Top 7 # Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Tín Dụng Đen Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Chống Tội Phạm Tín Dụng Đen

Tăng cường quản lý, có quy định cụ thể, siết chặt các hoạt động cho vay, huy động vốn tự phát. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giúp các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân nâng cao hiểu biết phát luật, nhận thức và có ý thức cảnh giác cao trước những phương thức, thủ đoạn của các đối tượng.

Phối hợp với các cơ quan chức năng, đưa ra xét xử lưu động, công khai các vụ việc vi phạm để phục vụ công tác tuyên truyền, nâng cao tính răn đe, phòng ngừa tội phạm cho quần chúng nhân dân.

Thông tư 64 sửa đổi: Bịt kẽ hở chính sách trong đấu tranh chống buôn lậu

Đầu tháng 7 năm nay, Thông tư liên tịch số 64 giữa Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Công an Bộ Quốc phòng quy định chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường chính thức có hiệu lực. Một trong những điểm đáng chú ý là theo tinh thần thông tư, hàng hóa khi vận chuyển phải có hóa đơn chứng từ hợp lệ đi kèm nếu không sẽ coi là hàng lậu. Đây được coi là một công cụ hữu hiệu giúp công tác phòng chống buôn lậu hiệu quả hơn.

Nhiều xe hàng đã được lực lượng chức năng bắt giữ, qua kiểm tra thì toàn bộ các mặt hàng trên các xe đều có xuất xứ từ Trung Quốc và sử dụng hoá đơn quay vòng để tuồn vào thị trường Việt Nam.

Thực tế hoạt động này thời gian qua cho thấy, để qua mắt lực lượng chức năng, các chủ đầu nậu trên biên giới và trong nội địa có sự câu kết chặt chẽ, tạo thành các đường dây, ổ nhóm, tụ điểm buôn lậu số lượng lớn. Bên cạnh đó, thủ đoạn sử dụng hóa đơn quay vòng, ghi giá trị hàng thấp khi nhập khẩu vẫn phổ biến.. Đến nay với thông tư 64 mới này thì thủ đoạn quay vòng hóa đơn của các đối tượng đã không còn cơ hội thực hiện.

Ông Ngô Thanh Tuấn – Phó đội Trưởng đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc, Cục ĐT Chống buôn lậu, Tổng cục HQ cho biết: Như trước kia có thể quay vòng được nhưng bây giờ thì không thể được với lý do là hóa đơn GTGT viết giữa DN thu mua gom tại cửa khẩu, bán xuất lại cho các chủ hàng trong nội địa và đấy là mua bán giữa người bán và người mua nhưng khi lực lượng chức năng yêu cầu thì đơn vị bán ra phải xuất trình hóa đơn, chứng từ gốc được biên phòng, hải quan chấp nhận mới được.

Một trong những điểm mới nữa đáng chú ý và được lực lượng chức năng cho rằng đã góp phần quan trọng và hiệu quả trong công tác phòng chống buôn lậu đó là việc quy định thời gian trong thời hạn 24 giờ liên tục, kể từ thời điểm kiểm tra, cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu phải xuất trình đầy đủ hóa đơn, chứng từ bản chính chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa theo quy định của pháp luật thay vì 72 giờ như trước.

Ông Dương Xuân Sinh – Phó Chánh văn phòng thường trực, Ban chỉ đạo 389 Quốc gia cũng cho hay: Trước đây thông tư 60 quy định thời gian xuất trình hóa đơn trong vòng 72h thì sẽ dẫn đến các đối tượng có thời gian sử dụng cái thời gian được trì hoãn đó để hợp thức hóa các hóa đơn chứng từ khi được các lực lượng chức năng kiểm tra và điều này đã được khắc phục triệt để trong thông tư 64.

Trên thực tế phải kiểm soát được hóa đơn, chứng từ mới kiểm soát và chống được hàng lậu chính vì vậy ngoài sự thuận lợi mà thông tư 64 mới đem lại cho công tác phòng chống buôn lậu, cũng đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra, kiểm soát thì những chuyến hàng như thế này mới không dễ dàng trót lọt vào nội địa.

Ngành Hải quan triển khai cơ chế một cửa liên thông

Thực hiện Quyết định số 09 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Tổng cục Hải quan vừa có công văn chỉ đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc triển khai thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông.

Cụ thể, Tổng cục Hải quan yêu cầu các cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố tổ chức rà soát lại việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại đơn vị. Nghiên cứu tổ chức xây dựng quy trình thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, rõ ràng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức.

Các đơn vị cần chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, đầu tư mua sắm trang thiết bị cần thiết cho mô hình một cửa, một cửa liên thông. Các cơ quan Hải quan phải thực hiện niêm yết công khai đầy đủ, kịp thời, rõ ràng các thủ tục hành chính theo đúng quy định, đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức.

Việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn.

Nâng Cao Công Tác Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Tội Phạm “Tín Dụng Đen”

Nhận diện “tín dụng đen”

“Tín dụng đen” được hiểu là hình thức cho vay, đi vay hoặc huy động vốn với lãi suất vượt mức lãi suất cho vay mà Nhà nước hay pháp luật quy định, được thực hiện bởi các cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính.

Hiện nay có một số loại vay “tín dụng đen” phổ biến như: Vay tiền gộp (hay còn gọi là vay “Bát”), nghĩa là vay ngắn hạn, yêu cầu trả gốc và lãi hàng ngày. “Vay nóng”, trả lãi theo ngày, trả nợ gốc vào một thời điểm ấn định, sau đó có thể thỏa thuận gia hạn thêm. Một loại cho vay khác là cho vay mua xổ số (hay “đề đóm”), khi con nợ không có khả năng trả thì ép viết giấy nợ, tính lãi cao, sau đó ép phải chuyển nhượng nhà cửa, tài sản để trừ nợ… Ngoài ra, hiện nay cũng xuất hiện một số đối tượng, cơ sở lợi dụng hình thức cho vay trực tuyến, vay online thông qua các trang mạng, mạng xã hội, ứng dụng di động với cách tính lãi và lãi suất tương tự như các hình thức đã nêu. Lãi suất trong các trường hợp này được tính trung bình từ 146%/năm đến 547,5%/năm, cá biệt có vụ lãi xuất được tính tới 1095%/năm, cao gấp nhiều lần mức lãi suất tối đa 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự.

Các đối tượng hoạt động “tín dụng đen” thường núp dưới vỏ bọc là các cơ sở kinh doanh, hội nhóm như: Các cơ sở cầm đồ, cơ sở kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê, công ty tài chính; các cơ sở, cá nhân có biểu hiện huy động vốn với lãi suất cao bất thường (chơi hụi, họ, phường…) và thường đưa ra các hình thức để thu hút vốn từ người dân như khuyến mãi, hoa hồng, huy động vốn để đầu tư, ủy thác đầu tư trái phiếu với lãi suất cao.

Nguyên nhân của thực trạng “tín dụng đen”

Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hoạt động “tín dụng đen” sau đây:

Một là, trong thực tế, không phải ai cũng có thể tiếp cận được với nguồn tín dụng ngân hàng, vì nguồn tín dụng hợp pháp này đòi hỏi những điều kiện rất chặt chẽ. Trong khi đặc trưng cơ bản của “tín dụng đen” là có lãi suất cho vay cao nhưng thủ tục thực hiện thì vô cùng đơn giản. Khách hàng của các hoạt động “tín dụng đen” đa dạng, từ những chủ cửa hàng lớn, đến người “cùng quá hóa quẫn”, sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện, miễn có tiền giải quyết nhu cầu nóng và thường không nhận thức được mối nguy hiểm từ “tín dụng đen”.

Hai là, thủ đoạn phạm tội càng ngày càng tinh vi để đối phó với cơ quan chức năng. Một số bị hại trong quá trình vay mượn thường giấu thông tin, thậm chí không hợp tác với CQĐT; hoặc bị các đối tượng đe dọa khống chế nên không dám tố giác, trình báo do sợ bị trả thù, sợ bị làm rõ việc vay tiền dùng vào một số việc bất chính… Khi cơ quan Công an phát hiện thì sự việc xảy ra đã quá lâu, kéo dài nên chứng cứ thu thập được bị hạn chế, khó khăn cho công tác điều tra, xử lý.

Ba là, một số vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật gây khó khăn cho công tác đấu tranh với loại tội phạm này, như: Thời hạn điều tra ngắn, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng gặp nhiều khó khăn vì theo quy định của BLHS thì đây chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng; nhận thức chưa thống nhất của các cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương về số tiền “Thu lời bất chính”, đây chính là những khó khăn, vướng mắc làm ảnh hưởng đến công tác mở rộng điều tra xác minh các tình tiết trong vụ án.

Bốn là, trình độ chuyên môn của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cán bộtrực tiếp đấu tranh với loại tội phạm này vẫn còn nhiều hạn chế. Thực tiễn việc xử lý hình sự đối với loại tội này chưa nhiều, do đó quá trình điều tra xử lý cũng còn lúng túng, chưa chủ động. Bên cạnh đó, trang thiết bị phục vụ cho việc điều tra vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ.

Ngoài ra, cần nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; từ đó lập chuyên án tấn công trấn áp tội phạm, triệt phá các tổ chức băng nhóm tội phạm, các đường dây lợi dụng “tín dụng đen”, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê… Chú trọng công tác tập huấn nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng của cán bộ, chiến sỹ trực tiếp đấu tranh với tội phạm “tín dụng đen”. Trang bị cơ sở vật chất (như máy quay phim, máy ghi âm) và đào tạo các kỹ năng sử dụng, vận hành để nâng cao chất lượng của việc điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này.

Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Công Nghệ Cao

Tổng quát về tội phạm công nghệ cao

Tội phạm công nghệ cao còn có một số tên gọi khác: tội phạm máy tính, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ảo, tội phạm không gian ảo, tin tặc. Trên thế giới, cùng với sự phát triển của máy tính, mạng máy tính và Internet, tội phạm công nghệ cao đã trải qua nhiều hình thái, từ đơn giản đến phức tạp, từ những cá thể đơn lẻ phát triển thành các tổ chức lớn và hoạt động ngày càng trở nên tinh vi.

Vào những năm 1960, các cuộc tấn công làm sập hệ thống điện thoại đường dài thường để giải trí hoặc sử dụng dịch vụ không mất tiền. Những năm 1980, các lập trình viên bắt đầu viết phần mềm mã độc, bao gồm các chương trình tự nhân bản, để can thiệp vào hoạt động của máy tính cá nhân.

Giai đoạn Internet bắt đầu phát triển mạnh, tội phạm thông qua Internet truy cập trái phép vào các hệ thống được bảo vệ kém để phá hoại, trục lợi về tài chính hoặc thực hiện các hành động có mục đích chính trị. Những năm 1990, tội phạm tài chính sử dụng phương thức thâm nhập máy tính tăng mạnh, mã độc thay đổi theo hướng khai thác điểm yếu của hệ điều hành.

Ở Việt Nam, loại hình tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng đặc biệt. Tuy nhiên, từ năm 2010 trở lại đây, khi ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) tại Việt Nam phát triển mạnh, số lượng vụ việc của loại hình tội phạm này tăng lên rất nhanh, tác động lớn đến an toàn, trật tự xã hội và an ninh quốc gia.

Xét về động cơ, về cơ bản có 3 nhóm tội phạm sau: (1) Học sinh, sinh viên hay những người muốn chứng minh năng lực của bản thân mà thực hiện các hoạt động tấn công mạng vào các trang tin trên Internet; (2) Các cá nhân, tổ chức chuyên lừa đảo để trục lợi về kinh tế; (3) Các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động phá hoại hệ thống thông tin với mục đích chính trị.

Nhóm thứ 3 có mức độ tác động lớn nhất, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Đặc biệt, nhóm này chủ yếu có nguồn gốc nước ngoài, không loại trừ có trường hợp được hậu thuẫn từ chính phủ, do đó rất khó xử lý, đối phó.

Đối với nhóm 1 và nhóm 2, lực lượng công an có thể thực hiện hoạt động phá án, truy bắt thủ phạm. Riêng đối với nhóm 3, việc cơ bản cần làm là thực hiện các hoạt động tự bảo vệ, phát hiện, hạn chế hành động phá hoại và hậu quả của các hành động này, rất khó có thể truy tìm thủ phạm để tiêu diệt tận gốc vấn đề.

Khung pháp lý phòng, chống tội phạm công nghệ cao

Lường được những hậu quả cũng như để tự bảo vệ, phát hiện các hành động phá hoại của tội phạm công nghệ cao, các nước tiên tiến trên thế giới đã thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ nhằm phòng chống tội phạm công nghệ cao. Cụ thể như: Năm 1986, Mỹ đã ban hành Luật Lừa đảo và lạm dụng máy tính. Luật này đã được điều chỉnh một số lần vào các năm 1989, 1994, 1996, 2001, 2002 và 2008; Nhật Bản ban hành Luật Truy cập máy tính trái phép vào năm 1999; Australia ban hành Luật Tội phạm ảo năm 2001; Philippines ban hành Luật Phòng tránh tội phạm ảo tháng 12/2012, tuy nhiên một số phần của Luật này bị Tòa án Tối cao tuyên bố không hợp hiến. Các nước không có luật riêng về tội phạm công nghệ cao thì đều định danh loại tội phạm này trong Luật hình sự.

Năm 2015, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật An toàn thông tin mạng, tạo nền tảng pháp lý và nâng cao chất lượng hoạt động bảo vệ các hệ thống CNTT và mạng máy tính của Việt Nam trước các cuộc tấn công của tội phạm công nghệ cao. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện Luật An toàn thông tin mạng vào cuộc sống như: Nghị định 58/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự; Nghị định 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; Nghị định 108/2016/NĐ-CP quy định chi tiết điều kiện kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng; Quyết định 05/2017/QĐ-TTg ban hành quy định về hệ thống phương án ứng cứu khẩn cấp bảo đảm an toàn thông tin mạng quốc gia.. Dự kiến trong năm 2017 Chính phủ sẽ tiếp tục ban hành một số văn bản thực thi Luật này.

Về lực lượng tham gia phòng chống tội phạm công nghệ cao của Việt Nam hiện có Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông và các Bộ chủ quản hệ thống thông tin. Một số bộ chủ quản, trong đó có Bộ Tài chính, đã thành lập phòng chuyên trách về an toàn an ninh thông tin.

Phòng chống tội phạm công nghệ cao tại các cơ quan tài chính

Trong những năm qua, Bộ Tài chính được đánh giá là đơn vị đi đầu trong khối các cơ quan nhà nước về ứng dụng CNTT. CNTT được áp dụng mạnh trong giao dịch nội bộ, các hoạt động nghiệp vụ và đặc biệt trong các dịch vụ hành chính công phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đối với một số đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ như Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải Quan, Tổng cục Thuế, các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán, nghiệp vụ của đơn vị sẽ không thể vận hành/vận hành hiệu quả nếu không có hệ thống thông tin. Việc bảo đảm an toàn cho các hệ thống thông tin nói chung và bảo vệ hệ thống trước các cuộc tấn công của tội phạm công nghệ cao đã trở thành nhiệm vụ quan trọng, một phần không thể thiếu trong công tác ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính và các đơn vị thuộc Bộ.

Các hoạt động về an toàn thông tin của ngành Tài chính được thực hiện theo “Khung an toàn thông tin ngành Tài chính” và chỉ đạo của Lãnh dạo Bộ, bao gồm 8 khía cạnh cần quan tâm về an toàn thông tin để đảm bảo tính tổng thể, toàn diện và hiệu quả của các hoạt động này, cụ thể như sau:

Thứ hai, hoàn chỉnh cơ cấu quản lý an toàn thông tin: Hoàn thiện tổ chức bộ phận chuyên trách về quản lý an toàn thông tin; Quy định đầy đủ và rõ ràng các vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các đơn vị, bộ phận và từng vị trí công tác trong công tác đảm bảo an toàn thông tin.

Thứ ba, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác đảm bảo an toàn thông tin: Xây dựng các tiêu chuẩn về năng lực, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ quản lý và kỹ thuật làm công tác đảm bảo an toàn thông tin; hình thành đội ngũ chuyên gia về an toàn thông tin.

Thứ tư, duy trì và nâng cấp hệ thống kỹ thuật đảm bảo an toàn thông tin: Duy trì hệ thống đã trang bị và nâng cấp thường xuyên, đảm bảo tính tuân thủ của các hệ thống này đối với các chính sách, quy định về an toàn thông tin của ngành Tài chính và khả năng bảo vệ hiệu quả thông tin và các hệ thống thông tin của ngành Tài chính.

Thứ năm, ứng cứu khẩn cấp: Xây dựng liên minh ứng cứu sự cố an toàn thông tin. Thiết lập cơ chế ứng phó hiệu quả và kịp thời với các sự cố, vi phạm và tấn công về an toàn thông tin.

Thứ sáu, nghiên cứu, hợp tác: Nghiên cứu tình hình, xu hướng tấn công và giải pháp đảm bảo an toàn thông tin của Việt Nam và thế giới và khả năng ứng dụng vào công tác đảm bảo an toàn thông tin của ngành Tài chính; Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, phối hợp về an toàn thông tin với các cơ quan chức năng, các tổ chức, chuyên gia có uy tín về an toàn thông tin.

Thứ bảy, giám sát đảm bảo thực thi: Triển khai công tác kiểm tra, kiểm toán về CNTT (bao gồm kiểm tra, kiểm toán về an toàn thông tin).

Thứ tám, đào tạo, nâng cao nhận thức cho cán bộ toàn ngành về an toàn thông tin: Thực hiện đào tạo, nâng cao nhận thức thường xuyên cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức ngành tài chính, thúc đẩy hình thành văn hóa có nhận thức cao về an toàn thông tin trong ngành Tài chính.

Cho đến nay, công tác đảm bảo an toàn thông tin, phòng chống tội phạm công nghệ cao tại Bộ Tài chính vẫn đang tiếp tục được đẩy mạnh và triển khai một cách toàn diện trên tất cả các khía cạnh từ chính sách, con người cho đến giải pháp kỹ thuật. Tình trạng thiếu nhân lực cấp độ chuyên gia về an toàn thông tin đang được nghiên cứu bù đắp bằng việc sử dụng các dịch vụ an ninh mạng chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, các quy định và chính sách mới của Nhà nước về an toàn thông tin mạng cũng giúp làm thành một điểm tựa vững chắc cho công tác đảm bảo an toàn thông tin của Bộ Tài chính, vượt qua giai đoạn tự mày mò và tìm hiểu, áp dụng các tiêu chuẩn, kinh nghiệm của nước ngoài có nhiều điểm không phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thực Trạng, Giải Pháp Và Hiệu Quả Trong Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm:nhiều Giải Pháp Trong Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm

Tích cực tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; chủ động phòng ngừa, trấn áp, điều tra bắt giữ các đối tượng phạm tội, triệt phá các băng nhóm tội phạm; huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc và đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là những giải pháp căn bản và lâu dài.

Đại tá Nguyễn Văn Lộc, Phó Giám đốc Công an tỉnh trao tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, Ban Chỉ đạo tỉnh về thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng, chống tội phạm đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể tăng cường tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng địa bàn, cơ quan, đơn vị, đối tượng.

Ngành Tuyên giáo phối hợp với ngành Công an hàng quý tổ chức thông tin tình hình an ninh trật tự, tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh trong nhân dân và định hướng nội dung tuyên truyền phòng, chống tội phạm cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp.

Các cơ quan báo, đài tăng cường thời lượng phát sóng, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác phòng, chống tội phạm; những phương thức, thủ đoạn mới của các loại tội phạm… để cán bộ và nhân dân đề cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa.

Lực lượng Công an chủ động trong công tác nắm tình hình địa bàn, tổ chức nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm hình sự, kinh tế, tham nhũng, ma túy, môi trường. Đề xuất nhiều biện pháp nhằm giải quyết nhanh các tình huống nổi lên về trật tự xã hội và chấn chỉnh công tác nghiệp vụ cơ bản; quản lý đối tượng gắn với công tác phòng ngừa xã hội, góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm và nâng cao tỷ lệ điều tra, phá án.

Lập kế hoạch tổ chức tốt công tác điều tra cơ bản, nắm chắc tình hình hoạt động của bọn tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, hoạt động có băng nhóm, tội phạm hình sự nguy hiểm; chủ động đề ra kế hoạch, phương án đấu tranh triệt phá.

Quản lý chặt chẽ các đối tượng hình sự, nhất là đối tượng nghiện ma túy, đối tượng mới được đặc xá, đối tượng sau cai nghiện, các đối tượng hoạt động tệ nạn xã hội có biểu hiện hoạt động phạm tội và các đối tượng vi phạm pháp luật khác tại gia đình và cộng đồng.

Có kế hoạch điều tra, xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ và xử lý các đối tượng phạm tội và tái phạm tội. Tăng cường hiệu quả, hiệu lực các biện pháp quản lý hành chính Nhà nước về an ninh trật tự như: Quản lý cư trú, vũ khí, vật liệu nổ, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện…, qua đó phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; tập trung triệt xóa các tụ điểm cờ bạc, góp phần phòng ngừa phát sinh tội phạm.

Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, đạo đức, lối sống và về phòng, chống tội phạm nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng phát hiện và phòng ngừa tội phạm. Thực hiện tốt việc tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm của nhân dân, kịp thời phân loại, xử lý tin theo đúng quy định của pháp luật.

Tập trung giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp ngay tại địa bàn cơ sở, không để hình thành “điểm nóng” xảy ra. Xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả của các tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở theo hướng tập trung chuyên sâu, trang bị thêm công cụ hỗ trợ.

Chủ động mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, vận động nhân dân cùng với các lực lượng chức năng tham gia tấn công, trấn áp các loại tội phạm trên các tuyến, địa bàn trọng điểm. Tập trung tấn công, xử lý kiên quyết, triệt để các băng, nhóm tội phạm hình sự nguy hiểm như: Tội phạm sử dụng vũ khí, vật liệu nổ; tội phạm xâm hại trẻ em; tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên; tội tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại và vi phạm về môi trường; tội phạm ma túy và các tệ nạn xã hội.

Thường xuyên tổ chức truy bắt, thanh loại, làm giảm cơ bản đối tượng bị truy nã. Tập trung thực hiện quyết liệt việc chuyển hóa các địa bàn phức tạp về an ninh trật tự, tạo chuyển biến thật sự ở địa bàn cơ sở.

Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả phong trào Toàn dân bảo vệ anh ninh Tổ quốc trên từng tuyến, từng vùng, từng lĩnh vực; chú trọng vùng giáp ranh, khu kinh tế trọng điểm. Xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình phòng, chống tội phạm; đổi mới công tác quản lý, giáo dục người vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư, người đặc xá, tha tù.

Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp hành động đã ký kết giữa các ngành, đoàn thể trong công tác phòng, chống tội phạm. Thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức lực lượng phòng, chống tội phạm từ tỉnh đến cơ sở đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đủ năng lực, làm nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp thường xuyên tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phòng, chống tội phạm gắn với phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

Qua đó, các đoàn thể thành viên của Mặt trận và nhân dân đã cung cấp cho cơ quan chức năng hàng trăm nguồn tin có giá trị phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; nhận giáo dục, cảm hóa hàng trăm đối tượng hòa nhập cộng đồng, làm ăn lương thiện.

Qua triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trong công tác phòng, chống tội phạm đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi, qua đó xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến được các cấp khen thưởng xứng đáng.

ANH ĐẬU Bài cuối: Hiệu quả từ Chương trình phòng, chống tội phạm