Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Thích Ứng Với Hội Nhập Quốc Tế Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Tăng Cường Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khu Vực Kinh Tế Phi Chính Thức
  • Một Số Vấn Đề Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế
  • Nhận Vệ Sinh Pin Mặt Trời Trọn Gói Cho Nhà Máy Điện Mặt Trời
  • Cách Để Vệ Sinh Các Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời
  • Những năm qua, cùng với việc nỗ lực đổi mới trong việc hoạch định những dự thảo quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch mạng lưới các cơ sở y tế; các đề án, chương trình phát triển y tế, cải cách hành chính và phân cấp quản lý, xã hội hoá trong lĩnh vực y tế ở địa phương trình UBND tỉnh phê duyệt, Sở Y tế luôn chú trọng công tác xây dựng và nâng cao quản lý Nhà nước về y tế bằng pháp luật; chú ý việc hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các luật, nghị định, thông tư, trong đó có nhiều luật quan trọng như: Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Pháp lệnh ATVSTP, Luật BHYT… Đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra y tế; thực hiện xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các vấn đề khác về y tế sau khi được UBND tỉnh phê duyệt; tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của ngành.

    Trong lĩnh vực y tế dự phòng, công tác phòng, chống dịch bệnh được ngành Y tế tỉnh triển khai ngay từ đầu năm và có hiệu quả trên các hoạt động phòng, chống dịch, đặc biệt là phòng, chống dịch cúm gia cầm, dịch sốt xuất huyết, dịch viêm não Nhật Bản, cúm A H7N9, sởi, bệnh tay – chân – miệng và các bệnh có vắc-xin phòng ngừa; khống chế không để dịch lớn xảy ra và tử vong do dịch. Qua công tác giám sát trong 6 tháng đầu năm, đã phát hiện 26 ca bệnh tay – chân – miệng tại 7 huyện; 2 ca viêm não vi-rút; 9 ca mắc ho gà tại 7 huyện; 5 ca sốt phát ban dạng sởi tại 3 huyện. Hiện tại tình hình dịch bệnh vẫn trong tầm kiểm soát, chưa có diễn biến bất thường. Ngành đã tổ chức tiêm vét vắc-xin phòng sởi – rubella đợt III cho trẻ từ 10-14 tuổi; kết quả tiêm đợt III đạt 99,09%, ghi nhận 170 trường hợp phản ứng nhẹ sau tiêm, không có tai biến xảy ra. Trong tháng 6-2015 ngành Y tế tỉnh đã chủ động triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh gây hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi-rút corona (MERS-CoV). Trong đó đã kiện toàn Ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh của ngành Y tế; phân công nhiệm vụ các thành viên xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch hành động của ngành Y tế trong phòng, chống dịch bệnh MERS-CoV; tổ chức tập huấn hướng dẫn công tác giám sát, phòng, chống và điều trị dịch bệnh MERS-CoV cho cán bộ y tế từ tỉnh đến cơ sở; tăng cường công tác giám sát phát hiện ca bệnh đầu tiên để có kế hoạch chống dịch và điều trị cách ly… Công tác vệ sinh môi trường từng bước được cải thiện, ước tính tỷ lệ người sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 86,3%, tỷ lệ hộ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh ước đạt 72,4%, trong đó vùng nông thôn đạt tỷ lệ 70,5%.

    Xét nghiệm sinh hóa phục vụ công tác khám, chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh tại Trung tâm Y tế huyện Hải Hậu.

    Trong công tác khám, chữa bệnh (KCB), ngành Y tế tỉnh tiếp tục triển khai kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 22-12-2011 của Ban TVTU về nâng cao chất lượng công tác KCB cho nhân dân. Các bệnh viện triển khai công tác KCB theo nhiệm vụ, thực hiện nghiêm quy chế chuyên môn, quy tắc ứng xử, tăng cường giáo dục y đức cho cán bộ, nhân viên. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 09 của Bộ trưởng Bộ Y tế về tăng cường tiếp nhận và xử lý ý kiến phản ánh của người dân về chất lượng dịch vụ KCB thông qua đường dây nóng. Đảm bảo công tác KCB cho nhân dân trước, trong và sau các đợt nghỉ lễ dài ngày; bố trí các kíp trực 24/24 giờ, thu dung điều trị bệnh nhân trong dịp nghỉ lễ, tết kịp thời. Công tác chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học, thực hiện xã hội hoá tại các bệnh viện phát triển tốt. Kết hợp y học hiện đại, y học cổ truyền trong KCB để bảo đảm tỷ lệ KCB bằng YHCT/tổng số KCB chung đạt 12-15% đối với tuyến tỉnh, huyện; trên 20% đối với tuyến xã. Ngoài ra, đối với các hoạt động chuyên ngành khác, ngành Y tế tiếp tục hướng dẫn các đơn vị thực hiện kế hoạch xây dựng xã, phường đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Thực hiện tốt công tác truyền thông giáo dục sức khỏe phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và hoạt động y tế cơ sở. Triển khai kế hoạch thanh tra trên các lĩnh vực mục tiêu hoạt động của ngành, hoàn thành chương trình công tác thanh tra đã được phê duyệt và các cuộc thanh tra đột xuất nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của các đơn vị trong ngành đúng luật.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển sự nghiệp y tế của ngành trong thời gian qua vẫn còn một số tồn tại: Việc ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ y học tiên tiến, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin trong công tác quản lý điều hành, khám, chẩn đoán, điều trị tại một số bệnh viện, khối y tế dự phòng, chuyên khoa còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công việc, chất lượng các dịch vụ y tế. Công tác tuyển dụng, đào tạo mới, đào tạo lại nguồn nhân lực chưa đáp ứng cơ cấu chủng loại và nhu cầu thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị, nhất là tuyển dụng bác sĩ bổ sung cho các tuyến còn khó khăn. Mô hình y tế cơ sở hiện nay tuy đã thực hiện tốt nhiệm vụ y tế dự phòng, KCB và chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhưng trong công tác phòng, chống dịch bệnh, xây dựng và duy trì xã đạt chuẩn quốc gia về y tế thì một số đơn vị tuyến huyện sự phối kết hợp giữa các đơn vị chưa thực sự cao. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên còn cao, tỷ số giới tính khi sinh còn ở nhóm cao trong cả nước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chưa đạt chỉ tiêu đề ra. Nhận thức về chăm sóc sức khỏe của người dân vẫn còn hạn chế, một bộ phận dân cư chưa thay đổi những hành vi, phong tục, tập quán có hại cho sức khoẻ. Để khắc phục tồn tại, thời gian tới, ngành Y tế tỉnh tập trung các giải pháp khắc phục nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực y tế, trọng tâm là công tác y tế dự phòng và phòng, chống dịch. Tập trung lãnh đạo thực hiện đạt và vượt nhiệm vụ, chỉ tiêu chuyên môn của 4 Chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án phòng, chống một số bệnh có tính chất nguy hiểm đối với cộng đồng. Quán triệt và thực hiện các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, cụ thể hoá thành các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu hoạt động phù hợp với xu hướng phát triển của ngành, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Nâng cao năng lực quản lý điều hành, quản lý kinh tế y tế trên cơ sở thực hiện tốt quy chế dân chủ, các quy chế chuyên môn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức đào tạo và đào tạo lại, tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý y tế cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các đơn vị, chú trọng y tế cơ sở. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động trên các lĩnh vực y tế như việc thực hiện các quy chế chuyên môn, các chế độ chính sách, công tác dược, các Chương trình mục tiêu quốc gia, quản lý hành nghề y dược tư nhân…; những chủ trương, chính sách lớn trong quá trình triển khai thực hiện, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá từng giai đoạn để rút ra các bài học kinh nghiệm thực tiễn điều chỉnh, bổ sung công tác quản lý và điều hành./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Thức Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Chuyên Đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Tại Bộ Thương Mại
  • Bốn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Ở Bộ Chqs Tp Hải Phòng
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Các Cơ Quan Nhà Nước Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam ? Nguyên Tắc Quản Lý Kinh Tế Nhà Nước ?
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Cấp Tỉnh Gắn Với Phát Triển Kinh Tế Tại Bắc Kạn
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Tổng Quan Về Chức Năng Quản Trị Hàng Tồn Kho Trong Phần Mềm 3S Erp
  • Cách Quản Lý Hàng Tồn Kho Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Ngày đăng: 11/10/2013 10:51

    Đổi mới quản lý nhà nước là hoạt động thường xuyên, lâu dài của mỗi quốc gia để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng. Là một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam không chỉ cần tích cực, khẩn trương trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế, mà quan trọng hơn là phải đổi mới sâu sắc cả về tư duy lẫn phương pháp thực hiện. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Đại hội Đảng X đã xác định nội dung nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước là một trong ba nội dung chủ yếu để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để góp phần xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển, bài viết này đề cập một số vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.

    1. Đổi mới về tư duy quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu chủ yếu của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX01: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vai trò điều hành của Chính phủ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường; được xác định như một trọng tài để điều khiển và giám sát sự phát triển của nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ cần bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện công bằng cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển.

    Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay Chính phủ vừa giữ vai trò là “trọng tài”, vừa tham gia vào nền kinh tế khi thực hiện chức năng đầu tư vốn và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các chủ thể kinh tế nhà nước. Chính vì vậy, để quản lý kinh tế có hiệu quả, phát huy tối đa các nguồn lực trong xã hội, Chính phủ cần đổi mới tư duy quản lý kinh tế, chuyển dần chức năng “làm kinh tế” sang thực hiện tốt vai trò là “trọng tài” trong nền kinh tế; theo đó, cần tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau:

    Một là, tập trung hoàn thiện hệ thống các thị trường riêng đầy đủ, đồng bộ và công khai, bao gồm: thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường đất đai bất động sản; thị trường vốn, tài chính; thị trường khoa học và công nghệ; thị trường lao động, tạo “sân chơi” bình đẳng cho các thành phần kinh tế tham gia, xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu.

    Hai là, xác định rõ “vai trò chủ đạo” đối với các chủ thể kinh tế nhà nước, cụ thể là: Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo về kinh tế trong các ngành, lĩnh vực then chốt nào?, quy mô và phạm vi đến đâu?, bảo đảm tính chi phối thị trường ở mức độ nào?, hiệu quả kinh tế và xã hội do các chủ thể kinh tế nhà nước đem lại được đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu nào?

    Ba là, đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế thông qua việc giảm tối đa các can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Thay vào đó, cần tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô, điều tiết nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hoạch định chính sách để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường.

    2. Đổi mới phương pháp thực hiện quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Trong nền kinh tế thị trường nói chung, vai trò điều hành của chính phủ các nước, với tư cách là một chủ thể quản lý nền kinh tế, luôn được xác định là yếu tố đặc biệt quan trọng và không thể thiếu, nhưng có sự khác nhau về phương thức, hình thức, mức độ tác động, can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nền kinh tế.

    Đối với nước ta, trong thời gian qua, Chính phủ đã chủ động, tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính. Theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Chính phủ tập trung vào 4 nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.

    Nhìn chung, kết quả của công cuộc cải cách hành chính của Chính phủ đã có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam, thể hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh doanh nghiệp tăng 4 hạng so sánh giữa năm 2007 với năm 2004. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế của Việt Nam năm 2007 không những không được cải thiện mà còn bị tụt giảm 4 hạng so với 2006. Theo đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 68 trong số 131 nền kinh tế được xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (điểm xếp hạng giao động trong khoảng 4,04-4,09).

    Từ thực tế nêu trên, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Chính phủ. Mục tiêu của quá trình này là nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế. Muốn vậy, bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, Chính phủ cần đổi mới trong việc thực hiện chức năng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội để làm tốt vai trò là chủ thể dẫn dắt và định hướng phát triển nền kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng này, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

    – Một là, xử lý đúng mối quan hệ giữa thị trường và kế hoạch để giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Sự khác biệt chủ yếu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tự do chính là ở chỗ có sự kết hợp “hợp lý” giữa thị trường và kế hoạch. Trong khi tôn trọng đầy đủ vai trò của thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực và điều tiết các hoạt động kinh tế mang tính kinh doanh, Chính phủ cần có chiến lược, kế hoạch để mở rộng và phát triển thị trường; ưu tiên đẩy mạnh quan hệ quốc tế; định hướng lộ trình và các chính sách cụ thể để thực hiện có hiệu quả.

    – Hai là, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, thiết lập, phát triển và mở rộng các mối quan hệ quốc tế trên cơ sở các hiệp định kinh tế song phương và đa phương giữa Việt Nam với các nước, khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế. Đây là tiền đề để tạo điều kiện, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra các thị trường nước ngoài, tham gia vào hệ thống sản xuất, kinh doanh, phân phối toàn cầu của nền kinh tế thế giới.

    – Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, ngoài các bộ thuộc khối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, nội chính mà nước nào cũng có thì các bộ thuộc khối kinh tế cần được tổ chức, sắp xếp lại vừa thích hợp với thực tế Việt Nam, vừa có sự tương thích với các nước đối tác để phù hợp với điều kiện hội nhập.

    – Bốn là, tăng cường các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, cải thiện sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, bảo đảm các số liệu về thông tin kinh tế được thu thập đầy đủ và có chất lượng để phục vụ quá trình ra quyết định, tăng khả năng phản ứng nhanh và nhất quán của Chính phủ với các điều kiện kinh tế thay đổi.

    3. Hoàn thiện đồng bộ các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả

    Theo Báo cáo đánh giá của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng khá nhanh, năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội về cơ bản đã được hoàn thành. Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ ra những vấn đề còn yếu kém, hạn chế như: sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế; bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức đổi mới chậm; quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Để từng bước khắc phục các điểm hạn chế, yếu kém trên, trong thời gian tới Chính phủ cần thiết lập và hoàn thiện các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả như sau:

    – Thứ nhất là hệ thống thông tin kinh tế. Thế kỷ XXI là thế kỷ của thông tin, trong đó, thông tin kinh tế chính xác, kịp thời và đầy đủ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Mỗi quyết định của nhà quản lý kinh tế và nhà quản lý doanh nghiệp đều đòi hỏi những thông tin kinh tế hiệu quả, bảo đảm cho việc hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước cũng như trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính khả thi cao.

    Để có được những thông tin kinh tế hiệu quả đối với mỗi quốc gia, không có một cơ quan hay một tổ chức đơn lẻ nào có thể làm thay vai trò của Chính phủ trong việc xây dựng và tổ chức quản lý mạng lưới hệ thống thông tin kinh tế, bảo đảm các thông tin kinh tế trong và ngoài nước được cập nhật nhanh, chính xác, kịp thời và đầy đủ. Việc quản lý cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế cần được thực hiện tập trung, thống nhất bởi một cơ quan của Chính phủ. Theo đó, để bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin kinh tế theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân, Chính phủ cần ban hành quy chế quản lý, sử dụng và khai thác thông tin kinh tế một cách công khai, minh bạch và hiệu quả.

    – Thứ hai là hệ thống dự báo, cảnh báo, bao gồm: hệ thống các cơ quan dự báo, cảnh báo; các nguyên tắc, phương pháp dự báo, cảnh báo tiên tiến và hệ thống các chỉ tiêu phục vụ công tác dự báo, cảnh báo các biến động của nền kinh tế, để giúp Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chính sách kinh tế cho phù hợp với tình hình kinh tế trong nước, khu vực và thế giới.

    – Thứ ba là hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ, bao gồm: hệ thống các cơ quan đánh giá và hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý – điều hành của Chính phủ, nhằm phân tích và phản biện các chính sách của Nhà nước trong quá trình quản lý và điều hành nền kinh tế. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, hệ thống các cơ quan này được bảo đảm với cơ chế hoạt động độc lập, khách quan, không bị chi phối, tác động bởi các cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ; kết quả đánh giá của các cơ quan này rất được Chính phủ các nước quan tâm và lắng nghe.

    Hiện nay, hàng năm tổ chức Ngân hàng thế giới có báo cáo về các chỉ dẫn quản lý – điều hành thế giới theo 6 chỉ dẫn tổng hợp: (1) ổn định chính trị/không có bạo lực, (2) hiệu quả hoạt động của chính phủ, (3) chất lượng của luật pháp, (4) thực thi pháp luật, (5) kiểm soát tham nhũng và (6) tiếng nói và trách nhiệm. Đây là các nội dung cần được quan tâm trong việc hoàn thiện hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ.

    – Thứ tư là hệ thống sáng tạo. Đây là cách thức để Chính phủ các nước khuyến khích việc đề xuất các ý tưởng có tính sáng tạo, cải cách, đột phá trong quản lý nhà nước về kinh tế; đồng thời, tạo điều kiện cho các ý tưởng này được ươm tạo, thử nghiệm, áp dụng thí điểm, để làm cơ sở cho quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế trên phạm vi rộng.

    ThS. Vũ Hải Nam – Chuyên viên Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ / Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 7/2009

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Hoạt Động Hành Chính Nhà Nước Là Như Thế Nào ?
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Của Quản Lý Hành Chính Trong Cơ Quan Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Báo Chí Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội
  • Luận Án: Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Vai Trò Của Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Trong Hoạt Động Báo Chí
  • Cần Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế, Khám Chữa Bệnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế
  • Giải Pháp Ứng Dụng Công Nghệ Rfid Vào Quản Lý Kho May Mặc
  • Tổng Quan Về Giải Pháp Quản Lý Log Tập Trung Siem
  • Hệ Thống Siem Là Gì? Và Lợi Ích Của Giải Pháp Siem
  • Nam Trường Sơn Hà Nội
  • Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về y tế, khám chữa bệnh

    Chiều 12-9, đồng chí Nguyễn Mạnh Hà, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố chủ trì buổi làm việc với Phòng Y tế và Trung tâm y tế thành phố về công tác quản lý nhà nước lĩnh vực y tế, khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, quản lý cơ sở hành nghề y dược tư nhân cùng một số nội dung quan trọng khác.

    Đồng chí Nguyễn Mạnh Hà, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố phát biểu chỉ đạo hội nghị.

    Hiện trên địa bàn thành phố có Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí thuộc tuyến trung ương do Bộ y tế quản lý; Trung tâm y tế ngành Than khu vực Vàng Danh do Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam quản lý; Trung tâm y tế thành phố thuộc Sở Y tế; phòng y tế thuộc UBND thành phố; 11 trạm y tế xã, phường; 100 cơ sở y tế tư nhân; 1 hội đông y; 39 phòng y tế học đường; 7 trạm y tế doanh nghiệp.

    Lãnh đạo Phòng y tế thành phố báo cáo tại hội nghị.

    Thời gian qua, Phòng Y tế đã chủ trì phối hợp tuyên truyền, kiểm tra liên ngành, chuyên ngành an toàn thực phẩm trên 1.000 cơ sở, phát hiện 233 trường hợp vi phạm, xử lý, phạt tiền trên 125 triệu đồng.

    Công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe cộng đồng, phòng chống các loại dịch bệnh nguy hiểm trên người được thực hiện tốt, không để xảy ra dịch nguy hiểm. Các tuyến y tế thường trực cấp cứu và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân. 9 tháng đầu năm, thành phố có trên 350.000 lượt bệnh nhân khám chữa bệnh, trong đó khám chữa tại các trạm y tế xã, phường đạt trên 21.600 lượt. Tại 11 trạm y tế cấp xã đã có hệ thống xử lý nước thải, tỷ lệ chất thải rắn được xử lý đạt 100%.

    Lãnh đạo Trung tâm y tế thành phố báo cáo tại hội nghị.

    Còn theo báo cáo từ Trung tâm y tế thành phố, hiện cơ sở vật chất của đơn vị còn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, khám chữa bệnh cho nhân dân. Trung tâm đang sử dụng nhà 3 tầng diện tích 2.200m2 làm trụ sở làm việc kết hợp phòng khám chữa bệnh. Cơ sở này đã xây dựng, nâng cấp từ các năm 1995 và 2008. Năm 2022, UBND thành phố đã có chủ trương di chuyển, đầu tư trụ sở Trung tâm y tế mới theo hình thức BT. Tháng 6-2018, UBND tỉnh có công văn về chủ trương đầu tư dự án trụ sở Trung tâm y tế thành phố mới theo hình thức đối tác công tư PPP, hợp đồng BT. Trung tâm đã xây dựng nhu cầu đầu tư cho tư vấn quy hoạch.

    Trong công tác phối hợp với các phòng, ban, Trung tâm y tế thành phố đã ký quy chế phối hợp với phòng y tế về chỉ đạo các hoạt động chuyên môn, trực tiếp ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT tại xã, phường; chỉ đạo các trạm y tế thực hiện đúng chính sách khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cho nhân dân; phối hợp triển khai phần mềm quản lý sức khỏe toàn dân. Đồng thời phối hợp thực hiện quy hoạch, nâng cấp mở rộng trụ sở đảm bảo trật tự đô thị, môi trường; thực hiện các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, đảm bảo ATTP, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống bệnh phong, lao; chăm sóc trẻ em, người tàn tật…

    Quang cảnh hội nghị.

    Phát biểu kết luận, đồng chí Nguyễn Mạnh Hà, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố đề nghị Phòng y tế, Trung tâm y tế thành phố tiếp tục quan tâm, triển khai tốt công tác quản lý nhà nước về y tế, công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, quản lý cơ sở hành nghề y dược tư nhân; nâng cấp cơ sở vật chất, tăng hiệu quả phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, xây dựng mạng lưới y tế chuẩn mực phục vụ nhân dân trong và ngoài khu vực.

    Thời gian tới, phòng y tế cần kiện toàn bộ máy; Trạm y tế xã, phường kiện toàn đủ cấp trưởng, nhân viên, phân công, phân nhiệm đúng theo chuyên ngành. Ngành y tế cần tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh y đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, y bác sỹ.

    Tiếp đó, UBND thành phố cũng đã làm việc với Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí.

    Hồng Hoàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chú Trọng Công Tác Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Top Giải Pháp: Quà Tặng Doanh Nghiệp Cuối Năm Ý Nghĩa Nhất
  • Giải Pháp Quà Tặng Khách Hàng Cuối Năm Giá Rẻ Độc Đáo Nhiều Ý Nghĩa
  • Phòng Chống Tội Phạm Là Nhiệm Vụ Chính Trị, Thường Xuyên Liên Tục
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục
  • Các Phương Pháp Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Ứng Dụng Công Nghệ Rfid Vào Quản Lý Kho May Mặc
  • Tổng Quan Về Giải Pháp Quản Lý Log Tập Trung Siem
  • Hệ Thống Siem Là Gì? Và Lợi Ích Của Giải Pháp Siem
  • Nam Trường Sơn Hà Nội
  • Lợi Ích Của Một Hệ Thống Giám Sát An Ninh Mạng – Siem
  • 5

    /

    5

    (

    4

    bình chọn

    )

    Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước với tư cách là tổng thể các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế

    Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý vĩ mô nền kinh tế

    Nhiệm vụ chủ yếu quản lý vĩ mô nền kinh tế là đảm bảo cân đối cơ bản trên bình diện tổng thể nền kinh tế tạo ra môi trường thuận lợi, nhiều cơ hội cho các chủ thể kinh tế trên thị trường đặc biệt là các doanh nghiệp, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân phát triển liên tục với tốc độ cao và lành mạnh.

    Chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước về kinh tế vĩ mô là vạch ra các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và các chính sách kinh tế đồng bộ. Trên bình diện tổng thể, Nhà nước vừa phải điều tiết vĩ mô đối với các doanh nghiệp, vừa phải phục vụ các doanh nghiệp trên nhiều mặt, thực hiện sự thống nhất hưu cơ giữa vi mô và vĩ mô.

    Quản lý nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực nhà nước

    Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý đối với hệ thống kinh tế quốc dân, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, của chính quyền đối với nền kinh tế quốc dân.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực nhà nước có nghĩa là một mặt, quản lý này lệ thuộc vào chính trị, xuất phát từ chỗ, Nhà nước là bộ phận trung tâm trong hệ thống chính trị xã hội, là công cụ đặc biệt để thực hiện quyền lực chính trị (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác và xã hội. Mặt khác, quản lý này mang tính pháp quyền và thực hiện theo nguyên tắc pháp chế.

    Quản lý nhà nước về kinh tế nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế – xã hội là chính

    Xuất phát từ hai đặc điểm trên, mục tiêu đặt ra trong quản lý nhà nước về kinh tế là mục tiêu kinh tế – xã hội, mục tiêu này được thể hiện ở mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân bền vững. Hiệu quả kinh tế – xã hội được xem như là tiêu chuẩn để đạt được mục tiêu trên.

    Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ nhận làm báo cáo thuê , hỗ trợ spss , viết luận văn bằng tiếng anh , làm tiểu luận thuê , nhận làm bài tập thuê.

    Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế

    Các phương pháp này vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.

    Tính khoa học nằm ở chỗ, các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng.

    Còn tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ, các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra.

    Quản lý kinh tế có hiệu nhất khi nhà quản lý biết lựa chọn đúng đắn phương pháp quản lý và biết kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý đó vào từng trường hợp, từng đối tượng, từng giai đoạn của nền kinh tế. Đó chính là tài nghệ quản lý của nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm: (i) Các phương pháp hành chính, (ii) Các phương pháp kinh tế, (iii) Các phương pháp giáo dục, (iv) Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản ký kinh tế của Nhà nước, (v) Nghệ thuật quản lý kinh tế của nhà nước.

    Quan tâm: Dịch vụ Thư ký luật dành cho doanh nghiệp

    Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế

    Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện mà Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của mình nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác động quản lý của Nhà nước mà Nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình đến các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế.

    Nhóm công cụ thê hiện mục tiêu quản lý

    (i) Đường lối phát triển kinh tế – xã hội

    Là khởi đầu của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước do Đảng cầm quyền của quốc gia xây dựng và thực hiện. Đó là việc xác định trước một cái đích mà nền kinh tế cần đạt đến, sau đó căn cứ vào thực trang của nền kinh tế để tìm ra lối đi, cách đi, trình tự và thời hạn tiến hành để đạt được cái đích đó;

    Đường lối phát triển kinh tế – xã hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với vận mệnh đất nước, nó được coi là công cụ hàng đầu của Nhà nước trong sự nghiệp quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Đường lối đúng sẽ đưa đất nước đến phát triển, ổn định, giàu mạnh, công bằng và văn minh. Đường lối sai sẽ đưa đất nước đi lầm đường, là tổn thất, đổ vỡ, suy thoái, là hậu quả khôn lương về mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

    (ii) Chiến lược phát triên kinh tế – xã hội

    Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là một hệ thống các quan điểm cơ bản, các mục tiêu lớn và các giải pháp chủ yếu được lựa chọn nhằm đạt được một bước đường lối phát triển kinh tế – xã hội trong một thời gian đủ dài. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là sự cụ thể hoá đường lối phát triển kinh tế – xã hội, và cũng do Đảng cầm quyền chỉ đạo và xây dựng.

    (iii) Quy hoạch phát triên kinh tế – xã hội

    Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là việc định hướng phát triển kinh tế dài hạn, trong đó xác định rõ quy mô và giới hạn cho sự phát triển. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là xác định khung vĩ mô về tổ chức không gian nhằm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình, dựa án đầu tư bảo đảm cho nền kinh tế phát triển mạnh, bền vững và có hiệu quả.

    Thực chất của quy hoạch là cụ thể hoá chiến lược về không gian và thời gian. Trên thực tế, công tác quản lý kinh tế của Nhà nước có các loại quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lãnh thổ, quy hoach ngành.

    (iv) Kế hoạch phát triên kinh tế – xã hội

    Kế hoạch là cụ thể hoá chiến lược dài hạn, gồm có kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm. Thực chất, kế hoạch là một hệ thống các mục tiêu vĩ mô cơ bản được xác định như: tốc độ phát triển nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, các cân đối lớn.. Các chỉ tiêu kế hoạch này bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực và thành phần kinh tế.

    (v) Chương trình phát triên kinh tế – xã hội

    Chương trình phát triển kinh tế – xã hội là tổng hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ, các thủ tục, các bước tiến hành, các nguồn lực và các yếu tố cần thiết để thực hiện một mục tiêu nhất định đã được xác định trong một thời kỳ nhất định. Ví dụ: chương trình cải cách nền hành chính quốc gia, chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chương trình phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc..

    Chương trình là cơ sở quan trọng để tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào việc giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch Nhà nước trong từng thời kỳ và cho phép khắc phục tình trạng tách rời giữa các nhiệm vụ của kế hoạch đã được xác định để thực hiện kế hoạch Nhà nước một cách có hiệu quả.

    Nhóm công cụ thê hiện chuân mực xử sự hành vi của các chủ thê tham gia hoạt động trong nền kinh tế

    Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật.

    Pháp luật kinh tế được hiểu là hệ thống văn bản có tính quy phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thể hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ trong nền kinh tế.

    Nhóm công cụ thê hiện tư tưởng, quan điêm của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế

    Nhóm này bao gồm: (i) Chính sách phát triển các thành phần kinh tế; (ii) Chính sách tài chính với công cụ chi tiêu của Chính phủ và chính sách thuế; (iii) Chính sách tiền tệ với công cụ kiểm soát mức cung tiền và lãi suất; (iv) Chính sách thu nhập với các công cụ giá cả và tiền lương; (v) Chính sách ngoại thương với các công cụ thuế nhập khẩu, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỉ giá hối đoái.

    Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào đối tượng quản lý

    Nhóm này bao gồm: (i) Đất đai, rừng, núi, sông hồ, các nguồn nước, thềm lục địa, (ii) Tài nguyên trong lòng đất; (iii) Dự trữ quốc gia, bảo hiểm quốc gia; (iv) Vốn và tài sản của Nhà nước trong các doanh nghiệp; (v) Các loại quỹ chuyên dùng vào công tác quản lý của Nhà nước.

    Nhóm công cụ đê sử dụng các công cụ trên

    Chủ thể sử dụng các công cụ quản lý của Nhà nước về kinh tế đã trình ở trên là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế. Đó chính là các cơ quan hành chính nhà nước, các công sở và các phương tinh kinh tế – kỹ thuật được sử dụng trong hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

    1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế, Khám Chữa Bệnh
  • Chú Trọng Công Tác Quản Lý, Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Top Giải Pháp: Quà Tặng Doanh Nghiệp Cuối Năm Ý Nghĩa Nhất
  • Giải Pháp Quà Tặng Khách Hàng Cuối Năm Giá Rẻ Độc Đáo Nhiều Ý Nghĩa
  • Phòng Chống Tội Phạm Là Nhiệm Vụ Chính Trị, Thường Xuyên Liên Tục
  • Phương Thức Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế
  • Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Thích Ứng Với Hội Nhập Quốc Tế Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Tăng Cường Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khu Vực Kinh Tế Phi Chính Thức
  • Một Số Vấn Đề Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế
  • Nhận Vệ Sinh Pin Mặt Trời Trọn Gói Cho Nhà Máy Điện Mặt Trời
  • Tuy nhiên, so với yêu cầu quản lý, vẫn chưa có luật để điều chỉnh các vấn đề: an toàn truyền máu; phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia; quản lý trang thiết bị, sức khoẻ tâm thần, phòng chống tai nạn thương tích…

    b) Xây dựng, ban hành chính sách về y tế

    “Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định”.

    Trước đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách như chính sách quốc gia về thuốc, Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá … nhưng nay lại có xu hướng chuyển sang công cụ kế hoạch. Ví dụ như Chiến lược quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2022 hay Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược… Hiện nay, chỉ còn 01 chính sách là Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2022 ban hành kèm theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

    Như vậy, ở các quốc gia khác, người ta chủ yếu sử dụng công cụ pháp luật và chính sách nhưng ở nước ta, trong lĩnh vực y tế, công cụ chính sách lại ít được sử dụng. Mặt khác, về hình thức các chính sách và chiến lược đều tương đối giống nhau nên khó phân biệt sự khác nhau giữa chính sách và chiến lược.

    c) Xây dựng, ban hành kế hoạch về y tế

    “Kế hoạch là các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và các biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định do Nhà nước đặt ra”. Hệ thống kế hoạch của Nhà nước bao gồm: Chiến lược (hệ thống các đường lối và biện pháp chủ yếu nhằm đưa hệ thống đạt đến các mục tiêu dài hạn); Quy hoạch (tổng thể các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực để thực hiện mục tiêu theo không gian và thời gian); Các kế hoạch trung hạn (thường là kế hoạch 5 năm để cụ thể hoá các mục tiêu, giải pháp được lựa chọn trong chiến lược); Các chương trình mục tiêu (được xây dựng rất phổ biến nhằm xác định đồng bộ các mục tiêu, các chính sách, các bước cần tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng để thực hiện một ý đồ lớn, một mục đích nhất định nào đó của Nhà nước. Chương trình thường gắn với ngân sách cụ thể cần thiết, có nhiều chương trình bộ phận và được giao cho những đơn vị khác nhau thực hiện); Các kế hoạch năm (cụ thể hoá nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược, vào kế hoạch trung hạn, vào kết quả nghiên cứu để điều chỉnh các căn cứ xây dựng kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch) và các dự án (nhằm triển khai, thực thi các chương trình mục tiêu).

    – Trong lĩnh vực y tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khá nhiều chiến lược như: Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030 , Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 .. Đây là các chiến lược mang tính tổng thể về ngành y tế. Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành các chiến lược riêng như Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược giai đoạn đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược về Chăm sóc sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và một số chiến lược khác. Như vậy, việc ban hành các chiến lược trên dẫn đến chồng chéo về mục tiêu, giải pháp và làm cho việc triển khai thực hiện bị phân tán.

    – Bên cạnh đó, về quy hoạch, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2022 nhưng sau đó lại chuẩn bị có thêm quy hoạch khác như Quy hoạch phát triển 5 bệnh viện tuyến Trung ương… dẫn đến tính thống nhất của hệ thống quy hoạch bị thay đổi. Mặt khác, một số địa phương cũng không tuân thủ đúng quy hoạch này làm cho quy hoạch bị ảnh hưởng.

    – Về chương trình mục tiêu quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số – Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2012-2015 , Chương trình mục tiêu y tế quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015 . Các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần tăng thêm nguồn kinh phí cho việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm về y tế mà Nhà nước cần giải quyết nhưng theo Kế hoạch cải cách tài chính công đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì dần dần Nhà nước sẽ cắt bỏ khoản chi này vì việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên thường dễ làm cho các địa phương ỷ lại vào nguồn tài chính từ Trung ương mà không chịu đầu tư cho y tế từ ngân sách của tỉnh.

    2. Nhà nước là nòng cốt, kết hợp xã hội hóa trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Hoạt động y tế là một trong những hoạt động thể hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nên Nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng cũng như thực thi các chính sách, pháp luật về y tế. Để thể hiện vai trò nòng cốt này, Nhà nước đã tập trung ngân sách trong khả năng có thể cho lĩnh vực y tế để chi cho phát triển hệ thống y tế công, trong đó có xây dựng cơ bản, trang thiết bị, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực y tế. Tuy nhiên, do ngân sách không đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành y tế nên Nhà nước đã thực hiện chủ trưởng xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động các nguồn lực của xã hội tham gia, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, tới nay, hầu hết các bệnh viện công lập sẽ được chuyển sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ, cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích, không bao cấp tràn lan và không nhằm mục đích lợi nhuận, đồng thời phát triển mạnh các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, trong đó có phát triển các bệnh viện tư nhân. Việc xã hội hóa này đã tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Rõ ràng, chủ trương này chủ yếu dựa vào các lợi ích vật chất, các đòn bảy kinh tế để dung hoà các lợi ích của đội ngũ CCVC y tế, của tập thể và của Nhà nước bằng cách xác lập cơ chế tự chủ tài chính cho các cơ sở KCB công, nâng cao chất lượng, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, phát triển y tế tư nhân, từng bước thực hiện BHYT toàn dân để thúc đẩy việc dành ngân sách y tế chi cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách. Đây là phương pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý trong lĩnh vực y tế.

    Tuy nhiên, chủ trương xã hội hóa cũng đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ như chế độ tự chủ về tài chính đã làm cho một số bệnh viện công lạm dụng kỹ thuật cận lâm sàng, giữ người bệnh… dẫn đến quá tải ở tuyến trên hay liên doanh, liên kết đặt trang thiết bị dẫn đến vấn đề đa sở hữu trong nội bộ bệnh viện, vấn đề minh bạch hóa tài chính công cũng khó xác định. Bên cạnh đó, việc tự chủ về nhân lực cũng ảnh hưởng đến cơ cấu bác sỹ với điều dưỡng viên, kỹ thuật viên. Một số bệnh viện chủ yếu tuyển dụng bác sỹ mà ít tuyển dụng điều dưỡng viên nên vấn đề chăm sóc người bệnh toàn diện cũng bị ảnh hưởng. Mặt khác, xã hội hóa cũng chỉ tập trung nhiều ở khu vực khám bệnh, chữa bệnh mà ít phát huy ở khu vực dự phòng vì lý do lợi nhuận. Một vấn đề nữa cũng được đặt ra là trong lĩnh vực y tế công, các khuyết tật xã hội nảy sinh nhiều hơn so với khu vực tư nhân như vấn đề thái độ phục vụ người bệnh, vấn đề y đức, vấn đề xây dựng cơ bản, đấu thầu thuốc…

    3. Nhà nước là người tổ chức, chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng, hiệu quả giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Nhà nước trong bất kỳ thể chế chính trị nào, hình thái tổ chức nào cũng đều là người tổ chức và chịu trách nhiệm cao nhất về chăm sóc sức khỏe cho người dân và Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, tuy theo mô hình tổ chức nhà nước, vấn đề trách nhiệm thực hiện được phân công khác nhau. Mô hình nhà nước Việt Nam là đơn nhất nên việc phân công trách nhiệm cũng khác nhau. Bộ trưởng Bộ Y tế là tư lệnh ngành nhưng không phải là người chịu trách nhiệm duy nhất về vấn đề chất lượng, hiệu quả của công tác y tế. Do đó, phải thực hiện nguyên tắc “Kết hợp quản lý nhà nước theo ngành với quản lý nhà nước theo lãnh thổ”. Xuất phát từ việc phân định chức năng khác nhau giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương.

    Chính quyền địa phương có hai tư cách:

    – Là người thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trong phạm vi địa phương của nhân dân sống và làm việc trên đơn vị hành chính – lãnh thổ, đại biểu cho quyền lợi của nhân dân ở địa phương.

    – Là một bộ phận của quyền làm chủ trên phạm vi cả nước của nhân dân sống và làm việc trên lãnh thổ, là bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia, tức là người đại diện của Nhà nước trung ương ở địa phương. Do đó, chính quyền địa phương vừa phải phục tùng vừa phải làm chủ, tính chủ động sáng tạo rất cao của chính quyền và của nhân dân ở địa phương; vừa phục tùng và bảo đảm lợi ích chung của Nhà nước, vừa bảo đảm lợi ích của địa phương; hai mặt kết hợp hài hòa trên lãnh thổ, trong cùng một thể thống nhất.

    Chức năng quản lý của Nhà nước Trung ương là quản lý toàn diện, (thẩm quyền chung của Chính phủ) hoặc ngành, lĩnh vực (thẩm quyền riêng của Bộ) trên phạm vi cả nước. Còn chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương theo thẩm quyền chung là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính – lãnh thổ. Hai loại chức năng đó không tách biệt nhau; không phải Bộ chỉ quản lý theo ngành mà không có trách nhiệm quản lý theo lãnh thổ cũng như không phải chính quyền địa phương chỉ quản lý theo lãnh thổ tách khỏi quản lý ngành.

    Trên cơ sở xác định nội dung quản lý nhà nước theo ngành, quản lý nhà nước theo lãnh thổ và phân tích chức năng quản lý nhà nước về y tế cho thấy nhất thiết phải kết hợp quản lý nhà nước theo ngành với quản lý nhà nước theo lãnh thổ. Trên cơ sở phân định rõ ràng chức năng quản lý, các quy định về phân công, phân cấp và xây dựng nội dung, mức độ quản lý theo lãnh thổ; nội dung, mức độ kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ nhằm phát huy cao độ nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả nước, của từng vùng kinh tế, từng địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích từng địa phương trong sự phát triển một cách có lợi nhất những lợi thế của địa phương. Sự kết hợp và thống nhất hai mặt quản lý chủ yếu được thể hiện:

    – Tổ chức sự điều hòa, phối hợp các hoạt động y tế trên phạm vi cả nước cũng như trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ, nhằm xây dựng và phát triển hệ thống y tế một cách đồng bộ.

    – Quản lý công việc chung, lợi ích chung của Nhà nước về sự nghiệp y tế, kết hợp hài hòa lợi ích chung cả nước và lợi ích của từng địa phương.

    – Quản lý và phục vụ tốt những tổ chức và hoạt động của các cơ quan y tế trực thuộc Bộ Y tế và các bộ, ngành khác đóng trên trên lãnh thổ để cũng chăm lo cho sức khỏe của nhân dân địa phương.

    – Song trùng trách nhiệm quản lý nhà nước giữa Bộ Y tế với UBND tỉnh.

    Sự kết hợp giữa quản lý theo ngành của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và quản lý trên đơn vị hành chính lãnh thổ của chính quyền địa phương về y tế được pháp luật quy định; các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương chấp hành không được tùy tiện, thay đổi hay làm trái.

    Tuy nhiên, vấn đề ai, tổ chức chịu trách nhiệm cao nhất nếu xảy ra những vấn đề về y tế lại cần phải bàn luận thêm như:

    – Chế độ tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật công chức, viên chức y tế

    Trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và theo phân cấp quản lý, việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật công chức, viên chức y tế đều thuộc về thẩm quyền của chính quyền địa phương, Bộ Y tế không có thẩm quyền can thiệp và khi các tiêu chuẩn, chức danh công chức, viên chức y tế do Bộ Y tế, Bộ Nội vụ ban hành mà địa phương thực hiện chưa đúng, Bộ Y tế cũng chỉ kiến nghị mà không có thẩm quyền giải quyết cụ thể.

    – Chế độ tài chính dành cho công tác y tế

    Theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện nay, các tỉnh đều được quyền phân chia ngân sách được cấp cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế… trên địa bàn tỉnh. Trong lĩnh vực y tế, để tuân thủ quy chuẩn bệnh viện, cơ sở y tế, các quy định chuyên môn, kỹ thuật y tế, ngân sách của tỉnh phải đáp ứng đầy đủ để thực hiện đúng các quy định đó. Ngoài ra, Nhà nước còn có cơ chế chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quốc tế (viện trợ, vốn vay ODA), trái phiếu Chính phủ để chi cho hệ thống y tế ngoài nguồn ngân sách nhà nước. Như vậy, rõ ràng chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm về các điều kiện kinh phí cho hoạt động y tế trên địa bàn lãnh thổ phụ trách.

    – Tổ chức thi hành pháp luật về y tế

    Với phương thức quản lý hiện nay, chính quyền địa phương được toàn quyền tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn và chịu trách nhiệm về toàn bộ các vấn đề y tế xảy ra.

    Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra, mối quan hệ phối hợp giữa Sở Y tế với UBND huyện, xã cần phải được tiến hành đồng bộ dưới gậy chỉ huy của UBND tỉnh.

    Vấn đề cơ bản là các cơ sở y tế, các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về y tế.

    – Trách nhiệm công vụ trong quản lý nhà nước về y tế

    Mô hình hệ thống tổ chức nhà nước hiện nay là phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: Các cơ sở y tế vừa trực thuộc Bộ về quản lý chuyên môn y tế, vừa trực thuộc lãnh đạo địa phương về tổ chức, nhân lực, tài chính…. Mô hình này còn được gọi là mô hình Xô viết (Bộ thì quản lý ngành dọc, địa phương quản lý ngành ngang). Song trùng trực thuộc thì chế độ trách nhiệm phải được xác lập song trùng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định trách nhiệm công vụ chưa rõ ràng, cụ thể, minh bạch nên khi có vấn đề xảy ra, việc quy trách nhiệm công vụ không dễ. “Vừa qua, quá bức xúc trước cách quản lý của một giám đốc sở, một Bộ trưởng cũng chỉ làm được một việc duy nhất là “dọa” sẽ đề nghị cách chức. Trong một mô hình như vậy, quy trách nhiệm cho Bộ trưởng không chỉ rất khó khăn, mà còn rất không công bằng” . Như vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải luật hóa trách nhiệm công vụ để quy trách nhiệm tập thể, cá nhân (Bộ trưởng, Giám đốc Sở, UBND…) một cách cụ thể, rõ ràng, minh bạch trên cơ sở giám sát của nhân dân và các cơ quan chức năng theo mô hình tổ chức nhà nước đã được Hiến định hiện nay.

    4. Quản lý theo pháp luật kết hợp thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao của nhân dân đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả của việc QLNN bằng pháp luật, góp phần đưa các hoạt động y tế vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật và phát triển ổn định. Bên cạnh việc đưa pháp luật về y tế vào cuộc sống, phải gắn thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    5. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế. a) Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế

    Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế là một biện pháp quan trọng để bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, khắc phục, phòng ngừa những vi phạm pháp luật. Kiểm tra nhằm mục đích nhắc nhở, giáo dục cho CCVC y tế tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh theo pháp luật; phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong các VBQPPL để đề nghị bổ sung, sửa đổi, phát hiện những hành vi sai lệch trong việc thực hiện pháp luật; có biện pháp uốn nắn, khắc phục và phát hiện những việc làm vi phạm pháp luật; có biện pháp xử lý nghiêm minh, kịp thời; đồng thời phát hiện những điển hình thực hiện pháp luật tốt để động viên, khen thưởng. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn những hạn chế sau đây:

    – Hiện tại, Bộ Y tế, các Sở Y tế, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế đều tổ chức kiểm tra trong phạm vi quản lý hoặc khi có sự chỉ đạo của cấp trên hoặc khi có vụ việc xảy ra do các cơ quan thông tin đại chúng cung cấp nhưng đều chưa có kế hoạch, chưa chủ động trong công tác kiểm tra nên thường bị động và mang tính đối phó.

    – Qua thực tiễn, Bộ Y tế, Sở Y tế thường tiến hành kiểm tra thực hiện pháp luật về y tế theo định kỳ 6 tháng hoặc một năm một lần và chỉ tiến hành kiểm tra đột xuất khi có vụ việc xảy ra nên công tác kiểm tra thường không bài bản, mục đích kiểm tra chưa theo chuyên đề cụ thể, chưa có quy trình kiểm tra cụ thể…

    – Việc kiểm tra hiện nay đều theo cùng một phương thức là đơn vị được kiểm tra báo cáo, sau đó các thành viên trong Đoàn kiểm tra hỏi, đi thị sát đơn vị và sau đó đưa ra nhận xét, kết luận, cũng như chưa xây dựng bảng kiểm theo từng chuyên đề kiểm tra, căn cứ vào các quy định pháp luật để đưa ra bảng hỏi và chấm điểm cụ thể nên hoạt động này còn mang tính hình thức, kết quả kiểm tra không được định lượng và không phân loại được mức độ thực thi pháp luật của các đơn vị, địa phương.

    – Việc chỉ đạo các đơn vị dưới quyền thực hiện tự kiểm tra mới chỉ được phổ biến, nhắc nhở trong các hội nghị hoặc các đợt công tác mà chưa có chỉ đạo cụ thể bằng văn bản nên việc tự kiểm tra của các đơn vị ít được quan tâm tiến hành.

    – Sau khi kiểm tra, hầu hết các điểm yếu kém chỉ bị nhắc nhở, không phát hiện được sai phạm lớn, chưa có trường hợp nào bị xử lý kỷ luật hoặc đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền XPVPHC nên công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế còn mang tính hình thức, xuê xoa, chưa thể hiện được tính nghiêm minh trong thực thi pháp luật y tế.

    – Trên cơ sở Luật Thanh tra, hệ thống thanh tra chuyên ngành về y tế đã được thiết lập ở Bộ Y tế, Sở Y tế nhưng chưa có cơ sở pháp lý cho việc thiết lập tổ chức thanh tra chuyên ngành ở tuyến huyện, xã nên việc kiểm soát ATTP, hành nghề y tế tư nhân…không được hiệu quả.

    – Hằng năm, Thanh tra Bộ Y tế, Thanh tra Sở Y tế đều có kế hoạch thanh tra, thực hiện phối hợp liên ngành trong thanh tra nhưng còn bị động, hiệu quả chưa cao, hoạt động tự thanh tra, kiểm tra trong nội bộ các cơ quan, tổ chức nhà nước chưa được chú trọng và đủ mạnh trong việc tự phòng ngừa các vi phạm pháp luật về y tế.

    – Hiện cả nước có 229 thanh tra viên và chuyên viên thanh tra y tế nên số lượng này còn quá thấp so với chức năng, nhiệm vụ được giao. Chất lượng thanh tra viên và chuyên viên thanh tra y tế cũng còn hạn chế về kỹ năng, kinh nghiệm thanh tra do 25,2% người chưa được đào tạo về nghiệp vụ thanh tra, 14,2% người mới được tập huấn nghiệp vụ thanh tra trên 1 tháng… nên đã ảnh hưởng không ít đến quá trình hoạt động và kết quả thanh tra.

    c) Xử lý vi phạm

    Việc xử lý này thực chất là bảo vệ các giá trị của pháp luật về y tế không bị vi phạm trong thực tiễn cuộc sống, giúp cho công tác QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế đạt hiệu quả cao hơn.

    Các hành vi vi phạm pháp luật gắn với từng loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như sau: Tội phạm và trách nhiệm hình sự; vi phạm pháp luật dân sự và trách nhiệm dân sự; vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính; vi phạm kỷ luật và trách nhiệm kỷ luật. Tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công nên Luận án này không nghiên cứu vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm bồi thường dân sự.

    Xử lý kỷ luật đối với CCVC là một trong những công cụ, biện pháp quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ CCVC. Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC phải bảo đảm theo đúng các hình thức kỷ luật, bảo đảm khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng thời hiệu và theo đúng các trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về CCVC.

    Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn những hạn chế sau đây:

    * Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế

    – Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế đều bảo đảm đúng thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, thủ tục XPVPHC nhưng ngoài thanh tra viên y tế, quản lý thị trường thì việc áp dụng thẩm quyền này của chủ tịch UBND các cấp, công an còn rất hạn chế.

    – Việc XPVPHC về y tế đã bảo đảm đúng hình thức và mức phạt theo quy định của pháp luật nhưng có sự nương nhẹ trong XPVPHC, chưa có sự công bằng trong XPVPHC.

    – Đa số các đối tượng bị XPVPHC trong lĩnh vực y tế đã nghiêm chỉnh chấp hành quyết định xử phạt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng cũng có trường hợp chưa tự giác chấp hành quyết định XPVPHC, việc thực hiện cưỡng chế trên thực tế cũng rất khó khăn do người vi phạm quá nghèo, nếu cưỡng chế thì chi phí để cưỡng chế lại cao hơn giá trị tài sản đó.

    * Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế

    – Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế chủ yếu căn cứ theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức nhưng vẫn còn một số đơn vị khi xử lý kỷ luật lại căn cứ thêm vào quy định 12 điều y đức do Bộ Y tế ban hành hoặc theo Nghị quyết Đại hội CNVC của đơn vị.

    – Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế nhìn chung đều đúng thẩm quyền nhưng vẫn còn một số đơn vị khi xem xét kỷ luật đã để kéo dài quá lâu nên có một số vụ việc bị hết thời hiệu kỷ luật hoặc có một số bộ phận khoa, phòng trong đơn vị khi phát hiện vi phạm chế độ kỷ luật đã tự giải quyết nội bộ sai với thẩm quyền quy định.

    – Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC vi phạm pháp luật về y tế đều bảo đảm nguyên tắc, trình tự thủ tục nhưng có một số đơn vị ghi biên bản kỷ luật lại sơ sài, đơn giản, không ghi rõ hành vi sai phạm tương xứng với hình thức kỷ luật nên đã có trường hợp kiện ngược sau khi đã quyết định kỷ luật.

    – Các hành vi vi phạm kỷ luật chủ yếu là gây mất đoàn kết nội bộ kéo dài trong đơn vị, sa sút về phẩm chất đạo đức, y đức, thoái hoá biến chất, nghiện ma túy; thu tiền người bệnh sai nguyên tắc tài chính; vi phạm quy chế chuyên môn, vi phạm kỷ luật lao động… nhưng để định rõ các hành vi cụ thể phải bị xử lý kỷ luật thì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể.

    – Việc áp dụng các hình thức kỷ luật đều bảo đảm công bằng, đúng người, đúng hành vi vi phạm nhưng có đơn vị còn áp dụng hình thức giảm mức xếp loại lao động, cắt tiền thi đua (A,B,C) hàng tháng, trừ tiền thu nhập tăng thêm và tiền thưởng đối với CCVC vi phạm giờ giấc lao động, vi phạm quy chế trực… hoặc còn vận dụng hình thức phê bình trước tập thể không ghi lý lịch hoặc kéo dài thời gian nâng lương, không cử đi học…

    – Khi CCVC y tế làm mất mát, hư hỏng hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của Nhà nước hoặc gây thiệt hại cho người khác đều được các cơ quan, đơn vị xử lý bồi thường trách nhiệm vật chất nhưng có một số đơn vị còn chưa thực hiện được việc này, chủ yếu là không thu hồi lại được chi phí đào tạo theo quy định đối với trường hợp được hỗ trợ kinh phí đào tạo nhưng sau khi học xong lại không trở về làm việc.

    d) Tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

    Việc tôn vinh thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế được thể hiện qua các phong trào thi đua yêu nước và khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân. Tuy nhiên, phương thức này cần phải xem xét một cách nghiêm túc vì phần lớn khen thưởng không qua phong trào thi đua và nếu có phát động thi đua thì lại hình thức nên không linh thiêng hóa việc tôn vinh.

    Trích: Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về Y tế số 3 tháng 9/2014​

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Chuyên Đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Tại Bộ Thương Mại
  • Bốn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Ở Bộ Chqs Tp Hải Phòng
  • Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (9)

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Trình Đăng Ký Tên Miền Đuôi
  • Một Số Điểm Mới Về Vị Trí, Chức Năng Của Chính Phủ Trong Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Tính Chất Của Chính Phủ Qua Hiến Pháp
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Và Xtđt
  • Quản lý nhà nước về kinh tế chuyên đề 16: Các chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước (9)

    Quản lý nhà nước về kinh tế Chuyên đề 16

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    A.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    I.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM

    1- Kinh tế thị trường:

    1.1. Đặc trưng của kinh tế thị trường

    1.2. Các loại kinh tế thị trường:

    1.3. Điều kiện ra đời của nền kinh tế thị trường

    a.- Phân công lao động xã hội

    b- Sự xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuát

    1.4. Những ưu thế và khuyết tật cơ bản của nền kinh tế thị trường

    a- Những ưu thế:

    b- Những khuyết tật:

    2- Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

    2.1- Về hệ thống mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    a-Về mục tiêu kinh tế-xã hội-văn hoá

    b- Về mục tiêu chính trị

    2.2. Về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế.

    2.3. Về cơ chế vận hành kinh tế

    2.4. Về hình thức phân phối.

    2.5- Về nguyên tắc giải quyết các mặt, các mối quan hệ chủ yếu:

    2.6. Về tính cộng đồng, tính dân tộc:

    2.7. Về quan hệ quốc tế

    II- Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế

    III- CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC

    1- Định hướng sự phát triển của nền kinh tế

    1.1 Khái niệm:

    1.2- Sự cần thiết khách quan của chức năng định hướng phát triển nền kinh tế.

    1.3. Phạm vi định hướng phát triển nền kinh tế bao gồm:

    1.4. Nội dung định hướng phát triển nền kinh tế

    1.5. Công cụ thể hiện chức năng của Nhà nước về định hướng phát triển kinh tế

    1.6. Nhiệm vụ của Nhà nước để thực hiện chức năng định hướng phát triển.

    2. Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.1. Khái niệm về môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.2. Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế.

    a- Môi trường kinh tế

    b.- Môi trường pháp lý

    c- Môi trường chính trị.

    d- Môi trường văn hoá-xã hội.

    e- Môi trường sinh thái.

    f- Môi trường kỹ thuật.

    g- Môi trường dân số

    h- Môi trường quốc tế.

    2.3. Những điều nhà nước phải làm để tạo lập các môi trường:

    3. Điều tiết sự hoạt động của nèn kinh tế.

    3.1. Khái niệm.

    3.2. Sự cần thiết khách quan phải điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế.

    3.3. Những nội dung điều tiết sự hoạt động kinh tế của Nhà nước.

    a- Điều tiết các quan hệ lao động sản xuất.

    b- Điều chỉnh các quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập

    c- Điều tiết các quan hệ phân bố các nguồn lực

    3.4.Những việc cần làm điều tiết hoạt động của nền kinh tế

    a) Xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách với các công cụ tác động của chính sách đó

    b)Bổ sung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế trong những trường hợp cần thiết.

    c) Hỗ trợ công dân lập nghiệp kinh tế

    4. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.1. Khái niệm

    4.2. Sự cần thiết phải kiểm tra, giám sát hoạt động

    4.3. Nội dung kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.4. Những giải pháp chủ yếu thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    IV. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

    2. Xây dựng phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

    3. Xây dựng pháp luật kinh tế

    3.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng pháp luật trong hệ thống các hoạt động QLNN về kinh tế

    3.2. Các loại pháp luật kinh tế cần được xây dựng

    4. Tổ chức hệ thống các doanh nghiệp

    4.1. Tổ chức và không ngừng hoàn thiện tổ chức hệ thống doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước

    4.2. Xúc tiến các hoạt động pháp lý và hỗ trợ để các đơn vị kinh tế dân doanh ra đời

    5. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế của đất nước

    6. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh tế

    7. Thực hiện và bảo vệ lợi ích của xã hội , của nhà nước và của công dân

    7.1. Các loại lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội chịu sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế mà Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện và bảo vệ

    7.2. Nội dung bảo vệ bao gồm

    (Còn tiếp)

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập cá nhân (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Ghé thăm trang nhà – Xem và download tài liệu:

    Góp ý trao đổi liên lạc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (17)
  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (17)

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Chuyên Đề 16: Các Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước (9)
  • Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Trình Đăng Ký Tên Miền Đuôi
  • Một Số Điểm Mới Về Vị Trí, Chức Năng Của Chính Phủ Trong Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Tính Chất Của Chính Phủ Qua Hiến Pháp
  • Quản lý nhà nước về kinh tế chuyên đề 16: Các chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước (17)

    Quản lý nhà nước về kinh tế Chuyên đề 16

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    A.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    I.NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VIỆT NAM

    1- Kinh tế thị trường:

    1.1. Đặc trưng của kinh tế thị trường

    1.2. Các loại kinh tế thị trường:

    1.3. Điều kiện ra đời của nền kinh tế thị trường

    a.- Phân công lao động xã hội

    b- Sự xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuát

    1.4. Những ưu thế và khuyết tật cơ bản của nền kinh tế thị trường

    a- Những ưu thế:

    b- Những khuyết tật:

    2- Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

    2.1- Về hệ thống mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

    a-Về mục tiêu kinh tế-xã hội-văn hoá

    b- Về mục tiêu chính trị

    2.2. Về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế.

    2.3. Về cơ chế vận hành kinh tế

    2.4. Về hình thức phân phối.

    2.5- Về nguyên tắc giải quyết các mặt, các mối quan hệ chủ yếu:

    2.6. Về tính cộng đồng, tính dân tộc:

    2.7. Về quan hệ quốc tế

    II- Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế

    III- CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC

    1- Định hướng sự phát triển của nền kinh tế

    1.1 Khái niệm:

    1.2- Sự cần thiết khách quan của chức năng định hướng phát triển nền kinh tế.

    1.3. Phạm vi định hướng phát triển nền kinh tế bao gồm:

    1.4. Nội dung định hướng phát triển nền kinh tế

    1.5. Công cụ thể hiện chức năng của Nhà nước về định hướng phát triển kinh tế

    1.6. Nhiệm vụ của Nhà nước để thực hiện chức năng định hướng phát triển.

    2. Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.1. Khái niệm về môi trường cho sự phát triển kinh tế

    2.2. Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế.

    a- Môi trường kinh tế

    b.- Môi trường pháp lý

    c- Môi trường chính trị.

    d- Môi trường văn hoá-xã hội.

    e- Môi trường sinh thái.

    f- Môi trường kỹ thuật.

    g- Môi trường dân số

    h- Môi trường quốc tế.

    2.3. Những điều nhà nước phải làm để tạo lập các môi trường:

    3. Điều tiết sự hoạt động của nèn kinh tế.

    3.1. Khái niệm.

    3.2. Sự cần thiết khách quan phải điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế.

    3.3. Những nội dung điều tiết sự hoạt động kinh tế của Nhà nước.

    a- Điều tiết các quan hệ lao động sản xuất.

    b- Điều chỉnh các quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập

    c- Điều tiết các quan hệ phân bố các nguồn lực

    3.4.Những việc cần làm điều tiết hoạt động của nền kinh tế

    a) Xây dựng và thực hiện một hệ thống chính sách với các công cụ tác động của chính sách đó

    b)Bổ sung hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế trong những trường hợp cần thiết.

    c) Hỗ trợ công dân lập nghiệp kinh tế

    4. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.1. Khái niệm

    4.2. Sự cần thiết phải kiểm tra, giám sát hoạt động

    4.3. Nội dung kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    4.4. Những giải pháp chủ yếu thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế

    IV. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

    1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

    2. Xây dựng phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

    3. Xây dựng pháp luật kinh tế

    3.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng pháp luật trong hệ thống các hoạt động QLNN về kinh tế

    3.2. Các loại pháp luật kinh tế cần được xây dựng

    4. Tổ chức hệ thống các doanh nghiệp

    4.1. Tổ chức và không ngừng hoàn thiện tổ chức hệ thống doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của đất nước

    4.2. Xúc tiến các hoạt động pháp lý và hỗ trợ để các đơn vị kinh tế dân doanh ra đời

    5. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động kinh tế của đất nước

    6. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị kinh tế

    7. Thực hiện và bảo vệ lợi ích của xã hội , của nhà nước và của công dân

    7.1. Các loại lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội chịu sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế mà Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện và bảo vệ

    7.2. Nội dung bảo vệ bao gồm

    (Còn tiếp)

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ thuế thu nhập cá nhân (văn bản hợp nhất):

    Danh sách phát trọn bộ Luật Quản lý thuế (văn bản hợp nhất):

    Ghé thăm trang nhà – Xem và download tài liệu:

    Góp ý trao đổi liên lạc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Quản Lý Nhà Nước Về Thanh Tra Hiện Nay
  • Ở Một Đơn Vị Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Đê Điều Và Phòng Chống Lụt Bão
  • Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Ở Cấp Cơ Sở
  • Thanh Tra Bộ Công An Góp Phần Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Liên Lạc
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Trong Nông Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Liên Hệ Thực Tiễn Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Ở Cơ Sở Hiện Nay
  • Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương 2022
  • Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Những Yêu Cầu Hiện Nay Về Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Các Quy Định Về Chính Quyền Địa Phương Trong Hiến Pháp Năm 2013 Và Dự Thảo Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Khái niệm, vai trò, chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

    Khái niệm

    Thuật ngữ quản lý có nội dung rất rộng và phong phú. Trên thực tiễn khi sử dụng thuật ngữ này người ta thường gắn với đối tượng hay khách thể quản lý tạo nên cụm thuật ngữ kép như: quản lý kinh tế, quản lý văn hoá – an ninh – quốc phòng, quản lý tài chính, quản lý sản xuất – kinh doanh, quản lý thiết bị v.v… Như vậy thuật ngữ quản lý phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể quản lý trong quá trình phát triển. Có thể hiểu quản lý kinh tế là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (kinh tế ) trong quá trình hoạt động kinh tế nhằm đạt đến mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định. Quản lý về kinh tế nói chung hoặc quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là dạng quản lý bằng quyền Nhà nước, mang tính chất thực hiện quyền lực Nhà nước trong quản lý. Việc quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung cũng như về kinh tế trong nông nghiệp nói riêng là do Chính phủ thực hiện, thông qua các điều chỉnh bằng pháp luật, chính sách, các công cụ, các lực lượng vật chất, tài chính của Nhà nước…

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hoá mọi quan hệ kinh tế và xã hội…

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp có sự khác biệt với quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị hay tổ chức kinh tế trong nông nghiệp. Các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp thực hiện việc tự chủ quản lý sản xuất – kinh doanh của mình gồm: xây dựng kế hoạch sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất, thực hiện hạch toán kinh tế… tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu xã hội. Hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp phải tuân thủ pháp luật và chính sách của Nhà nước.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp và quản lý sản xuất – kinh doanh của các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ biện chứng với nhau. Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện, tiền đề cho quản lý sản xuất – kinh doanh của đơn vị tiến hành thuận lợi, có hiệu quả. Ngược lại việc quản lý sản xuất kinh doanh tốt vừa thể hiện hiệu lực của quản lý Nhà nước, vừa tạo điều kiện phát huy vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đầy đủ hơn và có hiệu quả hơn, đảm bảo sự phát triển ổn định của toàn bộ nông nghiệp và nông thôn. Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp thừa nhận và tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của các đơn vị, các tổ chức kinh tế, nhưng không buông trôi mà thực hiện việc kiểm soát chúng về mặt Nhà nước, nghĩa là thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với các đơn vị và tổ chức kinh tế.

    Vai trò

    Vai trò của quản lý Nhà nướcvề kinh tế trong nông nghiệp bắt nguồn từ sự cần thiết phải phối hợp các hoạt động lao động chung trên cơ sở xã hội hoá sản xuất và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. Lực lượng sản xuất và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá càng cao thì càng cần thiết phải thực hiện vai trò này một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt. Tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hàng hoá của nông nghiệp trong từng giai đoạn nhất định mà giữa các phân ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản cũng như các yếu tố kinh tế của toàn ngành nông nghiệp có những mối quan hệ tỷ lệ phù hợp đảm bảo khai thác hợp lý các nguồn lực và phát triển. Sự phát triển không ngừng của lực lương sản xuất, sự tác động thường xuyên hay biến động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội trong nước cũng như quốc tế luôn là những nguyên nhân phá vỡ những mối quan hệ tỷ lệ nói trên, trước tình hình đó, Nhà nước là người nhận thức đúng các quy luật vận động phát triển, nắn vững và dự báo được các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội trong nước và quốc tế để vạch ra các chiến lược và kế hoạch phát triển thể chế hoá các chủ trương đường lối phát triển nông nghiệp thành các quy chế, luật lệ để hướng dẫn và sử dụng các kích thích kinh tế nhằm định hướng phát triển các vùng nông nghiệp các thành phần kinh tế các loại hình doanh nghiệp, hoạt động ở nông thôn v.v… phát triển đúng hướng và có hiệu quả. Có thể coi cơ sở khách quan và sâu xa của vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp bắt đầu từ yêu cầu cân đối trong quá trình phát triển; do vậy phải phối hợp mọi hoạt động của nền nông nghiệp hàng hoá dựa trên trình độ xã hội hoá ngày càng cao. Trong nền nông nghiệp hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường XHCN ở nước ta hiện nay cơ sở khách quan và sâu xa nói trên đòi hỏi việc quản lý Nhà nước đối với ngành này phải xử lý những vấn đề chủ yếu sau đây:

    Sự vụ lợi cá nhân nảy sinh trong quá trình phát triển

    Nền nông nghiệp nước ta dựa trên sự đa dạng hình thức sở hữu và tương ứng với nhiều hình thức tổ chức sản xuất thì tất yếu nảy sinh sự quan tâm lợi ích cá nhân. ở đây các cá nhân và lợi ích cá nhân được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm các chủ thể sản xuất – kinh doanh như các hộ các trang trại, các tổ hợp tác, hợp tác xã, các nhà máy chế biến nông sản v.v… các địa phương hay các vùng khác nhau trên lãnh thổ nông nghiệp cả nước; hoặc cũng có thể là ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Trong khi theo đuổi những lợi ích riêng, các đơn vị sản xuất – kinh doanh, các vùng các địa phương hoặc bản thân ngành nông nghiệp có thể không nhìn thấy lợi íchcủa đơn vị, của vùng hay của ngành khác. ở mức độ cao hơn, nếu vì lợi ích cá nhân đến mức vi phạm lợi ích người khác; vì lợi ích hiện tại mà làm ảnh hưởng đến lợi ích tương lai thì xuất hiện sự vụ lợi cá nhân. Biểu hiện của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo không hiệu quả thậm chí triệt tiêu lẫn nhau, tình trạng khai thác bừa bãi đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác, tình trạng phân tán địa phương chủ nghĩa trong các hoạt động kinh tế… hậu quả của xu hướng này là phá vỡ cân đối cần thiết trong quá trình phát triển của nông nghiệp và tất yếu nảy sinh các vấn đề xấu về chính trị xã hội ở nông thôn.

    Bảo đảm môi trường thuận lợi và an ninh cho sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn

    Nhà nước đảm nhận những mặt những khâu hay một số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn bằng thực lực của nền kinh tế Nhà nước

    Chức năng

    Quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp có vai trò to lớn và không thể thiếu được trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn bắt nguồn từ yêu cầu khách quan, nội tại của sự phát triển nền nông nghiệp. Đến lượt nó việc quản lý, điều chỉnh và hướng dẫn nền nông nghiệp đi theo hướng nào, tốc độ phát triển ra sao lại tuỳ thuộc hướng phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Trong bất kỳ điều kiện nào thì vai trò to lớn của quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp cũng chỉ được thể hiện khi nó thực hiện được các chức năng chủ yếu sau đây:

    Định hướng chiến lược cho sự phát triển nông nghiệp cho phù hợp từng giai đoạn phát kinh tế triển đất nước

    Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, có vai trò nhiều mặt về kinh tế và xã hội của đất nước. Việc đảm bảo sự phát triển hài hoà cân đối của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, Nhà nước cụ thể hoá thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn hàng năm để hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ cho toàn bộ nền nông, lâm, ngư, nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý Nhà nước. Chiến lược phát triển nông nghiệp ở nước ta từ nay đến năm 2010 được Đại hội Đảng IX (4/2001) nêu ra chủ yếu gồm: Chiến lược dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Chiến lược phát triển các vùng kinh tế; Chiến lược phát triển khoa học công nghệ; Chiến lược sản xuất và xuất khẩu v.v…

    Điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ nông nghiêp, nông thôn và giữa nông nghiệp, nông thôn với phần còn lại của nền kinh tế

    Nói tóm lại, việc quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế nhằm lành mạnh hoá toàn bộ các mối quan hệ kinh tế xã hội nông thôn. Chỉ có trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ kinh tế lành mạnh được duy trì ổn định sẽ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển ổn định của của nông nghiệp, nông thôn.

    Hỗ trợ, giúp đỡ kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã dịch vụ và các loại hình tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp, nông thôn phát triển

    Chuyển sang kinh tế thị trường, ở nước ta kể từ tháng 4/1988 hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, kinh tế trang trại dần hình thành và phát triển.Với việc xác định lại vai trò của hộ kinh tế như vậy, hợp tác dần dần đổi mới để chuyển sang dịch vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại.

    Trong một số doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất và chế biến thuộc sở hữu Nhà nước thực hiện đổi mới bằng cách từng bước chuyển sang công ty cổ phần… Có thể nói việc thay đổi cách thức làm kinh tế cho phù hợp với những yêu cầu của cơ chế mới, trong nền nông nghiệp nước ta đã và đang hình thành những loại hình doanh nhân hoàn toàn mới. Đối với họ mặt dù đã có thêm nhiều năng lực mới để phát triển, song thách thức lớn đối với họ là thương trường, kinh doanh trong cơ chế thị trường hoàn toàn mới mẻ mà họ chưa được chuẩn bị trước. Do vậy chuẩn bị, hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nhân và các loại hình kinh tế tự chủ nói trên của nông nghiệp, nông thôn bước vào thương trường thành công là chức năng trọng yếu của quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp nước ta.

    Bổ xung những vị trí cần thiết, nắm giữ những vị trí then chốt của nông nghiệp và kinh tế nông thôn bằng lực lượng kinh tế Nhà nước.

    Trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, những vị trí cần thiết và những hoạt động then chốt thường không nhiều, có thể nằm ở một số lĩnh vực như khai hoang phục hoá, xây dựng hạ tầng nông thôn, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, cấm rừng, phòng hộ rừng, công nghệ sinh học, công nghệ chế biến xuất khẩu v.v… Việc xác định vị trí nào là cần thiết và hoạt động nào là then chốt Nhà nước cần nắm lại tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại thương của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

    Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp thực hiện chức năng nói trên bằng chính lực lượng kinh tế Nhà nước. Tuỳ theo tầm quan trọng của từng vị trí hay những hoạt động then chốt mà việc điều tiết của Nhà nước được thực hiện theo các cách khác nhau: Thành lập doanh nghiệp nhà nước để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, tham gia hoặc nắm giữ cổ phần ở những mức độ khác nhau trong các công ty cổ phần. Trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, chuyển một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần bằng việc thực hiện cổ phần hoá thực chất là việc rút bớt lực lượng kinh tế Nhà nước ra khỏi vị trí không cần thiết hay những hoạt động không phải là then chốt của nông nghiệp, nông thôn.

    Khái niệm và phân loại hệ thống công cụ quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

    Khái niệm

    Nền nông nghiệp, với tính cách là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân vận hành theo cơ chế của thị trường có sự quản lý của nhà nước hiện nay ở Việt Nam chỉ có thể phát triển phù hợp lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế khi có một hệ thống công cụ quản lý phù hợp. Hệ thống công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp được hiểu là toàn bộ những phương tiện mà Nhà nước sử dụng theo những phương thức nhất định nhằm định hướng khuyến khích và phối hợp các hoạt động kinh tế để đưa nông nghiệp đạt tới mục tiêu. Nói một cách khác, có thể hiểu hệ thống công cụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp là toàn bộ những phương tiện cần thiết mà nhờ đó các cơ quan và các cán bộ quản lý kinh tế các cấp sử dụng để điều tiết, hướng dẫn, khuyến khích, phối hợp…các hoạt động của tập thể và cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung.

    Trong hệ thống công cụ đó, việc sử dụng chúng như thế nào lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của bản thân nông nghiệp, hoàn cảnh trong nước hay quốc gia, tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước và năng lực đội ngũ cán bộ v.v… Trong cơ chế kinh tế kế hoạch trước đây, chúng ta cũng có hệ thống công cụ quản lý, nhưng được tạo ra để điều hành nền nông nghiệp quản lý tập trung và do vậy kế hoạch hoá là công cụ quan trọng nhất. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Hệ thống công cụ quản lý mà nhà nước sử dụng cần phải đổi mới, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu cho phù hợp với điều kiện mới. Đặc điểm chung của các phương tiện sử dụng để quản lý nền nông nghiệp kế hoạch hoá tập trung là mang tính chất can thiệp trực tiếp, áp đặt ý đồ của người quản lý lên đối tượng quản lý. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ có thể can thiệp vào quá trình phát triển của nông nghiệp một cách gián tiếp qua cơ chế hoạt động của thị trường. Như vậy các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, các dự án phát triển… được vạch ra cho nông nghiệp chỉ mang tính chất định hướng. Trên cơ sở định hướng này, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật kinh tế và các hệ thống chính sách khuyến khích tác động vào quan hệ lợi ích của chủ thể kinh tế, khuyến khích họ vì theo đuổi lợi ích riêng mà hoạt động cho sự phát triển chung.

    Phân loại

    Để nhận biết và lựa chọn công cụ quản lý Nhà nước phù hợp cho việc quản lý đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững của nền nông nghiệp, cần thiết phải phân loại các công cụ theo các tiêu chí khác nhau. Có thể thực hiện việc phân loại nói trên theo một số tiêu chí chủ yếu sau đây:

    Theo nội dung và tính chất tác động của công cụ quản lý

    Theo tiêu chí này, các công cụ quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp bao gồm:

    – Pháp luật kinh tế: Đây là loại công cụ tác động mang tính chất bắt buộc, quy định xác định hành lang vận động cho đối tượng quản lý, dựa trên cơ sở chức năng quản lý và uy quyền của Nhà nước.

    – Công cụ kế hoạch: Là loại công cụ mà Nhà nước sử dụng nhằm định hướng sự phát triển của các lĩnh vực, các vùng, các phân ngành cũng như toàn bộ nền nông nghiệp nói chung.

    – Chính sách phát triển kinh tế: Là những công cụ co tính chất kích thích, khuyến khích hoặc nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế. Chính sách kinh tế bao gồm các chính sách kinh tế cụ thể khác nhau được Nhà nước sử dụng kết hợp với nhau tạo nên lực tác động tổng hợp tới quá trình tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp.

    Theo phạm vi tác động của công cụ quản lý

    Người ta có thể nhận dạng các công cụ quản lý vĩ mô và các công cụ quản lý vi mô theo phạm vi tác động của nó.

    – Công cụ quản lý vĩ mô (hay công cụ quản lý Nhà nước) đối với nông nghiệp là những công cụ được sử dụng để quản lý toàn bộ nền nông nghiệp bao gồm Pháp luật kinh tế, kế hoạch phát triển ngành hay các chương trình dự án phát triển, các chính sách kinh tế vĩ mô.

    – Các công cụ quản lý vi mô (hay các công cụ quản lý trong nội bộ đơn vị kinh tế) là những công cụ được sử dụng để quản lý các hoạt động trong đơn vị hay tổ chức kinh tế, bao gồn kế hoạch sản xuất kinh doanh, hợp đồng kinh tế, kế hoạch tài vụ, hạch toán kế toán v.v…

    Theo lĩnh vực tác động của công cụ quản lý

    Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và đối với nông nghiệp nói riêng có thể được phân loại theo thời gian tác động lâu dài hoặc thời gian tác động ngắn. Những công cụ quản lý có thời gian tác động lâu dài gồm có luật pháp kinh tế, các chiến lược phát triển, chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong nông nghiệp, nông thôn… Những công cụ quản lý có thời gian tác động ngắn hạn thường gắn với các quy định tạm thời về quản lý của các cấp, các biện pháp chính sách mang tính chất tình thế, các công cụ quản lý vi mô.

    Trong số các cách phân loại hệ thống công cụ quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp trình bày ở trên, cách phân loại theo nội dung và tính chất tác động của công cụ quản lý được sử dụng phổ biến trong thực tế công tác quản lý. Bởi vì, bằng cách phân loại này cho phép nhận biết sâu sắc vai trò, tính chất, những yêu cầu hay đặc điểm cơ bản của từng loại công cụ để các nhà quản lý sử dụng từng loại công cụ đúng cách và có hiệu quả.

    Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp

    Để quản lý nền nông nghiệp, Nhà nước cần sử dụng một hệ thống các công cụ. Vấn đề mới ở đây là hệ thống công cụ quản lý Nhà nước ta sử dụng để quản lý nền nông nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường, chứ không phải cơ chế quản lý tập trung trước đây. các công cụ quản lý đó là pháp luật, kế hoạch và chính sách kinh tế.

    Pháp luật kinh tế quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp

    Vai trò của pháp luật kinh tế trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp

    Một là, xác lập cơ sở pháp lý, bảo vệ và hỗ trợ hình thành phát triển

    cơ chế thị trường trong nông nghiệp nông thôn.

    Dựa trên nhận thức đúng đắn, Khách quan và khoa học các quy luật vận động của nền nông nghiệp theo cơ chế thị trường, Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy nhằm tổ chức có tính chất Nhà nước các quan hệ kinh tế khách quan đó phù hợp với quy chế mới. Mặt khác, nhờ sự hỗ trợ và bảo vệ của pháp luật mà ý thức tôn trọng, tuân thủ các quan hệ kinh tế khách quan của các bên tham gia sẽ điều chỉnh hành vi kinh tế của họ, tạo điều kiện để phát triển các mối quan hệ được luật pháp xác định ở trên. Như vậy pháp luật giữ vai trò là yếu tố tạo dựng, hỗ trợ và bbảo vệ cho sự hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế theo mục tiêu định hướng của Đảng và nhà nước ta.

    Hai là, xác lập trật tự và môi trường kinh doanh lành mạnh cho nông nghiệp.

    Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế tham gia vào các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp nông thôn.

    Việc bảo vệ lợi ích nói trên của các chủ thể kinh tế chỉ có thể thực hiện bằng cách ghi nhận, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên, ghi nhận hình thức và các thủ tục giải quyết tranh chấp trong kinh doanh… vào luật pháp. Nhờ vậy lợi ích của các chủ thể kinh tế được tôn trọng và được giải quyết thoả đáng. Nếu thiếu luật pháp thì việc giải quyết, xử lý các quan hệ lợi ích sẽ thiếu trật tự, gây lộn xộn không cần thiết có ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế.

    Đặc điểm của pháp luật kinh tế trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp

    – Công cụ pháp luật kinh tế có sức mạnh quyền uy

    Sức mạnh quyền uy của công cụ pháp luật kinh tế là sự kết hợp giữa sức mạnh quyền uy khách quan và quyền uy Nhà nước. Nội dung của pháp luật kinh tế chính là những mối quan hệ, những lợi ích kinh tế khách quan được xã hội thừa nhận và bảo vệ dưới dạng ý chí của Nhà nước. Sự thừa nhận và bảo vệ đó được cụ thể hoá thành những chuẩn mực về quyền lợi và nghĩa vụ để điều chỉng hành vi của cá nhân và tập thể phù hợp với những yêu cầu thực tế khách quan. Do vậy sức mạnh quyền uy của pháp luật kinh tế nằm ngay trong nội dung của pháp luật và phụ thuộc vào tính chính xác của nội dung dó. Việc tuân thủ pháp luật, hành động theo yêu cầu của pháp luật là yêu cầu đương nhiên của bản thân thân pháp luật chứ không phải vì sự cưỡng chế của Nhà nước. Sự cưỡng chế của Nhà nước mang tính quyền uy chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo vệ pháp luật dưới dạng răn đe, do vậy có tác dụng nâng cao hiệu lực của công cụ pháp luật kinh tế.

    – Quản lý bằng pháp luật đảm bảo tính phổ biến và công bằng

    – Quản lý bằng pháp luật kinh tế là sự tác động điều chỉnh mang tính chất gián tiếp.

    Tính chất gián tiếp nói trên thể hiện ở chỗ luật chỉ đưa ra các điều kiện giả định để quy định quyền và nghĩa vụ cho các hoạt động kinh tế; đưa ra các quy phạm được phép hay không được phép trong các hoạt đọng kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, còn các chủ thể kinh tế lựa chọn, tự quyết định hành động trong khuân khổ của những điều kiện và phạm vi đã xác định của luật.

    Vai trò của công cụ kế hoạch

    Để quản lý hoạt động kinh tế, chủ thể quản lý các cấp phải xử dụng công cụ kế hoạch. Xét về thực chất, kế hoạch là các quyết định của chủ thể quản lý về mục tiêu, biện pháp và các đảm bảo vật chất cần thiết để thực hiện mục tiêu trong một thời kỳ nhất định. Như vậy kế hoạch là một công cụ định hướng, tổ chức và điều khiển các hoạt động kinh tế của một đơn vị, một địa phương hay toàn bộ nền nông nghiệp nông thôn.

    vai trò của công cụ kế hoạch trong quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp thể hiện trên các mặt sau đây:

    Một là, cho phép chủ thể quản lý cũng như mọi bộ phận trong hệ thống quản lý nhận thức thống nhất về hướng đi, cách đi thich hợp để nhanh chóng đạt tới mục tiêu. Trên cơ sở thống nhất nhậ thức mà hoạt động của mọi cấp, mọi bộ phận, mọi tổ chức tự giác, chủ động và thống nhất trong hàng động thực tiễn.

    Hai là, kế hoạch còn giúp cho các nhà quản lý chủ động thích ứng với những thay đổi trong quá trình phát triển của thực tiễn do có những dự đoán trước; chủ động tạo ra những biến đổi có lợi cho quá trình phát triển; hướng các nhà quản lý tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu…

    Ba là, kế hoạch còn là một căn cứ để tổ chức bộ máy quản lý, kiểm tra và đánh giá hiệu quả của các hoạt động quản lý ở các cấp, các địa phương và toàn ngành.

    Những yêu cầu cơ bản đối với công cụ kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn trong cơ chế thị trường

    Muốn phát huy hết những vai trò to lớn của công cụ kế hoạch, nhất là kế hoạch trong cơ chế thị trường thì bản thân kế hoạch phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Trong cơ chế thị trường, kế hoạch hoá kinh tế quốc dân đối với nông nghiệp vẫn là một công cụ quan trọng của quản lý Nhà nước, có tính chất pháp lệnh, nhưng không có tính chất chỉ đạo theo phương thức giao nhận và chấp hành kế hoạch một cách cứng nhắc mà chỉ là những định hướng cho sự phát triển ởtầm vĩ mô. những kế hoạch định hướng bao gồm các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, các dự án phát triển nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng những quy luật khách quan và tính toán chính xcs những điều kiện về nguồn lực của nông nghiệp. Căn cứ quan trọng để vạch ra các kế hoạch định hướng phát triển nông nghiệp là nhu cầu của thị trường, bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Trên cơ sở đó mà bố trí, huy động các yếutố nguồn lực củ xã hội vào sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý nhất để khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền nông nghiệp nước ta nhằm thực hiện một cách tốt đẹp các mục tiêu ý tưởng mà sự phát triển nông nghiệp cần đạt tới, phù hợp với công cụ đổi mới kinh tế của đất nước.

    Như vậy các kế hoạch nông nghiệp cần đáp ứng những nhu cầu chủ yếu là:

    Thứ nhất, các kế hoach phải đảm bảo tính khoa học.

    Hiệu quả quản lý của công cụ kế hoạch phụ thuộc rất lớn vào tính sát thực tính hợp lý và khoa học của nó. Do vậy khi xây dựng kế hoạch phải chú trọng việc nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý về kế hoạch hoá và điều kiện cụ thể của nông nghiệp nông thôn; phân tích rõ thực trạng cũng như tiềm năng về tài nguyên đất đai, cũng như lao động, tiền vốn, công nghệ và kỹ thuật có thể huy động; tham khảo kinh nghiệm của địa phương khác hoặc nước khác. Nghĩa là phải gắn lý luận với thực tiễn trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch.

    Thứ hai, gắn kế hoạch với thị trường.

    Yêu cầu này đòi hỏi phải được đáp ứng cả trong xây dựng và thực hiện kế hoạch. Trong xây dựng kế hoạch phát triển cần coi nhu cầu thị trường là điểm xuất phát của kế hoạch, các chủ thể quản lý không nên tuyệt đối hoá kế hoạch trong suy nghĩ và hành động dẫn đến hạn chế tính sáng tạo, linh hoạt và mền dẻo trong hoạt động quản lý và điều hành. Tuyệt đối hoá kế hoạch, thậm chí đặt đối lập kế hoạch với thị trường mà không gắn kế hoạch với thị trường là xa lạ với cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp nước ta hiện nay.

    Thứ ba, chuyển từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch hướng dẫn là chủ yếu.

    Các kế hoạch khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đếu có dấu ấn quyền uy của nhà nước, do vậy chứa đựng tính chất khống chế. Tính chất khống chế này thể hiện bằng các chỉ tiêu mục tiêu, quy mô, tốc độ, định mức… Trong quá trình phát triển thực tế, nền nông nghiệp luôn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố thường xuyên biến động. Tình hình trên phải đòi hỏi giảm tính pháp lệnh, tăng cường tính hướng dẫn của các kế hoạch phát triển nông nghiệp. Muốn vậy, các kế hoạch chỉ cần bao gồm những chỉ tiêu cần thiết đủ định hướng cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn. ngoài ra các kế hoạch cần bao gồm những yếu tố mở để khuyến khích tính năng hoạt động của người thực hiện.

    Thứ tư, tăng cường chất lượng các hoạt động tiền kế hoạch.

    Để đảm bảo tính sát thực của các kế hoạch, chủ thể quản lý phải coi trọng và tăng cường chất lượng cáchoạt động tiền kế hoạch như điều tra khảo sát, nghiên cứu thăm dò để đưa ra các dự báo có căn cứ khoa học về nguồn lực, thị trường ngoài và trong nước, sự phát triển tiến bộ khoa học công nghệ v.v… Những hoạt động tiền kế hoạch càng được coi trọng và có chất lượng cao là căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển nông nghiệp có kết quả.

    Ngoài ra, trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch, cần phân định rõ chức năng kế hoạch của Nhà nước các cấp và kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp. Bộ máy hoạt động ở các cấp cần được xây dựng theo hướng tinh giản, linh hoạt và có hiệu quả cao.

    Chính sách kinh tế

    Công cụ chính sách kinh tế giúp Nhà nước điều khiển hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ…). Nhờ các chính sách kinh tế dẫn dắt hoạt động mà các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp đã hành động phù hợp với lợi ích chung của xã hội; các nguồn tài nguyên nông nghiệp được huy động vào sản xuất một cách có hiệu quả để đạt đến mục tiêu và các kế hoạch định hướng.

    Phân loại các chính sách nông nghiệp

    Để thực hiện được các mục tiêu phát triển vạch ra trong các chiến lược, các kế hoạch, các dự án phát triển nông nghiệp, Nhà nước sử dụng một hệ thống các chính sách kinh tế làm công cụ tác động vào cơ chế vận động của nền nông nghiệp. Tuỳ cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể phân loại các chính sách kinh tế trong nông nghiệp theo những tiêu thức khác nhau:

    – Theo nội dung, có thể phân loại các chính sách theo cách gọi tên cụ thể như: chính sách đầu tư vốn, chính sách tín dụng, chính sách ruộng đất…

    – Theo lĩnh vực, có thể phân loại thành các nhóm chính sách nông nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính (thuế, đầu tư, trợ cấp sản xuất…); lĩnh vực tiền tệ (giá cả. lãi xuất v.v…); lĩnh vực xuất, nhập khẩu ( chính sách thuế, hạn ngạch, tỷ giá hối đoái…).

    – Theo quan hệ của chính sách đối với quá trình sản xuất, có thể phân thành các chính sách đầu vào(đầu tư, vật tư, trợ giá khuyến nông…); các chính sách đầu ra (thị trường và giá cả, chính sách xuất khẩu…); các chính sách về tổ chức quá trình sản xuất (chính sách đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chính sách đổi mới cơ cấu quản lý…).

    Trong điều kiện kinh tế thị trường, mỗi chính sách mà Nhà nước sử dụng đều nhằm tác động vào phía cung hay phía cầu thị trường, nhưng cũng có chính sách có thể tác động lên cả hai phía. Một chính sách được sử dụng để tác động lên phía cung thì phải có các biện pháp hạn chế phản ứng phụ lên phía cầu. Chính vì vậy mà một chính sách được ban hành cần xác định rõ nó là chính sách gì để có thể tạo ra cơ chế phối hợp giữa các chính sách.

    Một số chính sách kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp nước ta

    Hiện nay Nhà nước ta đang sử dụng một hệ thống các chính sách tác động trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp, có thể kể đến một số chính sách chủ yếu sau đây:

    + Chính sách ruộng đất

    + Chính sách đầu tư

    + Chính sách tín dụng

    + Chính sách giá cả thị trường

    + Chính sách xuất khẩu nông sản

    + chính sách khuyến nông

    + Chính sách đổi mới cơ cấu nông nghiệp, nông thôn

    Chính sách ruộng đất có vai trò quan trọng đặc biệt vì có nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong nông nghiệp và nông thôn gắn liền với vấn đề ruộng đất. Mục tiêu trực tiếp của chính sách ruộng đất là quản lý, sử dụmg có hiệu quả, đồng thời bảo vệ độ phì nhiêu của đất đai, vì đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt của nông nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên, từ khi chuyển sang cơ cấu thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã có những đổi mới quan trọng trong chính sách ruộng đất, thể hiện tập trung ở Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, về giao đất cho hộ nông dân, Luật Đất đai năm 1993 gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

    – Toàn bộ quỹ đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước.

    – Ruộng đất được Nhà nước giao quyền ổn định, lâu dài cho những người làm nông, lâm, ngư nghiệp (các doanh nghiệp nhà nước,tập thể, hộ gia đình và cá nhân). Các hộ nông dân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp quyền sử dụng ruộng đất trong thời hạn được giao.

    – Người sử dụng có trách nhiệm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và phải bảo vệ, cải tạo đất và đóng thuế cho Nhà nước.

    – Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, chuyển quyền sử dụng đất trái phép. Kiên quyết xoá bỏ những phương thức kinh doanh lạc hậu làm huỷ hoại đất đai.

    Mục đích trực tiếp của chính sách tín dụmg là bổ xung nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp. Hiện nay do năng lực tích luỹ còn thấp nên có tới 50% số hộ nông dân có nhu cầu vay vốn tín dụng. Mục tiêu lâu dài của chính sách tín dụng là góp phần từng bước thúc đẩy sự ra đời của thị trường vốn trong nông thôn. Những năm gần đây, Nhà nước đã có những đổi mới quan trọng trong chính sách tín dụng nông nghiệp, thể hiện tập trung ở Nghị quyết trung ương lần thứ 5( khoáVII) và Nghị quyết 14/CP ngày2/3/1993 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ sản xuất vay vốn, gồm những nội dung chủ yếu sau đây.

    – Đổi mới tổ chức ngành ngân hàng thành hệ thống hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Thương mại. tham gia vào thị trường vốn tín dụng ở nông thôn có các Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Thương mại cổ phần và các Ngân hàng thương mại khác. Tổ chức lại hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (hợp tác xã tín dụmg kiểu mới ). Các ngân hàng thưong mại và các tổ chức tín dụng tự nguỵện do nhân dân lập ra sẽ tạo khả năng huy động nguồn vốn tối đa đáp ứng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp.

    – Huy động tối đa mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và nhân dân bằng nhiều hình thức thích hợp như: tiết kiệm (có và không có kỳ hạn), tín phiếu và trái phiếu kho bạc, ngân phiếu và kỳ phiếu ngân hàng v.v…

    – Mở rộng việc cho vay của các tổ chức tín dụng đến hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản để phát triển sản xuất, không phân biệt thành phần kinh tế.

    -Ưu tiên cho vay để triển khai các dự án do Nhà nước chỉ định, cho vay đối với vùng cao, vùng xa, vùng sâu, vùng kinh tế mới, hải đảo và các hộ nghèo, góp phần xoá đói giảm nghèo trong nông thôn.

    Chính sách đầu tư vốn ngân sách cho nông nghiệp được nhà nước rất chú trọng qua các thời kỳ phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.Trên thực tế tỷ trọng đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho ngành nông, lâm nghiệp trong tổng số vốn đầu tư ngân sách cho khu vực sản xuất vật chất còn thấp ( khoảng 25- 28% hàng năm thời kỳ 1976 -1987).Vốn ngân sách đầu tư chủ yếu cho khu vực quốc doanh nông, lâm nghiệp và xây dựng công trình thuỷ lợi

    Từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị (1988), chính sách đầu tư vốn đã thay đổi: vốn bao cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước giảm và xoá hẳn, chuyển sang hình thức đầu tư tín dụng. Như vậy từ sau năm 1988, mọi hình thức bao cấp qua chính sách đầu tư vốn cho nông nghiệp đều bị xoá bỏ.

    Mục tiêu của chính sách thị trường và giá cả nông nghiệp là đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trong hoạt động kinh tế của chủ thể sản xuất nông nghiệp về các dịch vụ đầu vào và đầu ra, đảm bảo đúng số lượng, chất lượng, thời gian không gian với những giá cả tương đối ổn định, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Nội dung chủ yếu của chính sách thị trường nông nghiệp thể hiện trên các mặt sau đây:

    – Nhà nước khuyến khích mọi tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động trong hệ thống thị trường nông nghiệp, từ việc cung cấp các dịch vụ yếu tố đầu vào, mua gom bảo quản chế biến nông sản đến tiêu thụ sản phẩm ở thị trường nội địa và xuất khẩu. Trừ những trường hợp đặc biệt được Nhà nước cho phép (như cung cấp điện cho nông, nghiệp tưới tiêu nước), mọi hình thức độc qyền trên thị trường do bất kỳ nguyên nhân nào tạo ra đều trái với chủ trương phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phàn vận động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN của Nhà nước ta.

    – Mở rộng giao lưu vật tư và nông sản hàng hoá giữa các vùng, các khu vực trên phạm vi cả nước. Xoá bỏ tình trạng cát cứ chia cắt của thị trường nội địa.

    – Đa phương hoá quan hệ thị trường và đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu. Sử dụng tốt các công cụ kinh tế quan trọng tác động đến xuất khẩu nông sản và nhập khẩu vật tư phục vụ nông nghiệp như: thuế xuất, nhập khẩu, hạn ngạch xuất, nhập khẩu và tỷ giá hối đoái.

    – Sử dụmg tốt các phương tiện thông tin đại chúng để tổ chức công tác dự báo thị trường, nâng cao khả năng tiếp thị của các chủ thể kinh tế.

    Một đặc điểm quan trọng của giá cả nông sản là có tính không ổn định vì: thứ nhất, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên (hạn hán hay lũ lụt có thể gây mất mùa) thứ hai, hệ thông co giãn giá của cầu về nông sản phẩm là thấp, nghĩa là cầu về nông sản ít phản ứng với những biến giá; Thứ ba, hiệu quả của đổi mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp (đặc biệt nông nghiệp của các nước phát triển) có tác động mạnh lên phía cung nông sản. Kết quả tất yếu của mối quan hệ giữa áp lực cung tăng với cầu ít co dãn làm giá nông sản có xu hướng hạ thấp.

    Mục tiêu của chính sách giá cả trong nông nghiệp là ổn định giá cả, ổn định thị trường một cách tương đối để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng. Để đạt mục tiêu trên, chính sách giá cả nông nghiệp của nước ta gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

    – Thu hẹp và tiến tới xoá bỏ quan hệ tỷ giá bất hợp lýgiữa giá hàng công nghiệp và dịch vụ với giá hàng nông sản, tạo điều kiện khách quan cho việc thực hiệ tái sản xuất mở rộng nông nghiệp.

    – Bỏ chế độ nhiều giá trước đây, thực hiện chế độ một giá đối với mọi loại vật tư và nông sản hàng hoá.

    – Trong những trường hợp đặc biệt, nhà nước có thể áp dụng những chính sách như trợ giá đầu vào (phân bón, hạt giống mới…) để hỗ trợ sản xuất phát triển; hoặc mua trợ giá đối với sản phẩm đầu ra theo những đợt để ổn định giá cả thị trường, chống tụt giá quá mức có tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp.

    Chính sách xuất khẩu nông sản là một chính sách quan trọng của nhà nước ta, có ý nghĩa lớn trong việc khai thác lợi thế so sánh của

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Tiện Ích Mở Rộng, Extension Editthiscookie * Học Lỏm
  • Hướng Dẫn Lưu Lại Cookie
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Quản Trị Thiết Bị
  • Google Chính Thức Cung Cấp Chức Năng Chống Trộm Chothiết Bị Android
  • Phần Mềm Quản Lý Thiết Bị Điện Nước
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế
  • Phương Thức Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế
  • Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Thích Ứng Với Hội Nhập Quốc Tế Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Tăng Cường Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khu Vực Kinh Tế Phi Chính Thức
  • Cung cấp dịch vụ tiêm vắc xin cho người dân tại Trung tâm Y tế Dự phòng Gia Lai. Ảnh: Dương Ngọc/TTXVN

    Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động y tế

    Báo cáo tình hình ban hành hoặc trình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành các luật theo thẩm quyền của Bộ Y tế nêu rõ, Bộ Y tế đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt ra trong xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh góp phần hình thành thể chế pháp lý về y tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trật tự, kỷ cương, kỷ luật hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực y tế, đồng thời góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi, phù hợp với sự phát triển của các hoạt động y tế.

    Về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022, Bộ Y tế được Chính phủ phân công đầu mối xây dựng hai dự án luật là Luật Dân số và Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia. Đối với dự án Luật Dân số, hiện Bộ Y tế đang hoàn thiện Dự thảo chi tiết Luật Dân số theo đánh giá tác động của chính sách và tinh thần dự thảo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân số trong tình hình mới. Dự kiến, dự án Luật Dân số sẽ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5, thông qua tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV năm 2022.

    Riêng dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia dự kiến sẽ trình Chính phủ tháng 7/2018 và trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6, thông qua tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV năm 2022. Giai đoạn 2022 – 2022, Bộ Y tế đề xuất sửa đổi, bổ sung các luật: Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật An toàn thực phẩm; Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)…; xây dựng mới các luật: Luật Chuyển đổi giới tính; Luật Y, dược cổ truyền…

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Đặng Thuần Phong lưu ý dự án Luật Dân số chậm nhất tháng 3/2018 phải trình ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, vì thế để đảm bảo tiến độ, Ủy ban Về các vấn đề xã hội đề nghị Chính phủ cần khẩn trương hoàn thiện dự án Luật này.

    Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng

    Bệnh viện Đa khoa huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh chủ động tiếp nhận kỹ thuật mổ nội soi ổ bụng từ bệnh viện tuyến trên. Ảnh: Diệp Trương/TTXVN

    Tại phiên họp chiều 29/9, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã thẩm tra về tình hình thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và dự kiến kế hoạch, dự toán năm 2022, dự kiến kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm 2022 – 2022 thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Y tế.

    Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn, qua đánh giá tình hình thực hiện 9 tháng và ước thực hiện 3 tháng cuối năm 2022, ngành y tế có khả năng hoàn thành vượt hai chỉ tiêu Quốc hội giao là chỉ tiêu Số giường bệnh trên 10.000 dân (giao 25,5; ước đạt 25,7) và chỉ tiêu Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế (giao 82,2%; ước đạt 83,4%).

    Ngành y tế tiếp tục triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, trong đó giảm quá tải bệnh viện tuyến trên; tiếp tục duy trì mức sinh thấp hợp lý, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. Tuy nhiên, một số bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, tay chân miệng gia tăng; ngộ độc thực phẩm do rượu diễn biến phức tạp, gây ra mức tăng đột biến về số ca tử vong. Ngoài ra, chất lượng dịch vụ tuyến dưới chưa đáp ứng được nhu cầu, người dân chưa tin tưởng đã vượt tuyến, gây quá tải ở tuyến trên; việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo lộ trình tính đúng, tính đủ còn chậm…

    Về thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 do Bộ Y tế trực tiếp quản lý, Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn cho biết, dự toán chi từ nguồn ngân sách nhà nước được giao là 10.163,98 tỷ đồng; thực hiện đến tháng 9/2017 là 4.189,9 tỷ đồng (đạt 41,2%).

    Trường hợp Thủ tướng Chính phủ cho phép thu hồi 2.000 tỷ đồng vốn ứng trước của Dự án Bệnh viện Bạch Mai 2 và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 2 thì giải ngân là 6.189,9 tỷ đồng; đạt 60,9% dự toán giao. Đối với dự toán chi do Bộ Y tế trực tiếp quản lý năm 2022, dự toán chi từ Ngân sách Nhà nước là 22.053,8 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển là 11.035,36 tỷ đồng; chi thường xuyên là 11.018,4 tỷ đồng.

    UBND, HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước về y tế tại địa phương, tập trung kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế trong hoạt động khám chữa bệnh; chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện chỉ tiêu tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế; bố trí ngân sách, huy động các nguồn lực cho Quỹ Hỗ trợ khám chữa bệnh người nghèo của tỉnh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Tại Bộ Thương Mại
  • Bốn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Ở Bộ Chqs Tp Hải Phòng
  • Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản
  • Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Quản Lý Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Rừng Cộng Đồng
  • Một Số Vấn Đề Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Vệ Sinh Pin Mặt Trời Trọn Gói Cho Nhà Máy Điện Mặt Trời
  • Cách Để Vệ Sinh Các Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời
  • Giải Pháp Chống Bám Bụi Cho Pin Nlmt
  • Cách Vệ Sinh Pin Năng Lượng Mặt Trời Đơn Giãn
  • Ứng Dụng Giải Pháp Rfid Trong Event, Sự Kiện
  • Bài làm

    1. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.

    Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.

    Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).

    2. Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề nghiệp :

    a) Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.

    Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.

    Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :

    – Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.

    – Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế giới.

    – Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.

    – Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế – kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.

    b) Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.

    Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn. Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế. Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.

    Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước. Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước.

    3. Các phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế :

    Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân ( tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế …).

    Qúa trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc đã định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp quản lý nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế.

    Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đó là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế. Phương pháp quản lý kinh tế thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước.

    Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm :

    3.1 Các phương pháp hành chính :

    Các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết đinhj dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định.

    Phương pháp này có hai đặc điểm cơ bản là :

    – Tính bắt buộc : các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tacs động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng.

    – Tính quyền lực : các cơ quan quản lý Nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng với thẩm quyền của mình.

    Vai trò của các phương pháp hành chính là xác lập trật tự kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

    Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nằm vững những yêu cầu chặt chẽ sau :

    – Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.

    – Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

    Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu KC194 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

    Tài liệu này không có hình ảnh khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Đối Với Khu Vực Kinh Tế Phi Chính Thức
  • Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế Thích Ứng Với Hội Nhập Quốc Tế Và Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Nâng Cao Hiệu Lực Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế
  • Phương Thức Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Y Tế
  • Viện Chiến Lược Và Chính Sách Y Tế
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100