Top 9 # Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Ở Địa Phương Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Công Nghệ Cao

Tổng quát về tội phạm công nghệ cao

Tội phạm công nghệ cao còn có một số tên gọi khác: tội phạm máy tính, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ảo, tội phạm không gian ảo, tin tặc. Trên thế giới, cùng với sự phát triển của máy tính, mạng máy tính và Internet, tội phạm công nghệ cao đã trải qua nhiều hình thái, từ đơn giản đến phức tạp, từ những cá thể đơn lẻ phát triển thành các tổ chức lớn và hoạt động ngày càng trở nên tinh vi.

Vào những năm 1960, các cuộc tấn công làm sập hệ thống điện thoại đường dài thường để giải trí hoặc sử dụng dịch vụ không mất tiền. Những năm 1980, các lập trình viên bắt đầu viết phần mềm mã độc, bao gồm các chương trình tự nhân bản, để can thiệp vào hoạt động của máy tính cá nhân.

Giai đoạn Internet bắt đầu phát triển mạnh, tội phạm thông qua Internet truy cập trái phép vào các hệ thống được bảo vệ kém để phá hoại, trục lợi về tài chính hoặc thực hiện các hành động có mục đích chính trị. Những năm 1990, tội phạm tài chính sử dụng phương thức thâm nhập máy tính tăng mạnh, mã độc thay đổi theo hướng khai thác điểm yếu của hệ điều hành.

Ở Việt Nam, loại hình tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng đặc biệt. Tuy nhiên, từ năm 2010 trở lại đây, khi ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) tại Việt Nam phát triển mạnh, số lượng vụ việc của loại hình tội phạm này tăng lên rất nhanh, tác động lớn đến an toàn, trật tự xã hội và an ninh quốc gia.

Xét về động cơ, về cơ bản có 3 nhóm tội phạm sau: (1) Học sinh, sinh viên hay những người muốn chứng minh năng lực của bản thân mà thực hiện các hoạt động tấn công mạng vào các trang tin trên Internet; (2) Các cá nhân, tổ chức chuyên lừa đảo để trục lợi về kinh tế; (3) Các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động phá hoại hệ thống thông tin với mục đích chính trị.

Nhóm thứ 3 có mức độ tác động lớn nhất, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Đặc biệt, nhóm này chủ yếu có nguồn gốc nước ngoài, không loại trừ có trường hợp được hậu thuẫn từ chính phủ, do đó rất khó xử lý, đối phó.

Đối với nhóm 1 và nhóm 2, lực lượng công an có thể thực hiện hoạt động phá án, truy bắt thủ phạm. Riêng đối với nhóm 3, việc cơ bản cần làm là thực hiện các hoạt động tự bảo vệ, phát hiện, hạn chế hành động phá hoại và hậu quả của các hành động này, rất khó có thể truy tìm thủ phạm để tiêu diệt tận gốc vấn đề.

Khung pháp lý phòng, chống tội phạm công nghệ cao

Lường được những hậu quả cũng như để tự bảo vệ, phát hiện các hành động phá hoại của tội phạm công nghệ cao, các nước tiên tiến trên thế giới đã thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ nhằm phòng chống tội phạm công nghệ cao. Cụ thể như: Năm 1986, Mỹ đã ban hành Luật Lừa đảo và lạm dụng máy tính. Luật này đã được điều chỉnh một số lần vào các năm 1989, 1994, 1996, 2001, 2002 và 2008; Nhật Bản ban hành Luật Truy cập máy tính trái phép vào năm 1999; Australia ban hành Luật Tội phạm ảo năm 2001; Philippines ban hành Luật Phòng tránh tội phạm ảo tháng 12/2012, tuy nhiên một số phần của Luật này bị Tòa án Tối cao tuyên bố không hợp hiến. Các nước không có luật riêng về tội phạm công nghệ cao thì đều định danh loại tội phạm này trong Luật hình sự.

Năm 2015, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật An toàn thông tin mạng, tạo nền tảng pháp lý và nâng cao chất lượng hoạt động bảo vệ các hệ thống CNTT và mạng máy tính của Việt Nam trước các cuộc tấn công của tội phạm công nghệ cao. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện Luật An toàn thông tin mạng vào cuộc sống như: Nghị định 58/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; Nghị định 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; Nghị định 108/2016/NĐ-CP quy định chi tiết điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng; Quyết định 05/2017/QĐ-TTg ban hành quy định về hệ thống phương án ứng cứu khẩn cấp bảo đảm an toàn thông tin mạng quốc gia.. Dự kiến trong năm 2017 Chính phủ sẽ tiếp tục ban hành một số văn bản thực thi Luật này.

Về lực lượng tham gia phòng chống tội phạm công nghệ cao của Việt Nam hiện có Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông và các Bộ chủ quản hệ thống thông tin. Một số bộ chủ quản, trong đó có Bộ Tài chính, đã thành lập phòng chuyên trách về an toàn an ninh thông tin.

Phòng chống tội phạm công nghệ cao tại các cơ quan tài chính

Trong những năm qua, Bộ Tài chính được đánh giá là đơn vị đi đầu trong khối các cơ quan nhà nước về ứng dụng CNTT. CNTT được áp dụng mạnh trong giao dịch nội bộ, các hoạt động nghiệp vụ và đặc biệt trong các dịch vụ hành chính công phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đối với một số đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ như Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải Quan, Tổng cục Thuế, các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán, nghiệp vụ của đơn vị sẽ không thể vận hành/vận hành hiệu quả nếu không có hệ thống thông tin. Việc bảo đảm an toàn cho các hệ thống thông tin nói chung và bảo vệ hệ thống trước các cuộc tấn công của tội phạm công nghệ cao đã trở thành nhiệm vụ quan trọng, một phần không thể thiếu trong công tác ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính và các đơn vị thuộc Bộ.

Các hoạt động về an toàn thông tin của ngành Tài chính được thực hiện theo “Khung an toàn thông tin ngành Tài chính” và chỉ đạo của Lãnh dạo Bộ, bao gồm 8 khía cạnh cần quan tâm về an toàn thông tin để đảm bảo tính tổng thể, toàn diện và hiệu quả của các hoạt động này, cụ thể như sau:

Thứ hai, hoàn chỉnh cơ cấu quản lý an toàn thông tin: Hoàn thiện tổ chức bộ phận chuyên trách về quản lý an toàn thông tin; Quy định đầy đủ và rõ ràng các vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các đơn vị, bộ phận và từng vị trí công tác trong công tác đảm bảo an toàn thông tin.

Thứ ba, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác đảm bảo an toàn thông tin: Xây dựng các tiêu chuẩn về năng lực, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ quản lý và kỹ thuật làm công tác đảm bảo an toàn thông tin; hình thành đội ngũ chuyên gia về an toàn thông tin.

Thứ tư, duy trì và nâng cấp hệ thống kỹ thuật đảm bảo an toàn thông tin: Duy trì hệ thống đã trang bị và nâng cấp thường xuyên, đảm bảo tính tuân thủ của các hệ thống này đối với các chính sách, quy định về an toàn thông tin của ngành Tài chính và khả năng bảo vệ hiệu quả thông tin và các hệ thống thông tin của ngành Tài chính.

Thứ năm, ứng cứu khẩn cấp: Xây dựng liên minh ứng cứu sự cố an toàn thông tin. Thiết lập cơ chế ứng phó hiệu quả và kịp thời với các sự cố, vi phạm và tấn công về an toàn thông tin.

Thứ sáu, nghiên cứu, hợp tác: Nghiên cứu tình hình, xu hướng tấn công và giải pháp đảm bảo an toàn thông tin của Việt Nam và thế giới và khả năng ứng dụng vào công tác đảm bảo an toàn thông tin của ngành Tài chính; Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, phối hợp về an toàn thông tin với các cơ quan chức năng, các tổ chức, chuyên gia có uy tín về an toàn thông tin.

Thứ bảy, giám sát đảm bảo thực thi: Triển khai công tác kiểm tra, kiểm toán về CNTT (bao gồm kiểm tra, kiểm toán về an toàn thông tin).

Thứ tám, đào tạo, nâng cao nhận thức cho cán bộ toàn ngành về an toàn thông tin: Thực hiện đào tạo, nâng cao nhận thức thường xuyên cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức ngành tài chính, thúc đẩy hình thành văn hóa có nhận thức cao về an toàn thông tin trong ngành Tài chính.

Cho đến nay, công tác đảm bảo an toàn thông tin, phòng chống tội phạm công nghệ cao tại Bộ Tài chính vẫn đang tiếp tục được đẩy mạnh và triển khai một cách toàn diện trên tất cả các khía cạnh từ chính sách, con người cho đến giải pháp kỹ thuật. Tình trạng thiếu nhân lực cấp độ chuyên gia về an toàn thông tin đang được nghiên cứu bù đắp bằng việc sử dụng các dịch vụ an ninh mạng chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, các quy định và chính sách mới của Nhà nước về an toàn thông tin mạng cũng giúp làm thành một điểm tựa vững chắc cho công tác đảm bảo an toàn thông tin của Bộ Tài chính, vượt qua giai đoạn tự mày mò và tìm hiểu, áp dụng các tiêu chuẩn, kinh nghiệm của nước ngoài có nhiều điểm không phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Buôn Bán Người

Buôn bán người là một trong những hành vi vô nhân đạo, đang diễn ra không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu. Nạn nhân chính của loại tội phạm này thường là trẻ em và phụ nữ. Sau khi bị lừa gạt hoặc lợi dụng, nạn nhân sẽ được bán đi nhằm phục vụ cho những mục đích như: lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục,…thậm chí là lấy nội tạng. Càng ngày, hành vi và thủ đoạn của tội phạm buôn bán người càng tinh vi, khiến các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải đau đầu trong việc điều tra, vây bắt và ngăn chặn. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã đưa ra những giải pháp phòng chống tội phạm buôn bán người thiết thực để có thể ngăn chặn và tiêu diệt triệt để hành vi vô nhân đạo này.

Lợi dụng sự hiểu biết hạn hẹp, mưu cầu cuộc sống ấm no đầy đủ của người dân vùng nông thôn nghèo khó nên bọn tội phạm buôn bán người thường nhắm đến các đối tượng nạn nhân này. Bên cạnh đó, với thời buổi công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, hành vi của bọn buôn bán người lại càng tinh vi hơn. Chúng lôi kéo nạn nhân thông qua các chiêu trò kết bạn, nhắn tin, giả vờ yêu đương trên mạng rồi vẽ ra viễn cảnh giàu sang đối với các chị em phụ nữ.

Chính vì vậy, ở Việt Nam có rất nhiều cuộc dự thảo được mở ra để triển khai, đóng góp và thông qua các biện pháp phòng chống và ngăn chặn loại tội phạm này. Ngoài ra, Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ – trẻ em, bổ sung cho Công ước về chống tối phạm xuyên quốc gia của Liên hợp quốc, được phê chuẩn, gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày 15/11/2000 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra những giải pháp cụ thể tại Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Khoản 3 như sau:

Điều 9. Ngăn ngừa việc buôn bán người

– Các quốc gia thành viên cần đề ra những chính sách, chương trình toàn diện và các biện pháp để ngăn ngừa, phòng chống, bảo vệ nạn nhân của tội phạm buôn bán người.

Điều 10. Trao đổi thông tin và đào tạo

Điều 11. Các biện pháp tại biên giới

– Để ngăn ngừa và phòng chống tội phạm buôn bán người, các quốc gia thành viên cần xem xét việc tăng cường hợp tác giữa các cơ quan kiểm soát biên giới bằng cách thiết lập và duy trì các kênh thông tin trực tiếp bên cạnh những phương thức khác.

– Áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác để ngăn chặn việc những phương tiện vận chuyển điều hành bởi các hãng vận chuyển thương mại bị sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Điều 12. An ninh và kiểm soát giấy tờ

Các quốc gia thành viên áp dụng những biện pháp cần thiết trong phạm vi sẵn có để đảm bảo những giấy tờ thông hành mình cung cấp có đặc tính không thể dễ dàng sử dụng vào mục đích xấu, không thể thay đổi, sao chép hoặc cấp một cách bất hợp pháp.

Bên cạnh những biện pháp cần các quốc gia thành viên hợp tác, thực hiện để phòng chống và ngăn ngừa tội phạm buôn bán người, thì các các cơ quan ban ngành trong nước cũng cần: nghiên cứu, tuyên truyền, các chiến dịch truyền thông đại chúng, các giải pháp kinh tế – xã hội; tăng cường hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nhằm phòng ngừa và chống tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em; tăng cường các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác để giảm nhu cầu dẫn đến thúc đẩy các hình thức bóc lột con người dẫn đến buôn bán người; nâng cao nhận thức của người dân nói chung bằng tất cả các phương tiện thích hợp; giáo dục và đào tạo về những biện pháp phòng ngừa cũng như các tác hại của loại tội phạm này; khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là trẻ em và những nạn nhân là trẻ em vào các chương trình thông tin, giáo dục và đào tạo.

Tìm Giải Pháp Hữu Hiệu Phòng, Chống Tội Phạm Giết Người

Toàn cảnh buổi tọa đàm.

Cùng với đó, qua tọa đàm sẽ dự báo những yếu tố tác động, ảnh hưởng làm gia tăng tội phạm giết người trong thời gian tới dưới góc nhìn mâu thuẫn, xung đột tâm lý – xã hội; những thuận lợi, khó khăn trong công tác phòng ngừa, đấu tranh của lực lượng Công an; đề xuất, kiến nghị những phương hướng, giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống của lực lượng Công an, trong đó chú trọng các giải pháp về tuyên truyền, giải quyết, xử lý dứt điểm các mâu thuẫn nội tại của nhân dân; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế phối hợp, huy động sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, tổ chức đoàn thể và người dân.

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã dành nhiều thời gian tập trung đánh giá, phân tích các nguyên nhân dẫn đến những vụ trọng án giết người, trong đó có nhiều ý kiến rất đáng chú ý, mang giá trị lý luận và thực tiễn cao.

Đánh giá cao sự chủ động của Công an TP Hà Nội trong công tác triển khai, nội dung tọa đàm, cũng như khẳng định tính chấp cấp thiết của buổi tọa đàm đối với công tác phòng chống tội phạm giết người hiện nay, Thiếu tướng, PGS. TS Trần Vi Dân, Giám đốc Học viện chính trị CAND đã tập trung phân tích sâu về tâm lý tội phạm giết người; làm rõ căn nguyên của tâm lý các đối tượng cũng như động cơ gây án, chỉ ra những nguyên nhân về tâm lý tội phạm giết người,

Thiếu tướng, PGS. TS Trần Vi Dân cũng đề xuất, gợi mở nhiều biện pháp phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tâm lý học như: các biện pháp tác động làm thay đổi hoàn cảnh, điều kiện, tình huống tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tội phạm giết người; biện pháp tác động vào các phẩm chất, các hoạt động tính tâm lý tiêu cực có khả năng làm nảy sinh điều kiện phạm tội giết người để ngăn cản hành vi phạm tội; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.

Tham luận của Thượng tá Tô Cao Lanh, Trưởng Phòng 8, Cục Cảnh sát hình sự nhìn nhận những vụ giết người có nguyên nhân từ mâu thuẫn thù tức chiếm tỷ lệ khá cao. Bên cạnh đó, có nhiều nguyên nhân gián tiếp như kinh tế thị trường, văn hóa bạo lựa, phim ảnh, internet… , công tác nắm, giải quyết các mâu thuẫn xã hội chưa được hiệu quả, kịp thời. Bên cạnh những biện pháp nghiệp vụ của cơ quan Công an, Thượng tá Tô Cao Lanh cũng đề xuất nhiều giải pháp trong đó nhấn mạnh tới trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền, hệ thống chính trị trong công tác kịp thời phát hiện, phòng ngừa, răn đe và xử lý các đối tượng…

Kết thúc buổi tọa đàm, Thiếu tướng, TS Đinh Văn Toản khẳng định: Các ý kiến tham gia đóng góp đặc biệt là giải đáp của các nhà khoa học, quản lý, chuyên gia tội phạm học tham gia buổi tọa đàm là những kiến thức khoa học hữu ích, kinh nghiệm hay giúp cho nhiều đơn vị Công an cơ sở Công an TP Hà Nội tìm ra được biện pháp nhằm giải quyết hiệu quả tội phạm giết người; phòng ngừa xử lý kịp thời đối với loại tội phạm này.

Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng

xâm hại với tỷ lệ cao hơn ở các nớc đang phát triển và nền kinh tế đang chuyển đổi. Tham nhũng ngăn cản nhiều nớc vợt qua những thách thức nghiêm trọng nhất của phát triển, cản trở đầu t trong nớc và nớc ngoài, làm xói mòn niềm tin trong các tổ chức công cộng, niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ, và làm tồi tệ thêm vấn đề ngân sách bằng cách lấy đôi của Chính phủ các khoản thuế quan và thuế thu nhập đáng kể.Mặc dù tội phạm tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm và có tính chất truyền thống nhng việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng chống loại tội phạm này luôn là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh tế trên thế giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng. Đó là một nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và ngời nghiêm cứu khoa học luật hình sự nói riêng.Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội 2Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viênDù vẫn đang là sinh viên nhng thông qua các phơng tiện thông tin đại chúng cũng nh trong thực tế đời sống xã hội, tôi cảm thấy rất quan tâm và bức xúc về vấn đề tội phạm tham nhũng hiện nay. Tôi đã tiến hành nghiên cứu trên sách báo, internet và thực tế để hoàn thành báo cáo khoa học này. Trong phạm vi một báo cáo kho học sinh viên chỉ xin đề cập về vấn đề này trên một số khía cạnh nh sau: tội phạm tham nhũng – một số vấn đề lý luận, thực tế và những ảnh hởng tới nền kinh tế, một số biện pháp đấu tranh phòng chống, t-ơng ứng với 3 chơng trong nội dung của báo cáo.Do tầm kiến thức còn hạn chế của sinh viên và thời gian thực hiện ngắn nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đợc những ý kiến phê bình và đóng góp của thầy cô cùng các bạn.Trong quá trình thực hiện báo cáo tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và bạn bè. Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới ThS Chu Thị Trang Vân- giảng viên bộ môn LHS, ngời đã hớng dẫn tôi hoàn thành báo cáo này.Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội 3Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viênChơng 1Tội phạm tham nhũng – Một số vấn đề lý luận1. Khái niệm tham nhũngTham nhũng là một hiện tợng xã hội tiêu cực xuất hiện cùng với sự phát triển của Nhà nớc, nó là biểu hiện của sự tha hoá của một bộ phận các quan chức đợc giao cho các quyền về chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội. Do vậy hiện tợng tiêu cực này đợc đề cập, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau ở

Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội 23Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viênKhoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội 24