Một Số Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Rèn Luyện Đoàn Viên Giai Đoạn 2021

--- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch “rèn Luyện Đoàn Viên” Năm Học 2021
  • An Giang: Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tôn Giáo Trong Tình Hình Mới
  • Chính Sách Đối Với Người Có Công Thực Trạng Và Một Số Kiến Nghị
  • Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Đô Thị: Cần Thay Đổi Từ Tư Duy Đến Hành Động
  • Xây Dựng Nông Thôn Mới: Nhất Tiến Giữ Vững Tiêu Chí Số 19
  • Bài tham luận tọa đàm Chi đoàn Trường Chính trị Bến Tre

     

                                                          CN. Nguyễn Phước Bình

                                                          Tập sự giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

     

    Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2021 – 2022, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Xây dựng Đoàn là xây dựng đội quân xung kích của cách mạng, lực lượng nòng cốt của tuổi trẻ, xây dựng đội dự bị tin cậy của Đảng…Là tuổi trẻ, cán bộ đoàn phải có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, không ngừng tu dưỡng bản thân về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác; thực sự là người bạn gần gũi của thanh niên, không kiêu căng, tự mãn, xa rời thanh niên, xa rời thực tiễn; không để bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cán bộ đoàn phải là người tiên phong, có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, năng động và sáng tạo. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải thực sự là tấm gương trong sáng, là môi trường thử thách, nghĩa tình để cán bộ đoàn rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác, chuyên môn, nghiệp vụ, tạo nguồn cán bộ trẻ có chất lượng cho Đảng.

    Quán triệt tinh thần chỉ đạo trên, Ban Bí Thư Trung ương Đoàn đã cụ thể hóa qua việc ban hành văn bản hướng dẫn số 13-HD/TWĐTN-BTC ngày 20/6/2018 về thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2021-2022 và Đoàn Khối cũng đã cụ thể hóa triển khai nội dung này. Được sự cho phép của chủ trì tọa đàm, tôi tham gia phát biểu tham luận với nội dung: Một số giải pháp thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2021-2020

    Công tác Đoàn và phong trào thanh niên đang đứng trước những thuận lợi và thách thức trong tình hình hiện nay, đó là sự phát triển của khoa học công nghệ, bùng nổ của công nghệ thông tin và nhất là việc sử dụng các trang mạng xã hội ngày phát triển mạnh và không thể thiếu đối với thanh niên, điều đó đặt ra mỗi người đoàn viên phải có ý thức tự rèn luyện thông qua việc thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2021-2022 với các nội dung:

    Một là, rèn luyện về lý tưởng cách mạng, nhận thức chính trị.

    Với các nội dung đoàn viên cần rèn luyện: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; học tập 6 bài học lý luận chính trị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; tham gia đầy đủ sinh hoạt Chi đoàn, sinh hoạt đoàn nơi cư trú và các hoạt động do Đoàn tổ chức; tích cực rèn luyện theo các tiêu chí xây dựng hình mẫu thanh niên Việt Nam thời kỳ mới “Tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn”; thực hiện nói đi đôi với làm, nói thật, làm thật, trung thực với chính mình và mọi người; cụ thể bằng việc xây dựng hình mẫu Thanh niên Đồng Khởi mới “Yêu nước, Bản lĩnh, Hiếu thảo, Tình nguyện” và hình mẫu Thanh niên Đoàn Khối các cơ quan tỉnh “Tinh thông nghiệp vụ, liêm khiết trong thực thi công vụ, tận tuỵ phục vụ nhân dân”; thường xuyên theo dõi, nắm bắt thông tin thời sự, chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng; tham gia xây dựng Đảng, phấn đấu trở thành đảng viên; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; đối với cán bộ Đoàn các cấp, thực hiện nghiệm túc Chỉ thị 01-CT/TWĐTN, ngày 17/5/2013 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn “Về việc tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ Đoàn”.

    Hai là, rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ.

    Các nội dung đoàn viên cần rèn luyện: Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc; sẵn sàng đảm nhận và thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; phát huy tốt chuyên môn trong các hoạt động tình nguyện cộng đồng; hăng hái thi đua học tập, lao động sáng tạo, làm chủ khoa học công nghệ; thường xuyên rèn luyện tác phong và đạo đức nghề nghiệp, xung kích tham gia cải cách hành chính, xây dựng văn hoá công sở. Tích cực tham gia phong trào “Ba trách nhiệm” và phong trào “Sáng tạo trẻ”.

    Ba là, rèn luyện về sức khỏe, kỹ năng thực hành xã hội.

    Các nội dung đoàn viên cần rèn luyện: Tích cực tập luyện ít nhất một môn thể thao; không sử dụng ma túy và các chất gây nghiện; hạn chế uống rượu, bia và không hút thuốc; tích cực học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học; rèn luyện một số kỹ năng xã hội cần thiết như: Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quản lý, điều hành, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng trình bày (nói, viết)…; tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng.

    Đây là những nội dung rất quen với đoàn viên vì được kế thừa và phát triển Chương trình rèn luyện đoàn viên giai đoạn 2021-2017. Tuy nhiên để thực hiện tốt cần phải vận dụng cụ thể vào tính đặc thù của mỗi cơ quan, địa phương và sở trường công tác. Tôi xin đưa ra một số giải pháp như sau:

    1.  Đổi mới phương thức trong triển khai và đánh giá

    – Về công tác triển khai: Trên thực tế, vẫn còn không ít đoàn viên khi hỏi những nội dung cơ bản của Chương trình rèn luyện đoàn viên tỏ ra lúng túng, e dè, đây là vấn đề lớn chúng ta cần thẳng thắng nhìn nhận. Ngoài việc triển khai thông qua hội nghị hoặc văn bản hướng dẫn, có thể tuyên truyền bằng pano, áp phích, ngắn gọn nhưng trực quan, sinh động.

    – Về công tác đánh giá: Thực hiện theo hướng dẫn của Ban bí thư Trung ương Đoàn định kỳ 6 tháng/lần, trong quá trình đánh giá cần thực hiện quyết liệt và thẳng thắng, Vì sao? Vì đăng ký thực hiện là do mỗi đoàn viên căn cứ theo khả năng và thực tế công tác đăng ký kèm theo giải pháp thực hiện. Đến cuối năm lại không hoàn thành hoặc hoàn thành chưa tốt mục tiêu của bản thân thì phải có sự đánh giá khách quan, sát với phân loại theo hướng dẫn để đoàn viên tự rút kinh nghiệm.

    Ban chấp hành Chi đoàn cần mạnh dạn đề xuất cấp ủy, sử dụng đánh giá kết quả thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên cuối năm làm một trong những cơ sở đánh giá, phân loại viên chức, đặc biệt là đảng viên tham gia sinh hoạt đoàn và đối tượng đảng lớp Đồng Khởi mới để mang tính nêu gương và hiệu ứng thực hiện, từng bước chấn chỉnh đối với từng đoàn viên trong việc thực hiện.

    2. Thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên gắn với việc thực hiện giá trị hình mẫu Người thanh niên Đồng Khởi mới “Yêu nước – Bản lĩnh – Hiếu thảo – Tình nguyện”

    Có thể khi gắn hai nội dung này để thực hiện cùng một lúc, sẽ có ý kiến cho rằng quá nặng so với mỗi đoàn viên. Tuy nhiên, theo tôi, đối với công tác Đoàn và phong trào thanh niên tại Trường Chính trị Bến Tre cần và nên áp dụng vì chúng ta có đủ sức để thực hiện, mỗi đoàn viên của Chi đoàn đều có nhận thức, bản lĩnh về chính trị và lý tưởng cách mạng sâu sắc. Khi nghiên cứu xem xét các nội dung trong Chương trình rèn luyện đoàn viên và giá trị hình mẫu Người thanh niên Đồng Khởi mới rất sát và rất gần với nhau và đây cũng là cơ hội để mỗi đoàn viên Chi đoàn phấn đấu trong công tác, trong tham gia hoạt động để được xem xét giới thiệu kết nạp Đảng, đồng thời khi gắn hai nội dung này Chi đoàn sẽ có thêm cơ sở đánh giá khách quan hơn trong việc tạo nguồn giới thiệu kết nạp Đảng viên lớp Đồng Khởi mới.

    3. Phát huy sức mạnh đoàn kết của Chi đoàn

    Thực hiện Chương trình rèn luyện đoàn viên là một trong những cơ sở đánh giá xếp loại Chi đoàn của Đoàn cấp trên và cũng là cơ sở đánh giá từng đoàn viên trong quá trình hoạt động. Vì vậy, thực hiện tốt các nội dung đăng ký là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi đoàn viên. Tuy nhiên mỗi đoàn viên cần nhận định rõ: phải đoàn kết thực hiện nhiệm vụ, chia sẻ và giúp đỡ nhau tuyệt đối không ganh đua, hơn thua, hoặc chê bai, chỉ trích đồng chí mình khi hoàn thành chưa tốt hoặc thiếu sót trong đăng ký và thực hiện.

    4. Nâng cao tính năng động, chủ động, tính kỷ luật của đoàn viên trong xây dựng tổ chức Đoàn

    Mỗi đoàn viên cần phải định vị về ví trí, vai trò, trách nhiệm của mình đối với tổ chức Đoàn mình đang sinh hoạt, phải chủ động cập nhật thông tin, tìm các giải pháp, mô hình thực hiện hay để đề xuất với Chi đoàn thực hiện tốt hơn Chương trình rèn luyện đoàn viên. Một vài đoàn viên có tính chủ quan, chưa dành thời gian tìm hiểu kỹ từng nội dung đăng ký thực hiện, chỉ đăng ký mang tính đối phó từ đó dẫn đến việc thực hiện chưa có hiệu quả với bản thân và ảnh hưởng chung đến tổ chức đoàn. Do vậy, việc từng đoàn viên tự nâng cao tính chủ động và năng động của mình là hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay.

    Ngoài ra, trong ứng xử với đồng chí, đồng nghiệp phải tế nhị, hòa nhã, phát ngôn chuẩn mực, tuyệt đối không phát ngôn gây mất đoàn kết hoặc xem nhẹ đồng chí mình dù ở bất cứ cương vị nào và hoàn cảnh nào. Mỗi đoàn viên phải là tấm gương với “Tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn,” để tạo sự lan tỏa trong Chi đoàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Tại Nơi Làm Việc
  • Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở
  • Thúc Đẩy Việc Thực Hiện Quyền Trẻ Em Trong Các Cơ Quan Nhà Nước Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Việt Nam Đối Với Việc Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Điều Kiện Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay
  • Mấy Giải Pháp Thúc Đẩy Giáo Dục Quyền Con Người Trong Quân Đội Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Ocop Trên Địa Bàn Tỉnh Khánh Hòa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Quan Trọng Để Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp Và Dịch Vụ, Tạo Bước Đột Phá Trong Phát Triển Kinh Tế Khu Vực Nông Thôn
  • Chương Trình Ocop Là Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Thôn Bằng Nội Lực Ở Hà Tĩnh
  • Đẩy Mạnh Phong Trào “Toàn Dân Đoàn Kết Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa”, Góp Phần Phát Triển Kinh Tế
  • Đưa Phong Trào “Toàn Dân Đoàn Kết Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa” Phát Triển Sâu Rộng, Tạo Sức Mạnh Phát Triển Thành Phố Toàn Diện
  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Phong Trào “Toàn Dân Đoàn Kết Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa” .công An Tra Vinh
  • LĨNH VỰC CHUYÊN NGÀNH

    -

    PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN – DIÊM NGHIỆP

    A+

    A

    A-

    Thực trạng và giải pháp thực hiện Chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

    Thực trạng và giải pháp thực hiện Chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

     

    Qua 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, cùng với cả nước, Khánh Hòa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Kinh tế nông thôn phát triển; đời sống nông dân được cải thiện, cơ sở hạ tầng, nhà ở nông thôn được xây dựng, nâng cấp, cải tạo; bộ mặt nông thôn từng bước được khởi sắc; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao quần chúng được đẩy mạnh, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được củng cố, phong trào thi đua chung sức xây dựng nông thôn mới được nhân dân và xã hội đồng tình hưởng ứng; các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp được phát huy, hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, chuyên canh; nhiều hàng hóa nông sản được chứng nhận nhãn hiệu và chất lượng.

    Giai đoạn 2021-2025, tiếp tục thực hiện Chương trình với mục tiêu nâng cao số xã, số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao; duy trì thành quả và nâng cao chất lượng tiêu chí đối với xã đã đạt chuẩn nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững.

    Để đạt các mục tiêu đó cần có nhiều Chương trình, dự án đi vào chiều sâu của từng lĩnh vực; một trong những Chương trình, dự án đó là Chương trình mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP). Đây là Chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2021– 2021; Chương trình có mục tiêu: Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa) để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế nông thôn;  Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới; thông qua việc phát triển sản xuất tại khu vực nông thôn, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý (hạn chế dân di cư ra thành phố), bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của nông thôn Việt Nam.

    Khánh Hoà là tỉnh thuộc khu vực duyên hải Nam Trung bộ có tổng diện tích tự nhiên 513.780 ha; diện tích đất sản xuất nông nghiệp 100.000 ha, trong đó, diện tích các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao như xoài 8.169 ha, sầu riêng 1.700 ha, bưởi da xanh 1.398 ha, dừa 1.766 ha, chuối 3.817 ha, tỏi 439 ha…; diện tích đất có rừng 239.000ha; diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 6.767 ha, đất sản xuất muối là 1.021 ha. Sản lượng nông sản chủ yếu sản xuất hàng năm: 110.000 tấn thủy sản; 70.000 tấn thịt gia súc gia cầm; 276.000 tấn lương thực; 100.000 tấn quả các loại. Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 800 triệu USD, trong đó xuất khẩu thủy sản trên 600 triệu USD; là vùng kinh tế tiềm năng để “triển khai thực hiện sâu rộng chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trịgiai đoạn 2021-2025 như trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVIII đã nêu.

    Thực hiện Quyết định số 490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 3253/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2021-2020.

    1.     Kết quả triển khai thực hiện giai đoạn 2021-2020

    a) Về Công tác tổ chức bộ máy thực hiện Chương trình OCOP

    Đã bổ sung nhiệm vụ triển khai Chương trình OCOP vào nhiệm vụ của Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2020 các cấp.

    Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan thường trực Chương trình cấp tỉnh; Phòng Kinh tế/ Nông nghiệp và PTNT là cơ quan thường trực Chương trình OCOP cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức triển khai thực hiện, có 1 cán bộ kiêm nhiệm phụ trách OCOP, được lồng ghép trong nhiệm vụ nông thôn mới tại xã.

    b) Về Công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực và tuyên truyền.

    – Cấp tỉnh và cấp huyện đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho các đối tượng cán bộ quản lý các cấp và chủ thể tham gia như hội nghị hướng dẫn xây dựng và thực hiện Kế hoạch Chương trình; hội nghị triển khai Chương trình OCOP và Tập huấn đánh giá xếp hạng sản phẩm; tập huấn hướng dẫn xây dựng ý tưởng sản phẩm và xét chọn sản phẩm, xây dựng phương án kinh doanh và thẩm định phương án kinh doanh, xây dựng câu chuyện sản phẩm và hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ tham gia đánh giá và xếp hạng sản phẩm. Quá trình tập tuấn điều có mời Hội, đoàn thể các cấp đặc biệt là hội nông dân.

    Ngoài các lớp tập huấn, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức đoàn của Tổ Tư vấn giúp việc Hội đồng OCOP cấp tỉnh là cán bộ chuyên môn của các Sở, ban ngành hướng dẫn trực tiếp tại các địa phương, các chủ thể phát triển, hoàn thiện các sản phẩm tham gia; đã tổ chức đoàn cấp tỉnh cho các địa phương, sở ban ngành tham quan học tập kinh nghiệm tại tỉnh Quảng Nam – một trong các tỉnh thí điểm thực hiện Chương trình OCOP của Trung ương và đang có những thành tích nổi trội thực hiện Chương trình OCOP trên cả nước.

    – Việc thông tin, tuyên truyền về Chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường xuyên, liên tục qua Báo, Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa và hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng từ tỉnh, huyện đến cấp xã, thôn. Đồng thời, trên Website  của Sở Nông nghiệp và PTNT và tại chuyên trang Chi cục Phát triển nông thôn, Văn phòng Điều phối tỉnh thường xuyên đăng tải các Văn bản của Trung ương và địa phương về Chương trình để các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh biết thực hiện.

     Ngoài ra, Sở Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Bưu điện tỉnh Khánh Hòa tổ chức họp lấy ý kiến của các Sở ban ngành về việc đưa sản phẩm thuộc Chương trình OCOP lên sàn giao dịch thương mại điện tử của Bưu điện Việt Nam.

    c) Số sản phẩm, chủ thể đăng ký tham gia chương trình

    Giai đoạn 2021-2020, tỉnh Khánh Hòa triển khai xây dựng kế hoạch tập trung chuẩn hóa 52 sản phẩm đã có; trong đó, triển khai trên địa bàn tất cả các xã có sản phẩm chủ lực của địa phương như sầu riêng, chuối, mía tím (Khánh Sơn), xoài (Cam Lâm) và bưởi da xanh (Khánh Vĩnh); ngoài ra, thực hiện trên địa bàn cấp xã cụ thể có các phẩm đặc trưng như Vạn Ninh (08 đơn vị), Ninh Hòa (07 đơn vị), Diên Khánh (05 đơn vị), Nha Trang (03 đơn vị), Cam Ranh (03 đơn vị).

    Về sản phẩm tham gia có nhóm thực phẩm: 43 sản phẩm; nhóm đồ uống: 03 sản phẩm; nhóm lưu niệm – nội thất – trang trí: 06 sản phẩm.

    d) Kết quả đánh giá, phân hạng sản phẩm

    Theo chu trình đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP, cấp huyện tổ chức Hội đồng đánh giá, chuyển hồ sơ và sản phẩm mẫu của các sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên (50-100 điểm) đề nghị cấp tỉnh đánh giá, phân hạng.

    – Năm 2021: Các địa phương đã tổ chức đánh giá, phân hạng 27 sản phẩm (chiếm 93% số sản phẩm tham gia chương trình năm 2021) của 23 chủ thể. Sau đánh giá đã chuyển hồ sơ và sản phẩm mẫu của 20 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên (50-100 điểm) đề nghị cấp tỉnh đánh giá, phân hạng.

    Hội đồng đánh giá cấp tỉnh đã họp đánh giá và xếp hạng sản phẩm, trình UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2466/QĐ-UBND ngày 16/9/2020 công nhận kết quả đánh giá, xếp hạng sản phẩm tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP) tỉnh Khánh Hòa năm 2021 cho 18 sản phẩm đạt 3 sao của 14 chủ thể gồm: 2 sản phẩm chả cá, 1 sản phẩm nấm linh chi, 01 sản phẩm gạo Ngọc Quang, 04 sản phẩm nấm (nấm linh chi, nấm bào ngư, nấm hương, nấm mèo), 01 sản phẩm dưa lưới Ô Xanh, 01 sản phẩm Bưởi da xanh, 01 sản phẩm xoài sấy dẻo,  06 sản phẩm sầu riêng và 01 sản phẩm mía tím.Trong 14 chủ thể có 04 Hợp tác xã, 6 Tổ hợp tác, 03 doanh nghiệp, 1 hộ kinh doanh.

     

     

    – Năm 2021: Các địa phương đã tổ chức đánh giá, phân hạng 13 sản phẩm của 12 chủ thể. Sau đánh giá đã chuyển hồ sơ và sản phẩm mẫu của 12 sản phẩm của 11 chủ thể đạt từ 3 sao trở lên (50-100 điểm) đề nghị cấp tỉnh đánh giá, phân hạng. Ngày 25/12/2020, Hội đồng cấp tỉnh đã tổ chức đánh giá và xếp hạng sản phẩm; trong đó, có 01 sản phẩm đạt 4 sao (dưa lưới ô xanh) và 07 sản phẩm đạt 03 sao gồm 03 sản phẩm sầu riêng, 01 sản phẩm xoài úc, 01 sản phẩm Nếp Quạ Ninh Đông, 01 sản phẩm gạo thảo dược và 01 sản phẩm rau muống.

     

    e) Kết quả triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm

    Nhằm quảng bá, giới thiệu các sản phẩm đăng ký tham gia Chương trình OCOP của tỉnh đến với người tiêu dùng. Trong 02 năm 2021 và 2021, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức gian hàng triển lãm Festival OCOP tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn  mới giai đoạn 2010 – 2021 do Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương tổ chức tại Nam Định từ ngày 17/10/2019 – 19/10/2019; trưng bày và giới thiệu sản phẩm OCOP được UBND tỉnh công nhận đạt 03 sao trở lên tại Phiên chợ Tuần nông sản an toàn thực phẩm năm 2021 do Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức từ ngày 16/10/2020 – 18/10/2020 tại Trung tâm thương mại Big C, đường 19/5, Khu đô thị Vĩnh Điềm Trung, xã Vĩnh Hiệp, thành phố Nha Trang.

    Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể đưa sản phẩm đã được chứng nhận tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong và ngoài tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tiến hành in nhãn hiệu chứng nhận OCOP đạt 3 sao và cấp phát cho các chủ thể gắn lên sản phẩm; đã in Catologue sản phẩm OCOP tỉnh Khánh Hòa và dự kiến Tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá Chương trình OCOP giai đoạn 2021-2020 kết hợp trao quyết định công nhận sản phẩm đạt 3, 4 sao và kết nối cung cầu tiêu thụ sản phẩm OCOP vào đầu tháng 01/2021.

     

    Đồng hành với ngành Nông nghiệp và PTNT, ngày 25/12/2020, Sở Công Thương đã tổ chức khai trương điểm bán và giới thiệu sản phẩm OCOP tại Siêu thị Co.opmart Nha Trang.

    2. Khó khăn, tồn tại

    – Chương trình OCOP là Chương trình mới, việc triển khai Chương trình OCOP ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn do không bố trí được nhân lực. Phần lớn các cán bộ được giao kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau ngoài Chương trình OCOP. Cán bộ được bố trí không đủ thời gian thực hiện, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhân lực trong triển khai Chương trình.Trình độ quản lý, nghiệp vụ của cán bộ cấp huyện (cấp hướng dẫn, thực hành), cấp xã (cấp triển khai, phối hợp, thực hành) của một số địa phương trên địa bàn tỉnh còn gặp khó khăn trong việc thẩm định các dự án, phương án kinh doanh của các chủ thể tham gia. Việc tổ chức đánh giá của một số địa phương còn chưa thật sự quan tâm, hồ sơ đề nghị đánh giá và xếp hạng sản phẩm đạt 03 sao ở cấp huyện đề nghị đánh giá ở cấp tỉnh còn nhiều sai sót và thiếu những yêu cầu bắt buộc để đạt từ 03 sao theo quy định tham gia Chương trình, dẫn đến gây khó khăn trong quá trình thẩm định và đánh giá hồ sơ của Tổ Tư vấn giúp việc Hội đồng cấp tỉnh mặc dù các địa phương đã được tập huấn và hướng dẫn cách đánh giá và xếp hạng sản phẩm, hồ sơ tham gia đánh giá.

    – Quá trình triển khai chưa thật sự đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế, chính sách hỗ trợ được thực hiện lồng ghép từ nhiều chính sách đã được ban hành, tuy khá đầy đủ, nhưng lại thiếu đồng bộ, luôn thay đổi, chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến sự lúng túng và khó khăn cho các địa phương dẫn đến không thực hiện hết nguồn kinh phí hỗ trợ; năm 2021, kinh phí thực hiện chỉ đạt 15,5% (692/4.440 triệu đồng).

    – Tiềm lực sản phẩm tham gia OCOP của tỉnh là rất lớn nhưng việc tuyên truyền sâu rộng để người dân tham gia còn hạn chế; muốn các chủ thể tham gia OCOP, ngành nông nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện đều phải đến tận nơi vận động, thuyết phục, hỗ trợ toàn diện chu trình OCOP từ thủ tục kiểm định chất lượng, mẫu mã bao bì cho đến xây dựng câu chuyện sản phẩm. Rất ít chủ thể (doanh nghiệp, cơ sở sản xuất) chủ động tìm đến để được hỗ trợ đưa sản phẩm tham gia OCOP. 

    Sản phẩm tham gia Chương trình đa phần là sản phẩm chủ lực của các địa phương, chủ yếu là sản phẩm thực phẩm tươi, chưa qua chế biến (chưa gia tăng giá trị). Các sản phẩm này chủ yếu là do các hộ gia đình, HTX, THT sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, tính liên kết thấp; chưa chủ động trong phân phối và tiếp thị sản phẩm, có phần hạn chế trong xây dựng ý tưởng sản phẩm, phương án kinh doanh,… Sản phẩm tuy là chủ lực nhưng vẫn chưa đạt được một số  yêu cầu theo tiêu chí sản phẩm đạt OCOP.

    Số lượng chủ thể tham gia vẫn còn e dè và hạn chế do biểu mẫu, hồ sơ tham gia đánh giá quá nhiều và quá khó đối với các chủ thể sản xuất (DNNVV, HTX, THT, hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh). Bộ tiêu chí đánh giá phân hạng sản phẩm theo Quyết định số 1048/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn nhiều điểm chưa phù hợp với một số sản phẩm của các địa phương; một số nội dung phân công hướng dẫn thuộc các lĩnh vực chuyên ngành của các Sở, ban ngành trong Bộ tiêu chí còn chưa cụ thể nhất là đối với các sản phẩm thuộc Bộ sản phẩm thủ công mỹ nghệ trang trí và thủ công mỹ nghệ gia dụng (nhất là đối với sản phẩm có chất liệu trầm hương – một sản phẩm đặc hữu, có thương hiệu của Khánh Hòa).

    3. Đánh giá chung

    – Chương trình OCOP triển khai trên địa bàn tỉnh trong thời gian ngắn song đã nhận được sự quan tâm của Tỉnh ủy, được Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2021-2025 đưa vào báo cáo chính trị định hướng cho giai đoạn đến đó là “đẩy mạnh chương trình OCOP theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị”; HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã quan tâm bố trí nguồn vốn để hỗ trợ phát triển Chương trình; đồng thời chỉ đạo các Sở ban ngành, các cấp tăng cường thực hiện để đảm bảo Kế hoạch đề ra. Để có một Chương trình OCOP nâng cao, sâu rộng và đồng bộ cho giai đoạn 2021-2025, UBND tỉnh Khánh Hòa đã quan tâm phê duyệt đề cương và cấp kinh phí thực hiện; Ngành Nông nghiệp và PTNT đã gọi mời Công ty Cổ phần Phát triển Dược Khoa tư vấn lập đề án; Công ty có chúng tôi Trần Văn Ơn, giảng viên cao cấp, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Cổ phần Phát triển Dược Khoa – người thầy có thể nói là đầu tiên trong Chương trình OCOP Việt Nam, đã và đang tư vấn cho nhiều tỉnh thực hiện hiệu quả Chương trình này để tư vấn lập đề án trên địa bàn tỉnh.

    – Tuy chưa sâu rộng nhưng qua triển khai Chương trình nhận thấy từng bước đã có sự quan tâm, chú ý của các chủ thể từ 26 sản phẩm đăng ký ban đầu, đã có thêm 26 sản phẩm đăng ký bổ sung, nâng tổng số sản phẩm tham gia giai đoạn 2021-2020 lên 52 sản phẩm; điều đó cho thấy ý nghĩa thực sự của Chương trình đã được các chủ thể sản xuất đồng tình hưởng ứng.

    Chương trình đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là về mặt nhận thức của xã hội và cấp ủy, chính quyền các cấp và cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã về vị trí của Chương trình OCOP trong phát triển kinh tế nông thôn. Thông qua việc tham gia Chương trình các chủ thể sản xuất đã hiểu rõ được lợi ích của Chương trình, giúp chủ thể hoàn thiện sản phẩm hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới. Chương trình nhận được sự hưởng ứng cao của các chủ thể sản xuất. Các sản phẩm OCOP được xếp hạng đã có bước tiến về chất lượng, đa dạng về mẫu mã, bao bì, đảm bảo điều kiện, quy định về tem, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

    4. Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh thực hiện Chương trình

    Một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao việc triển khai thực hiện Chương trình OCOP theo hướng nâng cao, sâu rộng và đồng bộ trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến

    a) Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức

    – Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể để phổ biến rộng rãi Chương trình về nội dung, chu trình, bộ tiêu chí đánh giá, xếp hạng sản phẩm; những thành tựu và kết quả thực hiện Chương trình; những gương điển hình tiên tiến và mô hình sản xuất tiêu biểu trong tổ chức sản xuất, phát triển thị trường, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm khu vực nông nghiệp, nông thôn dưới dạng bản tin, chuyên đề, câu chuyện gắn với hình ảnh, khẩu hiệu cụ thể. Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc và những bất cập, tồn tại trong quá trình triển khai Chương trình OCOP ở các địa phương.

    – Tập trung công tác đào tạo, tập huấn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ nhà nước trong hệ thống OCOP (tỉnh, huyện, xã); tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về phát triển sản phẩm tại các địa phương nhằm hỗ trợ các chủ thể sản xuất có điều kiện tham gia.

    b) Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình

    Rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy điều hành, triển khai Chương trình OCOP các cấp; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu/phần mềm quản lý chương trình; xây dựng hệ thống quản lý, giám sát chất lượng sản phẩm OCOP.

    c) Xây dựng cơ chế chính sách

    Cần ban hành cơ chế, chính sách cụ thể cho Chương trình OCOP để hỗ trợ, tạo động lực thúc đẩy sâu rộng và đồng bộ; cơ chế chính sách quan tâm đến việc hỗ trợ phát triển theo hướng nội sinh và gia tăng giá trị nhằm khai thác sản phẩm thế mạnh, đặc hữu của địa phương, tạo tiền đề cho phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập trên địa bàn.

    d) Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, phân hạng sản phẩm

    Số hóa, hướng cụ thể hồ sơ minh chứng các tiêu chí theo từng bộ tiêu chí đánh giá để tạo điều kiện cho các chủ thể có thể truy cập và lập hồ sơ tham gia đánh giá, phân hạng một cách chính xác và nhanh nhất.

    Tổ chức đánh giá, phân hạng sản phẩm 02 lần trong năm; đợt 1 vào mua thu hoạch sản phẩm nông nghiệp (tháng 7, 8); đợt 2 vào tháng 11 trong năm.

    e) Đổi mới và đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm

    Đổi mới hình thức, phương pháp xúc tiến thương mại để quảng bá các sản phẩm chủ lực thông qua các cuộc hội chợ, triển lãm. Hình thành các điểm bán hàng; trung tâm OCOP để giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm OCOP (đạt 3 sao trở lên) ở cấp tỉnh và cấp huyện;

    Đẩy mạnh việc đưa sản phẩm OCOP lên sàn giao dịch điện tử nhằm tăng cường kết nối cung cầu;

    Tổ chức Hội chợ OCOP thường niên 01 lần/năm, tập trung vào các sự kiện văn hóa, du lịch lớn của tỉnh dần tiến tới hoạt động xã hội hóa; lồng ghép các gian hàng giới thiệu và bán sản phẩm OCOP trong các hội chợ thương mại tại các địa phương;

    Xây dựng sản phẩm OCOP gắn với du lịch, thúc đẩy hoạt động quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, nhất là đẩy mạnh tiêu thụ tại chỗ thông qua khách du lịch tại các điểm du lịch sinh thái cộng đồng, qua đó góp phần đa dạng ngành du lịch Khánh Hòa.

     Tổ chức Hội nghị đối tác OCOP, xây dựng “Mạng lưới Đối tác OCOP Khánh Hòa” với sự tham gia của các tổ chức OCOP (chia sẻ thông tin, gặp gỡ, đàm phán, ký kết thỏa thuận, hợp đồng,….) nhằm liên kết các chủ thể thực hiện chương trình với các doanh nghiệp trong và ngoài nước; hình thành các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị gắn với chuẩn hóa vùng trồng đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh như xoài, sầu riêng, bưởi, tỏi…qua đó, hỗ trợ một phần kinh phí để các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư máy móc, trang thiết bị nhằm tạo ra chuỗi sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao như tinh dầu bưởi, trà hoa bưởi, xoài sấy, tỏi đen, tinh dầu tỏi…..

    Tác giả: Huỳnh Quang Thành – Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Khánh Hòa.

    CÁC TIN KHÁC

    Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2021

    Triển khai thực hiện Quyết định 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ

    Triển khai Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ

    Hội thảo lấy ý kiến góp ý Đề án thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2021 – 2025.

    Hội nghị toàn quốc Tổng kết Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2021 – 2021.

    HỘI NGHỊ CÁN BỘ CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHI CỤC PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN KHÁNH HÒA

    UBND tỉnh Khánh Hòa công nhận 26 sản phẩm đạt từ 03 sao OCOP giai đoạn 2021-2020

    Hội nghị đánh giá và xếp hạng sản phẩm Chương trình OCOP năm 2021

    Mời tham gia Hội chợ triển lãm Nông nghiệp Quốc tế lần thứ 20 – AgroViet 2021.

    UBND tỉnh Khánh Hòa công nhận 18 sản phẩm đạt 03 sao OCOP năm 2021.

    1

    234

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Nghiên Cứu, Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 58 Của Bộ Chính Trị
  • Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2021
  • 9 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 5 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm Học 2021
  • Nhiều Cách Làm Hiệu Quả Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Một Cửa Liên Thông Tại Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Đầu Tư Giá Trị Dài Hạn Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Share Mạng Internet Giữa Các Căn Hộ Chung Cư Hoặc Những Nơi Không Thể Đi Được Dây Mạng.
  • Thông Gió Trong Một Tòa Nhà Chung Cư: Lắp Đặt Hệ Thống Trong Các Tòa Nhà Cao Tầng. Phải Làm Gì Với Sự Lạc Hậu Trong Các Căn Hộ? Đề Án Của Bức Tường Bên Ngoài.
  • Hệ Thống Thông Gió Tòa Nhà, Chung Cư, Siêu Thị
  • Chung Cư Quá Ồn, Phải Làm Sao?
  • Cách Chống Nóng Cho Căn Hộ Hướng Tây
  • (thitruongtaichinhtiente.vn) – Các nhà đầu tư giá trị cần phải biết lựa chọn đúng công ty tốt và có tốc độ tăng trưởng hợp lý, xác định chính xác giá trị thực của cổ phiếu, nên sử dụng nguồn vốn dài hạn, không bị giới hạn bởi khả năng hoàn trả để đầu tư vào các cổ phiếu giá trị và tập trung vào những thông tin ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp, giảm sự quan tâm đến những thông tin ảnh hưởng đến biến động giá cả của cổ phiếu trong ngắn hạn, hàng ngày.

    Tóm tắt: Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK), việc ứng dụng lý thuyết đầu tư giá trị (ĐTGT) cũng được ứng dụng khá phổ biến tại Việt Nam. Nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng kỳ hạn đầu tư tác động thuận chiều với tỉ suất sinh lời (TSSL) của ĐTGT. Tuy nhiên, theo khảo sát của nhóm tác giả, có đến 55,4% các nhà đầu tư giá trị có kỳ hạn đầu tư trên 1 năm và chỉ có 44,6% các nhà đầu tư giá trị có kỳ hạn đầu tư dưới 1 năm, và hiệu quả của hoạt động ĐTGT dài hạn của các nhà đầu tư (NĐT) Việt Nam là chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc NĐT chưa nắm rõ được bản chất của ĐTGT dẫn đến kỳ hạn nắm giữ ngắn hoặc kết quả ĐTGT chưa tốt. Vì vậy, để nâng cao được hiệu quả của hoạt động ĐTGT dài hạn, các nhà đầu tư giá trị cần phải biết lựa chọn đúng công ty tốt và có tốc độ tăng trưởng hợp lý, xác định chính xác giá trị thực của cổ phiếu, nên sử dụng nguồn vốn dài hạn, không bị giới hạn bởi khả năng hoàn trả để đầu tư vào các cổ phiếu giá trị và tập trung vào những thông tin ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp, giảm sự quan tâm đến những thông tin ảnh hưởng đến biến động giá cả của cổ phiếu trong ngắn hạn, hàng ngày.

    Từ khóa: Đầu tư giá trị, kì hạn đầu tư, F-score, PEG

    SOLUTIONS TO IMPROVE THE EFFICIENCY OF LONG-TERM VALUE INVESTING ACTIVITIES ON VIETNAM STOCK MARKET

    Abstract: Along with the development of the stock market, the application of  value investing theory is also quite popular in Vietnam. Many research results indicate that investment period has a positive impact on the profitability ratio  of the value investing. However, according to the authors’ survey, up to 55.4% of value investors have investment period of more than 1 year and only 44.6% of value investors have investment period of less than 1 year, and the effectiveness of long-term investment activity of Vietnamese investors is not high. The main reason comes from the fact that investors do not know clearly the nature of value investing, resulting in a short investment period or poor value investing results. Therefore, in order to improve the efficiency of long-term value investing, value investors should choose good company having reasonable growth rate, determining accurately true value of the stock. Also, value investors should use long-term capital, not limited by the ability to pay back to invest in value stocks. Value investors need to focus on information affecting future business activities, less paying attention to information affecting short term and daily movements of stock price.

    Key words: Value investing, investment period/investment horizon, F-score, PEG

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong 18 năm hoạt động từ 2000 đến 2021, TTCK Việt Nam đã phát triển mạnh, chỉ số VN-Index tăng khoảng 9 lần từ mức 100 điểm năm 2000 lên đến mức hơn 900 điểm tính tại thời điểm cuối 20211 với tốc độ tăng trưởng kép của toàn thị trường bình quân là 12,98%. Số lượng các loại hàng hóa niêm yết và đăng ký giao dịch cũng tăng mạnh từ mức chỉ có 2 cổ phiếu niêm yết vào năm 2000, đến cuối năm 2021, trên 2 sở giao dịch đã có hơn 2.110 hàng hóa các loại niêm yết và giao dịch, bao gồm cả cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Giá trị vốn hóa của toàn thị trường ngày càng lớn, tính tới cuối năm 2021, con số này đã lên đến 5.082.672 tỷ đồng, tương đương 101,5% GDP. Kèm theo đó, số lượng các NĐT tham gia thị trường cũng tăng mạnh, tính đến thời điểm cuối 2021, có 2.182.372 tài khoản được mở trên toàn hệ thống, với giá trị giao dịch trung bình đã lên mức 5.682,8 tỷ đồng/phiên2.

    Cùng với sự phát triển của TTCK, việc ứng dụng lý thuyết ĐTGT (Value Investing) cũng đang rất phổ biến tại Việt Nam. Theo nghiên cứu của Lê Thị Tuyết Hoa, Trần Tuấn Vinh & Nguyễn Phạm Thi Nhân (2018) cho thấy lý thuyết ĐTGT là lý thuyết được ứng dụng nhiều nhất trên TTCK Việt Nam, với tỉ lệ NĐT có ứng dụng lý thuyết này chiếm đến 77% tổng số NĐT được khảo sát.

    Ngày nay, lý thuyết ĐTGT được đánh giá là một trong các phương pháp sử dụng phổ biến và mang lại hiệu quả cao cho các NĐT cổ phiếu trên thế giới, hầu hết các NĐT thành công nhất thế giới đều thuộc về trường phái đầu tư này, như Warren Buffett (người được xem là NĐT thành công nhất mọi thời đại), Peter Lynch, Joel Greenblatt, Walter Schloss…. (Vanhaverbeke, F. (2014)).

    2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU 

    Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu

    Năm 1938, lý thuyết ĐTGT được trình bày lần đầu trong tác phẩm lý thuyết giá trị đầu tư (The Theory of Investment Value) của John B. Williams. Theo William, giá trị nội tại của cổ phiếu được xác định bằng cách lấy tất cả dòng cổ tức trong tương lai chiết khấu về hiện tại.

    Năm 1949, lý thuyết ĐTGT được hoàn thiện và trở nên phổ biến khi Benjamin Graham xuất bản tác phẩm Nhà đầu tư thông minh (The Intelligent Investor). Graham (1949) đã đề xuất một phương pháp (sau này gọi là lý thuyết ĐTGT _ Value Investing) giúp các NĐT có thể xác định được các cổ phiếu có khả năng mang lại tỷ suất sinh lời (TSSL) cao bằng cách lựa chọn các cổ phiếu có chất lượng và tăng trưởng tốt, xác định được giá trị nội tại của các cổ phiếu này, sau đó, mua vào các cổ phiếu có giá trị nội tại cao hơn giá trị thị trường (được gọi là các cổ phiếu bị thị trường định giá thấp _ UnderValue). Nội dung của lý thuyết Graham (1949,1973), xoay quanh hai giả định cơ bản là (i) mỗi cổ phiếu đều có một giá trị nội tại có thể xác định được bằng các phương pháp định giá. (ii) giá cả cổ phiếu sẽ xoay quanh và chịu tác động của giá trị nội tại. Do đó, TSSL của cổ phiếu sẽ chịu tác động từ hai nhóm nhân tố chính: Nhân tố giá trị (hay diễn giải đầy đủ hơn là nhân tố tương quan giữa giá cả và giá trị như P/E, BM, P/B, PEG …). Các nghiên cứu về tác động của nhân tố giá trị nội tại đến TSSL cổ phiếu của Basu (1977), Chan, Hamao, và Lakonishok (1991), Fama và French (1992&1998), Chen và Zhang (1998), Kang và Ding (2005), Chahine (2008), Athanassakos (2009) và Phạm Hữu Hồng Thái & Nguyễn Vũ Hồng Phượng (2015) đều cho thấy các cổ phiếu có giá trị nội tại cao hơn giá thị trường mang lại TSSL cao hơn các cổ phiếu có giá trị nội tại thấp hơn giá thị trường.

    Và nhân tố chất lượng của cổ phiếu (phản ảnh những yếu tố nền tảng bên trong của doanh nghiệp như doanh thu, lợi nhuận, nhân sự, khả năng sinh lời, tốc độ tăng trưởng, nợ…). Các nghiên cứu của Piotroski (2000), Mohr (2012), Galdi và cộng sự (2013), Hyde (2014) và Võ Thị Quý & Bùi Thanh Trúc (2015), Lynch (1989), Greenblatt (2010), Novy-Marx (2013), Athanassakos (2013), và Fama & French (2015) cũng cho thấy rằng các nhân tố đánh giá chất lượng của cổ phiếu đều ảnh hưởng đến TSSL của cổ phiếu.

    Nhìn chung, Graham (1973) đã đưa ra các tiêu chí lựa chọn cổ phiếu chất lượng và cách xác định giá trị nội tại một cách đơn giản và rõ ràng, giúp nhà NĐT có thể dễ dàng tính toán khi ứng dụng. Tuy nhiên, lý thuyết của Graham (1973) có hai hạn chế lớn:

    – Thứ nhất, các tiêu chí mà Graham (1973) đưa ra còn thiếu tiêu chí đánh giá khả năng sinh lời của công ty (như ROE, ROA, ROIC…), đây là một tiêu chí quan trọng dùng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Theo các nghiên cứu của Piotroski (2000), Athanassakos (2013) và Fama & French (2015), khả năng sinh lời của công ty ảnh hưởng mạnh và tỷ lệ thuận với TSSL của cổ phiếu. Ngoài ra, các tiêu chí lựa chọn cổ phiếu chất lượng của Graham (1973) còn rời rạc chưa có sự liên kết để có thể đánh giá hợp lý chất lượng của cổ phiếu như hệ thống chấm điểm chất lượng F_Score hoặc Score trong nghiên cứu của Piotroski (2000) và Athanassakos (2013). Bên cạnh đó, Graham (1973) không chú trọng đến các yếu tố định tính như sản phẩm, công nghệ, marketing, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, kênh bán hàng, chiến lược phát triển của công ty, nhân sự, văn hóa doanh nghiệp… vì theo Fisher (2003), đây là những yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững của một công ty.

    – Thứ hai, khi xác định giá trị nội tại của cổ phiếu, Graham (1973) sử dụng hệ số định giá P/E và P/B, điều này cho thấy Graham chưa quan tâm đến ảnh hưởng của tăng trưởng đến giá trị nội tại của cổ phiếu. Trong khi đó, Lynch (1989), Schatzberg and Vora (2009) đã chứng minh rằng những cổ phiếu có P/E thấp và tốc độ tăng trưởng tốt (hay hệ số PEG thấp) sẽ mang lại hiệu quả đầu tư vượt trội hơn.

    Năm 2003, khắc phục nhược điểm của Graham (1973), Fisher (2003) đã bổ sung thêm vào các tiêu chí định tính khi xác định cổ phiếu chất lượng, đề cao ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng khi xác định giá trị nội tại của cổ phiếu và đề xuất đầu tư cổ phiếu với kỳ hạn dài để có TSSL cao hơn. Tuy nhiên, lý thuyết của Fisher (2003) cũng có một số hạn chế như: (i) Chú trọng nhiều đến các chỉ tiêu định tính nên sẽ gây rất nhiều khó khăn cho NĐT khi áp dụng để đánh giá công ty; chính vì vậy, nếu hai NĐT cùng áp dụng lý thuyết của Fisher để đánh giá cùng một công ty, sẽ có thể dẫn đến khả năng cho ra hai kết quả khác nhau. (ii) Lý thuyết này ít chú trọng đến những chỉ tiêu về mặt tài chính; đây cũng là một khía cạnh quan trọng của doanh nghiệp. (iii) Chưa định lượng rõ ràng về mối quan hệ của hệ số P/E và tiềm năng tăng trưởng của công ty để thấy rõ khi nào cổ phiếu đang bị định giá thấp.

    Theo Hagstrom (2005), kế thừa lý luận về ĐTGT của Williams (1938), Graham (1949; 1973) và Fisher (2003), Warren Buffett đã phát triển lý thuyết ĐTGT bằng cách kết hợp tiêu chí định lượng của Graham và định tính của Fisher để lựa chọn cổ phiếu chất lượng và sử dụng mô hình chiết khấu dòng tiền của Williams để định giá cổ phiếu; đồng thời, bổ sung thêm yếu tố thời gian đầu tư. Theo Nikki Ross (2000), Buffett cho rằng việc nắm giữ các cổ phiếu giá trị lâu dài sẽ mang lại hiệu quả đầu tư lớn hơn nắm giữ ngắn hạn. Theo Hagstrom (2005), lý thuyết ĐTGT của Buffett có thể tóm gọn như sau: để đầu tư thành công, NĐT nên mua cổ phiếu tốt, được định giá thấp hoặc hợp lý và nắm giữ lâu dài.

    Các nghiên cứu của Sharpe (1975), McEnally (1985), Amihud & Mendelson (1986), Kritzman (1994), Siegel (1994), Samuelson (1994), Bennyhoff (2009), Choi & Mukherji (2010), Duruigbo (2011), Li, Liu, Bianchi, & Su (2012) chỉ ra rằng kỳ hạn đầu tư tác động thuận chiều với TSSL của ĐTGT. Tác động của kỳ hạn đầu tư đến TSSL của ĐTGT trên TTCK được diễn ra theo các cơ chế dẫn truyền như sau:

    Thứ nhất là các yếu tố cơ bản của cổ phiếu giá trị có khuynh hướng tăng mạnh theo thời gian, từ đó tác động đến TSSL của ĐTGT (Smith – 1924; Kritzman – 1994))

    Thứ hai là kỳ hạn đầu tư sẽ tác động đến khả năng duy trì trạng thái đầu tư, từ đó tác động đến TSSL của ĐTGT. Kỳ hạn đầu tư càng dài dẫn đến khả năng nắm giữ các trạng thái đầu tư của NĐT càng lâu, đưa đến TSSL của ĐTGT càng tốt (Treynor – 1976; Jones – 2012).

    Thứ ba là kỳ hạn đầu tư sẽ tác động đến khả năng khai thác cơ hội của nhà đầu tư giá trị, từ đó tác động đến TSSL. Theo Scholes (2004) có hai cách để giải thích điều này, đó là việc NĐT dài hạn có thể đầu tư vào các cổ phiếu tốt nhưng thanh khoản thấp và mua các cổ phiếu tốt nhưng có mức rủi ro ngắn hạn cao; điều mà NĐT ngắn hạn không thể làm được.

    Thứ tư là kỳ hạn đầu tư sẽ tác động đến chi phí giao dịch, từ đó tác động đến TSSL của ĐTGT. Nghiên cứu của Gray & Jack (2006) chỉ ra rằng kỳ hạn đầu tư càng dài thì chi phí giao dịch (bao gồm phí giao dịch và thuế) càng thấp, điều này sẽ giúp nâng cao TSSL của ĐTGT.

    Tuy nhiên, lý thuyết của Buffett có hai hạn chế: (i) Các tiêu chí lựa chọn cổ phiếu chất lượng của Buffett đề xuất còn rời rạc chưa có sự liên kết để có thể đánh giá hợp lý chất lượng của cổ phiếu. Xét về tiêu chí này, hệ thống chấm điểm F_Score để chọn lựa cổ phiếu chất lượng của Piotroski (2000) hoạt động tốt hơn. (ii) Phương pháp xác định giá trị nội tại dựa trên chiết khấu dòng tiền của Buffett khá phức tạp cho NĐT ứng dụng và khó khăn trong việc nghiên cứu. Xét về tiêu chí này, phương pháp PEG định giá cổ phiếu của Lynch (1989) phù hợp hơn.

    Như vậy, nội dung chính của lý thuyết ĐTGT là chỉ ra phương pháp giúp NĐT có thể chọn lựa được các cổ phiếu giá trị để đầu tư. Cổ phiếu giá trị là những cổ phiếu hội đủ hai yếu tố: (i) cổ phiếu có chất lượng tốt; và (ii) cổ phiếu đang bị định giá thấp. Đồng thời, lý thuyết này cũng chỉ ra rằng, kỳ hạn đầu tư có ảnh hưởng đến TSSL của ĐTGT.

    3. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA ĐẦU TƯ GIÁ TRỊ TƯƠNG ỨNG VỚI CÁC KỲ HẠN ĐẦU TƯ TRÊN TTCK VIỆT NAM

    Để phân tích và đánh giá thực trạng về kỳ hạn đầu tư và hiệu quả ĐTGT trên TTCK Việt Nam, nhóm tác giả đã thực hiện một đợt khảo sát trong khoảng thời gian từ đầu tháng 4/2017 đến hết tháng 6/2017. Đối tượng khảo sát là các NĐT đang có tài khoản giao dịch chứng khoán tại các công ty chứng khoán trên toàn quốc.

    3.1. Kết quả khảo sát về kỳ hạn đầu tư và TSSL ứng với kỳ hạn của nhà đầu tư giá trị trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Nội dung chính của phần này là đánh giá tỷ suất sinh lời của các nhà đầu tư giá trị tương ứng với kỳ hạn đầu tư của họ, từ đó, rút ra nhận xét về mối tương quan của hai yếu tố này, xem chúng có tương đồng với các kết luận trong lý thuyết được đề cập ở phần trên hay không.

    Kỳ hạn đầu tư của các nhà đầu tư giá trị trên TTCK Việt Nam

    Kết quả từ khảo sát (Bảng 1) cho thấy rằng các nhà đầu tư giá trị có kỳ hạn rất dài chiếm tỷ trọng lớn nhất với 46,2%, tiếp theo là các NĐT rất ngắn hạn với tỷ lệ là 27,7%, còn lại là các NĐT ngắn hạn (dưới 1 năm) với tỷ lệ 16,9% và các NĐT dài hạn (trên 1 năm) với tỷ lệ là 9,2%. Kết quả này cho thấy nhà đầu tư giá trị tại Việt Nam còn có thiên hướng mua bán ngắn hạn rất cao, khi mà tổng hai kỳ hạn rất ngắn và ngắn hạn chiếm tỷ trọng lên đến 44,6%. Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm ĐTGT của các NĐT Việt Nam chỉ là tập trung vào việc lựa chọn cổ phiếu tốt và đang giao dịch dưới giá trị thực, chứ chưa chú trọng đến việc nắm giữ dài hạn.

    Bảng 1: Tỷ trọng các kỳ hạn đầu tư của nhà đầu tư giá trị

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

    Tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư giá trị theo từng kỳ hạn

    Hình 1: TSSL của nhà đầu tư giá trị tại các kỳ hạn đầu tư

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

    Nhà ĐTGT có kỳ hạn rất ngắn được hiểu rằng là các NĐT mua cổ phiếu của các công ty có chất lượng tốt, dưới giá trị nội tại và mua đi bán lại liên tục (thuật ngữ tiếng Anh gọi là “Trading”). Theo kết quả khảo sát (Hình 1) thì 67% các NĐT thuộc nhóm này có tỷ suất sinh lời trên 10%, trong khi đó, chỉ có 6% là lỗ và 28% có tỷ suất sinh lời dưới 10%.

    Nhà ĐTGT có kỳ hạn ngắn được hiểu rằng là các NĐT mua cổ phiếu của các công ty có chất lượng tốt, dưới giá trị nội tại và được nắm giữ có kỳ hạn dưới 1 năm. Theo kết quả khảo sát thì 54% các NĐT thuộc nhóm này có tỷ suất sinh lời trên 10%; trong khi đó, có tới 9% là lỗ và 36% có TSSL dưới 10%.

    Nhà ĐTGT có kỳ hạn dài được hiểu rằng là các NĐT mua cổ phiếu của các công ty có chất lượng tốt, dưới giá trị nội tại và được nắm giữ có kỳ hạn trên 1 năm. Theo kết quả khảo sát thì 33% NĐT thuộc nhóm này có tỷ suất sinh lời trên 10%; trong khi đó, có tới 50% các NĐT có mức sinh lời dưới 10% và 17% các NĐT bị lỗ.

    Nhà ĐTGT có kỳ hạn rất dài được hiểu rằng là các NĐT mua cổ phiếu của các công ty có chất lượng tốt, dưới giá trị nội tại và được nắm giữ rất dài, không xác định rõ ràng kỳ hạn trong kế hoạch đầu tư. Theo kết quả khảo sát thì 50% NĐT thuộc nhóm này có TSSL trên 10%; trong khi đó, có tới 40% các NĐT có mức sinh lời dưới 10% và 10% các NĐT bị lỗ.

    3.2 Đánh giá chung

    Kết quả khảo sát này đi ngược lại với nghiên cứu của Amihud & Mendelson (1986), Kritzman (1994), Siegel (1994), và Vanguard Investment Counseling & Research (2014), khi các nghiên cứu này cho rằng hiệu quả đầu tư sẽ tỷ lệ thuận với kỳ hạn đầu tư. Nguyên nhân chủ yếu giải thích cho điều này là do phương pháp chọn cổ phiếu giá trị của các nhà đầu tư giá trị trên TTCK Việt Nam chưa hợp lý. Theo phân tích kết quả khảo sát của nhóm tác giả, việc các NĐT Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp định giá truyền thống như P/E hoặc P/B mà bỏ qua yếu tố tăng trưởng và có thói quen hay sử dụng các chỉ tiêu tài chính đơn lẻ hoặc có sự kết hợp một số chỉ tiêu nhưng không theo một hệ thống bài bản là những nguyên nhân làm giảm tỷ suất sinh lời khi ứng dụng lý thuyết ĐTGT. Theo khảo sát của nhóm tác giả, có 63% sử dụng phương pháp định giá P/E và P/B; trong khi đó, hầu hết các phương pháp chứa đựng tốc độ tăng trưởng của công ty như PEG và các phương pháp chiết khấu dòng tiền đều có tỷ lệ người sử dụng dưới 50%.

    Bảng 2 : Mức độ sử dụng các phương pháp định giá của nhà đầu tư

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

    Ngoài ra, theo khảo sát (Bảng 3), một tỷ lệ rất cao các NĐT sử dụng các chỉ số đơn lẻ, chiếm một tỷ lệ hầu như trên 70%, trong khi đó, chỉ tiêu tổng hợp (gồm nhiều chỉ tiêu tài chính gộp lại) lại chiếm tỷ lệ rất thấp, đại diện là hệ số F_Score chỉ ở mức 47% người sử dụng. Trong khi đó, các chỉ tiêu tổng hợp này mới thể hiện tính toàn diện về chất lượng của các cổ phiếu được lựa chọn.

     

    4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ GIÁ TRỊ DÀI HẠN TRÊN TCCK VIỆT NAM

    4.1 Giải pháp giúp NĐT lựa chọn chính xác cổ phiếu giá trị

    Trong nội dung này, nhóm tác giả đưa ra 3 khuyến nghị cho NĐT:

    Thứ nhất, áp dụng mô hình phù hợp để lựa chọn cổ phiếu của công ty tốt trước khi ra quyết định đầu tư

    Theo đánh giá của nhóm tác giả, trong ba yếu tố cấu thành nên cổ phiếu giá trị thì yếu tố chất lượng cổ phiếu là quan trọng nhất. Vì nếu như chúng ta mua một cổ phiếu dưới giá trị nhưng chất lượng không tốt thì trong dài hạn, yếu tố không tốt sẽ kéo giá trị của cổ phiếu xuống bằng hoặc thấp hơn giá hiện tại, thay vì làm cho giá cả tăng tiệm cận với giá trị. Thêm vào đó, một công ty tốt với các yếu tố định lượng và định tính tốt sẽ làm cho việc dự tính tốc độ tăng trưởng trong dài hạn của công ty có độ chính xác cao hơn.

    Các NĐT có thể xem xét lựa chọn các mô hình đã được khoa học và thực tiễn kiểm chứng là hiệu quả trong việc lựa chọn cổ phiếu của công ty tốt như: mô hình của Benjamin Graham (1949, 1973), mô hình của Fisher (2003), mô hình của Warren Buffett (theo Hagstrom (2005)) và mô hình của  Lynch (1989). Tuy nhiên, khi áp dụng các mô hình này, các NĐT nên nghiên cứu thận trọng ưu nhược điểm của chúng. 

    Đứng ở góc độ định lượng thì các mô hình lựa chọn cổ phiếu của công ty tốt nêu trên không có tính trọn vẹn và hệ thống như mô hình F_Score của Piotroski (2000), vì mô hình này phản ánh đầy đủ ba khía cạnh quan trọng và có hệ thống của sức khỏe tài chính doanh nghiệp, gồm: khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động và đòn bẩy tài chính. Cách thức Piotroski dùng 9 tín hiệu để chấm điểm các biểu hiện về tài chính của doanh nghiệp (xem Bảng 4) giúp cho các NĐT dễ dàng tính toán, lượng hóa và chọn lọc được công ty tốt.

    Để có thể ứng dụng tốt được mô hình F_Score đòi hỏi NĐT phải có kiến thức khá vững về kế toán và tài chính doanh nghiệp, đặc biệt phải hiểu rõ nội dung các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, NĐT cần phải biết cách sưu tầm thông tin từ các nguồn đáng tin cậy, tốt nhất là nên sử dụng các báo cáo tài chính chưa qua xử lý do doanh nghiệp công bố và đã được kiểm toán.

    Bảng 3: Mức độ sử dụng các chỉ tiêu tài chính của các nhà đầu tư

    Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát của nhóm tác giả

    Thứ hai, chú trọng đến yếu tố tăng trưởng của doanh nghiệp trong việc xác định giá trị thực của cổ phiếu.

    Trong các phương pháp định giá cổ phiếu, đặc biệt là phương pháp sử dụng dòng tiền chiết khấu hoặc PEG thì tốc độ tăng trưởng là hết sức quan trọng, đây là cơ sở để đưa ra các dự báo về các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận…

    Có nhiều cách lựa chọn nhân tố để tính toán tăng trưởng, như Graham (1973) sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên một cổ phiếu (EPS) để đo lường tiêu chí này. Theo Graham mức tăng trưởng của EPS trong vòng 10 năm trong quá khứ phải đạt ít nhất 33% (được tính bằng cách lấy EPS trung bình 3 năm cuối của chu kỳ so sánh với EPS trung bình của 3 trước năm bắt đầu của chu kỳ tính). Còn Buffett (theo Hagstrom (2005)), lại sử dụng dòng tiền tự do của cổ đông (FCFE) để tính tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng này phải ổn định trong nhiều năm trong quá khứ. Lynch (1998) lại sử dụng lợi nhuận để đánh giá tăng trưởng của doanh nghiệp và cho rằng một doanh nghiệp lý tưởng để đầu tư là có mức tăng trưởng nằm trong khoảng 20 – 25% trong các năm gần với hiện tại. Còn Fisher (2003), lại đặt sự quan tâm của một công ty tăng trưởng nằm ở doanh thu.

    Bảng 4: Tiêu chí chấm điểm chỉ tiêu tài chính trong điểm số F_Score

    Nguồn: Piotroski (2000)

    Nhóm tác giả khuyến nghị NĐT nên sử dụng lợi nhuận sau thuế của công ty để tính tốc độ tăng trưởng. Vì đối với các NĐT, lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu được quan tâm nhiều nhất, do nó phản ảnh chính xác hiệu quả hoạt động của công ty và lợi ích sau cùng của NĐT khi mua cổ phiếu, mọi lợi ích của NĐT đều được tính toán dựa trên kết quả của tiêu chí này. Ngoài ra, đây cũng là dữ liệu mà các NĐT dễ hiểu rõ cách tính toán và tìm kiếm.

    Còn đối với phương pháp tính toán, nhóm tác giả khuyến nghị nên dùng dữ liệu quá khứ để xác định tốc độ tăng trưởng dự kiến trong tương lai. Vì bản chất cổ phiếu giá trị là cổ phiếu tốt, một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá cổ phiếu tốt trong các mô hình ĐTGT là công ty phải có tốc độ tăng trưởng ổn định trong quá khứ. Vì vậy, việc sử dụng dữ liệu quá khứ để ước tính tốc độ tăng trưởng trong tương lai là rất phù hợp đối với cổ phiếu giá trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng để đảm bảo tính chính xác của việc ước tính NĐT nên sử dụng tốc độ tăng trưởng bình quân.

    Thứ ba, lựa chọn phương pháp định giá hợp lý

    Theo Damodaran (2012) hiện nay có 3 quan điểm định giá cổ phiếu phổ biến đã và đang được sử dụng: phương pháp chiết khấu dòng tiền (Discounted Cash Flow), phương pháp so sánh và phương pháp định giá dựa trên tài sản. Do sự không chắc chắn về dòng tiền trong tương lai cũng như mức lãi suất chiết khấu đưa ra, nên việc định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền sẽ có nhiều sai số và thiếu chính xác. Trong khi đó, ưu điểm của phương pháp so sánh là đơn giản và dễ hiểu; chúng được sử dụng để ước lượng nhanh giá trị của cổ phiếu, đặc biệt hiệu quả khi có một số lượng lớn cổ phiếu tương tự nhau đang được giao dịch trên thị trường. Tuy nhiên, các NĐT sẽ rất khó khăn khi định giá một số cổ phiếu rơi vào tình trạng đặc biệt như doanh thu rất thấp, tài sản ròng hoặc lợi nhuận đang âm… Trong khi đó, do phải định giá lại tất cả các loại tài sản hữu hình và vô hình theo giá thị trường, nên phương pháp định giá dựa trên tài sản chỉ phù hợp với những đối tượng được công ty cho phép tiếp cận thông tin rất chi tiết, không phù hợp với các NĐT.

    Vì vậy, nhóm tác giả khuyến nghị NĐT nên xem xét sử dụng phương pháp so sánh PEG để định giá cổ phiếu, vì đây là phương pháp dễ dàng trong việc tính toán và tìm kiếm dữ liệu, rất phù hợp với tình trạng khó khăn trong việc tiếp cận thông tin tại Việt Nam.

    4.2 Giải pháp giúp nhà đầu giá trị tư duy trì kỳ hạn đầu tư dài

    Thứ hai, nên tập trung vào những thông tin ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp. Bởi vì, theo các mô hình định giá, những thông tin này là nhân tố quyết định đến giá trị của cổ phiếu. Đồng thời, NĐT nên giảm sự quan tâm đến những thông tin ảnh hưởng đến biến động giá cả của cổ phiếu trong ngắn hạn, hàng ngày. Nghiên cứu của Gray & Jack (2006) đã chỉ ra có một liên kết rõ ràng giữa hành vi đầu tư với số lượng thông tin mà NĐT tiếp nhận, ông cho rằng việc tiếp cận nhiều thông tin sẽ làm cho NĐT tự tin hoặc lo lắng hơn, dẫn đến họ sẽ quyết định nhiều hơn và những quyết định ngày càng trở nên ngắn hạn.

    Thứ ba, NĐT cần phải nghiên cứu sâu và ứng dụng thường xuyên lý thuyết đầu tư giá trị để xác lập niềm tin vào triết lý của lý thuyết này. Nghiên cứu của Woolley (2013) cũng nhấn mạnh rằng có một mối quan hệ rõ ràng giữa triết lý đầu tư và kỳ hạn đầu tư. Khi NĐT tin tưởng vào việc ứng dụng lý thuyết ĐTGT, điều này sẽ giúp cho NĐT có được tâm lý tự tin để duy trì kỳ hạn đầu tư dài; tiếp theo đó, khi NĐT duy trì được kỳ hạn đầu tư dài với các cổ phiếu giá trị, nó sẽ tác động ngược trở lại đến hiệu quả đầu tư.

    Chú thích:

    (1) HOSE (2019). Dữ liệu giao dịch. https://www.hsx.vn/modules/Chart/StaticChart/basicchart?fid=870749ffb9504e1dacc604f462ba36e6. Truy cập ngày 1/7/2019

    (2) UBCKNN (2019). Thống kê TTCK. http://ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vimenu/vipages_vithongtinthitruong/thongkettck?_adf.ctrl-state=ulothofbr_223&_afrLoop=68191178582000 .Truy cập ngày 1/7/2019.

    1 – Amihud, Yakov and Mendelson, Haim (1986). Asset Pricing and the Bid-Ask Spad. Journal of Financial Economics, 17(2), 223-249 

    2 – Athanassakos, G. (2009). Value versus Growth stock returns and the value pmium: The Canadian experience 1985–2005. Canadian Journal of Administrative Sciences/Revue Canadienne des Sciences de l’Administration 26(2): 109-121.

    3 – Athanassakos, G. (2013). Separating Winners from Losers Among Value and Growth Stocks in Canada Another Step in the Value Investing Process. Journal of Applied Research in Accounting and Finance (JARAF), 8(1).

    4 – Basu, S. (1977). Investment performance of common stocks in relation to their price‐earnings ratios: A test of the efficient market hypothesis.”The journal of finance 32(3): 663-682.

    5 – Bennyhoff, D. G. (2009). Time persification and horizon-based asset allocations. The Journal of Investing, 18(1), 45-52.

    6 – Chahine, S. (2008). Value versus growth stocks and earnings growth in style investing strategies in Euro-markets. Journal of Asset management 9(5): 347-358

    7 – Chan, L. K., Hamao, Y., & Lakonishok, J. (1991). Fundamentals and stock returns in Japan. The Journal of Finance, 46(5), 1739-1764.

    8 – Chen, N.-f. and F. Zhang (1998). Risk and return of value stocks. The Journal of Business 71(4): 501-535.

    9 – Choi, P. and Mukherji, S. (2010). Optimal portfolios for different holding periods. Journal of Business and Economics Research, vol. 8, pp. 1–6.

    10 – Coval, Joshua and Stafford, Erik (2007). Asset Fire Sales (and Purchases) in Equity Markets. Journal of Financial Economics, 86(2), 479-512

    11 – Damodaran, A. (2012). Investment valuation: Tools and techniques for determining the value of any asset (Vol. 666): John Wiley & Sons.

    12 – Duruigbo, Emeka (2011). Tackling Shareholder Short-termism and Managerial Myopia. Working Paper, Thurgood Marshall School of Law, Texas Southern University, April 13 – Fama, E. F. and K. R. French (1992). The cross‐section of expected stock returns. The journal of finance 47(2): 427-465.

    14 – Fama, E. F. and K. R. French (1998). Value versus growth: The international evidence. The journal of finance 53(6): 1975-1999.

    15 – Fama, E. F., & French, K. R. (2015). A five-factor asset pricing model. Journal of financial economics, 116(1), 1-22.

    16 – Fisher, P. A. (2003). Common stocks and uncommon profits and other writings (2 ed). John Wiley & Sons, Hoboken, New Jersey.

    17 – Galdi, F. C. and A. B. Lopes (2013). Limits to arbitrage and value investing: Evidence from Brazil. Latin American Business Review 14(2): 107-137.

    18 – Graham, Benjamin (1949). The Intelligent Investor. Harpers & Row, New York.

    19 – Graham, Benjamin (1973). The Intelligent Investor. Harpers & Row, New York.

    20 – Gray & Jack (2006). Avoiding Short-Termism in Investment Decision Making. CFA Institute, December

    21 – Greenblatt, Joel (2010) The Little Book That Beats the Market. John Wiley & Sons, Hoboken, New Jersey.

    22 – Hagstrom, R.G. (2005). The Warren Buffett way. John Wiley & Sons, Hoboken, New Jersey.

    23 – Hyde, C. E. (2014). An emerging market analysis of the Piotroski F-score. JASSA, (2), 25.

    24 – Jones, Brad (2012). Navigating the Long Run. Deutsche Bank Special Report, 21 February

    25 – Kang, J. and D. Ding (2005). Value and growth investing in Asian stock markets 1991-2002. Research in Finance 22: 113-139.

    26 – Kritzman, Mark (1994). What Practitioners Need to Know. . . About Time Diversification. Financial Analysts Journal , January/February: 14–18.

    27 – Lê Thị Tuyết Hoa, Trần Tuấn Vinh & Nguyễn Phạm Thi Nhân (2018). Hiệu quả ứng dụng phương pháp đầu tư giá trị trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Công nghệ Ngân hàng.

    28 – Li, B., Liu, B., Bianchi, R., & Su, J. J. (2012). Stock returns and holding periods. JASSA, (2), 43.

    29 – Lynch, P. (1989). One up on Wall Street: How To Use What You Already Know To Make Money In The Market. Simon & Schuster.

    30 – McEnally, R. W. (1985). Time persification: surest route to lower risk?. The Journal of Portfolio Management, 11(4), 24-26.

    31 – Mohr, J.-H. M. (2012). Utility of Piotroski F-Score for pdicting Growth-Stock Returns. MFIE Capital Working Paper.

    32 – Nikki Ross (2000). Lessons from the Legends of Wall Street. Dearborn Financial Publishing, Chicago: p10

    33 – Novy-Marx, R. (2013). The Other Side of Value: The Gross Profitability Premium. Journal of Financial Economics, forthcoming.

    34 – Williams, J. B. (1938). The theory of investment value (Vol. 36). Cambridge, MA: Harvard university pss

    – 35 – Fisher, P. A. (2003). Common stocks and uncommon profits and other writings (2 ed). John Wiley & Sons, Hoboken, New Jersey.

    36 – Piotroski, J. D. (2000). Value investing: The use of historical financial statement information to separate winners from losers. Journal of Accounting Research: 1-41.

    37 – Schatzberg, J. D., & Vora, G. (2009). PEG investing strategy: A revisit. Quarterly Journal of Finance and Accounting, 5-22.

    38 – Scholes, Myron. S. (2004). The Future of Hedge Funds. Journal of Financial Transformation, 10,8-11

    39 – Siegel, Jeremy J. (1994). Stocks for the Long Run . New York: McGraw-Hill, p. 29.

    40 – Sharpe, W. F. (1975). Likely gains from market timing. Financial Analysts Journal, 31(2), 60-69.

    41 – Smith, E. L. (1924). Common stocks as long term investments (pp. 81). Pickle Partners Publishing.

    42 – Treynor, J. L. (1976). Long-term investing.  Financial Analysts Journal, 32(3), 56-59.

    43 – Vanhaverbeke, F. (2014). Excess Returns: A comparative study of the world’s greatest investors. Harriman House Limited.

    44 – Woolley, Paul (2013). Resilience and the Long-term: Rethinking Portfolios for Prosperity. Speech at The Prince’s Charities Event, 27th June 2013

    45 – Vanguard Investment Counseling & Research (2014). Time Diversification and Horizon-Based Asset Allocations.

    46 – Võ Thị Quý & Bùi Thanh Trúc (2015). Kiểm định chiến lược đầu tư giá trị theo mô hình F-Score trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Phát triển Kinh tế 26(12), 69-87..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vụ Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán
  • Phần Mềm Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn
  • Giải Pháp Kỹ Thuật In Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Trên Máy Tính
  • Những Lưu Ý Quan Trọng Về Phong Thủy Khi Mua Nhà Chung Cư
  • Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Hoạt Động Công Chứng Và Đấu Giá Tài Sản
  • Giải Pháp Kỹ Thuật In Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Trên Máy Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Mềm Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn
  • Vụ Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Đầu Tư Giá Trị Dài Hạn Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Share Mạng Internet Giữa Các Căn Hộ Chung Cư Hoặc Những Nơi Không Thể Đi Được Dây Mạng.
  • Thông Gió Trong Một Tòa Nhà Chung Cư: Lắp Đặt Hệ Thống Trong Các Tòa Nhà Cao Tầng. Phải Làm Gì Với Sự Lạc Hậu Trong Các Căn Hộ? Đề Án Của Bức Tường Bên Ngoài.
  • ..

     

    Công ty Cổ Phần …..

    V/v: Giải pháp kỹ thuật in chứng từ khấu trừ máy tính

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

    GIẢI PHÁP KỸ THUẬT IN CHỨNG TỪ KHẤU TRỪ THUẾ

    TRÊN MÁY TÍNH

     

    Kính gửi: Chi cục Thuế Quận Bình Thạnh

     

    1.   Tên tổ chức cá nhân chi trả thu nhập:  CÔNG TY …………..

    2.   Mã số thuế:

    0

    3

    1

    1

    9

    0

     

     

     

     

     x

    x

    3.   Địa chỉ: ….

    4.   Số điện thoại:  ….

    Căn cứ Thông tư số 37/2010/TT-BTC ngày 18/3/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc phát hành, sử dụng, quản lý chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính,

    Căn cứ  tình hình cấp và sử dụng chứng từ khấu trừ thuế tại công ty Cổ Phần Dịch vụ Giao Hàng Nhanh

    Đơn vị chúng tôi xin thuyết minh giải pháp kỹ thuật in chứng từ khấu trừ thuế từ máy tính tại đơn vị như sau:

     

    a.     Về kỹ thuật in chứng từ khấu trừ thuế từ phần mềm

    -         Để truy cập phần mềm tự in chứng từ khấu trừ thuế tại công ty chúng tôi, người sử dụng cần có tên đăng nhập (UserName) và mật khấu (Password) và tùy theo nhiệm vụ công việc được phần công, chuyên viên sẽ được phân quyền với tính năng nhất định khi truy cập vào hệ thống.

    -         Phần mềm tự in chứng từ khấu từ thuế TNCN có thể kết nối dữ liệu với phần mềm kế toán qua hình thức nạp dữ liệu từ file excel do các phần mềm kế toán kết xuất ra, file excel này xuất từ phần mềm kế toán theo mẫu, giúp dữ liệu chuyển sang một cách chính xác và nhanh chóng.

    -         Sau khi in chứng từ khấu trừ thuế, phần mềm tự động đổ vào bảng kê sử dụng chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân và đơn vị chúng tôi có thể in và báo cáo hàng quý với quý cơ quan.

     

    b.    Về nội dung và hình thức chứng từ khấu trừ thuế

    Mẫu chứng từ khấu trừ thuế TNCN tự in tại đơn vị chúng tôi cam kết đảm bảo các chỉ tiêu theo thông tư 37/2010/TT-BTC ngày 18/3/2010 của Bộ Tài chính (mẫu CTT56) cụ thể như sau:

    -               Chứng từ khấu trừ phải có ký hiệu và ký hiệu được sử dụng các chữ cái trong 20 chữ cái tiếng Việt in hoa (A, B, C, D, E, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, U, V, X, Y), ký hiệu gồm 02 chữ cái và năm in phát hành. (Ví dụ: AB/2010/T, trong đó AB là ký hiệu; 2010 là năm phát hành chứng từ; T là chứng từ tự in).

    -               Chứng từ khấu trừ được đánh số thứ tự liên tục theo dãy số tự nhiên, tối đa không quá 07 chữ số trong 01 ký hiệu.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     

    -               Mỗi số chứng từ khấu trừ gồm 02 liên:

    Liên 1: Lưu tại đơn vị chúng tôi

    Liên 2: Giao cho người bị khấu trừ tiền thuế.

    C. về trách nhiệm của công ty chi trả thu nhập đã được phép sử dụng chứng từ khấu trừ thuế tự in trên máy tính

    – Khi thay đổi hình thức chứng từ khấu trừ tự in, đơn vị chúng tôi có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp quản lý tổ chức trả thu nhập mẫu chứng từ khấu trừ mới.

    – Thực  hiện mở sổ sách theo dõi, bảo quản, lưu trữ chứng từ khấu trừ đã in, đã sử dụng theo quy định của pháp luật về Thuế và pháp luật về Kế toán – thống kê

    – Xuất trình chứng từ khấu trừ đã sử dụng cho cơ quan thuế và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi kiểm tra

    – Báo cáo sử dụng chứng từ khấu trừ theo quy định

    – Lưu giữ dữ liệu về chứng từ khẩu trừ theo quy định của Luật giao dịch điện tử và Luật kế toán

    Nếu được Cục thuế chấp thuận sử dụng chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính, đơn vị chúng tôi cam kết thực hiện đầy đủ các quy định về chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tự in trên máy tính. Nếu sai phạm đơn vị chúng tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật

     

    ……, ngày …… tháng …… năm ……

    NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP

    CỦA TỔ CHỨC TRẢ THU NHẬP

    Ký, đóng dấu (ghi rõ họ, tên và chức vụ)

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Lưu Ý Quan Trọng Về Phong Thủy Khi Mua Nhà Chung Cư
  • Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Hoạt Động Công Chứng Và Đấu Giá Tài Sản
  • Quản Lý, Vận Hành, Sử Dụng Nhà Chung Cư: Hà Nội Bàn Nhiều Giải Pháp Mạnh
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Trong Quản Lý Vận Hành Và Sử Dụng Nhà Chung Cư Hà Nội
  • Giải Pháp Nào Giúp Ban Quản Lý Kết Nối Cư Dân Tòa Nhà Nhanh Chóng?
  • Việt Nam Chủ Trương Giải Quyết Tranh Chấp Trên Biển Bằng Biện Pháp Hòa Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Việt An
  • Công Ty Tnhh Một Thành Viên Giải Pháp Bluecom Việt Nam (Ntnn)
  • Ưu Và Nhược Điểm Các Giải Pháp Chống Trộm Xe Máy
  • Đánh Giá 3 Giải Pháp Chống Trộm Xe Máy Tốt Nhất Hiện Nay
  • Top 3 Định Vị Gps Bảo Vệ Xe Máy Tốt Nhất Tại Aiovina
  • (Chinhphu.vn)- Việt Nam tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của mình trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển 1982.

    Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý, cụ thể là: Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về phân định biển ngày 9/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về phân định thềm lục địa ngày 26/6/2003.

    Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý, cụ thể là: Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về phân định biển ngày 9/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về phân định thềm lục địa ngày 26/6/2003.

    Thực tiễn đàm phán, ký kết các văn kiện nêu trên đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của Công ước, đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển. Trên cơ sở các quy định của Công ước, Việt Nam đang thúc đẩy đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đàm phán về các vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác.

    Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”; dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC, trong đàm phán Việt Nam và các nước thống nhất nguyên tắc COC phải sử dụng UNCLOS làm cơ sở).

    Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam- Trung Quốc” ký ngày 10/11/2011.

    Điều đó cho thấy Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước.

    Ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ước Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

    Việt Nam còn tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo Công ước. Việt Nam đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng và thành viên Hội đồng của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương.

    Đây là những bằng chứng sinh động thể hiện thiện chí, sự tích cực, quyết tâm và cam kết thực tế của Chính phủ Việt Nam đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển 1982, nhằm thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông.

    Trong bối cảnh tranh chấp phức tạp hiện nay ở Biển Đông, việc tôn trọng và tuân thủ đầy đủ Công ước Luật Biển 1982 càng có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực.

    Trước hết, các quốc gia cần tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý cũng như các tiến trình đàm phán đang diễn ra, tránh có những động thái nhằm làm xói mòn, hạ thấp vai trò của Công ước. Mọi yêu sách về biển của các nước cần dựa trên các quy định của Công ước, không áp đặt các yêu sách thái quá, không phù hợp với quy định của Công ước.

    Là một quốc gia ven biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước Luật Biển 1982 kể từ khi chấp nhận sự ràng buộc và trở thành một quốc gia thành viên của Công ước 25 năm trước./.

    (BNG)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Thật Về Biển Đông (Kỳ 6): Giải Pháp Nào Cho Tương Lai Của Khu Vực? – Trênngày 13
  • Chủ Trương Của Việt Nam Trong Vấn Đề Biển Đông
  • Cần Giải Pháp Lâu Dài Cho Các Tranh Chấp Trong Khu Vực Biển Đông
  • Cơ Hội, Thách Thức Với Việt Nam Khi Tham Gia Cộng Đồng Kinh Tế Asean (Aec) 2021
  • Cộng Đồng Kinh Tế Asean – Cơ Hội Và Thách Thức Với Việt Nam
  • Chuyên Đề : Một Số Giải Pháp Để Rèn Chữ Đẹp Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Rác Thải Nhựa Trong Sinh Hoạt – Giải Pháp Nào Thay Thế?
  • Trung Tâm Y Tế Huyện Thoại Sơn
  • Mô Hình Xử Lý Rác Thải Sinh Hoạt Bằng Công Nghệ Vi Sinh, Thân Thiện Môi Trường
  • Tìm Giải Pháp Đột Phá Về Quản Lý, Xử Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt
  • Thực Trạng Công Tác Quản Lý Chất Thải Rắn Y Tế Tại Các Trạm Y Tế Xã Ở Việt Nam – Vihema
  • Chuyên đề : Một số giải pháp để rèn chữ đẹp cho học sinh tiểu học

                Người thực hiện : Thân Thị Lợi

    1. Đặt vấn đề:

    Chữ viết của học sinh là vấn đề được nhiều người quan tâm, lo lắng. Đặc biệt đối với học sinh tiểu học, việc xây dựng nền nếp “Vở sạch – Chữ đẹp” có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì đây là những năm học đầu tiên đối với các em, nhà trường không chỉ giúp các em học viết  và rèn luyện chữ viết: viết đúng, viết đẹp, viết đảm bảo tốc độ nhằm tạo điều kiện cho các em ghi chép bài học của tất cả các môn học được tốt, mà còn thông qua rèn luyện chữ viết, giáo dục cho các em những phẩm chất đạo đức như: Tính kiên trì, cẩn thận, tinh thần kỷ luật và óc thẩm mỹ… Rèn chữ viết cho học sinh còn là dịp để học sinh trau dồi các kỹ năng viết chữ, kỹ năng trình bày, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục, đồng thời có tác dụng thúc đẩy và phát huy vai trò của người giáo viên, động viên khích lệ các thày cô giáo chăm lo rèn luyện chữ viết và duy trì nền nếp thói quen tốt trong học tập của học sinh. Qua chữ viết, học sinh vừa thể hiện được nội dung thông tin vừa thể hiện được đặc điểm, tính cách của người viết đồng thời tạo được tình cảm đối với người đọc  bởi người xưa đã có câu: “ Nét chữ, nết người”. Mặc dù hiện nay, vào thời điểm công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, tác động không nhỏ tới đời sống mọi mặt của xã hội, có thể không cần viết chữ đẹp vì đã có máy tính. Nhưng với những ý nghĩa giáo dục như đã nêu ở trên thì việc rèn chữ cho học sinh ngày càng trở nên cần thiết, nó đã góp phần vào việc giáo dục toàn diện cho học sinh.Chính vì vậy trong quyết định Ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT ngày 04 tháng 05 năm 2007 số 14/2007/QĐ-BGDĐT cũng đã nêu rất rõ yêu cầu giáo viên tiểu học phải viết chữ đúng mẫu, biết cách hướng dẫn học sinh “Giữ vở sạch –  Viết chữ đẹp”.  Nhận thức được vấn đề đó, Trường TH Quảng học QL đã chú trọng xây dựng nền nếp “Giữ vở sạch –  Viết chữ đẹp”  cho học sinh tư mấy năm học gần đây trong quá trình đó đội ngũ gv chúng tôi đã đúc rút ra được một số biện pháp bước đầu có hiệu quả trong việc xây dựng nền nếp “Giữ vở sạch –  Viết chữ đẹp”  cho học sinh nhằm đạt chuẩn VSCĐ trong toàn trường.

    Để thực hiện được mục tiêu cuối cùng điều đó theo tôi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trước hết và chủ yếu phải do việc dạy dỗ công phu của các thầy cô giáo. Về gia đình, có sự kèm cặp sát sao của cha mẹ học sinh đồng thời bản thân các em phải thực sự nỗ lực trong học tập. Về phía Nhà trường cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất như: phòng học đảm bảo ánh sáng, bảng lớp, bàn ghế phù hợp với tầm vóc lứa tuổi, đặc điểm phát triển tâm sinh lý HS,… là điều kiện vô cùng quan trọng để rèn chữ viết cho học sinh. Song song với việc rèn chữ viết cho HS là vấn đề rèn HS việc giữ gìn sách vở sao cho sạch sẽ, phẳng phiu, không quăn mép, không bị rách, không viết và vẽ bậy lên sách vở của mình là một việc làm thể hiện một trong những chuẩn mực hành vi, đạo đức của người học sinh. có như vậy mới đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện cho các em .

    II Giải pháp

    A.Giải pháp chung

    Tạo  điều kiện cơ sở vật chất thuận lợi  để học sinh rèn luyện chữ viết

     Phòng học, bàn ghế, bảng lớp, bảng con, phấn, bút, giấy viết

    – Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để xây dựng phong trào “ Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp”

    Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, giáo viên chủ nhiệm phải tuyên truyền cho phụ huynh biết về vai trò quan trọng của Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp; hướng dẫn phụ huynh trong việc mua sắm đồ dùng sách vở, bút viết cũng như cách bọc sách vở cho các em…và phổ biến cho phụ huynh biết các tiêu chuẩn cụ thể khi xếp loại vở sạch chữ đẹp hàng tháng.

    – Hàng tháng, hàng kì nhà trường sẽ thông báo tình hình học tập và rèn luyện chữ viết của học sinh qua sổ liên lạc gia đình để phụ huynh có kế hoạch kèm cặp thêm ở nhà .

    – Xây dựng nề nếp phong trào ngay từ ở các lớp:

    Vào đầu năm học mới giáo viên chủ nhiệm lớp phải tiến hành kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh nên dùng loại vở nào, dùng loại bút nào để luyện viết, hướng dẫn học sinh cách bọc vở và bảo quản, giữ gìn sách vở như thế nào trong năm học. Hướng dẫn cho học sinh các tiêu chuẩn cần phấn đấu để đạt danh hiệu “ Vở sạch – Chữ đẹp”. Đồng thời cùng học sinh ra quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu về phong trào rèn chữ viết và giữ gìn sách vở.

    – Cần khảo sát phân loại học sinh ngay từ đầu năm để có hướng kèm cặp những học sinh còn viết xấu và có kế hoạch bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu,viết đẹp;

    – Hàng tuần phải kiểm tra chấm và nhận xét, động viên để học sinh cố gắng hơn ở tuần tiếp theo.

     Hàng tháng, sau khi xếp loại Vở sạch chữ đẹp, giáo viên cần biểu dương và khen ngợi những học sinh có nhiều cố gắng trong phong trào này.

    – Ngay từ đầu năm học nhà trường cần lập kế hoạch cụ thể và coi đây là một tiêu chí quan trọng trong hoạt động dạy và học của nhà trường đồng thời phải có chỉ tiêu cụ thể để giao cho các tổ chuyên môn, các khối lớp và các giáo viên chủ nhiệm lớp.

    – Tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp một học kì hai lần, sau mỗi lần như vậy cần động viên khen thưởng để khích lệ

    – Mỗi năm, nhà trường cần kết hợp các đợt sơ kết cuối kì I, tổng kết năm học  hay các đợt thi đua để tổ chức triển lãm các thành quả mà học sinh đã làm được như các bài thi viết chữ đẹp, các bộ sách vở tiêu biểu  để cho các em, các bậc phụ huynh cùng xem và thấy được những thành quả của con em mình đã ý thức rèn luyện để học sinh và các lớp có sự thi đua học tập lẫn nhau.

    – Cần có sự động viên khen thưởng thích đáng và kịp thời đối với những cá nhân học sinh và các lớp trong phong trào “ Giữ vở sạch – Viết chữ đẹp” sau các đợt thi đua. 

    1. Giải pháp cụ thể trong từng tiết học đặc biệt là trong giờ tập viết và chính tả

        1- Giúp học sinh nhận thấy cái hay cái đẹp của chữ viết, long say mê, yêu thích chữ viết.

         2- Dạy học sinh viết đúng cỡ chữ, đúng dòng ly.

         3- Rèn tư thế ngồi viết, cách cầm bút,đặt vở viết…

         4- Rèn tính chăm chỉ, thường xuyên luyện viết chữ.

         5- Giúp học sinh tự nhận thấy nhược điểm về chữ viết của mình.

         6- Tạo tâm lí tốt nhất khi viết chữ.

         7- Chữ giáo viên phải đẹp, là tấm gương cho học sinh noi theo

          1- Giúp học sinh nhận thấy cái hay cái đẹp của chữ viết, lòng say mê,yêu thích chữ viết:

              Trước hết muốn học sinh luyện viết chữ đep thành công, người giáo viên cần giúp học sinh nhận thấy được vẽ đẹp của chữ viết, tạo cho học sinh hứng thú với chữ viết bằng cách:

            + Giáo viên sưu tầm các loại chữ viết đẹp giới thiệu cho học sinh, cho các em quan sát, nhận xét từng loại chữ viết(chữ viết thường, viết hoa, viết in qua sách báo, biểu bảng, pa-nô áp phích….)

             +Giới thiệu các bài viết, vở viết đẹp của thầy cô, bạn bè xung quanh (được đăng báo, được tuyên dương…) với học sinh, so sánh chữ viết của mình giúp các em tự nhận thấy chữ viết của mình chưa đạt yêu cầu.

             + Khơi dậy trong học sinh lòng ham thích và cùng thi đua luyện viết chữ đẹp :Tổ chức thi viết chữ đẹp giữa các nhóm cả lớp…

           2- Dạy học sinh viết đúng cỡ chữ, đúng dòng ly:

                  Đây là khâu quan trọng nhất giúp các em viết chữ đẹp.Trên thực tế nhiều học sinh viết có nét đẹp tự nhiên mềm mại , dễ nhìn song viết đúng cỡ chữ, đúng dòng ly theo quy định thì còn nhiều hạn chế. Qua bài viết của học sinh, quan sát các nét chữ của các em tôi nhận thấy từng nét chữ các em đều có lỗi.

                Khi dạy học sinh cần giúp các em phân biệt rõ độ cao độ rộng, khoảngcách các con chữ và ngay từ đầu giúp các em viết đúng cỡ của các con chữ đó:

                +Các con chữ cao 1ly:a ,ă ,â , e, ê, c, m, n, u, o, ô, ơ, i, x, v

                +Các con chữ cao 1,15ly: r, s

                +Các con chữ cao 1,5ly  : t

                +Các con chữ cao 2ly     : d, đ

                +Các con chữ cao 2.5ly  : l, h, k, y,b, g

              Khoảng cách giữa các chữ, các con chữ cũng rất quan trọng:

               Khoảng cách giữa các chữ bằng khoảng cách một chữ o,khoảng cách giữa các con chữ bằng 1/2 khoảng cách chữ chúng tôi đánh dấu cấc chữ cũng cần đánh đúng quy định, cân đối: ô, ơ, â, các ,hỏi, võng, hương…

     –  Khi viết cần lưu ý các em  các nét đầu, nét kết thúc (các nét móc, nét nối, nét khuyết )

    -Khi học sinh thực hành viết, giáo viên cần quan sát cách viết của các em, chú ý chuẩn kích cỡ , sửa sai kịp thời…

     – Qua các giờ tập viết, luyện viết giáo viên giúp học sinh nhận thấy rằng: Khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ là nửa thân con chữ, các nét chữ trong một chữ phải viết liền nét.

    – Hướng dẫn cách ghi dấu thanh: khi viết dấu các chữ có dấu thanh quy trình viết liền mạch bằng cách lia bút theo chiều từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, đánh dấu nguyên âm trước, đánh dấu thanh sau.

    – Các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã đặt phía trên con chữ, dấu nặng đặt phía dưới con chữ. Viết vừa phải các dấu thanh không viết dài quá, to quá hoặc nhỏ quá.

    – Hướng dẫn các em viết chữ sáng tạo (xiên, thanh đậm)

       3-Tư thế ngồi viết , cách cầm bút, đặt vở viết…              

    Việc giúp đở học sinh cách ngồi viết đúng tư thế, cách cầm bút, đặt vở viết… không thể thiếu và rất cần thiết đối với học sinh, cũng là vấn đề mà nhiều giáo viên coi nhẹ (phần lớn học sinh cúi mặt sát vở viết, tình trạng cận thị rất nhiều ).Nếu không ngồi viết đúng tư thế sẽ ảnh hưởng đến chất lượng chữ viết, vì vậy khi học sinh ngồi viết, tôi yêu cầu các em: 

           +  Ngồi thẳng lưng, không tỳ ngực vào bàn, khoảng cách từ mắt đến vở từ 25- 30cm  

           +  Vở đặt trước mặt hơi chếch sang phải 3- 5cm để học sinh dễ nhìn, mép vở song song với mặt bàn. 

           +  Cầm bút bằng 3 ngón tay, cách ngòi bút từ 2,5- 30cm, tay mềm mại, không chặt quá dễ mỏi , không lỏng quá để khi lia bút thuận tiện

           + Vở li đảm bảo đúng quy định ( 5 li ) giấy không nhòe

           + cách đặt vở lùi về bên phải khoảng 4-5cm(đầu vở hơi nghiêng sang trái), chọn bút viết (nét thanh đậm) và cách lia bút tạo nét thanh đậm .

    4 – Rèn tính chăm chỉ ,thường xuyên rèn luyện chữ viết ,rèn tính kiên trì ,khiêm tốn ,nhẫn nại .

    Đối với học sinh tính bền bỉ , kiên nhẫn vốn có ở các em không nhiều ,nhất là đối với học sinh tiểu học ,đặc biệt là môn tập viết dễ làm cho các em nản chí ,chống chán ,như vậy sẻ dẫn đến chữ xấu ,cẩu thả . Vì vậy khi các em luyện viết các em cần giúp các em có tính kiên trì ,chăm chỉ .Để đạt được điều đó ,tôi đã tọa những tình huống gây hứng thú cho các em để các em tự giác luyện viết với lòng say mê chữ viết của mình ,chú ý :

    – Chọn thời gian thích hợp nhất để luyện viết , sáng sớm giờ truy bài … lúc đó  tâm lý các em tốt nhất ,tay không mỏi trí tuệ tập trung nhất

    – Khi luyện viết không nên gượng ép ,không viết nhiều mà chú trọng cho các em có tâm khi viết để nét chữ mềm mại ,uyển chuyển thanh thoát nhất ( Đối với lớp 1 viết 1 đến 2 dòng )

    – Luyện chữ viết đẹp cho các em không nên nóng vội ,không phải một sớm một chiều mà cần dùng phương pháp ‘’ mưa dầm thấm lâu ‘’

    – Cần tạo cho các em tính khiêm tốn khi luyện viết ,không ự kiêu ,tự đạo với chữ viết của mình ,luôn luôn có ý thức cầu tiến vươn lên

    5- Giúp học sinh tự nhận thấy nhược điểm về chữ viết của mình và sửa lỗi

    Khi học sinh luyện viết chữ phần lớn các em viết theo yêu cầu của thầy cô giáo ( viết chính tả ,tập viết ) và sửa lỗi chính tả ,ít học sinh nhận ra phần lỗi của mình về lỗi chữ viết và sửa lỗi đó ,mặt khác khi giáo viên chấm bài cũng chưa thật tỉ mỉ sửa lỗi chữ viết ,nên nhìn qua thấy chữ khá đẹp nhưng khi quan sát kỹ thì thấy lỗi chữ viết rất nhiều , vì vậy khi học sinh viết tôi thường rất tỉ mỉ theo dõi từng nét chữ của học sinh ,từng đường lia bút các đánh dấu ,nét nối để nhận ra lỗi của mỗi em ,từ đó giúp các em sửa lỗi sai về chữ viết .

    Ví dụ : Khi học sinh viết chữ ch ,th thường mắc lỗi khi đưa nét nối giữa con chữ c hoặc t với con chữ h không đúng quy định ,phần lố nét nối bị chùng làm cho phần cắt của ba nét bị dắt ( 3 nét trùng nhau ). Đây là lỗi phổ biến dễ mắc ,khó sửa . vì vậy giáo viên và học sinh phải thật kiên trì. Theo tôi khi sửa lỗi cho học sinh cần

    + Cho học sinh quan sát chữ viết của mình ( sai lối ) và chữ viết mẫu ( chữ chuẩn )

    + Giáo viên viết mẫu trên bảng ,học sinh quan sát . Giáo viên vừa nói vừa thao tác( Lưu ý nét nối giữa các con chữ .

    + Học sinh luyện viết mẫu trên bảng con ( Viết nhiều lần và sửa sai )

    + Giáo viên viết mẫu trên vở ,học sinh quan sát

    + Học sinh luyện viết trên vở ( Giáo viên sửa sai dứt điểm từng lỗi của học sinh )

    6- Tạo tâm lý tốt nhất khi viết chữ

    Luyện viết chữ đẹp cũng như người làm thơ , viết văn hay họa sỹ,nghệ sỹ… có cảm hứng khi viết . Theo tôi không nên bắt các em viết nhiều viết dài và tranh thủ viết , mà nên khơi gợi giúp các em có hứng thú ham mê luyện viết . Luôn khen ngợi để động viên học sinh trong khi viết bài

    7- Chữ viết của giáo viên phải đẹp ,là tấm gương cho học sinh

    Chữ viết của giáo viên rất quan trọng đối với các em ,nó như chiếc gương để các em soi ,như cái đích đẻ các em phấn đấu ,là trực quan sinh động để các em học tập . Vì vậy việc rèn chữ luyện viết của thầy ,cô là rất cần thiết . Trong giờ luyện viết giữa thầy ( cô ) và trò phải thực sự tạo được tình cảm tốt để các em không bị gò ép ,phân tán sự tập trung .

    qua thực tế dạy học tôi , đã cơ bản kết hợp được các điều kiện trên để vận dụng vào giờ tập viết cho học sinh .

    – Dạy tốt phân môn Tập viết, Chính tả trong chương trỡnh Tiểu học để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh.

    1. Chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất để học sinh rèn luyện chữ viết

    Một nhân tố không thể thiếu được khi dạy tập viết (luyện chữ) cho học sinh là sự chuẩn bị về phòng học, bàn ghế, bảng lớp cùng với bảng con, bút, vở của học sinh.

    1. a) Phòng học

    Nhân tố quan trọng đầu tiên là phòng học đúng quy định, có hệ thống cửa sổ thoáng mát, đủ ánh sáng. Nhà trường đã trang bị đầy đủ bóng điện và 5 chiếc quạt treo tường trong các lớp để phục vụ cho việc dạy và học trong những ngày trời  mưa, trời tối không có ánh sáng mặt trời các em có đủ ánh sáng để học tập và viết bài, các em không bị nóng bức chảy mồ hôi làm ướt vở trong những ngày hè nóng bức.

    1. bàn ghề học sinh

    Nhà trường đã trang bị cho học sinh những bộ bàn ghế phù hợp với lứa tuổi học sinh từng lớp  tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh ngồi học, ngồi viết tốt.

    1. Bảng lớp

    – Bảng lớp là phương tiện rất cần thiết đối với giáo viên. Việc trình vày bảng là bài mẫu cho học sinh học tập và noi theo. Bảng lớp chúng tôi được sơn chống loá và có kẻ dòng phù hợp với yêu cầu của học sinh, việc trang bị bảng chuẩn sẽ giúp cho giáo viên trình bày bài viết trên bảng lớp được đúng đẹp và dễ dàng. Đồng thời cũng là để giúp học sinh dễ theo dõi nội dung bài viết.

    1. Bảng con của học sinh

    – Chúng tôi yêu cầu thống nhất một loại bảng nhựa cùng kích thước 20 x 25cm mặt bảng có kẻ ô vuông rõ ràng cỡ (5 x 5cm) có chia thành các dòng kẻ nhỏ.

    Yêu cầu học sinh dùng khăn ẩm giặt sạch, để lau bảng (khăn mặt cũ rộng vừa phải, giặt ẩm)

    1. Phấn và bút; giấy viết viết

    * Phấn viết

    Chúng tôi yêu cầu học sinh dùng phấn trắng, mềm (hãng phẫn Mic). Đồng thời chúng tôi hướng dẫn cách trình bày bảng sao cho khi viết không phải xoá đi nhiều lần để đỡ mất thời gian và tránh được thao tác thừa khi viết bảng.

    * Bút viết

    – Bút chì:(đối với HS lớp 1 giai đoạn đầu). Chọn bút chì đốt loại mềm để thuận tiện khi sử dụng và đỡ mất thời gian vót chì, dành thời gian đó để cho luyện viết.

    – Bút mực: Chúng tôi cho các em viết bằng bút máy, chọn bút nét nhỏ, có nét thanh đậm viết một loại mực tím hoặc xanh Queen.

    * Giấy viết: Ngay từ đầu năm học chúng tôi thống nhất trao đổi với phụ huynh học sinh mua giấy cho các em loại giấy chất lượng tốt có ô vuông 5 ly.

    1. Rèn tư thế ngồi viết – cách cầm bút

    Hoạt động viết thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào tư thế và cách cầm bút của các em, bởi vậy:

    – Muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viên phải rèn cho các em tư thế ngồi viết đúng: Thoải mái, không gò bó. Lưng thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25 đến 30cm. Hai chân đặt vuông góc dưới bàn, tay trái tì nhẹ nhàng mép vở để giữ vở. Cột sống luôn ở tư thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghế ngồi. Hai chân thoải mái, không chân co chân duỗi.

    – Cầm bút bằng 3 ngón tay: Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải. Khi viết di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút nghiêng về phía bên phải cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại thoải mái. Hai tay phải đặt đúng điểm tựa quy định. Tay trái để xuôi theo chiều ngồi, giữ lấy mép vở cho khỏi xô lệch, đồng thời làm điểm tựa cho trọng lượng nửa người bên trái đảm bảo ánh sáng phải đủ độ và thuận chiều, chiếu sang từ bên trái sang.

    – Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ như cách cầm bút lông, không để ngửa hoặc úp quá nghiêng bàn tay về phía bên trái. Lúc viết, đưa bút chì từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Các nết đưa lên hoặc đưa sang ngang phải nhẹ tay, không ấn mạnh đầu bút vào mặt giấy, điều khiển cây bút bằng các cơ ở cổ tay và các ngón tay.Việc giúp học sinh ngồi viết đúng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các em viết đúng và viết được nhanh.

    1. Rèn cách để vở khi viết

    –  Khoảng cách từ mắt đến vở 25 -30 cm. Khi viết chữ về bên phải, quá xa lề vở, cần xê dịch vở sang trái để mắt nhìn thẳng nét chữ, tránh nhoài người về bên phải để viết tiếp.

    1. Rèn giữ vở sạch và trình bày vở

    – Vở phải luôn giữ sạch, có đủ bìa nhãn, không bỏ vở, xé trang. Không bôi mực ra vở, không làm quăn mép vở. Vở viết của học sinh chọn cùng một loại giấy trắng, không nhoè mực…

    1. Dạy các nét cơ bản

    Đầu tiên giáo viên dạy cho học sinh viết hai nét ngang vào sổ. Viết cơ bản hai nét trên cũng dễ viết và nó giúp học sinh giúp học sinh sau này có dạng chữ viết thẳng, ngay ngắn từ đầu. Sau khi rèn kỹ hai nét trên, giáo viên mới tiến hành dạy các nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu, nét khuyết.

    Để trong quá trình dạy luyện viết được thông nhất trong cách gọi tên các nét, giáo viên thống nhất với học sinh cách gọi tên các nét như sau:

        – Nét sổ                                                                       – Nét cong hở trái

        – Nét ngang                                                                 – Nét cong hở phải

        – Nét xiên phải                                                            – Nét cong kín

        – Nét xiên trái                                                             – Nét cong kín

        – Nét móc xuôi                                                            – Nét khuyết trên

        – Nét móc ngược                                                        – Nét khuyết dưới

        – Nét móc 2 đầu                                                          – Nét thắt giữa

    Làm tốt phần này là tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi viết chữ được đúng đẹp theo mẫu.

    1. Rèn luyện học sinh viết đúng mẫu chữ

    Đây là bước vô cùng quan trọng và khó khăn với tất cả giáo viên và học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn kỹ để các em nắm được cấu tạo chữ viết theo đúng quy trình mẫu. Ngoài ra, giáo viên viết mẫu trên bảng và ở vở cho học sinh quan sát – chữ viết của cô phải đúng theo mẫu và đẹp. Giáo viên cần chấm, chữa lỗi để học sinh phát hiện ra lỗi sai của mình và  sửa kịp thời.

    Để giúp học sinh viết đúng mẫu trong giờ tập viết và luyện viết giáo viên hướng dẫn các em viết qua hai giai đoạn.

    + Giai đoạn quan sát mẫu trên bảng và viết ra bảng con: giáo viên cho các em quan sát kĩ chữ mẫu trên bảng. Qua phân tích, giảng giải các em nắm được cấu tạo chữ viết và nắm được quy trình viết. Sau đó giáo viên cho các em viết trên bảng con. Giai đoạn đầu khi các em mới viết, giáo viên hướng dẫn trực tiếp trên bảng con hoặc có chữ mẫu đã trình bày sẵn trên bảng con để học sinh nhìn vào đó mà viết theo. Giai đoạn sau các em quan sát và tự viết vào bảng con dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên ở trên bảng lớn. Sau đó giáo viên kiểm tra và sửa chữa lỗi sau cho các em trực tiếp ở bảng con. Giáo viên lưu ý sửa cho các em học sinh về độ cao, độ rộng. khoảng cách các con chữ đã đúng mẫu chưa.

    – Cho nhận xét bài viết của bạn trên bảng, GV yêu cầu học sinh nhận xét: độ cao và khoảng cách

    Giai đoạn quan sát chữ mẫu và viết vào trong vở tập viết. Giáo viên cho học sinh quan sát kĩ chữ mẫu đầu dòng xem chữ cần viết, từ cần viết cao bao nhiêu, khoảng cách các con chữ trong một chữ, khoảng cách các chữ trong từ là bao nhiêu, sau đó mới đặt bút viết.

    1. Xác định vị trí các đường kẻ, điểm dừng bút, điểm đặt bút

    – Đường kẻ ly (1,2,3,4,5)

    – Đường kẻ dọc (6, 7,8)

    – Điểm dừng bút là vị trí kết thúc của chữ trong một chữ cái. Điểm dừng bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ li.

    – Điểm đặt bút là vị trí bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ li hoặc không nằm trên đường kẻ ly.

    1. Xác định khoảng cách

    – Qua các giờ tập viết, luyện viết giáo viên giúp học sinh nhận thấy rằng: Khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ là nửa thân con chữ, các nét chữ trong một chữ phải viết liền nét.

    – Hướng dẫn cách ghi dấu thanh: khi viết dấu các chữ có dấu thanh quy trình viết liền mạch bằng cách lia bút theo chiều từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, đánh dấu nguyên âm trước, đánh dấu thanh sau.

    – Các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã đặt phía trên con chữ, dấu nặng đặt phía dưới con chữ. Viết vừa phải các dấu thanh không viết dài quá, to quá hoặc nhỏ quá.

    1. Giáo viên phối hợp với phụ huynh: Thông qua các buổi họp phụ huynh giáo viên cần thống nhất cách đọc và luyện viết ở nhà để phụ huynh có thể giúp các em được nhiều hơn.

    2. Động viên, khen thường

    – Cuối mỗi tháng, sau khi chấm vở sạch chữ đẹp giáo viên có nhận xét và động

     viên tuyên dương khen thưởng những học sinh có tiến bộ về chữ viết, học sinh viết đẹp giữ vở sạch…

    – Giữ lại và trưng bày những quyển vở, bài viết trình bày sạch, đẹp trong tủ của lớp để học sinh học tập, thi đua.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hoá Ẩm Thực Hà Nội Xưa Và Nay
  • Quản Lý Quy Hoạch Xây Dựng Và Phát Triển Đô Thị Trên Địa Bàn Tỉnh Hà Giang
  • Giải Pháp Nào Để Phát Triển Đô Thị Thông Minh? – Rotechcons
  • Báo Cáo Chuyên Đề “Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”
  • Chi Cục Biển Và Hải Đảo Thành Phố Đà Nẵng
  • Kinh Nghiệm, Nội Dung Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tuyên Truyền, Vận Động Quần Chúng Tham Gia Công Tác Phòng, Chống Ma Túy Trên Địa Bàn Tiền Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Khai Quyết Liệt Các Kế Hoạch, Biện Pháp Phòng Ngừa, Đấu Tranh Với Tội Phạm Và Tệ Nạn Ma Túy
  • Nhiều Biện Pháp Phòng Ngừa, Đấu Tranh Hiệu Quả Với Tội Phạm Và Tệ Nạn Ma Tuý
  • Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Ứng Phó Bão Và Áp Thấp Nhiệt Đới
  • Những Điều Cần Biết Về Bệnh Sán Lá Gan Lớn.
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh Sán Lá Gan Lớn
  • Tình hình hoạt động của các loại tội phạm ma túy và người nghiện ma túy trong những năm qua trên địa bàn Tiền Giang vẫn còn diễn biến tương đối phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nguồn ma túy chủ yếu mua ở TP Hồ Chí Minh, hoặc các đối tượng ở TP Hồ Chí Minh và tỉnh giáp ranh đến địa bàn Tiền Giang để câu kết với đối tượng trong tỉnh để thực hiện hành vi mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy với số lượng tương đối lớn

    Thủ đoạn mua bán, giao ma túy rất tinh vi, xảo quyệt nhằm đối phó với lực lượng chức năng trong việc phát hiện và bắt quả tang, khi bắt giữ đối tượng tìm mọi cách không khai nhận hành vi phạm tội và tang vật ma túy thu giữ.

    Người nghiện ma túy ngoài xã hội gia tăng, dẫn đến phát sinh nhiều đối tượng nghiện mua bán ma túy nhỏ, lẻ; do sử dụng MTTH nên hoạt động của tội phạm và người ma túy sẽ manh động hơn, liều lĩnh hơn, sẳn sàng chống đối cơ quan Công an khi bị bắt giữ. Tội phạm ma túy gia tăng sẽ dẫn đến gia tăng tội phạm hình sự như: cướp, cướp giựt, trộm cắp tài sản…để có tiền mua ma túy sử dụng. Độ tuổi của người phạm tội và người sử dụng ma túy ngày càng trẻ hóa và có xu hướng lây lan về vùng nông thôn.

    Trước tình hình trên, Phòng PC47 Công an tỉnh Tiền Giang đã chủ động tham mưu Cục C47 – BCA, Ban Giám đốc Công an tỉnh xây dựng nhiều kế hoạch về việc tổ chức thực hiện cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm về ma túy hàng năm như hưởng ứng “Tháng hành động phòng, chống ma túy”; “Ngày thế giới phòng, chống ma túy” và “Ngày toàn dân phòng, chống ma túy 26/6”; xây dựng nhiều Công văn chỉ đạo tiếp tục thực hiện Đề án xây dựng xã, phường, thị trấn không có ma túy; chủ động phối hợp với các ngành, các cấp từ tỉnh đến các địa phương, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều biện pháp nhằm chủ động nắm chắc tình hình, làm tốt công tác điều tra cơ bản, xác định tuyến, địa bàn, lĩnh vực mà tội phạm ma tuý và người nghiện ma tuý có thể lợi dụng để hoạt động, tập trung lực lượng áp dụng các biện pháp, đối sách nghiệp vụ chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả tội phạm và người nghiện ma túy trên từng tuyến, địa bàn, lĩnh vực cụ thể.

    Bên cạnh việc thực hiện biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ thì việc phòng ngừa xã hội có vai trò, vị trí quan trọng trong việc góp phần từng bước ngăn chặn, kiềm giảm tệ nạn ma túy. Trong đó cần chú trọng và thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia công tác phòng, chống ma túy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, trong đó lực lượng Công an làm nòng cốt thì mới đem lại hiệu quả. Hàng năm, lực lượng Cảnh sát điều tra tội pham về ma túy đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân với nhiều hình thức phong phú như: chọn địa bàn phức tạp về ma túy để tổ chức tuyên truyền, tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm kết hợp, lồng ghép tuyên truyền miệng, chiếu phim, trình chiếu Powerpoint và triển lãm hình ảnh, các chất ma túy cho nhân dân xem…

    Công tác tuyên truyền luôn đổi mới về nội dung và hình thức đã giúp cho cán bộ công nhân viên chức, nhân dân, học sinh, sinh viên tự giác tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm ma túy và nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện để những người có hành vi vi phạm pháp luật về ma túy tự sửa chữa lỗi lầm của mình, sống có ích hơn cho gia đình và xã hội.

    Với các biện pháp đã thực hiện như trên đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phòng ngừa ngăn chặn không để ma túy xâm nhập, lây lan trên diện rộng và trở nên phức tạp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Đó là sự quyết tâm, nổ lực phấn đấu của Ngành Công an, ngành giáo dục đào tạo, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc…

    Bên cạnh những mặt đạt được, công tác tuyên truyền thời gian qua trên địa bàn tỉnh Tiền Giang vẫn còn gặp không ít khó khăn và hiệu quả chưa cao như:

    – Công tác phối hợp tuyên truyền vẫn còn một vài đơn vị, địa phương có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ, chưa đồng bộ, còn mang tính hình thức từ đó dẫn đến hiệu quả của việc thực hiện công tác tuyên truyền ma túy trong thanh thiếu niên chưa cao.

    – Công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy chủ yếu lồng ghép là chính, thường chỉ tập trung thực hiện theo thời điểm, chưa mang tính chất thường xuyên, liên tục, đối tượng tuyên truyền chủ yếu là cán bộ, viên chức, nhân dân, học sinh, giáo viên…tham gia là nhiều, người nghiện ma túy, đối tượng có nguy cơ cao tham gia rất ít và thậm chí có nơi không mời được đối tượng này. Từ đó việc tiếp cận để tuyên truyền, cảm hóa, giáo dục đối tượng này còn gặp nhiều khó khăn do đối tượng không hợp tác hoặc bỏ địa phương đi nơi khác.

    – Biện pháp giáo dục, giúp đỡ thanh thiếu niên chậm tiến, nghiện ma túy chưa thiết thực, hiệu quả và còn mang tính hình thức.

    – Cán bộ thực hiện công tác tuyên truyền chưa thường xuyên được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, đặc biệt là kiến thức pháp luật cũng như kỷ năng lý luận, năng khiếu sư phạm; khi các đồng chí đã đủ điều kiện và trở thành tuyên truyền viên tốt, sôi nổi thì chuyển sang công tác ở đơn vị khác hoặc nghỉ hưu. Tài liệu tuyên truyền ma túy chưa được cập nhật, bổ sung thường xuyên, kinh phí công tác tuyên truyền, bồi dưỡng cho người dân tham dự các buổi tuyên truyền còn hạn chế.

    Để công tác tuyên truyền ma túy thời gian tới trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đạt được nhiều hiệu quả thiết thực hơn, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

    – Cấp ủy Đảng ở cơ sở phải thật sự quan tâm lãnh, chỉ đạo công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy. Chính quyền các cấp phải trực tiếp điều hành, kiểm tra, đôn đốc. Lực lượng Công an và các ngành chức năng làm nòng cốt tham mưu trong việc thực hiện, triển khai đồng bộ nhiều biện pháp khả thi, hữu hiệu để công tác phối hợp tuyên truyền phòng chống tội phạm về ma túy ngày càng sâu rộng và đạt được kết quả cao.

    – Chủ động đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của cán bộ đảng viên, công nhân viên chức và nhân dân đối với cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ đảng viên, cán bộ viên chức đều làm tốt công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy bằng mọi biện pháp, hình thức sâu rộng đến từng hộ gia đình, khu phố, xóm ấp, cơ quan, xí nghiệp, trường học…Trong đó chú ý hình thức tuyên truyền phải phù hợp với từng địa bàn dân cư khác nhau, phù hợp với nghề nghiệp, lứa tuổi, điều kiện, hoàn cảnh của từng đối tượng, làm cho mọi người nắm vững kiến thức pháp luật, nhất là pháp luật về phòng, chống ma túy để mọi người dân tự giác chấp hành nghiêm và không vi phạm pháp luật, tự giác tham gia vào các hoạt động phòng, chống ma túy.

    – Phòng PC47, Công an tỉnh thường xuyên tham mưu cho các ngành như Viện Kiểm sát, Tòa án chủ động đưa nhiều vụ án ma túy ra xét xử lưu động nhằm răn đe đối tượng ma túy đã bị bắt và giáo dục, tuyên truyền để mọi người dân thấy được sự nghiêm khắc của pháp luật đôi với tội phạm ma túy từ đó chủ động vận động người thân, gia đình mình tránh xa tội phạm ma túy, tích cực tố giác tội phạm và người nghiện ma túy trên địa bàn dân cư.

    – Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, đặc biệt là kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng lý luận, năng khiếu sư phạm cho cán bộ thực hiện công tác tuyên truyền từ cấp tỉnh đến cơ sở. Hàng năm, Cục C47 – Bộ Công an thường xuyên, kịp thời cung cấp tài liệu tuyên truyền ma túy; những chất ma túy mới phát hiện; phương thức, thủ đoạn hoạt động mới của tội phạm ma túy và người nghiện ma túy toàn quốc…

    Thực hiện tốt những giải pháp trên, ít nhiều sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền ma túy trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2021 và những năm tiếp theo ./.

                                                          Nguồn “Công an Tiền Giang” 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Hại Của Ma Túy Và Ý Nghĩa Của “Tháng Hành Động Phòng, Chống Ma Túy”, “Ngày Toàn Dân Phòng Chống Ma Túy” 26
  • Ngăn Chặn Sự Gia Tăng Tệ Nạn Ma Túy Ở Địa Bàn Nông Thôn
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Ma Túy Trên Địa Bàn Tỉnh Nghệ An
  • Kiến Nghị Về Tăng Cường Các Biện Pháp Nhằm Ngăn Chặn, Đẩy Lùi Tệ Nạn Ma Túy Đối Với Học Sinh, Thanh Thiếu Niên
  • Các Biện Pháp Phòng Chống Dịch Covid – 19 Theo Hướng Dẫn Của Bộ Y Tế – Aeon Mall Long Biên
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Phong Trào Thi Đua “thanh Niên Quân Đội Rèn Đức, Luyện Tài, Xung Kích, Sáng Tạo, Quyết Thắng” Ở Các Đơn Vị Bộ Đội Chủ Lực

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Tổ Chức “phong Trào Thi Đua, Công Tác Khen Thưởng Và Công Tác Phát Hiện, Bồi Dưỡng, Tổng Kết, Nhân Rộng Điển Hình Tiên Tiến Giai Đoạn 2010
  • Đổi Mới Để Nâng Cao Hiệu Quả Các Phong Trào Thi Đua
  • Tiếp Tục Tổ Chức Thực Hiện Tốt Các Phong Trào Thi Đua Do Tỉnh Phát Động
  • Giải Pháp Quản Lý Chữ Ký Số Hiệu Quả Giữa Dịch Vụ Và Người Dùng
  • Giải Pháp Chữ Ký Số Những Tiện Ích Đem Lại
  • Phong trào “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng” được Tổng cục Chính trị chỉ đạo phát động trong toàn quân, nhằm phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đoàn và phong trào thanh niên, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy các cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị. Bởi vậy, nghiên cứu các giải pháp để đẩy mạnh thực hiện Phong trào này, nhất là ở các đơn vị chủ lực là việc làm cần thiết.

    Các đơn vị bộ đội chủ lực trong toàn quân, nhất là cấp cơ sở phần lớn cán bộ, chiến sĩ là đoàn viên, thanh niên nên đã quán triệt và thực hiện tương đối tốt phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”. Phong trào đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, thể lực của quân nhân; chất lượng xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật và công tác dân vận có nhiều chuyển biến tích cực; tổ chức đoàn được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tích cực tham gia xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Tuy nhiên, việc thực hiện phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng” còn những hạn chế. Đó là, nhận thức, động cơ, trách nhiệm trong huấn luyện, rèn luyện, chấp hành pháp luật, kỷ luật của một số đoàn viên, thanh niên chưa tốt; hoạt động xung kích vào khâu yếu, mặt yếu, nhiệm vụ khó khăn, phức tạp có thời điểm chất lượng chưa cao; một số tổ chức đoàn tham mưu, đề xuất với cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp về chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện phong trào Thi đua hiệu quả thấp, v.v.

    Lễ phát động “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng” giai đoạn 2021-2022 tại Trung đoàn 102, Sư đoàn 308

    (Quân đoàn 1). Ảnh: qdnd.vn

    Để không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện Phong trào, trong thời gian tới, tổ chức đoàn các đơn vị bộ đội chủ lực cần coi trọng việc khắc phục hạn chế, yếu kém nêu trên; đồng thời, tập trung thực hiện tốt những vấn đề sau:

    Hai là, phát huy vai trò, tính tiền phong gương mẫu của thanh niên trong thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua. Sinh thời, Bác Hồ từng dạy “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” 1 và câu nói đó đã trở thành truyền thống của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Có thể khẳng định, phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng” đòi hỏi người thanh niên công tác trong Quân đội phải luôn nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, hăng say học tập, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ với tinh thần, trách nhiệm cao, luôn nhiệt tình hưởng ứng và đi đầu trong thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động khi đơn vị triển khai. Vì vậy, hằng năm, các chi đoàn cần tổ chức cho đoàn viên thanh niên viết bản cam kết, đăng ký quyết tâm hoàn thành tốt chỉ tiêu của phong trào Thi đua trong từng công việc, lĩnh vực hoạt động. Đội ngũ cán bộ đoàn phải tích cực nghiên cứu, nắm chắc đặc điểm, tình hình của đơn vị để đề xuất với cấp ủy, chỉ huy xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa từng nội dung thi đua của Phong trào gắn với thực hiện hiệu quả các cuộc vận động do Trung ương Đoàn, Quân đội phát động và phong trào Thi đua Quyết thắng; qua đó, giúp cho đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm. Trong huấn luyện, 100% đoàn viên thanh niên được huấn luyện đúng, đủ tất cả nội dung về quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và rèn luyện thể lực. Kết quả kiểm tra phải 100%, đạt yêu cầu trở lên, trong đó có trên 85% khá, giỏi. Trong canh gác, trực sẵn sàng chiến đấu, chấp hành nghiêm quy định theo Điều lệnh, bảo đảm đơn vị an toàn tuyệt đối mọi mặt. Tiêu chí, chuẩn mực rèn đức có thể thực hiện thống nhất với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, vì khi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” tức là đã sáng ngời về đạo đức. Tương tự như thế, khi đoàn viên, thanh niên tích cực hưởng ứng Cuộc vận động “Quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và An toàn giao thông” hoặc phong trào Thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” cũng có nghĩa là đã tích cực rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng trên lĩnh vực đó. Để thực hiện Cuộc vận động của ngành Kỹ thuật hoặc phong trào Thi đua của ngành Hậu cần, người quân nhân phải coi trọng thực hành tiết kiệm trong sinh hoạt, học tập, sử dụng của công; tích cực nghiên cứu để có nhiều sáng kiến hay, cách làm tốt, đảm bảo tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả công việc; hăng hái tăng gia sản xuất, bảo quản, giữ gìn vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm; nỗ lực học tập, rèn luyện, sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị kỹ thuật, trang thiết bị doanh trại, y tế. Để đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, nâng cao năng lực làm chủ vũ khí, trang bị ngày càng hiện đại, đòi hỏi cán bộ đoàn phải gương mẫu thực hiện và tích cực định hướng, cổ vũ đoàn viên, thanh niên đẩy mạnh hơn nữa phong trào ” Tuổi trẻ sáng tạo ” trong mọi lĩnh vực hoạt động của đơn vị, v.v.

    Ba là, tiếp tục thực hiện tốt việc xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong thi đua. Việc xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua là nội dung rất quan trọng, có tác dụng động viên tinh thần, cổ vũ gương “người tốt, việc tốt”, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy phong trào tiếp tục đổi mới, phát triển. Muốn vậy, trước hết phải làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá đúng kết quả đạt được, chỉ rõ nguyên nhân mạnh, yếu và đề ra biện pháp khắc phục; kịp thời biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến. Việc sơ kết, tổng kết phong trào phải bảo đảm khách quan, chân thực; tập trung làm rõ nguyên nhân mạnh, điểm yếu của phong trào làm cở để phát hiện những mô hình hay, cách làm tốt để nhân rộng; đồng thời, bảo đảm cho việc khen thưởng đúng người, đúng việc, tích cực động viên, cổ vũ tinh thần bộ đội hăng hái tham gia thi đua. Đó chính là sự cụ thể hóa nguyên tắc tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, công tác thi đua – khen thưởng vào trong thực tiễn; qua đó, phát huy được cái mới, cái tiến bộ, từng bước đẩy lùi cái lạc hậu, cái tiêu cực. Khi phát hiện được những cách làm hay, điển hình tiên tiến, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị giao cho các tổ chức đoàn thường xuyên theo dõi, quan tâm, tạo điều kiện để duy trì, phát huy, nhân rộng trong đơn vị. Việc xây dựng, bồi dưỡng điển hình tiên tiến cũng có thể thực hiện bằng cách chủ động phát hiện thông qua các dấu hiệu của nhân tố tích cực, như: có ý tưởng, biện pháp, cách làm sáng tạo; năng động, tích cực đi đầu trong các phong trào thi đua, các cuộc vận động hoặc làm việc nhiệt tình, trách nhiệm, hiệu quả, nhất là đối với các nhiệm vụ gian khổ, nặng nề, v.v. Từ đó, có kế hoạch hỗ trợ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tập thể, cá nhân đó hoàn thiện mô hình, điển hình. Để nhân rộng điển hình tiên tiến, đơn vị có thể tổ chức giao lưu, gặp gỡ với các điển hình tiên tiến hoặc cử cán bộ trực tiếp phổ biến cách làm của các mô hình, điển hình tiên tiến tới mọi đối tượng; đồng thời, phối hợp với các cơ quan truyền thông trên địa bàn tuyên truyền về gương “người tốt, việc tốt”, những mô hình hay, cách làm tốt trong thực hiện phong trào.

    Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh phê bình với những biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu trách nhiệm, làm việc cầm chừng, ngại khó, ngại khổ, hiệu quả công tác thấp, “bệnh thành tích” và các biểu hiện tiêu cực khác trong thi đua. Thực tế ở các đơn vị bộ đội chủ lực hiện nay, còn tồn tại những biểu hiện như vậy ở một số đoàn viên, thanh niên, thậm chí là có cả cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy đơn vị cần chỉ đạo tổ chức đoàn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện phong trào Thi đua để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh nhận thức lệch lạc và hành động không đúng, làm ảnh hưởng đến phong trào chung; lấy kết quả thực hiện phong trào làm cơ sở để đánh giá năng lực, trách nhiệm của các cán bộ và tổ chức đoàn.

    Trước yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, các tổ chức đoàn trong toàn quân cần nghiên cứu, vận dụng tốt các giải pháp trên, góp phần thực hiện thắng lợi phong trào thi đua “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”, làm cơ sở để xây dựng Quân đội nhân dân ngày càng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

    1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 613.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Có Giải Pháp Tạo Động Lực Trong Các Phong Trào Thi Đua
  • So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Usb Token Và Chữ Ký Số Hsm
  • Sử Dụng Chữ Ký Số Hsm Và Usb Token Cho Việc Ký Hóa Đơn
  • Thiết Bị Chữ Ký Số Hsm
  • Tbs: Giải Pháp Tổng Số Ngân Hàng
  • Viet Solutions 2021 Tìm Kiếm Giải Pháp Chuyển Đổi Số Trên Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Xây Dựng Hạ Tầng Giao Thông Đường Bộ Theo Hình Thức Bot
  • Giao Thông Nông Thôn (Bài 2): Thiếu Những Công Trình Đảm Bảo An Toàn
  • Nâng Cấp Hệ Thống Kết Cấu Hạ Tầng Giao Thông, Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Trình Giao Thông Ở Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Nâng Cao Các Tiêu Chí Nông Thôn Mới Ở Mậu Duệ
  • Cuộc thi Viet Solutions 2021 do bộ Thông tin – Truyền thông và tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) phối hợp tổ chức nhằm tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần thực hiện chiến lược chuyển đổi số quốc gia của Việt Nam.

    Các sản phẩm hoặc ứng dụng sáng tạo được hướng đến thuộc nhiều lĩnh vực, gồm viễn thông, y tế, giáo dục, tài chính – ngân hàng, nông nghiệp, giao thông vận tải, logistics, năng lượng, tài nguyên môi trường, sản xuất công nghiệp…

    Tiền thân là cuộc thi Viettel Advanced Solution Track 2021, Viet Solutions 2021 mở rộng trên phạm vi toàn cầu, tạo điều kiện cho người tham gia kết nối với các đối tác tiềm năng, các khóa huấn luyện, hỗ trợ hoàn thiện các kỹ năng quản lý tài chính, marketing cũng như kêu gọi vốn đầu tư và được thi đấu trên phạm vi toàn cầu.

    Phát biểu tại sự kiện phát động Viet Solutions 2021, bộ trưởng bộ Thông tin – Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định “chuyển đổi số là cái nôi để sinh ra các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, cuộc thi mở ra với kỳ vọng đẩy nhanh tiến trình này”.

    Bộ trưởng kêu gọi các tổ chức và cá nhân vốn gặp những vấn đề đặc thù, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số và các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số cùng tham gia và “chặng đường dài” chuyển đổi số này.

    Ông Lê Đăng Dũng, quyền chủ tịch kiêm tổng giám đốc Viettel, đánh giá các bài toán khó của Việt Nam chính là cơ hội cho các công ty công nghệ cùng tham gia giải quyết. Ông viện dẫn trường hợp kinh doanh dịch vụ viễn thông của Viettel: cần 10 năm mò mẫm tìm lối đi, tích lũy gần 10 năm làm viễn thông để khai trương thị trường nước ngoài đầu tiên…

    “Nhưng trong thời đại số, sự thay đổi của công nghệ khiến chúng ta không có nhiều thời gian đến thế. Viettel cam kết hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ non trẻ để công nghệ Việt, giải pháp Việt sớm cất cánh,” ông Dũng nói.

    Ban tổ chức cho biết giải thưởng cho đội nhất là khoản tiền mặt 200 triệu đồng. Đội về nhì và ba nhận khoản tiền mặt lần lượt 100 triệu đồng và 50 triệu đồng. Bên cạnh đó là các quyền lợi khác đến từ cuộc thi dự kiến được tổ chức hằng năm này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Giải Pháp Để Nâng Cao Nhận Thức Về Bảo Vệ Rừng Cho Người Dân Tại Xã Chiềng Đen, Thành Phố Sơn La, Tỉnh Sơn La
  • Chuyên Đề Nhận Thức Của Người Dân Xã Chiềng Cơi, Thành Phố Sơn La, Tỉnh Sơn La Về Suy Thoái Và Bảo Vệ Rừng, Đề Xuất Một Số Giải Pháp
  • Tệ Nạn Xã Hội Là Gì? Tác Hại Của Tệ Nạn Đối Với Bản Thân, Gia Đình Và Xã Hội
  • “giải Pháp Để Công Nhân Tránh Xa Các Tệ Nạn”
  • Tăng Doanh Số Ngành Bảo Hiểm Vượt Bậc Nhờ Tiếp Thị Trực Tuyến
  • Đề Xuất Giải Pháp Thực Hiện Tiêu Chí Môi Trường Và An Toàn Thực Phẩm Đối Với Các Xã Đã Đạt Chuẩn Và Xã Phấn Đấu Đạt Chuẩn Nông Thôn Mớitrên Địa Bàn Tỉnh Hà Tĩnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Khai Các Giải Pháp Thực Hiện Tốt Nhiệm Vụ Chuyên Môn Của Từng Cơ Quan Trong Bộ Tài Nguyên
  • Thi Đua Là Giải Pháp Thực Hiện Thắng Lợi Nhiệm Vụ Chuyên Môn
  • Nắng Hồng Từ Những Trái Tim…
  • Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Của Ban Nội Chính Tỉnh Ủy Lạng Sơn
  • Sau 8 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM), bộ mặt nông thôn đã đổi thay đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư khu vực nông thôn được nâng cao rõ rệt, công tác BVMT đã được quan tâm và có chuyển biến tích cực. Theo tổng hợp báo cáo của Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh, tính đến nay, toàn tỉnh có 01 huyện và 158 xã (chiếm 69,3%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Trong đó, có 158 xã đạt chuẩn tiêu chí Môi trường, chiếm 69,3% (bằng số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới).

    – Về tình hình thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh:

    Trên cơ sở Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2021-2020, ngày 07/02/2007, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND về việc ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2021-2020, thực hiện trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ( gọi tắt là Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND ). Bộ tiêu chí về xã NTM mới được ban hành có nhiều điều chỉnh so với bộ tiêu chí đã được áp dụng trong giai đoạn trước, trong đó tiêu chí môi trường tăng lên (từ 5 lên 8 chỉ tiêu) với nhiều nội dung mới như an toàn thực phẩm, nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước, BVMT trong chăn nuôi… Bên cạnh đó, Bộ tiêu chí cũng quy định chặt chẽ một số nội dung như tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định…

    Qua kiểm tra, rà soát tại các xã đã được công nhận đạt chuẩn cho thấy, tình hình thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm có nhiều chuyển biến tích cực, cụ thể đường làng, ngõ xóm không chỉ sạch mà còn đẹp, gọn gàng, có nhiều tuyến đường trở thành đường mẫu xanh – sạch – đẹp; công tác kiểm soát ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh được quan tâm hơn; việc thu gom và xử lý chất thải dần đi vào nề nếp.

    Cảnh quan môi trường tại tuyến đường trục thôn xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ (xã đã được công nhận năm 2013)

    Tại một số xã phấn đấu đạt chuẩn trong năm tiếp theo đã bắt đầu triển khai các hoạt động xây dựng cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp (như xây bồn, trồng cây hàng rào xanh, ra quân cải tạo vườn hộ), tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện vệ sinh môi trường, chỉnh trang nhà cửa đảm bảo 3 sạch và quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải, chất thải chăn nuôi trên địa bàn,…

    Phong trào chỉnh trang khu dân cư (xây bồn, trồng hoa) tại xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà (xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2021)

    Tuy nhiên, các xã vẫn còn lúng túng trong việc duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm, cũng như việc thực hiện để đạt chuẩn tại các xã phấn đấu đạt chuẩn; Qua 2 năm thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm theo Quy định tại Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND, cho thấy, tiêu chí còn nhiều nội dung khó thực hiện, chỉ tiêu đánh giá còn chưa rõ ràng, ảnh hưởng tới mục tiêu phấn đấu của các địa phương.

    Đối với các xã đã đạt chuẩn: Việc thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm tại nhiều xã đã được công nhận đạt chuẩn trong giai đoạn từ năm 2021 về trước vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu theo Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND. Năm 2021 và năm 2021, Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động đánh giá lại việc thực hiện tiêu chí tại các xã theo quy định mới, tuy nhiên, tình trạng “rớt chuẩn” vẫn còn khá phổ biến. Đối với các xã vẫn duy trì và thực hiện được theo quy định mới đang phấn đấu đạt xã nông thôn mới kiểu mẫu. Về quy định tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu, mặc dù UBND tỉnh đã chủ động, tích cực trong việc đẩy mạnh công tác xây dựng NTM, sau khi đã được công nhận đạt chuẩn, nhằm nâng cao chất lượng đời sống nông thôn, góp phần vào công cuộc xây dựng, phát triển và thay đổi bộ mặt nông thôn trên toàn tỉnh, theo đó UBND tỉnh đã xây dựng và ban hành Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND ngày 11/8/2016 ban hành Bộ tiêu chí xã NTM kiểu mẫu, trong đó tiêu chí môi trường được định lượng với 4 chỉ tiêu. Tuy nhiên, các chỉ tiêu quy định tại Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND hiện không phù hợp so với quy định hiện tại theo Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND của UBND tỉnh. Theo đó, đến thời điểm hiện nay, trên cơ sở Quyết định số 691/QĐ-UBND ngày 05/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2021-2020, Hà Tĩnh đang xây dựng Bộ tiêu chí áp dụng trên địa bàn tỉnh. Do sự thay đổi trong quuy định về Bộ tiêu chí xã nông thôn mới kiểu mẫu và sự “thỏa mãn”, “xả hơi” dẫn đến phong trào xây dựng nông thôn mới sau khi đạt chuẩn của các xã đã được công nhận có phần nào chững lại. Theo đó, việc duy trì thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm không thực hiện được, dẫn đến nhiều xã “rớt chuẩn”.

    Đối với xã đăng ký, phấn đấu đạt chuẩn trong năm tiếp theo, việc bắt đầu triển khai thực hiện tiêu chí còn nhiều lúng túng, khó định hình công việc cụ thể và nguồn kinh phí trong xây dựng kế hoạch thực hiện. Qua kết quả kiểm tra, thẩm định năm 2021, cho thấy: Hầu hết các xã đều đến giai đoạn “nước rút” mới tập trung cho việc triển khai thực hiện tiêu chí. Do đó, tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm thường đạt cuối cùng trong 20 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, thậm chí nhiều xã trở thành xã cần phải cân nhắc trong bỏ phiếu công nhận.

    – Đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

    Nhằm nâng cao chất lượng thực hiện đối với các xã đã được công nhận đạt chuẩn NTM và tháo gỡ khó khăn trong thực hiện tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm đối với các xã đăng ký, phấn đấu đạt chuẩn trong những năm tiếp theo, cần có những giải pháp cụ thể, xây dựng kế hoạch triển khai sát với thực tế và xác định trọng tâm các nội dung của tiêu chí để triển khai hiệu quả. Ngoài ra, đối với xã đã được công nhận đạt chuẩn, ngoài việc duy trì các chỉ tiêu theo yêu cầu của Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND cần phải thực hiện nâng cao chất lượng của các tiêu chí để đạt bền vững. Riêng đối với tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm cần phải xây dựng những mô hình thí điểm, vừa làm điểm mấu chốt trong việc nâng cao chất lượng, vừa làm mô hình “mẫu”, gọi là xây dựng “điểm nhấn” nhằm góp phần làm thay đổi hơn nữa bộ mặt của toàn xã, tiến tới xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu. Theo đó, các xã xác định rằng, những chỉ tiêu “cứng” bắt buộc áp dụng (tỷ lệ chất thải được thu gom và xử lý (như hình thành tổ đội vệ sinh môi trường tại các thôn, hoạt động có hiệu quả), tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, nước đáp ứng QCVN 02:2009/BYT…), cũng như việc thực hiện các chỉ tiêu “mới” so với yêu cầu tại quy định tại giai đoạn được công nhận đạt chuẩn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân nông thôn, phát triển kinh tế – xã hội gắn với BVMT nói chung và “giữ chuẩn” của xã nói riêng.

    Đối các xã phấn đấu đạt chuẩn trong năm trong những năm tiếp theo, việc triển khai các nội dung tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm đạt theo các chỉ tiêu yêu cầu “bắt buộc” của tiêu chí theo quy định tại Quyết định số 05/2017/QĐ-UBND. Ngoài ra, để nâng cao chất lượng tiêu chí cũng cần lựa chọn 1 mô hình mẫu tạo điểm nhấn trong thực hiện tiêu chí, theo đó cần chú trọng cảnh quan môi trường, thu gom xử lý chất thải và xử lý chất thải chăn nuôi trong khu dân cư.

    Để thực hiện tốt các chỉ tiêu của tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm cần phải tập trung vào một số giải pháp:

    + Rà soát cụ thể các nội dung cần thực hiện đối với tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm đối với các xã đã được công nhận đạt chuẩn giai đoạn trước năm 2021 (là thời điểm Quyết định số 05/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành). Đối với một số chỉ tiêu chưa đạt hoặc chưa được đánh giá trong giai đoạn trước, các xã cần có lộ trình thực hiện nhằm đáp ứng với yêu cầu của giai đoạn mới. Đối với xã phấn đấu đạt chuẩn trong những năm tiếp theo, cần rà soát cụ thể các nội dung tiêu chí theo hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Văn bản số 624/STNMT-CCMT ngày 14/3/2018, từ đó, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhằm đáp ứng theo yêu cầu các nội dung của tiêu chí. Quá trình rà soát phải sát đúng với thực tế, cụ thể đến từng hộ dân, từng cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Quá trình thực hiện cần phải giao cho từng cá nhân, đoàn thể phụ trách có trách nhiệm, đảm bảo sát đúng và xây dựng nên kế hoạch thực hiện chi tiết. Về nội dung kế hoạch bao gồm nội dung thực hiện, kinh phí, người chịu trách nhiệm hoàn thành, thời hạn hoàn thành. Định soát xét, đánh giá các nội dung theo kế hoạch đề ra để có những giải pháp khắc phục và chỉ đạo triển khai hiệu quả hơn.

    + Đối với việc nâng cao chất lượng tiêu chí lựa chọn, xây dựng mô hình thí điểm về xã NTM kiểu mẫu, trong đó việc thực hiện tiêu chí môi trường đối với các xã kiểu mẫu cần chú trọng vào vấn đề nâng cao nhận thức của cộng đồng về BVMT; củng cố và phát triển các tổ tự quản về môi trường; nâng cao tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định ở mức tối đa; chú trọng đến việc xây dựng cảnh quan môi trường nông thôn… Bên cạnh đó, cần xây dựng các mô hình kiểu mẫu đối với từng chỉ tiêu cụ thể trong tiêu chí môi trường, như mô hình thực hiện tốt chỉ tiêu về cảnh quan môi trường, xử lý chất thải trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu gom và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật,…

    + Đẩy mạnh xã hội hóa công tác BVMT nhằm đa dạng hóa nguồn lực BVMT thông qua việc thu hút đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho BVMT, tăng cường sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, hợp tác xã, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện, giám sát công tác BVMT tại địa phương. Nhiều xã đã thành công trong việc huy động sự đóng góp, hỗ trợ kinh phí của con em xa quê, các “mạnh thường quân”, các nhà hảo tâm trên địa bàn để góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp.

    + Tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm là tiêu chí “khó đạt” mà cũng “dễ rớt”, phụ thuộc phần nhiều vào ý thức người dân, cách làm, cách triển khai, tuyên truyền vận động của chính quyền địa phương , đoàn thể, hệ thống chính trị. Theo đó, một trong những giải pháp thành công trong thực hiện tiêu chí là tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức: qua loa phát thanh, truyền hình, quảng bá, qua tập huấn tuyên truyền, nêu gương người tốt việc tốt và cách vận động “dài hơi”, kiểu “mưa dầm thấm lâu”, đến từng hộ gia đình để vận động “lần 1, lần 2, lần 3 và nhiều lần khác nữa”, hoặc “làm mẫu” để mọi người noi theo, “nói được làm được”, “làm cho dân hiểu” vừa hiểu về cách làm, hiểu về tác hại của những vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động sinh sống, sản xuất nông nghiệp gây ra cho sức khỏe người dân để dân phải “sợ” mà “cải thiện lối sống, điều chỉnh hành vi của mình gây ra”, hiểu về tác dụng tích cực của việc chỉnh trang, cải thiện môi trường nông thôn, làm cho môi trường tốt lên… Có thể nói, một trong những giải pháp thành công nữa đó là chính quyền địa phương phải quyết liệt, vừa phải “mạnh tay”, vừa “mềm dẻo” trong tuyên truyền, vận động người dân thực hiện và thực hiện có hiệu quả, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

    Trần Th Thành​ – Chi cục BVMT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yên Dũng: Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Tiêu Chí Môi Trường
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Một Cửa Liên Thông Ở Các Quận, Huyện Của Thành Phố Hà Nội
  • 10 Giải Pháp Cho Cơ Chế Một Cửa
  • 4 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Một Cửa Liên Thông
  • Giữ Gìn Và Phát Huy Giá Trị Cốt Lõi Phẩm Chất “bộ Đội Cụ Hồ”
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50