Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Các Cơ Quan Nhà Nước Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam ? Nguyên Tắc Quản Lý Kinh Tế Nhà Nước ?
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Cấp Tỉnh Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tại Bắc Kạn
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Tổng Quan Về Chức Năng Quản Trị Hàng Tồn Kho Trong Phần Mềm 3S Erp
  • Cách Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Ngày đăng: 11/10/2013 10:51

    Đổi mới quản lý nhà nước là hoạt động thường xuyên, lâu dài của mỗi quốc gia để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng. Là một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam không chỉ cần tích cực, khẩn trương trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế, mà quan trọng hơn là phải đổi mới sâu sắc cả về tư duy lẫn phương pháp thực hiện. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Đại hội Đảng X đã xác định nội dung nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước là một trong ba nội dung chủ yếu để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để góp phần xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển, bài viết này đề cập một số vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.

    1. Đổi mới về tư duy quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu chủ yếu của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX01: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vai trò điều hành của Chính phủ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường; được xác định như một trọng tài để điều khiển và giám sát sự phát triển của nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ cần bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện công bằng cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển.

    Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay Chính phủ vừa giữ vai trò là “trọng tài”, vừa tham gia vào nền kinh tế khi thực hiện chức năng đầu tư vốn và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các chủ thể kinh tế nhà nước. Chính vì vậy, để quản lý kinh tế có hiệu quả, phát huy tối đa các nguồn lực trong xã hội, Chính phủ cần đổi mới tư duy quản lý kinh tế, chuyển dần chức năng “làm kinh tế” sang thực hiện tốt vai trò là “trọng tài” trong nền kinh tế; theo đó, cần tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau:

    Một là, tập trung hoàn thiện hệ thống các thị trường riêng đầy đủ, đồng bộ và công khai, bao gồm: thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường đất đai bất động sản; thị trường vốn, tài chính; thị trường khoa học và công nghệ; thị trường lao động, tạo “sân chơi” bình đẳng cho các thành phần kinh tế tham gia, xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu.

    Hai là, xác định rõ “vai trò chủ đạo” đối với các chủ thể kinh tế nhà nước, cụ thể là: Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo về kinh tế trong các ngành, lĩnh vực then chốt nào?, quy mô và phạm vi đến đâu?, bảo đảm tính chi phối thị trường ở mức độ nào?, hiệu quả kinh tế và xã hội do các chủ thể kinh tế nhà nước đem lại được đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu nào?

    Ba là, đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế thông qua việc giảm tối đa các can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Thay vào đó, cần tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô, điều tiết nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hoạch định chính sách để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường.

    2. Đổi mới phương pháp thực hiện quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trong nền kinh tế thị trường nói chung, vai trò điều hành của chính phủ các nước, với tư cách là một chủ thể quản lý nền kinh tế, luôn được xác định là yếu tố đặc biệt quan trọng và không thể thiếu, nhưng có sự khác nhau về phương thức, hình thức, mức độ tác động, can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nền kinh tế.

    Đối với nước ta, trong thời gian qua, Chính phủ đã chủ động, tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính. Theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Chính phủ tập trung vào 4 nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.

    Nhìn chung, kết quả của công cuộc cải cách hành chính của Chính phủ đã có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam, thể hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh doanh nghiệp tăng 4 hạng so sánh giữa năm 2007 với năm 2004. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế của Việt Nam năm 2007 không những không được cải thiện mà còn bị tụt giảm 4 hạng so với 2006. Theo đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 68 trong số 131 nền kinh tế được xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (điểm xếp hạng giao động trong khoảng 4,04-4,09).

    Từ thực tế nêu trên, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Chính phủ. Mục tiêu của quá trình này là nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế. Muốn vậy, bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, Chính phủ cần đổi mới trong việc thực hiện chức năng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội để làm tốt vai trò là chủ thể dẫn dắt và định hướng phát triển nền kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng này, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

    – Một là, xử lý đúng mối quan hệ giữa thị trường và kế hoạch để giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Sự khác biệt chủ yếu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tự do chính là ở chỗ có sự kết hợp “hợp lý” giữa thị trường và kế hoạch. Trong khi tôn trọng đầy đủ vai trò của thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực và điều tiết các hoạt động kinh tế mang tính kinh doanh, Chính phủ cần có chiến lược, kế hoạch để mở rộng và phát triển thị trường; ưu tiên đẩy mạnh quan hệ quốc tế; định hướng lộ trình và các chính sách cụ thể để thực hiện có hiệu quả.

    – Hai là, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, thiết lập, phát triển và mở rộng các mối quan hệ quốc tế trên cơ sở các hiệp định kinh tế song phương và đa phương giữa Việt Nam với các nước, khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế. Đây là tiền đề để tạo điều kiện, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra các thị trường nước ngoài, tham gia vào hệ thống sản xuất, kinh doanh, phân phối toàn cầu của nền kinh tế thế giới.

    – Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, ngoài các bộ thuộc khối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, nội chính mà nước nào cũng có thì các bộ thuộc khối kinh tế cần được tổ chức, sắp xếp lại vừa thích hợp với thực tế Việt Nam, vừa có sự tương thích với các nước đối tác để phù hợp với điều kiện hội nhập.

    – Bốn là, tăng cường các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, cải thiện sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, bảo đảm các số liệu về thông tin kinh tế được thu thập đầy đủ và có chất lượng để phục vụ quá trình ra quyết định, tăng khả năng phản ứng nhanh và nhất quán của Chính phủ với các điều kiện kinh tế thay đổi.

    3. Hoàn thiện đồng bộ các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả

    Theo Báo cáo đánh giá của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng khá nhanh, năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội về cơ bản đã được hoàn thành. Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ ra những vấn đề còn yếu kém, hạn chế như: sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế; bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức đổi mới chậm; quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Để từng bước khắc phục các điểm hạn chế, yếu kém trên, trong thời gian tới Chính phủ cần thiết lập và hoàn thiện các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả như sau:

    – Thứ nhất là hệ thống thông tin kinh tế. Thế kỷ XXI là thế kỷ của thông tin, trong đó, thông tin kinh tế chính xác, kịp thời và đầy đủ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Mỗi quyết định của nhà quản lý kinh tế và nhà quản lý doanh nghiệp đều đòi hỏi những thông tin kinh tế hiệu quả, bảo đảm cho việc hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước cũng như trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính khả thi cao.

    Để có được những thông tin kinh tế hiệu quả đối với mỗi quốc gia, không có một cơ quan hay một tổ chức đơn lẻ nào có thể làm thay vai trò của Chính phủ trong việc xây dựng và tổ chức quản lý mạng lưới hệ thống thông tin kinh tế, bảo đảm các thông tin kinh tế trong và ngoài nước được cập nhật nhanh, chính xác, kịp thời và đầy đủ. Việc quản lý cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế cần được thực hiện tập trung, thống nhất bởi một cơ quan của Chính phủ. Theo đó, để bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin kinh tế theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân, Chính phủ cần ban hành quy chế quản lý, sử dụng và khai thác thông tin kinh tế một cách công khai, minh bạch và hiệu quả.

    – Thứ hai là hệ thống dự báo, cảnh báo, bao gồm: hệ thống các cơ quan dự báo, cảnh báo; các nguyên tắc, phương pháp dự báo, cảnh báo tiên tiến và hệ thống các chỉ tiêu phục vụ công tác dự báo, cảnh báo các biến động của nền kinh tế, để giúp Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chính sách kinh tế cho phù hợp với tình hình kinh tế trong nước, khu vực và thế giới.

    – Thứ ba là hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ, bao gồm: hệ thống các cơ quan đánh giá và hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý – điều hành của Chính phủ, nhằm phân tích và phản biện các chính sách của Nhà nước trong quá trình quản lý và điều hành nền kinh tế. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, hệ thống các cơ quan này được bảo đảm với cơ chế hoạt động độc lập, khách quan, không bị chi phối, tác động bởi các cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ; kết quả đánh giá của các cơ quan này rất được Chính phủ các nước quan tâm và lắng nghe.

    Hiện nay, hàng năm tổ chức Ngân hàng thế giới có báo cáo về các chỉ dẫn quản lý – điều hành thế giới theo 6 chỉ dẫn tổng hợp: (1) ổn định chính trị/không có bạo lực, (2) hiệu quả hoạt động của chính phủ, (3) chất lượng của luật pháp, (4) thực thi pháp luật, (5) kiểm soát tham nhũng và (6) tiếng nói và trách nhiệm. Đây là các nội dung cần được quan tâm trong việc hoàn thiện hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ.

    – Thứ tư là hệ thống sáng tạo. Đây là cách thức để Chính phủ các nước khuyến khích việc đề xuất các ý tưởng có tính sáng tạo, cải cách, đột phá trong quản lý nhà nước về kinh tế; đồng thời, tạo điều kiện cho các ý tưởng này được ươm tạo, thử nghiệm, áp dụng thí điểm, để làm cơ sở cho quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế trên phạm vi rộng.

    ThS. Vũ Hải Nam – Chuyên viên Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ / Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 7/2009

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Hoạt Động Hành Chính Nhà Nước Là Như Thế Nào ?
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Của Quản Lý Hành Chính Trong Cơ Quan Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Báo Chí Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội
  • Luận Án: Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Vai Trò Của Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Trong Hoạt Động Báo Chí
  • Các Phương Pháp Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Ứng Dụng Công Nghệ Rfid Vào Quản Lý Kho May Mặc
  • Tổng Quan Về Giải Pháp Quản Lý Log Tập Trung Siem
  • Hệ Thống Siem Là Gì? Và Lợi Ích Của Giải Pháp Siem
  • Nam Trường Sơn Hà Nội
  • Lợi Ích Của Một Hệ Thống Giám Sát An Ninh Mạng – Siem
  • 5

    /

    5

    (

    4

    bình chọn

    )

    Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước với tư cách là tổng thể các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế

    Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý vĩ mô nền kinh tế

    Nhiệm vụ chủ yếu quản lý vĩ mô nền kinh tế là đảm bảo cân đối cơ bản trên bình diện tổng thể nền kinh tế tạo ra môi trường thuận lợi, nhiều cơ hội cho các chủ thể kinh tế trên thị trường đặc biệt là các doanh nghiệp, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân phát triển liên tục với tốc độ cao và lành mạnh.

    Chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước về kinh tế vĩ mô là vạch ra các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và các chính sách kinh tế đồng bộ. Trên bình diện tổng thể, Nhà nước vừa phải điều tiết vĩ mô đối với các doanh nghiệp, vừa phải phục vụ các doanh nghiệp trên nhiều mặt, thực hiện sự thống nhất hưu cơ giữa vi mô và vĩ mô.

    Quản lý nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực nhà nước

    Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý đối với hệ thống kinh tế quốc dân, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, của chính quyền đối với nền kinh tế quốc dân.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực nhà nước có nghĩa là một mặt, quản lý này lệ thuộc vào chính trị, xuất phát từ chỗ, Nhà nước là bộ phận trung tâm trong hệ thống chính trị xã hội, là công cụ đặc biệt để thực hiện quyền lực chính trị (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác và xã hội. Mặt khác, quản lý này mang tính pháp quyền và thực hiện theo nguyên tắc pháp chế.

    Quản lý nhà nước về kinh tế nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế – xã hội là chính

    Xuất phát từ hai đặc điểm trên, mục tiêu đặt ra trong quản lý nhà nước về kinh tế là mục tiêu kinh tế – xã hội, mục tiêu này được thể hiện ở mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân bền vững. Hiệu quả kinh tế – xã hội được xem như là tiêu chuẩn để đạt được mục tiêu trên.

    Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ nhận làm báo cáo thuê , hỗ trợ spss , viết luận văn bằng tiếng anh , làm tiểu luận thuê , nhận làm bài tập thuê.

    Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế

    Các phương pháp này vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.

    Tính khoa học nằm ở chỗ, các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng.

    Còn tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ, các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra.

    Quản lý kinh tế có hiệu nhất khi nhà quản lý biết lựa chọn đúng đắn phương pháp quản lý và biết kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý đó vào từng trường hợp, từng đối tượng, từng giai đoạn của nền kinh tế. Đó chính là tài nghệ quản lý của nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm: (i) Các phương pháp hành chính, (ii) Các phương pháp kinh tế, (iii) Các phương pháp giáo dục, (iv) Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản ký kinh tế của Nhà nước, (v) Nghệ thuật quản lý kinh tế của nhà nước.

    Quan tâm: Dịch vụ Thư ký luật dành cho doanh nghiệp

    Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế

    Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện mà Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của mình nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác động quản lý của Nhà nước mà Nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình đến các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế.

    Nhóm công cụ thê hiện mục tiêu quản lý

    (i) Đường lối phát triển kinh tế – xã hội

    Là khởi đầu của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước do Đảng cầm quyền của quốc gia xây dựng và thực hiện. Đó là việc xác định trước một cái đích mà nền kinh tế cần đạt đến, sau đó căn cứ vào thực trang của nền kinh tế để tìm ra lối đi, cách đi, trình tự và thời hạn tiến hành để đạt được cái đích đó;

    Đường lối phát triển kinh tế – xã hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với vận mệnh đất nước, nó được coi là công cụ hàng đầu của Nhà nước trong sự nghiệp quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Đường lối đúng sẽ đưa đất nước đến phát triển, ổn định, giàu mạnh, công bằng và văn minh. Đường lối sai sẽ đưa đất nước đi lầm đường, là tổn thất, đổ vỡ, suy thoái, là hậu quả khôn lương về mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

    (ii) Chiến lược phát triên kinh tế – xã hội

    Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là một hệ thống các quan điểm cơ bản, các mục tiêu lớn và các giải pháp chủ yếu được lựa chọn nhằm đạt được một bước đường lối phát triển kinh tế – xã hội trong một thời gian đủ dài. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là sự cụ thể hoá đường lối phát triển kinh tế – xã hội, và cũng do Đảng cầm quyền chỉ đạo và xây dựng.

    (iii) Quy hoạch phát triên kinh tế – xã hội

    Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là việc định hướng phát triển kinh tế dài hạn, trong đó xác định rõ quy mô và giới hạn cho sự phát triển. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là xác định khung vĩ mô về tổ chức không gian nhằm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình, dựa án đầu tư bảo đảm cho nền kinh tế phát triển mạnh, bền vững và có hiệu quả.

    Thực chất của quy hoạch là cụ thể hoá chiến lược về không gian và thời gian. Trên thực tế, công tác quản lý kinh tế của Nhà nước có các loại quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lãnh thổ, quy hoach ngành.

    (iv) Kế hoạch phát triên kinh tế – xã hội

    Kế hoạch là cụ thể hoá chiến lược dài hạn, gồm có kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm. Thực chất, kế hoạch là một hệ thống các mục tiêu vĩ mô cơ bản được xác định như: tốc độ phát triển nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, các cân đối lớn.. Các chỉ tiêu kế hoạch này bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực và thành phần kinh tế.

    (v) Chương trình phát triên kinh tế – xã hội

    Chương trình phát triển kinh tế – xã hội là tổng hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ, các thủ tục, các bước tiến hành, các nguồn lực và các yếu tố cần thiết để thực hiện một mục tiêu nhất định đã được xác định trong một thời kỳ nhất định. Ví dụ: chương trình cải cách nền hành chính quốc gia, chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chương trình phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc..

    Chương trình là cơ sở quan trọng để tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào việc giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch Nhà nước trong từng thời kỳ và cho phép khắc phục tình trạng tách rời giữa các nhiệm vụ của kế hoạch đã được xác định để thực hiện kế hoạch Nhà nước một cách có hiệu quả.

    Nhóm công cụ thê hiện chuân mực xử sự hành vi của các chủ thê tham gia hoạt động trong nền kinh tế

    Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật.

    Pháp luật kinh tế được hiểu là hệ thống văn bản có tính quy phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thể hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ trong nền kinh tế.

    Nhóm công cụ thê hiện tư tưởng, quan điêm của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế

    Nhóm này bao gồm: (i) Chính sách phát triển các thành phần kinh tế; (ii) Chính sách tài chính với công cụ chi tiêu của Chính phủ và chính sách thuế; (iii) Chính sách tiền tệ với công cụ kiểm soát mức cung tiền và lãi suất; (iv) Chính sách thu nhập với các công cụ giá cả và tiền lương; (v) Chính sách ngoại thương với các công cụ thuế nhập khẩu, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỉ giá hối đoái.

    Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào đối tượng quản lý

    Nhóm này bao gồm: (i) Đất đai, rừng, núi, sông hồ, các nguồn nước, thềm lục địa, (ii) Tài nguyên trong lòng đất; (iii) Dự trữ quốc gia, bảo hiểm quốc gia; (iv) Vốn và tài sản của Nhà nước trong các doanh nghiệp; (v) Các loại quỹ chuyên dùng vào công tác quản lý của Nhà nước.

    Nhóm công cụ đê sử dụng các công cụ trên

    Chủ thể sử dụng các công cụ quản lý của Nhà nước về kinh tế đã trình ở trên là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế. Đó chính là các cơ quan hành chính nhà nước, các công sở và các phương tinh kinh tế – kỹ thuật được sử dụng trong hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

    1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế, Khám Chữa Bệnh
  • Chú Trọng Công Tác Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Top Giải Pháp: Quà Tặng Doanh Nghiệp Cuối Năm Ý Nghĩa Nhất
  • Giải Pháp Quà Tặng Khách Hàng Cuối Năm Giá Rẻ Độc Đáo Nhiều Ý Nghĩa
  • Phòng Chống Tội Phạm Là Nhiệm Vụ Chính Trị, Thường Xuyên Liên Tục
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (9)

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Trình Đăng Ký Tên Miền Đuôi
  • Một Số Điểm Mới Về Vị Trí, Chức Năng Của Chính Phủ Trong Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Tính Chất Của Chính Phủ Qua Hiến Pháp
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Và Xtđt
  • Quản lý nhà nước về kinh tế chuyên đề 16: Các chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước (9)

    Quản lý nhà nước về kinh tế Chuyên đề 16

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    A.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    I.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM

    1- Kinh tế thị trường:

    1.1. Đặc trưng của kinh tế thị trường

    1.2. Các loại kinh tế thị trường:

    1.3. Điều kiện ra đời của nền kinh tế thị trường

    a.- Phân công lao động xã hội

    b- Sự xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuát

    1.4. Những ưu thế và khuyết tật cơ bản của nền kinh tế thị trường

    a- Những ưu thế:

    b- Những khuyết tật:

    2- Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

    2.1- Về hệ thống mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    a-Về mục tiêu kinh tế-xã hội-văn hoá

    b- Về mục tiêu chính trị

    2.2. Về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế.

    2.3. Về cơ chế vận hành kinh tế

    2.4. Về hình thức phân phối.

    2.5- Về nguyên tắc giải quyết các mặt, các mối quan hệ chủ yếu:

    2.6. Về tính cộng đồng, tính dân tộc:

    2.7. Về quan hệ quốc tế

    II- Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế

    III- CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC

    1- Định hướng sự phát triển của nền kinh tế

    1.1 Khái niệm:

    1.2- Sự cần thiết khách quan của chức năng định hướng phát triển nền kinh tế.

    1.3. Phạm vi định hướng phát triển nền kinh tế bao gồm:

    1.4. Nội dung định hướng phát triển nền kinh tế

    1.5. Công cụ thể hiện chức năng của Nhà nước về định hướng phát triển kinh tế

    1.6. Nhiệm vụ của Nhà nước để thực hiện chức năng định hướng phát triển.

    2. Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.1. Khái niệm về môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.2. Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế.

    a- Môi trường kinh tế

    b.- Môi trường pháp lý

    c- Môi trường chính trị.

    d- Môi trường văn hoá-xã hội.

    e- Môi trường sinh thái.

    f- Môi trường kỹ thuật.

    g- Môi trường dân số

    h- Môi trường quốc tế.

    2.3. Những điều nhà nước phải làm để tạo lập các môi trường:

    3. Điều tiết sự hoạt động của nèn kinh tế.

    3.1. Khái niệm.

    3.2. Sự cần thiết khách quan phải điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế.

    3.3. Những nội dung điều tiết sự hoạt động kinh tế của Nhà nước.

    a- Điều tiết các quan hệ lao động sản xuất.

    b- Điều chỉnh các quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập

    c- Điều tiết các quan hệ phân bố các nguồn lực

    3.4.Những việc cần làm điều tiết hoạt động của nền kinh tế

    a) Xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách với các công cụ tác động của chính sách đó

    b)Bổ sung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế trong những trường hợp cần thiết.

    c) Hỗ trợ công dân lập nghiệp kinh tế

    4. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.1. Khái niệm

    4.2. Sự cần thiết phải kiểm tra, giám sát hoạt động

    4.3. Nội dung kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.4. Những giải pháp chủ yếu thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    IV. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

    2. Xây dựng phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

    3. Xây dựng pháp luật kinh tế

    3.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng pháp luật trong hệ thống các hoạt động QLNN về kinh tế

    3.2. Các loại pháp luật kinh tế cần được xây dựng

    4. Tổ chức hệ thống các doanh nghiệp

    4.1. Tổ chức và không ngừng hoàn thiện tổ chức hệ thống doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước

    4.2. Xúc tiến các hoạt động pháp lý và hỗ trợ để các đơn vị kinh tế dân doanh ra đời

    5. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế của đất nước

    6. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh tế

    7. Thực hiện và bảo vệ lợi ích của xã hội , của nhà nước và của công dân

    7.1. Các loại lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội chịu sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế mà Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện và bảo vệ

    7.2. Nội dung bảo vệ bao gồm

    (Còn tiếp)

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập cá nhân (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Ghé thăm trang nhà – Xem và download tài liệu:

    Góp ý trao đổi liên lạc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (17)
  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (17)

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (9)
  • Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Trình Đăng Ký Tên Miền Đuôi
  • Một Số Điểm Mới Về Vị Trí, Chức Năng Của Chính Phủ Trong Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Tính Chất Của Chính Phủ Qua Hiến Pháp
  • Quản lý nhà nước về kinh tế chuyên đề 16: Các chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước (17)

    Quản lý nhà nước về kinh tế Chuyên đề 16

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    A.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    I.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM

    1- Kinh tế thị trường:

    1.1. Đặc trưng của kinh tế thị trường

    1.2. Các loại kinh tế thị trường:

    1.3. Điều kiện ra đời của nền kinh tế thị trường

    a.- Phân công lao động xã hội

    b- Sự xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuát

    1.4. Những ưu thế và khuyết tật cơ bản của nền kinh tế thị trường

    a- Những ưu thế:

    b- Những khuyết tật:

    2- Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

    2.1- Về hệ thống mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    a-Về mục tiêu kinh tế-xã hội-văn hoá

    b- Về mục tiêu chính trị

    2.2. Về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế.

    2.3. Về cơ chế vận hành kinh tế

    2.4. Về hình thức phân phối.

    2.5- Về nguyên tắc giải quyết các mặt, các mối quan hệ chủ yếu:

    2.6. Về tính cộng đồng, tính dân tộc:

    2.7. Về quan hệ quốc tế

    II- Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế

    III- CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC

    1- Định hướng sự phát triển của nền kinh tế

    1.1 Khái niệm:

    1.2- Sự cần thiết khách quan của chức năng định hướng phát triển nền kinh tế.

    1.3. Phạm vi định hướng phát triển nền kinh tế bao gồm:

    1.4. Nội dung định hướng phát triển nền kinh tế

    1.5. Công cụ thể hiện chức năng của Nhà nước về định hướng phát triển kinh tế

    1.6. Nhiệm vụ của Nhà nước để thực hiện chức năng định hướng phát triển.

    2. Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.1. Khái niệm về môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.2. Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế.

    a- Môi trường kinh tế

    b.- Môi trường pháp lý

    c- Môi trường chính trị.

    d- Môi trường văn hoá-xã hội.

    e- Môi trường sinh thái.

    f- Môi trường kỹ thuật.

    g- Môi trường dân số

    h- Môi trường quốc tế.

    2.3. Những điều nhà nước phải làm để tạo lập các môi trường:

    3. Điều tiết sự hoạt động của nèn kinh tế.

    3.1. Khái niệm.

    3.2. Sự cần thiết khách quan phải điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế.

    3.3. Những nội dung điều tiết sự hoạt động kinh tế của Nhà nước.

    a- Điều tiết các quan hệ lao động sản xuất.

    b- Điều chỉnh các quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập

    c- Điều tiết các quan hệ phân bố các nguồn lực

    3.4.Những việc cần làm điều tiết hoạt động của nền kinh tế

    a) Xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách với các công cụ tác động của chính sách đó

    b)Bổ sung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế trong những trường hợp cần thiết.

    c) Hỗ trợ công dân lập nghiệp kinh tế

    4. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.1. Khái niệm

    4.2. Sự cần thiết phải kiểm tra, giám sát hoạt động

    4.3. Nội dung kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.4. Những giải pháp chủ yếu thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    IV. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

    2. Xây dựng phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

    3. Xây dựng pháp luật kinh tế

    3.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng pháp luật trong hệ thống các hoạt động QLNN về kinh tế

    3.2. Các loại pháp luật kinh tế cần được xây dựng

    4. Tổ chức hệ thống các doanh nghiệp

    4.1. Tổ chức và không ngừng hoàn thiện tổ chức hệ thống doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước

    4.2. Xúc tiến các hoạt động pháp lý và hỗ trợ để các đơn vị kinh tế dân doanh ra đời

    5. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế của đất nước

    6. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh tế

    7. Thực hiện và bảo vệ lợi ích của xã hội , của nhà nước và của công dân

    7.1. Các loại lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội chịu sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế mà Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện và bảo vệ

    7.2. Nội dung bảo vệ bao gồm

    (Còn tiếp)

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập cá nhân (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Ghé thăm trang nhà – Xem và download tài liệu:

    Góp ý trao đổi liên lạc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Liên Lạc
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Trong Nông Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Liên Hệ Thực Tiễn Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Ở Cơ Sở Hiện Nay
  • Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương 2022
  • Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Những Yêu Cầu Hiện Nay Về Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Các Quy Định Về Chính Quyền Địa Phương Trong Hiến Pháp Năm 2013 Và Dự Thảo Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Khái niệm, vai trò, chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

    Khái niệm

    Thuật ngữ quản lý có nội dung rất rộng và phong phú. Trên thực tiễn khi sử dụng thuật ngữ này người ta thường gắn với đối tượng hay khách thể quản lý tạo nên cụm thuật ngữ kép như: quản lý kinh tế, quản lý văn hoá – an ninh – quốc phòng, quản lý tài chính, quản lý sản xuất – kinh doanh, quản lý thiết bị v.v… Như vậy thuật ngữ quản lý phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý trong quá trình phát triển. Có thể hiểu quản lý kinh tế là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (kinh tế ) trong quá trình hoạt động kinh tế nhằm đạt đến mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định. Quản lý về kinh tế nói chung hoặc quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là dạng quản lý bằng quyền Nhà nước, mang tính chất thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý. Việc quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung cũng như về kinh tế trong nông nghiệp nói riêng là do Chính phủ thực hiện, thông qua các điều chỉnh bằng pháp luật, chính sách, các công cụ, các lực lượng vật chất, tài chính của Nhà nước…

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hoá mọi quan hệ kinh tế và xã hội…

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp có sự khác biệt với quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị hay tổ chức kinh tế trong nông nghiệp. Các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp thực hiện việc tự chủ quản lý sản xuất – kinh doanh của mình gồm: xây dựng kế hoạch sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất, thực hiện hạch toán kinh tế… tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu xã hội. Hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp phải tuân thủ pháp luật và chính sách của Nhà nước.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp và quản lý sản xuất – kinh doanh của các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ biện chứng với nhau. Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện, tiền đề cho quản lý sản xuất – kinh doanh của đơn vị tiến hành thuận lợi, có hiệu quả. Ngược lại việc quản lý sản xuất kinh doanh tốt vừa thể hiện hiệu lực của quản lý Nhà nước, vừa tạo điều kiện phát huy vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đầy đủ hơn và có hiệu quả hơn, đảm bảo sự phát triển ổn định của toàn bộ nông nghiệp và nông thôn. Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp thừa nhận và tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của các đơn vị, các tổ chức kinh tế, nhưng không buông trôi mà thực hiện việc kiểm soát chúng về mặt Nhà nước, nghĩa là thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các đơn vị và tổ chức kinh tế.

    Vai trò

    Vai trò của quản lý Nhà nướcvề kinh tế trong nông nghiệp bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp các hoạt động lao động chung trên cơ sở xã hội hoá sản xuất và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. Lực lượng sản xuất và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá càng cao thì càng cần thiết phải thực hiện vai trò này một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt. Tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hàng hoá của nông nghiệp trong từng giai đoạn nhất định mà giữa các phân ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản cũng như các yếu tố kinh tế của toàn ngành nông nghiệp có những mối quan hệ tỷ lệ phù hợp đảm bảo khai thác hợp lý các nguồn lực và phát triển. Sự phát triển không ngừng của lực lương sản xuất, sự tác động thường xuyên hay biến động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội trong nước cũng như quốc tế luôn là những nguyên nhân phá vỡ những mối quan hệ tỷ lệ nói trên, trước tình hình đó, Nhà nước là người nhận thức đúng các quy luật vận động phát triển, nắn vững và dự báo được các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội trong nước và quốc tế để vạch ra các chiến lược và kế hoạch phát triển thể chế hoá các chủ trương đường lối phát triển nông nghiệp thành các quy chế, luật lệ để hướng dẫn và sử dụng các kích thích kinh tế nhằm định hướng phát triển các vùng nông nghiệp các thành phần kinh tế các loại hình doanh nghiệp, hoạt động ở nông thôn v.v… phát triển đúng hướng và có hiệu quả. Có thể coi cơ sở khách quan và sâu xa của vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp bắt đầu từ yêu cầu cân đối trong quá trình phát triển; do vậy phải phối hợp mọi hoạt động của nền nông nghiệp hàng hoá dựa trên trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Trong nền nông nghiệp hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường XHCN ở nước ta hiện nay cơ sở khách quan và sâu xa nói trên đòi hỏi việc quản lý Nhà nước đối với ngành này phải xử lý những vấn đề chủ yếu sau đây:

    Sự vụ lợi cá nhân nảy sinh trong quá trình phát triển

    Nền nông nghiệp nước ta dựa trên sự đa dạng hình thức sở hữu và tương ứng với nhiều hình thức tổ chức sản xuất thì tất yếu nảy sinh sự quan tâm lợi ích cá nhân. ở đây các cá nhân và lợi ích cá nhân được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm các chủ thể sản xuất – kinh doanh như các hộ các trang trại, các tổ hợp tác, hợp tác xã, các nhà máy chế biến nông sản v.v… các địa phương hay các vùng khác nhau trên lãnh thổ nông nghiệp cả nước; hoặc cũng có thể là ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Trong khi theo đuổi những lợi ích riêng, các đơn vị sản xuất – kinh doanh, các vùng các địa phương hoặc bản thân ngành nông nghiệp có thể không nhìn thấy lợi íchcủa đơn vị, của vùng hay của ngành khác. ở mức độ cao hơn, nếu vì lợi ích cá nhân đến mức vi phạm lợi ích người khác; vì lợi ích hiện tại mà làm ảnh hưởng đến lợi ích tương lai thì xuất hiện sự vụ lợi cá nhân. Biểu hiện của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo không hiệu quả thậm chí triệt tiêu lẫn nhau, tình trạng khai thác bừa bãi đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác, tình trạng phân tán địa phương chủ nghĩa trong các hoạt động kinh tế… hậu quả của xu hướng này là phá vỡ cân đối cần thiết trong quá trình phát triển của nông nghiệp và tất yếu nảy sinh các vấn đề xấu về chính trị xã hội ở nông thôn.

    Bảo đảm môi trường thuận lợi và an ninh cho sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn

    Nhà nước đảm nhận những mặt những khâu hay một số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn bằng thực lực của nền kinh tế Nhà nước

    Chức năng

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp có vai trò to lớn và không thể thiếu được trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, nội tại của sự phát triển nền nông nghiệp. Đến lượt nó việc quản lý, điều chỉnh và hướng dẫn nền nông nghiệp đi theo hướng nào, tốc độ phát triển ra sao lại tuỳ thuộc hướng phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Trong bất kỳ điều kiện nào thì vai trò to lớn của quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp cũng chỉ được thể hiện khi nó thực hiện được các chức năng chủ yếu sau đây:

    Định hướng chiến lược cho sự phát triển nông nghiệp cho phù hợp từng giai đoạn phát kinh tế triển đất nước

    Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, có vai trò nhiều mặt về kinh tế và xã hội của đất nước. Việc đảm bảo sự phát triển hài hoà cân đối của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, Nhà nước cụ thể hoá thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn hàng năm để hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ cho toàn bộ nền nông, lâm, ngư, nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý Nhà nước. Chiến lược phát triển nông nghiệp ở nước ta từ nay đến năm 2010 được Đại hội Đảng IX (4/2001) nêu ra chủ yếu gồm: Chiến lược dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Chiến lược phát triển các vùng kinh tế; Chiến lược phát triển khoa học công nghệ; Chiến lược sản xuất và xuất khẩu v.v…

    Điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ nông nghiêp, nông thôn và giữa nông nghiệp, nông thôn với phần còn lại của nền kinh tế

    Nói tóm lại, việc quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế nhằm lành mạnh hoá toàn bộ các mối quan hệ kinh tế xã hội nông thôn. Chỉ có trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ kinh tế lành mạnh được duy trì ổn định sẽ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển ổn định của của nông nghiệp, nông thôn.

    Hỗ trợ, giúp đỡ kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã dịch vụ và các loại hình tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp, nông thôn phát triển

    Chuyển sang kinh tế thị trường, ở nước ta kể từ tháng 4/1988 hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, kinh tế trang trại dần hình thành và phát triển.Với việc xác định lại vai trò của hộ kinh tế như vậy, hợp tác dần dần đổi mới để chuyển sang dịch vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại.

    Trong một số doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất và chế biến thuộc sở hữu Nhà nước thực hiện đổi mới bằng cách từng bước chuyển sang công ty cổ phần… Có thể nói việc thay đổi cách thức làm kinh tế cho phù hợp với những yêu cầu của cơ chế mới, trong nền nông nghiệp nước ta đã và đang hình thành những loại hình doanh nhân hoàn toàn mới. Đối với họ mặt dù đã có thêm nhiều năng lực mới để phát triển, song thách thức lớn đối với họ là thương trường, kinh doanh trong cơ chế thị trường hoàn toàn mới mẻ mà họ chưa được chuẩn bị trước. Do vậy chuẩn bị, hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nhân và các loại hình kinh tế tự chủ nói trên của nông nghiệp, nông thôn bước vào thương trường thành công là chức năng trọng yếu của quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp nước ta.

    Bổ xung những vị trí cần thiết, nắm giữ những vị trí then chốt của nông nghiệp và kinh tế nông thôn bằng lực lượng kinh tế Nhà nước.

    Trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, những vị trí cần thiết và những hoạt động then chốt thường không nhiều, có thể nằm ở một số lĩnh vực như khai hoang phục hoá, xây dựng hạ tầng nông thôn, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, cấm rừng, phòng hộ rừng, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến xuất khẩu v.v… Việc xác định vị trí nào là cần thiết và hoạt động nào là then chốt Nhà nước cần nắm lại tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại thương của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

    Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp thực hiện chức năng nói trên bằng chính lực lượng kinh tế Nhà nước. Tuỳ theo tầm quan trọng của từng vị trí hay những hoạt động then chốt mà việc điều tiết của Nhà nước được thực hiện theo các cách khác nhau: Thành lập doanh nghiệp nhà nước để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, tham gia hoặc nắm giữ cổ phần ở những mức độ khác nhau trong các công ty cổ phần. Trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, chuyển một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần bằng việc thực hiện cổ phần hoá thực chất là việc rút bớt lực lượng kinh tế Nhà nước ra khỏi vị trí không cần thiết hay những hoạt động không phải là then chốt của nông nghiệp, nông thôn.

    Khái niệm và phân loại hệ thống công cụ quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

    Khái niệm

    Nền nông nghiệp, với tính cách là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân vận hành theo cơ chế của thị trường có sự quản lý của nhà nước hiện nay ở Việt Nam chỉ có thể phát triển phù hợp lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế khi có một hệ thống công cụ quản lý phù hợp. Hệ thống công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp được hiểu là toàn bộ những phương tiện mà Nhà nước sử dụng theo những phương thức nhất định nhằm định hướng khuyến khích và phối hợp các hoạt động kinh tế để đưa nông nghiệp đạt tới mục tiêu. Nói một cách khác, có thể hiểu hệ thống công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là toàn bộ những phương tiện cần thiết mà nhờ đó các cơ quan và các cán bộ quản lý kinh tế các cấp sử dụng để điều tiết, hướng dẫn, khuyến khích, phối hợp…các hoạt động của tập thể và cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung.

    Trong hệ thống công cụ đó, việc sử dụng chúng như thế nào lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của bản thân nông nghiệp, hoàn cảnh trong nước hay quốc gia, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước và năng lực đội ngũ cán bộ v.v… Trong cơ chế kinh tế kế hoạch trước đây, chúng ta cũng có hệ thống công cụ quản lý, nhưng được tạo ra để điều hành nền nông nghiệp quản lý tập trung và do vậy kế hoạch hoá là công cụ quan trọng nhất. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Hệ thống công cụ quản lý mà nhà nước sử dụng cần phải đổi mới, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu cho phù hợp với điều kiện mới. Đặc điểm chung của các phương tiện sử dụng để quản lý nền nông nghiệp kế hoạch hoá tập trung là mang tính chất can thiệp trực tiếp, áp đặt ý đồ của người quản lý lên đối tượng quản lý. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ có thể can thiệp vào quá trình phát triển của nông nghiệp một cách gián tiếp qua cơ chế hoạt động của thị trường. Như vậy các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, các dự án phát triển… được vạch ra cho nông nghiệp chỉ mang tính chất định hướng. Trên cơ sở định hướng này, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật kinh tế và các hệ thống chính sách khuyến khích tác động vào quan hệ lợi ích của chủ thể kinh tế, khuyến khích họ vì theo đuổi lợi ích riêng mà hoạt động cho sự phát triển chung.

    Phân loại

    Để nhận biết và lựa chọn công cụ quản lý Nhà nước phù hợp cho việc quản lý đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững của nền nông nghiệp, cần thiết phải phân loại các công cụ theo các tiêu chí khác nhau. Có thể thực hiện việc phân loại nói trên theo một số tiêu chí chủ yếu sau đây:

    Theo nội dung và tính chất tác động của công cụ quản lý

    Theo tiêu chí này, các công cụ quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp bao gồm:

    – Pháp luật kinh tế: Đây là loại công cụ tác động mang tính chất bắt buộc, quy định xác định hành lang vận động cho đối tượng quản lý, dựa trên cơ sở chức năng quản lý và uy quyền của Nhà nước.

    – Công cụ kế hoạch: Là loại công cụ mà Nhà nước sử dụng nhằm định hướng sự phát triển của các lĩnh vực, các vùng, các phân ngành cũng như toàn bộ nền nông nghiệp nói chung.

    – Chính sách phát triển kinh tế: Là những công cụ co tính chất kích thích, khuyến khích hoặc nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế. Chính sách kinh tế bao gồm các chính sách kinh tế cụ thể khác nhau được Nhà nước sử dụng kết hợp với nhau tạo nên lực tác động tổng hợp tới quá trình tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp.

    Theo phạm vi tác động của công cụ quản lý

    Người ta có thể nhận dạng các công cụ quản lý vĩ mô và các công cụ quản lý vi mô theo phạm vi tác động của nó.

    – Công cụ quản lý vĩ mô (hay công cụ quản lý Nhà nước) đối với nông nghiệp là những công cụ được sử dụng để quản lý toàn bộ nền nông nghiệp bao gồm Pháp luật kinh tế, kế hoạch phát triển ngành hay các chương trình dự án phát triển, các chính sách kinh tế vĩ mô.

    – Các công cụ quản lý vi mô (hay các công cụ quản lý trong nội bộ đơn vị kinh tế) là những công cụ được sử dụng để quản lý các hoạt động trong đơn vị hay tổ chức kinh tế, bao gồn kế hoạch sản xuất kinh doanh, hợp đồng kinh tế, kế hoạch tài vụ, hạch toán kế toán v.v…

    Theo lĩnh vực tác động của công cụ quản lý

    Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và đối với nông nghiệp nói riêng có thể được phân loại theo thời gian tác động lâu dài hoặc thời gian tác động ngắn. Những công cụ quản lý có thời gian tác động lâu dài gồm có luật pháp kinh tế, các chiến lược phát triển, chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong nông nghiệp, nông thôn… Những công cụ quản lý có thời gian tác động ngắn hạn thường gắn với các quy định tạm thời về quản lý của các cấp, các biện pháp chính sách mang tính chất tình thế, các công cụ quản lý vi mô.

    Trong số các cách phân loại hệ thống công cụ quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp trình bày ở trên, cách phân loại theo nội dung và tính chất tác động của công cụ quản lý được sử dụng phổ biến trong thực tế công tác quản lý. Bởi vì, bằng cách phân loại này cho phép nhận biết sâu sắc vai trò, tính chất, những yêu cầu hay đặc điểm cơ bản của từng loại công cụ để các nhà quản lý sử dụng từng loại công cụ đúng cách và có hiệu quả.

    Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

    Để quản lý nền nông nghiệp, Nhà nước cần sử dụng một hệ thống các công cụ. Vấn đề mới ở đây là hệ thống công cụ quản lý Nhà nước ta sử dụng để quản lý nền nông nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường, chứ không phải cơ chế quản lý tập trung trước đây. các công cụ quản lý đó là pháp luật, kế hoạch và chính sách kinh tế.

    Pháp luật kinh tế quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp

    Vai trò của pháp luật kinh tế trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp

    Một là, xác lập cơ sở pháp lý, bảo vệ và hỗ trợ hình thành phát triển

    cơ chế thị trường trong nông nghiệp nông thôn.

    Dựa trên nhận thức đúng đắn, Khách quan và khoa học các quy luật vận động của nền nông nghiệp theo cơ chế thị trường, Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy nhằm tổ chức có tính chất Nhà nước các quan hệ kinh tế khách quan đó phù hợp với quy chế mới. Mặt khác, nhờ sự hỗ trợ và bảo vệ của pháp luật mà ý thức tôn trọng, tuân thủ các quan hệ kinh tế khách quan của các bên tham gia sẽ điều chỉnh hành vi kinh tế của họ, tạo điều kiện để phát triển các mối quan hệ được luật pháp xác định ở trên. Như vậy pháp luật giữ vai trò là yếu tố tạo dựng, hỗ trợ và bbảo vệ cho sự hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế theo mục tiêu định hướng của Đảng và nhà nước ta.

    Hai là, xác lập trật tự và môi trường kinh doanh lành mạnh cho nông nghiệp.

    Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế tham gia vào các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp nông thôn.

    Việc bảo vệ lợi ích nói trên của các chủ thể kinh tế chỉ có thể thực hiện bằng cách ghi nhận, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên, ghi nhận hình thức và các thủ tục giải quyết tranh chấp trong kinh doanh… vào luật pháp. Nhờ vậy lợi ích của các chủ thể kinh tế được tôn trọng và được giải quyết thoả đáng. Nếu thiếu luật pháp thì việc giải quyết, xử lý các quan hệ lợi ích sẽ thiếu trật tự, gây lộn xộn không cần thiết có ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế.

    Đặc điểm của pháp luật kinh tế trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp

    – Công cụ pháp luật kinh tế có sức mạnh quyền uy

    Sức mạnh quyền uy của công cụ pháp luật kinh tế là sự kết hợp giữa sức mạnh quyền uy khách quan và quyền uy Nhà nước. Nội dung của pháp luật kinh tế chính là những mối quan hệ, những lợi ích kinh tế khách quan được xã hội thừa nhận và bảo vệ dưới dạng ý chí của Nhà nước. Sự thừa nhận và bảo vệ đó được cụ thể hoá thành những chuẩn mực về quyền lợi và nghĩa vụ để điều chỉng hành vi của cá nhân và tập thể phù hợp với những yêu cầu thực tế khách quan. Do vậy sức mạnh quyền uy của pháp luật kinh tế nằm ngay trong nội dung của pháp luật và phụ thuộc vào tính chính xác của nội dung dó. Việc tuân thủ pháp luật, hành động theo yêu cầu của pháp luật là yêu cầu đương nhiên của bản thân thân pháp luật chứ không phải vì sự cưỡng chế của Nhà nước. Sự cưỡng chế của Nhà nước mang tính quyền uy chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo vệ pháp luật dưới dạng răn đe, do vậy có tác dụng nâng cao hiệu lực của công cụ pháp luật kinh tế.

    – Quản lý bằng pháp luật đảm bảo tính phổ biến và công bằng

    – Quản lý bằng pháp luật kinh tế là sự tác động điều chỉnh mang tính chất gián tiếp.

    Tính chất gián tiếp nói trên thể hiện ở chỗ luật chỉ đưa ra các điều kiện giả định để quy định quyền và nghĩa vụ cho các hoạt động kinh tế; đưa ra các quy phạm được phép hay không được phép trong các hoạt đọng kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, còn các chủ thể kinh tế lựa chọn, tự quyết định hành động trong khuân khổ của những điều kiện và phạm vi đã xác định của luật.

    Vai trò của công cụ kế hoạch

    Để quản lý hoạt động kinh tế, chủ thể quản lý các cấp phải xử dụng công cụ kế hoạch. Xét về thực chất, kế hoạch là các quyết định của chủ thể quản lý về mục tiêu, biện pháp và các đảm bảo vật chất cần thiết để thực hiện mục tiêu trong một thời kỳ nhất định. Như vậy kế hoạch là một công cụ định hướng, tổ chức và điều khiển các hoạt động kinh tế của một đơn vị, một địa phương hay toàn bộ nền nông nghiệp nông thôn.

    vai trò của công cụ kế hoạch trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp thể hiện trên các mặt sau đây:

    Một là, cho phép chủ thể quản lý cũng như mọi bộ phận trong hệ thống quản lý nhận thức thống nhất về hướng đi, cách đi thich hợp để nhanh chóng đạt tới mục tiêu. Trên cơ sở thống nhất nhậ thức mà hoạt động của mọi cấp, mọi bộ phận, mọi tổ chức tự giác, chủ động và thống nhất trong hàng động thực tiễn.

    Hai là, kế hoạch còn giúp cho các nhà quản lý chủ động thích ứng với những thay đổi trong quá trình phát triển của thực tiễn do có những dự đoán trước; chủ động tạo ra những biến đổi có lợi cho quá trình phát triển; hướng các nhà quản lý tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu…

    Ba là, kế hoạch còn là một căn cứ để tổ chức bộ máy quản lý, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của các hoạt động quản lý ở các cấp, các địa phương và toàn ngành.

    Những yêu cầu cơ bản đối với công cụ kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn trong cơ chế thị trường

    Muốn phát huy hết những vai trò to lớn của công cụ kế hoạch, nhất là kế hoạch trong cơ chế thị trường thì bản thân kế hoạch phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Trong cơ chế thị trường, kế hoạch hoá kinh tế quốc dân đối với nông nghiệp vẫn là một công cụ quan trọng của quản lý Nhà nước, có tính chất pháp lệnh, nhưng không có tính chất chỉ đạo theo phương thức giao nhận và chấp hành kế hoạch một cách cứng nhắc mà chỉ là những định hướng cho sự phát triển ởtầm vĩ mô. những kế hoạch định hướng bao gồm các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, các dự án phát triển nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng những quy luật khách quan và tính toán chính xcs những điều kiện về nguồn lực của nông nghiệp. Căn cứ quan trọng để vạch ra các kế hoạch định hướng phát triển nông nghiệp là nhu cầu của thị trường, bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Trên cơ sở đó mà bố trí, huy động các yếutố nguồn lực củ xã hội vào sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý nhất để khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền nông nghiệp nước ta nhằm thực hiện một cách tốt đẹp các mục tiêu ý tưởng mà sự phát triển nông nghiệp cần đạt tới, phù hợp với công cụ đổi mới kinh tế của đất nước.

    Như vậy các kế hoạch nông nghiệp cần đáp ứng những nhu cầu chủ yếu là:

    Thứ nhất, các kế hoach phải đảm bảo tính khoa học.

    Hiệu quả quản lý của công cụ kế hoạch phụ thuộc rất lớn vào tính sát thực tính hợp lý và khoa học của nó. Do vậy khi xây dựng kế hoạch phải chú trọng việc nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý về kế hoạch hoá và điều kiện cụ thể của nông nghiệp nông thôn; phân tích rõ thực trạng cũng như tiềm năng về tài nguyên đất đai, cũng như lao động, tiền vốn, công nghệ và kỹ thuật có thể huy động; tham khảo kinh nghiệm của địa phương khác hoặc nước khác. Nghĩa là phải gắn lý luận với thực tiễn trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch.

    Thứ hai, gắn kế hoạch với thị trường.

    Yêu cầu này đòi hỏi phải được đáp ứng cả trong xây dựng và thực hiện kế hoạch. Trong xây dựng kế hoạch phát triển cần coi nhu cầu thị trường là điểm xuất phát của kế hoạch, các chủ thể quản lý không nên tuyệt đối hoá kế hoạch trong suy nghĩ và hành động dẫn đến hạn chế tính sáng tạo, linh hoạt và mền dẻo trong hoạt động quản lý và điều hành. Tuyệt đối hoá kế hoạch, thậm chí đặt đối lập kế hoạch với thị trường mà không gắn kế hoạch với thị trường là xa lạ với cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp nước ta hiện nay.

    Thứ ba, chuyển từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch hướng dẫn là chủ yếu.

    Các kế hoạch khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đếu có dấu ấn quyền uy của nhà nước, do vậy chứa đựng tính chất khống chế. Tính chất khống chế này thể hiện bằng các chỉ tiêu mục tiêu, quy mô, tốc độ, định mức… Trong quá trình phát triển thực tế, nền nông nghiệp luôn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố thường xuyên biến động. Tình hình trên phải đòi hỏi giảm tính pháp lệnh, tăng cường tính hướng dẫn của các kế hoạch phát triển nông nghiệp. Muốn vậy, các kế hoạch chỉ cần bao gồm những chỉ tiêu cần thiết đủ định hướng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn. ngoài ra các kế hoạch cần bao gồm những yếu tố mở để khuyến khích tính năng hoạt động của người thực hiện.

    Thứ tư, tăng cường chất lượng các hoạt động tiền kế hoạch.

    Để đảm bảo tính sát thực của các kế hoạch, chủ thể quản lý phải coi trọng và tăng cường chất lượng cáchoạt động tiền kế hoạch như điều tra khảo sát, nghiên cứu thăm dò để đưa ra các dự báo có căn cứ khoa học về nguồn lực, thị trường ngoài và trong nước, sự phát triển tiến bộ khoa học công nghệ v.v… Những hoạt động tiền kế hoạch càng được coi trọng và có chất lượng cao là căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển nông nghiệp có kết quả.

    Ngoài ra, trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch, cần phân định rõ chức năng kế hoạch của Nhà nước các cấp và kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp. Bộ máy hoạt động ở các cấp cần được xây dựng theo hướng tinh giản, linh hoạt và có hiệu quả cao.

    Chính sách kinh tế

    Công cụ chính sách kinh tế giúp Nhà nước điều khiển hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ…). Nhờ các chính sách kinh tế dẫn dắt hoạt động mà các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp đã hành động phù hợp với lợi ích chung của xã hội; các nguồn tài nguyên nông nghiệp được huy động vào sản xuất một cách có hiệu quả để đạt đến mục tiêu và các kế hoạch định hướng.

    Phân loại các chính sách nông nghiệp

    Để thực hiện được các mục tiêu phát triển vạch ra trong các chiến lược, các kế hoạch, các dự án phát triển nông nghiệp, Nhà nước sử dụng một hệ thống các chính sách kinh tế làm công cụ tác động vào cơ chế vận động của nền nông nghiệp. Tuỳ cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể phân loại các chính sách kinh tế trong nông nghiệp theo những tiêu thức khác nhau:

    – Theo nội dung, có thể phân loại các chính sách theo cách gọi tên cụ thể như: chính sách đầu tư vốn, chính sách tín dụng, chính sách ruộng đất…

    – Theo lĩnh vực, có thể phân loại thành các nhóm chính sách nông nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính (thuế, đầu tư, trợ cấp sản xuất…); lĩnh vực tiền tệ (giá cả. lãi xuất v.v…); lĩnh vực xuất, nhập khẩu ( chính sách thuế, hạn ngạch, tỷ giá hối đoái…).

    – Theo quan hệ của chính sách đối với quá trình sản xuất, có thể phân thành các chính sách đầu vào(đầu tư, vật tư, trợ giá khuyến nông…); các chính sách đầu ra (thị trường và giá cả, chính sách xuất khẩu…); các chính sách về tổ chức quá trình sản xuất (chính sách đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chính sách đổi mới cơ cấu quản lý…).

    Trong điều kiện kinh tế thị trường, mỗi chính sách mà Nhà nước sử dụng đều nhằm tác động vào phía cung hay phía cầu thị trường, nhưng cũng có chính sách có thể tác động lên cả hai phía. Một chính sách được sử dụng để tác động lên phía cung thì phải có các biện pháp hạn chế phản ứng phụ lên phía cầu. Chính vì vậy mà một chính sách được ban hành cần xác định rõ nó là chính sách gì để có thể tạo ra cơ chế phối hợp giữa các chính sách.

    Một số chính sách kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp nước ta

    Hiện nay Nhà nước ta đang sử dụng một hệ thống các chính sách tác động trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp, có thể kể đến một số chính sách chủ yếu sau đây:

    + Chính sách ruộng đất

    + Chính sách đầu tư

    + Chính sách tín dụng

    + Chính sách giá cả thị trường

    + Chính sách xuất khẩu nông sản

    + chính sách khuyến nông

    + Chính sách đổi mới cơ cấu nông nghiệp, nông thôn

    Chính sách ruộng đất có vai trò quan trọng đặc biệt vì có nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong nông nghiệp và nông thôn gắn liền với vấn đề ruộng đất. Mục tiêu trực tiếp của chính sách ruộng đất là quản lý, sử dụmg có hiệu quả, đồng thời bảo vệ độ phì nhiêu của đất đai, vì đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt của nông nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên, từ khi chuyển sang cơ cấu thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã có những đổi mới quan trọng trong chính sách ruộng đất, thể hiện tập trung ở Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, về giao đất cho hộ nông dân, Luật Đất đai năm 1993 gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

    – Toàn bộ quỹ đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước.

    – Ruộng đất được Nhà nước giao quyền ổn định, lâu dài cho những người làm nông, lâm, ngư nghiệp (các doanh nghiệp nhà nước,tập thể, hộ gia đình và cá nhân). Các hộ nông dân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp quyền sử dụng ruộng đất trong thời hạn được giao.

    – Người sử dụng có trách nhiệm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và phải bảo vệ, cải tạo đất và đóng thuế cho Nhà nước.

    – Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển quyền sử dụng đất trái phép. Kiên quyết xoá bỏ những phương thức kinh doanh lạc hậu làm huỷ hoại đất đai.

    Mục đích trực tiếp của chính sách tín dụmg là bổ xung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp. Hiện nay do năng lực tích luỹ còn thấp nên có tới 50% số hộ nông dân có nhu cầu vay vốn tín dụng. Mục tiêu lâu dài của chính sách tín dụng là góp phần từng bước thúc đẩy sự ra đời của thị trường vốn trong nông thôn. Những năm gần đây, Nhà nước đã có những đổi mới quan trọng trong chính sách tín dụng nông nghiệp, thể hiện tập trung ở Nghị quyết trung ương lần thứ 5( khoáVII) và Nghị quyết 14/CP ngày2/3/1993 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ sản xuất vay vốn, gồm những nội dung chủ yếu sau đây.

    – Đổi mới tổ chức ngành ngân hàng thành hệ thống hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Thương mại. tham gia vào thị trường vốn tín dụng ở nông thôn có các Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Thương mại cổ phần và các Ngân hàng thương mại khác. Tổ chức lại hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (hợp tác xã tín dụmg kiểu mới ). Các ngân hàng thưong mại và các tổ chức tín dụng tự nguỵện do nhân dân lập ra sẽ tạo khả năng huy động nguồn vốn tối đa đáp ứng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp.

    – Huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và nhân dân bằng nhiều hình thức thích hợp như: tiết kiệm (có và không có kỳ hạn), tín phiếu và trái phiếu kho bạc, ngân phiếu và kỳ phiếu ngân hàng v.v…

    – Mở rộng việc cho vay của các tổ chức tín dụng đến hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản để phát triển sản xuất, không phân biệt thành phần kinh tế.

    -Ưu tiên cho vay để triển khai các dự án do Nhà nước chỉ định, cho vay đối với vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng kinh tế mới, hải đảo và các hộ nghèo, góp phần xoá đói giảm nghèo trong nông thôn.

    Chính sách đầu tư vốn ngân sách cho nông nghiệp được nhà nước rất chú trọng qua các thời kỳ phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.Trên thực tế tỷ trọng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho ngành nông, lâm nghiệp trong tổng số vốn đầu tư ngân sách cho khu vực sản xuất vật chất còn thấp ( khoảng 25- 28% hàng năm thời kỳ 1976 -1987).Vốn ngân sách đầu tư chủ yếu cho khu vực quốc doanh nông, lâm nghiệp và xây dựng công trình thuỷ lợi

    Từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị (1988), chính sách đầu tư vốn đã thay đổi: vốn bao cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước giảm và xoá hẳn, chuyển sang hình thức đầu tư tín dụng. Như vậy từ sau năm 1988, mọi hình thức bao cấp qua chính sách đầu tư vốn cho nông nghiệp đều bị xoá bỏ.

    Mục tiêu của chính sách thị trường và giá cả nông nghiệp là đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trong hoạt động kinh tế của chủ thể sản xuất nông nghiệp về các dịch vụ đầu vào và đầu ra, đảm bảo đúng số lượng, chất lượng, thời gian không gian với những giá cả tương đối ổn định, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Nội dung chủ yếu của chính sách thị trường nông nghiệp thể hiện trên các mặt sau đây:

    – Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động trong hệ thống thị trường nông nghiệp, từ việc cung cấp các dịch vụ yếu tố đầu vào, mua gom bảo quản chế biến nông sản đến tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa và xuất khẩu. Trừ những trường hợp đặc biệt được Nhà nước cho phép (như cung cấp điện cho nông, nghiệp tưới tiêu nước), mọi hình thức độc qyền trên thị trường do bất kỳ nguyên nhân nào tạo ra đều trái với chủ trương phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phàn vận động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN của Nhà nước ta.

    – Mở rộng giao lưu vật tư và nông sản hàng hoá giữa các vùng, các khu vực trên phạm vi cả nước. Xoá bỏ tình trạng cát cứ chia cắt của thị trường nội địa.

    – Đa phương hoá quan hệ thị trường và đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu. Sử dụng tốt các công cụ kinh tế quan trọng tác động đến xuất khẩu nông sản và nhập khẩu vật tư phục vụ nông nghiệp như: thuế xuất, nhập khẩu, hạn ngạch xuất, nhập khẩu và tỷ giá hối đoái.

    – Sử dụmg tốt các phương tiện thông tin đại chúng để tổ chức công tác dự báo thị trường, nâng cao khả năng tiếp thị của các chủ thể kinh tế.

    Một đặc điểm quan trọng của giá cả nông sản là có tính không ổn định vì: thứ nhất, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên (hạn hán hay lũ lụt có thể gây mất mùa) thứ hai, hệ thông co giãn giá của cầu về nông sản phẩm là thấp, nghĩa là cầu về nông sản ít phản ứng với những biến giá; Thứ ba, hiệu quả của đổi mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp (đặc biệt nông nghiệp của các nước phát triển) có tác động mạnh lên phía cung nông sản. Kết quả tất yếu của mối quan hệ giữa áp lực cung tăng với cầu ít co dãn làm giá nông sản có xu hướng hạ thấp.

    Mục tiêu của chính sách giá cả trong nông nghiệp là ổn định giá cả, ổn định thị trường một cách tương đối để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng. Để đạt mục tiêu trên, chính sách giá cả nông nghiệp của nước ta gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

    – Thu hẹp và tiến tới xoá bỏ quan hệ tỷ giá bất hợp lýgiữa giá hàng công nghiệp và dịch vụ với giá hàng nông sản, tạo điều kiện khách quan cho việc thực hiệ tái sản xuất mở rộng nông nghiệp.

    – Bỏ chế độ nhiều giá trước đây, thực hiện chế độ một giá đối với mọi loại vật tư và nông sản hàng hoá.

    – Trong những trường hợp đặc biệt, nhà nước có thể áp dụng những chính sách như trợ giá đầu vào (phân bón, hạt giống mới…) để hỗ trợ sản xuất phát triển; hoặc mua trợ giá đối với sản phẩm đầu ra theo những đợt để ổn định giá cả thị trường, chống tụt giá quá mức có tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp.

    Chính sách xuất khẩu nông sản là một chính sách quan trọng của nhà nước ta, có ý nghĩa lớn trong việc khai thác lợi thế so sánh của

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Tiện Ích Mở Rộng, Extension Editthiscookie * Học Lỏm
  • Hướng Dẫn Lưu Lại Cookie
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Quản Trị Thiết Bị
  • Google Chính Thức Cung Cấp Chức Năng Chống Trộm Chothiết Bị Android
  • Phần Mềm Quản Lý Thiết Bị Điện Nước
  • Một Số Vấn Đề Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Vệ Sinh Pin Mặt Trời Trọn Gói Cho Nhà Máy Điện Mặt Trời
  • Cách Để Vệ Sinh Các Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời
  • Giải Pháp Chống Bám Bụi Cho Pin Nlmt
  • Cách Vệ Sinh Pin Năng Lượng Mặt Trời Đơn Giãn
  • Ứng Dụng Giải Pháp Rfid Trong Event, Sự Kiện
  • Bài làm

    1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.

    Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.

    Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).

    2. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp :

    a) Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

    Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

    Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :

    – Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.

    – Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế giới.

    – Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.

    – Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.

    b) Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước. Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.

    3. Các phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế :

    Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân ( tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế …).

    Qúa trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc đã định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế.

    Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đó là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế. Phương pháp quản lý kinh tế thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

    3.1 Các phương pháp hành chính :

    Các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết đinhj dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định.

    Phương pháp này có hai đặc điểm cơ bản là :

    – Tính bắt buộc : các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tacs động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.

    – Tính quyền lực : các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình.

    Vai trò của các phương pháp hành chính là xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

    Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nằm vững những yêu cầu chặt chẽ sau :

    – Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.

    – Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

    Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu KC194 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

    Tài liệu này không có hình ảnh khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khu Vực Kinh Tế Phi Chính Thức
  • Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Thích Ứng Với Hội Nhập Quốc Tế Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế
  • Phương Thức Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì? Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước
  • Chuyên Đề 1: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Công Đoàn Bảo Vệ Người Lao Động Như Thế Nào?
  • Suy nghĩ về chức năng quản lý kinh tế của nhà nước

    1. Quan niệm về chức năng và chức năng quản lý kinh tế của nhà nước

    Chức năng là mặt hoạt động chủ yếu của một cơ quan, tổ chức. Nếu không xác định rõ chức năng chủ yếu, cơ quan, tổ chức đó sẽ không cụ thể được các nhiệm vụ nội tại và do đó khó có thể bảo đảm được chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình.

    Chức năng của nhà nước là đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học xã hội như luật học, triết học, kinh tế học, chính trị học, xã hội học,… được hiểu chung là các mặt hoạt động của nhà nước. Tuy nhiên, tùy theo nội dung của chức năng đó, nhà nước có sự can thiệp, điều chỉnh bằng các phương thức khác nhau. Đặc biệt, tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, từng hình thức nhà nước mà nhà nước ở từng quốc gia khác nhau thực hiện chức năng của mình với mô hình quản lý nhà nước khác nhau. Chức năng của nhà nước được coi là hoạt động của nhà nước, để thể hiện vai trò của nhà nước đối với xã hội .

    Với vai trò là chủ sở hữu, nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình với vai trò như là một chủ thể kinh tế lớn, Trong vai trò này, bên cạnh hoạt động quản lý nền kinh tế quốc dân, nhà nước còn thông qua doanh nghiệp nhà nước để tiến hành các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, cũng như thực hiện các hoạt động quản trị, khai thác, sử dụng tài sản công. Các hoạt động này thể hiện ở mặt “tổ chức kinh tế” của chức năng kinh tế của nhà nước. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã cho thấy, việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh sao cho có hiệu quả là vấn đề rất khó khăn và phức tạp.

    Nhà nước quản lý kinh tế là một xu hướng tất yếu ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Vì đất nước muốn phát triển, tất yếu phải bắt đầu từ kinh tế; phát triển kinh tế là điều kiện, mục tiêu hàng đầu để phát triển đất nước. Kinh tế phát triển theo các quy luật của KTTT. Tuy nhận thức chung hiện nay là phải có sự quản lý kinh tế của nhà nước để nền kinh tế phát triển đúng hướng, nhưng vẫn còn những tranh luận về thị trường có vai trò tích cực đến đâu và giới hạn mức độ can thiệp, điều tiết của nhà nước chừng nào là đủ. Mọi nhà nước ra đời đều phải nắm giữ quyền lực chính trị cùng quyền lực và sức mạnh kinh tế của mình để định hướng và điều chỉnh mối quan hệ kinh tế – xã hội sao cho có hiệu quả, vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Trong thời đại hiện nay, “nhà nước nhiều hay nhà nước ít, nhà nước to hay nhà nước nhỏ” đã không còn nhiều tranh luận khoa học dưới góc độ chính trị và pháp lý. Vấn đề đặt ra là, mỗi quốc gia cần có một nhà nước thực sự mạnh, nhà nước thông minh để tận dụng được nền kinh tế tri thức, để kiến tạo, phục vụ, hành động, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho xã hội, doanh nghiệp và người dân. Để giải quyết vấn đề đó, nhà nước triển khai thực hiện quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực của xã hội, nhất là quản lý nền kinh tế quốc dân.

    Theo nghĩa rộng, chức năng quản lý kinh tế của nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động của cả ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, chức năng quản lý kinh tế của nhà nước chính là chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, được hiểu là hoạt động điều hành nền kinh tế và được thực hiện bởi cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất là chính phủ.

    Tiếp cận trên cơ sở các quan điểm, trường phái nghiên cứu kinh tế khác nhau như trường phái KTTT tự do, trường phái kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trường phái kinh tế hỗn hợp và trường phái nhà nước kiến tạo phát triển cho thấy: chức năng quản lý kinh tế của nhà nước nói chung hiện nay là mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước, thể hiện vai trò năng động của nhà nước để kiến tạo phát triển nền kinh tế, chủ động tạo lập các điều kiện cho nền KTTT phát triển theo đúng các quy luật khách quan vốn có và đáp ứng kịp thời các mục tiêu kinh tế – xã hội đặt ra; nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình để tác động vào nền kinh tế khi thị trường không hiệu quả hoặc bất bình đẳng và khi các điều tiết của nhà nước giúp cải thiện được kết quả hoặc sự công bằng.

    Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân bằng Hiến pháp, các đạo luật và các quy định dưới luật. Để đưa ra khái niệm về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, cần xuất phát từ các quy định của Hiến pháp năm 2013 về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, cũng như trong mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong bộ máy nhà nước, mà trực tiếp ở đây là Quốc hội, Chính phủ và Toà án nhân dân tối cao.

    Nền kinh tế nước ta được xác định “là nền KTTT định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (Điều 51 khoản 1). Trong đó, “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” (Điều 51, khoản 2). Theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước có trách nhiệm trong việc “khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước” (Điều 51, Khoản 3). Việc “xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế” của Nhà nước phải được dựa trên cơ sở “tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân”.

    Cùng với đó, Hiến pháp cũng quy định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Điều 59, Khoản 2). Vấn đề về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu cũng được đề cập trong các trách nhiệm của Nhà nước được quy định tại Điều 63[9]. Trách nhiệm của Nhà nước trong các vấn đề nêu trên chính là trách nhiệm khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường khi sản xuất, kinh doanh, nhà đầu tư có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi nhuận.

    Hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, Nhà nước cần chủ động tập trung cho kiến tạo phát triển, thông qua việc triển khai chức năng quản lý vĩ mô của mình về kinh tế, chủ yếu là: i) tạo lập khung khổ pháp luật về kinh tế, bảo đảm môi trường và điều kiện thuận lợi, phục vụ người dân, doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ii) quản lý, điều hành nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng về kinh tế – xã hội – môi trường, dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình kinh tế – xã hội, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững, bao trùm; iii) tăng cường thanh tra, giám sát, kiểm soát, bảo đảm các hoạt động kinh tế diễn ra trong trật tự theo quy định pháp luật.

    Có thể nhận diện, chức năng vĩ mô nêu trên là chức năng quản lý kinh tế, mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước, để Nhà nước chủ động thực hiện vai trò quản lý nhà nước về kinh tế của mình trong mối quan hệ với thị trường và xã hội, mà cụ thể và trực tiếp là phục vụ có hiệu quả người dân, doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là những phương diện hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong vai trò kiến tạo phát triển, chủ động tác động tới các ngành, lĩnh vực, khu vực khác nhau của nền KTTT định hướng XHCN, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đề ra trong từng giai đoạn phát triển đất nước.

    Với khái niệm được nêu ra một cách khái quát như trên, nội hàm của chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước ta chủ yếu bao gồm các nội dung: xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về kinh tế; triển khai thực thi pháp luật về kinh tế; xử lý các vi phạm pháp luật về kinh tế và giải quyết các xung đột, tranh chấp kinh tế; giải quyết các khuyết tật của KTTT; bảo đảm hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy kinh tế đối ngoại./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị
  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Trình Bày Các Chức Năng Của Quản Lý Giáo Dục
  • Hệ Thống Các Cơ Quan Nhà Nước Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam ? Nguyên Tắc Quản Lý Kinh Tế Nhà Nước ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Cấp Tỉnh Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tại Bắc Kạn
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Tổng Quan Về Chức Năng Quản Trị Hàng Tồn Kho Trong Phần Mềm 3S Erp
  • Cách Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Làm Gì Để Quản Lý Hàng Tồn Kho Của Doanh Nghiệp Hiệu Quả?
  • Đã có nhiều ý kiến cho rằng, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các DNNN sau chuyển đổi sẽ có một hành lang pháp lý rộng hơn, tự chủ cao hơn, năng động hơn. Từ đó, chúng ta sẽ có những doanh nghiệp mạnh, góp phần thúc đẩy nhanh hơn nữa cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đó là hy vọng và không ai có thể cấm người ta hát những “Bài ca hy vọng” như vậy!

    Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật có thể thấy, việc các DNNN chuyển thành Công ty TNHH một thành viên theo NĐ25 vừa qua, thực chất chỉ là tạo ra những chiếc “bình mới” cho một “chất rượu” cũ mà thôi. Các DNNN sau khi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên sẽ chưa (hoặc không) có sự thay đổi nào đáng kể về quản trị doanh nghiệp – khâu quyết định đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bởi lẽ, công tác quản trị các DNNN sau chuyển đổi theo NĐ 25, vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của cơ chế chủ quản.

    Chủ quản và cơ chế chủ quản là sản phẩm của thời kỳ nền kinh tế nước ta được quản lý theo kế hoạch tập trung. Sau này, cơ chế đó được gọi với cái tên đầy đủ là “Kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp”. Những đặc trưng cơ bản của cơ chế chủ quản là:

    – Các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều là DNNN, do Nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, Nhà nước độc quyền kinh doanh. Người dân mà kinh doanh là vi phạm pháp luật, là con buôn, là “bọn tiểu thương”!

    – Mỗi doanh nghiệp, khi đó được gọi là Xí nghiệp, đều do một cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, gọi là cơ quan chủ quản. Chẳng hạn, Xí nghiệp sản xuất xe đạp thì do Ty (sau này là Sở) Công nghiệp quản lý; Xí nghiệp Thương mại bán buôn, bán lẻ thì do Ty (Sở) Thương nghiệp quản lý, v.v…

    – Mỗi Xí nghiệp có một Giám đốc Xí nghiệp do Giám đốc Sở bổ nhiệm hoặc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm tuỳ theo quy mô của Xí nghiệp.

    – Mọi hoạt động của Xí nghiệp từ tuyển dụng nhân sự, kế hoạch sản xuất, mua vật tư, nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, giá bán, địa chỉ của người mua hàng…đều phải được lập kế hoạch và được cơ quan chủ quản phê duyệt.

    – Các Xí nghiệp cứ hoạt động theo kế hoạch được duyệt. Cuối năm, nếu có lãi thì nộp về Ngân sách Nhà nước sau khi đã được trích các quỹ theo chỉ tiêu được duyệt, nếu bị lỗ thì Ngân sách Nhà nước cấp bù.

    Cơ chế chủ quản tồn tại khá lâu trong lịch sử phát triển nền kinh tế nước ta và đó là cơ chế “không đội trời chung” với cơ chế thị trường. Rất may, từ năm 1986, đất nước ta đổi mới tư duy, công dân được tự do kinh doanh, kinh tế thị trường đang từng ngày được xác lập. Tuy vậy, cơ chế chủ quản vẫn chưa được xoá bỏ hoàn toàn, nó vẫn tồn tại và “biến dạng” một cách tinh vi hơn. Điều đó được chứng minh với những tư liệu được viện dẫn ngay chính trong NĐ 25.

    Các Công ty TNHH một thành viên ra đời từ NĐ 25 phải được gọi đúng tên là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên. Bởi lẽ, Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ của những công ty đó. Cụm từ “Nhà nước một thành viên” đã được sử dụng để đặt tên cho một số DNNN trước đây. Song, trong lần chuyển đổi này, cụm từ trên đã không được sử dụng để tránh vi phạm nguyên tắc “thương mại không phân biệt đối xử” – một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO mà Việt Nam đã gia nhập. Vì “Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ” cho nên những nội dung cơ bản của “Cơ chế chủ quản” trong công tác quản trị các DNNN vẫn còn nguyên vẹn đối với các Công ty TNHH một thành viên hình thành sau chuyển đổi.Điều đó được biểu hiện ở những câu hỏi đã được đặt ra từ lâu nhưng chưa bao giờ được giải đáp đến nơi, đến chốn.

    Với các Chủ tịch công ty trong mô hình không có Hội đồng thành viên, những vấn đề phải được chủ sở hữu chấp thuận cũng được quy định tương tự tại khoản 3 Điều 27 NĐ 25.

    Những quy định nêu trên về hình thức là rất đầy đủ, thể hiện rằng, chủ sở hữu có rất nhiều quyền và có trách nhiệm rất cao. Song, trên thực tế, chủ sở hữu chỉ có một việc là “cho ý kiến” chấp thuận hay không chấp thuận đề nghị của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty. Điều đó hoàn toàn không khác gì quan hệ giữa ông Trưởng Ty (Giám đốc Sở) với ông Giám đốc Xí nghiệp trong cơ chế chủ quản trước đây.

    Chủ sở hữu một Công ty không thể là một cơ quan, tổ chức mà phải là một con người cụ thể. Quy định tại NĐ 25 cho ta thấy: tuỳ theo từng Công ty, chủ sở hữu sẽ là Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng; Chủ tịch UBND cấp tỉnh; người được Công ty mẹ hoặc SCIC giao quyền.

    Với những “chủ sở hữu” không phải là quan chức mà là đại diện của công ty mẹ hoặc SCIC thì câu hỏi đặt ra lại là: Họ có dám “cho ý kiến” không? Vốn của Công ty là vốn Nhà nước. Do dó, nếu “cho ý kiến” kịp thời nhưng gặp rủi ro, kinh doanh thua lỗ, liệu họ có tránh khỏi tội “cố ý làm trái, gây hậu quả nghiêm trọng”? Vì vậy, để chắc chắn, đến lượt mình, họ lại đi “xin ý kiến” cấp trên trước khi “cho ý kiến” với người “xin ý kiến”! Những quy trình “xin” và “cho” ý kiến nêu trên là xa lạ đối với hoạt động kinh doanh trong kinh tế thị trường. Đó là “bản nhạc của cơ chế chủ quản” đã được “soạn lời mới” trong NĐ25!

    Theo NĐ 25, tham gia quản lý điều hành Công ty TNHH một thành viên có: Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty trong mô hình không có Hội đồng thành viên. Câu hỏi được đặt ra là: Nếu do quản lý yếu kém, Công ty bị mất vốn thì ai chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào?

    Theo Luật Doanh nghiệp, chủ sở hữu sẽ là người chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất là mất hết số vốn đầu tư của mình. Song, trong Công ty TNHH nhà nước một thành viên, vốn của Công ty là vốn của Nhà nước – là tiền đóng thuế của nhân dân. Số vốn đó không thuộc sở hữu của một cá nhân nào. Do đó, những “chủ sở hữu” của Công ty chẳng có gì để mất. Khi công ty thua lỗ và mất vốn, cao lắm, các “chủ sở hữu” được yêu cầu “kiểm điểm, rút kinh nghiệm” hoặc kỷ luật hành chính. Song, ai có thể kỷ luật được một ông Chủ tịch UBND tỉnh khi ông đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ của một Chủ tịch UBND tỉnh nhưng có một số Công ty do ông làm “chủ sở hữu” bị mất vốn?

    Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty cũng sẽ vô can. Bởi lẽ, trước khi thực hiện những việc quan trọng, họ đã “xin” ý kiến chủ sở hữu và được chấp thuận. Việc không thành công là do khách quan, do năng lực có hạn và hàng nghìn lý do khác đầy sức thuyết phục! Hơn nữa, họ cũng chỉ là người được chủ sở hữu “thuê quản lý” không có hợp đồng. Căn cứ pháp lý nào để quy trách nhiệm cho họ phải bồi thường thiệt hại cho Công ty?

    Như vậy, có thể thấy, khi còn là DNNN, DN mất vốn, phá sản đã không có ai chịu trách nhiệm. Chuyển sang Công ty TNHH nhà nước một thành viên, khi công ty bị mất vốn, cũng sẽ không có ai chịu trách nhiệm. Chỉ có nhân dân – những người đóng thuế vào Ngân sách Nhà nước – là bị mất mà không biết kêu ai?

    Có thể khẳng định rằng, khi còn duy trì nguyên tắc “Nhà nước làm chủ sở hữu” của Công ty thì không có câu trả lời triệt để, hiệu quả cho những câu hỏi đã nêu. Bởi lẽ, vốn nói chung, vốn trong kinh doanh của mọi doanh nghiệp nói riêng, chỉ được bảo toàn và có hiệu quả khi có một “Chủ sở hữu” đích thực. Vì vậy, xin kiến nghị vài giải pháp trong tương lai:

    2. Để quản lý phần vốn Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân trong những trường hợp cần thiết, cần nhanh chóng đoạn tuyệt với cơ chế chủ quản với những biểu hiện tinh vi hơn hiện nay. Không thể và không nên giao cho một quan chức, công chức trong bộ máy công quyền làm “chủ sở hữu” hoặc “đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại DN”. Đó là việc làm phi kinh tế thị trường, cái nôi của nạn tham nhũng, là điều kiện để hình thành những “nhóm lợi ích” chi phối thị trường, phá vỡ kỷ cương, pháp luật.

    3. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật quản lý vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp, Luật về thuê quản lý doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tổ chức lại SCIC thành một doanh nghiệp có chức năng nhận uỷ thác đầu tư của Nhà nước để đầu tư vào các DN khác. Đồng thời, cho phép các doanh nghiệp khác trong cả nước được phép nhận uỷ thác đầu tư vốn của Nhà nước để đầu tư vào các DN, công trình, dự án nếu đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế
  • Vai Trò Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Hoạt Động Hành Chính Nhà Nước Là Như Thế Nào ?
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Của Quản Lý Hành Chính Trong Cơ Quan Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Báo Chí Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội
  • Luận Án: Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam
  • Bài Giảng Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Ts. Bùi Quang Xuân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Kiểm Toán Nhà Nước Là Gì?
  • Vai Trò Của Kiểm Toán Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế
  • Khái Niệm Chức Năng Nhà Nước? Các Loại Chức Năng Nhà Nước?
  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước?
  • Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • , Giảng viên chez Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

    Published on

    BÀI GIẢNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    1. 1. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ LỚP CAO HỌC QLNNKT TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
    2. 2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN HV CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH
    3. 3. QLNN VỀ KINH TẾ Nhà nước thực hiện tốt chức năng hỗ trợ công dân làm kinh tế, coi đó là một trong những nét đặc thù của sự đổi mới chức năng QLNN về kinh tế so với trước thời kỳ đổi mới.
    4. 4. QLNN VỀ KINH TẾ Trước đổi mới, công dân không làm kinh tế, chỉ có Nhà nước làm kinh tế. Mọi công dân đều là cán bộ công nhân viên nhà nước và xã viên HTX. Trong hoàn cảnh ấy, công dân không có nhu cầu được Nhà nước hỗ trợ lập nghiệp kinh tế.
    5. 5. QLNN VỀ KINH TẾ Ngày nay, phần lớn công dân phải tự thân vận động. Hoặc tự kinh doanh, hoặc làm thuê cho các doanh nghiệp. Những người tự kinh doanh cần sự hỗ trợ của Nhà nước. Đây là việc mà trước đổi mới không có trong quản lý nhà nước.
    6. 7. TÀI LIỆU THAM KHẢO Văn bản quy phạm pháp luật : – Các văn kiện Đại hội Đảng – Luật tổ chức Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1992. – Pháp lệnh Thanh tra, 1996. – Và các văn bản hiện hành
    7. 8. NỘI DUNG Mô tả vắn tắt nội dung của học phần: Học phần quản lý nhà nước về kinh tế nhằm đào tạo cán bộ quản lý kinh tế cao cấp, cung cấp cho học viên những kiến thức sâu, rộng có hệ thống về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế.
    8. 10. NỘI DUNG CHI TIẾT Chương 1: Tổng quản lý nhà nước về kinh tế Chương 2: Quy luật và nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế Chương 3: Các hình thức và phương pháp quản lý của nhà nước về kinh tế Chương 4: Thông tin và quyết định trong quản lý nhà nước về kinh tế Chương 5: Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo phương hướng tác động Chương 6: các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác động Chương 7: Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực chủ yếu Chương 8 : Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế Chương 9: Công chức quản lý kinh tế
    9. 11. NỘI DUNG CHI TIẾT Chương 1: Tổng quản lý nhà nước về kinh tế Chương 2: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Chương 3: Quản lý nhà nước về Kinh tế đối ngoại Chương 4: Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư Chương 5: Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo phương hướng tác động Chương 6: các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác động Chương 7: Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực chủ yếu Chương 8 : Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế Chương 9: Công chức quản lý kinh tế
    10. 12. TỔNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
    11. 13. CHƯƠNG 1: TỔNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ 1.1.Tăng trưởng, phát triển và chức năng kinh tế nhà nước 1.2. Quản lý nhà nước về kinh tế 1.3. Quản lý nhà nước về kinh tế là một khoa học
    12. 14. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ *là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
    13. 15. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ * Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình: sự tích luỹ tài sản (như vốn, lao động, và đất đai) và đầu tư những tài sản này một cách có năng suất hơn. Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng. * Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.[1]
    14. 16. 1.1.TĂNG TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG KINH TẾ NHÀ NƯỚC Triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2022, hầu hết chuyên gia, tổ chức và truyền thông quốc tế đều nhận định Việt Nam là một điểm sáng về tăng trưởng kinh tế tại Đông Nam Á trong năm nay.
    15. 17. DỰ BÁO KINH TẾ THÊ GIỚI NĂM 2022, BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ 2022
    16. 18. TĂNG TRƯỞNG GDP CỦA VIỆT NAM Ngân hàng Thụy Sỹ UBS dự báo, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6,5% vào năm 2022, đánh dấu năm thứ 4 liên tiếp vượt mốc 6%. Năm 2022, UBS dự báo GDP của Việt Nam sẽ lần đầu tiên vượt mức tăng trưởng của Trung Quốc.
    17. 19. ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
    18. 20. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống.
    19. 21. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ  Điều kiện đầu tiên là phải có sự tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định).  Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: thể hiện ở tỷ trọng các vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế… thay đổi. Trong đó tỷ trọng của vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ.
    20. 22. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ  Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo.  Trình độ tư duy, quan điểm sẽ thay đổi.  Để có thể thay đổi trình độ tư duy, quan điểm đòi hỏi phải mở cửa nền kinh tế.  Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó.
    21. 24. PHÁT TRIỂN KINH TẾ Bao gồm một loạt những thay đổi mà nhờ đó, toàn bộ hệ thống xã hội chuyển từ một điều kiện mà đa số cho là không thỏa đoáng, sang một tình hình hay một điều kiện sống được coi là “tốt hơn” cả về mặt vật chất lãn tinh thầnWB LẠC QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
    22. 25. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN 1. Khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người 2. Tự do thoát khỏi sự lệ thuộc: có khả năng lựa chọn 3. Tính tự trọng của con người
    23. 26. MỤC TIÊU CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Tăng khả năng sẵn có và mở rộng việc phân phối các loại hang hóa thiết yếu cho cuộc sống và bảo vệ cho các thành viên của xã hội 2. Tăng mức sống. Thu nhập, việc làm giao dục và chú trọng đến giá trị văn hhoa1, nhân văn 3. Mở rộng diện lựa chọn về kinh tế và xã hội
    24. 27. MỘT QUỐC GIA PHÁT TRIỂN 1. Liệu mức sống chung được năng cao hay chưa 2. Liệu tiến bộ về kinh tế có năng cao được sự tôn trọng giữa các cá nhân hay các nhóm với nhau trong một nước hay giữa các quốc gia hay các khu vực với nhau hay không? 3. Liệu tiến bộ về kinh tế có mở rộng diện lựa chọn và giúp con ngưới thoát khỏi sự lệ thuộc vaa2o bên ngoài và sự rang buộc ở bên trong với những con người và những tổ chức khác hay không, hay liệu nó chỉ đơn thuần thay thế một dạng lệ thuộc này bằng một dạng lệ thuộc khác?
    25. 28. 30 NĂM ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG LIÊN TỤC VÀ ỔN ĐỊNH
    26. 29. KÉM PHÁT TRIỂN & PHÁT TRIỂN
    27. 30. CÁC NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY 1. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mang tính thị trường thuần túy 2. Nền kinh tế thị trường phát triển 3. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mệnh lệnh 4. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mang tính thị trường 5. Nền kinh tế hỗn hợp giữa thị trường và kế hoạch hóa
    28. 31. Các nền kinh tế đang nổi lên là những nền kinh tế đang trong giai đoạn quá độ từ nền kinh tế đang phát triển thành nền kinh tế phát triển.
    29. 32. 1.NỀN KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA MANG TÍNH THỊ TRƯỜNG THUẦN TÚY
    30. 33. NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN
    31. 34. LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Một số lý luận cơ bản về kinh tế thị trườn xã hội chủ nghĩa 2. Khái niệm kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa 3. Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
    32. 35. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ KINH TẾ & QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Lập kế hoạch thất bại của thị trường 2. Lập luận về huy động và phân bổ nguồn lực 3. Lập luận về thái độ hhay tâm lý 4. Lập luận về viện trợ nước ngoài 5. Lập luận về lý thuyết hệ thống 6. Lập luận trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất xã hội chủ nghĩa
    33. 36. 1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
    34. 37. KHÁI NIỆM THEO NGHĨA RỘNG QLNNKT được thực hiện thông qua cả ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước.
    35. 38. KHÁI NIỆM THEO NGHĨA HẸP QLNNKT – hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế được thực hiện bởi cơ chế hành pháp
    36. 39. Cơ chế quản lý kinh tế * Là hệ thống những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của nên sản xuất xã hội: * Cơ chế quản lý kinh tế gồm: Hệ thống kế hoạch hóa, hệ thống đòn bẩy kinh tế và khuyến khuyến khích kinh tế * Cơ chế quản lý kinh tế là công cụ, thông qua đó Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân
    37. 40. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ 1. QLNNKT là quản lý vĩ mô nền kinh tế 2. QLNNKT mang tính quyền lực Nhà nước 3. QLNNKT nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế – xã hội là chính
    38. 41. 3. QLNN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP LÀ KHÂU CƠ BẢN TRONG QLNNKT Là quản lý vĩ mô, quản lý bằng quyền lực Nhà nước và quản lý nhằm mục tiêu kinh tế – xã hội của quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường XHCN, doanh nghiệp Nhà nước đang đóng vai trò chủ đạo Nhận thức rõ khâu cơ bản trong QLNNKT có ý nghĩa lý luận sâu sắc. Một mặt, khẳng định được định hướng trong cải cách kinh tế, mặt khác, khẳng định phải cải cách đồng bộ xoay quanh khâu trung tâm đó Vấn đề cuối cùng là quản lý nhà nước có làm sống động các doanh nghiệp hay kho6g, nơi sản sinh ra của cải xã hội
    39. 42. 4. THỰC CHẤT VÀ BẢN CHẤT CỦA QLNNKT TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
    40. 43. 4.1. THỰC CHẤT Thực hất của quản lý kinh ết nói chung là quản lý con người, hoạt động kinh tế và thông qua con người để thực hiện mọi nhiệm vụ và đặt các mục tiêu đặt ra cho các hệ thống kinh tế QLNNKT là một dạng của quản lý kinh tế QLNNKT thực chất không phân biệt đó là quản lý nhà nước tư bản hay XHCN
    41. 44. 4.2. BẢN CHẤT Nếu thực chất của trả lời câu hỏi, làm gì? Ai làm? Làm ở đ6u và làm như thế nào? Thì bản chất của quản lý trả lời câu hỏi làm cái đó cho ai và vì ai: Về bản chất của quản lý kinh tế XHCN và TBCN không phải là một, về đại thể, quản lý kinh tế tư bản vì một nhóm nhỏ những người giàu. Quản lý kinh tế XHCN vì đại bộ phận nhân dân lao động, vì xóa đói giảm nghèo vì mục tiêu phát triển, cơ sở của bản chất này của quản lly1 kinh tế XHCN là quyền lực chính tr5i và quyền lực kinhh tế thuộc về nhân dân. Bản chất của quản lý kinh tế là phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, giai cấp nắm chính quyền
    42. 45. 1.3. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ LÀ MỘT KHOA HỌC TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
    43. 46. 1.3. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Quản lý nhà nước về kinh tế TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI
    44. 47. I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN HV CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH
    45. 48. CHÚNG TA CÙNG CHIA SẺ… Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?
    46. 49. KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân  Nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
    47. 50. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)
    48. 51. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ VỪA LÀ MỘT KHOA HỌC VỪA LÀ NGHỆ THUẬT, NGHỀ NGHIỆP Quản lý nhà nước về kinh tế
    49. 52. KHOA HỌC Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội. http://s1.downloadmienphi.net/file/downloadfile8/214/1368107.pdf
    50. 53. ĐỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC MANG TÍNH KHOA HỌC CẦN 1. Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của nhà nước về kinh tế. 2. Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của nhà nước trên thế giới. 3. Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế. 4. Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – Kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý
    51. 54. NGHỆ THUẬT Là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… Của bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước.
    52. 55. NGHỆ THUẬT Là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… Của bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước.
    53. 56. NGHỆ THUẬT  Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lý
    54. 57. NGHỀ  Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.  Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.
    55. 58. I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN HV CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH
    56. 59. 5.1. TÍNH KHOA HỌC CỦA QLNNKT Hoạt động quản lý của nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của cơ quan nhà nước hay cá nhân nào ? Mà phải dựa trên nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn kinh nghiệm
    57. 60. ĐỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC MANG TÍNH KHOA HỌC Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để ra nguyên lý cho lĩnh vực khạt động QLNNKT Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế giới Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan của các quá trình kinh tế Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không giới hạn ở mắt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tínhđếm mặt xã hội và tâm lý.
    58. 61. 5.2. TÍNH NGHỆ THUẬT CỦA QLNNKT Thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học Bản thân khoa học không thể đưa ra câu trả lời cho hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế Còn vận dụng vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của nhà quản lý kinh té
    59. 62. 4. CHỨC NĂNG QLNNKT Chức năng QLNNKT là một nội dung hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực quản lý nền kinh tế, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà nhà nước phải thực hiện để quản lý nền kinh tế quốc dân
    60. 63. CÁCH TIẾP CẬN THEO CÁC GIAI ĐOẠN 1. Chức năng định ướng nền kinh tế 2. Chức năng tổ chức xã hội 3. Chức năngđiều hành nền kinh tế 4. Chức năng điều chỉnh nền kinh tế
    61. 64. CÁCH TIẾP CẬN THEO PHƯƠNG HƯỚNG TÁC ĐỘNG 1. Tạo môi trường và điều kiện cho sản xuất kinh doanh 2. Dẫn dặt và hỗ trợ sự phát triển 3. Bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội 4. Quản lý doanh nghiệp nhà nước
    62. 65. TIẾP CẬN THEO YẾU TỐ & LĨNH VỰC 1. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ’quản lý trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại 2. Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường 3. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực
    63. 66. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 1. Tại sao phải nghiên cứu vấn đề phát triển trong nghiên cứu QLNNKT ? Khái niệm mới về phát triển kinh tế có nội dung gì? Nội dung này khác với khái niệm cũ ở chỗ nào? Ý nghĩa của nó trong QLNNKT 2. Phân tích những luận cứ để khẳng định vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế? Bạn thiên về luận cứ nào? 3. Theo bạn, một khoa học hoàn chỉnh về QLNNKT có thể và có nên xây dựng không?
    64. 67. BÀI TẬP Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?
    65. 68. HỆ THỐNG ÔN TẬP MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN HV CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH
    66. 69. CÂU 1 * Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp ? Để quản lý Nhà nước phải dùng phương pháp nào, các phương pháp này trong các chế độ xã hội khác nhau có gì giống và khác nhau ? Vì sao ?
    67. 70. CÂU 2 Nguyền tắc quân lý Nhà nưồc về kinh tế là gì? Phân tích mối quan hệ giữa quy luật kinh tế và các nguyên tắc quàn lý kỉnh tế.
    68. 71. CÂU 3 Các phương pháp quản lý Nhà nước về kinh tế là gì? Phương pháp nào là quan trọng nhất? Vì sao?
    69. 72. CÂU 4 Thông tin trong quản lý kinh tế của Nhà nước là gì? Vai trò của nó và phương hướng hoàn thiện hệ thống thông tin trong giai đoạn tới.
    70. 73. CÂU 5 Khu vực công ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả không? Nêu thí dụ?
    71. 74. CÂU 6 Trình, bày chức năng định, hưởng phát triển kinh tế trong quản lý Nhá nước về kinh tế?
    72. 75. CÂU 7 Phân tích vai trò của khoa học và công nghệ trong sự phát triển kinh, tế và cho biết những nội dung cơ bản về đổi mối cơ chế quản lý khoa học và công nghệ của Nhà nước ta hiện nay.
    73. 76. CÂU 8 Hãy nêu một số nét về mục tiêu và phựơng hướng cơ bản của việc cải cách tổ chức và quản lý “bộ máy hành chính Nhà nước” ta hiện nay
    74. 77. CÂU 9 Khái niệm công chức quản lý kinh tế ? Vì sao phải nghiên cứu phân loại công chức? Công chức quản lý kinh tế dược phân loại như thế nào?
    75. 78. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TS. BÙI QUANG XUÂN ĐH CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Ôn Tập Lý Luận Nhà Nước
  • Từ Nhà Nước Điều Hành Sang Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển ¬¬
  • Mô Hình Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển
  • Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển
  • Xây Dựng Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển Ở Việt Nam
  • Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Đoàn Bảo Vệ Người Lao Động Như Thế Nào?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam
  • Chức Năng Của Công Đoàn Việt Nam
  • Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng Của Công Đoàn Việt Nam
  • Tổ Chức Công Đoàn Và Công Nhân Lao Động Đóng Góp Rất Quan Trọng Đối Với Sự Phát Triển Của Tỉnh
  • Trình bày các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước. Liên hệ thực tiễn để nêu lên những hạn chế trong việc thực hiện các chức năng trên của Nhà nước ta hiện nay. Trả lời: 1.Trình bày các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước: Có 4 chức năng cơ bản, đó là: Định hướng cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế Định hướng cho sự vận động .là gì? Vì sao Nhà nước phải thực hiện chức năng định hướng .? Nhà nước làm gì để thực hiện sự định hướng .? Điều chỉnh, điều tiết hoạt động của nền kinh tế Điều tiết, điều chỉnh .là thế nào? Vì sao Nhà nước phải thực hiện sự điều chỉnh, điều tiết .? Nhà nước làm gì đẻ thực hiện sự điều tiết .?

    Câu 5: Trình bày các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước. Liên hệ thực tiễn để nêu lên những hạn chế trong việc thực hiện các chức năng trên của Nhà nước ta hiện nay. Trả lời: 1.Trình bày các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước: Có 4 chức năng cơ bản, đó là: Định hướng cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế Định hướng cho sự vận động …..là gì? Vì sao Nhà nước phải thực hiện chức năng định hướng …? Nhà nước làm gì để thực hiện sự định hướng …? Điều chỉnh, điều tiết hoạt động của nền kinh tế Điều tiết, điều chỉnh …là thế nào? Vì sao Nhà nước phải thực hiện sự điều chỉnh, điều tiết…? Nhà nước làm gì đẻ thực hiện sự điều tiết…? Tạo lập môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế: Môi trường cho hoạt động nền kinh tế là gì? Vì sao phải ….? Nhà nước làm gì để tạo lập mội trường…? Kiêm tra, kiểm soát hoạt động kinh tế: Kiểm tra…..là gì? Vì sao phải kiểm tra… Nội dung kiểm tra, ….? 2. Liên hệ thực tiễn để nêu lên những hạn chế trong việc thực hiện các chức năng trên của Nhà nước ta hiện nay. (Học sinh tự liên hệ để tìm ra những hạn chế trong việc thực hiện từng chức năng nói trên trong công tác quản lý kinh tế của nhà nước ta)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề 1: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Quản Lý Nhà Nước Là Gì? Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100