 702 bản ; tạp chí ( tài hoa trẻ , thếgiới mới , cộng sản , giáo dục ) 400 bản ; truyện : 356 bản . Ngoài ra còn 114 quyển ( đóng tập ) báo Nhân dân , báo Sài gòn ( 1tờ/ngày ) , báo Tây ninh , báo Giáo dục ( 3tờ/tuần ) .

    Như vậy số lượng sách giáo khoa , sách nghiệp vụ, sách tham khảo cũng tương đối phục vụ để giảng dạy và nghiên cứu giải trí. Riêng về báo chí các loại như báo Tây Ninh, báo Giáo dục thời đại , Thế giới mới , Tài hoa trẻ, báo Tiền phong , sách truyện cũng đũ phục vụ hàng tháng, hàng quý .

    Các kệ trưng bày , kệ giới thiệu sách mới , tủ sách , bàn ghế cũng trang bị đầy đủ, các phòng đọc có 36 chổ ngồi dành cho học sinh và 20 chổ ngồi dành cho giáo viên , đủ cho giáo viên và học sinh đến để đọc sách .

    Trang bị đầy đủ các khẩu hiệu phòng đọc , nội quy thư viện .

    Có 1 giáo viên chuyên trách thư viện đang được đào tạo chính quy .

    Công tác quản lý, kiểm tra hoạt động của thư viện hàng tuần , tháng , học kỳ và cả năm.

    Trước tình hình đổi mới giáo dục , sự đầu tư của cấp trên về thư viên để đạt thư viên tiên tiến . Do đó , chúng ta cần phải phát huy tốt phòng đọc sách của thư viện để góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục , thể hiện sâu sắc chủ trương của Ngành , đường lối giáo dục của Đảng .

    3. NỘI DUNG VẤN ĐỀ :

    3.1 Vấn đề đặt ra :

    Thư viện trường học đóng vai trò hết sức quan trong trong việc hướng dẫn giáo viên và học sinh .

    Đa số học sinh chưa biết sử dụng thư viện, chưa biết khai thác sách báo, chưa biết tự học, tự bồi dưỡng bằng sách báo

    Nguyên nhân chủ yếu là do cán bộ thư viện, thầy giáo, đội viên và bậc cha mẹ học sinh chưa quan tâm đầy đủ đến việc đọc sách của thầy và trò, chưa hướng dẫn đọc sách đến nơi đến chốn

    Ở lớp 6, 7 các em còn thích nghe kể chuyện thích xem các truyện tranh chữ to, màu sắc đẹp . Vì vậy chọn những cuốn sách có hình ảnh đẹp, ngôn ngữ trong sáng dể hiểu, là một yêu cầu quan trọng về khoa học, kỹ thuật, văn học có tính thời sự . Báo, tạp chí phải có hình ảnh, bưu ảnh, tranh vẽ để thu hút các em

    Tạo hứng thú cho các em, hình thành tính ham đọc sách, do đó các em đọc tất cả những cuốn nào tới tay mình, hoặc chọn sách qua hình vẽ hấp dẫn ở bìa sách. Vì vậy khi giới thiệu sách, báo cho các em, phải làm cho các em vui thích ngay từ đầu khi các em đến thư viện, tin cậy ở cán bộ thư viện .

    Ở các em lớp 7, 8 bước đầu có nhu cầu đọc sách , nhưng chủ yếu dẫn là truyện tranh , truyện cổ tích ngắn

    Học sinh lớp 8, 9 thích đọc sách về Bác Hồ, truyện thiếu niên anh hùng , truyện lịch sử , báo thiếu niên tiền phong , báo tranh ảnh địa phương , tạp chí các loại.

    Các em tiếp thu sách bằng trực giác, nhưng đã hiểu được nội dung tư tưởng của sách và biết biểu lộ thái độ của mình đối với sách , có những học sinh lớp 9 đã biết quan tâm đến quá khứ của đất nước tiểu sử các cá nhân , nhân vật nổi tiếng , một số lại muốn đọc truyện khoa học viễn tưởng. Ở tuổi này các em đã hình thành tính tập thể, dễ dàng tiếp xúc với người lớn , muốn được mọi người tin cậy và được gánh vác trách nhiệm chung . Ứng dụng qua sách báo để làm bài tập trên lớp , như văn học , toán học

    Cán bộ thư viện cần lưu ý đặc điểm đó để thu hút các em vào các hoạt động của thư viện, ở lứa tuổi này việc đọc sách thường bọc lộ những nhược điểm .

    Về chọn lưa nội dung : có học sinh chỉ thích đọc truyện phiêu lưu, mạo hiểm, truyện chiến đấu, có em thích đọc truyện Lịch sử , Văn học , Toán học ,

    Về phương pháp đọc : có em chỉ đọc hời hợt, chỉ cần nắm được cốt truyện, không hiểu sâu nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của sách. Ta cần lưu ý những đặc điểm này để giúp đỡ

    – Thư viện cần phải giáo dục cho giáo viên và học sinh phương pháp đọc sách . Vì đọc không đúng phương pháp, không những kém kết quả mà còn có hại cho cơ thể và tâm hồn, phương pháp đọc sách phụ thuộc vào mục đích đọc sách và trình độ và mục đích đọc sách có ý nghĩa quyết định .

    3.2 Giải pháp , chứng minh vấn đề được giải quyết .

    – Để phát huy tốt phòng đọc sách của thư viện, thu hút giáo viên và học sinh đến với phòng đọc sách thư viên ta áp dụng các giải pháp cụ thể sau :

    + Phương pháp tuyên truyền miệng : Tuyên truyền miệng có những hình thức sau: Đọc to nghe chung, điểm sách, kể chuyện theo sách, giới thiệu sách thi vui đọc sách, hội nghị bạn đọc, đố vui văn học

    + Phương pháp tuyên truyền giới thiệu trực quan : Thư viện trường học thường áp dụng rộng rãi 2 hình thức chủ yếu: Triển lãm sách và biểu ngữ thư viện

    + Biểu ngữ thư viện : Biểu ngữ tuyên truyền giới thiệu sách , báo ; biểu ngữ hướng dẫn hoạt động và nghiệp vụ thư viện .

    Thư viện trường học có những nhiệm vụ cơ bản :

    + Cung ứng cho giáo viên và học sinh đầy đủ các loại sách giáo khoa … hức rõ và nắm vững .

    + Lập kế hoạch xây dựng thư viện : nhân sự , phương tiện cơ sở vật chất .

    + Có kế hoạch bổ sung sách : vận dụng linh hoạt các nguồn bổ sung ; từ kinh phí Nhà nước và quỹ của thư viện , vận động đóng góp từ nhiều nguồn : học sinh , phụ huynh học sinh , các tổ chức xã hội ,

    + Thanh lý , thanh lọc sách ra khỏi thư viện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng cường chất lượng kho sách .

    + Tổ chức các hoạt động thư viện :

    -) Công tác nghiệp vụ : Bổ sung sách báo ; tiến hành đăng ký các loại sách ; phân loại sách ; đóng dấu thư viện , số hiệu , dán nhãn , ký hiệu ; làm phiếu thư mục ; xếp sách lên giá ; giới thiệu sách với bạn đọc ; công bố lịch mở cửa tiếp bạn đọc ( các ngày trong tuần ).

    -) Công tác bạn đọc : Tổ chức phòng đọc thật khoa học ; tổ chức tuyên truyền giới thiệu nội dung sách mới ; tổ chức phong trào đọc sách trong giáo viên , trong học sinh có sự phối hợp giữa các tổ chức , các bộ phận trong nhà trường ; tổ chức các hình thức hội thi ; tổ chức phong trào tặng sách , truyện cho thư viện .

    + Thiết lập chế độ kiểm tra , kiểm kê và bảo quản : kiểm tra kế hoạch phục vụ bạn đọc , kiểm tra việc tự bồi dưỡng về nghiệp vụ thư viện ; kiểm kê sự tăng giảm số bản sách và nguyên nhân , lập báo cáo số liệu thống kê , đánh giá mức độ hao mòn , hư hỏng , mất mát và nguyên nhân ; chống ẩm , chống cháy , chống sự phá hoại của sinh vật .

    + Công tác động viên khen thưởng đối với phụ trách công tác thư viện , đối với giáo viên chủ nhiệm , đối với tổ trưởng chuyên môn , đối với các Đoàn thể trong nhà trường .

    Điều tra cơ bản việc tuyên truyên giới thiệu sách , báo là phải nắm vững đối tượng hiểu các đặc điểm về lứa tuổi, hứng thú của các em nguyện vọng của các em . Muốn vậy, thư viên có thể làm một số biện pháp sau đây.

    + Điều tra cơ bản về nhu cầu đọc sách , báo của giáo viên , học sinh bằng cách trả lời câu hỏi cho sẵn , điền vào số liệu thống kê qua trao đổi

    + Gây hứng thú đọc sách , báo : gây không khí sôi nổi đọc sách trong toàn trường và vận dụng những điều đã đọc vào việc học tập và rèn luyện tư tưởng đạo đức, tác phong. Muốn được như vậy, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và đoàn, đội mà thư viên phải làm nồng cốt, phải tổ chức và chuẩn bị chu đáo sách, báo để kịp thời phục vụ cho nhu cầu đọc của thầy và trò

    + Cán bộ thư viện phải phối kết hợp với giáo viên chủ nhiệm , giáo viên bộ môn hướng dẫn cho học sinh không những lập kế hoạch mà còn cả cách đọc cách ghi chép . Cần hướng dẫn chu đáo các loại sách phục vụ trực tiếp yêu cầu giáo dục toàn viện của nhà trường như các loại sách phục vụ việc rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, ý chí và tình cảm lành mạnh của học sinh

    Phân công bố trí , bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và ý thức tinh thần trách nhiệm cho cán bộ phụ trách thư viện .

    Đầu tư kinh phí cho thư viện để chỉnh trang cơ sở vật chất, bổ sung thêm sách mới và thanh lý sách cũ, chú ý đến việc tranh thủ kinh phí của ngành, vận động học sinh đóng góp.

    Có biện pháp kiểm tra, kiểm kê định kỳ, có biện pháp bảo quản (tăng giảm sách, hao mòn, hư hỏng, mất mát, chống ẩm, chống sự phá hoại của sinh vật)

    Trang bị thêm kệ trưng bày sách và trang bị sách thêm cho thư viện.

    Nhà trường hàng tuần, tháng kiểm tra hồ sơ sổ sách và theo dõi hoạt động của thư viện .

    Thực hiện công tác thi đua khen thưởng cho hoạt động thư viện . Động viên cán bộ phụ trách thư viện , biểu dương khen thưởng giáo viên và học sinh tích đọc sách, đề nghị cấp trên khen thưởng biểu dương cá nhân , tổ chức có đóng góp cho thư viện nhà trường .

    3.3. Kết quả so sánh :

    Đến nay , sau khi áp dụng cách thức phương pháp như đã đề ra. Thư viện đã thu hút được bạn đọc nhất là giáo viên và học sinh thường xuyên đến thư viện để đọc sách , báo , tài liệu chuyên môn nghiệp vụ đạt tỉ lệ cao , đáp ứng nhu cầu của giáo viên và học sinh trong giảng dạy và học tập

    Kết quả cụ thể : quá trình áp dụng biện pháp giải pháp khoa học trên, thư viện trường THCS Bàu Đồn đã thu hút được đông đảo giáo viên và học sinh đến thư viện

    Tổng số 78 CB_GV_NV đến thư viện đạt 100%

    Tổng số 1289 học sinh đến thư viện đạt 98%

    C/. KẾT LUẬN :

    1. Bài học kinh nghiệm :

    – Phát huy hiệu quả phòng đọc sách thư viện là một trong những hoạt động quan trọng trong nhà trường đòi hỏi mỗi cán bộ giáo viên phải nhận thức một cách đầy đủ về giá trị , vị trí tầm quan trọng của công tác này và thấy hết trách nhiệm của mình trong việc vận động tổ chức và hướng dẫn nhu cầu đọc sách trong nhà trường.

    – Cán bộ thư viện phải ra sức rèn luyện tu dưỡng về mọi mặt , phải là tấm gương tốt về việc tự học , tự bồi dưỡng .

    – Trong công tác quản lý nhà trường , BGH cần phải xác định tầm quan trọng của thư viện trường học trong việc nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh trong nhà trường, phải tổ chức quản lý tốt hoạt động chuyên môn trong nhà trường, muốn đạt được mục tiêu thầy dạy tốt trò học tốt thì phải có thư viện trường học tốt đáp ứng nhu cầu cơ bản trong việc dạy và học trong nhà trường.

    2. Hướng phổ biến , áp dụng đề tài :

    – Tùy theo điều kiện, đặc điểm tình hình nhà trường BGH phải xây dựng tốt kế hoạch tăng cường thư viện trường học sao cho ngày một đầy đủ hơn, đẹp hơn .

    – Tổ chức phối hợp tốt giữa cán bộ thư viện với giáo viên chủ nhiệm , giáo viên bộ môn và các đoàn thể trong nhà trường .

    – Phổ biến rộng rãi trong trường và các đơn vị bạn để cùng thực hiện

    3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài :

    – Tiếp tục điều tra cơ bản về nhu cầu đọc sách , báo của giáo viên và học sinh.

    – Tiếp tục nghiên cứu , mở rộng các giải pháp , lựa chọn các giải pháp tối ưu .

    Người thực hiện đề tài :

    Họ tên : Lê Thanh Dũng

    Chức vụ : Phó hiệu trưởng

    Đơn vị : Trường THCS Bàu Đồn .

    Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

    Cấp Trường (Đơn vị ):

    -Nhận xét :

    -Xếp loại: ..

    Cấp Phòng (Huyện, Thị ):

    -Nhận xét:

    -Xếp loại: .

    Cấp Ngành (Tỉnh ):

    -Nhận xét:

    -Đánh giá: .

    MỤC LỤC

    Tên đề tài : “MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ PHÒNG ĐỌC SÁCH THƯ VIỆN ”

    Trang

    A. MỞ ĐẦU

    1-2

    1. Lý do chọn đề tài

    1

    2. Đối tượng nghiên cứu

    2

    3. Phạm vi nghiên cứu

    2

    4. Phương pháp nghiên cứu

    2

    B. NỘI DUNG

    3-8

    1. Cơ sở lý luận

    3

    2. Cơ sở thực tiển

    4

    3. Nội dung vấn đề

    5-8

    C. KẾT LUẬN

    9

    Nhận xét đánh giá và xếp loại

    10

    11

    Bản tóm tắt đề tài

    12 -13

    BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

    Tên đề tài : “ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ PHÒNG ĐỌC SÁCH THƯ VIỆN”

    Họ và tên tác giả : Lê Thanh Dũng

    Đơn vị công tác : Trường THCS Bàu Đồn .

    1/ Lý do chọn đề tài :

    Chúng ta đã biết, hiện nay một trong những vấn đề quan trọng mà ngành Giáo Dục và Đào taọ đã và đang quan tâm đó là việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở trong nhà trường với mục tiêu chung của giáo dục và đào tạo nhằm: “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ”. Từ đó cho thấy rằng cơ sở vật chất trong nhà trường nói chung , thư viện trường học nói riêng là cơ sở quan trọng góp phần vào việc nâng cao giáo dục. Thư viện trường học được sử dụng để phục vụ việc Giáo dục và Đào tạo toàn diện học sinh trong nhà trường

    Thư viện trường học là thành phần không thể thiếu được trong việc đào tạo con người trong nhà trường, là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục và góp phần quyết định vào chất lượng giáo dục của nhà trường, là điều kiện thiết yếu của quá trình sư phạm, là phương tiện để tác động đến thế giới tâm hồn của học sinh và cũng là phương tiện để truyền thụ lĩnh hội tri thức

    Để phát huy hiệu quả phòng đọc sách thư viện , cần có những giải pháp thu hút giáo viên và học sinh thường xuyên đến phòng đọc sách thư viện .

    2/ Đối tượng nghiên cứu :

    Giáo viên và học sinh của trường THCS Bàu Đồn .

    Một số giải pháp phát huy hiệu quả phòng đọc sách thư viện .

    3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới :

    + Phương pháp tuyên truyền miệng

    + Phương pháp tuyên truyền giới thiệu trực quan .

    + Biểu ngữ thư viện .

    + Cung ứng cho giáo viên và học sinh đầy đủ các loại sách .

    + Sưu tầm và giới thiệu rộng rãi trong cán bộ giáo viên và học sinh .

    + Tổ chức thu hút toàn thể giáo viên và học sinh tham gia sinh hoạt thư viện

    + Phối hợp hoạt động với các thư viện trong ngành và các thư viện địa phương .

    + Tổ chức quản lý theo đúng nghiệp vụ thư viện .

    + Quán triệt tầm quan trọng của việc xây dựng thư viện trường học .

    + Lập kế hoạch xây dựng thư viện .

    + Có kế hoạch bổ sung sách

    + Thanh lý , thanh lọc sách ra khỏi thư viện

    + Tổ chức các hoạt động thư viện .

    + Thiết lập chế độ kiểm tra , kiểm kê và bảo quản .

    + Công tác động viên khen thưởng .

    4/ Hiệu quả áp dụng :

    Thu hút được đông đảo giáo viên và học sinh đến với phòng đọc thư viện .

    5/ Phạm vi áp dụng :

    Phổ biến rộng rãi trong trường và các đơn vị bạn để cùng thực hiện

    Tây ninh , ngày 17 tháng 03 năm 2008

    Người thực hiện

    LÊ THANH DŨNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Mềm Thư Viện Điện Tử Số
  • Dspace, Giải Pháp Phần Mềm Cho Thư Viện Điện Tử Quản Lý Và Khai Thác Nguồn Số Nội Sinh Ở Các Trường Đại Học Hiện Nay
  • Ứng Dụng Các Giải Pháp Công Nghệ Trong Hoạt Động Của Thư Viện
  • Giải Pháp Quản Lý Thư Viện Tổng Thể Hiệu Quả Nhất 2021
  • 2+ Cách Tạo Email Công Ty Doanh Nghiệp Miễn Phí ✔️
  • Giải Pháp Thư Viện Tổng Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Kết Nối Mạng An Toàn Và Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Chia Số Thập Phân Cho Học Sinh Lớp 5 Trường Tiểu Học Thiệu Nguyên
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Nhà Trường: Vẫn Còn Nhiều Khó Khăn
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ Trong Các Trường Học
  • Tin tức – Sự kiệnHội thảo

    Hội thảo “Nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”

    Ngày 01.12.2015 tại Hà Nội, Bộ VHTTDL đã tổ chức Hội thảo “Nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”

    Hội thảo nhằm đánh giá thực trạng và kết quả ngành Thư viện đã đạt được trong việc góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong thời gian qua, xác định phương hướng, vai trò, nhiệm vụ của từng loại hình thư viện đề xuất giải pháp để nang cao hiệu quả hoạt động thư viện trong những năm sắp tới.

     

     

    Theo Phó Vụ trưởng Vụ Thư viện – Vũ Dương Thúy Ngà, trong những năm qua, cùng với sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương, sự năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ thư viện, hoạt động ngành Thư viện đã có nhiều khởi sắc hòa vào sự đổi thay của toàn của đất nước. Mạng lưới thư viện trong cả nước được kiện toàn và phát triển; hệ thống thư viện tiếp tục được mở rộng với việc xây dựng phát triển thư viện huyện và mạng lưới thư viện cơ sở: Thành lập mới gần 40 thư viện cấp huyện, đưa tổng số thư viện vấp huyện trong cả nước là 659 thư viện (năm 2014); thành lập và duy trì các thư viện xã và phòng đọc xã và cơ sở. Chỉ số phát triển thư viện huyện đã vượt 3,3% so với chỉ tiêu đặt ra.

    Bên cạnh đó, thư viện các cơ sở đào tạo đại học và phổ thông cũng được phát triển: cả nước có  gần 400 thư viện đại học, cao đẳng và 24.746 thư viện trường phổ thông trên tổng số 28.054 trường học, đạt 88,2%.

    Một số thư viện công cộng cấp tỉnh và thư viện đại học đã tăng cường tài liệu điện tử/số, bảo đảm việc tiếp cận các nguồn lực quan trọng, phù hợp, đáp ứng nhu cầu thông tin, học tập và giải trí của người sử dụng; hệ thống thư viện công cộng tính đến tháng 12.2014 có hơn 37 triệu bản sách; 9000 tên báo, tạp chí. Mỗi năm, hệ thống thư viện công cộng bổ sung mới khoảng hơn 700.000 bản sách.

    Hệ thống thư viện – thông tin, chuyên ngành phát triển, có khoảng hơn 5 triệu bản sách, hơn 10.000 tên tạp chí, hàng trăm nghìn bản vi phim, hơn 20.000 báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học… Hệ thống thư viện quân đội: Vốn tài liệu có khoảng hơn 5 triệu tài liệu được bổ sung gia tăng từ 2 đến 5%; hàng năm mỗi cán bộ, chiến sỹ được cấp theo định suất 350 trang sách/năm…

    Việc ứng dụng công nghệ thông tin và triển khai các dịch vụ mới trong thư viện được đẩy mạnh hơn. Nhìn chung, các thư viện đã chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng thư viện điện tử. Một số thư viện đã triển khai tự động hóa ở mức độ cao, áp dụng mượn trả tự động. 41 thư viện cấp tỉnh (chiếm 66,7 %) đã xây dựng trang thông tin điện tử. Các thư viện phát triển các dịch vụ thư viện, tăng cường hướng dẫn sử dụng thư viện nhằm đáp ứng các nhu cầu thông tin hiện tại và thay đổi của cộng đồng người sử dụng đa dạng; hệ thống thư viện công cộng chú trọng công tác phục vụ ngoài thư viện. Tăng cường các hoạt động nhằm thu hút người dân, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Chỉ tính riêng hệ thống thư viện công cộng trong năm 2014 đã có hơn 24 triệu lượt người tới sử dụng các thư viện. Số lượt sách, báo được luân chuyển đạt gần 52 triệu lượt.

    Các thư viện đại học, thư viện bộ, ngành triển khai một số dịch vụ mới: phục vụ thông tin theo chuyên đề, phổ biến thông tin có chọn lọc, dịch vụ bạn đọc đặc biệt. Tại nhiều thư viện, công tác phục vụ bạn đọc đã được thực hiện với phương châm “Tận tâm, thân thiện, chuyên nghiệp”.

    Toàn ngành thư viện đã tổ chức tốt công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo với nhiều hình thức: trưng bày triển lãm, tổ chức nói chuyện, tọa đàm, liên hoan, thi kể sách, thi tìm hiểu về các sự kiện thông qua đọc sách báo thu hút đông đảo người dân đặc biệt các em thiếu nhi tham gia. Ngoài ra, nhiều thư viện công cộng, thư viện đa ngành chuyên ngành còn vận động nhân dân đọc sách báo, góp phần quan trọng trong việc khuyến đọc, nâng cao vị thế của ngành thư viện đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với các hình thức hấp dẫn góp phần bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, nâng cao kỹ năng sống cho người dân.

    Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức thư viện có kiến thức, kỹ năng quản lý và tổ chức thư viện hiện đại, thích ứng với những thay đổi nhanh chóng đã được chú trọng. Nhiều thư viện tạo đã điều kiện cho cán bộ thư viện tham gia các đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn. Cả nước, ước tính có hơn 33.000 cán bộ thư viện.

    Bên cạnh mạng lưới thư viện nhà nước, nhiều mô hình thư viện/tủ sách dân lập đã được hình thành đáp ứng nhu cầu đọc của người dân: hiện có 61 thư viện tư nhân phục vụ cộng đồng, hơn 4.000 tủ sách phụ huynh, thư viện với mô hình “Không gian đọc” và hàng trăm tủ sách dòng họ đã được hình thành ở Việt Nam… Bình quân mỗi thư viện, tủ sách tư nhân phục vụ cộng đồng có từ 2.500 đến 3.500 cuốn và từ 12 đến 25 loại báo, tạp chí.

    Ngành thư viện đã triển khai có hiệu quả nguồn lực đầu tư của tổ chức nước ngoài, với sự hỗ trợ từ các dự án, các thư viện Việt Nam đã đẩy mạnh hơn tốc độ hiện đại hóa và thu hút được nhiều người đến sử dụng thư viện.

    Cùng với những thành tựu đã đạt được, hoạt động thư viện ở Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn thách thức và tồn tại một số bất cập: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thư viện còn chưa hoàn thiện; hệ thống văn bản hiện hành còn nhiều bất cập cả về thể loại văn bản (chưa có Luật Thư viện) cũng như nội dung các quy định; các văn bản cụ thể quy định về đầu tư, cơ chế chính sách đối với thư viện chưa phù hợp, chưa tạo điều kiện cho thư viện phát triển.

    Mạng lưới thư viện ở Việt Nam đã phát triển rộng khắp nhưng chưa thực sự phát huy được vai trò, chất lượng hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Mặc dù trong những năm qua, các thư viện đã cố rất nhiều cố gắng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được với nhu cầu của bạn đọc, với yêu cầu phát triển của người sử dụng, trình độ phát triển thư viện Việt Nam so với các nước phát triển trong khu vực còn có khoảng cách khá xa.

    Nhìn chung, sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất trang thiết bị và bổ sung phát triển vốn tài liệu cho thư viện còn hạn chế, đặc biệt là đối với các thư viện cấp huyện, thư viện cơ sở; thư viện trường phổ thông và thư viện viện nghiên cứu. 

    Mạng lưới thư viện cấp huyện, một mắt xích quan trọng và có số lượng lớn nhất trong hệ thống thư viện công cộng còn chưa thống nhất về mô hình tổ chức và gặp nhiều khó khăn về mọi mặt; mạng lưới thư viện cấp xã và cơ sở; thư viện trường phổ thông, thư viện các viện nghiên cứu tuy phát triển về số lượng nhưng hiệu quả hoạt động còn thấp, chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Trong vòng 2 năm 2013-2014, số lượng các thư viện xã đã bị giảm đi gần 40%; Chỉ số về phát triển vốn tài liệu trong thư viện công cộng mới chỉ đạt 40%; vẫn tồn tại sự chênh lệch về mức độ phát triển của các thư viện thành phố và nông thôn, miền xuôi và miền núi.

     

    Toàn cảnh Hội thảo

     

    Về phương hướng, nhiệm vụ, trong 5 năm tới, các thư viện Việt Nam đẩy mạnh hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai thêm dịch vụ mới, tích cực góp phần phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, không ngừng vươn tới chân thiện mỹ. 

    Hướng hoạt động thư viện Việt Nam vào việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần phát triển bền vững đất nước; Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động thư viện Việt Nam, xây dựng thư viện thân thiện, tạo môi trường thuận lợi cho người dân có thể đọc, khai thác thông tin, thực hiện việc đọc suốt đời.

     

    Xây dựng thư viện công cộng Việt Nam trở thành những Trung tâm Thông tin, Văn hóa, Giáo dục hữu ích cho việc học tập liên tục của mọi tầng lớp nhân dân với nguồn lực thông tin phong phú, công nghệ hiện đại, các dịch vụ dễ dàng tiếp cận và đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu thay đổi của cộng đồng dân cư. Phát triển mạng lưới thư viện lưu động, thư viện chi nhánh: đảm bảo cho nhân dân vùng sâu vùng xa có điều kiện tiếp cận và đọc sách. Xây dựng các phòng đọc sách thiếu nhi tại các thư viện công cộng. Gắn việc xây dựng thư viện cơ sở với việc xây dựng nông thôn mới. 

    Tiếp tục xây dựng, củng cố và hiện đại hoá thư viện của các trung tâm nghiên cứu khoa học, thư viện các cơ sở đào tạo, thư viện lực lượng vũ trang, của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp góp phần đắc lực vào việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện và đảm bảo an ninh, quốc phòng.

    Từng bước rút ngắn khoảng cách về sự phát triển sự nghiệp thư viện giữa Việt Nam với các nước trên thế giới và trong khu vực; cải thiện môi trường và điều kiện đọc; thu hút được nhiều đối tượng người đọc đến sử dụng thư viện.

    CTTĐT

    Tin khác

    Tập huấn: Kỹ năng tập huấn kiến thức thông tin trong thư việnCông ty CP Phần mềm Quản lý Hiện Đại tham dự khóa tập huấn “Quản lý dự án phát triển Thư viện”Hội nghị thường niên Mạng lưới Thư viện Trực tuyến các trường đại học Đông Nam Á (AUNILO) lần thứ 14Tập huấn: Tài nguyên giáo dục mở phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

    Công ty Hiện Đại tham dự và trình bày tại Hội thảo” Xây dựng học liệu nội sinh dùng chung trong các thư viện Đại học Việt Nam”Hội thảo Khoa học quốc tế “Xây dựng nền tảng học liệu mở cho giáo dục đại học Việt Nam: đề xuất chính sách, tạo lập cộng đồng và phát triển giải pháp công nghệ”Hội thảo Xã hội Thông tin: Từ lý thuyết đến thực tế

    HỘI THẢO “PHÁT TRIỂN VÀ QUẢNG BÁ DỊCH VỤ THÔNG TIN TRONG THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG” KIPOS xuất hiện trong chương trình Smart Edu tại Hà Nội và Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Các Bộ Sưu Tập Tài Liệu Số
  • Thư Viện Số Và Vấn Đề Xây Dựng Thư Viện Số Ở Việt Nam
  • Skkn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Thư Viện Trường Học
  • Một Số Giải Pháp Phát Huy Hiệu Quả Phòng Đọc Sách Thư Viện
  • Phát Triển Thị Trường Vốn Việt Nam: Cần Những Giải Pháp Xứng Tầm

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Sao Để Doanh Nghiệp Phát Triển Thị Trường Một Cách Hiệu Quả
  • Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sữa
  • Ngành Sữa Việt Nam: Thách Thức Và Cơ Hội
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Trong Kỷ Nguyên Mới
  • Các Yếu Tố Tác Động Đến Định Vị Thương Hiệu Của Ngân Hàng Bán Lẻ Việt Nam
  • – Ý kiến đa chiều của nhiều chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp… tại Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới”, do Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hôm nay (30/3), đã đưa ra nhiều gợi mở đáng chú ý về hướng phát triển thị trường vốn trong thập niên mới. Xin giới thiệu một số ý kiến tại Diễn đàn.

    Diễn đàn “Phát triển thị trường vốn – Cơ hội trong kỷ nguyên mới” được tổ chức tại Trung tâm hội nghị Quốc tế, 35 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội vào sáng 30/3/2021. Diễn đàn do Tạp chí Kinh tế và Dự báo tổ chức, nhằm tạo nên một sự kết nối, chia sẻ tầm nhìn và nhận diện bức tranh thị trường vốn trong kỷ nguyên mới.

    Các nhà quản lý, chuyên gia, lãnh đạo doanh nghiệp đã cùng chia sẻ những đánh giá của mình về 20 năm phát triển thị trường vốn và gợi mở những giải pháp, tầm nhìn cho kỷ nguyên mới

    SÁNG KIẾN TỪ DOANH NGHIỆP

    “Cần quan tâm hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp yếu”

    Ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank

    Ông Khổng Phan Đức, Chủ tịch HĐQT Công ty Quản lý quỹ Vietinbank

    Khi định mức rủi ro của doanh nghiệp cao, thì khó tiếp cận vốn ngân hàng, nên phải tiếp cận vốn trên thị trường tài chính (phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ phái sinh). Chúng ta hay nói đến những đơn vị huy động vốn thành công trên thị trường tài chính, nhưng lại thường không quan tâm đến những doanh nghiệp vì nhiều lý do mà không còn tốt nữa nên gặp khó khăn trong huy động vốn.

    Thực tiễn trong suốt quá trình phát triển, công ty không phải lúc nào cũng thuận lợi, có những lúc họ suy yếu, rơi vào tình trạng mất thanh khoản… Lúc đó họ rất khó khăn và cần vốn, cần hơn cả khi họ đang phát triển tốt. Song các quy định pháp lý dường như ít quan tâm đến nhu cầu huy động vốn của các đơn vị yếu kém này. Do đó, cần có chính sách tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp yếu, có điều kiện tài chính chưa được tốt để tiếp cận vốn trên thị trường. Khi họ không thể tiếp cận được vốn ngân hàng, thì vẫn cần có cửa khác để cho họ huy động được vốn.

    “Cần phát triển mạnh ngành bảo hiểm và quản lý tài sản…”

    Ông Phạm Tiến Dũng, Giám đốc phân tích, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

    Ông Phạm Tiến Dũng, Giám đốc phân tích, Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)

    Để thúc đẩy sự phát triển của 2 ngành này, cần nghiên cứu và cho phép triển khai một số loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí… với đặc điểm là chi phí tham gia bảo hiểm được giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân, để khuyến khích người dân tiết kiệm tham gia bảo hiểm, từ đó hỗ trợ sự phát triển của thị trường vốn.

    Cơ quan quản lý TTCK cần thiết lập các quỹ nghiên cứu, cơ chế để hỗ trợ các nghiên cứu, các dự án khởi nghiệp về fintech trong lĩnh vực chứng khoán, quản lý tài sản, quản lý quỹ…

    Cũng cần đổi mới chính sách theo hướng gia tăng khả năng cho các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trong việc sở hữu, mua/bán doanh nghiệp. Thực tế phát triển cho thấy, đang có xu hướng các công ty chứng khoán, quản lý quỹ cần mua lại, hoặc liên doanh với các công ty phát triển công nghệ để tạo ra các đột phá trong cung cấp dịch vụ, sản phẩm…

    “HAPACO chỉ có thể thực hiện tốt khát vọng bứt phá, nếu thị trường vốn tiếp tục phát triển…”

    Ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO

    Ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn HAPACO

    Từ khi thị trường chứng khoán (TTCK) mở ra, HAPACO và rất nhiều doanh nghiệp khác đã huy động được hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn từ nhà đầu tư đại chúng, nên đã mở rộng đầu tư, mở rộng cổ đông, đối tác, mở rộng quy mô thị trường.

    Để doanh nghiệp đại chúng hoạt động ổn định, phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay, đại đa số các doanh nghiệp lựa chọn song hành cả 2 kênh huy động vốn, đó là qua TTCK và qua kênh vay các ngân hàng để bảo đảm sự chủ động. Qua đó giúp doanh nghiệp tăng năng lực tài chính, bảo đảm cho các kế hoạch hoạt động sản xuất, kinh doanh, mở rộng và đầu tư phát triển trong ngắn hạn và dài hạn.

    Bước sang thập niên mới, giai đoạn 2021-2030, trên nền tảng những gì HAPACO đã đạt được và nhìn thấy cơ hội tương lai còn rộng mở phía trước, Hội đồng quản trị của Tập đoàn kỳ vọng, HAPACO sẽ trở thành Tập đoàn kinh tế lớn đa ngành tầm cỡ khu vực, với việc nâng vốn điều lệ lên gần 6.600 tỷ đồng và nâng vốn chủ sở hữu trên 35.000 tỷ đồng. Tập đoàn sẽ thực hiện 5 dự án lớn trong 5 năm tới, trong đó có Dự án Xây dựng Nhà máy điện gió tại Gia Lai, công suất 100 mW; Dự án xây dựng Bệnh viện Quốc tế Green thứ hai với quy mô gấp 3 lần hiện nay; Dự án xây nhà ở xã hội cho người lao động…

    HAPACO chỉ có thể thực hiện tốt khát vọng bứt phá, nếu thị trường vốn Việt Nam, nhất là TTCK vượt qua các khó khăn hiện hữu, tiếp tục phát triển, thu hút được nhiều nhà đầu tư rót vốn vào thị trường. Khi đó, các doanh nghiệp như HAPACO sẽ huy động được vốn mới, mở rộng cổ đông, mở rộng đối tác, tạo thành một sức mạnh lớn hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho doanh nghiệp và đất nước.

    KHUYẾN NGHỊ TỪ CHUYÊN GIA

    “Rất cần thị trường vốn lớn hơn nữa…”

    Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia

    Ông Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia

    Tăng trưởng tín dụng 14,4% trong vòng 10 năm qua thuộc nhóm cao nhất trong khu vực. Tăng trưởng tín dụng thực, đâu đó vẫn là 10%, cao nhất trong các nước ASEAN. Vì thế, rất cần thị trường vốn Việt Nam lớn hơn nữa để cân bằng hơn với thị trường tín dụng. Đến hết tháng 2/2021, vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam ước đạt 5.600 nghìn tỷ đồng (89% GDP 2021). Trong rổ hàng hóa, có 880 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán; 909 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM. Lượng tài khoản nhà đầu tư đạt 2,8 triệu tài khoản; số tài khoản giao dịch thường xuyên ước đạt 1,6 triệu tài khoản.

    Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đang xây dựng Chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2021-2030. Dự kiến quy mô thị trường cổ phiếu đạt mức 120% GDP, thị trường trái phiếu đạt 55% GDP vào năm 2025. Số lượng nhà đầu tư trên thị trường đạt 5% dân số vào năm 2025.

    Hiện có gần 3% dân số tham gia TTCK, nên còn nhiều dư địa phát triển TTCK. Cơ hội phát triển cân bằng thị trường vốn Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, còn rất nhiều thách thức trên con đường phát triển thị trường vốn. Đó là triển vọng phục hồi kinh tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; quy mô thị trường vẫn còn khá nhỏ so với các nước trong khu vực, thiếu tính ổn định; các sản phẩm còn ít, chưa đa dạng; tính minh bạch, chuyên nghiệp chưa cao; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Hạn chế về hạ tầng dẫn đến tình trạng nghẽn lệnh, ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư. Nguy cơ bong bóng trên thị trường do lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư mới (F0) chưa có nhiều kiến thức về TTCK đổ vào thị trường. Nền tảng nhà đầu tư chưa bền vững, tính chuyên nghiệp chưa cao…

    Trong kỷ nguyên mới, để phát triển thị trường vốn cân bằng với thị trường tín dụng, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2021; vận hành Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam; tiếp tục triển khai các giải pháp tái cấu trúc TTCK; chú trọng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp hơn.

    Cần đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) gắn với niêm yết và đăng ký giao dịch trên TTCK. Thực hiện các giải pháp nâng hạng TTCK Việt Nam lên nhóm thị trường mới nổi vào năm 2023. Nâng cao năng lực quản lý, giám sát rủi ro hệ thống; tăng tính độc lập của UBCKNN.

    Đặc biệt, kỷ nguyên mới đòi hỏi những nỗ lực nâng tầm quản trị doanh nghiệp, tính chuyên nghiệp của cộng đồng nhà đầu tư và khả năng điều hành thị trường của cơ quan quản lý.

    Dự báo con người và công nghệ là 2 đột phá cho sự phát triển tới đây trên thị trường vốn Việt Nam. Cụ thể là phát triển nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp nhiều hơn. Cần nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu thị trường; xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển TTCK đến năm 2030 với 2 cấu phần quan trọng là nâng hạng và chuyển đổi số. Đặc biệt, tính minh bạch, chuyên nghiệp là kim chỉ nam cho thị trường vốn phát triển lành mạnh, bền vững.

    PHẢN HỒI TỪ NHÀ QUẢN LÝ, HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH

    “3 nhóm giải pháp thúc đẩy DNNN tham gia thị trường vốn”

    Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính

    Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài chính

    Phát triển thị trường vốn sẽ góp phần thúc đẩy các DNNN sớm hoàn thành quy trình quản trị công ty minh bạch, rõ ràng, đặc biệt là các công ty đại chúng có vốn nhà nước, qua đó thúc đẩy tăng khối lượng giao dịch trên thị trường, tăng tính thanh khoản cho cổ đông nhà nước.

    Phát triển thị trường vốn cũng sẽ thúc đẩy các DNNN tham gia huy động vốn theo hướng giảm tỷ trọng vay tín dụng thương mại, đa dạng các hình thức huy động bổ sung vốn. Thị trường vốn là tấm gương phản chiếu kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phải đổi mới quản trị, minh bạch thông tin, tăng cường sức cạnh tranh, chấp hành nghiêm quy định cuả pháp luật, nguyên tắc thị trường.

    Để gắn sự phát triển của thị trường vốn với lộ trình tái cấu trúc DNNN giai đoạn 2021-2025 cần triển khai 3 nhóm giải pháp.

    Thứ nhất, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước với phê duyệt phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, tổ chức và giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả phương án được duyệt.

    Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế, khuôn khổ pháp lý về tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN về sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN và Nghị quyết số 60/2018/QH14 của Quốc hội; xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, đồng bộ về doanh nghiệp và vốn, tài sản của Nhà nước.

    Hoàn thiện chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp, trong đó:

    + Thực hiện nghiêm quy định về đăng ký lưu ký, đăng ký giao dịch, đăng ký niêm yết trên TTCK. Thí điểm một số DNNN sau cổ phần hóa đăng ký giao dịch, niêm yết trên TTCK khu vực và thế giới.

    + Các doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa đạt tỷ lệ vốn nhà nước theo tiêu chí phân loại DNNN, thì phải tổ chức lập kế hoạch và triển khai công tác thoái vốn theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tỷ lệ nhà nước nắm giữ.

    “Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính”

    TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương

    TS. Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương

    Để thị trường vốn phát triển tích cực trong thời gian tới cần triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển TTCK và thị trường tiền tệ.

    Cùng với đó là tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động kinh doanh chứng khoán; sáp nhập, mua, bán doanh nghiệp; hạn chế tình trạng nhà đầu tư thao túng thị trường và thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam. Giám sát chặt chẽ, cảnh báo và có các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động phát hành và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Rà soát, hoàn thiện các quy định về đăng ký phát hành trái phiếu doanh nghiệp, bảo đảm tính minh bạch, khả năng đánh giá rủi ro đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển những tổ chức xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp, tin cậy. Tăng cường vai trò của quản lý nhà nước đối với giám sát việc phát hành, phân phối, cung cấp dịch vụ trái phiếu doanh nghiệp. Phát triển cơ sở hạ tầng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nghiên cứu tổ chức thị trường giao dịch đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

    Đẩy nhanh cơ cấu thị trường chứng khoán theo Đề án đã được phê duyệt. Cùng với việc hoàn thiện cơ cấu bộ máy, xây dựng lại thị trường cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán phái sinh theo hướng chuyên môn hóa, tiếp tục tái cơ cấu hệ thống các định chế trung gian

    Thúc đẩy triển khai kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước. Thực hiện kiểm tra, xử lý kịp thời các doanh nghiệp không tuân thủ quy định về niêm yết/đăng ký giao dịch sau khi cổ phần hóa.

    Đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi theo đánh giá của MSCI và FTSE.

    Đảm bảo an toàn, ổn định hệ thống giao dịch, đưa hệ thống công nghệ thông tin mới vào hoạt động đồng bộ. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục đưa ra các sản phẩm mới vào thị trường.

    Tăng cường giám sát, nâng cao hiệu qủa quản lý, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đảm bảo kỷ cương kỷ luật của thị trường để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và hoạt động lành mạnh của doanh nghiệp.

    Nghiên cứu triển khai số hóa các tài sản tài chính trên TTCK, áp dụng các công nghệ tài chính mới (Fintech); chuẩn hóa hoạt động mở tài khoản trực tuyến (e-contract); xác thực khách hàng trực tuyến (EKYC).

    Với thị trường tiền tệ, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước một mặt cần duy trì môi trường lãi suất thấp, mặt khác cũng cần củng cố uy tín, độ tin cậy của Ngân hàng Nhà nước trong việc bảo vệ ổn định giá cả và điều hành chính sách tiền tệ. Việc duy trì lãi suất thấp và tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp cho phép họ giảm chi phí sản xuất, qua đó sẽ giảm áp lực lên lạm phát khi nền kinh tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng. Môi trường lãi suất thấp có thể giúp các ngân hàng thương mại đang thiếu vốn có điều kiện thuận lợi tăng vốn đáp ứng các yêu cầu đủ vốn theo nguyên tắc Basel II. Khi các ngân hàng thương mại đều áp dụng chung chuẩn mực quản lý rủi ro, thì mặc dù thanh khoản dư thừa nhưng tín dụng không thể ra ồ ạt (do các khoản cấp tín dụng phải đáp ứng đủ các chuẩn mực mới có thể thực hiện), do đó áp lực lên lạm phát là thấp. Tuy nhiên, môi trường lãi suất thấp sẽ khuyến khích các hoạt động đầu cơ vào thị trường bất động sản, TTCK, nên có thể tạo ra các bong bóng tài sản, tiềm ẩn bất ổn trong tương lai. Do đó, cùng với chính sách duy trì lãi suất thấp, Chính phủ cũng cần có các giải pháp đồng bộ để thực hiện kiểm soát thị trường bất động sản, tránh để thị trường phát triển quá nóng.

    Sắp tới, cùng với sự phát triển của năng lực sản xuất trong nước, sự chuyển dịch của chuỗi giá trị sản xuất vào Việt Nam, cán cân vãng lai vẫn tiếp tục xu hướng thặng dư, thậm chí thặng dư lớn. Do đó áp lực lên giá VND là rất lớn, nên đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải tiếp tục mua dự trữ ngoại hối để ổn định đồng tiền, trong khi Mỹ luôn đe dọa sẽ có biện pháp đáp trả đối với những nước bị xem là thao túng tiền tệ. Cân bằng được hai áp lực này là thách thức lớn đối với Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện thuận lợi để cho phép tỷ giá biến động linh hoạt hơn, chấp nhận một biên độ lên giá nhất định của đồng VND. Việc đồng VND lên giá giúp giảm nợ nước ngoài, giảm áp lực lạm phát, nhưng có tác động tiêu cực nhất định đối với hàng xuất khẩu và hàng trong nước cạnh tranh hàng nhập khẩu. Để trung hòa tác động tiêu cực này, thì việc giảm lãi suất cho vay là cần thiết. Do VND có xu hướng lên giá, nên vấn đề USD hóa tự được giải quyết và không cần thiết duy trì lãi suất VND cao hơn quá nhiều so với lãi suất USD.

    Kiểm soát rủi ro trong hệ thống ngân hàng vẫn là yêu cầu then chốt đảm bảo phục hồi kinh tế bền vững. Các biện pháp áp dụng trong thông tư 01/2020/TT-NHNN cần được giám sát chặt chẽ tránh tình trạng khi các biện pháp này hết hạn áp dụng thì nợ xấu tăng vọt. Đẩy nhanh lộ trình áp dụng quy tắc Basel II trong toàn hệ thống, vì đây là công cụ then chốt nâng cao năng lực quản lý rủi ro và khả năng chống chịu thua lỗ.

    Cần nâng cao hiệu quả của hệ thống cảnh báo sớm trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, để giúp phát hiện rủi ro tiềm ẩn từ các ngân hàng và thị trường tài chính. Từ đó, xây dựng các phương án điều hành cụ thể về cách thức phản ứng với diễn biến mới. Cùng với sớm xử lý triệt để nợ xấu, tránh nợ xấu tồn đọng kéo dài, cần có cơ chế rõ ràng nhằm xử lý các ngân hàng yếu kém…

    “Động lực nâng hạng TTCK chính là các doanh nghiệp đại chúng…”

    Bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN

    Bà Tạ Thanh Bình, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường, UBCKNN

    Theo bộ tiêu chí FTSE Russell (cập nhật tháng 9/2020), TTCK Việt Nam đã thỏa mãn 7/9 tiêu chí nâng hạng. Tiêu chí “Chu kỳ thanh toán-DvP” bị đánh giá “Hạn chế” do nhà đầu tư phải ký quỹ đủ tiền mặt trước khi đặt lệnh. Tiêu chí “Thanh toán – Tỷ lệ hiếm khi giao dịch thất bại” không được đánh giá, do yêu cầu thanh toán (ký quỹ trước) hiện tại dẫn tới việc khả năng giao dịch thất bại gần như không tồn tại.

    Về thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, với các quy định tại Luật Đầu tư, Nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán, không gian cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mở hơn nữa.

    Ngành chứng khoán sẽ tập trung triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK gắn với phát triển bền vững, minh bạch, trong đó một số mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm như: Tập trung nỗ lực đưa các quy định, chính sách mới của Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn vào thực tiễn, để hỗ trợ cho doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tổng kết, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2021 – 2030 để định hình mục tiêu, giải pháp về lộ trình phát triển TTCK – thị trường vốn về dài hạn, nhằm hiện thực mục tiêu nâng hạng TTCK.

    Tuy vậy, việc nâng hạng TTCK không phải là nỗ lực của riêng ngành chứng khoán hay cơ quan quản lý TTCK. Động lực nâng hạng thị trường chính là các doanh nghiệp đại chúng. Chỉ khi doanh nghiệp minh bạch, tuân thủ kỷ luật công bố thông tin; làm quen và thực thi chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS), phát triển bền vững, sẽ là hạt nhân để phát triển nội lực TTCK, là cái gốc của nâng hạng thị trường. Cũng còn nhiều yếu tố khác cần cải thiện để phục vụ cho mục tiêu nâng hạng thị trường như: Mức độ tự do trên thị trường ngoại hối; giảm thiểu sự can thiệp hành chính của nhà nước vào hoạt động doanh nghiệp; cải thiện độ mở của thị trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp… Đây là những công việc cần sự nỗ lực và vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành…/.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Thị Trường Vốn: Năm Trụ Cột Cần Tập Trung
  • Phát Triển Bền Vững Thị Trường Mua Bán Nợ Doanh Nghiệp Tại Việt Nam: Góc Nhìn Từ Công Ty Tnhh Mua Bán Nợ
  • Phát Triển Bền Vững Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam
  • 4 Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam
  • Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam Tăng Trưởng Nhanh Và Bền Vững
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100