Top #10 Giải Pháp Quản Lý Nhà Nước Về An Toàn Thực Phẩm Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xác Định Mô Hình Hợp Lý Trong Quản Lý Nhà Nước Về An Toàn Thực Phẩm

--- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Quản Lý Về An Toàn Thực Phẩm Tại Tỉnh Vĩnh Phúc, Hay
  • Phương Hướng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Chất Lượng Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Nước Ta
  • Thực Trạng An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiện Nay
  • Kon Tum: Giải Pháp Về Công Tác An Toàn Thực Phẩm Trong Tình Hình Mới
  • Giải Pháp Khắc Phục Vấn Đề An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường trả lời các câu hỏi về việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

    Cần mô hình quản lý hợp lý

    Hiện nay, quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm gồm ba cơ quan Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nhiều đại biểu Quốc hội nhìn nhận một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém trong công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm hiện nay là do sự phân công quản lý Nhà nước chưa hợp lý.

    Theo đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình), Báo cáo đã đưa ra nội dung quan trọng về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, việc nêu trách nhiệm này còn chung chung. Thực trạng về quản lý an toàn thực phẩm hiện nay có trách nhiệm của cả ba bộ, nhưng Báo cáo không nêu rõ trách nhiệm mỗi bộ, chỉ ra hạn chế, yếu kém của bộ nào là chính.

    Ủy ban nhân dân là cấp có trách nhiệm chính tại địa phương, song địa phương nào làm tốt, địa phương nào làm chưa tốt cũng chưa được liệt kê trong Báo cáo. Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, không làm rõ được trách nhiệm của mỗi bộ, ngành, địa phương, sẽ khó đảm bảo trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm trong thời gian tới.

    Đại biểu Nguyễn Hoàng Mai (Tiền Giang) đánh giá, trong lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm đang nổi lên một số hạn chế như việc thực hiện quản lý nhà nước còn có hiện tượng cắt khúc, phân đoạn trong chuỗi từ trang trại đến bàn ăn, tạo nhiều khoảng trống chưa được xử lý có hiệu quả. Việc ngăn ngừa thực phẩm không an toàn, thiếu một cơ quan giữ vai trò chính.

    Đại biểu Phạm Trọng Nhân (Bình Dương) dẫn chứng từ nguồn tin của Văn phòng Quốc hội phục vụ hoạt động giám sát cho biết, về việc phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm, 53,4% người được hỏi trả lời là không hợp lý hoặc chưa hợp lý.

    Cũng câu hỏi đó, kết quả khảo sát của Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp thống kê cho thấy 73% cán bộ y tế, 60% cán bộ công thương và 57% cán bộ nông nghiệp được hỏi cho rằng việc phân công trách nhiệm quản lý về an toàn thực phẩm như hiện nay là không hợp lý. Từ dẫn chứng này, đại biểu thấy rằng giữa người dân và cán bộ quản lý chuyên ngành đã có sự tiệm cận về ý chí khi đánh giá về phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm hiện nay.

    Đại biểu Phạm Trọng Nhân nêu Luật An toàn thực phẩm đã chuyển hoạt động quản lý an toàn thực phẩm sang cơ chế quản lý theo nhóm sản phẩm thay vì quản lý theo phân khúc sản xuất, kinh doanh nhằm khắc phục sự chồng chéo trong quản lý; đồng thời xác định rõ hơn trách nhiệm của mỗi bộ, ngành trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, theo đại biểu, một số ngành hàng vẫn có sự đan xen, không có sự phân định rõ trách nhiệm của bộ, ngành nào trong quản lý.

    Đơn cử như việc quản lý chất lượng bún đang được cả ba bộ chịu trách nhiệm: nguyên liệu bột gạo, nước để làm bún thuộc trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; sản phẩm tinh bột thuộc về Bộ Công Thương; sản phẩm bún bán trên thị trường nếu chứa chất gây ngộ độc cho người tiêu dùng thì trách nhiệm thuộc Bộ Y tế. Đại biểu Nhân nhấn mạnh dẫn chứng này một lần nữa nói lên thực trạng công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm – vấn đề đang gây nhức nhối toàn xã hội nhưng vẫn chưa có giải pháp căn cơ, triệt để.

    Đại biểu Lê Thị Yến (Phú Thọ) cũng cho rằng một số quy định về phân công trách nhiệm còn chồng chéo và nhiều bất cập. Việc quản lý một số mặt hàng, sản phẩm còn sự giao thoa giữa các bộ, chưa phân định rõ bộ nào chịu trách nhiệm chủ trì, nên dẫn đến buông lỏng quản lý hoặc không phân định rõ trách nhiệm chính thuộc bộ nào. Đại biểu đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu theo hướng tập trung thống nhất một cơ quan quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm, không nên để ba bộ cùng quản lý như mô hình hiện nay.

    Đại biểu Hồ Thanh Bình (An Giang) đánh giá việc quy định về quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm hiện nay được phân công theo chức năng sẵn có của các bộ này. Thực tế cho thấy sự phân công này tồn tại những hạn chế, bất cập, chưa có sự phối hợp hiệu quả, nhất là chưa thực sự chuyên môn hóa ở một số nơi và thống nhất trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm.

    Đại biểu nêu: “Quản lý an toàn thực phẩm cần tuân thủ quy luật tự nhiên và sự toàn vẹn của chuỗi cung ứng thực phẩm. Việc 3 bộ khác nhau quản lý đã vô tình băm nhỏ chuỗi cung ứng này và làm giảm đi hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm.”

    Đại biểu nêu rõ quan điểm: “Đã đến lúc phải có một cơ quan chuyên trách thống nhất chịu trách nhiệm quản lý về an toàn thực phẩm ở nước ta – điều này cũng phù hợp với một số mô hình của các nước phát triển. Tôi xin nhấn mạnh cần một cơ quan chuyên trách về an toàn thực phẩm, chứ không cần một Ban về quản lý an toàn thực phẩm,” đại biểu bày tỏ.

    Xác định mục tiêu định lượng

    Theo đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn nạn thực phẩm bẩn, thực phẩm không an toàn như hiện nay.

    Lý do một phần bởi các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm nông nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, phổ biến ở quy mô hộ gia đình, phân tán. Ngoài ra, nhận thức của người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng về an toàn thực phẩm còn chưa đầy đủ. Quy trình sản xuất lạc hậu, việc sử dụng chất bảo vệ thực vật, chất phụ gia trong nuôi trồng, chế biến còn tràn lan, chủ yếu làm theo kinh nghiệm, thiếu quy chuẩn. Một bộ phận các cơ sở, cá nhân kinh doanh mang tính chộp giật, sản xuất chạy theo lợi nhuận, không màng tới sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng.

    Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn nhìn nhận nguyên nhân chính của những yếu kém này là do công tác quản lý nhà nước về vấn đề an toàn thực phẩm còn thiếu hiệu quả; thể chế chính sách để đảm bảo an toàn thực phẩm chưa đồng bộ, chưa phù hợp. Việc triển khai thi hành pháp luật an toàn thực phẩm chưa nghiêm, chế tài không đủ răn đe, ngăn ngừa có hiệu quả.

    Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn kiến nghị Nghị quyết của Quốc hội cần có những mục tiêu định lượng với thời hạn cụ thể bên cạnh việc đề ra những định hướng, giải pháp mang tính chất định tính để Chính phủ chủ động thực hiện; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi giúp Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội thực hiện công tác giám sát.

    Điển hình như cần quy định tỷ lệ giảm mỗi năm bao nhiêu phần trăm số vụ ngộ độc thực phẩm so với năm trước; phấn đấu đến năm 2022 cả nước có 100% tỉnh, thành phố thực hiện quy hoạch cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung; phấn đấu 80% các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, 100% bếp ăn tập thể được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm; 80% chợ được kiểm soát, quy hoạch an toàn thực phẩm.

    Bên cạnh đó, cần khẩn trương tổng kết mô hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và Ban Chỉ đạo an toàn thực phẩm hiện nay, nhất là mô hình quản lý đã và đang được thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, sớm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đảm bảo phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan đầu mối, cơ quan chủ trì, tránh chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, phân tán lực lượng; phân công rõ trách nhiệm của người đứng đầu các lực lượng chức năng từ cấp Trung ương đến cơ sở trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các khâu sản xuất, chế biến, nhập khẩu, lưu thông sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng.

    Đại biểu Nguyễn Hoàng Mai kiến nghị, cần thiết lập đường dây nóng với số ngắn gọn, dễ nhớ, để nhân dân phản ánh các vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; kiểm soát chặt chất xả thải từ các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các khu sản xuất tập trung, khu công nghiệp. Các tỉnh, thành phố nghiêm túc xem xét tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm trong xây dựng nông thôn mới; đưa việc thực hiện vấn đề an toàn thực phẩm vào cơ chế tự quản trong hương ước, quy ước làng, xã ở các vùng nông thôn để xử lý hiệu quả các vấn đề của cộng đồng.

    Xác định cơ chế, chính sách phù hợp để huy động tốt hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, bởi phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ tại cộng đồng, cũng như bảo đảm an toàn thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình.

    Tăng mức khen thưởng

    Nhiều ý kiến đại biểu đồng tình với đề xuất của Đoàn Giám sát cho phép sử dụng 100% nguồn kinh phí xử phạt vi phạm hành chính từ vi phạm an toàn thực phẩm để phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của địa phương. Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn cho rằng mức trích cho khen thưởng ở mức 20-30% như trong Dự thảo Nghị quyết là còn thấp. Số tiền xử lý vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm không lớn như trong lĩnh vực an toàn giao thông. Vì vậy, đại biểu đề nghị dành tỷ lệ từ 50-70% nguồn này để khen thưởng, khuyến khích các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác quản lý, phát hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

    Đại biểu Nguyễn Mạnh Cường cho rằng việc tăng cường kinh phí, nguồn lực cho quản lý an toàn thực phẩm là cần thiết. Tuy nhiên, chỉ nên xác định đây giải pháp tạm thời, thực hiện trong một thời gian nhất định. Về lâu dài, đại biểu Nguyễn Mạnh Cường cho rằng cần tính toán một cách đồng bộ việc xử lý nguồn kinh phí xử phạt vi phạm an toàn thực phẩm. Theo đó, các lực lượng chức năng, cơ quan quản lý nhà nước đã được hưởng lương, chế độ phụ cấp trách nhiệm, làm ngoài giờ nên không nhất thiết phải trích từ 20-30% kinh phí phạt cho khen thưởng.

    Qua xem xét, nếu thấy lực lượng này xứng đáng được hưởng thêm chế độ khác thì cần có quy định rõ ràng. Nguồn chi cho các chế độ hưởng thêm nên được trích từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc công khai, minh bạch; không nên trích phần trăm từ tỷ lệ tiền phạt vì khoản tiền này ở nhiều địa phương hiện đang khó thống kê được chính xác, đầy đủ.

    Qua trực tiếp tham gia cùng Đoàn giám sát, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết Đoàn đã triển khai giám sát theo phương thức vừa tổ chức thực hiện theo chương trình kế hoạch, vừa tiến hành giám sát đột xuất nhằm nắm bắt khách quan những vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm. Cùng với đó, các lãnh đạo cao nhất của Chính phủ đã tham gia giám sát ở các địa bàn nóng bỏng về mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Sau khi đi thực tế, Đoàn giám sát đã xây dựng kế hoạch tổng kết, báo cáo, tiến hành rà soát, lấy ý kiến công phu, dân chủ để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đảm bảo thông báo kết quả giám sát sát với tình hình thực tiễn.

    Bộ trưởng nêu trong 5 năm qua, kể từ khi thực hiện Luật An toàn thực phẩm, Việt Nam đã sản xuất, chế biến được khối lượng sản phẩm nông nghiệp cơ bản đảm bảo nhu cầu cho hơn 90 triệu dân và phục vụ xuất khẩu. Việt Nam đã xuất khẩu chính ngạch trên 70 triệu tấn nông sản, với giá trị đạt trên 140 tỷ USD, thặng dư xấp xỉ 43 tỷ USD; góp phần cùng kết quả đạt được trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, đưa tuổi thọ bình quân của người Việt Nam lên 74 tuổi.

    Bên cạnh các kết quả đạt được, báo cáo công tác giám sát đã chỉ ra nhiều tồn tại, trách nhiệm của các cơ quan quản lý từ Trung ương đến cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh. Với chức năng là cơ quan trực tiếp quản lý về sản xuất nông nghiệp, bản thân lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ Bộ trưởng đến các Thứ trưởng, các đơn vị chức năng đã theo sát các Đoàn giám sát, tiếp thu ý kiến về các tồn tại, hạn chế của ngành.

    “Chúng tôi coi đây là một cơ hội cho ngành để đảm bảo an toàn thực phẩm cũng như tái cơ cấu nông nghiệp. Không chỉ chờ Quốc hội ban hành Nghị quyết, mà những vấn đề phát hiện ra khi đi theo Đoàn giám sát thì Bộ đã xem xét chỉnh sửa ngay,” Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết.

    Bộ trưởng lấy ví dụ khi tham gia cùng Đoàn giám sát, Bộ phát hiện một số vấn đề nhức nối nổi lên như vật tư đầu vào của thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y; các hóa chất đưa vào trong chuỗi sản xuất. Riêng về thuốc bảo vệ thực vật, hiện có trên 4.000 tên thuốc thương phẩm.

    Tám tháng vừa qua, Bộ đã tiến hành rà soát, loại ra 600 sản phẩm không cần thiết và tiếp tục siết chặt quản lý trong thời gian tới. Trong đó, 24D thuốc trừ cỏ và Padawat là hai nhóm rất độc, cần kiên quyết loại ra. Ngoài ra, Bộ tổ chức kiểm tra, rà soát, yêu cầu các hệ thống phân phối cung cấp thông tin cho người dân, hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng lúc, đúng cách để góp phần giảm độc hại ngay từ đầu vào.

    Bộ trưởng cho biết hoạt động quản lý phân bón cũng là một trong những vấn đề rất bức xúc. Hiện nay, hàng năm Việt Nam dùng 8-10 triệu tấn phân bón vô cơ, trong khi tỷ lệ phân hữu cơ rất ít. Trước đây, lĩnh vực phân bón vô cơ do Bộ Công Thương quản lý. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý phân bón hữu cơ và các loại phân bón khác.

    Việc hai bộ cùng quản lý lĩnh vực phân bón đã nảy sinh nhiều bất cập, chồng chéo. Sau khi Quốc hội có ý kiến tập trung quản lý phân bón về một đơn vị, Chính phủ đã quyết định chính thức giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về phân bón. Bộ đã và đang phối hợp tích cực với Bộ Công Thương, dự kiến trong quý 3/2017 này sẽ hoàn thành và trình Nghị định về quản lý phân bón và xử phạt trong quản lý phân bón, hướng tới tập trung quản lý theo hệ thống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Vai Trò Quản Lý Nhà Nước Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Chương 4: Biện Pháp Chung Và Cải Thiện Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thức Ăn Đường Phố
  • Đồng Bộ Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Thực Phẩm Tại Nông Thôn
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Vai Trò Quản Lý Nhà Nước Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Mô Hình Hợp Lý Trong Quản Lý Nhà Nước Về An Toàn Thực Phẩm
  • Luận Văn: Quản Lý Về An Toàn Thực Phẩm Tại Tỉnh Vĩnh Phúc, Hay
  • Phương Hướng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Chất Lượng Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Nước Ta
  • Thực Trạng An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiện Nay
  • Kon Tum: Giải Pháp Về Công Tác An Toàn Thực Phẩm Trong Tình Hình Mới
  • Ngày đăng: 14/05/2014 02:54

    Những hạn chế của việc quản lý VSATTP nêu trên đặt ra cho công tác quản lý nhà nước một số nhiệm vụ cần giải quyết như sau:

    1. Nâng cao năng lực quản lý chất lượng VSATTP

    Xây dựng và nâng cao năng lực của hệ thống tổ chức quản lý VSATTP từ cấp thành phố đến từng địa phương, cơ sở. Đào tạo, tập huấn, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm về quản lý, kiểm nghiệm và nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra VSATTP; thường xuyên tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về VSATTP và đánh giá việc thực hiện kế hoạch hàng năm là hết sức cần thiết. Tư vấn hướng dẫn các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm áp dụng quản lý chất lượng VSATTP theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành vệ sinh tốt (HHP), cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc 10 nhóm thực phẩm có nguy cơ cao. Tiến hành xây dựng mô hình tiên tiến về VSATTP và tổ chức duy trì hoạt động hệ thống cộng tác viên ở các xã, phường, thị trấn.

    2. Thông tin giáo dục truyền thông đảm bảo chất lượng VSATTP

    Xây dựng chiến lược thông tin, giáo dục truyền thông về VSATTP; xác định nhóm đối tượng theo vai trò nhiệm vụ trong chuỗi cung cấp thực phẩm, theo vùng sinh thái, dân tộc… để xây dựng thông điệp, cách tiếp cận thích hợp, xây dựng các sản phẩm truyền thông phù hợp các nhóm đối tượng. Huy động các kênh truyền thông và các lực lượng truyền thông về VSATTP; trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ tuyên truyền cơ động về VSATTP. Xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý VSATTP.

    3. Tăng cường năng lực kiểm nghiệm chất lượng VSATTP, xây dựng hệ thống giám sát ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm và phân tích nguy cơ ô nhiễm thực phẩm

    Xây dựng quy hoạch hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm theo hướng đa dạng hoá, xã hội hoá, chuyên sâu và phổ cập nhằm đánh giá được các mối nguy hoá chất và vi sinh vật trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm. Đầu tư nâng cấp phòng kiểm nghiệm chất lượng VSATTP, thực hiện chuẩn hoá ở các phòng kiểm nghiệm cấp tỉnh theo tiêu chuẩn thực hành “Labor tốt” và tiêu chuẩn quốc tế. Xây dựng phương pháp và duy trì đánh giá năng lực trình độ kỹ thuật của các phòng kiểm nghiệm định kỳ hàng năm. Đầu tư trang thiết bị kiểm nghiệm chất lượng VSATTP. Xây dựng mô hình phòng chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm tại các vùng có nguy cơ cao.

    4. Đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến nông sản thực phẩm

    Kiểm tra, giám sát ô nhiễm sinh học và hoá chất độc hại trong nông sản, động vật. Thực hiện kiểm soát chất lượng VSATTP sử dụng thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi, kiểm soát chất lượng phân bón có nguy cơ ô nhiễm cao. Xây dựng và phát triển vùng sản xuất nông sản, thực phẩm an toàn, tập trung vào các vùng sản xuất rau, quả, chè và vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện chứng nhận đủ điều kiện sản xuất nông sản thực phẩm an toàn và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng VSATTP, hỗ trợ chứng nhận áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.

    5. Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh thực phẩm trên thị trường, đặc biệt các nhóm thực phẩm có nguy cơ cao, kiểm soát nhãn thực phẩm, thực phẩm giả

    Tuyên truyền phổ biến cho các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh hiểu rõ và thực hiện đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP. Có các biện pháp quản lý, cung ứng, vận chuyển thực phẩm an toàn; kiểm tra, kiểm soát thị trường chống các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hàng giả, hàng kém chất lượng, phụ gia không được phép sản xuất, chế biến. Phát triển mạng lưới kinh doanh rau, thực phẩm an toàn. Xây dựng và quy hoạch các mô hình chợ văn minh.

    Văn phòng UBND thành phố Hà Nội

    Bài đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 8/2011

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 4: Biện Pháp Chung Và Cải Thiện Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thức Ăn Đường Phố
  • Đồng Bộ Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Thực Phẩm Tại Nông Thôn
  • Tập Trung Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Quản Lý Nhà Nước Về Văn Thư

    --- Bài mới hơn ---

  • Lưu Trữ Tài Liệu Điện Tử Của Các Cơ Quan Nhà Nước, Góc Nhìn Từ Khía Cạnh Quản Lý (Phần 1)
  • Tìm Giải Pháp Cho Tài Liệu Lưu Trữ Điện Tử
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Quản Lý Loài Ngoại Lai Xâm Hại
  • Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ubnd …………..
  • Luận Văn Đề Tài Hoạt Động Soạn Thảo Văn Bản Tại Ủy Ban Nhân Dân
  • Nhận thức của lãnh đạo và cán bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành về vị trí, tầm quan trọng của công tác văn thư, lưu trữ đã được nâng lên rõ rệt. Hoạt động quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ có nhiều tiến bộ, đặc biệt là công tác chỉ đạo và kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ. Công tác văn thư, lưu trữ ở các Sở, ban, ngành tỉnh; các cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu của tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn từng bước thực hiện đúng quy trình quản lý văn bản, tài liệu được phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị và được chú ý bảo vệ, bảo quản trong kho lưu trữ. Tài liệu lưu trữ đã được tổ chức khai thác, sử dụng góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà.

    Đội ngũ cán bộ văn thư, lưu trữ của tỉnh từng bước được tăng cường; công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ văn thư, lưu trữ được chú trọng, trình độ chuyên môn của cán bộ văn thư, lưu trữ được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

    Cơ sở vật chất cho hoạt động văn thư, lưu trữ như máy vi tính, máy fax, máy photocoppy, máy scan; kho tàng, trang thiết bảo quản tài liệu lưu trữ, nghiên cứu, ứng dụng khoa hoạc công nghệ vào công tác văn thư, lưu trữ từng bước được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư.

    Thực trạng quản lý nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ của tỉnh

    Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ tỉnh đã bộc lộ một số bất cập và hạn chế, cụ thể:

    Những bất cập về mặt pháp lý và thực tiễn hoạt động văn thư, lưu trữ

    Về mặt pháp lý

    Để đảm bảo tính đông bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đòi hỏi các quy định pháp luật về văn thư, lưu trữ phải phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

    Thông tư 02/2010/TT-BNV ngày 28/4/2010 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức văn thư, lưu trữ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp, được quan tâm, từng bước kiện toàn nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và còn bộc lộ nhiều khó khăn như: tại Chi cục Văn thư – Lưu trữ Thông tư chưa phân định rõ chức năng hành chính, chức năng sự nghiệp nên khó khăn trong việc thực hiện cơ chế tài chính và bố trí biên chế công chức, viên chức

    Về tổ chức quản lý nhà nước công tác văn thư, lưu trữ

    Nội dung quản lý nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ bao gồm: Xây dựng, ban hành và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ; quản lý thống nhất về nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ; quản lý nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác văn thư, lưu trữ; quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức văn thư, lưu trữ; quản lý công tác thi đua, khen thưởng trong công tác văn thư, lưu trữ; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ; tổ chức sơ kết, tổng kết công tác văn thư, lưu trữ; hợp tác trong lĩnh vực văn thư, lưu trữ với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. Đây chính là yêu cầu, là đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ cần được cụ thể hơn nữa nhằm tạo điều kiện cho hoạt động công tác văn thư, lưu trữ của địa phương thực hiện đúng quy định của pháp luật.

    Các giải pháp quản lý nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ

    Để đáp ứng yêu cầu công tác văn thư, lưu trữ của tỉnh phù hợp trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.

    1. Về quản lý nhà nước đối với công tác văn thư, lưu trữ, trên cơ sở phân tích, đánh giá và khắc phục những hạn chế của công tác văn thư, lưu trữ trong phạm vi tỉnh là hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý công tác văn thư, lưu trữ từ tỉnh đến huyện, xã, phường, thị trấn. Xây dựng và ban hành đồng bộ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ văn thư, lưu trữ; ở đây, xem xét đến mô hình công tác văn thư, lưu trữ hiện nay cho phù hợp. Đồng thời nâng cao nhận thức của cán bộ lãnh đạo cũng như cán bộ thừa hành và xây dựng cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Mô hình tổ chức văn thư, lưu trữ ở các cấp, các ngành phải tính đến hoạt động của nó trong môi trường điện tử, quản lý tài liệu điện tử và lưu trữ điện tử, cách lập hồ sơ ra sao, sao dữ liệu thế nào, vấn đề độ tin cậy của tài liệu điện tử ngày một nhiều; việc thu thập, xác định giá trị tài liệu, hủy tài liệu, bảo quản an toàn tài liệu và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ điện tử nhằm khắc phục tồn tại phổ biến lâu nay của cơ quan hành chính nhà nước là làm theo thói quen, kinh nghiệm, tùy tiện.

    Trong thời điểm hiện nay, công tác văn thư, lưu trữ cần được ứng dụng công nghệ thông tin; công tác văn thư hiện nay hầu như mới chỉ dừng ở việc đánh máy, in văn bản và đăng ký văn bản đi, văn bản đến. Việc quản lý và xử lý văn bản qua mạng máy tính c ò n chưa được triển khai triệt để. Các khâu nghiệp vụ cụ thể trong công tác văn thư như soạn thảo và xử lý văn bản, lập hồ sơ hiện hành, theo dõi giải quyết văn bản được coi là một quy trình cần được chấn chỉnh. Trong khi đó, mọi khâu trong quy trình nghiệp vụ của công tác văn thư đều có thể nhờ sự trợ giúp của công nghệ thông tin để tiết kiệm thời gian, công sức và đặc biệt là hạn chế tệ quan liêu giấy tờ.

    Các khâu nghiệp vụ cụ thể trong công tác lưu trữ như: Thu thập, bổ sung; phân loại, chỉnh lý tài liệu; xác định giá trị tài liệu trong kêt hợp chỉnh lý; thống kê tài liệu; bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu; tổ chức, khai thác và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ như số hóa tài liệu lưu trữ. Tất cả những vấn đề này hoàn toàn phù hợp với việc thực hiện mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010.

    2. Đào tạo cán bộ công chức làm công tác văn thư, lưu trữ bao gồm công việc soạn thảo, ban hành, quản lý văn bản và quản lý sử dụng con dấu; thu thập, bổ sung; phân loại, chỉnh lý tài liệu; xác định giá trị tài liệu trong kêt hợp chỉnh lý; thống kê tài liệu; bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu; tổ chức, khai thác và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ. Như vậy, muốn nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ phục vụ công tác cải cách hành chính nói chung, cơ chế một cửa nói riêng thì việc tất yếu phải l à m là trang bị cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức những kiến thức cơ bản về công tác văn thư, lưu trữ.

    3. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị hiện đại, đúng tiêu chuẩn phục vụ công tác văn thư, lưu trữ nhằm cải thiện môi trường làm việc cho cán bộ làm công tác văn thư, lưu trữ tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả cho công tác văn thư đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập./.

    Theo Website Chi cục Văn thư – Lưu trữ tỉnh Bình Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Lưu Trữ Tài Liệu Điện Tử Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Kinh Nghiệm Quản Lý Tài Liệu Điện Tử Tại Văn Phòng Chính Phủ Việt Nam
  • Quản Lý Ngành, Nghề Có Điều Kiện Về Antt
  • Siết Chặt Quản Lý Các Ngành Nghề Kinh Doanh Có Điều Kiện Về An Ninh Trật Tự
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Kinh Doanh Dịch Vụ Bảo Vệ Trên Địa Bàn Quận Nam Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội
  • Giải Pháp Về An Toàn Thực Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng, Giải Pháp An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Tại Các Chợ Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Dương
  • Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm, Vấn Đề Xã Hội Bức Xúc Cần Được Giải Quyết
  • Giải Pháp An Toàn Nào Cho Phụ Nữ Và Trẻ Em?
  • Triển Khai Nhiều Giải Pháp Vì Sự An Toàn Của Phụ Nữ Và Trẻ Em
  • Giải pháp về An toàn thực phẩm

    D o sự toàn cầu hóa của chuỗi thức ăn, đòi hỏi việc bảo vệ người tiêu dùng ngày càng trở nên gắt gao. Ngày nay, ngành công nghiệp thực phẩm và nông nghiệp đang phải đối mặt với nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp phân tích nhanh hơn và nhạy hơn. Bạn phải cam kết cung cấp thực phẩm, sản phẩm và đồ uống có chất lượng nhất quán và an toàn mà không có bất cứ loại trừ nào. Agilent Technologies đi đầu với các sản phẩm và dịch vụ để giúp bạn cung cấp những gì khách hàng của bạn yêu cầu. Các thiết bị, hệ thống và vật tư của chúng tôi được sử dụng trong chuỗi sản xuất thực phẩm, bao gồm kiểm tra, phát triển sản phẩm mới, kiểm soát và đảm bảo chất lượng và đóng gói. Đối với công nghiệm thực phẩm, Agilent cung cấp các giải pháp cho các nhóm ứng dụng sau:

    Phân tích đồ uống

    Trong ngành rượu, bia, rượu mạnh, ngày càng có nhiều người đánh giá chất lượng, độ tinh khiết và tính xác thực về nguồn gốc và chất lượng của cả nguyên liệu và sản phẩm cuối cùng. Sự tập trung tăng lên này cho phép tự kiểm soát quy trình sản xuất để đảm bảo sản phẩm có chất lượng ổn định và nhất quán hơn.

    Thực phẩm bổ xung và thực phẩm chức năng

    Các chất bổ sung chế độ ăn uống và nguyên liệu thô của chúng đa dạng, từ chiết xuất viên thuốc đến hộp trà hoặc chai dầu trong nhà bếp. Các nhà sản xuất và các nhà quản lý phải đảm bảo rằng các hợp chất hoạt tính ở mức mong đợi. Thử nghiệm tính xác thực cũng cần thiết đặc biệt là khi các hoạt chất được bổ xung vào các sản phẩm không xác thực. Nguồn gốc địa lý, độ tươi và loại sản xuất có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ cũng cần phải thử nghiệm. Các phương pháp LC và GC tập trung vào các hợp chất đã biết có tầm quan trọng với nhiều cơ quan tham chiếu như IOC, ISO, và USP. UHPLC hiện đang tăng tốc kiểm tra và cải thiện tính chọn lọc. Kỹ thuật vân tay sử dụng phổ khối và quang phổ giúp kiểm tra tính xác thực toàn diện hơn. Phần mềm Agilent’s Mass Profiler Professional lấy trực tiếp dữ liệu từ các hệ thống MS của Agilent giúp tìm kiếm sự khác biệt bằng các dữ liệu phổ khối của nhiều mẫu.

    Chế biến Thực phẩm & Bao bì

    Một loạt các hợp chất không mong muốn có thể được tìm thấy trong các sản phẩm thực phẩm do đóng gói hoặc chế biến. Cả nhà sản xuất thực phẩm và bao bì đều cần phải kiểm soát chặt chẽ các hợp chất như các nhà quản lý của chính phủ để bảo vệ liên tục và đánh giá mức độ tiếp xúc hoặc mức độ độc hại của con người.

    Kỹ thuật LC, SFC và GC đáp ứng được những thách thức trong việc định vị và đo lường các sản phẩm cụ thể, có thể kiểm tra được lượng vết trong các nền mẫu phức tạp. Có sẵn các phương pháp với độ nhạy cao trong phòng lab cũng như tại hiền trường cho phép phân tích các chất gây ô nhiễm bao gồm cả PAHs, Acrylamide và Bisphenol A.

    Công thức cho trẻ sơ sinh & Kiểm tra sữa

    Công nghiệp sản xuất sữa cho trẻ sơ sinh cần những thử nghiệm đáng tin cậy để đảm bảo rằng hàm lượng dinh dưỡng trong sản phẩm của chúng được cân bằng để đảm bảo cuộc sống tốt cho trẻ sơ sinh. Các nhà sản xuất phải đảm bảo rằng nguyên liệu của họ không có các chất gây hại như kim loại nặng, thuốc trừ sâu, hoặc các chất gây ô nhiễm khác. Agilent có các thiết bị cực kỳ hữu dụng như phổ nguyên tử, phổ khối, sắc ký khí và sắc ký lỏng, và FT-IR để đảm bảo các phân tích hàng ngày đơn giản và hiệu quả.

    Độc tố nấm mốc (mycotoxin) và độc tố sinh học

    Các chất độc sinh học, bao gồm mycotoxin, phycotoxin (còn gọi là biotoxin biển) và phytotoxin, có trong thực phẩm do quá trình nhiễm nấm, tương tác hoặc nuôi dưỡng các sinh vật độc hại khác (ví dụ tảo), chất độc được sản xuất tự nhiên như một phương tiện bảo vệ hoặc thông qua các quy trình nội bộ trong thực phẩm trong quá trình bảo quản. Biotoxin có thể cực kỳ nguy hiểm đối với cả động vật và người, gây bệnh tật và thậm chí tử vong khi có mặt, và sự kiểm soát của chúng trong thức ăn và thức ăn chăn nuôi rất quan trọng.

    Các chất hữu cơ khó phân huỷ. Thuốc trừ sâu

    Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (Persistent organic pollutants: POPs) là một loại chất gây ô nhiễm hóa học lớn và đa dạng có thể gây ra thiệt hại đáng kể đối với môi trường tự nhiên và sức khoẻ con người, thậm chí ở những nồng độ nhỏ. POPs bao gồm một loạt các hợp chất hóa học độc hại như dioxins, PCBs, PCDFs, endrin, PAHs và DDT, và được sản xuất làm vật liệu phế thải hoặc các sản phẩm phụ trong các quy trình công nghiệp và thương mại khác nhau. Do cấu trúc hóa học riêng biệt và tính chất tương tác với các hợp chất khác, POP có thể tồn tại trong môi trường trong một khoảng thời gian dài và có thể đi qua các chuỗi thức ăn và giữa các loài. Nhiều nước trên thế giới đã có những bước đi quan trọng để hạn chế ô nhiễm môi trường do POP, tuy nhiên vẫn còn mức độ sử dụng ở các nền kinh tế mới nổi. Do sự dễ dàng mà POPs lây lan, các thủ tục ngăn chặn để bảo vệ nguồn cung cấp thực phẩm và môi trường vẫn là một vấn đề quan trọng. Các giải pháp phát hiện tiên tiến của Agilent cung cấp độ nhạy và khả năng phân tích để xác định và định lượng POPs, đặc trưng cho các mẫu phức tạp với nồng độ cực thấp. Các hệ thống GC/QQQ và LC/QQQ cho phép phát hiện mức thấp với một lượng nhỏ chất gây ô nhiễm, đồng thời cho phép đo các hợp chất dễ bay hơi trong các nền mẫu phức tạp như các sản phẩm thực phẩm. Hệ thống LC/QTOF cũng cho phép phát hiện và xác định hiệu quả các hợp chất đang nổi lên, đảm bảo bảo vệ môi trường của bạn khỏi POPs là mạnh mẽ, hiệu quả và toàn diện

    Khi các chuỗi cung cấp lương thực ngày càng trở nên toàn cầu, các chính phủ đang tìm cách giám sát một phạm vi rộng hơn của thuốc trừ sâu hơn bao giờ hết. Điều này đòi hỏi phải đo hàng trăm hợp chất trong một số phân tích khác nhau, nghĩa là phòng thí nghiệm cần nhiều quy trình dư lượng và các kỹ thuật chuẩn bị mẫu vừa chính xác vừa tiết kiệm chi phí. Sắc ký kết hợp với phổ khối là một sự kết hợp lý tưởng cho các yêu cầu như vậy, đặc biệt các giải pháp nhanh và nhạy hơn. Các hệ thống MS có độ nhạy cao giúp pha loãng nền mẫu trong khi vẫn đạt được độ nhạy cần thiết. Agilent cung cấp các qui trình chuẩn bị mẫu với cùng với các kỹ thuật chiết xuất có thể sử dụng cho cả 2 kỹ thuật phân tích GC/MS và LC/MS. Các ứng dụng cho phân tích thuốc trừ sâu của Agilent có thể được cung cấp cho người dùng với giải pháp chìa kháo trao tay khi được yêu cầu. Các kỹ thuật viện sẽ giúp nhân viên các phòng thí nghiệm mới thực hiện phân tích trên các mẫu thực và đánh giá kết quả phân tích trên các mẫu này thay vì chỉ các chất chuẩn.

    Thực phẩm có nguồn gốc động vật là một trong những thử thách khó khăn nhất đối với các nhà phân tích, đặc biệt đối với các loại thuốc thú y. Sự phức tạp của nền mẫu và số lượng các chất tương tự dược phẩm yêu cầu một cách tiếp cận hiện đại cho các xét nghiệm, các yêu cầu pháp lý khác nhau của các quốc gia khác nhau đòi hỏi phải có mẫu tham chiếu đáp ứng nhiều điều kiện quy định khác nhau.

    Để đáp ứng thách thức này, Agilent đã phát triển một qui trình chuẩn (protocol) sử dụng cho các công nghệ LC/MS (bao gồm Bộ ưng dụng về thuốc thú y cho LC/MS) và GC/MS, phát hiện có hiệu quả các loại thuốc thú y, chất chuyển hóa và các sản phẩm chuyển đổi trong nhiều loại thực phẩm có nguồn gốc động vật. Kỹ thuật LC, SFC và GC cũng được sử dụng để xác định thành phần phân tử và chuẩn bị mẫu tiên tiến đảm bảo hiệu quả của tất cả các kỹ thuật.

    Bảo vệ sức khoẻ con người từ các chất bị cấm (như steroid), các thuốc được điều chỉnh không phù hợp hoặc thực phẩm có chứa chất vượt quá mức đề nghị là một vấn đề quan trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rõ Hơn Giải Pháp Bảo Đảm An Sinh Xã Hội
  • Chủ Động Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về An Sinh Xã Hội Trong Giai Đoạn 2022
  • Định Hướng Chiến Lược An Sinh Xã Hội Giai Đoạn 2022
  • Các Giải Pháp Đảm Bảo Quyền An Sinh Xã Hội Của Người Dân
  • Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Trong Quản Lý An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Trên Địa Bàn Thành Phố Đồng Hới
  • Thiết Kế Tổng Mặt Bằng Nhà Xưởng Công Nghiệp
  • Giải Pháp Tiết Kiệm Điện Trong Mùa Năng Nóng Bằng Năng Lượng Mặt Trời
  • Giải Pháp Năng Lượng Sạch Trong Tương Lai
  • Giải Pháp Điện Năng Lượng Mặt Trời Hòa Lưới Là Gì ?
  • Bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể về bốn nội dung quản lý nhà nước, gồm: xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại; và xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp kinh nghiệm ba quốc gia điển hình, bài viết đề xuất một số bài học cho hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

     

    Mở đầu

     

    Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp vĩ mô để bảo vệ sự ổn định tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại được đặt dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vai trò điều tiết và quản lý của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng thương mại, đảm bảo an toàn hiệu quả thanh toán quốc gia. Vì vậy, đối với các ngân hàng thương mại, khi mức dư nợ xấu tín dụng càng cao thì Ngân hàng Nhà nước thường đóng vai trò “người cứu cánh cuối cùng”. Bởi khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu của một ngân hàng thương mại bất kỳ trong hệ thống tăng cao báo động sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, khả năng cạnh tranh của ngân hàng và cả uy tín ngân hàng, niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng trong nước. Do tính chất lây lan của hiệu ứng đám đông, rủi ro tín dụng vượt kiểm soát sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hình thành nên cuộc khủng hoảng tài chính cho nền kinh tế của quốc gia. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước luôn chú trọng quan tâm đến quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại, cụ thể là, trong kiểm soát chất lượng tín dụng, đặc biệt là kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại. 

     

    Cần xây dựng và phát triển hệ thống NHTM có cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng 

     

    Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới hiện nay, có sự tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trên thế giới về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam.

     

    1. Quản lý nhà nước đối với nợ xấu của ngân hàng thương mại

     

    Quản lý nhà nước đối với nợ xấu tại các ngân hàng thương mại chính là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của Ngân hàng Trung ương, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hành vi và quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong đó, nhà nước thực thi các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh của nợ xấu cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu để các ngân hàng thương mại tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Trịnh Thị Thủy, 2022). 

     

    Hoạt động quản lý nợ xấu của nhà nước bao gồm nhận diện nợ xấu, đưa ra các biện pháp phòng ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các biện pháp thu hồi nợ xấu phát sinh để các ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nợ xấu là tiến hành các biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh bởi khi nợ xấu gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế, của cả hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. Tùy vào đặc điểm ngân hàng ở mỗi quốc gia mà có những mô hình quản lý nợ xấu khác nhau nhưng theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu là một quá trình cần phải được thực hiện liên tục thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại mới có thể đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.

     

     

    – Phương pháp quản lý nhà nước đối với nợ xấu 

     

     

    Hiện nay, có một số phương pháp được áp dụng phổ biến trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, đó là: phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế nhà nước, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp quản lý có mục tiêu, phương pháp quản lý tác nghiệp, phương pháp kiểm tra… (Phan Trung Hiền, 2009).

     

    Các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại phải đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật. Về tính khoa học, các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại đòi hỏi phải nắm vững đối tượng ngân hàng thương mại với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng này. Về tính nghệ thuật, các phương pháp quản lý nhà nước cần được lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra (Ghosh, 2022).

     

    – Công cụ quản lý nhà nước đối với nợ xấu

     

    Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại là tập hợp những phương tiện sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý về hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ quản lý này chuyển tải ý định và ý chí của mình đến các ngân hàng thương mại hoạt động trong nền kinh tế (Phan Trung Hiền, 2009).

     

    Hiện nay, có năm nhóm công cụ chính để quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bao gồm: (i) Nhóm công cụ thể hiện mục tiêu quản lý, (ii) Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các ngân hàng thương mại, (iii) Nhóm công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, (iv) Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào các ngân hàng thương mại, và (v) Nhóm công cụ để sử dụng các công cụ trên (Phan Trung Hiền, 2009). 

     

    – Mục tiêu quản lý nhà nước đối với nợ xấu

     

    Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và cũng là hoạt động chủ đạo của các ngân hàng thương mại. Theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu của nhà nước cần hướng đến mục tiêu đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại để ngày càng nâng cao chất lượng của hoạt động này. Đồng thời, quản lý nhà nước đối với nợ xấu phải hướng đến mục tiêu tìm giải pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả nhất để giảm tối đa tổn thất và rủi ro cho ngân hàng thương mại. Nói cách khác, thông qua các chính sách, cơ chế, đạo luật, nhà nước thông qua việc Ngân hàng Trung ương thực thi các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại một cách khoa học và có hiệu quả.

     

    Cụ thể hơn, có bốn mục tiêu cụ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại: Thứ nhất, duy trì sự an toàn và lành mạnh và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng: ngân hàng là đối tượng chịu nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là nguồn thanh khoản dự phòng cho tất cả các tổ chức khác trong xã hội và là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ của nhà nước (Corrigan, 1982). Thứ hai, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua vai trò của ngân hàng nhà nước là sẽ tạo động lực và khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển, ngăn ngừa nợ xấu. Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi để các ngân hàng thương mại phát triển: trong nền kinh tế thị trường, tác động của mỗi chủ thể đều có ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng. Thứ tư, định hướng, dẫn dắt và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo lập sự cân đối vĩ mô trong nền kinh tế và ngăn ngừa nợ xấu: nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động theo các quy luật vốn có của nó (Rosenstein-Rodan, 1961).

     

    2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới

     

    2.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương châu Âu

     

    Ngân hàng Trung ương châu Âu (ESCB) điều hành chính sách tiền tệ đồng Euro của Liên minh châu Âu hay khu vực đồng Euro hiện nay sau khi Anh rời khối này. Do tính chất đặc thù của một khối các quốc gia, Ngân hàng Trung ương châu Âu có ban giám đốc đứng đầu là Chủ tịch và hội đồng các thống đốc gồm lãnh đạo và đại diện các ngân hàng trung ương của các quốc gia trong liên minh. Hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của của Ngân hàng Trung ương châu Âu trong thời gian qua được triển khai gồm các nội dung sau:

     

    – Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

     

     

    Văn bản có vai trò quan trọng hỗ trợ việc thiết lập một khuôn khổ chung trên các hệ thống ngân hàng EU để nhận biết, phân loại và đánh giá nợ xấu đó là dự thảo hướng dẫn của Cơ quan Ngân hàng Châu Âu (European Banking Authority) từ năm 2014 (European Banking Authority, 2014, 2022a, 2022b). Các tiêu chuẩn này cung cấp các tiêu chí hài hòa để xác định các khoản nợ xấu, tăng cường tính minh bạch của rủi ro tín dụng được thực hiện bởi các ngân hàng châu Âu. 

     

     

    – Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

     

    Ủy ban châu Âu tập trung đề xuất các phương án để đưa ra mức dự phòng tối thiểu cho các khoản nợ xấu trong tương lai. Ngày 14/03/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các biện pháp để giải quyết tỷ lệ nợ xấu cao tại hệ thống các ngân hàng thương mại. Trong đó đặc biệt đề xuất quy định về dự phòng tổn thất tối thiểu đối với các khoản vay mới không hiệu quả. Sự hỗ trợ này bao gồm hai yếu tố chính: (i) yêu cầu các ngân hàng phải chi trả đến mức tối thiểu chung cho các khoản lỗ phát sinh và dự kiến đối với các khoản vay mới không hiệu quả (yêu cầu dự phòng tối thiểu) và (ii ) khi yêu cầu dự phòng tối thiểu không được đáp ứng, một khoản khấu trừ chênh lệch giữa dự phòng thực tế và dự phòng tối thiểu sẽ được 

    thực hiện. 

     

    – Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại

     

     

    Các cơ quan giám sát ngân hàng thiết lập Cơ chế giám sát đơn (Single Supervisory Mechanism – SSM) trên cơ sở các hoạt động của Trụ cột 2 (SREP). Điều này cho thấy, việc nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá và kiểm soát chất lượng tài sản của khoản vay một cách công bằng. Bên cạnh đó, việc đánh giá toàn diện được thực hiện bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cơ quan có thẩm quyền quốc gia (NCA), bao gồm một số hoạt động quan trọng, đặc biệt là đánh giá chất lượng tài sản (AQR). Hoạt động này tập trung vào việc đánh giá giá trị chính xác của tài sản đảm bảo của các ngân hàng dựa trên một phương pháp thống nhất và hài hòa.

     

    Trên cơ sở kết quả kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, các chiến lược nợ xấu được đưa ra, về cơ bản, ECB xác định bốn thành phần cơ bản, đó là: (1) Đánh giá môi trường hoạt động, (2) Phát triển chiến lược, (3) Thực hiện kế hoạch hành động, và (4) Đưa chiến lược vào quy trình quản lý ở các cấp độ. Trong tương lai, Ủy ban châu Âu sẽ cho phép những nhà giám sát ngân hàng nhiều quyền hạn hơn để họ có thể tích cực thúc đẩy các ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu nhiều năm qua.

     

    – Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng

     

    Liên minh châu Âu trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Cụ thể, Ngân hàng Trung ương châu Âu có thể buộc các ngân hàng tăng “vùng đệm” đối với các khoản nợ xấu hiện tại. Các ngân hàng cũng có thể buộc phải tự động trích thêm vốn cho các khoản vay mới khi thấy mức nợ xấu vượt quá mức chấp nhận được. Tuy nhiên, một cách khách quan, các biện pháp này có thể làm chi phí tăng quá mức, ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng. 

     

    2.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc

     

    Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nắm quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các định chế tài chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đối với hoạt động quản lý nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại trong nước, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc triển khai một số nội dung sau:

     

    – Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

     

    Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu giải quyết nợ xấu là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế. Trung Quốc đã ban hành chính sách chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản dưới sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu cho một số ngân hàng thương mại quốc doanh. Các công ty này đã mạnh dạn cho chứng khoán hóa các khoản nợ của ngân hàng thương mại và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào tình trạng cạn kiệt của các ngân hàng tại Trung Quốc. 

     

     

    – Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

     

    Để quản lý tốt nợ xấu trong thời kỳ mới, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu ngành Ngân hàng của quốc gia này phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: (i) Đáp ứng các yêu cầu quản lý nợ xấu trong khuôn khổ tối ưu hoá hiệu suất ngân hàng; (ii) Thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thị trường công bằng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Trung Quốc; (iii) Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội địa; (iv) Triển khai các hoạt động cho vay phải thận trọng để có thể duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính. 

     

    Đồng thời, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thanh tra ngân hàng hiệu quả do Ủy ban Basel về thanh tra ngân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của các khoản cho vay. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trung Quốc nhằm mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển bền vững, huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.

     

    – Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại

     

    Việc nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đẩy mạnh tại Trung Quốc. Quốc gia này tích cực sử dụng các phương pháp kiểm tra, giám sát hệ thống để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Quá trình tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu tại Trung Quốc đi kèm với thanh tra phòng ngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nguyên tắc kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu cơ bản là thực hành tổng hợp, quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tính minh bạch của các khoản nợ xấu. Mục đích của phương pháp tiếp cận này là củng cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại, yêu cầu có một mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luật thị trường đối với các ngân hàng.

     

    Các cơ quan giám sát ngân hàng và bảo hiểm của Trung Quốc đã được sáp nhập để có thể giải quyết tốt hơn vấn đề nợ xấu cũng như nhiều thách thức trong hoạt động tín dụng. Trong năm 2022, các nhà quản lý ngành Ngân hàng Trung Quốc đẩy cao áp lực dọn sạch bảng cân đối kế toán cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế. Trung Quốc cũng tăng cường công tác kiểm tra và giám sát trên cơ sở rủi ro. Ủy ban Giám sát Ngân hàng đã tăng cường năng lực giám sát và phân tích từ xa, từ đó, cải thiện hoạt động lập kế hoạch và giám sát nợ xấu tại chỗ. Nhờ đó, chất lượng kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được tăng cường đáng kể, góp phần lành mạnh các hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc.

     

    – Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng

     

    Chính phủ Trung Quốc áp dụng biện pháp mua lại nợ xấu cho các ngân hàng thương mại. Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc các tổ chức tương tự mua lại. Hoạt động này góp phần tạo vốn cho các ngân hàng thương mại, đồng thời khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn, kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nền kinh tế tái hoạt động. Giải pháp này còn giúp những ngân hàng thương mại yếu kém giải quyết các vấn đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc tái cấu trúc hệ thống.

     

    Công tác quản lý nhà nước về nợ xấu tại Trung Quốc chú trọng vào việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Hoạt động này góp phần hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu trong tương lai. Các công ty AMC của Trung Quốc là nhân tố quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại quốc gia này. Đây là các doanh nghiệp tài chính độc lập nhà nước do Bộ Tài chính bỏ vốn thành lập. Khác với các công ty AMC nước ngoài, AMC tại Trung Quốc có đặc điểm là đa mục tiêu, vừa xử lý nợ xấu, vừa phải duy trì nền tài chính ổn định, và thúc đẩy cải cách hệ thống ngân hàng. Phương pháp xử lý nợ xấu của AMC tại Trung Quốc chủ yếu là tái cơ cấu, sắp xếp lại nợ, hoặc chuyển nhượng nợ thành cổ phần. Việc chuyển nợ thành cổ phần thường được Trung Quốc thực hiện. Phương pháp đốc thúc hoàn nợ bao gồm thúc đẩy thu mua, ra tòa, bồi thường… dù được áp dụng nhiều nhưng hiệu quả rất kém tại Trung Quốc.

     

    2.3. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản

     

    Các hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trong thời gian:

     

    – Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

     

     

    Nhìn chung, việc xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản chú trọng vào xây dựng hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và kiện toàn. Trong quá trình xử lý nợ xấu của Nhật Bản qua nhiều giai đoạn vẫn tồn tại một vài hạn chế, nhưng đều được Chính phủ Nhật Bản thực hiện sửa đổi hoặc ban hành Luật mới rất nhanh chóng và kịp thời.

     

    – Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

     

    Tại Nhật Bản, BOJ yêu cầu các ngân hàng thương mại phải áp dụng những tiêu chuẩn quy định quốc tế như Basel II, III trong hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu. Các ngân hàng tại Nhật Bản thực hiện việc phân loại nợ khắt khe và thường xuyên. Bên cạnh đó, các ngân hàng của quốc gia này cũng rất tích cực trong việc công khai số liệu nợ xấu thực tế của mình và quyết liệt xử lý để giảm tỷ lệ nợ xấu, góp phần đảm bảo tính bền vững của thị trường tài chính trong nước.

     

    Để quản lý nợ xấu có hiệu quả, BOJ ứng dụng một số nguyên tắc quản lý nợ xấu theo Hiệp ước Basel nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn, từ đó giảm thiểu tối đa nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Một số biện pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguyên tắc quản lý nợ xấu có thể kể đến như điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần lãi vay, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, gia hạn nợ, phát mại tài sản đảm bảo, bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng… 

     

    Đáng chú ý, các chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản được ban hành và tuyên truyền rộng rãi. Vì vậy, nhận thức và sự hiểu biết của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc xử lý nợ xấu tại Nhật Bản rất cao. Nhờ đó, việc tuân thủ và thực hiện theo pháp luật trong khi xử lý tài sản đảm bảo trả nợ được người dân gần như chấp hành tuyệt đối.

     

    – Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại

     

    Ngân hàng Trung ương Nhật Bản coi công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu nhằm giúp kịp thời phát hiện, ngăn chặn và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình cấp tín dụng và quản lý thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại trong nước. Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát được coi là nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý nợ xấu tại quốc gia này. Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu còn nhằm phát hiện và ngăn chặn những sai phạm về đạo đức, sự lạm dụng quyền lực và tư lợi cá nhân có thể xảy ra ở các cán bộ tín dụng của ngân hàng thương mại, từ đó, ngăn chặn những thiệt hại có nguy cơ xảy ra đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng. 

     

    Về cơ bản, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản chú trọng vào một số vấn đề chính như: việc thực hiện cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách dự phòng rủi ro; mức độ tuân thủ các chuẩn mực nợ xấu; phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng vào việc xử lý rủi ro tín dụng…

     

    – Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng

     

    Nhật Bản thành lập Công ty chuyên thu hồi nợ (RCC) để mua nợ và Cơ quan tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) chuyên làm nhiệm vụ tái cơ cấu lại những doanh nghiệp quan trọng. Chính phủ Nhật Bản cho rằng, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp yếu kém là hai việc không thể tách rời trong quá trình xử lý nợ xấu. RCC thực hiện chức năng thu hồi nợ xấu của nền kinh tế, hay còn gọi là một doanh nghiệp dịch vụ công. Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Toàn bộ số tiền thành lập IRCJ là của các ngân hàng đóng góp chứ không phải từ Nhà nước. 

     

    Đặc biệt, Chính phủ Nhật Bản cho thực hiện việc phá sản đối với các ngân hàng thực sự yếu kém và không quản lý tốt nợ xấu. Đồng thời, Chính phủ triển khai song song những biện pháp hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo thanh toán tiền gửi tiết kiệm tại những ngân hàng đó. Ngoài ra, Nhật Bản đã tiến hành nhiều vụ hợp nhất và sáp nhập ngân hàng, nhằm hoàn thành sớm và đầy đủ việc giải quyết nợ khó đòi ở các ngân hàng lớn, đồng thời, giới hạn và thay đổi cơ chế hỗ trợ của ngân hàng. Cụ thể, đối với các ngân hàng lớn, bắt buộc xóa nợ khó đòi khỏi Bảng cân đối kế toán trong 2 đến 3 năm, đưa ra mục tiêu định lượng áp dụng với các ngân hàng lớn. Như vậy, chính những biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ Nhật Bản với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng tại quốc gia này bớt căng thẳng đi rất nhiều. 

     

    3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

     

    Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại một số quốc gia trên thế giới, xét trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, tác giả rút ra được một số bài học sau:

     

    Thứ nhất, Nhà nước và các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh xây dựng và tăng cường khung pháp lý một cách đồng bộ nhằm giám sát chặt chẽ ngành Ngân hàng, từ đó quản lý tốt và hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu. Để làm được điều này, Việt Nam cần chủ động hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể tạo lập được môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại đạt hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững. 

     

    Thứ hai, cần chú trọng đến việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cần hướng đến mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh, bền vững, từ đó có thể huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển. 

     

    Thứ ba, cần chú trọng hơn nữa đến việc đảm bảo tính độc lập và tự quyết của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại. Nếu Ngân hàng Nhà nước không có thẩm quyền độc lập trong việc quyết định về tín dụng và quản lý nợ xấu sẽ làm giảm hiệu quả quản lý hoạt động này. 

     

    Thứ tư, cần có đánh giá chính xác tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại để có thể nhanh chóng đưa ra các ứng phó ngay từ đầu nhằm giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt, cần phải giám sát chặt chẽ việc phân loại nợ tại các ngân hàng thương mại để đánh giá đúng đắn tác động tới hệ thống tài chính, từ đó đưa ra những phương án phù hợp với tình hình tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng trong nước. Bên cạnh đó, việc xử lý nhanh chóng tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng thương mại (tăng vốn kịp thời trong quá trình xử lý nợ xấu bằng mọi nguồn: công và tư), xem xét việc sử dụng vốn nhà nước để xử lý kịp thời, tránh làm sụp đổ hệ thống.

     

    Thứ năm, cần xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại có cấu trúc đa dạng về sở hữu, có quy mô hoạt động đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng. Chỉ như vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam mới có khả năng quản lý và xử lý hiệu quả nợ xấu. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng và nợ xấu. Các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần do nhà nước chi phối phải đóng vai trò chủ lực trong phát triển hệ thống. 

     

    Thứ sáu, cần tăng cường quy chế quản lý, giám sát các hoạt động kinh doanh tín dụng và xử lý nợ xấu của từng ngân hàng thương mại, đồng thời, củng cố sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của hệ thống tài chính; cần chú trọng xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển ngân hàng nhằm đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát ngân hàng. 

     

    Thứ bảy, cần mở rộng kênh xử lý nợ xấu. Đây là một bài học cần được nghiên cứu kỹ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi ngân sách đầu tư cho công ty mua nợ xấu còn thiếu hụt. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm của các quốc gia nêu trên, việc thành lập cơ quan xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (có thể ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước quản lý) là biện pháp cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm xử lý một phần nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Việc xử lý có thể thực hiện thông qua một số phương thức như chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, mua lại nợ xấu …

     

    Thứ tám, cần nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên trong việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Các biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ đối với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng sẽ góp phần giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại bớt căng thẳng. 

     

    1. Corrigan G. (1982). “Are Banks Special?” 1982 Annual Report Essay. Minneapolis, United States: Federal Reserve Board. http://minneapolisfed.org/pubs/ar/ar1982a.cfm

    2. European Banking Authority (2014), Final Draft Implementing Technical Standards on Supervisory reporting on forbearance and non-performing exposures under article 99 (4) of Regulation (EU) No 575/2013. 

    3. Ghosh Amit (2015), “Banking-industry specific and regional economic determinants of non-performing loans: Evidence from US states”, Journal of Financial Stability, Volume 20, Pages 93-104. 

    4. IMF (2006), Financial Soundness Indicators: Compilation Guide, International Monetary Fund.

    5. Nkusu Mwanza (2011), “Nonperforming Loans and Macrofinancial Vulnerabilities in Advanced Economies”, IMF Working Papers 11/161, International Monetary Fund.

    6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 – 2022), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2010-2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    7. Ozge Akinci, Jane Olmstead-Rumsey (2018), “How effective are macroprudential policies? An empirical investigation”, Journal of Financial Intermediation, Volume 33, January 2022, Pages 33-57.

    8. Phan Trung Hiền (2009), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ. 

    9. Rose Peter S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại (sách dịch), NXB Tài chính, Hà Nội. 

    10. Rosenstein-Rodan P.N. (1961), “Notes on the Theory of the ‘Big Push.’” In: H.S. Ellis and H.C. Wallich, editors. Economic Development for Latin America. New York, United States: St. Martin’s.

    11. Trịnh Thị Thủy (2015), Quản lý nhà nước đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia.

    ThS. Phạm Phú Thái

    Theo TCNH số 10/2020

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Tục Triển Khai Quyết Liệt, Có Hiệu Quả Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Góp Phần Ổn Định Vĩ Mô, Phục Hồi Kinh Tế
  • Câu Hỏi Ôn Tập Kiến Trúc Công Nghiệp.
  • Thiết Kế Mặt Bằng Chung Xí Nghiệp Công Nghiệp – Nhà Xưởng Công Nghiệp
  • Ứng Dụng Hệ Thống Kiểm Soát Truy Nhập Mạng Theo Mô Hình Truy Nhập Một Lần
  • Những Việc Cần Làm Để Nâng Cao Sức Khỏe Người Lao Động Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới – Vihema
  • Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Liên Lạc
  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Huỳnh Văn Tới*QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓAHUỲNH VĂN TỚI(Theo giáo trình về “QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC” do HVHC QG ban hành)Huỳnh Văn Tới*I. VH & VAI TRÒ CỦA VH TRONG PHÁT TRIỂN2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂN1. KHÁI NIỆM3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠONỘI DUNG CHÍNHHuỳnh Văn Tới*II. NỘI DUNG QLNN VỀVĂN HÓA2. YÊU CẦU CỦA QLNỘI DUNG CHÍNH1. ĐỐI TƯỢNG QL4. TỔ CHỨC BỘ MÁY 3. NỘI DUNG QL5.KIỂM TRA,GIÁM SÁTHuỳnh Văn Tới*1. KHÁI NIỆMI.CULTUS(gieo trồng)AGRICULTURE(Nông nghiệp)CULTURE(Văn hóa)Vì lợi ích mười năm: Trồng cây!Vì lợi ích trăm năm: Trồng người!文化THEO CÁI ĐẸPHuỳnh Văn Tới*Sự sáng tạo và các giá trị tích lũyCủa con ngườiVì sự phát triển của con ngườiGắn với cộng đồng người.1. KHÁI NIỆMI.TỪ CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ VĂN HÓA: Huỳnh Văn Tới*TỰ ĐIỂN TIẾNG VIỆT(NXB KHXH, Hà Nội – 1997, trang 1154)1. Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh thần.2. Sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thế tích luỹ bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và các phép tắc lịch sự.3. Văn minh.Huỳnh Văn Tới*(HỒ CHÍ MINH TOÀN TẬP, NXB CTQG, 2000, tập 3, trang 431) “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những dụng cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.Huỳnh Văn Tới*ĐỊNH NGHĨA CỦA UNESCO(Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên hiệp quốc) “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống, thị hiếu – những đặc tính riêng của dân tộc”.Huỳnh Văn Tới* Internet ? Tính hiện đại?Tính văn hóa?THẢO LUẬNInternet là phương tiện kỹ thuật hiện đại của con người: Thế giới gần nhau lại, con người dễ xa nhau ra!Huỳnh Văn Tới*2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂNI.PHÁTTRIỂNGIÁ TRỊVẬT CHẤTGIÁ TRỊTINH THẦNCONNGƯỜIMỤC TIÊUVĂN HÓAVĂN HÓAKINH TẾĐỘNG LỰCHuỳnh Văn Tới*2. VAI TRÒ CỦA VHTRONG PHÁT TRIỂNI.VĂN HÓA- Mục tiêu của phát triển, đồng thời là nền tảng và động lực của phát triển.- Phát triển tiềm năng “con người” và tiềm năng trí tuệ của con người.- Là nội lực trong giao lưu, đối ngoại, tự vệ.- Nguồn lực của sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.- Định hướng con người đến Chân – Thiện – Mỹ.- Tham gia vào việc lựa chọn con đường phát triển của cộng đồng.Huỳnh Văn Tới*3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠOXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓAI.ĐƯỜNG LỐI VĂN HOÁ CỦA ĐẢNGTHỐNG NHẤTPHÁT TRIỂNPHÙ HỌPSÁNG TỎHuỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐề cương văn hóa 1943: Văn hóa lấy khoa học, dân tộc, đại chúng làm cốt lõi.Đại hội văn nghệ 1957: XD nền VH mới với nội dung XHCN và tính chất dân tộc.Đại hội Đảng VI (1986): XD nền văn hóa văn nghệ XHCN đậm đà bản sắc dân tộc.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGCương lĩnh xây dựng đất nước (1991): Kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.Đại hội Đảng VII (1991): Nền VH tiên tiến, đậm đà BSDT là nền tảng tinh thần của XH, là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH, đồng thời là mục tiêu của CNXH.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐH VIII (1996): XD và PT nền văn hóa tiên tiến, đậm đà BSDT, XD con người VN về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, XD môi trường VH lành mạnh.NQ TW5 (khóa VIII): Làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đười sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.Huỳnh Văn Tới*ĐƯỜNG LỐIQUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNGĐại hội IX (2001): Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người VN phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.Đại hội X (2006): Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Huỳnh Văn Tới*VH CÁCH MẠNGCONNGƯỜICÁ NHÂNGIA ĐÌNHCỘNG ĐỒNGLĨNH VỰCĐỊA BÀNQUAN HỆTHẤM SÂUMỤC TIÊUCNXHTINH THẦNCAO ĐẸPDÂN TRÍCAOKHOA HỌCPHÁT TRIỂNDG – NM -CB – DC – VMTRUYỀN THỐNGDÂN TỘCTINH HOANHÂN LOẠIĐẢNGHuỳnh Văn Tới*3. TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠOXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓAI.QUAN ĐIỂM &TƯ TƯỞNG 1. CT – KT – VH dưới sự lãnh đạo của Đảng.4. Kế thừa phát huy giá trị VH dân tộc – giao lưu, tiếp thu tinh hoa VH nhân loại.5. Nâng cao tính chiến đấu: Bảo vệ giá trị cao đẹp, chống phi văn hóa.6. Xã hội hóa (chống thương mại hóa hoạt động văn hóa).2. Đảm bảo dân chủ, tự do cho sáng tạo và hoạt động VH.3. Văn hóa mới – bảo tồn, phát huy truyền thống. Đa dạng trong thống nhất.Huỳnh Văn Tới*Tình huống “In sang băng lậu”Quản lý nhà nước thế nào?Tư tưởng văn hóaHành vi văn hóa?THẢO LUẬNHuỳnh Văn Tới*1. ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝII.LỄHỘIBẢO TỒN,BẢO TÀNGVĂN HÓANGHỆ THUẬTTHÔNG TIN, CỔ ĐỘNG,BÁO CHÍ, TUYÊN TRUYỀN, QUẢNG CÁOĐẠO ĐỨC, LÝ TƯỞNG, LỐI SỐNG,TẬP QUÁNLÒNG YÊU NƯỚC, NHÂN ÁI, PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA:- Hành vi- Định lượng- Nhận thấy- Kết quả cụ thể- Dự đoán đượcTƯ TƯỞNGVĂN HÓAHuỳnh Văn Tới*Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý các hoạt động văn hóa bằng chính sách và pháp luật.Gắn chặt với công tác giáo dục tư tưởng và vận động, tuyên truyền.Kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế.1. ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝII.Huỳnh Văn Tới*2. YÊU CẦUII.1. Thực hiện quyền lực Nhà nước gắn liền với công tác tư tưởng.2. Trách nhiệm của Nhà nước:Minh bạch, công bằng, Chức năng quản lý gắn với phục vụ, trách nhiệm nhà nước gắn với trách nhiệm cộng đồng.3. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền, lợi ích, trách nhiệm và sự tham gia của dân.4. Đảm bảo tính đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa đa dân tộc.5. Kết hợp hài hòa hiệu quả kinh tế, chính trị, văn hóa trong quản lý.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.A. XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬTQUẢN LÝ THỐNG NHẤT BẰNG PHÁP LUẬTCÔNG ƯỚC & LUẬT QUỐC TẾLUẬT CHO CÁC LĨNH VỰCNHỮNG ĐIỀU CẤM5 ĐIỀU CẤM12 LĨNH VỰC CỤ THỂHỘI NHẬP WTOHuỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.B. BAN HÀNH VÀ THỰC THI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH1. Sáng tạo giá trị văn hóa.2. Bảo tồn, phát huy tài sản văn hoá.3. Phát triển văn hóa cơ sở.4. Giao lưu văn hóa quốc tế.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.B. BAN HÀNH VÀ THỰC THI HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH5. Hiện đại hóa kỹ thuật và phương pháp sản xuất, phân phối sản phẩm văn hoá.6. Đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ.7. Đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hóa.8. Nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hóa.Huỳnh Văn Tới*3. NỘI DUNG QUẢN LÝII.C. ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNHPHÂN BỔ NGÂN SÁCHLĨNH VỰC ƯU TIÊNNGUỒN NGÂN SÁCHCƠ CHẾ QUẢN LÝ- Giáo dục- Khoa học- Văn hóa – nghệ thuật- Hoat động nghệ thuật- Nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, bảo tàng.- Thư viện, xuất bản,- Ngân sách Nhà nước- Phi Chính phủ.- Của dân.- Theo phân cấp quản lý.- CT mục tiêu: Bộ VHTT và Sở VHTT.Huỳnh Văn Tới*4. TỔ CHỨC BỘ MÁY II.BỘ VHTTĐÀI TIẾNG NÓI VNSỞ VHTTPHÒNG VHTTBAN VHTTUBND TỈNH(TP)UBND HUYỆN(TP,TX)UBND XÃ(P,TT)ĐÀI TH VNSÓNG, MẠNG?Huỳnh Văn Tới*5. KIỂM TRA, GIÁM SÁTII.HOẠT ĐỘNGVĂN HOÁPHÒNG NGỪAGIÁM SÁTKIỂM TRATƯ TƯỞNG VĂN HÓAHuỳnh Văn Tới*CÂU HỎI:Trình bày suy nghĩ của mình về quản lý Nhà nước đối với hoạt động Internet hiện nay!Trình bày suy nghĩ của mình về quản lý nhà nước đối với văn hóa trong hội nhập WTO?.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Hiện Nay
  • Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Hoạt Động Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Các Đơn Vị Sự Nghiệp Phục Vụ Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Của Ngân Hàng Nhà Nước
  • Luận Văn Chức Năng, Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quản Lý Nhà Nước Về Quốc Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất, Đặc Điểm, Xu Hướng Vận Động Của Chủ Nghĩa Tư Bản Hiện Đại
  • Đặc Điểm Cơ Bản Nhà Nước Và Bộ Máy Nước Chxhcn Việt Nam
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Xây Dựng Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước
  • Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh – nhiệm vụ trọng yếu của quản lý nhà nước

    Chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bảo đảm công cuộc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học… của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong đó sức mạnh quân sự làm nòng cốt, nhằm giữ vững hòa bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức, mọi quy mô. Quốc phòng bao gồm các hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài thường cấu kết với các lực lượng phản động bên trong, do đó quốc phòng phải kết hợp chặt chẽ với an ninh để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức quốc phòng phụ thuộc trực tiếp vào chế độ xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện khách quan, chủ quan cụ thể của mỗi nước. Nhiều nước quan niệm quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia.

    An ninh được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp tùy từng trường hợp. Theo nghĩa rộng, an ninh bao gồm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. An ninh quốc gia được biểu hiện ở sự ổn định trong quan hệ chính trị giữa các giai cấp, khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp cầm quyền đối với các giai cấp khác và vị trí độc lập, tự chủ của chính quyền nhà nước đối với các nhà nước khác trên thế giới. An ninh quốc gia bao gồm sự ổn định của hai mặt, hai nội dung đối nội, đối ngoại và mối quan hệ giữa đối nội và đối ngoại; an ninh quốc gia phản ánh quan hệ chính trị trong phạm vi một nước và quan hệ chính trị quốc tế.

    Bảo vệ an ninh quốc gia là bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ cơ sở kinh tế và hệ thống chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quan hệ đối nội và đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, an ninh phải gắn bó chặt chẽ với quốc phòng.

    Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh là quá trình nắm và điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Quốc hội và Nhà nước trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động xã hội, có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, do hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành theo chức năng nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn của mỗi cơ quan. Chủ thể quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh bao gồm tổng thể các cơ quan nhà nước, từ trung ương đến cơ sở. Trong đó, nòng cốt là các cơ quan quản lý nhà nước. Khách thể quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh bao gồm tổng thể các lĩnh vực, các hoạt động xây dựng nền an ninh và đấu tranh an ninh, tất cả các hoạt động xã hội có quan hệ đến việc giữ gìn, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia của các cơ quan nhà nước, của toàn dân. Toàn dân và các đoàn thể quần chúng tích cực tham gia các hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh dưới nhiều hình thức khác nhau theo cơ chế chung: Đảng lãnh đạo, Nhà nước điều hành, nhân dân làm chủ. Lĩnh vực quốc phòng – an ninh có những nét đặc thù riêng như: tính nghiêm túc, khẩn trương, tính thống nhất, tập trung, tính bí mật cao, tính biến động, phức tạp lớn, tính đối kháng quyết liệt, tính pháp lệnh cao. Các đặc điểm trên đòi hỏi việc quản lý nhà nước phải hết sức khoa học, đồng bộ, cụ thể, chặt chẽ, nghiêm túc.

    Quốc phòng – an ninh được thể hiện ở đây có rất nhiều nội dung, nhiều công việc. Đây là lĩnh vực trực tiếp diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức quyết liệt, phức tạp. Bản thân quốc phòng – an ninh mang bản chất chính trị, giai cấp sâu sắc. Chính vì vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Đó là bản chất của giai cấp công nhân, do các cơ quan nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, bản chất đó được biểu hiện ở mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng – an ninh là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”(1). Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó: “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao…”(2).

    Như vậy, quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh là vấn đề rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Căn cứ vào nhiệm vụ quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, công tác tuyên truyền, giáo dục cần được triển khai, tiến hành sâu, rộng trong toàn xã hội, nhằm tạo ra sự thống nhất nhận thức, thấy rõ mục tiêu và nhiệm vụ chung của việc quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh là yêu cầu khách quan có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay; cũng như tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng – an ninh. Đồng thời, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, vùng trời, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia.

    Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng và an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo (3). Phối hợp chặt chẽ hoạt động “đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(4).

    Đặt quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng

    Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, phải luôn quán triệt, các quan điểm, đường lối của Đảng trong toàn bộ quá trình quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, đó là cơ sở của mọi hoạt động quốc phòng – an ninh. Đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, hai nhiệm vụ chiến lược và kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, kết hợp kinh tế, quốc phòng – an ninh với đối ngoại,… luôn cần được quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa trong mọi hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh. Đồng thời, phải được kết hợp một cách chặt chẽ với tổ chức, quản lý cũng như các mặt, các lĩnh vực khác trong xã hội.

    Từ mối quan hệ biện chứng giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mối liên hệ mật thiết giữa quốc phòng – an ninh với kinh tế, chính trị, văn hóa, với đối ngoại và với tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội; từ quan điểm về sức mạnh tổng hợp của đất nước là cơ sở của nền quốc phòng – an ninh, là sản phẩm tổng hợp của sự kết hợp các tiềm lực của đất nước… dẫn đến yêu cầu khách quan đòi hỏi quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải được thường xuyên kết hợp một cách chặt chẽ với tổ chức, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác của xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…). Sự kết hợp đó thể hiện tính đồng bộ của quản lý nhà nước nói chung, biểu hiện trong chỉ đạo chiến lược, trong hệ thống pháp luật, trong từng chủ trương, chính sách cụ thể ở mỗi lĩnh vực, trong mối quan hệ giữa các ngành, các cấp, các địa phương trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân trên cơ sở quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách chung của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải nhằm bảo đảm cho đất nước hòa bình, ổn định trên mọi lĩnh vực, “không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu phá hoại của kẻ địch, mọi cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực phản động đối với nước ta. Các thế lực thù địch hiện nay đang thực hiện nhiều âm mưu, nhiều thủ đoạn nhằm kìm hãm sự phát triển của đất nước, phá hoại sự ổn định về chính trị, kinh tế, văn hóa,… Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng mọi sơ hở của ta hòng làm suy yếu nội bộ để “tự diễn biến”, tạo nên các tình huống phức tạp, bất ngờ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” làm mất ổn định chính trị, gây bạo loạn lật đổ hoặc bất ngờ tiến hành chiến tranh xâm lược.

    Hòa bình, ổn định, không bị bất ngờ trong mọi tình huống, có đủ sức chống lại mọi âm mưu thủ đoạn phá hoại của kẻ địch, đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh của các thế lực phản động gây ra với đất nước ta luôn là điều kiện, là yêu cầu đối với toàn Đảng, toàn dân, các lực lượng vũ trang. Đây cũng là yêu cầu trực tiếp, thường xuyên của quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trong tình hình mới.

    Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải được thực hiện trên cơ sở luật pháp, kế hoạch, chính sách thống nhất, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Nhiệm vụ quốc phòng – an ninh luôn rất nặng nề, rất phức tạp; các lực lượng tham gia công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đấu tranh quốc phòng, đấu tranh an ninh rất đa dạng, các hoạt động của toàn xã hội trong lĩnh vực này hết sức phong phú. Điều đó đòi hỏi quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh phải có tính khoa học, tính đồng bộ, tính pháp lệnh rất cao.

    Tính khoa học, tính đồng bộ, tính pháp lệnh cao của quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trước hết thể hiện ở kế hoạch tổng thể, phải được xác định trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của từng ngành, từng địa phương trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách thống nhất của nhà nước; đồng thời phải có sự phân công, phân cấp quản lý đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng cấp, từng ngành, từng vùng lãnh thổ. Do tính đặc thù nghiêm ngặt của nhiệm vụ quốc phòng – an ninh, cần phải xác định rõ ràng, cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý của từng cấp, từng ngành, từng vùng; mối quan hệ giữa các cấp, các ngành; cơ chế lãnh đạo, điều hành, chỉ huy trong các tình huống, trong từng nhiệm vụ;…

    Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh, cần nắm vững những nội dung cơ bản sau:

    Hai là, hoàn thiện cơ chế, luật pháp tổ chức quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh. Thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra hoặc sơ kết, tổng kết công tác quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh theo định kỳ ở các cấp, các, bộ, ngành cũng như ở trung ương và địa phương.

    Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh có vai trò hết sức quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Mỗi cán bộ của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, các ban, ngành, đoàn thể cần nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung, cơ chế tổ chức quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh; nắm vững các phương pháp quản lý theo ngành, địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý ngành với địa phương; nắm vững các biện pháp giáo dục quốc phòng – an ninh; từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, hoàn chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trong thời kỳ mới nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh và góp phần tích cực vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh, toàn diện, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

    ——————————————————–

    Chú thích

    (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 81-82.

    (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 234.

    (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 234.

    (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 238.

    Chu Văn Lộc, Lê Thanh Hải

    Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

    (Nguồn: TCCS)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Hoạt Động Quản Lý Nhà Nước Của Lực Lượng Công An Xã Trong Phòng Ngừa Tội Phạm
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về An Ninh Trật Tự Ở Vùng Biên Giới Huyện Minh Hóa – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Nhà Nước Và Xã Hội ?
  • Nội Dung Chức Năng Nhiệm Vụ
  • Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việc Thực Hiện Công Khai, Minh Bạch Và Trách Nhiệm Giải Trình
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Các Cơ Quan Nhà Nước Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam ? Nguyên Tắc Quản Lý Kinh Tế Nhà Nước ?
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Cấp Tỉnh Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tại Bắc Kạn
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Tổng Quan Về Chức Năng Quản Trị Hàng Tồn Kho Trong Phần Mềm 3S Erp
  • Cách Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Ngày đăng: 11/10/2013 10:51

    Đổi mới quản lý nhà nước là hoạt động thường xuyên, lâu dài của mỗi quốc gia để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng. Là một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam không chỉ cần tích cực, khẩn trương trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế, mà quan trọng hơn là phải đổi mới sâu sắc cả về tư duy lẫn phương pháp thực hiện. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Đại hội Đảng X đã xác định nội dung nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước là một trong ba nội dung chủ yếu để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để góp phần xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển, bài viết này đề cập một số vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.

    1. Đổi mới về tư duy quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu chủ yếu của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX01: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vai trò điều hành của Chính phủ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường; được xác định như một trọng tài để điều khiển và giám sát sự phát triển của nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ cần bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện công bằng cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển.

    Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay Chính phủ vừa giữ vai trò là “trọng tài”, vừa tham gia vào nền kinh tế khi thực hiện chức năng đầu tư vốn và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các chủ thể kinh tế nhà nước. Chính vì vậy, để quản lý kinh tế có hiệu quả, phát huy tối đa các nguồn lực trong xã hội, Chính phủ cần đổi mới tư duy quản lý kinh tế, chuyển dần chức năng “làm kinh tế” sang thực hiện tốt vai trò là “trọng tài” trong nền kinh tế; theo đó, cần tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau:

    Một là, tập trung hoàn thiện hệ thống các thị trường riêng đầy đủ, đồng bộ và công khai, bao gồm: thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường đất đai bất động sản; thị trường vốn, tài chính; thị trường khoa học và công nghệ; thị trường lao động, tạo “sân chơi” bình đẳng cho các thành phần kinh tế tham gia, xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu.

    Hai là, xác định rõ “vai trò chủ đạo” đối với các chủ thể kinh tế nhà nước, cụ thể là: Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo về kinh tế trong các ngành, lĩnh vực then chốt nào?, quy mô và phạm vi đến đâu?, bảo đảm tính chi phối thị trường ở mức độ nào?, hiệu quả kinh tế và xã hội do các chủ thể kinh tế nhà nước đem lại được đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu nào?

    Ba là, đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế thông qua việc giảm tối đa các can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Thay vào đó, cần tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô, điều tiết nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hoạch định chính sách để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường.

    2. Đổi mới phương pháp thực hiện quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trong nền kinh tế thị trường nói chung, vai trò điều hành của chính phủ các nước, với tư cách là một chủ thể quản lý nền kinh tế, luôn được xác định là yếu tố đặc biệt quan trọng và không thể thiếu, nhưng có sự khác nhau về phương thức, hình thức, mức độ tác động, can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nền kinh tế.

    Đối với nước ta, trong thời gian qua, Chính phủ đã chủ động, tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính. Theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Chính phủ tập trung vào 4 nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.

    Nhìn chung, kết quả của công cuộc cải cách hành chính của Chính phủ đã có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam, thể hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh doanh nghiệp tăng 4 hạng so sánh giữa năm 2007 với năm 2004. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế của Việt Nam năm 2007 không những không được cải thiện mà còn bị tụt giảm 4 hạng so với 2006. Theo đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 68 trong số 131 nền kinh tế được xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (điểm xếp hạng giao động trong khoảng 4,04-4,09).

    Từ thực tế nêu trên, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Chính phủ. Mục tiêu của quá trình này là nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế. Muốn vậy, bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, Chính phủ cần đổi mới trong việc thực hiện chức năng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội để làm tốt vai trò là chủ thể dẫn dắt và định hướng phát triển nền kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng này, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

    – Một là, xử lý đúng mối quan hệ giữa thị trường và kế hoạch để giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Sự khác biệt chủ yếu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tự do chính là ở chỗ có sự kết hợp “hợp lý” giữa thị trường và kế hoạch. Trong khi tôn trọng đầy đủ vai trò của thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực và điều tiết các hoạt động kinh tế mang tính kinh doanh, Chính phủ cần có chiến lược, kế hoạch để mở rộng và phát triển thị trường; ưu tiên đẩy mạnh quan hệ quốc tế; định hướng lộ trình và các chính sách cụ thể để thực hiện có hiệu quả.

    – Hai là, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, thiết lập, phát triển và mở rộng các mối quan hệ quốc tế trên cơ sở các hiệp định kinh tế song phương và đa phương giữa Việt Nam với các nước, khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế. Đây là tiền đề để tạo điều kiện, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra các thị trường nước ngoài, tham gia vào hệ thống sản xuất, kinh doanh, phân phối toàn cầu của nền kinh tế thế giới.

    – Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, ngoài các bộ thuộc khối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, nội chính mà nước nào cũng có thì các bộ thuộc khối kinh tế cần được tổ chức, sắp xếp lại vừa thích hợp với thực tế Việt Nam, vừa có sự tương thích với các nước đối tác để phù hợp với điều kiện hội nhập.

    – Bốn là, tăng cường các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, cải thiện sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, bảo đảm các số liệu về thông tin kinh tế được thu thập đầy đủ và có chất lượng để phục vụ quá trình ra quyết định, tăng khả năng phản ứng nhanh và nhất quán của Chính phủ với các điều kiện kinh tế thay đổi.

    3. Hoàn thiện đồng bộ các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả

    Theo Báo cáo đánh giá của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng khá nhanh, năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội về cơ bản đã được hoàn thành. Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ ra những vấn đề còn yếu kém, hạn chế như: sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế; bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức đổi mới chậm; quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Để từng bước khắc phục các điểm hạn chế, yếu kém trên, trong thời gian tới Chính phủ cần thiết lập và hoàn thiện các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả như sau:

    – Thứ nhất là hệ thống thông tin kinh tế. Thế kỷ XXI là thế kỷ của thông tin, trong đó, thông tin kinh tế chính xác, kịp thời và đầy đủ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Mỗi quyết định của nhà quản lý kinh tế và nhà quản lý doanh nghiệp đều đòi hỏi những thông tin kinh tế hiệu quả, bảo đảm cho việc hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước cũng như trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính khả thi cao.

    Để có được những thông tin kinh tế hiệu quả đối với mỗi quốc gia, không có một cơ quan hay một tổ chức đơn lẻ nào có thể làm thay vai trò của Chính phủ trong việc xây dựng và tổ chức quản lý mạng lưới hệ thống thông tin kinh tế, bảo đảm các thông tin kinh tế trong và ngoài nước được cập nhật nhanh, chính xác, kịp thời và đầy đủ. Việc quản lý cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế cần được thực hiện tập trung, thống nhất bởi một cơ quan của Chính phủ. Theo đó, để bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin kinh tế theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân, Chính phủ cần ban hành quy chế quản lý, sử dụng và khai thác thông tin kinh tế một cách công khai, minh bạch và hiệu quả.

    – Thứ hai là hệ thống dự báo, cảnh báo, bao gồm: hệ thống các cơ quan dự báo, cảnh báo; các nguyên tắc, phương pháp dự báo, cảnh báo tiên tiến và hệ thống các chỉ tiêu phục vụ công tác dự báo, cảnh báo các biến động của nền kinh tế, để giúp Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chính sách kinh tế cho phù hợp với tình hình kinh tế trong nước, khu vực và thế giới.

    – Thứ ba là hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ, bao gồm: hệ thống các cơ quan đánh giá và hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý – điều hành của Chính phủ, nhằm phân tích và phản biện các chính sách của Nhà nước trong quá trình quản lý và điều hành nền kinh tế. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, hệ thống các cơ quan này được bảo đảm với cơ chế hoạt động độc lập, khách quan, không bị chi phối, tác động bởi các cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ; kết quả đánh giá của các cơ quan này rất được Chính phủ các nước quan tâm và lắng nghe.

    Hiện nay, hàng năm tổ chức Ngân hàng thế giới có báo cáo về các chỉ dẫn quản lý – điều hành thế giới theo 6 chỉ dẫn tổng hợp: (1) ổn định chính trị/không có bạo lực, (2) hiệu quả hoạt động của chính phủ, (3) chất lượng của luật pháp, (4) thực thi pháp luật, (5) kiểm soát tham nhũng và (6) tiếng nói và trách nhiệm. Đây là các nội dung cần được quan tâm trong việc hoàn thiện hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ.

    – Thứ tư là hệ thống sáng tạo. Đây là cách thức để Chính phủ các nước khuyến khích việc đề xuất các ý tưởng có tính sáng tạo, cải cách, đột phá trong quản lý nhà nước về kinh tế; đồng thời, tạo điều kiện cho các ý tưởng này được ươm tạo, thử nghiệm, áp dụng thí điểm, để làm cơ sở cho quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế trên phạm vi rộng.

    ThS. Vũ Hải Nam – Chuyên viên Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ / Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 7/2009

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Hoạt Động Hành Chính Nhà Nước Là Như Thế Nào ?
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Của Quản Lý Hành Chính Trong Cơ Quan Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Báo Chí Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội
  • Luận Án: Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Vai Trò Của Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Trong Hoạt Động Báo Chí
  • An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay, Giải Pháp Về Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Một Số Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Giải Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Giải Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Sạch
  • 8 Biện Pháp Cấp Bách Xử Lý Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Hiện nay, tình hình an toàn thực phẩm (ATTP) đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội, nó không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển, kém phát triển mà còn ở cả những nước phát triển, có trình độ khoa học – công nghệ tiên tiến. Thực phẩm là một trong những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vì những mục đích khác nhau, các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm vẫn sử dụng những biện pháp bảo quản, kích thích tăng trưởng không hợp lý.

    Với thực trạng nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao của con người thì vấn đề đảm bảo càng trở nên báo động hơn bao giờ hết. Ở Việt Nam, tình hình ATTP trong cả nước, nhất là khu vực đô thị, đang tạo nhiều lo lắng cho người dân. Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, do đó vấn đề ATTP ngày càng trở nên nóng bỏng và được cộng đồng hết sức quan tâm.

    Thực phẩm không an toàn đe dọa trực tiếp sức khỏe người tiêu dùng

    Sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá quá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư quái ác đang ngày một tích tụ và chờ bộc phát. Nhưng có không ít người tiêu dùng không quan tâm đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm khi mua các thực phẩm thiết yếu tiêu dùng hàng ngày (như rau, cá, thịt….).

    Các hóa chất độc hại như thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại…), thuốc kích thích tăng trưởng, kim loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh có trong các loại rau quả hoặc các chất kháng sinh, chất tăng trọng có trong thịt cá sẽ tích lũy dần trong các mô mỡ, tủy sống…của con người là tiền đề để phát sinh các loại bệnh tật như ung thư, loãng xương, suy giảm trí nhớ và thoái hóa xương khớp.

    Theo báo cáo của các ngành chức năng, công tác bảo đảm ATTP những năm qua đã có nhiều tiến bộ, được lãnh đạo các cấp quan tâm và coi đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Việc Nhà nước ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật An toàn thực phẩm đã nâng cao vai trò quản lí nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là vai trò của UBND các cấp. Công tác quản lý nhà nước về ATTP được chú trọng hơn; kiến thức, sự hiểu biết của người dân về vấn đề bảo đảm sức khỏe cũng được nâng lên; các nhà sản xuất, kinh doanh cũng hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc tuân thủ các điều kiện bảo đảm ATTP đối với sản phẩm làm ra…

    Tuy nhiên, do nhịp sống hối hả hiện nay, đối với người tiêu dùng, việc nhận biết, phân biệt giữa thực phẩm đảm bảo an toàn với thực phẩm không an toàn là vấn đề hết sức khó khăn. Theo tài liệu của Cục Quản lý chất lượng vệ sinh ATTP của Bộ Y tế, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm cũng như số người bị nhiễm độc thực phẩm còn khá cao, đặc biệt là các trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng bởi thực phẩm. Theo số liệu thống kê, trên địa bàn cả nước, các vụ ngộ độc thực phẩm đang diễn biến phức tạp, có nhiều người tử vong… Gần đây, sự khác biệt giữa các kết quả phân tích, kiểm tra chất lượng sản phẩm vừa gây không ít khó khăn cho người sản xuất vừa tạo thêm hoang mang, lo lắng cho người tiêu dùng. Có thể nói, chưa bao giờ sự lo ngại trước vấn đề ATTP lại nóng bỏng và được rất nhiều người quan tâm như hiện nay.

    Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay

    Ngoài ra, nhiều người trồng rau đã dùng nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi để tưới rau làm cho hàm lượng kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh trong rau quả cao hơn nhiều so với qui định của Bộ Y tế… Đó chính là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh cấp tính, là mầm mống gây ra nhiều loại bệnh đặc biệt nguy hiểm.

    Nếu để ý, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những loại rau quả trái vụ như cải bắp, súp lơ… chỉ có vào mùa đông nhưng lại được bày bán rất nhiều ở mùa hè, thậm chí còn xanh và tươi hơn nhiều so với rau quả chính vụ….Đó là những người sản xuất đã sử dụng những lại thuốc kích thích tăng trưởng và các loại thuốc bảo vệ thực vật có độ độc cao đã bị cấm sử dụng từ lâu.

    Các thực phẩm từ gia súc, gia cầm như: lợn, bò, gà, vịt… những người chăn nuôi cũng sử dụng những loại cám tăng trọng không rõ nguồn gốc để kích thích tăng trưởng, thậm chí những người kinh doanh thực phẩm còn sử dụng nhiều loại chất tẩy rửa thịt cá ôi thối để che mắt khách hàng…

    Giải pháp nâng cao vệ sinh an toàn thực phẩm

    Thứ nhất! Trong thời gian qua nhà nước và các cơ quan chức năng đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như tạo ra hành lang pháp lý để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề kiểm tra, kiểm soát vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn cả về mặt con người lẫn phương tiện giám định đồng bộ thực phẩm. Vì vậy để nâng cao chất lượng thì phải không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng thực phẩm, cũng như công tác tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân.

    Mới đây, trên thị trường có xuất hiện một loại thiết bị đo lượng nitrat tồn dư vượt ngưỡng trong thực phẩm có xuất xứ từ Liên bang Nga đo hàm lượng Nitrat tồn dư trong các loại thực phẩm ăn hàng ngày, trong hoa quả và đã được các bà nội trợ trong cả nước rất tin tưởng. chúng tôi Phan Thị Kim – Chủ tịch hội An toàn thực phẩm Việt Nam cũng khẳng định, đây được coi là giải pháp chủ động cho các bà nội trợ nhằm nâng cao sử dụng chất lượng thực phẩm, bảo vệ chính bản thân bạn và người thân.

    Về phía người tiêu dùng, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng hàng hóa, đặc biệt chất lượng thực phẩm; chặt chẽ và thận trọng trong lựa chọn sản phẩm, chỉ mua sản phẩm rõ nguồn gốc; kịp thời phát hiện, cung cấp thông tin, lên án, tẩy chay những cơ sở sản xuất, kinh doanh không bảo đảm ATTP, tạo sức ép đến nhà sản xuất, kinh doanh cũng như nhà quản lý nhằm đảm bảo sự ATTP cho cộng đồng.

    Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi nhất để công nghiệp sản xuất sạch phát triển; trong đó, chú trọng phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất thịt sạch, rau sạch, phụ gia thực phẩm…bảo đảm an toàn theo đúng tiêu chuẩn được các cơ quan chức năng đánh giá, chứng nhận. Các cơ quan nhà nước cần có sự giám sát chặt chẽ, khắt khe chất lượng nông thủy sản, thực phẩm đảm bảo đạt yêu cầu; đồng thời khuyến khích người sản xuất tự công bố chất lượng mặt hàng, đề cao đạo đức trong sản xuất, kinh doanh, với phương châm vì sự an toàn cho người tiêu dùng sẽ đóng vai trò chủ đạo trong quyết định chất lượng, thương hiệu hàng hóa. Thực chất, không ít nhà sản xuất, kinh doanh chỉ quan tâm đến lợi nhuận, chẳng cần nghĩ đến hệ quả xấu do mặt hàng của mình có thể gây ra cho cộng đồng.

    CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Khắc Phục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiệu Quả Nhất
  • Công Đoàn Điện Lực Việt Nam
  • Biện Pháp Thi Công Công Trình Xây Dựng
  • Biện Pháp An Toàn Khi Thực Hiện Một Số Công Việc Khi Làm Việc Trên Lưới Điện
  • An Toàn Điện Là Gì ? Biện Pháp, Quy Định An Toàn Điện
  • Nhiều Biện Pháp Hiệu Quả Quản Lý An Toàn Thực Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 15, Hđnd Tỉnh Khoá Xiii:về Kết Quả Giám Sát Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về An Toàn Thực Phẩm Trên Địa Bàn Tỉnh Từ Năm 2022 Đến Nay
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quan Lý An Toàn Thực Phẩm Trên Cơ Sở Pháp Luật
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 4514:2012 Về Xí Nghiệp Công Nghiệp
  • Bố Cục Các Công Trình Trong Khu Sản Xuất Của Xí Nghiệp Công Nghiệp
  • Tcvn 4616 : 1987 Quy Hoạch Mặt Bằng Tổng Thể Cụm Công Nghiệp. Tiêu Chuẩn Thiết Kế
  • Trong phiên làm việc của Quốc hội sáng nay (30/10), Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã thông tin về kết quả thực hiện Nghị quyết số 43/2017/QH14 đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2022 – 2022.

    Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo tổng kết 5 năm thực hiện để đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật An toàn thực phẩm; cơ bản hoàn thành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn; tăng cường phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ trong việc giám sát, vận động thực hiện an toàn thực phẩm vì sức khoẻ cộng đồng.

    Tiếp tục thực hiện cơ chế 3 Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo chuỗi đối với từng nhóm, ngành hàng cụ thể.

    Kiện toàn Ban Chỉ đạo liên ngành các cấp, trong đó ở địa phương Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là trưởng ban; bố trí cán bộ cấp xã để theo dõi; tiếp tục thí điểm thành lập Ban quản lý an toàn thực phẩm và thanh tra chuyên ngành ở một số địa phương.

    Đổi mới phương thức quản lý, đề cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, phù hợp với thông lệ quốc tế.

    Theo đánh giá của Chính phủ, công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm đã có nhiều giải pháp, tập trung vào thông tin, truyền thông; tổ chức giám sát, phát hiện, cảnh báo sớm nguy cơ, chú trọng các bếp ăn tập thể, khu du lịch, thức ăn đường phố; phòng ngừa ngộ độc rượu và độc tố tự nhiên.

    Tăng cường hợp tác liên kết, thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, cung ứng nông sản thực phẩm an toàn, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao. Hầu hết các tỉnh, thành phố đã triển khai mô hình sản xuất thực phẩm theo chuỗi, áp dụng các quy trình quản lý chất lượng tiên tiến.

    Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, nhất là đối với các vấn đề nóng như sử dụng chất cấm, buôn lậu thực phẩm qua biên giới.

    Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã trực tiếp kiểm tra nhiều đơn vị, địa phương; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nhiều vụ việc vi phạm.

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm đã được ban hành tương đối đầy đủ, cơ bản bao quát đến các đối tượng, các công đoạn trong chuỗi sản phẩm. Công tác thanh tra, kiểm tra được đổi mới và triển khai đồng bộ, quyết liệt.

    Việc xử lý vi phạm nghiêm minh hơn.Vấn đề về tồn dư hóa chất, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi đã có lộ trình và giải pháp giải quyết dứt điểm. Công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm được triển khai quyết liệt, đồng bộ.

    Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được đổi mới. Việc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi, theo quá trình sản xuất được đẩy mạnh. Thực trạng đảm bảo an toàn thực phẩm nông sản từng bước được cải thiện.

    Tuy nhiên, một số nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết còn chưa được triển khai thực hiện nghiêm túc, một số nội dung chưa được làm rõ. Việc cập nhật, thực thi pháp luật tại địa phương còn chậm.

    Một số tiêu chuẩn, quy chuẩn đang trong quá trình hoàn thiện gây khó khăn trong triển khai thực hiện. Việc kiểm soát thực phẩm giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc còn hạn chế; tình hình buôn lậu thực phẩm qua biên giới diễn biến phức tạp. Việc giết mổ không đảm bảo an toàn thực phẩm còn chậm chuyển biến.

    Tình trạng làm giả giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực thực phẩm vẫn diễn ra. Tử vong do ngộ độc rượu và độc tố tự nhiên còn chiếm tỷ lệ cao.

    Theo Giaoduc.net.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Quản Lý Nhà Nước Đối Với Nợ Xấu
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tín Dụng Đối Với Người Nghèo Tại Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội
  • Việt Nam Tiếp Cận Các Giải Pháp Quản Trị Của Microsoft
  • Nukeviet 4 Sẵn Sàng Cho Single Sign On
  • Xác Thực Single Sign On Là Gì Và Nó Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100