Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?
  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Lời mở đầu

    Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát

    triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới.Vào dịp đầu

    năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài

    chính đã phân bổ chi tiêu trong năm vừa qua,đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách

    và phân bổ ngân sách cho các bộ ngành trong năm tới.Tại cuộc họp thường niên này

    việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu dựa vào các chính sách thuế và xuất khẩu)

    cũng được đề cập đến.Dựa vào việc đầu tư-phân bổ-tài chính báo cáo mà chúng ta có

    thể biết được chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới. Thực tế, các cường

    quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân

    sách hợp lý.

    Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nên kinh tế. Thông qua công cụ này, Nhà nước

    sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như:

    tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để

    đảm bảo cân bằng.

    Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    hiện nay việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát và giao nộp” đối

    với khu vực kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, đã tạo điều kiện cho NSNN

    đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Thu NSNN nói

    một cách đơn giản chính là công tác lập quỹ NSNN, từ đó NSNN có thể chi cho các

    hoạt động của mình, thực hiện được vai trò của mình. Do đó có thể nói thu NSNN là

    một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNN nói

    chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng

    Phần nội dung

    I. Cơ sở lý luận:

    1. Khái niệm của ngân sách nhà nước.

    1.1 Ngân sách nhà nước là gì?

    Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, là một thành

    phần trong hệ thống tài chính, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh

    tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực

    hiện các chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn

    gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá.

    Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ

    thuế khoá bắt toàn dân phải cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ

    của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã

    hội, ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất,

    người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái

    và các lĩnh vực nghiên cứu.

    – Các nhà kinh tế học hiện đại đã dưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách

    nhà nước:

    + Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng

    tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.

    + Một cách hiểu tương tự,người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán

    mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm

    Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển:NSNN là một văn kiện tài

    chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm

    – Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua

    ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của

    Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được

    thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà

    nước.

    Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát

    triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và

    nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của

    kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của

    ngân sách nhà nước.

    Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân

    sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn

    vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.

    1.2 Đặc điểm của NSNN:

    Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể

    hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước

    Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước

    tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định,thường được thực hiện theo nguyên tắc

    không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

    Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những quan

    hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia,

    lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác

    trong hoạt động của ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt

    của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó

    được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho

    những mục đích đã định

    Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định,

    mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được biểu

    hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng của ngân

    sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm trù kinh tế mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước – ngân sách nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập trên cơ sở các

    quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và chỉ sau đó ngân

    sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước

    1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường:

    Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá – tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận hành

    của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá

    trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… đã bộc lộ những ưu thế cũng như

    những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó,

    Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan

    để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền

    kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp

    luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ… trong đó ngân sách nhà nước được coi là

    công cụ quan trọng nhất của Nhà nước

    Vai trò quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau:

    Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu

    cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn

    chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của

    mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng kết như

    sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân sách và ngược

    lại”.

    Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế

    thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau:

    Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,

    kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.

    Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng hoạt

    động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để

    hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định

    và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để

    Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các

    ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và

    phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc cấp vốn hình thành

    các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc

    quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt

    khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử

    dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ

    cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc

    huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai

    trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.

    Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường,

    bình ổn giá cả, chống lạm phát.

    Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối

    cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách nhà

    nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc

    biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với sự biến

    động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác, hoạt động

    thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm

    phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung

    quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm

    phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của

    Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp đúng đắn trong quá trình thu-chi của ngân sách

    nhà nước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả các khoản chi tiêu của ngân sách nhà

    nước, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư… Nhà nước có thể hạn chế và

    kiểm soát lạm phát.

    Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và

    các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội.

    Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao

    cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu xây dựng một

    xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. Nhưng nền kinh tế thị trường với khuyết

    tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo. Do vậy, để đạt được mục

    tiêu mà Đảng đã đề ra, Nhà nước phải sử dụng công cụ ngân sách để điều tiết thu

    nhập, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội. Việc điều tiết

    này được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách.

    Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực

    thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã

    hội, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người

    lao động. Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới hình thức các khoản cấp

    phát, trợ cấp trong các chính sách về dân số kế hoạch hoá gia đình, về bảo trợ xã hội,

    về việc làm… Nhà nước hỗ trợ để nâng cao đời sống của tầng lớp người nghèo trong

    xã hội.

    Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, việc giải quyết các vấn đề

    xã hội chưa thể thực hiện một cách triệt để, vấn đề này phải thực hiện theo phương

    châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

    2. Thu NSNN:

    2.1 Khái niệm:

    Là việc nhà nước dùng quền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính

    quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.

    – Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của nhà nước được

    hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức

    giá trị

    2.2 Đặc điểm:

    Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà

    nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải

    quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu quan

    xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức

    năng của Nhà nước

    Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm

    trù như giá cả, thu nhập, lãi suất… Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền

    kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết định mức

    động viên của thu ngân sách nhà nước

    Thu NSNN được thực hiên theo nguyên tắc hoản trả không trực tiếp là chủ yếu

    2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm:

    Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà nước

    nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, thu

    tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu khác.

    Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách.

    Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước

    và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành công trái

    quốc gia, trái phiếu chính phủ… để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư.

    Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính phủ, các tổ

    chức tài chính quốc tế.

    2.4 Nội dung kinh tế của thu NSNN:

    2.4.1 Thu thuế

    Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do

    các pháp nhân và thể nhân thực hiện.

    Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt

    bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức phải

    chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước tức

    là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được giải thích bởi

    mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức đối với nhà

    nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp ngang cho cho người nộp thuế, một phần số thuế

    đã được nộp cho NSNN được hoàn trả một cách gián tiếp cho người nộp thuế dưới

    những hưởng thụ về giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng và an ninh quốc phòng… Tất

    cả mọi công dân đều được hưởng các dịch vụ công cộng đó như nhau cho dù nghĩa vụ

    đóng góp có thể khác nhau.

    Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định nên mọi sự thay đổi hay bổ sung

    phải được đưa ra để bàn bạc tại cơ quan lập pháp và phải được chính cơ quan này phê

    chuẩn thì mới được áp dụng

    Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ sở hữu tập thể và cá thể thánh sở hữu toàn dân.

    Việc chuyển quyền sở hữu này được quyết định bởi chức năng quản lí toàn bộ nền

    kinh tế quốc dân của nhà nước và biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa nhà nước với

    các thành phần kinh tế, các cá nhân trong xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô

    nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của ngân sách nhà nước, góp phần

    điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích luỹ tư bản, định hướng sản xuất và tiêu dùng.

    Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và đảm bảo

    công bằng trong xã hội

    2.4.2 Lệ phí:

    Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bắt buộc, nhưng có tính chẩt đối giá, nghĩa

    là lệ phí là một khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những

    dịch vụ do Nhà nước cung cấp.

    So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành,

    mang tính quyền lực của nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp.

    Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp, mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở

    đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Quản lý tốt

    các khoản thu lệ phí có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và giảm bớt gánh

    nặng chi ngân sách trong việc tạo ra các dịch vụ công cộng.

    2.4.3 Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước:

    Trong nền kinh tế thị trường, hình thức cấp vốn trực tiếp từ ngân sách cho các doanh

    nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu

    tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần được

    hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước với tư cách là một cổ

    đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi nhuận, số lợi nhuận

    đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà nước sẽ có một khoản

    thu.

    Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi nhuận thì một phần lợi nhuận

    đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua khoản thu về tiền thu sử dụng

    vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính là khoản lợi tức thu được từ

    khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư. -Thu lợi tức từ cổ phần nhà nước là một nguồn thu

    chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu ngân sách các khoản vốn đã đầu tư

    vào nền kinh tế

    2.4.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước:

    Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối lại.

    Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có tác

    dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm:

    Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên

    Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài

    nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước

    ngoài.

    2.4.5 Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài va thu khác:

    Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn ra

    sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu cho

    ngân sách nhà nước.

    Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ ra những chi phí

    ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người lao động, đồng thời là khoản

    tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình đóng góp cho tổ quốc.

    Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không

    có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của

    chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN:

    Thu ngân sách chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thực tế,

    mức thu ngân sách ở mỗi nước khác nhau cho dù có những tương đồng về mặt kinh tế,

    xã hội. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau đây:

    GDP bình quân đầu người: là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát

    triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm, tiêu dung và đầu tư của một nước. GDP

    bình quân đầu người là nhân tố khách quan quyết định mức thu ngân sách nhà nước,

    vì vậy khi ấn định mức thu ngân sách, Nhà nước cần căn cứ vào chỉ tiêu này.

    -Khi GDP/người cao – dẫn đến thu ngân sách cao

    -Khi GDP/Người thấp – dẫn đến thu ngân sách nhà nước thấp

    Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đối với các nước có nguồn tài

    nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu

    lớn cho ngân sách nhà nước. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu của ngân

    sách

    Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển

    kinh tế. Tỉ suất doanh lợi là tỉ số giữa kết quả thu đươc trên tổng chi phi bỏ ra. Tỉ suất

    doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu NSNN càng lớn. Do vậy, khi xác định tỷ

    suất thu ngân sách cần căn cứ vào tỉ suất doanh lợi của nền kin tế để đảm bảo việc

    huy động của ngân sách nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ

    thể trong xã hội.

    Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô

    tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh

    Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các

    sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên

    của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo

    kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.

    Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động.

    Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà

    nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất

    kinh doanh.

    2.6.2 Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:

    Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không

    phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.

    Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế.

    Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc

    thuế trực thu với sắc thuế gián thu.

    2.6.3 Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:

    Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế

    phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế… Các từ

    ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng nhiều hàm ý

    để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau.

    Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tinh trang lách luật, trốn

    lậu thuế.

    2.6.4 Nguyên tắc đơn giản:

    Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định

    rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho viêc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những

    hiện tượng tiêu cực trong thu thuế.

    II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay:

    Việc thực hiện hàng loạt biện pháp tài khóa và tiền tệ chặt chẽ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày

    24/2/2011 của Chính phủ đã mang lại nhiều tác động tích cực đến bình ổn nền kinh tế trong năm

    2012 song cũng có những tác động phụ, ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.Khái quát về tình

    hình thu ngân sách nhà nước năm 2012,đề xuất giải pháp 2013

    Thu ngân sách năm 2012

    Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà

    nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất. Ngành Tài chính đã thực hiện chủ trương:

    “Giảm thuế, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ

    ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó

    khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Với việc triển khai Nghị quyết

    13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực

    tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với quy mô xấp

    xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009.

    Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 11/2012, ngành Thuế đã xử

    lý miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho

    khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng

    19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT)

    đối với khoảng 216.450 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền

    khoảng 11.160 tỷ đồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanh

    nghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền khoảng 4.940 tỷ đồng;

    Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340 DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50%

    tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế

    môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng

    10 tỷ đồng…

    Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp

    cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành

    chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra

    thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI…

    Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012.

    Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ

    đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng. Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt

    128,7% so với dự toán – tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ

    đồng. Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ

    đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011. Tuy nhiên,

    thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước tính chỉ đạt khoảng 82 %

    dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu. Số thu này cũng phản

    ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012.

    Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN

    từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP.

    Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ

    đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất.

    Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học:

    Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng

    vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Chủ trương giảm

    thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lý do quan trọng

    giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012.

    Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát

    trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế;

    triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số

    nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm

    Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn, số thu cân đối ngân

    sách dự kiến 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất

    dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ

    dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 %

    GDP.

    Ba là, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra, rà soát để nắm

    bắt kịp thời số lượng, tình trạng hoạt động của DN, hộ kinh doanh trên địa bàn để đưa

    vào diện quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách,

    chú trọng việc thanh tra đối với các chuyên đề như: chuyển giá, thương mại điện tử,

    kinh doanh qua mạng, hoàn thuế, hộ kinh doanh cá thể; thanh tra đối với các DN lớn,

    DN có vốn đầu tư nước ngoài.

    Bốn là, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế

    nợ mới phát sinh, động viên kịp thời nguồn lực cho NSNN.

    Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí

    tuân thủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh

    triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển hệ thống thuế giai đoạn

    2011-2020, đảm bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.

    Một số giải pháp thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013

    Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn thì số thu cân đối ngân

    sách dự kiến là 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà

    đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và

    từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 %

    GDP.

    Phân tích tình hình kinh tế và dự toán NSNN năm 2013, có thể thấy việc thực hiện thu

    NSNN có một số thuận lợi như sau:

    Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ có thể thoát ra khỏi giai đoạn suy giảm vào

    giữa năm 2013, góp phần làm tăng thu ngân sách. Năm 2013, hệ số ICOR theo mục

    tiêu giảm (từ gần 6,7 lần xuống 5,5 lần), do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống (30%

    so với 33,5%), do tốc độ tăng trưởng GDP cao lên (5,5% so với 5,03%); tốc độ tăng

    năng suất lao động cũng cao lên (năm 2012 tăng gần 2,3%, mục tiêu năm 2013 tăng

    lên 2,7%). Theo ước tính, nếu GDP năm 2013 tăng trưởng đạt 5,5 – 6% thì tăng thu

    NSNN có thể tăng từ 9-10% so với thực hiện năm 2012, tức là đạt mức theo dự toán.

    Thứ hai, các DN và cả nền kinh tế được kỳ vọng sẽ từng bước hồi phục khi lạm phát

    được kiểm soát và lãi suất cho vay giảm đi. Các biện pháp hỗ trợ DN qua miễn, giảm

    thuế sẽ từng bước có tác dụng khôi phục lại hoạt động của DN. Điều này góp phần

    vào việc tăng nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, do lạm phát năm 2012 thấp nên việc

    lập dự toán thu theo số danh nghĩa cho năm 2013 cũng không bị thổi phồng như đã

    xảy ra với dự toán năm 2012. Nói cách khác là dự toán thu NSNN năm 2013 sẽ sát

    với thực tiễn hơn.

    Tuy nhiên, thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 cũng sẽ đối mặt với những thách

    thức không nhỏ:

    Thứ nhất, rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm

    giảm nguồn thu NSNN.

    Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh

    tế thế giới (độ mở của nền kinh tế, tính theo quy mô ngoại thương/ GDP trong giai

    đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất

    khẩu khi kinh tế khu vực EU và Mỹ khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.

    Theo dự báo của IMF vào tháng 12/2012 thì kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,6%

    trong năm 2013 và nhóm các nước phát triển chỉ tăng trưởng ở mức 1,6 %.

    Thứ hai, nguồn thu giảm do chính sách miễn giảm thuế của Chính phủ:

    Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, tháo gỡ khó khăn

    cho DN trong đó có gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế TNDN. Việc áp dụng

    thuế thu nhập cá nhân mới với sự thay đổi về ngưỡng chiết trừ gia cảnh và thang thu

    nhập chịu thuế dự kiến sẽ làm giảm thu NSNN. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể

    giảm đi khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức

    Thương mại Thế giới (WTO) và hoạt động xuất nhập khẩu bị tác động của suy giảm

    tăng trưởng kinh tế.

    Thứ ba, rủi ro kinh tế khiến một số nguồn thu khó đạt dự toán

    Việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại và của hệ thống DN

    sẽ đòi hỏi chi phí không nhỏ. Về ngắn hạn, các chính sách này có thể làm giảm nguồn

    thu từ thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân.

    Một trong những nguồn thu quan trọng là thu NSNN từ dầu thô cũng sẽ khó tăng khi

    dự báo giá dầu năm 2013 sẽ ít có biến động mạnh, thậm chí có thể giảm đi nếu tình

    hình khu vực Trung Đông ổn định.

    Thị trường bất động sản chưa khởi sắc sẽ làm nguồn thu từ đất đai tiếp tục khó đạt

    mục tiêu đặt ra. Theo dự toán, thu NSNN từ đất đai năm 2013 tăng 7,7 % so với dự

    toán 2012, song trong bối cảnh hiện nay và thực tế tình hình năm 2013 thì cũng sẽ

    không dễ thực hiện được số thu này.

    III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam

    trong giai đoạn hiện nay:

    1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam:

    Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự

    cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước gồm

    các nguyên nhân chính sau:

    1.1 Thất thu thuế nhà nước:

    Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các

    nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy

    nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ

    hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho

    ngân sách nhà nước. lấy ví dụ:lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của

    đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến

    sự phát triển kinh tế.

    Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp

    có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế,

    giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm

    hụt ngân sách nhà nước.

    1.2 Đầu tư công kém hiệu quả:

    Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài

    nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc

    gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư

    dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi

    công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí

    nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên

    nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

    1.3 Cần đấu thầu dự án sử dụng đất:

    Bên cạnh đó, nền hành chính công – dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự

    kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng.

    1.4 Nhà nước huy động vốn để kích cầu:

    Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi

    ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế

    phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ

    ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.

    Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và

    được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. -Vì vậy, khi các địa phương

    vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận

    hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo

    dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng

    thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc

    yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.

    1.6 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:

    Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn

    hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do

    sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự

    hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách

    rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy

    nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi

    vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ

    nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối

    cùng là gây ra lạm phát.

    1.7 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đươck sử dụng như

    một công cụ trong chính sách tài khoá để kích thích sự tang trưởng kinh tế:

    Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số

    thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng

    ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội

    cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau.

    Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ

    động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân

    nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho

    các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền

    kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không

    2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong

    giai đoạn hiện nay.

    Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp:

    -Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thì sẽ

    là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu

    chi tiêu của NSNN.

    -Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó,

    cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu tư

    phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ.

    -Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có những

    tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn.

    -Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự án,

    công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng mức

    đầu tư lớn.

    Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để tránh thất thu

    ngân sách nhà nước.

    -Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm bảo

    nợ công trong mức an toàn.

    -Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng an

    toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát

    hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; thu

    thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; xây dựng quy chế quản lý

    rủi ro.

    Chống thất thu ngân sách nhà nước- nhìn từ hoạt động kiểm tra sau thông qua:

    -Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho

    ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và

    phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên

    vì mục đích trước mắt.

    -Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa

    khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư.

    -Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ

    sở thu nhập và mức sống của dân.

    -Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong

    những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.

    -Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng,

    tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư

    TÊN : LÊ HỒNG NHUNG

    MSSV :1154020712

    LỚP

    :11DTDN4

    ĐỀ BÀI: Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà

    nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Trong Thu Nsnn
  • Bài Tập Lý Thuyết Thường Gặp Về Amin (Có Lời Giải Chi Tiết)
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Sáng Tạo Trong Tổ Chức Hoạt Động Cho Trẻ 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Giúp Trẻ 3
  • Dịch Vụ Số Hóa Tài Liệu Chất Lượng, Uy Tín
  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?
  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nhiều Giải Pháp Trong Nhiệm Vụ Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Bài Thuyết Trình Hội Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non 2022
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Thu Hút Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Sáng nay, đồng chí Nguyễn Quang Hưng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo thu ngân sách Nhà nước tỉnh Thái Bình dự và chủ trì hội nghị triển khai nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước 2 tháng cuối năm.

    Đồng chí Nguyễn Quang Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo Thu ngân sách Nhà nước tỉnh Thái Bình dự và chủ trì hội nghị triển khai nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước

    10 tháng qua, ước thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 5.115 tỷ đồng, bằng 73% dự toán Bộ Tài chính giao. Nếu trừ tiền sử dụng đất, số thu từ thuế, phí và thu khác đạt 3.685 tỷ đồng, đạt gần 63% dự toán.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cấp, ngành, địa phương, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người nộp thuế

    Để hoàn thành dự toán Bộ Tài chính giao, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cấp, ngành, địa phương, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người nộp thuế. Chủ động có các giải pháp khai thác nguồn bù đắp cho chỉ tiêu hụt thu, đảm bảo số thu đạt được mục tiêu đề ra.

    Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, có nguồn lực tài chính nộp ngân sách Nhà nước. Thường xuyên nắm tình hình sản xuất, kinh doanh và biến động thị trường, có dự báo số thu ngân sách chi tiết theo từng chỉ tiêu, từng khu vực. Nhất là đối với chỉ tiêu thuế bảo vệ môi trường, thuế công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh.

    Đẩy nhanh tiến độ thu nợ, xử lý nghiêm đối với các trường hợp cố tình dây dưa, nợ đọng tiền thuế. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra tại trụ sở người nộp thuế. Trong đó, tập trung đối với các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế, các doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các lĩnh vực, địa bàn có khả năng tăng thu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Trong Thu Nsnn
  • Bài Tập Lý Thuyết Thường Gặp Về Amin (Có Lời Giải Chi Tiết)
  • Thực Trạng Thu Ngân Sách Nhà Nước Việt Nam.giải Pháp Để Tránh Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Việc Áp Dụng Các Nguyên Tắc Thiết Lập Hệ Thống Thu Ngân Sách Nhà Nước Ở Nước Ta Giai Đoạn Hiện Nay Và Giải Pháp Tránh Thất Thu Nsnn Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Cơ Cấu Chi, Các Biện Pháp Cân Đối Và Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước?
  • Đbqh Gợi Ý Nhiều Giải Pháp Cân Đối Thu Chi Ngân Sách
  • Giải Pháp Căn Cơ Cho Thu Ngân Sách Năm 2022
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Thu Ngân Sách Những Tháng Cuối Năm 2022
  • B- NỘI DUNG THẢO LUẬN.

    I. CƠ SỞ LÍ THUYẾT.

    1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước.

    1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, nó phản ánh

    những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã

    hội và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Sự

    ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với sự ra đời và tồn tại của

    Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá. Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo

    cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt toàn dân phải

    cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước và nó được

    sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Thuật ngữ “ngân sách nhà nước” có từ lâu và được dùng phổ biến trong đời sống

    kinh tế xã hội. Song hiểu thế nào là ngân sách nhà nước thì có nhiều quan niệm

    khác nhau, hiện nay có hai quan niệm phổ biến về ngân sách nhà nước. Quan niệm

    thứ nhất cho rằng: Ngân sách nhà nước là bản dự toán thu chi tài chính của Nhà

    nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Quan niệm thứ hai

    cho rằng: Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ của Nhà nước. Các quan niệm trên về

    ngân sách nhà nước đã lột tả được mặt cụ thể, mặt vật chất của ngân sách nhà

    nước, nhưng chưa thể hiện được nội dung kinh tế xã hội của ngân sách nhà nước.

    Trong thực tế, nhìn bề ngoài hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động thu chi tài

    chính của Nhà nước. Hoạt động đó được biểu hiện một cách đa dạng và phong phú,

    được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội.

    Tuy vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung như sau:

    – Các hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh

    tế – chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất

    định.

    – Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó chứa đựng nội dung kinh tế xã hội

    nhất định, chứa đựng những quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các

    quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng

    đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong hoạt động của ngân sách nhà nước.

    Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định,

    mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được

    biểu hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng

    của ngân sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm

    trù kinh tế – mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước – ngân sách

    nhà nước – cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập

    trên cơ sở các quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và

    chỉ sau đó ngân sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước.

    Từ những đặc điểm trên ta có thể đi đến khái niệm ngân sách nhà nước như sau:

    Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các

    chủ thể trong xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập

    trung quan trọng nhất của Nhà nước – quỹ ngân sách – nhằm đảm bảo cho việc

    thực hiện các chức năng của Nhà nước về mọi mặt.

    1.2. Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá – tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận

    hành của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như:

    quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ đã bộc lộ những ưu

    thế cũng như những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục

    những khuyết tật đó, Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là

    một đòi hỏi khách quan để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can

    thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua

    các công cụ chủ yếu như: pháp luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính,tiền tệ trong đó

    ngân sách nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước. Vai trò

    quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau:

    – Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu

    cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó

    gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm

    vụ của mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng

    kết như sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân

    Đồng chí Phùng Quang Hùng, Ủy viên

    BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường

    trực UBND tỉnh chủ trì hội nghị.

    Theo báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm,

    kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt

    42,56%, trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 37,2%; dịch vụ tăng

    60,8%; nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 22,9%. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp

    – xây dựng ước đạt 20.565,6 tỷ đồng, tăng 41,1% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch

    xuất khẩu ước đạt gần 200 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 710 triệu USD.

    Hoạt động tín dụng ngân hàng nhìn chung phát triển ổn định. Ngành du lịch đón

    668,2 ngàn lượt khách, doanh thu đạt 450 tỷ đồng.

    Sản xuất nông, lâm, nghiêp, thủy sản tăng trưởng cao mặc dù chịu ảnh hưởng của

    thời tiết phức tạp, khắc nghiệt. Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân năm 2010

    đạt 66,7 ngàn ha, năng suất lúa đạt 54,79 tạ/ha, ngô đạt 41,8 tạ/ha; sản lượng lương

    thực có hạt ước đạt 236,8 ngàn tấn, tăng 29,6% so với cùng kỳ. Ngành chăn nuôi

    phát triển ổn định, công tác quản lý gia súc, gia cầm và phòng chống dịch bệnh

    thực hiện tốt nên không có dịch bệnh lớn xảy ra.

    6 tháng đầu năm 2010, tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 6.962,9 tỷ đồng,

    tăng 79,1% so với cùng kỳ, đạt 68,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa ước đạt

    4.767,8 tỷ đồng, tăng 46,6% so với cùng kỳ, đạt 54,1% dự toán năm.

    Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, ông Phùng Quang

    Hùng cho rằng các chỉ số tăng trưởng 6 tháng đầu năm nay là rất ấn tượng, cao

    nhất trong nhiều năm qua. Tuy nhiên một số vấn đề trong phát triển kinh tế-xã hội

    còn gặp nhiều khó khăn. Việc xây dựng hạ tầng đất dịch vụ và các khu tái định cư

    còn chậm. Nền kinh tế của tỉnh còn nhiều hạn chế, thiếu lao động tay nghề cao, kết

    cấu hạ tầng kinh tế chưa đảm bảo yêu cầu phát triển; tình trạng ô nhiễm môi trường

    còn phổ biến, nhất là ở khu vực nông thôn; dịch bệnh tiềm ẩn nguy cơ bùng phát.

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) luôn tăng nhanh, nguy cơ lạm phát luôn có khả năng

    xảy ra…

    Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị các cấp, các ngành tạo

    mọi điều kiện cho nhà đầu tư giải quyết đình công. Thực hiện tốt vấn đề đất ở, nhà

    ở cho nhân dân, đặc biệt là với cán bộ công nhân viên chức. Đẩy mạnh công tác

    quản lý và lập quy hoạch; hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của

    tỉnh, cấp huyện và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực đến năm 2022, tầm nhìn

    đến năm 2030 trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đẩy nhanh triển khai các dự

    án trọng tâm, trọng điểm. Tranh thủ các nguồn lực, đặc biệt từ nguồn vốn ODA và

    các nguồn vốn Trung ương. Chủ động kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm ở người và

    động vật. Tăng cường thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm

    các trường hợp vi phạm. Đẩy mạnh công tác phòng trừ sâu bệnh, phòng chống lụt

    bão…

    Hội nghị cũng đã nghe sở Giáo dục và đào tạo báo cáo đề án chuyển đổi các trường

    mầm non bán công trên địa bàn; sở Y tế báo cáo chính sách hỗ trợ chi trả chi phí

    khám chữa bệnh đối với hộ nghèo; báo cáo đề án tuyên truyền, phổ biến và giáo

    dục pháp luật cho lao động và chủ sử dụng lao động trong các doanh nghiệp dân

    doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2010-2012; sở Tài

    chính báo cáo chế độ đón tiếp, thăm hỏi, chúc mừng một số đối tượng do Ủy ban

    Mặt Trận Tổ Quốc cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện; sửa đổi Nghị quyết số

    03/2006/NQ-HĐND quy định về mức thu phí bến phà Then và phà Đức Bác;

    Thanh tra tỉnh báo cáo công tác tiếp dân và giải quyết KNTC của công dân 6 tháng

    đầu năm; kết quả công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống

    lãng phí…

    III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai

    đoạn hiện nay.

    1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

    Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến

    sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước

    gồm các nguyên nhân chính sau:

    -Thất thu thuế nhà nước:

    Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các

    nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy

    nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo

    kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng

    kể cho ngân sách nhà nước. Điển hình, trong năm 2008, lượng thuốc lá nhập lậu

    vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ

    đồng. Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước

    khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự

    phát triển kinh tế.

    Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh

    nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc

    miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách

    khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.

    -Đầu tư công kém hiệu quả:

    Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài

    nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc

    gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu

    tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ

    thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng

    phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là

    nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Thu Hiệu Quả, Ngành Thuế Đã Đạt 88,3% Dự Toán Thu Ngân Sách
  • Phó Thủ Tướng Nêu Giải Pháp Chống Thất Thu Và Thất Thoát Ngân Sách Nhà Nước
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Chống Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Cần Giải Pháp Để Chống Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nhiều Biện Pháp Chống Thất Thu Ngân Sách Hiệu Quả
  • Nhiều Giải Pháp Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tphcm Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Bài Thuyết Trình Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non
  • Tổng Hợp Các Bài Thuyết Trình Tham Gia Hội Thi Giáo Viên Giỏi Tiểu Học
  • Giải Pháp Thu Hút Dịch Chuyển Dòng Vốn Đầu Tư Nước Ngoài
  • Giải Pháp Thu Hút Và Sử Dụng Hiệu Quả Nguồn Vốn Đầu Tư Nước Ngoài
  • BNEWS Theo Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao.

    Ngày 17/3, Tổng cục Thuế cho biết, thời gian tới cần phải quản lý, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, xử lý thu hồi nợ thuế; kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng…nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách Nhà nước.

    Theo đánh giá sơ bộ của Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao. Nếu kinh tế giảm sâu hơn, giảm khoảng 0,84 điểm % thì thu ngân sách Nhà do cơ quan thuế quản lý dự báo giảm khoảng 2,8-3% so với dự toán.

    Tuy nhiên, theo Tổng cục Thuế, đây mới chỉ là đánh giá bước đầu tại thời điểm đầu tháng 2/2020, khi đó có dịch COVID-19 . Đến thời điểm hiện nay, dịch bệnh đã lây lan trên toàn cầu tại hơn 100 quốc gia với trên 135 nghìn người nhiễm bệnh và gần 5 nghìn người tử vong thì theo dự báo ảnh hưởng của dịch bệnh đến kinh tế Việt Nam sẽ có thể nặng nề hơn nữa.

    Trước tình hình đó, Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát tình hình ảnh hưởng của dịch bệnh đến từng lĩnh vực, ngành nghề để tham mưu cho Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành các giải pháp hỗ trợ về tiền thuế, tiền thuê đất cho những đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 khoảng trên 40.000 tỷ đồng.

    Cụ thể, hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất đối với các nhóm ngành, lĩnh vực chịu tác động lớn của dịch bệnh như hàng không, vận tải, kho bãi, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, nông nghiệp, sản xuất điện tử, máy vi tính, sản xuất xe ô tô (trừ ô tô dưới 9 chỗ ngồi)…và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hộ, cá nhân kinh doanh.

    Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, tổng gói hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất khoảng 30.000 tỷ đồng. Số thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất này sẽ được gia hạn trong thời gian 5 tháng và sẽ được nộp vào thời điểm tháng 12/2020. Cơ quan thuế sẽ bố trí lực lượng để tiếp nhận hồ sơ xin gia hạn của người nộp thuế và triển khai thực hiện việc gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất của người nộp thuế.

    Đồng thời, đề xuất nâng mức chiết trừ gia cảnh đối với bản thân người nộp thuế thu nhập cá nhân và người phụ thuộc (từ 9 triệu lên 11 triệu đồng/người, cho người phụ thuộc từ 3,6 triệu lên 4,4 triệu đồng/người.). Tổng cục Thuế đánh giá, mức giảm thu ngân sách Nhà nước khi thực hiện chính sách này giảm trừ gia cảnh theo mức mới khoảng 10.300 tỷ đồng.

    Để phấn đấu thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước ở mức cao nhất có thể, tạo nguồn ngân sách để Chính phủ cân đối, triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế theo mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đã đề ra, đồng thời, có nguồn lực phục vụ công tác phòng chống, dập dịch nhanh; giúp doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước, Tổng cục Thuế đã thực hiện nhiều giải pháp.

    Theo đó, ngành thuế tập trung tháo gỡ, giải quyết khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển ổn định, vững chắc. Từ đó, thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh ngay sau khi dịch COVID-19 được khống chế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở để tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

    Bên cạnh đó, ngành thuế cũng cải cách hiện đại hóa hệ thống thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, duy trì dịch vụ kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan công an, hải quan, quản lý thị trường để kiểm soát chặt chẽ về giá cả hàng hóa, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, chống thất thu ngân sách. Từ đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để khuyến khích, thu hút đầu tư trên địa bàn, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

    Tổng cục Thuế cũng cho biết, diễn biến của dịch COVID-19 phức tạp, khó lường và chưa dự báo được thời điểm kết thúc đã có những ảnh hưởng rõ rệt đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta như du lịch, vận tải, hàng không, khai thác cảng, xuất nhập khẩu, sản xuất nông, lâm, thủy hải sản, sản xuất chế biến… Một số ngành, lĩnh vực bước đầu bị ảnh hưởng, do thiếu hụt lao động tạm thời, gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã có dấu hiệu thu hẹp sản xuất kinh doanh, theo đó, ảnh hưởng trực tiếp đến thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí … tại nhiều địa phương trong cả nước./.

    BNEWS Theo Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao.

    Ngày 17/3, Tổng cục Thuế cho biết, thời gian tới cần phải quản lý, chống thất thu, chuyển giá, trốn thuế, xử lý thu hồi nợ thuế; kiểm soát chặt chẽ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng…nhằm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào ngân sách Nhà nước.

    Theo đánh giá sơ bộ của Tổng cục thuế, trong trường hợp kinh tế giảm 0,55 điểm % so với kế hoạch đề ra thì số thu ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý giảm khoảng 2% so với dự toán đã được Quốc hội giao. Nếu kinh tế giảm sâu hơn, giảm khoảng 0,84 điểm % thì thu ngân sách Nhà do cơ quan thuế quản lý dự báo giảm khoảng 2,8-3% so với dự toán.

    Tuy nhiên, theo Tổng cục Thuế, đây mới chỉ là đánh giá bước đầu tại thời điểm đầu tháng 2/2020, khi đó có dịch COVID-19 . Đến thời điểm hiện nay, dịch bệnh đã lây lan trên toàn cầu tại hơn 100 quốc gia với trên 135 nghìn người nhiễm bệnh và gần 5 nghìn người tử vong thì theo dự báo ảnh hưởng của dịch bệnh đến kinh tế Việt Nam sẽ có thể nặng nề hơn nữa.

    Trước tình hình đó, Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát tình hình ảnh hưởng của dịch bệnh đến từng lĩnh vực, ngành nghề để tham mưu cho Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành các giải pháp hỗ trợ về tiền thuế, tiền thuê đất cho những đối tượng chịu ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 khoảng trên 40.000 tỷ đồng.

    Cụ thể, hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất đối với các nhóm ngành, lĩnh vực chịu tác động lớn của dịch bệnh như hàng không, vận tải, kho bãi, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm, nông nghiệp, sản xuất điện tử, máy vi tính, sản xuất xe ô tô (trừ ô tô dưới 9 chỗ ngồi)…và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hộ, cá nhân kinh doanh.

    Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, tổng gói hỗ trợ gia hạn thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất khoảng 30.000 tỷ đồng. Số thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất này sẽ được gia hạn trong thời gian 5 tháng và sẽ được nộp vào thời điểm tháng 12/2020. Cơ quan thuế sẽ bố trí lực lượng để tiếp nhận hồ sơ xin gia hạn của người nộp thuế và triển khai thực hiện việc gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất của người nộp thuế.

    Đồng thời, đề xuất nâng mức chiết trừ gia cảnh đối với bản thân người nộp thuế thu nhập cá nhân và người phụ thuộc (từ 9 triệu lên 11 triệu đồng/người, cho người phụ thuộc từ 3,6 triệu lên 4,4 triệu đồng/người.). Tổng cục Thuế đánh giá, mức giảm thu ngân sách Nhà nước khi thực hiện chính sách này giảm trừ gia cảnh theo mức mới khoảng 10.300 tỷ đồng.

    Để phấn đấu thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước ở mức cao nhất có thể, tạo nguồn ngân sách để Chính phủ cân đối, triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế theo mục tiêu Quốc hội và Chính phủ đã đề ra, đồng thời, có nguồn lực phục vụ công tác phòng chống, dập dịch nhanh; giúp doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước, Tổng cục Thuế đã thực hiện nhiều giải pháp.

    Theo đó, ngành thuế tập trung tháo gỡ, giải quyết khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển ổn định, vững chắc. Từ đó, thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh ngay sau khi dịch COVID-19 được khống chế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở để tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

    Bên cạnh đó, ngành thuế cũng cải cách hiện đại hóa hệ thống thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, duy trì dịch vụ kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan công an, hải quan, quản lý thị trường để kiểm soát chặt chẽ về giá cả hàng hóa, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng, chống thất thu ngân sách. Từ đó, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng để khuyến khích, thu hút đầu tư trên địa bàn, tạo nguồn tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

    Tổng cục Thuế cũng cho biết, diễn biến của dịch COVID-19 phức tạp, khó lường và chưa dự báo được thời điểm kết thúc đã có những ảnh hưởng rõ rệt đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta như du lịch, vận tải, hàng không, khai thác cảng, xuất nhập khẩu, sản xuất nông, lâm, thủy hải sản, sản xuất chế biến… Một số ngành, lĩnh vực bước đầu bị ảnh hưởng, do thiếu hụt lao động tạm thời, gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã có dấu hiệu thu hẹp sản xuất kinh doanh, theo đó, ảnh hưởng trực tiếp đến thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí … tại nhiều địa phương trong cả nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Ngân Sách Xã, Phường, Thị Trấn
  • Hoàn Thiện Quản Lý Thu Ngân Sách Xã: Nhìn Từ Thực Tế Địa Phương
  • Tp Cẩm Phả: Nhiều Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Đảm Bảo Kế Hoạch Thu Ngân Sách Địa Phương Năm 2022
  • Nỗ Lực Tìm Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Thực Trạng, Giải Pháp Tăng Nguồn Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Bao Quang Tri : Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Tăng Nguồn Thu Ngân Sách Địa Phương
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng _08294512092019
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Đảm Bảo Kế Hoạch Thu Ngân Sách Địa Phương Năm 2022
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng
  • Người dân và các doanh nghiệp làm thủ tục về thuế tại Chi cục Thuế TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc).

    Thay đổi tư duy đánh giá nguồn thu

    Từ thực tế TP Hà Nội, có thể thấy, ngay từ ngày đầu chống dịch Covid-19, Hà Nội đã linh hoạt chuyển hướng trọng tâm thu, nỗ lực triển khai hàng loạt giải pháp thúc đẩy sản xuất – kinh doanh (SX-KD), khôi phục tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt dịch bệnh, tạo cơ sở quan trọng nuôi dưỡng nguồn thu. Năm 2022, số thu nội địa (trừ dầu và tiền sử dụng đất) của TP Hà Nội chỉ đạt 136 nghìn tỷ đồng, bằng 84,7% so với TP Hồ Chí Minh (176 nghìn tỷ đồng), thì năm 2022, số thu nội địa của Hà Nội dần bắt kịp TP Hồ Chí Minh khi đạt 224 nghìn tỷ đồng, bằng 95,4% so với TP Hồ Chí Minh (243 nghìn tỷ đồng), rút ngắn khoảng cách về thu ngân sách. Tỷ trọng thu của hai thành phố trong tổng thu nội địa của cả nước cũng đã dần thay đổi khi năm 2022, TP Hồ Chí Minh chiếm 22,38% còn TP Hà Nội chỉ chiếm 18,95% nhưng đến năm 2022 thì TP Hồ Chí Minh chiếm 21,13%, còn Hà Nội đã tăng lên 20,15% tổng thu nội địa của cả nước.

    Tập trung mở rộng cơ sở tính thuế, tăng nguồn lực cho SX-KD là cách TP Hà Nội đã chuẩn bị từ sớm, để trong những tình huống bất lợi đến từ nguyên nhân khách quan, TP Hà Nội vẫn đủ khả năng để xoay chuyển tình thế. UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Cục Thuế, Cục Hải quan và các sở, ngành, địa phương phát huy hết dư địa các khoản thu, tăng cường khai thác nguồn thu ngân sách từ đất, tiền thuê bãi giữ xe, các loại phí, lệ phí. Theo Phó Cục trưởng Cục Thuế TP Hà Nội Nguyễn Tiến Trường, từ trước đến nay, Hà Nội đã rất chú trọng việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động của ngành thuế, để đạt được số liệu thu NSNN sát thực nhất. Trong thời điểm hiện nay, cơ quan thuế thành phố thường xuyên rà soát, đánh giá lại toàn bộ thủ tục hành chính, các bước công việc trong quy trình quản lý thuế để kiến nghị cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp (DN), qua đó tăng thêm số thu ngân sách.

    Bên cạnh đó, cơ quan thuế tăng cường phối hợp các sở, ngành, địa phương trong thu hồi nợ thuế, rà soát các nguồn thu còn dư địa, tiềm năng để khai thác, như thu từ đất đai nhằm bù đắp hụt thu từ các lĩnh vực khác. Ðến nay, bảy quận, huyện đã hoàn thành dự toán cả năm về khoản thu này. Thời gian tới, các địa phương tiếp tục tập trung hoàn thiện hạ tầng các khu đất đấu giá để tăng nguồn thu trong quý III. Dự kiến năm 2022, số thu từ đất của Hà Nội sẽ tăng khoảng 7.000 đến 10 nghìn tỷ đồng.

    Ðánh giá về cách làm của Hà Nội, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Ðồng Nguyễn Văn Yên cho rằng, đó là một cách làm hay và đúng hướng, cần phải học tập. Lâm Ðồng cũng như một số địa phương có số thu bị giảm do dịch bệnh cũng cần chủ động tìm cách chuyển trọng tâm thu để san sẻ cho khu vực thương mại du lịch dễ bị tổn thương nặng nề do dịch bệnh. Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp vốn là lĩnh vực hội tụ nhiều chính sách ưu tiên, ưu đãi thì cũng vẫn còn nhiều vấn đề có thể điều chỉnh được, có thể đóng góp tốt hơn cho thu NSNN.

    Ðồng tình ý kiến này, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Ðình Xứng cho rằng, qua “cú sốc” kinh tế toàn cầu do dịch bệnh gây ra, cũng đã đến lúc cần có một tầm nhìn mới về cơ sở thu NSNN. Trước đây, chúng ta trông cậy nhiều vào khối DN, đặc biệt là DNNN, các DN lớn thuộc khối ngân hàng, tài chính, công nghiệp, giao thông vận tải… thì nay cần nhận thức rõ hơn về vai trò của cộng đồng DN vừa và nhỏ, cá nhân, hộ kinh doanh cá thể, và cả các đối tượng là gia đình nông dân SX-KD giỏi. “Vấn đề quan trọng chính là sự công bằng, minh bạch trong tính thuế, dù cho đối tượng đó là ai thì việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước đều phải công bằng”, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ðình Xứng nói.

    Theo báo cáo của Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, năm 2022, Thanh Hóa có gần 200 nghìn hộ đạt tiêu chuẩn SX-KD giỏi, trong đó có 28 nghìn hộ đạt tiêu chuẩn cấp huyện, 2.600 hộ đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh. Năm 2022, toàn tỉnh có 210 nghìn hộ đạt tiêu chuẩn, trong đó có 25 nghìn hộ đạt tiêu chuẩn cấp huyện, gần 2.000 hộ đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh, 143 hộ đạt tiêu chuẩn quốc gia. So với các tiêu chuẩn cần đạt được, có nhiều nông hộ có thu nhập trên đầu người bình quân khá cao, thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Ðình Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa thì dường như từ trước đến nay, vấn đề này chưa từng được đặt ra trong hoạt động của Hội Nông dân cũng như trong công tác quản lý thu của cơ quan chức năng.

    Coi trọng nuôi dưỡng nguồn thu

    Thực tế nhiều địa phương cho thấy, nếu không thay đổi được tư duy về nguồn thu, mở rộng cơ sở tính thuế, thì khi con tàu phát triển gặp phải trở ngại đột xuất, rất khó có căn cứ vững chắc cho phát triển kinh tế nói chung và cho thu ngân sách nói riêng. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, nhiều năm qua, ngành thuế đã quan tâm nghiên cứu, mở rộng cơ sở tính thuế song song với việc chống xói mòn cơ sở thuế. Theo đó, có nhiều luật thuế cần được đầu tư hơn nữa nhằm thực hiện công bằng thuế, như luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản. Ðây là điều rất cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa trợ lực vững chắc cho công tác thu ngân sách. Tuy nhiên, trong giai đoạn khó khăn diện rộng hiện nay, cũng rất cần sự “trợ sức” của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với các cơ quan như hải quan, thuế.

    Có thể thấy rõ điều này qua việc thực hiện dự toán thu NSNN năm 2022 trên địa bàn, Hà Nội vẫn còn có một số khoản thu gặp nhiều khó khăn, như số thu từ khu vực SX-KD và thu từ thuế, phí, lệ phí. Cục Thuế TP Hà Nội cho biết, để phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất dự toán thu NSNN năm 2022 đã được giao, bên cạnh việc chủ động, tích cực triển khai các giải pháp tăng thu thì ngành thuế cần sự hỗ trợ chỉ đạo tối đa của thành phố, sự phối hợp của các sở, ngành và UBND các quận, huyện, thị xã trong công tác tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất – tiền thuê đất trả tiền một lần của các dự án… Theo đó, các quận, huyện, thị xã cần sớm tổ chức đấu giá, thông báo thu trước ngày 30-9; đồng thời nắm chắc dòng tiền của tổ chức, cá nhân trúng đấu giá để đôn đốc thu nộp ngân sách kịp thời. “Như vậy, vai trò của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp có tác động rất mạnh mẽ đối với công tác này trong giai đoạn hiện nay”, Phó Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội Nguyễn Tiến Trường nói.

    Trên bình diện cả nước, Bộ Tài chính lưu ý các bộ, ngành, địa phương các giải pháp về thuế phí, về cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các DN nhằm bảo đảm số thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN theo dự toán năm nay. Theo Tổng cục Thuế, năm 2022, nguồn thu này có trị giá là 65 nghìn tỷ đồng, trong đó có 58 nghìn tỷ đồng thuộc ngân sách trung ương (tăng 11 nghìn tỷ đồng so dự toán năm 2022), chủ yếu là lợi nhuận còn lại (41.042 tỷ đồng). Thực tế thu lũy kế tám tháng đã thu được 41.745 tỷ đồng, đạt 72% dự toán và tăng 48% so cùng kỳ năm 2022. Nhận định về giải pháp này, Vụ trưởng Quản lý thuế DN lớn (Tổng cục Thuế) Nguyễn Văn Phụng cho biết, đây là hoạt động thu bình thường từ hoạt động đầu tư nhà nước, thực hiện theo quy định của Luật NSNN. Rõ ràng, các DNNN đã có nhận thức đúng về trách nhiệm của DNNN đối với đất nước khi khó khăn, thể hiện rõ sự lãnh đạo của tổ chức đảng trong DNNN, nêu cao tính tiền phong gương mẫu và hết sức cố gắng trong tổ chức, điều hành, phát triển SX-KD để có nguồn đóng góp cho NSNN. Bên cạnh đó, số ước thực hiện năm 2022 của khoản thu này có khả năng vượt từ 5 đến 10% dự toán, do đó, có thể khoản thu này ở một vài DN sẽ tạm thời chưa thu, giúp giải được bài toán cho đầu tư phát triển, tích lũy, nuôi dưỡng nguồn thu cho những năm kế tiếp.

    Thu NSNN là hoạt động trung tâm của chính quyền nhà nước. Trong điều kiện nguồn thu bị thay đổi bất ngờ và nhanh chóng như năm nay, công tác thu NSNN đạt dự toán đề ra quả thực là nhiệm vụ rất gian nan cho ngành tài chính. Với nhiều khó khăn, thử thách hơn hẳn những năm đã qua, trong những tháng còn lại của năm 2022, chắc chắn ngành tài chính phải tìm nhiều giải pháp nhằm thích ứng với hoàn cảnh, dồn hết trí lực để chèo lái con tàu ngân sách. Hơn lúc nào hết, sự đoàn kết, nhất trí trong toàn bộ hệ thống chính trị chính là “mái chèo” đưa con tàu ngân sách về đích với kết quả thu cao nhất.

    (*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 22-9-2020.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Ngay Từ Đầu Năm
  • Lục Nam: Nhiều Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách
  • Thực Hiện Có Hiệu Quả Các Giải Pháp Tăng Nguồn Thu Ngân Sách
  • Thu Ngân Sách Năm 2022: Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Căn Cơ
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bắc Giang: Nhiều Giải Pháp Thu Hút Đầu Tư Trong Bối Cảnh Dịch Bệnh
  • Cách Quản Lý Tài Chính Cá Nhân Hiệu Quả Như Thế Nào?
  • Tamo Là Gì? Hướng Dẫn Cách Vay Tiền Tamo Chi Tiết 2022
  • Giải Pháp Tài Chính Online Đơn Giản Nhận Tiền Trong Ngày
  • Atm Online Vay Tiền Trực Tuyến 6 Triệu 24
  • (TTV) – Với nhiều nỗ lực trong triển khai các giải pháp thu ngân sách nhà nước, quý 1/2021, tổng thu nội địa trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đạt trên 4.100 tỷ đồng, đạt 25,1% dự toán tỉnh giao. Hiện ngành thuế Thanh Hóa đang tập trung thực hiện các giải pháp phấn đấu tăng thu ngân sách những tháng tiếp theo.

    Thu ngân sách những tháng đầu năm 2022 dù giảm 10,2% so với cùng kỳ do số thu từ đất đạt thấp, song theo đánh giá của ngành thuế Thanh Hóa, so với dự toán giao vẫn đạt tiến độ thu khá. Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh được phục hồi và phát triển nên có đóng góp quan trọng vào công tác thu ngân sách. Trong đó, thu từ doanh nghiệp Nhà nước trung ương đã tăng 31% so với cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài; khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh đạt khá nên đảm bảo được tiến độ nguồn thu phân cấp cho ngân sách tỉnh so với dự toán giao.

    Ngành thuế Thanh Hóa cũng đã chủ động phối hợp với chính quyền các địa phương thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện các chính sách về thuế, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh; từ đó có nguồn lực tài chính để nộp thuế đúng hạn.

    Cùng với việc hỗ trợ các doanh nghiệp, người nộp thuế, ngành Thuế Thanh Hóa chú trọng triển khai các giải pháp kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, tích cực thu hồi nợ đọng và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế. Đây sẽ là những giải pháp quan trọng được cơ quan thuế tiếp tục thực hiện trong những tháng tiếp theo, nhằm đảm bảo nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu bền vững.

    Năm 2022, tỉnh Thanh Hóa được Trung ương giao dự toán pháp lệnh thu thuế trên 26.570 tỷ đồng, trong đó, thu nội địa gần 16.400 tỷ đồng. Trong bối cảnh nền kinh tế được dự báo vẫn còn những khó khăn, thách thức do dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, việc đảm bảo tiến độ và có các giải pháp cụ thể trong kế hoạch thu ngân sách Nhà nước sẽ là cơ sở quan trọng để ngành thuế thực hiện nhiệm vụ thu, phấn đấu vượt tối thiểu 5% dự toán Bộ Tài chính và tỉnh giao.

    Hồng Ngọc – Minh Quang

    Theo Bản tin Thời sự Tối/TTV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Thu Ngân Sách Xã
  • Thực Hiện Có Hiệu Quả Các Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Tập Trung Thực Hiện 9 Giải Pháp Quản Lý Điều Hành Ngân Sách
  • Thực Trạng Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Sự Đột Phá Tiếng Anh Là Gì, Sự Đột Phá In English With Contextual Examples
  • Cần Giải Pháp Để Chống Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Chống Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Phó Thủ Tướng Nêu Giải Pháp Chống Thất Thu Và Thất Thoát Ngân Sách Nhà Nước
  • Quản Lý Thu Hiệu Quả, Ngành Thuế Đã Đạt 88,3% Dự Toán Thu Ngân Sách
  • Thực Trạng Thu Ngân Sách Nhà Nước Việt Nam.giải Pháp Để Tránh Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Đề Tài Thực Trạng Việc Áp Dụng Các Nguyên Tắc Thiết Lập Hệ Thống Thu Ngân Sách Nhà Nước Ở Nước Ta Giai Đoạn Hiện Nay Và Giải Pháp Tránh Thất Thu Nsnn Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Chấn chỉnh công tác thu ngân sách

    Đánh giá về công tác thu NSNN, nhiều đại biểu có chung quan điểm cho rằng, việc tăng thu chưa bền vững và công tác thu còn bộc lộ nhiều bất cập. Đại biểu Mai Sỹ Diến (Thanh Hoá) phân tích, thu NSNN tăng hơn 87 nghìn tỷ đồng so với dự toán thu nhưng lại tăng chủ yếu từ ngân sách địa phương là 83.700 tỷ đồng. Việc tăng thu chủ yếu từ nguồn thu cấp quyền sử dụng đất – một nguồn thu không ổn định và không phản ánh nội lực phát triển của nền kinh tế. “Tình trạng này đã xảy ra suốt một giai đoạn dài từ năm 2011-2015. Nguyên nhân của vấn đề trên theo Báo cáo kiểm toán của KTNN là do một số địa phương khi lập dự toán thu đã ước tính thực hiện năm 2014 thấp hơn khả năng thực hiện, dự toán chưa đầy đủ, chưa bao quát hết nguồn thu trên địa bàn” – đại biểu nêu rõ.

    Đại biểu Quốc hội Hoàng Quang Hàm (tỉnh Phú Thọ) phát biểu ý kiến. Ảnh: TTXVN

    Chung quan điểm, đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ) chỉ ra thực tế, “điệp khúc” tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt mục tiêu nhưng thu ngân sách luôn vượt dự toán thể hiện thu NSNN có những nguồn thu không vững chắc, không phải từ nội lực phát triển sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế mà do Chính phủ đã dùng các biện pháp tình thế để hoàn thành kế hoạch thu, như khai thác thêm tài nguyên dầu thô, đôn đốc để tăng thêm các khoản thu từ đất, thoái vốn nhà nước, thu nợ đọng thuế… “Đây là vấn đề Chính phủ cần cân nhắc kỹ vì muốn cân đối ngân sách bền vững thì nguồn thu phải bền vững. Để khống chế bội chi và đảm bảo an toàn nợ công thì phải chi trong khả năng của nền kinh tế và vay theo khả năng trả nợ” – đại biểu Hàm lưu ý.

    Một hạn chế khác trong công tác thu ngân sách được các đại biểu chỉ ra là tình trạng nợ thuế, trốn thuế chưa được kiểm soát hiệu quả. Đại biểu Nguyễn Tiến Sinh (Hòa Bình) băn khoăn: Có vấn đề gì trong việc dự toán thu không? Đặc biệt là việc tăng thu đột biến, có những khoản thu tăng tới 121% so với dự toán. Ở đây có đặt vấn đề về năng lực lập dự toán thu không sát hay còn nguyên nhân nào khác? Đại biểu cho rằng, phương pháp thu ngân sách, đặc biệt thu thuế chưa sát và còn bỏ lọt các khoản thu; việc quản lý các nguồn thu chưa chặt chẽ, gây thất thu thuế.

    Dẫn con số, tính đến 31/12/2015 số nợ thuế là 79.276 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2014 và nợ xấu cũng rất lớn, đại biểu Phạm Đình Toản (Hưng Yên) cho rằng, tình trạng hạch toán và kê khai thiếu doanh thu, xác định sai chi phí, từ đó tính thiếu thuế vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, “KTNN thông qua kiểm toán đã kiến nghị tăng thu 11.365 tỷ đồng. Tôi cho rằng, nếu đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế, chống nợ đọng thuế thì số thực thu NSNN còn cao hơn”.

    Cần xử lý nghiêm các vi phạm

    Từ phân tích thực tế, nhiều ý kiến đại biểu thống nhất cho rằng, những bất cập trong công tác quản lý, điều hành ngân sách diễn ra kéo dài trong nhiều năm là do xử lý chưa nghiêm các vi phạm. Theo đại biểu Mai Sỹ Diến, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 21 năm 2022 về điều chỉnh dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2014 giao Chính phủ kiểm điểm trách nhiệm xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong việc quản lý, điều hành ngân sách và báo cáo với Quốc hội khi trình Báo cáo quyết toán ngân sách năm 2022. Năm 2008 Thủ tướng Chính phủ cũng có Chỉ thị về thực hiện nghiêm các chính sách tài khóa và thực hiện các kết luận kiến nghị của cơ quan kiểm toán, thanh tra, Bộ Tài chính đã có văn bản đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương tổ chức thực hiện.

    Tuy nhiên, trong báo cáo của Chính phủ còn rất chung chung. Do vậy, đại biểu Diến và một số đại biểu khác kiến nghị Chính phủ phải có một báo cáo riêng về nội dung kiểm điểm tổ chức, cá nhân vi phạm và có giải pháp khắc phục. Đại biểu Hoàng Quang Hàm thì đề nghị Chính phủ cần có một nghị quyết để triển khai Nghị quyết của Quốc hội và giao cho một cơ quan làm đầu mối theo dõi, đôn đốc, có báo cáo cụ thể, chi tiết và rõ mức độ sai phạm mà xử lý vi phạm.

    Cùng với đó, đại biểu Quốc hội cũng đề nghị cần thực hiện nghiêm túc kết luận và kiến nghị của KTNN và các cơ quan thanh tra, kiểm tra tài chính. Tăng tỷ lệ thực hiện các kiến nghị về hủy bỏ hoàn thiện các văn bản, chính sách không còn phù hợp, mâu thuẫn, không có nguồn lực thực hiện như kiến nghị của các cơ quan thanh tra, kiểm toán.

    Nhấn mạnh vai trò của Báo cáo kiểm toán, đại biểu Phạm Đình Toản cho rằng, mặc dù phạm vi kiểm toán chưa được thực hiện hết tại các đơn vị sử dụng ngân sách nhưng hoạt động kiểm toán có tác dụng tốt, cung cấp thông tin cho Quốc hội một cách khách quan, tin cậy để xem xét phê duyệt quyết toán NSNN. Đại biểu đề nghị Quốc hội phê duyệt quyết toán NSNN năm 2022 nhưng cần ra nghị quyết để các cơ quan hữu quan của Chính phủ tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ các nguồn thu – chi NSNN, báo cáo kết quả với Quốc hội khi trình Quốc hội quyết toán NSNN năm sau, đồng thời công khai vấn đề xử lý cá nhân, đơn vị trong kiến nghị kiểm toán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Biện Pháp Chống Thất Thu Ngân Sách Hiệu Quả
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thu Ngân Sách Nhà Nước Tại Tỉnh Bình Thuận
  • Nhiều Giải Pháp Thu Ngân Sách
  • Tiên Yên Tăng Cường Các Biện Pháp Thu Ngân Sách
  • Tphcm: Tập Trung Giải Pháp Thu Ngân Sách Trong 4 Tháng Cuối Năm
  • Nhiều Giải Pháp Trong Nhiệm Vụ Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thuyết Trình Hội Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non 2022
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Thu Hút Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 5 Giải Pháp Tài Chính Được Sử Dụng Nhiều Nhất Hiện Nay
  • Giải Pháp Tài Chính Cho Từng Giai Đoạn Trong Cuộc Sống
  • Các Biện Pháp Tiết Kiệm Năng Lượng
  • Tăng cường công tác cải cách, hiện đại hóa gắn liền với nâng cao hiệu quả của công tác quản lý trong quá trình thực thi công vụ là một trong những giải pháp được ngành Hải quan quyết liệt thực hiện

    Dự toán 2022 được xây dựng trên cơ sở tăng trưởng GDP 6,8%; giá dầu thô 60 USD/thùng; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7%, kim ngạch nhập khẩu tăng 9%; các Hiệp định thương mại tự do FTAs đang vào giai đoạn cắt giảm mạnh, một số FTA mới được ký kết và có hiệu lực trong năm 2022 với hầu hết nhiều dòng hàng có thuế suất thuế nhập khẩu giảm xuống 0%.

    Trong bối cảnh tình hình kinh tế – xã hội trong và ngoài nước có nhiều diễn biến phức tạp khi dịch COVID-19 diễn ra, tác động đến lĩnh vực, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu, thu ngân sách của ngành Hải quan.

    Để thực hiện nhiệm vụ trên trong bối cảnh mới, Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị thuộc và trực thuộc triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm 2022.

    Xây dựng và triển khai quyết liệt, đồng bộ kế hoạch hành động công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác hải quan, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022 theo yêu cầu của Chính phủ tại Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết số 01-NQ/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính về lãnh đạo, chỉ đạo thắng lợi nhiệm vụ tài chính NSNN năm 2022.

    Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN; thường xuyên cập nhật, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn cho cộng đồng doanh nghiệp về các chính sách mới, đẩy mạnh hợp tác với các ngân hàng thương mại, triển khai mở rộng chương trình phối hợp thu 24/7 và chương trình doanh nghiệp nhờ thu… tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhóm công tác hải quan – doanh nghiệp.

    Tăng cường công tác cải cách, hiện đại hóa gắn liền với nâng cao hiệu quả của công tác quản lý trong quá trình thực thi công vụ; tiếp nhận, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc, phản ánh của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong lĩnh vực hải quan. Cùng với đó, nâng cao xếp hạng chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới của Việt Nam năm 2022 từ 05 bậc đến 10 bậc.

    Bên cạnh đó, tăng cường chống thất thu qua công tác kiểm tra sau thông quan, thanh tra chuyên ngành, đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, trong đó tập trung kiểm tra chống gian lận về số lượng, trị giá, mã số, xuất xứ, nhãn hiệu hàng hóa… vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Đặc biệt là các mặt hàng nhập khẩu có điều kiện, các lô hàng vận chuyển độc lập, hàng hóa tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh và hàng hóa đưa về bảo quản chờ thông quan…

    Tổng cục Hải quan cũng giao nhiệm vụ, chỉ tiêu phấn đấu thu ngân sách cho từng đơn vị; đánh giá tác động ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước của việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các Hiệp định CPTPP, EVFTA; nghiên cứu, đề xuất và triển khai các giải pháp tăng thu, chống thất thu ngân sách nhà nước; chủ động theo dõi, đánh giá tác động của dịch bệnh Covid-19 và các cam kết hội nhập quốc tế ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước…

    Qua đó, các đơn vị rà soát, nắm chắc nguồn thu; nghiên cứu, đề xuất và triển khai các giải pháp tăng thu, chống thất thu ngân sách nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình tại đơn vị; chủ động đánh giá tác động của các cam kết hội nhập quốc tế đến thu ngân sách nhà nước tại đơn vị mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?
  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nhiều Giải Pháp Trong Nhiệm Vụ Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Bài Thuyết Trình Hội Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non 2022
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Thu Hút Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 5 Giải Pháp Tài Chính Được Sử Dụng Nhiều Nhất Hiện Nay
  • Doanh nghiệp luôn muốn làm sao để tăng doanh thu, lợi nhuận và tính sao cho số tiền nộp thuế là ít nhất. Trong khi đó, các thủ tục hành chính hiện tại rất rườm rà, nhiều giai đoạn làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, phát triển của doanh nghiệp. Vậy đâu là giải pháp hiệu quả để tăng thu thuế mà vẫn tạo điều kiện cho doanh nghiệp được phát triển? Hiện nay, doanh nghiệp phải hoạt động và thực hiện các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp. Đồng thời, quá trình thanh tra, kiểm tra còn gặp nhiều vấn đề gây khó khăn cho doanh nghiệp tập trung sản xuất kinh doanh.

    Những giải pháp tăng thu ngân sách

    Ngành thuế đã triển khai đồng bộ các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Hơn nữa, doanh nghiệp còn được tham gia các buổi tập huấn do cơ quan thuế tổ chức, được giải đáp những thắc mắc thường gặp về thuế. Cơ quan ban ngành cũng thường xuyên tổ chức gặp gỡ và tiếp xúc với doanh nghiệp để hỗ trợ kịp thời về các chính sách, thủ tục thuế.

    Hơn nữa, ngành thuế cũng tổ chức hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các chính sách thuế mới. Để các đơn vị kinh doanh có thông tin kịp thời về thủ tục thuế, không gặp khó khăn trong quá trình hoạt động. Doanh nghiệp cũng không bị thiếu thông tin về thuế.

    Thực hiện kết nối thông tin giữa hệ thống cơ quan thuế với người nộp thuế thông qua phương tiện điện tử. Đặc biệt các đơn sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp, siêu thị, khách sạn, nhà hàng…

    Tiếp tục đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế, quản lý thu thuế, chống thu ngân sách nhà nước. Song song với việc kiểm tra doanh nghiệp thì ngành thuế cũng đẩy mạnh kỷ luật, nâng cao trách nhiệm của cán bộ công chức thuế. Đổi mới tư duy từ quản lý sang phục vụ người nộp thuế.

    Đẩy mạnh thanh tra hay tạo điều kiện doanh nghiệp phát triển

    Theo đồng chí Trần Vĩnh Tuyến, ngành thuế cần nhận diện chính xác khó khăn trong việc triển khai các giải pháp tăng thu. Tuy nhiên cần nhận định rõ giải quyết tăng thu là cải cách hành chính, tạo điều kiện cho các đơn vị kinh doanh phát triển.

    Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra để đảm bảo được sự công bằng cho các doanh nghiệp. Ngăn chặn các hành vi gian lận về thuế, chống thất thu ngân sách nhà nước. Vừa thực hiện thanh tra nhưng cũng cần chú trọng, hỗ trợ đơn vị kinh doanh tập trung sản xuất, phát triển.

    Công tác thanh tra, kiểm tra phải đồng hành cùng doanh nghiệp. Đảm bảo công tác thanh tra chặt chẽ, quản lý tốt các doanh nghiệp. Giải quyết triệt để những tình trạng gây những nhiễu, khó khăn cho doanh nghiệp. Thời gian thực hiện kiểm tra nhanh chóng, chính xác, tránh những thủ tục rườm rà, rắc rối.

    Tuy nhiên, hiện nay ngành thuế triển khai thanh tra, kiểm tra thuế điện tử giảm chi phí cho doanh nghiệp. Các đơn vị kinh doanh không còn phải tiếp cán bộ thuế tại cơ quan làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất.

    Còn cơ quan thuế chỉ cần kiểm tra số liệu của doanh nghiệp ngay trên hệ thống máy tính. Giúp tăng hiệu quả công việc và nhận định được đơn vị sai phạm chính xác hơn. Nếu phát hiện sai phạm, cơ quan thuế sẽ gửi thông báo để doanh nghiệp điều chỉnh. Chỉ khi doanh nghiêp không điều chỉnh thì cán bộ thuế mới đến tận cơ quan của doanh nghiệp.

    Nguồn: https://vninvoice.vn/

    Có thể thấy rõ, tăng thu ngân sách nhà nước cần phải đẩy mạnh nhưng cũng phải đảm bảo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp. Các giải pháp được thực hiện đồng bộ và đạt hiệu quả. Rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính, quản lý hồ sơ doanh nghiệp. Tập trung các giải pháp như hoàn thuế điện tử, hóa đơn điện tử,…

    Rate this post

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Trong Thu Nsnn
  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?
  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nhiều Giải Pháp Trong Nhiệm Vụ Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Bài Thuyết Trình Hội Thi Giáo Viên Giỏi Mầm Non 2022
  • Tính đến hết quý I/2020, Hải quan TP. Hà Nội thu ngân sách đạt 5.164 tỷ đồng, bẳng 22,16% dự toán.

    Thu ngân sách đạt 22,16% dự toán

    Theo báo cáo của Cục Hải quan TP. Hà Nội, tính đến hết quý I/2020, đơn vị thu ngân sách đạt 5.164 tỷ đồng, bẳng 22,16% dự toán, bằng 98% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, địa bàn Hà Nội thu ngân sách đạt 4.036 tỷ đồng, bằng 21,9% chỉ tiêu pháp lệnh, bằng 98,7% so với cùng kỳ năm 2022.

    Đánh giá các tác động ảnh hưởng đến số thu ngân sách trong quý I/2020, Cục Hải quan TP. Hà Nội cho rằng, mặc dù tổng kim ngạch xuất nhập khẩu toàn Cục đạt 9,23 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ 2022, nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội đạt 4,72 tỷ USD, giảm 10,7% so với cùng kỳ 2022, trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu có thuế đạt 1,37 tỷ USD, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2022. Điều này đã tác động lớn đến kết quả thu ngân sách của Cục Hải quan TP. Hà Nội trong quý I/2020.

    Từ việc đánh giá các tác động bởi dịch Covid-19 đến số thu ngân sách nhà nước của Cục Hải quan TP. Hà Nội trong quý I/2020 cho thấy, để đạt được các mục tiêu đã đề ra, lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hà Nội đã chỉ đạo từng cán bộ công chức phải quyết liệt triển khai các giải pháp nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách; quyết tâm không để thất thu ngân sách trong bất kỳ khâu nghiệp vụ nào, như: giá tính thuế, mã số hàng hóa, chính sách thuế, thuế ưu đãi đặc biệt, gian lận số lượng, chủng loại…

    Bên cạnh đó, việc châu Âu bùng phát dịch Covid-19 trên diện rộng đã ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu các mặt hàng vào thị trường này như: Tổng Công ty may 10 (sản phẩm may mặc), Công ty Cổ phần Goldsun Việt Nam (linh kiện bếp nước BBQ), Công ty TNHH Điện Stanley Việt Nam (đèn xi nhan xe máy), Công ty Cổ phần VICOSTONE (đá ốp lát nhân tạo… Dự kiến, lượng hàng xuất khẩu của các DN này vào thị trường châu Âu sẽ giảm sâu.

    Cục Hải quan TP. Hà Nội đánh giá dịch Covid-19 chủ yếu ảnh hưởng đến số thu từ hoạt động nhập khẩu. Cụ thể, 7/11 nhóm mặt hàng chính giảm thu 250 tỷ đồng so với cùng kỳ 2022 bao gồm: Hóa chất, sản phẩm hóa chất (giảm thu 8 tỷ đồng); sắt thép các loại (giảm thu 31 tỷ đồng); máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (giảm 7 tỷ đồng); điện thoại các loại và linh kiện (giảm 24 tỷ đồng); máy móc, thiết bị và phụ tùng (giảm 100 tỷ đồng); linh kiện ô tô dưới 9 chỗ ngồi (giảm 14 tỷ đồng); mặt hàng ô tô nguyên chiếc giảm 100% (tương đương 66 tỷ đồng).

    Trong khi đó, chỉ có 4 nhóm mặt hàng chính tăng thu 49 tỷ đồng so với cùng kỳ 2022 bao gồm: Dược phẩm và nguyên phụ liệu (tăng 14 tỷ đồng); chất dẻo và nguyên liệu (tăng 9 tỷ đồng); điện gia dụng và linh kiện (tăng 12 tỷ đồng); linh kiện, phụ tùng xe máy (tăng 13 tỷ đồng).

    Từ việc đánh giá các tác động bởi dịch Covid-19 đến số thu ngân sách nhà nước của Cục Hải quan TP. Hà Nội trong quý I/2020 cho thấy, để đạt được các mục tiêu đã đề ra, lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hà Nội đã chỉ đạo từng cán bộ công chức phải quyết liệt triển khai các giải pháp nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách; quyết tâm không để thất thu ngân sách trong bất kỳ khâu nghiệp vụ nào, như: giá tính thuế, mã số hàng hóa, chính sách thuế, thuế ưu đãi đặc biệt, gian lận số lượng, chủng loại

    Chung tay hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn

    Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp, trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của DN, Cục Hải quan TP. Hà Nội đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho DN.

    Chỉ đạo các Chi cục Hải quan trực thuộc chủ động liên hệ với các DN lớn, thường xuyên làm thủ tục để nắm bắt tình hình DN bị ảnh hưởng, kế hoạch sản xuất sắp tới và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN.

    Nhằm giảm thời gian thông quan hàng hóa cho DN và giảm tiếp xúc trực tiếp để phòng, chống dịch Covid-19, Cục Hải quan TP. Hà Nội đã chỉ đạo các đơn vị tăng cường thực hiện soi chiếu bằng máy soi container tại địa điểm kiểm tra tập trung Hateco.

    Cùng với đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giải quyết công việc như họp trực tuyến, làm việc qua mạng Edoc để hạn chế tiếp xúc và giải quyết kịp thời khó khăn vướng mắc cho DN; Bố trí cán bộ công chức trực 24/7 để đảm bảo thông quan hàng hóa cho DN, duy trì số lượng cán bộ công chức tối thiểu có mặt tại đơn vị theo chỉ đạo cách ly của Thủ tướng Chính phủ.

    Ngoài các giải pháp trên, Cục Hải quan TP. Hà Nội đã triển khai tăng cường công tác chống thất thu qua mã, giá, số lượng, xuất xứ… thông qua việc kiểm soát chặt chẽ việc kê khai của DN ngay từ khâu trong thông quan; tăng cường việc đánh giá rủi ro, lựa chọn DN trọng điểm để kiểm tra sau thông quan.

    Song song với đó, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trên địa bàn để chống buôn lậu, đặc biệt ngăn chặn tình trạng DN lợi dụng dịch bệnh để buôn lậu…

    Tin tưởng rằng, với những giải pháp thiết thực trên, Cục Hải quan TP. Hà Nội sẽ nỗ lực vượt khó để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra, đặc biệt quyết tâm hoàn thành vượt mức số thu ngân sách nhà nước được giao năm 2022.

    Tính đến hết quý I/2020, đơn vị thu ngân sách nhà nước đạt 5.164 tỷ đồng, bẳng 22,16% dự toán, bằng 98% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, địa bàn Hà Nội thu ngân sách đạt 4.036 tỷ đồng, bằng 21,9% chỉ tiêu pháp lệnh, bằng 98,7% so với cùng kỳ năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Trong Thu Nsnn
  • Bài Tập Lý Thuyết Thường Gặp Về Amin (Có Lời Giải Chi Tiết)
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Sáng Tạo Trong Tổ Chức Hoạt Động Cho Trẻ 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100