Top 2 # Giải Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Dưới 18 Tuổi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Phòng Ngừa Người Dưới 18 Tuổi Phạm Tội Thông Qua Hoạt Động Xét Xử Của Tòa Án

Tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam là một những vấn đề nóng bỏng và là một trong những vấn đề đang được xã hội quan tâm. Trong những năm gần đây, ở Việt Nam tình trạng tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội. Thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao. Số lượng các vụ án tăng nhanh, nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, cùng với tính chất phức tạp của từng vụ án là những thủ đoạn tinh vi, do đó tính nguy hiểm ngày càng cao để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm xôn xao dư luận xã hội. Việc gia tăng các vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ tăng về số lượng các bị cáo, mà tuổi đời cũng được trẻ hoá, có nhiều vụ án các bị cáo là người dưới 18 tuổi thực hiện thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù chung thân hoặc tử hình như tội: “Cố ý gây thương tích”, “Giết người”, “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản”.

Đặc biệt, vụ thảm án tại tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang mà kẻ tội đồ Lê Văn Luyện thì chưa đến 18 tuổi, hay vụ nữ sinh Nguyễn Thị Giang giết bạn học ở Hưng Yên mới 15 tuổi đã một lần nữa gióng hồi chuông cảnh báo về sự gia tăng tỷ lệ phạm tội ở lứa tuổi này.

Theo báo cáo về công tác phòng chống tội phạm của Chính phủ trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 2 cho thấy, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng gia tăng, chiếm 15-18%. Hàng năm các cơ quan thi hành pháp luật bắt giữ, truy tố hơn 115 nghìn người, trong đó có 16-18 nghìn đối tượng là người dưới 18 tuổi… Với diễn biến như vậy, như phát biểu của ông Nguyễn Đức Chung khi còn làm Giám đốc Công an thành phố Hà Nội thì “theo phép tính nhân thì chỉ sau 5-10 năm nữa đất nước chúng ta sẽ có gần 1 triệu người có tiền án tiền sự, trong đó có 200 nghìn người dưới 30 tuổi”. Đây chính là con số đáng báo động, buộc các cấp, các ngành phải có những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm phòng ngừa sự gia tăng của tình trạng phạm tội ở lứa tuổi chưa trưởng thành.

Qua thực tiễn xét xử thời gian qua thì thấy, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện vẫn có chiều hướng gia tăng, cơ cấu, tổ chức, tính chất tội phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Có không ít trường hợp đã bị Tòa án xét xử, áp dụng mức phạt nghiêm khắc nhưng tác dụng phòng ngừa, cảnh báo chưa cao, tỷ lệ người dưới 18 tuổi tái phạm còn nhiều. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để có những giải pháp hữu hiệu phòng ngừa tội phạm người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua hoạt động xét xử của Tòa án là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 thực hiện trong giai đoạn hiện nay.

II. Thực trạng người dưới 18 tuổi phạm tội trên phạm vi toàn quốc thời gian qua

2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về người dưới 18 tuổi phạm tội Luật hình sự Việt Nam quy định hai mức tuổi khác nhau để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 179, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.

Như vậy chỉ những người từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự thì mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2.2. Thực trạng tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội

Theo thống kê gần nhất của Bộ Công an, tỷ lệ gây án theo lứa tuổi ở tuổi vị thành niên trên địa bàn cả nước là 5,2% đối với người dưới 14 tuổi, 24,5% đối với người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và 70,3% đối với người từ 16 đến dưới 18 tuổi. Từ đánh giá tổng thể có thể thấy, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật do trẻ vị thành niên gây ra tiếp tục diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ phạm tội nguy hiểm hơn, gây hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt, tại các thành phố lớn, tỉ lệ trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội chiếm tỷ lệ cao hơn và có chiều hướng tăng nhanh hơn. Chính vì vậy, việc siết chặt cũng như nới lỏng chính sách xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội một cách phù hợp, đủ sức răn đe, giáo dục là hết sức cần thiết, vừa đáp ứng yêu cầu kéo giảm tội phạm, vừa phù hợp với quan điểm chung của cộng đồng quốc tế .

Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, do các bị cáo đang ở độ tuổi chưa thành niên một mình hay cùng đồng bọn cũng là những người chưa thành niên gây ra như:

Vụ án Lê Ngọc Chung (sinh ngày 31/5/1991, trú tại Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội) cũng có hành vi tàn ác không kém Lê Văn Luyện trong vụ thảm sát hiệu vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang. Là học sinh lớp 10A5 trường PTTH Thanh Oai, ngày 9/4/2007, do chán cảnh mẹ và bố dượng suốt ngày cãi nhau và chửi mắng mình nên Chung đã quyết định bỏ học, bỏ nhà ra đi. Khi bỏ nhà đi, Chung lấy trộm của gia đình 1 triệu đồng và chiếc xe máy của người bố dượng rồi lang thang lên Hà Nội và được giới thiệu đến làm việc rửa xe thuê cho gia đình anh Đỗ Quốc Hùng ( 42 tuổi, ở số nhà 888 phố Minh Khai, phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Trong một lần bị gia chủ nhắc nhở tội “tắt mắt”, Chung đem lòng thù tức và đến ngày 2/5/2007, hắn mò đến nhà anh Hùng, xuống tay sát hại cả nhà anh. Kẻ giết người đã bị bắt ngay khi sát hại 5 người trong gia đình. Hai nạn nhân đã tử vong ngay sau khi bị đâm là bà Đặng Thị Nữ, 68 tuổi và cháu nội là Đỗ Trung Nghĩa, 16 tuổi. Anh Đỗ Quốc Hùng, 42 tuổi sau đó cũng tử vong. Vợ anh Hùng là chị Trần Thị Nguyệt Nga, 39 tuổi cùng con gái 7 tuổi là Đỗ Thùy Anh cũng bị chém dã man nhưng sau đó may mắn được cứu sống…

Qua vụ án này thì thấy, tuy ở độ tuổi còn rất trẻ, song hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm và quyết liệt, có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện với thủ đoạn tinh vi, xuống tay sát hại người khác một cách hết sức dã man. Do vậy, hậu quả để lại là rất nặng nề, gây bức xúc trong nhân dân và gây dư luận xấu trong xã hội.

a. Về số lượng các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên phạm tội.

Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự Bộ Công an thì, trong ba năm từ 2016 đến 2018 toàn quốc đã phát hiện 13.794 vụ với 20.367 đối tượng là người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong các tội danh mà người dưới 18 tuổi phạm tội, có thể thống kê một số tội danh như sau: Giết người là 183 vụ với 293 đối tượng; Cướp tài sản là 475 vụ với 830 đối tượng; Cưỡng đoạt tài sản là 88 vụ với 111 đối tượng; Cố ý gây thương tích là 2017 vụ với 3797 đối tượng; Trộm cắp tài sản là 5565 vụ với 7611 đối tượng; Cướp giật tài sản là 505 vụ với 627 đối tượng.

Ngoài các tội danh nêu trên, người dưới 18 tuổi còn phạm các tội khác với 4961 vụ, 10.895 đối tượng. Trong số vụ phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện thì số vụ do người dưới 14 tuổi gây ra chiếm 6%, số vụ do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi gây ra chiếm 23%, còn lại số vụ do người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thực hiện là 71% .

Trong những năm qua, ngành Tòa án đã hết sức chú ý đảm bảo về chất lượng xét xử đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện nói riêng, ngoài xét xử tại trụ sở Tòa án, các Tòa án địa phương cũng tăng cường công tác xét xử lưu động các vụ án điểm do người chưa thành niên thực hiện, nhằm tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, góp phần phòng ngừa tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội. Cụ thể từ năm 2016 đến tháng 6/2019, toàn Hệ thống Tòa án thụ lý 8.129 vụ với 10.923 bị cáo là người dưới 18 tuổi (năm 2016 là 2653 vụ với 3494 bị cáo; 2017 là 2119 vụ với 2688 bị cáo; 2018 là 2265 vụ với 3176 bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 1092 vụ với 1565 bị cáo). Đã xét xử được 7014 vụ với 9188 bị cáo (năm 2016, 2424 vụ với 3169 bị cáo; năm 2017, 1878 vụ với 2374 bị cáo; 2018, 1800 vụ với 2483 bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 912 vụ với 1262 bị cáo). Trong số các bị cáo bị đưa ra xét xử, có độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi là 284 chiếm 3% còn lại là ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 97%, về giới tính có 186 bị cáo là nữ giới còn lại là nam giới.

Như vậy, số lượng các vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện trong ban năm được đưa ra xét xử chỉ chiếm 51% (7037 vụ/13.794 vụ) số bị cáo chỉ chiếm 46% tổng số người dưới 18 tuổi phạm tội (9358 bị cáo/20.367 đối tượng phạm tội).

Nếu chỉ thông qua số liệu xét xử hàng năm như trên thì chúng ta thấy có tín hiệu đáng mừng vì số vụ án và số bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội có chiều hướng giảm, (năm 2016 là 3169 bị cáo, năm 2017 là 2374 bị cáo, năm 2018 là 2383 giảm so với 2016 là 786 bị cáo bằng 24,8%) . Phải chăng đây chính là hiệu quả của công tác xét xử đã có tác dụng trong công tác phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên, chúng ta lại thấy tỷ lệ người dưới 18 tuổi phạm tội được đưa ra xét xử ít hơn rất nhiều so với người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật bị phát hiện như đã phân tích ở trên. Chính vì vậy, cũng chưa thể khẳng định chính xác hiệu quả của công tác phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua công tác xét xử của Tòa án là bao nhiêu phần trăm! Cũng thông qua số liệu người dưới 18 tuổi phạm tội được phát hiện và số liệu người dưới 18 tuổi được đưa ra xét xử thì thấy nguy cơ số trẻ em phạm tội đang “gia tăng và trẻ hóa”đang trong tình trạng báo động bởi lẽ: Số người dưới 18 tuổi phạm tội không đưa ra xét xử được chiếm 59%.

b. Về độ tuổi và loại tội mà các bị cáo là người chưa thành niên thực hiện.

Theo thống kê của TANDTC thì thấy số người chưa thành niên phạm tội chủ yếu ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 97% (9074 bị cáo), từ 14 đến dưới 16 tuổi chiếm 3 % (284 bị cáo). Những loại tội mà các bị cáo là người chưa thành niên thực hiện tập trung nhiều ở các tội như: “Cố ý gây thương tích”, “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản”, “Giết người”,” Cướp giật tài sản” chiếm 87% tổng các loại tội như đã phân tích ở phần trên.

c. Về mức hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo.

ăm 2019, việc quyết định hình phạt khi xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội của hệ thống Tòa án đã vận dụng thì mức hình phạt từ 15 – 18 năm chỉ có 27 bị cáo chiếm 0,29%, từ 7 – 15 năm có 248 bị cáo chiếm 2,7%, từ 3 đến 7 năm có 993 bị cáo chiếm 10,6%, dưới 03 năm có 4782 bị cáo chiếm 51% và số bị cáo được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ là 2803 bị cáo chiếm 30,5%. Số bị cáo được áp dụng các loại hình phạt khác không phải là hình phạt tù là 505 bị cáo chiếm 3,6%. Nhìn chung hình phạt phổ biến được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong thời gian qua tập trung ở mức dưới ba năm và án treo. Có thể thấy mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là mang tính giáo dục thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, đã được quy định cụ thể trong Chương XII những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật hình sự.

III. Một số bất cập và hạn chế

3.1.Bất cập, hạn chế từ những quy định của Bộ luật hình sự

Như trên đã phân tích, số lượng các vụ án và người dưới 18 tuổi phạm tội trong ba năm được phát hiện là rất lớn song số vụ án và người dưới 18 tuổi phạm tội được đưa ra xét xử là rất thấp chỉ chiếm 46% (9358 bị cáo/20.367 đối tượng phạm tội). Sở dĩ có tình trạng này thì nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 BLHS. Theo quy định tại Điều 12 BLHS thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Việt Nam là từ đủ 14 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật. Thực tiễn hiện nay, có rất nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng do người dưới 14 tuổi gây ra nhưng không thể xử lý bằng hình sự được ví dụ: Như vụ án Dương Phương Thuấn ở Trung Chính – Lương Tài – Bắc Ninh sinh tháng 8/1998, đã giết cháu Nguyễn Đình Đào học sinh lớp 6 cùng trường, giấu xác xuống ao để cướp xe đạp. Do khi phạm tội Thuấn chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Công an đã phải đình chỉ vụ án để đưa Thuấn vào trường giáo dưỡng Bộ Công an.

Hay còn rất nhiều vụ án do người dưới 18 tuổi phạm tội không thể đưa ra xét xử được vì các đối tượng này mới chỉ ở độ tuổi đủ 14 đến dưới 16 tuổi nhưng chỉ phạm các tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, kể cả họ phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, nhưng những tội đó không phải là quy định trong 28 điều luật mà Điều 12 BLHS đã liệt kê thì họ có phạm tội cũng chỉ xử lý hành chính, chứ không thể xử lý bằng hình sự được.

Việc quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định trong 28 điều luật của BLHS là không thống nhất, công bằng về chính sách hình sự, không bảo đảm tính khoa học và lôgíc của quy định (cùng thực hiện một loại tội phạm nhưng đối với tội này thì phải chịu trách nhiệm hình sự, còn tội khác lại không phải chịu trách nhiệm hình sự, trong khi đó, tội phạm khác ấy có thể nghiêm trọng, nguy hiểm hơn) và không phù hợp với thực tế tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện trong thời gian qua các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ngoài 28 tội danh được liệt kê như quy định của BLHS còn có thể phạm vào các tội khác nữa. Việc quy định như vậy, sẽ tạo ra kẽ hở cho các đối tượng phạm tội sử dụng người chưa thành niên vào việc thực hiện tội phạm .

Bất cập tiếp theo, cũng xuất phát từ chính quy định của BLHS dẫn đến tình trạng người chưa thành niên phạm tội nhiều nhưng được đưa ra xét xử ít đó là sự không thống nhất giữa các quy định của BLHS trong phần chung và phần các tội phạm cụ thể như:

Tại Điều 145 BLHS có quy định về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổilà: “Người nào đã đủ 18 tuổi mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm…”

Điều 146 tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cũng quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…”

Như vậy, theo cấu thành cơ bản của hai tội này thì chỉ những người từ đủ 18 tuổi trở lên khi có hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc dâm ô đối với người dưới 16 tuổi mới bị xử lý về hình sự, còn những người dưới 18 tuổi cho dù mức độ phạm tội có là bao nhiêu lần cũng không bị xử lý hình sự. Quy định như vậy theo chúng tôi là bất hợp lý so với thực tiễn hiện nay, mâu thuẫn với quy định tại các Điều 142 và 144 BLHS. Quy định như vậy là không bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, đôi khi còn bất công trong trường hợp cùng là hành vi giao cấu đối với trẻ em nhưng có trường hợp người bị hại vừa đủ 13 tuổi thì họ không phải chịu tội, nhưng chỉ cần thiếu một ngày mới đủ 13 tuổi (dưới 13 tuổi) thì họ lại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 142 BLHS (Tội hiếp dâm trẻ em) với khung hình phạt từ 07 đến 15 năm.

Chính những bất cập này đã là nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội nhiều nhưng số lượng được đưa ra xét xử lại rất ít như đã phân tích ở trên và đó cũng chính là nguyên nhân chưa nâng cao được hiệu quả phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua công tác xét xử của Tòa án. Một vấn đề nữa mà theo chúng tôi cũng là những bất cập hiện nay làm hạn chế hiệu quả phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội thông qua công tác xét xử các vụ án hình sự của Tòa án, đó chính là những quy định tại Điều 101, 103 và 104 BLHS khi quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể Điều 101. Tù có thời hạn quy định:

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

“1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.

Tại Điều 103. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội quy định: “Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội…”.

Trong thời gian vừa qua, dư luận rất bất bình với những hành vi giết người không ghê tay của những đối tượng Lê Văn Luyện, Lê Ngọc Chung cả hai đối tượng này đều gây ra hai vụ thảm sát giết nhiều người và phạm một lúc cả hai tội là giết người và cướp tài sản, trong đó hành vi giết người của chúng đều đáng bị xử với mức án cao nhất là đến tử hình song chúng chỉ phải chịu mức án cao nhất là mười tám năm tù vì lý do chúng đều chưa đủ 18 tuổi. Hay vụ Nguyễn Văn Ngọc ở Nam Sơn thành phố Bắc Ninh đã có hành vi giết người cướp xe máy song cũng chỉ xử bị cáo 12 năm tù vì khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi.

Theo chúng tôi, quy định về việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội theo Điều 101 BLHS và tổng hợp hình phạt theo Điều 103 BLHS như Bộ luật hiện hành là không phù hợp gây dư luận bất bình trong nhân dân. Mặc dù, mục đích của hình phạt nói chung không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội còn đối với người chưa thành niên phạm tội thì mục đích của chúng ta là chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm chứ không phải là mang tính trừng trị song hiện nay rõ ràng việc người chưa thành niên phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng, gây nên những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không còn là cá biệt mà đang có chiều hướng gia tăng thì mức hình phạt như quy định hiện nay là không phù hợp, nếu như không nói chúng ta đang nhân đạo với một người mà lại không nhân đạo với nhiều người khác đặc biệt là đối với những vụ thảm sát do người chưa thành niên phạm tội gây ra trong thời gian qua. Ví dụ như vụ tên Nguyễn Văn Ngọc khi phạm tội cướp tài sản và giết người bị cáo mới gần 15 tuổi, giả sử bị cáo không được giảm án thì cũng chỉ 27 tuổi bị cáo được trở về gia đình, song nỗi đau của gia đình người bị hại thì chưa biết bao giờ mới nguôi ngoai và cũng không ai có thể biết trước liệu con người này có thực sự hướng thiện hay không?

3.2. Những bất cấp từ mô hình của Tòa án và đội ngũ xét xử các vụ án người chưa thành niên phạm tội hiện nay.

Như chúng ta đã biết, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ sẽ bị hạn chế hơn so với người thành niên. Họ dễ bị kích động, bị rủ rê, lôi kéo vào những hoạt động của người lớn, nghiên cứu về thái độ tâm lý của người chưa thành niên phạm tội thông qua các phiên tòa xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, chúng tôi thấy thường thường người chưa thành niên sau khi phạm tội có những biểu hiện trái ngược nhau. Có những đối tượng sau khi phạm tội thì tỏ vẻ rất sợ hãi, rất hối hận đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình, song ngược lại thì cũng có những đối tượng sau khi phạm tội thì cố tỏ vẻ “chất anh hùng” của mình, tạo ra vẻ bất cần, không có chút sợ hãi, cố tình cười cợt… Thực chất, đây cũng chỉ là những phản ứng rất bình thường của lứa tuổi đang trong quá trình hình thành nhân cách, đòi hỏi các quy định của pháp luật phải làm sao vừa mang tính răn đe vừa mang tính giáo dục hiệu quả nhất và một trong những biện pháp quan trọng nhất đó là việc thay đổi từ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. BLTTHS hiện hành, mặc dù đã có một chương riêng quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Chương XXVIII), tuy nhiên đó cũng chỉ là những quy định mang tính chung nhất chưa cụ thể và phù hợp với hoạt động tố tụng của các Cơ quan và người tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Như đã phân tích về đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên ở trên, thì các quy định của Bộ luật tố tụng cần quy định cụ thể và riêng biệt hơn nữa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.

Mặc dù hiện nay, hệ thống Tòa án đã thành lập các Tòa gia đình và người chưa thành niên để xét xử với các phòng xét xử thân thiện. Song chúng ta cũng chưa có đội ngũ những người tiến hành tố tụng cả Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán riêng biệt được trang bị những kiến thức cần thiết để nắm bắt và hiểu biết về tâm lý học cũng như về khoa học giáo dục khi xét xử đối với các bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội. Hiện các Thẩm phán khi xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cũng là những Thẩm phán xét xử đối với người thành niên, thậm chí trong cùng một phiên tòa có khi vừa xử vụ án đặc biệt nghiêm trọng đối với người thành niên song lại tiếp tục xét xử đối với người dưới 18 tuổi dẫn đến tình trạng Thẩm phán đó vẫn dùng nguyên thái độ khi xét xử với người thành niên, thậm chí còn quát tháo, khi xét hỏi còn có những lời lẽ không phù hợp với tâm lý của bị cáo là người dưới 18 tuổi, câu hỏi đôi khi không mang tính giáo dục mà còn mang tính truy chụp, buộc tội, không mang tính thân thiện, hòa nhã, đẩy bị cáo là người dưới 18 tuổi vào trạng thái sợ hãi, căng thẳng và có cảm giác bị kỳ thị dẫn đến tình trạng tiêu cực từ phía bị cáo là người dưới 18 tuổi, dẫn đến tình trạng sau phiên tòa, hoặc sau khi được về với gia đình họ có thể sẽ liều lĩnh và nguy hiểm hơn. Đấy cũng chính là nguyên nhân mà hiệu quả phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội, thông qua công tác xét xử của Tòa án không đạt được kết quả như mong muốn.

IV. Giải pháp về các quy định của pháp luật

Thứ nhất: Cần hoàn thiện các quy định của BLHS

Như trên đã phân tích, trong các quy định của BLTTHS hiện hành, đang có sự mâu thuẫn giữa các chủ thể của tội phạm, để khắc phục sự mâu thuẫn này chúng tôi thấy cần sửa đổi quy định tại cấu thành cơ bản của các Điều 145 tội “giao cấu với trẻ em” và Điều 1146 tội “Dâm ô đối với trẻ em” theo hướng không quy định trong cấu thành cơ bản của hai điều luật này là “người nào đã đủ 18 tuổi…” mà nên quy định như cấu thành cơ bản của các Điều 141, 142, 143, 144 Bộ luật hình sự. Có như vậy, mới tránh lọt người phạm tội. Thứ hai: Về vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

Việc quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì theo Công ước quốc tế cũng không bắt buộc về vấn đề này mà việc quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay độ tuổi chưa thành niên là do quy định của mỗi quốc gia thành viên. Hiện một số nước trên thế giới và khu vực, cũng có những quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự khác nhau như: Vương Quốc Anh là 10 tuổi, Liên bang Nga 13 tuổi, Irac là 7 tuổi…

Theo quan điểm của chúng tôi, không cần thiết phải hạ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay hạ độ tuổi người chưa thành niên, mà nên sửa đổi BLHS theo hướng tăng mức hình phạt khi xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù hiện cũng có nhiều quan điểm không đồng ý, song với thực trạng người chưa thành niên phạm tội hiện nay, chúng ta cũng cần có sự thay đổi về chính sách hình sự theo hướng nghiêm khắc hơn cho phù hợp với tình trạng gia tăng người chưa thành niên phạm tội hiện nay. Điều đó cũng không trái với nội dung của các Công ước quốc tế.

Để khắc phục tình trạng trên, theo chúng tôi cần nâng mức hình phạt nếu tới tử hình thì độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 phải là 20 năm và độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 phải là 18 năm và khi tổng hợp hình phạt cũng nên tổng hợp theo trường hợp bình thường là đến 30 năm. Việc sửa đổi này, theo chúng tôi cũng không trái với các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Theo pháp luật của Việt Nam, thì trong quá trình cải tạo thì người bị kết án vẫn có cơ hội được giảm án và phóng thích trước thời hạn. Do vậy, việc tăng mức hình phạt là cần thiết và phù hợp với tình hình gia tăng tình trạng người chưa thành niên phạm tội hiện nay và mới đủ sức để răn đe và mới nâng cao được hiệu quả phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra thông qua công tác xét xử của Tòa án và không trái với các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Thứ ba: Cùng với việc thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên, thì chúng ta cũng cần phải chú trọng đào tạo đội ngũ những người tiến hành tố tụng cả Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán riêng biệt được trang bị những kiến thức cần thiết để nắm bắt và hiểu biết về tâm lý học cũng như về khoa học giáo dục khi xét xử đối với các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội. Hiện có quy định phòng xét xử thân thiện tại các Tòa án thì cũng nên cần có những phòng điều tra thân thiện đối với người dưới 18 tuổi, có như vậy mới bảo đảm được quyền của trẻ em.

Khái Niệm Phòng Ngừa Tội Phạm Dưới Góc Độ Tội Phạm Học

Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm tội phạm, khái niệm tội phạm học trong khoa học, tác giả đã xây dựng khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học. Ngoài ra, cũng để chứng minh rằng, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành cơ bản của lý luận tội phạm học.

Từ trước đến nay, đấu tranh chống tội phạm được tiến hành theo phương châm: nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội, hình thành thói quen phản ứng tích cực và hưởng ứng của Nhà nước và xã hội đối với tội phạm. Do đó, phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học. Nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học. Cho nên, phòng ngừa tội phạm vừa là bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học. Hơn nữa, suy cho cùng thì mục đích của ngành khoa học về tội phạm học chính là để phòng ngừa tội phạm, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, trước khi đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học cần phải làm sáng tỏ hai nội dung “tội phạm” với tư cách là đối tượng phòng ngừa và “tội phạm học” với tư cách là hệ thống bao gồm các bộ phận khác nhau mà lý luận về phòng ngừa tội phạm chính là một bộ phận cấu thành trong đó.

2. Khái niệm tội phạm và khái niệm tội phạm học

Tội phạm – là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Cho nên, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người nào thực hiện các hành vi đó. Do đó, tội phạm lại mang bản chất là một hiện tượng pháp lý.

Là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội – pháp lý, tội phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của công dân. Tội phạm cũng mang tính lịch sử, nó có nguồn gốc xã hội, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đồng thời tìm ra nguyên nhân và điều kiện của nó phải xuất phát từ xã hội, cũng như việc đưa ra các biện pháp phải phù hợp và dựa trên những quy luật kinh tế – xã hội khách quan và có tính tất yếu gắn liền với từng giai đoạn tương ứng của xã hội.

Nói chung, tội phạm ở các quốc gia trên thế giới khác nhau tùy theo bản chất giai cấp của mỗi nhà nước, cũng như phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Do đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, Luật Hình sự Việt Nam cũng như Luật Hình sự các nước xã hội chủ nghĩa đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm về phương diện nội dung và pháp lý, thể hiện rõ bản chất xã hội của tội phạm, qua đó phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong từng giai đoạn của lịch sử và cách mạng, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân. Đặc biệt, nó phản bác quan điểm phản khoa học đã từng tồn tại trong Luật Hình sự một số Nhà nước tư sản trước đây như Luật gia Mỹ Tanhen Isum cho rằng: “Tội phạm sẽ tồn tại vĩnh viễn cùng với xã hội, nó là một hiện tượng vĩnh viễn cũng giống như bệnh hoạn, sự điên dại và chết chóc. Tội phạm sẽ mãi mãi nở ra như mùa xuân và lặp lại một cách không thay đổi như mùa đông” [1]. Là một nội dung quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học, do vậy, việc làm rõ khái niệm tội phạm và khái niệm tội phạm học có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở để xây dựng khái niệm chính xác về phòng ngừa tội phạm.

2.1. Khái niệm tội phạm

Trong khoa học Luật Hình sự, trước đây và hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nội dung lẫn nội hàm khái niệm tội phạm [2-7]. Tuy nhiên, hiện nay, cùng với xu thế chung của tình hình thì việc mở rộng nội hàm và cách nhìn nhận khái niệm tội phạm dưới góc độ hiện đại hơn qua nhiều góc độ kinh tế, xã hội, pháp lý, văn hóa, địa lý, dư luận xã hội… Mặc dù vậy, điều cơ bản và quan trọng hơn cả, tội phạm chính là cơ sở pháp lý để phân biệt nó với các vi phạm pháp luật khác và với hành vi trái đạo đức, cũng như với các trường hợp không phải là tội phạm, qua đó bảo vệ pháp chế, củng cố và duy trì trật tự pháp luật, góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Còn dưới góc độ khoa học Luật Hình sự Việt Nam, khái niệm tội phạm được nghiên cứu dưới phương diện “tĩnh” và có thể được hiểu ngắn gọn như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ. Từ khái niệm này chúng ta có thể chỉ ra các đặc điểm cơ bản của tội phạm như sau: Một là, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hai là, tội phạm được quy định trong Bộ Luật hình sự; ba là, tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện; bốn là, người thực hiện hành vi phạm tội một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) và năm là, tội phạm xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật Hình sự ghi nhận và bảo vệ.

Trong khi đó, dưới góc độ tội phạm học, khái niệm tội phạm lại được nghiên cứu trên phương diện “động” với tư cách là một hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, có quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển nhất định, có “nguyên nhân” và “điều kiện”, đòi hỏi có sự cần thiết phải phòng ngừa “tội phạm”, đồng thời khái niệm “tội phạm” lại được mô tả xem như là “hành vi phạm tội” trong mối liên hệ với các hiện tượng, nhân tố và quá trình tác động khác nhau(1).

2.2. Khái niệm tội phạm học

Bên cạnh ngành khoa học Luật Hình sự, trong lĩnh vực tư pháp hình sự còn một ngành khoa học khác có đối tượng nghiên cứu độc lập, chuyên sâu nghiên cứu về bản chất của hiện tượng xã hội tiêu cực là tội phạm, nghiên cứu về quy luật làm phát sinh, tồn tại và phát triển của hiện tượng này trong đời sống xã hội, cũng như tìm ra nguyên nhân và điều kiện của nó để kiến nghị đưa ra những giải pháp tổng thể, có hệ thống mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn đó chính là ngành khoa học nghiên cứu về tội phạm – Tội phạm học. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ khái niệm tội phạm học, đặc biệt là mối quan hệ trong đó với phòng ngừa tội phạm để làm rõ nội dung “phòng ngừa tội phạm” là một bộ phận độc lập tương đối nhưng không tách dời trong hệ thống hữu cơ của lý luận tội phạm học.

Thuật ngữ “Tội phạm học” được bắt nguồn từ hai từ của tiếng La Tinh “Crimen” (tội phạm) và tiếng Hy Lạp “Logos” (học thuyết quan điểm, lý luận) và khi kết hợp hai từ đó lại có nghĩa là “Học thuyết về tội phạm”, “Khoa học nghiên cứu về tội phạm” hay ngắn gọn hơn – Tội phạm học. Học giả người Ý tên là Raffaele Garofalo là người mở đầu khi đưa ra khái niệm này vào năm 1885, sau đó được phát triển năm 1889 bởi tác giả Paul Tobinard… [8]. Hiện nay, trong khoa học về tội phạm học nước ngoài, cũng giống như khái niệm tội phạm, khái niệm tội phạm học cũng được các nhà khoa học đề cập với nhiều quan điểm khác nhau với cách nhìn hiện đại và mở rộng hơn. Tuy nhiên, trong đó lý luận phòng ngừa tội phạm ít được đề cập hoặc có đề cập thì với tư cách là một nội dung nghiên cứu của tội phạm học.

Xu hướng thứ nhất: mở rộng nội hàm khái niệm tội phạm học và không coi phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tượng nghiên cứu) của tội phạm học. Có thể kể đến quan điểm của một số nhà khoa học sau:

– Các tác giả Edwin Sutherland và Donald Cressey lại cho rằng: “Tội phạm học là tổng hợp những tri thức nghiên cứu về tội phạm với tư cách là một hiện tượng xã hội. Phạm vi nghiên cứu của nó bao gồm các quá trình làm luật, sự vi phạm pháp luật, và phản ứng trước các vi phạm pháp luật… Mục tiêu của tội phạm học là phát triển một hệ thống chung các nguyên tắc đã được kiểm nghiệm và các tri thức khác về diễn biến của pháp luật, của tội phạm và, cả sự giải quyết (xử lý) tội phạm” [10].

– Các tác giả Freda Adler, Gerhard O.W. Mueller viết ngắn gọn hơn: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu về sự làm luật, sự vi phạm pháp luật, và phản ứng của xã hội đối với sự vi phạm pháp luật” [11];

Xu hướng thứ hai: thu hẹp nội hàm khái niệm tội phạm học và cũng không coi phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tượng nghiên cứu) của tội phạm học. Theo đó:

– Tác giả Richard F. Wetzell viết: “Tội phạm học được hiểu là ngành khoa học nghiên cứu về các nguyên nhân của tội phạm” [16];

– Học giả Frank Schmalleger định nghĩa: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và hành vi tội phạm, nghiên cứu về các loại tội phạm, nguyên nhân, các khía cạnh pháp luật và công tác kiểm soát tội phạm” [18], v.v…

Xu hướng thứ ba: thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm tội phạm học nhưng lại coi phòng ngừa tội phạm là một nội dung (hay đối tượng nghiên cứu) của tội phạm học. Quan điểm này được thừa nhận trong khoa học về tội phạm học một số nước (đặc biệt là Liên bang Nga và Việt Nam)(2):

– Tác giả Can Ueda thì quan niệm: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống” [19];

– Giáo sư A.I. Dolgovoi và đồng nghiệp viết: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm, các dạng tội phạm, các nguyên nhân của tội phạm và các mối quan hệ với các hiện tượng và quá trình khác; nghiên cứu hiệu quả áp dụng các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm” [20]. Tương tự, trong khoa học về tội phạm học nước ta, về cơ bản đều thống nhất trong việc chỉ ra nội dung và đối tượng nghiên cứu với xu hướng thứ ba này.

– GS.TSKH. Đào Trí Úc viết: “Tội phạm học là khoa học nghiên cứu về tình hình tội phạm, các loại tội phạm; về nguyên nhân của tội phạm và tất cả các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội; về hiệu quả của các giải pháp đấu tranh chống tội phạm…” [21];

– chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm cho rằng: “Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tội phạm, tình hình tội phạm, các nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, nghiên cứu cá nhân kẻ phạm tội và những biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nhằm ngăn chặn, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [23], v.v…

Tuy nhiên, các quan điểm đã nêu chủ yếu làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu song còn chưa khẳng định một cách dứt khoát – tội phạm học là ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội hay ứng dụng… Nói một cách khác, chưa làm rõ vị trí của tội phạm học trong hệ thống các ngành khoa học. Việc xác định vị trí của ngành khoa học này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau đã được GS.TSKH. Đào Trí Úc tổng kết [21], cụ thể là:

– Có quan điểm cho rằng: “Tội phạm học là xã hội học về tội phạm và do đó các kiến thức cơ sở của nhà tội phạm học phải là xã hội học”.

– Có quan điểm coi: “Tội phạm học là môn khoa học vừa có tính luật học, vừa có tính chất tổng hợp một số ngành khoa học xã hội như xã hội học, tâm lý học, kinh tế học chính trị… nhưng luật học nổi trội hơn”.

– Có quan điểm quan niệm: “Tội phạm học mang tính chất hành vi học, tức là đặt sự quan tâm chủ yếu vào tội phạm như là hành vi xã hội có cơ chế phát sinh và biểu hiện. Quan điểm này lấy các khoa học về hành vi như tâm lý học, tâm thần học, khoa học về bệnh lý làm cơ sở chính”.

– Ngoài ra, còn có quan điểm lại cho rằng: “Tội phạm học là một lĩnh vực khoa học tổng hợp, liên ngành, nằm giữa và liên kết nhiều lĩnh vực khoa học để trên cơ sở đó đánh giá toàn diện về tội phạm [24], v.v…

– Một là, xuất phát từ nội dung, phạm vi, tính chất các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của tội phạm học thì các quan điểm đã nêu trước không bao trùm được tất cả các vấn đề mà tội phạm học nghiên cứu (hoặc là quá rộng hoặc ngược lại, – quá hẹp trong nội dung).

– Hai là, theo quan điểm này thì nó bao trùm ở mức độ đầy đủ những vấn đề mà tội phạm học nghiên cứu. Điều này thể hiện ở chỗ: các hiện tượng tiêu cực mà tội phạm học nghiên cứu vừa mang tính xã hội và vừa mang tính pháp lý (hình sự). Ví dụ: “Tội phạm” vừa là hiện tượng tiêu cực tồn tại trong xã hội, vừa là hiện tượng mang thuộc tính pháp luật hình sự vì theo quan điểm của các nhà làm luật coi hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm thì nó là tội phạm, nếu không coi nó là tội phạm thì cũng không phải là tội phạm; hoặc “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” hay “Nhân thân người phạm tội” có liên hệ và gắn chặt chẽ với ý thức pháp luật, tâm lý học, thái độ đối với pháp luật, trật tự xã hội, giáo dục học, đạo đức học, nhân chủng học…

– Bốn là, ngoài ra, các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học còn thể hiện ở chỗ: góp phần cải thiện các điều kiện xã hội, loại trừ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tạo điều kiện và môi trường tích cực và tự do cho việc hình thành lối sống, nhân cách, thái độ, ứng xử con người mới. Do đó, chúng tôi cho rằng tội phạm học nghiên cứu những vấn đề trên không chỉ nằm trong giới hạn của khoa học pháp lý (mà cụ thể là khoa học pháp lý hình sự), đồng thời sự phân tích các quan hệ pháp luật lại chính được nhìn nhận trong lĩnh vực của xã hội học mới bảo đảm tính chính xác và có cơ sở khoa học – thực tiễn. Đặc biệt, vai trò của xã hội, nhất là dư luận xã hội lại rất có ý nghĩa trong việc quy định, xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng, qua đó còn thể hiện nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật. Nhân bàn về nội dung này, chúng tôi xin dẫn ý kiến có lý của nhà luật học R. Savatier khi nói về mối quan hệ giữa xã hội học và luật học: “Những hồ sơ (tư liệu) của các nhà luật học là những nguồn đặc sắc nhất mà nhà xã hội học có thể tham khảo về sự lành mạnh cũng như về những bệnh tật của xã hội… Nếu xã hội học là một khoa học khảo sát về con người sống trong xã hội, thì luật là một khoa học quy phạm về con người trong xã hội. Bởi vì nó có tính chất quy phạm, nó có thêm một nghệ thuật, nghệ thuật thiết chế xã hội” [26].

Từ định nghĩa này có thể chỉ ra đối tượng nghiên cứu chính và chủ yếu của tội phạm học hiện nay như sau: a) Tội phạm, tình hình tội phạm và các loại tội phạm cụ thể; b) Các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và của tình hình tội phạm; c) Nhân thân người phạm tội; d) Các vi phạm pháp luật trong xã hội có khuynh hướng trở thành tội phạm, các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội; đ) Hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác có khuynh hướng phát triển trở thành tội phạm. Do đó, phòng ngừa tội phạm phải và chính là một bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học chứ không thể nằm ngoài tội phạm học.

3. Khái niệm phòng ngừa tội phạm

Đúng như GS.TSKH. Đào Trí Úc đã viết “… Tội phạm học có mục đích đưa ra những kiến nghị về các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm…” [21]. Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm và sự cần thiết của phòng ngừa tội phạm đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người để bảo vệ, duy trì trật tự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục kế thừa và phát triển những tư tưởng văn minh và tiến bộ này. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song “với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả. Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm…” [27].

Còn ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm. Cụ thể, riêng trong công tác tư pháp (xét xử), Người đã từng nói “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn” [28]. Câu nói này của Người đã thể hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của Nhà nước ta – lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt. Yêu cầu là phải ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm ngay từ đầu làm cho tội phạm ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra tội phạm, và để việc chống tội phạm, xử lý tội phạm chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ. Lấy việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là quan trọng, hàng đầu.

Thực hiện tư tưởng phòng ngừa này, về sau trong nội dung chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, phòng ngừa tội phạm được coi là một bộ phận quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cũng như của tất cả các cơ quan, tổ chức, trong đó cáccơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án là lực lượng trung tâm và nòng cốt. Cụ thể, ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tập trung đấu tranh phòng chống các tội phản cách mạng, các tội phạm hình sự nguy hiểm khác để giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội, cũng như bảo vệ các lợi ích của xã hội, của nhân dân…(4).

Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP “Về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” ngày 31/7/1998 đã nhận định rất xác đáng rằng: “… Tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Cơ cấu thành phần tội phạm có những thay đổi, số thanh niên phạm tội chiếm tỷ lệ ngày càng cao. Đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức như tham nhũng, buôn lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em… phạm tội có sử dụng bạo lực, cướp của, giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính chất côn đồ hung hãn; gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng gây lo lắng cho toàn xã hội… Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, việc thi hành pháp luật lại chưa nghiêm, sự phối hợp hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu chặt chẽ, nhiều ngành, nhiều cấp chưa coi trọng đúng mức công tác tham gia phòng, chống tội phạm. Một bộ phận cán bộ, kể cả cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật bị tha hóa, ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân; công tác phòng ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư chưa được quan tâm đúng mức…”. Do đó, Nghị quyết đã xác định các chủ trương mang tính phòng ngừa xã hội cao như sau:

– Một là, xây dựng và thực hiện cơ chế phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, đẩy mạnh phong trào cách mạng của toàn dân, nâng cao trách nhiệm vai trò chủ động của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia phòng ngừa, phát hiện đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Tập trung phòng, chống các tội tham nhũng, buôn lậu, tội phạm hoạt động có tổ chức, lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, bọn buôn bán lôi kéo thanh niên, học sinh vào con đường sử dụng và nghiện hút ma túy, các loại tội phạm xâm hại trẻ em, mua bán phụ nữ, trẻ em.

– Hai là, đổi mới và thực hiện nghiêm chỉnh cơ chế phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; nâng cao trách nhiệm, phát huy chức năng của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Từng ngành xây dựng chương trình hành động, gắn việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội với phòng và đấu tranh chống các tội phạm, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm đối với các loại tội phạm. Xây dựng lực lượng công an nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác thật sự trong sạch, vững mạnh để thực hiện tốt vai trò nòng cốt, xung kích trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

– Ba là, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật để phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trước mắt và lâu dài. Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục, cải tạo người phạm tội bằng nhiều hình thức, giúp họ cải tạo tiến bộ, hoàn lương, tái hòa nhập gia đình và cộng đồng xã hội.

– Bốn là, tăng cường sự hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm theo nguyên tắc phù hợp với pháp luật hiện hành của nước ta và pháp luật quốc tế, phù hợp với các chương trình chống tội phạm của Liên hợp quốc và của Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế Interpol.

– Năm là, đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại, tăng cường quản lý trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, quản lý các hoạt động văn hóa, bài trừ các tệ nạn xã hội, triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về trật tự an toàn xã hội và phòng, chống tội phạm.

– Sáu là, đặt nhiệm vụ phòng, chống tội phạm thành Chương trình quốc gia có mục tiêu và nội dung các đề án cụ thể nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công tác phòng, chống tội phạm, từng bước làm giảm tội phạm. Xây dựng môi trường sống lành mạnh trong xã hội, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và hiệu lực quản lý của Nhà nước.

– Bảy là, tiếp tục phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp ngăn ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường và xã hội. Củng cố các tổ dân phố, lực lượng bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở phường, xã tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc.

– Tám là, sử dụng đồng bộ các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp kịp thời và kiên quyết đối với các loại tội phạm nguy hiểm như: tội phạm có tổ chức, tội phạm tham nhũng, buôn lậu, tội phạm giết người, cướp tài sản, tội phạm xâm hại trẻ em (hiếp dâm trẻ em, bắt cóc và buôn bán trẻ em, lôi kéo trẻ em vào con đường sử dụng và nghiện hút ma túy). Tiếp tục chấn chỉnh công tác giam giữ; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cải tạo phạm nhân.

Tiếp đó, ngày 08/11/2004, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010”, với ý nghĩa đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới…

Hiện nay, phòng ngừa tội phạm còn là để Nhà nước xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nhận diện những diễn biến tội phạm và tình hình tội phạm trong tương lai, khả năng xuất hiện, thay đổi của tội phạm cũ và tội phạm mới, diễn biến và quy luật của quá trình tội phạm hóa – phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa, cũng như những biến đổi của đời sống xã hội khác. Nói một cách khác, với tư cách là ngành khoa học thực hiện chính chức năng phòng ngừa, tội phạm học góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, và có pháp chế thì Nhà nước pháp quyền mới đi vào thực tế. Pháp chế chính là đòi hỏi quan trọng của pháp luật. “Pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững của các quy phạm pháp lý… Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, với bình đẳng và với sự tuân thủ luật pháp, không một ai, không một người nào có bất kỳ một đặc quyền nào trước pháp luật…” [29]. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, trong Bộ Luật hình sự nhà làm luật nước ta đã quy định rằng, pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao, đồng thời chỉ rõ tại Bộ Luật hình sự. Cụ thể, Bộ Luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm (Lời nói đầu của Bộ Luật hình sự).

Ngoài ra, về phương châm đấu tranh, các nhà làm luật nước ta đã xác định rõ trong Bộ Luật hình sự năm 1999 là “… đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…” (khác với quy định tương ứng trong Bộ Luật hình sự năm 1985 là “… đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm…”). Đây là sự thay đổi lớn trong đường lối đấu tranh, nó có mục đích huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, giáo dục, cảm hoá người phạm tội, giúp cho họ sớm hòa nhập cộng đồng. Quan điểm “lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, kết hợp với răn đe, giữ nghiêm kỷ cương, đề cao tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, bản chất ưu việt của chế độ ta và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phát huy vai trò quần chúng và các đoàn thể nhân dân chủ động tham gia phòng chống tội phạm…” [30].

Đặc biệt, các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình. Và mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 4). Như vậy, phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Điều này hoàn toàn phù hợp với các Nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật và lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.

Tuy nhiên, ngành khoa học về tội phạm (tội phạm học) phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm. Phòng ngừa không để tội phạm xảy ra chứ không phải để tội phạm xảy ra rồi mới tìm cách khắc phục. Trường hợp hãn hữu nếu tội phạm có xảy ra thì ở mức độ hạn chế gây hậu quả (thiệt hại) cho xã hội, kịp thời xử lý nhanh chóng tội phạm, khắc phục hậu quả. Trên cơ sở này, tội phạm học còn phải xây dựng được cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa. Do đó, nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này mới có thể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Hiện nay, nghiên cứu trong khoa học về tội phạm còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.

– Theo quan điểm trong khoa học và sách báo pháp lý một số nước đều thống nhất cho rằng: “phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm…” hay “không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng…” [2-5], v.v…

– Còn trong khoa học về tội phạm học của Liên Xô trước đây, quan niệm về phòng ngừa tội phạm trong hệ thống này được chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm dẫn ra như sau: “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm” (Giáo trình Tội phạm học năm 1966) hay còn được hiểu là “một phương tiện điều chỉnh sự phát triển các quan hệ xã hội nhằm mục đích hạn chế, loại trừ các nguyên nhân tội phạm, như là sự tác động lẫn nhau của các biện pháp kinh tế – xã hội, giáo dục – sư phạm, tổ chức và pháp luật, như là một tổ hợp các biện pháp khác nhau của phòng ngừa tội phạm” (Sách chuyên khảo: Những cơ sở lý luận phòng ngừa tội phạm năm 1977), v.v… [23]. Trong khi đó, trong khoa học về tội phạm học nước ta thì về cơ bản đều thống nhất khi phân chia nội dung của phòng ngừa tội phạm theo hai cấp bậc rộng và hẹp khác nhau, cụ thể:

– chúng tôi Đỗ Ngọc Quang chỉ ra phòng ngừa tội phạm theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Mặt khác, bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội; theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [22].

– chúng tôi Nguyễn Chí Dũng và tập thể tác giả định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là sử dụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp, phương tiện nghiệp vụ cần thiết, với sự tham gia của các lực lượng nhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện không để tội phạm phát sinh, phát triển”. Đồng thời, tập thể tác giả cũng chỉ ra trong phòng ngừa tội phạm có hai nhóm biện pháp là phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Theo đó: phòng ngừa chung là sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, pháp luật… nhằm loại bỏ các yếu tố có thể trở thành nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát triển tội phạm, được toàn xã hội tham gia thực hiện; phòng ngừa riêng là các biện pháp pháp luật, nghiệp vụ do các cơ quan chuyên môn (Công an, Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án, Kiểm lâm, Cảnh sát biển…) tiến hành nhằm vào những đối tượng cụ thể [31].

– TS. Lê Thế Tiệm và tập thể tác giả phân tích: “Phòng ngừa tội phạm tức là không để cho tội phạm xảy ra và gây nên những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu các hình phạt khắc nghiệt của pháp luật. Và nếu tội phạm có xảy ra thì phải kịp thời phát hiện, xử lý để đảm bảo cho tội phạm không thể tránh khỏi hình phạt, giáo dục và cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội…” [32];

– Gần đây, chúng tôi Nguyễn Ngọc Hòa đã đưa ra khái niệm này dưới góc độ tội phạm học cũng tương đối hợp lý như sau: “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này…” [34].

Tuy nhiên, trong thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa tội phạm lại được hiểu một cách trực tiếp và đơn giản chính là hoạt động chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, chuyên trách trong công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, cơ quan Thi hành án hình sự và một số cơ quan Nhà nước khác (Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển …) nhằm ba mục đích sau:

– Một là, loại trừ và thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, xóa bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi việc phát sinh ra tội phạm.

– Hai là, nghiên cứu môi trường sống (gia đình – nhà trường – xã hội) xung quanh các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó hạn chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng đến việc hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản thân người phạm tội.

– Ba là, trên cơ sở này, đưa ra các giải pháp tổng thể và có hệ thống phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực và tội phạm, các tác nhân ảnh hưởng và những thiếu sót trong cơ chế quản lý về các mặt (như: kinh tế, xã hội, công tác tổ chức cán bộ…), cũng như kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các ngành luật khác.

Mặc dù vậy, để đưa ra được khái niệm phòng ngừa tội phạm chính xác về mặt khoa học và phù hợp với thực tiễn, phục vụ công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cần phân tích và làm sáng tỏ những đặc điểm của khái niệm này. Về cơ bản, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy về cơ bản các nhà khoa học – luật gia đều thông qua các nội dung của các đặc điểm cơ bản về khái niệm phòng ngừa tội phạm và tổng hợp lại, chúng tôi có thể chỉ ra như sau:

– Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, mà trong đó ngành khoa học về tội phạm học phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm. Dựa trên cơ sở chức năng này, đến lượt mình tội phạm học phải xây dựng được cơ sở và các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng ngừa đầy đủ và khoa học và có hệ thống các biện pháp phòng ngừa. Do đó, nếu thực hiện tốt chức năng này mới có thể từng bước ngăn chặn tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển, qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

– Thứ hai, phòng ngừa tội phạm chính là mục tiêu cuối cùng và là chức năng quan trọng nhất [35], vì chỉ khi làm tốt các chức năng mô tả, giải thích và dự báo thì mới có thể tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được các nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng như những tồn tại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

– Thứ ba, cũng trên cơ sở những chức năng đã nêu mới có thông tin đầy đủ để xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nhận diện những diễn biến tội phạm và tình hình tội phạm trong tương lai, khả năng xuất hiện, thay đổi của tội phạm cũ và tội phạm mới, diễn biến và quy luật của quá trình tội phạm hóa – phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa, cũng như những biến đổi của đời sống xã hội khác.

– Thứ tư, phòng ngừa tội phạm bao gồm tổng thể các biện pháp phòng ngừa: chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, quản lý Nhà nước…

– Thứ năm, phòng ngừa tội phạm, suy cho cùng, chính là đưa ra những giải pháp mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, hỗ trợ cho các ngành luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Hơn nữa, chính những giải pháp của ngành khoa học này là tiền đề rất quan trọng để thực hiện tốt đường lối xử lý về hình sự, cũng như trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm của Nhà nước, đồng thời đây cũng chính là phương diện xã hội rộng lớn và bao quát hơn của cuộc đấu tranh đối diện và trực diện với tội phạm.

– Thứ sáu, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan và mỗi công dân trong xã hội không phải chịu những hậu quả (thiệt hại) mà tội phạm gây ra, cũng như Nhà nước và xã hội không phải mất đi những chi phí không cần thiết để giải quyết và khắc phục các hậu quả này.

– Thứ bảy, trong xã hội không có bất kỳ thành viên nào phải bị điều tra, truy tố và xét xử. Nói một cách khác, không để bất kỳ công dân nào trong xã hội phải bị xử lý, bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt.

– Thứ tám, tiết kiệm một khoản rất lớn về chi phí, tiền của và sức lực cho Nhà nước, của xã hội trong việc điều tra, truy tố, xét xử, trong việc khắc phục hậu quả của tội phạm gây ra cho xã hội, trong công tác cải tạo, giáo dục và thi hành án đối với người phạm tội.

– Thứ chín, trong trường hợp nếu vẫn có tội phạm xảy ra trong xã hội thì bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, giải quyết nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật đối với trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của công dân.

Tóm lại, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua, dưới góc độ tội phạm học, theo chúng tôi khái niệm này có thể được định nghĩa như sau: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Nói một cách ngắn gọn khác, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành của lý luận tội phạm học, đồng thời là hoạt động của toàn xã hội trong việc tìm ra các nguyên nhân phát sinh ra tội phạm khắc phục, cũng như để ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội./

TS. Trịnh Tiến Việt – Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội

Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế – Luật 24 (2008).

[1] Nguyễn Niên (chủ biên), Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong Luật Hình sự Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1986.

[2] David Brown, David Farrier, Neal, David Weisbrot, Criminal Laws, Published in Sydney by the Federation Ress, 1996.

[3] Rob White, Fiona Haines, Crime and Criminology: An introduction (Second Edition), Oxford University Press, 2000.

[4] Sue Titus Reid, Crime and Criminology, Holt, Rinehart and Winton, Inc, 1988.

[5] L.J. Siegel, Criminology: Theory, pattern and typologies, Printed in the United States of America, 2001.

[6] Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự (phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005.

[7] Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn, Từ điển pháp luật hình sự, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006.

[8] Http://www.en.wikipedia.org/wiki/criminology, ngày 2/5/2007.

[9] Rob White, Fiona Haines, Crime and Criminology: An introduction (Second Edition), Oxford University Press, 2000.

[10] Edwin Sutherland, Donald Cressey, Principles of Criminology, 6th ed (Philadelphia: J.B. Lippincott, 1960.

[11] Freda Adler, Gerhard O.W.Mueller, Criminology: The Shorter Version, Inc. Printed in the United States of America, 1995.

[12] Nandankanan.tripod.com/scienecterm.htm.

[13]Wordnet.princeton.edu/perl/webwn.

[14] Em.wikipedia.org/wiki/Criminology.

[15] Http://www.nationmaster.com/encyclopedia/Cr iminology.

[16] Richard F. Wetzell, Inventing the Criminal: A History of German Crimino-logy, 1880-1945. Http://www.history chúng tôi journals/lhr/21.3/br_12.html, p.3.

[17] Larry J. Siegel, Criminology: Theory, pattern and typologies, Printed in the United States of America, 2001.

[18] Frank Schmalleger, Criminology Today, New Jersey, 1994.

[19] Can Ueda, Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại (sách do Nguyễn Xuân Yêm và Hồ Trọng Ngũ biên dịch), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 1994.

[20] A.I. Dolgovoi và đồng nghiệp, Tội phạm học, Matxcơva, 1997.

[21] Đào Trí Úc, Tình hình nghiên cứu tội phạm học ở Việt Nam hiện nay, Trong sách: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập thể tác giả do chúng tôi Luật sư Phạm Hồng Hải chủ biên, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000.

[22] Đỗ Ngọc Quang, Giáo trình Tội phạm học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1999.

[23] Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2001.

[24] H.N. Barte, G. Ostaptzeff, Nhập môn Tội phạm học lâm sàng (Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, người dịch Nguyễn Văn Sự), NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2004.

[25] Võ Khánh Vinh, Giáo trình Tội phạm học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

[26] Thanh Lê, Xã hội học pháp luật và xã hội học tội phạm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.

[27] Nguyễn Hồng Vinh, Hoạt động phòng ngừa tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007.

[28] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.

[29] XX. A-lếch-xây-ép, Pháp luật trong cuộc sống của chúng ta (người dịch: Đồng Ánh Quang, người hiệu đính: Nguyễn Đình Lộc), NXB Pháp lý, Hà Nội, 1986.

[30] Ban Chỉ đạo thi hành Bộ Luật hình sự năm 1999, Tài liệu Hội nghị tập huấn chuyên sâu Bộ Luật hình sự năm 1999 (Tài liệu dùng cho Báo cáo viên), Nhà in Bộ Công an, Hà Nội, 2000.

[31] Nguyễn Chí Dũng (chủ biên), Một số vấn đề về tội phạm và cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

[32] Lê Thế Tiệm, Phạm Tự Phả và tập thể tác giả, Tội phạm ở Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Đề tài KX 04-14, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 1994.

[33] Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, Hà Nội, 1999.

[34] Nguyễn Ngọc Hòa, Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học, Tạp chí Luật học, số 6 (2007) 31.

[35] Trịnh Tiến Việt, Khái niệm, đối tượng nghiên cứu và chức năng của tội phạm học, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17 (2007) 5.

Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm

Các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Bài tập học kỳ Tội phạm học 9 điểm.

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm là yêu cầu hết sức cấp bách.

Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và nhà nước nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, hạn chế và lọai trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Theo nghĩa hẹp, chỉ tập trung vào việc ngăn cản tội phạm xảy ra, khắc phục lọai bỏ nguyên nhân điều kiện. Theo nghĩa rộng, ngòai việc ngăn cản tội phạm xảy ra còn sử dụng các biện pháp để phát hiện xử lý tội phạm kịp thời

Phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học. Nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý luận tội phạm học. Cho nên, phòng ngừa tội phạm vừa là bộ phận cấu thành quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm học. Hơn nữa, suy cho cùng thì mục đích của ngành khoa học về tội phạm học cđể phòng ngừa tội phạm, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, trước khi đưa ra khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tội phạm học cần phải làm sáng tỏ hai nội dung “tội phạm” với tư cách là đối tượng phòng ngừa và “tội phạm học” với tư cách là hệ thống bao gồm các bộ phận khác nhau mà lý luận về phòng ngừa tội phạm chính là một bộ phận cấu thành trong đó. hính là một bộ phận cấu thành trong đó.Đúng như GS.TSKH. Đào Trí Úc đã viết “…Tội phạm học có mục đích đưa ra những kiến nghị về các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm…”.

Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm và sự cần thiết của phòng ngừa tội phạm đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người để bảo vệ, duy trì trật tự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục kế thừa và phát triển những tư tưởng văn minh và tiến bộ này. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song “với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả. Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm…”. Còn ở nước ta, từ ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm. Cụ thể, riêng trong công tác tư pháp (xét xử), Người đã từng nói “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”.

Tội Phạm Có Tổ Chức Và Phòng Ngừa Tội Phạm Có Tổ Chức

TÓM TẮT:

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, sự gia tăng tội phạm ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển chung của xã hội. Trong sự gia tăng của tình hình tội phạm nói chung, tội phạm có tổ chức đang ngày có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức và ngăn chặn tình hình tội phạm này là hết sức cần thiết. Trong phạm vi bài viết, tác giả muốn nghiên cứu làm rõ một số vấn đề cơ bản của tình hình tội phạm có tổ chức ở Việt Nam và tình hình tội phạm có tổ chức ở một số nước trên thế giới. Qua đó, làm cơ sở để nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp nhằm ngăn chặn, tiến tới giảm và sâu xa hơn là loại bỏ tình hình tội phạm này ở Việt Nam.

Từ khóa: Tội phạm có tổ chức, phòng ngừa tội phạm, đấu tranh phòng chống tội phạm.

I. Tình hình tội phạm có tổ chức trên thế giới và Việt Nam

1. Khái niệm tội phạm có tổ chức

Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991 thì tình hình tội phạm có tổ chức diến ra hết sức phức tạp không chỉ ở Nga mà còn cả những nước SNG, vì thế Quốc hội Liên bang Nga đã thông qua Luật Đấu tranh chống tội phạm có tổ chức. Tại Điều 2 Luật này quy định về tội phạm có tổ chức như sau: “tội phạm có tổ chức là hoạt động nguy hiểm cho xã hội, do tổ chức tội phạm (băng, nhóm tội phạm có tổ chức) gây ra vì động cơ mục đích vụ lợi”. Còn tại Điều 36 Bộ luật Hình sự (BLHS) Liên bang Nga quy định: “tội phạm được thừa nhận do cộng đồng tội phạm thực hiện nếu như nó được thực hiện bởi nhóm có tổ chức thống nhất được thành lập để thực hiện những tội phạm nghiêm trọng hoặc những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Khái niệm trên được coi là dấu hiệu hoạt động nguy hiểm và được thực hiện bởi một nhóm “có tổ chức” thống nhất thực hiện là tội phạm có tổ chức. Tuy nhiên, khái niệm chưa đưa ra được số lượng thành viên hay mức độ tổ chức tội phạm. Ở Pháp, đề cập đến tổ chức tội phạm với tên gọi Hiệp hội những kẻ gian và quy định trách nhiệm hình sự của những người tham gia tổ chức đó. Như vậy, việc quy định Hiệp hội những kẻ gian để chỉ tội phạm có tổ chức, mà chưa nói hết được những đặc trưng, cũng như cấu trúc phức tạp của tội phạm có tổ chức. Còn theo quan điểm của các luật gia Mỹ thì “tội phạm có tổ chức là hoạt động phạm tội của các tổ chức chính quy, rất phát triển và hướng mọi nỗ lực để đạt mục tiêu lợi nhuận thông qua những phương tiện bất hợp pháp”. Theo quan điểm ở Mỹ, đồng nhất tội phạm có tổ chức với Mafia hay Lacosa Nostra, những năm gần đây, các nhà tội phạm học ở Mỹ đã xem xét lại khái niệm này đã đưa thêm vào phạm trù tội phạm có tổ chức cả những tội phạm có tổ chức người Ấn Độ, Côlombia, đặc biệt là tội phạm có tổ chức Mỹ – Italia.

Trong pháp luật Cộng hòa liên bang Đức đã phân biệt rất rõ vai trò của người thực hành đối với đồng phạm khác và các hành vi chỉ dẫn, lôi kéo, thúc đẩy người khác phạm tội cũng là đồng phạm, đã xác định: “tội phạm có tổ chức là những băng nhóm phạm pháp, là hoạt động phi pháp của ít nhất từ hai người trở lên hoạt động trong một khoảng thời gian được chuẩn bị theo chương trình với mục đích thu lợi, tăng thêm quyền lực hoặc những hành động ảnh hưởng quan trọng trong toàn bộ nhóm tội phạm với nhau” thường xuất hiện các dấu hiệu: hoạt động kinh doanh; gắn liền với ảnh hưởng chính trị; ngôn luận, hành pháp…

Từ khi Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới từ đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến nay, tình hình kinh tế, xã hội có những bước phát triển mới, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và đang tiến mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm trở lại đây, cùng với sự xuất hiện của thuật ngữ “tội phạm có tổ chức” trên một số phương tiện thông tin đại chúng, sự hoạt động của những băng nhóm tội phạm có tổ chức ở nước ta diễn ra hết sức phức tạp và rất nghiêm trọng, ví dụ như: vụ án Năm Cam, Minh Sâm, Hai Chi, Khánh “Trắng”… đã tác động phần nào đến cách nghĩ của các nhà nghiên cứu pháp luật nói chung và các nhà tội phạm học nói riêng, bởi đó là sự xuất hiện của một hình thức tội phạm mới. Khi chúng ta ban hành BLHS năm 1999, BLHS năm 2015, chúng ta vẫn chưa đề cập đến tội phạm có tổ chức, mà chỉ đến thuật ngữ “phạm tội có tổ chức” một dạng đồng phạm được quy định tại khoản 2 Điều 17 BLHS năm 2015 và xem phạm tội có tổ chức là một hình thức tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015[3].

2. Tình hình tội phạm có tổ chức ở một số nước trên thế giới

Cùng với sự phát triển như vũ bão về kinh tế – xã hội trong những năm qua, tội phạm có tổ chức cũng phát triển với một tỷ lệ tương ứng và nó gây tác hại to lớn cho các quốc gia có tội phạm có tổ chức phát triển mạnh. Sự phát triển nhanh về quy mô, cơ cấu tổ chức, tinh vi xảo quyệt trong việc thực hiện hành vi và cũng có sự xuất hiện của những xu thế mới trong hoạt động của tội phạm có tổ chức cho phù hợp với tình hình xã hội. Các nhóm tội phạm có tổ chức năng động hơn, đa dạng hơn, về phạm vi hoạt động, sử dụng những công nghệ hiện đại để thực hiện hành vi phạm tội. Với sự xuất hiện của hàng nghìn tổ chức tội phạm… bên cạnh các tổ chức tội phạm đã xuất hiện từ lâu như: Mafia Italia, Yakuza… thì những tổ chức tội phạm mới được hình thành ngày càng nhiều, như: Jamaica – Anh Yadies; Anbanian Mafia; Israeli Mafia, Mexican Mafia…

Mỹ được coi là quê hương của gangster, nhiều người cho rằng chúng là sản phẩm của văn hóa Mỹ, ngoài ra còn có các tổ chức tội phạm khác đã vượt qua khỏi biên giới quốc gia và có quan hệ với nhiều tội phạm có tổ chức ở các nước khác, đặc biệt là Mafia Italia, Mexico… Tội phạm có tổ chức đã gây ra những hậu quả to lớn cho xã hội Mỹ. Theo FBI (cảnh sát Liên bang Mỹ), ở Mỹ có khoảng 1.800 người, có thu nhập trên 200.000 USD/năm, còn các “cha đỡ đầu” có khoảng 40 người, có thu nhập “khủng” như các nhà triệu phú, khoảng 250.000 người, với tổng thu nhập bằng hoạt động bất hợp pháp lên đến 15 tỷ USD.

Mexico là một quốc gia thuộc Bắc Mỹ, có đường biên giới với Mỹ. Mexico nổi tiếng với những tập đoàn ma túy khổng lồ của thế giới, những đường dây buôn lậu ma túy từ Mexico sang Mỹ với quy mô lớn… Tội phạm có tổ chức ở quốc gia này đã thâm nhập vào hệ thống chính quyền, ngân hàng… tạo thành những trung tâm rửa tiền lớn của thế giới. Các nguồn tiền bất hợp pháp từ buôn lậu ma túy được tập trung vào hệ thống rửa tiền quy mô và rất tinh vi, qua mặt được các cơ quan chức năng.

Colombia nằm ở khu vực Mỹ La Tinh, nơi tập trung các tập đoàn ma túy, nơi sản xuất cung cấp ma túy chủ yếu cho Mỹ. Tội phạm có tổ chức ở đây phát triển từ những băng, nhóm buôn bán nhỏ, sau khi có cơ sở, chúng tiếp tục mở rộng quy mô không chỉ ở Colombia mà còn sang các nước láng giềng, tội phạm có tổ chức được trang bị vũ khí hiện đại, sẵn sàng chống trả khi bị truy bắt. Với quan tâm của chính phủ Colombia và được sự hậu thuẫn của Mỹ, đã có những chiến dịch truy quét lớn, tuy nhiên việc phòng chống các tập đoàn tội phạm này cũng chưa đạt kết quả như mong đợi.

Italia được xem là quê hương của Mafia, nhưng cũng khó có thể biết chắc chắn nguồn gốc của thuật ngữ Mafia hình thành từ bao giờ. Các nhà nghiên cứu tội phạm học trên thế giới cũng đưa ra nhiều cách nhìn nhận khác nhau về Mafia, tuy nhiên khi nhắc đến thuật ngữ này, chúng ta thường hay nghĩ đến những tội phạm có tổ chức ở mức độ cao và tội ác mà chúng gây ra. Hoạt động của Mafia đã xuất hiện từ lâu và đã gây hậu quả nghiêm trọng cho đất nước này, theo ước tính thì thu nhập của các tập đoàn này lên đến 75 tỷ USD mỗi năm và còn chưa kể đến những tội ác mà chúng gây ra.

Tại Nga và các nước Đông Âu, sau khi Liên Xô tan rã, tình hình chính trị rối ren là cơ hội cho tội phạm có tổ chức ở các quốc gia này hoạt động mạnh mẽ trong việc buôn lậu hàng hóa, ma túy buôn bán người, tổ chức các đường dây bất hợp pháp… So với Mafia Italia hay Mỹ thì quy mô của tội phạm có tổ chức ở các nước này còn khá khiêm tốn.

3. Tội phạm có tổ chức ở Việt Nam

Trong thời gian qua, cùng với diễn biến của tội phạm có tổ chức trên thế giới thì ở Việt Nam tình hình tội phạm có tổ chức cũng có những diễn biến phức tạp, theo hướng xấu đi. Chính vì vậy, việc tìm hiểu tình hình tội phạm có tổ chức ở nước ta để có biện pháp phòng ngừa thích hợp là rất cần thiết. Ở Việt Nam, tội phạm có tổ chức tuy xuất hiện muộn hơn và quy mô nhỏ hơn, nhưng xu thế phát triển của loại hình tội phạm này cũng đang đặt ra những thách thức, nhất là trong việc dự báo, thống kê, phát hiện loại hình tội phạm này.

Theo TS. Nguyễn Phong Hòa, hoạt động của tội phạm có tổ chức ở Việt Nam xuất hiện từ thời Pháp thuộc và phát triển bùng nổ ở miền Nam Việt Nam vào thời Mỹ Ngụy[5]. Thời kỳ này, các nhóm tội phạm có tổ chức theo kiểu “xã hội đen” mang màu sắc của “Hội tam hoàng”, băng “14K”. Phạm vi hoạt động của các băng, nhóm tội phạm có tổ chức chủ yếu tập trung ở các khu vực có tài sản, nơi tập trung đông quân đội và các căn cứ hậu cần của Mỹ…

Trong những năm sau giải phóng đến 1986, chúng ta thấy rằng, tội phạm có tổ chức tăng nhanh cả về số vụ và tính chất nghiêm trọng và có xu hướng tăng, thể hiện ở tính chất xuyên Bắc – Nam, xuyên quốc gia. Ở các tỉnh phía Bắc xuất hiện các tổ chức tội phạm như các băng, nhóm cướp ngân hàng, đâm thuê chém mướn. Một số băng, nhóm đã bị phát hiện và xử lý như: Phúc Bồ, Khánh “trắng” ở Hà Nội; băng Dung Hà ở Hải Phòng; băng Năm Cam ở thành phố Hồ Chí Minh, trùm xã hội đen Minh Sâm ở Bắc Ninh mới bị bắt, hay băng nhóm Hai Chi ở Bình Thuận…

Ngoài miền Bắc, cơ quan điều tra đã triệt phá băng nhóm xã hội đen do Minh Sâm cầm đầu. Thủ đoạn hoạt động của băng nhóm này hết sức tinh vi. Theo bản án sơ thẩm, trong khoảng thời gian từ tháng 6/2012, đến tháng 5/2014, tại xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Ngọc Minh đã tiến hành xây dựng và thành lập chợ Phù Khê Đông (chợ Đồng Bèo) và chợ Phù Khê Thượng, theo dự án được phê duyệt của UBND tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, Minh “sâm” xây dựng và thành lập chợ Tiến Bào.

Sau khi các chợ này đi vào hoạt động, Minh không làm văn bản, tờ trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nội quy, quy chế hoạt động và mức thu phí của chợ, mà Minh tự ý thành lập “Ban quản lý Chợ Đồng Bèo” và tự đề ra qui định nộp các phí “bến bãi”, “công nông”.

Đồng thời, Minh “sâm” phân công cụ thể trách nhiệm từng nhân viên của Ban quản lý chợ, bắt buộc các xe gỗ đi vào khu vực các chợ hoặc đi vào đường Nguyễn Văn Cừ, xã Phù Khê, phải vào Ban Quản lý Chợ Đồng Bèo hạ gỗ, nộp phí theo quy định của Minh.

Vụ án Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (còn gọi là Đại án Phạm Công Danh) là vụ Phạm Công Danh – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB), Chủ tịchTập đoàn Thiên Thanh, bị cáo buộc chỉ đạo cấp dưới rút tiền trái phép của Ngân hàng Xây dựng dùng để trả nợ nhận chuyển nhượng VNCB, trả nợ thay cho Tập đoàn Thiên Thanh và trả tiền hoa hồng cho những người huy động vốn, dẫn đến mất khả năng thu hồi, gây thất thoát 9.000 tỷ đồng.

Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như chiếm đoạt hơn 4.911 tỷ đồng xảy ra tại VietinBank là vụ án lớn nhất trong lịch sử ngành Ngân hàng Việt Nam. Đây là một trong những vụ án kinh tế lớn nhất tại Việt Nam trong lịch sử hiện đại, với 23 bị cáo và 47 luật sư bảo vệ cho bị cáo cũng như nguyên cáo. Nếu xét về số tiền thiệt hại, tuy không bằng Vụ án EPCO – Minh Phụng, nhưng mức độ thiệt hại thực tế thì lại là lớn nhất trừ trước đến nay (nguy cơ mất trắng 3.300 tỷ đồng). Thời gian phạm tội kéo dài từ năm 2007 đến thời điểm khởi tố (tháng 9/2011). Tổng số tiền các đối tượng đã huy động trong vụ án này lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng.

So với thành phố Hồ Chí Minh, ở Hà Nội, cơ quan chức năng triệt phá được hai băng đảng tội phạm có tổ chức nguy hiểm do Dương Văn Khánh tức Khánh “trắng” và Nguyễn Thị Phúc (Phúc Bồ). Băng Khánh “trắng” hoạt động từ năm 1991 – 1996 mới bị phát hiện, hoạt động của băng này được núp dưới danh nghĩa nghiệp đoàn bốc xếp, nhưng thực chất là tiến hành các hoạt động bảo kê, đâm thuê, chém mướn… Để che mắt các cơ quan chức năng, Dương Văn Khánh còn tích cực thực hiện các hoạt động từ thiện. Năm 1997, Khánh “trắng” bị lĩnh án tử hình với bốn tội danh.

Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc – Nguyên Trưởng ban chuyên án vụ bắt Khánh “trắng” cho rằng, vụ Khánh “trắng” vẫn là cái mốc quan trọng đánh giá sự tiến hóa nguy hiểm của tội phạm hình sự ở Việt Nam, từ chỗ hoạt động theo kiểu các ổ, nhóm riêng lẻ, bắt đầu liên kết với nhau thành những băng, nhóm tội phạm quy mô lớn, có tổ chức chặt chẽ với các hoạt động bảo kê, móc nối theo kiểu “xã hội đen”, đâm thuê chém mướn và đòi nợ thuê.

II. Một số nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm có tổ chức

1. Mỗi quốc gia dù theo chế độ chính trị nào, thì vai trò của giai cấp thống trị được thể hiện rõ trong đời sống xã hội của quốc gia đó, thông qua các chủ trương, chính sách, thông qua chính đảng của giai cấp mình. Một quốc gia có hệ thống chính trị vững mạnh, có đảng cầm quyền sáng suốt và thái độ đấu tranh phòng ngừa tội phạm có tổ chức thì có lẽ sẽ không có cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của tội phạm có tổ chức. Thực tế cho thấy rằng, sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã, tình hình tội phạm có tổ chức ở quốc gia này phát triển nhanh bởi bất ổn định về chính trị, tranh giành quyền lực hay ở các quốc gia Nam Á luôn bất ổn vì các cuộc xung đột vũ trang thì tội phạm có tổ chức trong lĩnh vực buôn bán ma túy, vũ khí ở đấy như “diều gặp gió”, nhưng sự phản ứng của chính quyền còn yếu ớt, dường như là bất lực.

3. Hệ thống pháp luật cần thiết cho những yêu cầu của cơ chế quản lý mới chưa được xây dựng kịp thời, thiếu đồng bộ, trong khi đó, tình hình tội phạm nói chung và tội phạm có tổ chức nói riêng luôn lợi dụng những kẻ hở trong các quy định của pháp luật. Tội phạm có tổ chức ngày càng có nhiều thay đổi để thích ứng, thế nhưng pháp luật nước ta dường như vẫn chưa đổi mới kịp với công tác phong chống tội phạm. BLHS vẫn chưa phân biệt được các khái niệm “tội phạm có tổ chức”, “tổ chức tội phạm”, “phạm tội có tổ chức”. BLHS nhiều lần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, chỉ xem xét các quy định về “phạm tội có tổ chức” như là một hình thức định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4. Tội phạm có tổ chức từ lúc xuất hiện cho đến nay đã có nhiều biến đổi, phạm vi hoạt động ngày càng rộng mở, tính chất xuyên quốc gia ngày càng rõ rệt. Hiện nay, thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng sáp nhập các băng, nhóm, thành lập nhiều tổ chức, hội nhánh hoặc chân rết ở nước ngoài, hình thành các tập đoàn tội phạm xuyên quốc gia, thao túng mọi mặt đời sống trên thế giới. Trong xu hướng đó, các nhóm tội phạm có tổ chức hoạt động ở nước ngoài đangchuyển hướng sang hoạt động tại Việt Nam, kết hợp nhóm tội phạm có tổ chức ở trong nước để hoạt động.

III. Một số biện pháp nhằm ngăn chặn tình hình tội phạm có tổ chức ở Việt Nam

Tình hình tội phạm có tổ chức ở Việt Nam cũng trên thế giới đang diễn biến phức tạp. Sự phát triển của loại tội phạm này có thể đe dọa đến sự ổn định, phát triển, an ninh của Quốc gia, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn về tính mạng và tài sản của người dân. Vì vậy, cần có những giải pháp mang tính đồng bộ cho việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp như sau:

1. Hiến Pháp 2013 quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam[1], Đảng luôn coi vấn đề phòng ngừa tình hình tội phạm là vấn đề quan trọng trong hoạt động của các tổ chức Đảng. Vậy, phải xây dựng Đảng thực sự vững mạnh, tăng cường sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, với tư cách là một chủ thể của hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm, Đảng phải luôn chú trọng phòng ngừa tình hình tội phạm một cách có hệ thống, toàn diện, phải thường xuyên kiểm tra hoạt động của các tổ chức Đảng trong việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Đảng thường xuyên rèn luyện, giáo dục các đảng viên trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, nhằm ngăn chặn những cán bộ, đảng viên thái hóa, biến chất, tiếp tay cho tội phạm có tổ chức. Cần có sự chỉ đạo, phối hợp hơn nữa giữa Đảng đối với Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để có những giải pháp thích hợp trong việc giáo dục thanh thiếu niên và các đối tượng khác, tham gia vào những hoạt động có ích, nhằm tránh tham gia vào các nhóm tội phạm có tổ chức. Các Nghị quyết của Đảng phải được cụ thể hóa thông qua các chủ trương, chính sách, chỉ đạo đấu tranh quyết liệt với tội phạm có tổ chức.

2. Hệ thống pháp luật cần được quan tâm đúng mức, tránh kẽ hở cho tội phạm có tổ chức lợi dụng để phát triển. Cơ sở pháp luật cho cuộc đấu tranh với tội phạm có tổ chức cần được hoàn thiện trên tất cả các phương diện pháp lý, nhưng trực tiếp hơn cả là pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.

BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) hay BLHS năm 2015 cũng chỉ mới quy định về “phạm tội có tổ chức”,[2] nhưng quy định này chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm có tổ chức, vì vậy cần quy định về tội phạm có tổ chức trong BLHS. Sự thành lập những người tham gia băng nhóm tội phạm có tổ chức mà chưa cần có hoạt động phạm tội cụ thể đã đe dọa gây nguy hại cho trật tự, an toàn của cộng đồng, cho nên việc đấu tranh triệt để chống tội phạm có tổ chức cần phải bắt đầu ngay khi tổ chức đó mới được hình thành. Vì thế, BLHS nên có thêm quy định coi những hành vi thành lập, tham gia hoặc hỗ trợ có mục đích thực hiện tội phạm là tội phạm.

3. Trong thời gian vừa qua, hợp tác quốc tế đấu tranh, phòng ngừa tội phạm có tổ chức đã đạt được một số kết quả. Việt Nam chính thức tham gia vào Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL) năm 1991, Hiệp hội Cảnh sát các nước (ASEANPOL). Thế nhưng, do quá trình toàn cầu hóa đã dẫn đến sự hoạt động của tội phạm có tổ chức thêm phức tạp và có xu hướng xuyên quốc gia. Vì vậy, cần tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và quốc tế trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm có tổ chức. Thực tế cho thấy, sự hợp tác chặt chẽ giữa Cảnh sát các nước sẽ làm gia tăng đáng kể khả năng phát hiện, xử lý thông tin về tội phạm và phối hợp đấu tranh với tội phạm có tổ chức, nhất là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia[4].

Cần tăng cường phối hợp hỗ trợ lẫn nhau về điều kiện vật chất và ứng dụng những thành tựu của khoa học, công nghệ để tăng khả năng của ngành Cảnh sát các nước kịp thời phát hiện, ngăn chặn tội phạm ở quốc gia mình. Để tăng cường hơn nữa hiệu quả đấu tranh với tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cần chú trọng hơn nữa đến một số vấn đề khác như trao đổi thông tin, phối hợp qua mạng lưới sĩ quan liên lạc và đào tạo các sĩ quan chuyên về đấu tranh, phòng ngừa tội phạm có tổ chức.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, (2013), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Luật hình sự năm 2015, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Nguyễn Phong Hòa, (2005), “Bàn về khái niệm tội phạm có tổ chức và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia”.

ORGANIZED CRIME AND MEASURES TO PREVENT ORGANIZED CRIME

PhD. NGUYEN VAN NGHIEP

Faculty of Law, Da Lat University

ABSTRACT:

Keywords: Organized crime, crime prevention, fight against crime.