Giải Pháp Nào Đẩy Mạnh Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam?

--- Bài mới hơn ---

  • Năm Giải Pháp Trọng Tâm Để Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Năm 2022
  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Nông Sản Sạch
  • Tìm Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Nông Sản Việt Nam
  • Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản Việt Nam
  • Phát Triển Thị Trường Tiền Tệ
  • Ngày 28/7/2020 đánh dấu chặng đường 20 năm hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Từ một thị trường non trẻ, đến nay TTCK Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ về quy mô, trở thành kênh huy động vốn trung- dài hạn quan trọng cho nền kinh tế.

    Bước phát triển đáng ghi nhận

    Trong 20 năm qua, vốn hóa thị TTCK Việt Nam đã tăng trưởng ở mức trung bình hơn 50%/năm. Đến 30/6/2020, tổng vốn hóa TTCK Việt Nam đạt mức 5,5 triệu tỷ đồng, tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP đã tăng từ mức 0,3% GDP năm 2000 lên mức 104% GDP tháng 6/2020. Trong đó, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt trên 4 triệu tỷ đồng, tương ứng khoản 64,5% GDP năm 2022 (theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước).

    Vốn hóa thị trường trái phiếu đạt khoảng 2,3 nghìn tỷ đồng, tương đương mức 39% GDP năm 2022 (trái phiếu Chính Phủ đạt 29,18%, trái phiếu doanh nghiệp đạt 10,28%). TTCK phát triển mạnh mẽ đã giúp cơ cấu lại hệ thống tài chính Việt Nam theo hướng cân đối, bền vững hơn.

    Ước tính tỷ trọng vốn hóa khu vực chứng khoán trong tổng tài sản hệ thống tài chính hiện nay ở mức khoảng 30,6%, không cách quá xa so với mức 68,7% của khu vực các tổ chức tín dụng và cao hơn nhiều so với tỷ trọng 21% vào năm 2010.

    Không những vậy, TTCK cũng đã chứng minh vai trò ngày càng quan trọng trong huy động vốn, cung ứng vốn trung- dài hạn cho phát triển kinh tế. Vào năm 2006, TTCK mới huy động được 40 nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế, thì đến năm 2022 con số này đã đạt 320 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với năm 2022 và gấp 8 lần so với năm 2006.

    Trong 6 tháng đầu năm 2022, mặc dù chịu ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế qua TTCK vẫn đạt khoảng 107 nghìn tỷ đồng. Ước tính tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm được thực hiện qua kênh TTCK Việt Nam ở mức bình quân 16,5%/năm giai đoạn 2022-2019.

    Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, hàng loạt thị trường mới đã được bổ sung giúp TTCK Việt Nam ngày càng hoàn chỉnh. Đặc biệt vào ngày 10/8/2017, thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) Việt Nam đã chính thức được khai trương. Theo đó, Việt Nam trở thành quốc gia thứ 5 có TTCKPS trong khu vực ASEAN bên cạnh Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan và là quốc gia thứ 42 trên thế giới có thị trường tài chính bậc cao này. Đây là bước đệm để tiến tới hình thành các sản phẩm và công cụ đầu tư, quản lý rủi ro mới, hấp dẫn, đa dạng hơn, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế.

    Thông qua cơ chế đấu giá minh bạch, hiện đại và gắn cổ phần hóa với đăng ký giao dịch, niêm yết, TTCK đã góp phần quan trọng vào những kết quả cổ phần hóa và thoái vốn DNNN thời gian qua. Không những vậy, TTCK còn giúp tăng cường tính minh bạch, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp có chứng khoán giao dịch và bảo vệ lợi ích nhà đầu tư…

    Đặc biệt, TTCK Việt Nam đã phát triển các loại hình quỹ mới như quỹ mở, quỹ thành viên, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản, qua đó thúc đẩy tính chuyên nghiệp, sự phân bổ hiệu quả nguồn lực vốn đầu tư, tạo sức cầu bền vững và độ sâu của thị trường…

    Những vấn đề cần hoàn thiện

    20 năm vẫn chưa phải là dài để TTCK thực sự lớn về quy mô, trở nên chuyên nghiệp, hiện đại, bắt kịp với thế giới. Do đó, vẫn còn một số điểm cần cải thiện.

    Về quy mô TTCK Việt Nam, mặc dù tăng trưởng mạnh qua từng năm, song vẫn còn khá nhỏ so với các nước trong khu vực và tính ổn định chưa cao. Giá trị vốn hóa TTCK của Việt Nam (bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu) năm 2022 tương đương 102,6% GDP, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Nhật Bản 337%, Singapore 257%, Thái Lan 161%, Malaysia 215%, Philippines 107%…). Do đó, cần tiếp tục mở rộng quy mô thị trường.

    Tính ổn định của thị trường chưa cao thể hiện qua việc vẫn còn bị tác động mạnh, bởi những diễn biến tiêu cực trong và ngoài nước như giá dầu, tỷ giá, giá vàng, biến động trên thị trường tài chính – tiền tệ quốc tế hay những tin đồn… Hiện nay, TTCK Việt Nam chỉ mới được Tổ chức tính toán chỉ số chứng khoán toàn cầu (FTSE) đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi.

    Cùng với đó, thanh khoản TTCK thể hiện qua tỷ suất vòng quay chứng khoán của Việt Nam dù tăng mạnh trong những năm gần đây, nhưng vẫn ở mức khá thấp so với khu vực và thế giới. Tỷ suất này của Việt Nam năm 2022 là 22,3%, thấp hơn nhiều so với mức 28,3% của ASEAN-5, 29% của Ấn Độ, 130% của Hàn Quốc, 223,7% của Trung Quốc và 87% bình quân thế giới. Theo đó, cần có kế hoạch và giải pháp cụ thể để TTCK Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi đến năm 2023 theo yêu cầu của Chính phủ.

    Bên cạnh đó, TTCK cần được hoàn thiện, đồng bộ và tiệm cận thông lệ quốc tế hơn nữa, nhất là các hướng dẫn triển khai Luật chứng khoán sửa đổi (2019) và Chiến lược phát triển TTCK 2022-2030, trong đó cần chú trọng xây dựng chiến lược cấu phần về số hóa ngành chứng khoán (trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối – blockchain và dữ liệu lớn – big data sẽ là những công cụ quan trọng). Ngoài ra, công cụ quản lý, giám sát vẫn chủ yếu là giám sát tuân thủ, cần tiến đến giám sát dựa trên mức độ rủi ro; quy định về công bố, minh bạch thông tin cần nhất quán giữa các văn bản pháp luật; chế tài xử phạt, cưỡng chế cần thực sự đủ mạnh…

    Ngoài ra, nguồn cung hàng hóa, sản phẩm trên thị trường còn chưa phong phú, đa dạng, chất lượng các công ty niêm yết và các công ty chứng khoán chưa cao. Trong số 1.723 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên 2 Sở GDCK (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) vẫn còn một số doanh nghiệp nhỏ, hoạt động chưa hiệu quả, năng lực quản trị còn ở mức thấp. Các mảng khác của thị trường như sản phẩm quỹ đầu tư, sản phẩm liên kết bảo hiểm, hợp đồng quyền chọn, đầu tư có cam kết bảo toàn vốn,… chưa được cung cấp.

    Cơ sở nhà đầu tư chưa đa dạng, chủ yếu vẫn là nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư tổ chức (nhất là các quỹ đầu tư) còn chưa nhiều. Thị trường cổ phiếu vẫn dễ có những biến động lớn trước nhiều yếu tố như tâm lý, thông tin, biến động trong và ngoài nước. Nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu vẫn còn phụ thuộc nhiều vào ngân hàng thương mại, bảo hiểm xã hội, công ty bảo hiểm…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Tnhh Yên Hải (Máy Tính Và Thiết Bị Tin Học Văn Phòng)
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh, Hot
  • Bắc Kạn Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Năng Lực Nặng Cạnh Tranh Cấp Tỉnh
  • Sơn La Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Năng Lực Cạnh Tranh
  • Giải Pháp Cải Thiện Nâng Cao Chỉ Số Năng Lực Cạnh Tranh Toàn Cầu Của Việt Nam
  • 9 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Bền Vững
  • Dự Phòng Giải Pháp Mạnh Cho Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Thuế Cho Doanh Nghiệp
  • Luật Sư Tư Vấn Báo Cáo Thuế
  • Luật Sư Tư Vấn Điều Kiện Kinh Doanh Karaoke
  • Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tiếp tục gia tăng, đạt 2,04 triệu tài khoản (tính đến ngày 27/04/2018), trong đó tài khoản nhà đầu tư nước ngoài đạt 25.171 tài khoản, tăng 10% so với cuối năm 2022.

    Gần 5 tháng, vốn hóa thị trường chứng khoán đạt hơn 3,8 triệu tỷ

    Đánh giá về hoạt động của ngành chứng khoán năm 2022 và những tháng đầu năm 2022, Bộ Tài chính cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam đã dần khẳng định và trở thành kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế.

    Cụ thể, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu năm 2022 đạt hơn 3,5 triệu tỷ đồng, tương đương 70,2% GDP, vượt chỉ tiêu của Chính phủ đề ra cho năm 2022.

    Năm 2022 thị trường tiếp tục duy trì đà phát triển, tính đến ngày 24/5/2018 mức vốn hóa thị trường đạt 3,8 triệu tỷ đồng, tăng 9,4% so với cuối năm 2022, tương đương 76,8% GDP. Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng mạnh trong quý 1/2018, chỉ số VN-Index đã bứt phá ra khỏi vùng đỉnh lịch sử được thiết lập năm 2007, đạt 1.204,33 điểm (ngày 9/4), tăng 22,4% so với cuối năm 2022.

    “Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán ngày càng góp phần tích cực thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước và quá trình cải cách đổi mới doanh nghiệp Nhà nước. Năm 2022, hoạt động thoái vốn nhà nước đạt mức kỷ lục gần 123.000 tỷ đồng, gấp 7,8 lần so với năm 2022. Thặng dư thu về cho ngân sách Nhà nước đạt hơn 1.900 tỷ đồng. Các đợt đấu giá thoái vốn chiếm 73% tổng số các phiên đấu giá trên cả 2 Sở với tỷ lệ thành công cao, đạt 83,6%”, Bộ Tài chính nhận định.

    Điển hình là đợt đấu giá thoái vốn tại Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn đã thu về cho Nhà nước gần 110.000 tỷ đồng (tương đương 4,8 tỷ USD), được coi là thương vụ bán vốn kỷ lục tại Việt Nam, hay các đợt đấu giá thoái vốn tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)… đã thu hút được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư trên thị trường vốn trong khu vực và thế giới.

    Thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) cũng có sự tăng trưởng mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu trong năm 2022 với quy mô vốn hóa đạt 677.700 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với cuối năm 2022 và cao hơn 3 lần giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu niêm yết của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội.

    Nhiều công ty đại chúng quy mô lớn đã lựa chọn UPCoM để lên đăng ký giao dịch như Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) và Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) với giá trị lên đến hàng tỷ USD, chiếm khoảng 11% tổng mức vốn hóa đã góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường UPCoM.

    Thị trường trái phiếu chính phủ ghi nhận bước phát triển mới về chiều sâu và hiệu quả điều hành chính sách tài khóa của Chính phủ. Dư nợ trái phiếu chính phủ niêm yết đạt 997.500 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cuối năm 2022 (tương đương 20% GDP năm 2022).

    9 giải pháp phát triển thị trường chứng khoán

    Để bảo đảm duy trì sự ổn định và bền vững của thị trường chứng khoán, Bộ Tài chính cho biết, trong thời gian tới đơn vị này và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ triển khai đồng bộ một số giải pháp cụ thể.

    Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý, giám sát, trong đó triển khai xây dựng Luật chứng khoán sửa đổi; hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi) trình Chính phủ, trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14 (tháng 10/2018).

    Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước gắn với việc niêm yết và đăng ký giao dịch. Triển khai cơ chế tạo lập thị trường, phát hành Bộ nguyên tắc quản trị công ty (CG code); nghiên cứu triển khai nghiệp vụ giao dịch trong ngày và thanh toán chứng khoán chờ về…

    Thứ ba, đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán, các sản phẩm liên kết đầu tư, sản phẩm cơ cấu; triển khai các sản phẩm chứng khoán phái sinh hợp đồng tương lai trên một số chỉ số mới và hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ; triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm; phát triển thêm các chỉ số cơ sở để làm tài sản cơ sở cho phái sinh.

    Thứ tư, hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu bằng cách đa dạng hóa các sản phẩm trái phiếu Chính phủ. Phát triển hệ thống thành viên đấu thầu trái phiếu chính phủ; triển khai đề án phát triển trái phiếu doanh nghiệp; hoàn thiện phương án tổ chức thị trường trái phiếu doanh nghiệp và công tác chuẩn bị để có thể đưa thị trường giao dịch trái phiếu doanh nghiệp vào hoạt động trong năm 2022.

    Thứ năm, phát triển và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư và cải thiện sức cầu, như tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ hàng Frontier market lên hạng Emerging market trên bảng xếp hạng MSCI.

    Thứ sáu, phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường, tiếp tục tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán để giảm số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ; phát triển hệ thống thành viên đấu thầu trái phiếu chính phủ.

    Thứ bảy, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu thị trường chứng khoán theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với 4 nội dung trọng tâm là: tái cơ cấu tổ chức thị trường; tái cấu trúc hàng hóa; tái cơ cấu về cơ sở nhà đầu tư và tái cơ cấu các tổ chức trung gian.

    Thứ tám, tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát thị trường chứng khoán và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

    Thứ chín, đẩy mạnh các giải pháp giúp nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi. Trong đó, tập trung vào các giải pháp như tăng quy mô đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc gia tăng số lượng các công ty có vốn hóa lớn, thúc đẩy và tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động vốn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Khách Sạn Việt
  • Vietsolutions Mang Tới Giải Pháp Khách Sạn Toàn Diện
  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Chè Của Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Hoạt Động Xuất, Nhập Khẩu Việt Nam
  • Thực Trạng Xuất Nhập Khẩu Và Giải Pháp Thực Hiện Phương Hướng Kế Hoạch 5 Năm 2022
  • Giải Pháp Cho Sự Phát Triển Chứng Khoán Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Năng Lượng Việt
  • Giải Pháp Nào Giúp Ngành Dệt May Vượt Qua Khó Khăn?
  • Giải Pháp Cơ Bản Tăng Tốc Ngành Dệt May Việt Nam
  • Hướng Tới Giải Pháp Thông Minh Trong Ngành Dệt May
  • KINH TẾ TÀI CHÍNH

    GIẢI PHÁP CHO SỰ PHÁT TRIỂN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    Việt nam gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những thách thức

    Giải pháp cho sự phát triển chứng khoán Việt Nam

    Nh÷ng gi¶i ph¸p c¬

    b¶n cho sù  ph¸t triÓn lµnh m¹nh

    cã hiÖu qu¶ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN trong ®iÒu kiÖn héi nhËp KINH TẾ QUỐC TẾ

                                                                                                         

                            

                                                         Ths Ngô thị Việt Hà

    1- Thùc tr¹ng thị tr­ường chøng kho¸n ViÖt Nam

     

    Thị trường chứng khoán Việt nam đã

    đi vào hoạt động từ năm 2000, sau  8 năm

    hoạt động đã trở thành một kênh huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển.

    Theo đánh giá ban đầu thị trường chứng khoán Việt Nam bước đầu hoạt động tương

    đối an toàn, không gây ra những biến động lớn hoặc tác động tiêu cực đến hoạt

    động kinh tế xã hội của đất nước

    Với thời gian tồn tại và phát triển

    quá ngắn như vậy, thị trường chứng khoán Việt nam vẫn ở giai đoạn sơ khai, số

    lượng các doanh nghiệp niêm yết và số người tham gia giao dịch không nhiều.

    Tính đến tháng 11 năm 2008 cả nước có 312 công ty niêm yết trên Sở giao dịch

    chứng khoán và TTGDCK. Tổng giá trị vốn hóa thị trường đến ngày 25/9/2008 ước

    đạt khoảng 25,7% GDP ( so víi møc vèn ho¸ thÞ tr­êng cuèi n¨m

    2007 lµ 43% GDP

    Hiện nay trên thị trường chứng

    khoán Việt nam, bên cạnh thị trường có tổ chức hoạt động của thị trường chứng

    khoán tự do còn ở phạm vi khá rộng với khoảng trên 800 loại cổ phiếu của công

    ty đang được giao dịch với giá trị ước tính gấp hơn 2 lần giá  trị của thị trường có tổ chức. Những đặc điểm

    nổi bật của thị trường tự do là : thiếu tính công khai, minh bạch, không được tổ

    chức quản lý và giám sát , nên khả năng xảy ra rủi ro rất lớn như mất khả năng

    thanh toán, chứng khoán giả , lừa đảo…. Những mặt trái này đã gây sự bất ổn cho

    cho thị trường chính thức và cả hệ thống tài chính.

    Thị trường chứng khoán Việt nam cho

    đến này vẫn chưa là “ hàn thử biểu” của nền kinh tế và chưa được coi là kênh

    huy động vốn của Doanh nghiệp. Chức năng cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế

    của thị trường chứng khoán Việt nam vẫn chưa thể hiện rõ. Vốn dài hạn vẫn chủ

    yếu được thực hiện thông qua thị trường tín dụng. Đó là điểm bất cập không phù

    hợp với sự phát triển của thị trường tài chính. Trong thời gian tới cần thúc

    đẩy hoạt động của thị trường chứng khoán nhằm tách hẳn chức tăng cung ứng vốn

    dài hạn ra khỏi hoạt động của tín dụng ngân hàng

    Nhìn lại thị trường chứng khoán

    Việt nam sau gần 8 năm hoạt động, còn nhiều tồn tại , đó là :

    a – Về quy mô của thị trường chứng khoán Việt nam so với các nước trong

    khu vực vẫn còn nhỏ, tuy vốn hóa thị trường tăng nhanh cã

    thêi gian đạt 43% GDP. Trên thị trường chứng

    khoán chỉ có  một số công ty lớn ở lĩnh

    vực kinh doanh tương đối ổn định, có mức tăng trưởng đều qua các năm, còn lại

    phần lớn các công ty niêm yết vẫn chưa phải là công ty lớn nhất trong nền kinh

    tế và chưa đại diện tiêu biểu cho sự đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP của Việt Nam.

    Giá chứng khoán ( chỉ số giá cổ phiếu VN- index 

    ) tăng giảm thất thường, thị trường chứng khoán trong thời gian qua vẫn

    chưa đảm bảo sự bền vững lành mạnh.

    Từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam

    đã phát triển lên một cấp độ mới vừa trải qua nhiều thăng trầm đột biến. Thị

    trường có lúc hừng hực sôi động, nở bung như “bong bóng”sau đó lại xì hơi tụt

    dốc. Tuy trong thời gian rất ngắn TTCK Việt Nam có những bước tiến vượt

    bậc và có không ít thành công, song cũng chư bao giờ như lúc này, tâm lý bất ổn

    ngự trị trong các nhà đầu tư.

    Nếu nhìn lại sau 2 năm Việt nam gia

    nhập ƯTO chúng ta lại càng thấy rõ điều đó. Trong 2 năm Việt nam gia nhập ƯTO

    chúng ta lại càng thấy rõ điều đó. Trong 2 năm 2007 và 2008 TTCK Việt nam đã

    diễn biến khá phức tạp thể hiện qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Tiếp

    theo đã suy giảm của TTCK trong năm 2007, chỉ số giá chứng khoán trong năm 2008

    tiếp tục diễn biến phức tạp theo chiều hướng suy giảm. Chỉ số giá cổ phiếu

    VN-index ngày đầu giao dịch của năm 2008 là 921,07 điểm(ngày2/1/2008), chỉ số

    giá cổ phiếu trong 11 tháng qua là 299,68 điểm(ngày 5/12/2008).

     

    b- Về hoạt động của các tổ chức trung gian và hỗ trợ thị trường còn nhiều bất cập về tài chính.

    Mặc dầu các công ty chứng khoán đã phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu để tăng

    quy mô vốn hoạt động hoặc vốn điều lệ từ các chủ sở hữu vốn ( đối với các công

    ty chứng khoán trực thuộc ngân hàng thương mại ), nhưng nhìn chung vốn điều lệ

    vẫn còn thấp, điều đó đã ảnh hưởng đến khả năng tham gia thị trường của các

    công ty chỉ  đóng vai trò đầu tư dẫn dắt

    thị trường hoặc rủi ro do mức vốn khả dụng thấp

     Về cơ sở vật chất, kỹ thuật và hạ tầng công nghệ thông tin

    còn hạn chế. Đội ngũ về nhân sự hành nghề có chuyên môn có giấy phép hành nghề,

    đặc biệt về chất lượng về nhân sự lãnh đạo công ty còn thiếu và yếu về nghiệp

    vụ chuyên môn kinh doanh chứng khoán cũng như tư vấn pháp luật về chuyển đổi

    doanh nghiệp.

    Trên thực tế hiện nay số lượng công

    ty chứng khoán ở nước ta vượt quá quy mô thị trường, nếu so sánh với các nước

    trong khu vực ( Trung quốc 107 công ty, Malaysia 37 công ty, Thái Lan 41 công

    ty, Singapor 27 công ty và Hàn quốc trên 50 công ty ).

    c- Tuy số lượng tài khoản đầu tư tăng nhanh, nhưng chủ yếu  là tài khoản cá nhân, mua bán cổ phiếu ngắn

    hạn và bị tác động chi phối bởi các nhà đầu tư lởn trên thị trường. Những nhà đầu tư này lại thiếu kỹ

    năng phân tích đầu tư, phân tích thị trường, do vậy ảnh hưởng tới sự ổn định

    của thị trường . Những nhà đầu tư chuyên nghiệp chiếm tỷ trọng còn khiêm tốn,

    một số nhà đầu tư lớn nước ngoài mở tài khoản nhưng chưa tham gia vào đầu tư.

    Các quỹ đầu tư nước ngoài tham gia thị trường trong nước thông qua các tài

    khoản ủy thác cá nhân và đầu tư tập trung vào cổ phiếu các doanh nhgiệp cổ phần

    hóa, chưa tham gia đầu tư nhiều trên SGDCKTP Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà nội

    d- Như trên đã nêu, thị trường chứng khoán tự do còn khá lớn, có nhiều

    nhược điểm, gây sự bất ổn định cho thị trường chính thức. Còn các doanh nghiệp sau khi cổ

    phần hóa chưa tích cực đưa cổ phiếu vào đăng ký, lưu ký tập trung để niêm yết

    và giao dịch qua các SGDCKH TP Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà nội bởi nhiều lý do

    không chính đáng

    đ- Tuy Luật chứng khoán được ra đời thay thế Nghị định 144/2003/NĐ-CP, ngµy 28/11/2003 cña ChÝnh phñ vÒ

    Chøng kho¸n vµ ThÞ tr­êng chøng kho¸n , song hệ thống pháp

    luật về thị trường chứng khoán còn  bất

    cập và chưa được hoàn thiện. Sự đồng bộ, phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật

    Luật kinh doanh bảo hiểm,..còn chưa thật hoàn thiện. . So với yêu cầu đòi hỏi

    của thực tế của sự phát triển thị trường tài chính và các định chế tài chính

    trong nền kinh tế thị trường đối với năng lực quản lý và sự phối hợp của các cơ

    quan quản lý Nhà nước còn hạn chế

    Cơ quan quản lý Nhà nước, SGDCK và

    TTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty niêm yết trong công tác quản lý, điều

    hành  hoạt động của thị trường chứng

    khoán còn thiếu kinh nhgiệm thực tiễn và còn những bất cập. Chứng khoán và Thị

    trường chứng khoán là một lĩnh vực mới đối với mỗi người Việt nam, vì Việt nam

    đã có quá trình lâu năm với cơ chế kinh tế kế hoach hóa tập trung. Do vậy công

    tác tuyên truyền, phổ cập kiến thức  cơ

    bản về lĩnh vực này còn chưa được chú trọng đúng mức, chưa phù hợp và đáp ứng

    với yêu cầu phảt triển của thị trường chứng khoán. Nên sự tham gia của các nhà

    đầu tư vào thị trường này còn chưa đông và việc tham gia của các nhà đầu tư còn

    mang tính theo kiểu “ phong trào” và “ bầy đàn”

    2- Nh÷ng c¬ héi vµ

    th¸ch thøc đối với sù ph¸t triÓn TTCK

    ViÖt nam trong tiÕn tr×nh héi nhËp KTQT

    Đối với Việt Nam, đây là ngành dịch

    vụ mới được hình thành từ năm 2000, nhưng nhiều thành viên WTO, nhất là các

    thành viên có hệ thống tài chính phát triển rất quan tâm và đưa ra yêu cầu cao

    về mức độ mở cửa cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước

    ngoài

    Các cam kết của Việt nam với WTO

    đối với lĩnh vực dịch vụ chứng khoán, đó là :

    – Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được cung

    cấp qua biên giới ( mà không cần thành lập pháp nhân ở Việt Nam ) đối với dịch vụ

    cung cấp thông tin tài chính, tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ liên

    quan đến chứng khoán

    -  Các tổ chức, cá

    nhân Việt nam được sử dụng dịch vụ chứng khoán ở nước ngoài

    – Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được phép

    thành lập văn phòng đại diện và liên doanh đến 49% vốn đầu tư nước ngoài từ

    thời điểm gia nhập. Được phép thành lập công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán

    100% vốn ĐTNN sau 5 năm kể từ khi gia nhập và được phép thành lập chi nhánh của

    công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sau 5 năm đối với một số loại

    cấp, trao đổi thông tin tài chính

    Theo những cam kết về lĩnh vực dịch

    vụ chứng khoán của Việt nam với WTO, lộ trình mở cửa hội nhập của thị trường

    chứng khoán của Việt Nam sẽ được triển khai theo Luật chứng khoán, Luật đầu tư

    nước ngoài và những cam kết với WTO, theo những nội dung sau :

    – Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam sẽ không

    hạn chế , nếu không thuộc lĩnh vực ngành nghề kinh doanh bị cấm hoặc kinh doanh

    có điều kiện đối với lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, không bao gồm các lĩnh

    vực đầu tư trong các  điều ước quốc tế mà

    Việt nam cam kết mở cửa thị trường nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần không

    hạn chế sau khi trừ đi phần vốn nhà nước nắm giữ dành cho người  lao động trong doanh nghiệp

    – Cho phép thành lập văn phòng đại diện  và liên doanh đến 49% vốn ĐTNN từ thời điểm

    gia nhập. Sau 5 năm kể từ thời điểm gia nhập cho phép thành lập các công ty

    cung cấp dịch vụ chứng khoán 100% vốn nước ngoài và cho phép các chi nhánh của

    các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài hoạt động trong các loại

    hình dịch vụ quản lý tài sản, quản lý quỹ đầu tư, lưu ký, thanh toán bù trừ,

    cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, tư vấn và các hoạt động môi giới

    nhánh đối với các loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán và tham gia phát

    hành

    Các công ty đầu tư nước ngoài sẽ

    được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia trong lĩnh vực tài chính. Các quy chế về

    tiếp cận thị trường nước ngoài sẽ tương tự hoặc cao hơn so với các quy chế này

    của các nước OECD

    – Trong lộ tình cam kết với UBCK các nước ( IOSCO ) đến năm

    2010 là thời hạn cuối cùng các nước ký kết MMOV, đảm bảo phải tuân thủ chấp

    hành các tiêu chuẩn và điều kiện chung về kế toán, công bố thông tin, quản trị

    công ty,..

    Hội nhập kinh tế giúp cho việc đẩy

    mạnh các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam, đặc biệt là dòng vốn đầu tư

    gián tiếp, thông qua thị trường chứng khoán, đáp ứng nhu cầu cho việc huy động

    nguồn vốn đầu tư nước ngoài khoảng 30% trong tổng số 140 tỷ USD cho giai đoạn

    phát triển kinh tế 2006-2010. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện và cơ hội cho việc

    tiếp cận nhanh và tốt hơn kinh nghiệm quốc tế về quản lý, công nghệ tiên tiến

    trong việc phát triển thị trường chứng khoán của các nước tiên tiến. Việc mở

    cửa thị trường chứng khoán Việt nam sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức

    kinh doanh chứng khoán trong và ngoài nước để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao

    cho nhà đầu tư. Đồng thời từ đó sẽ trao đổi học tập kinh nghiệm và hợp tác

    trong việc phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

    Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lại

    nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng

    khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động

    trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những

    thách thức.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới

    ở giai đoạn đầu phát triển, trong khi đó ở các nước trên thế giới thị trường

    vốn đã phát triển cao và dựa trên những chuẩn mực, quy trình tác nghiệp, trình

    độ công nghệ cao và hệ thống pháp lý hoàn chỉnh. Mặc dầu Luật chứng khoán mới

    ra đời tuy phù hợp với các cam kết và với thông lệ quốc tế, song còn nhiều vấn đề

    về định chế và pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ quốc

    tế, như : luật phá sản, xử lý tranh chấp, mối quan hệ trách nhiệm – quyền hạn

    của tổ chức cá nhân tham gia thị trường ( nhà đầu tư, công ty chứng khoán, công

    ty quản lý quỹ, nhà đầu tư,..) xây dựng tổng thể chính sách phát triển thị

    trường chứng khoán, các chính sách để liên kết thị trường tiền tệ, thị trường

    chứng khoán, thị trường bất động sản.

    Các tổ chức trung gian của Việt Nam

    còn ở giai đoạn sơ khai và đang ở trình độ thấp so với nhiều nước trên thế

    giới, thiếu kinh nghiệm về chuyên môn và yếu về năng lực tài chính. Đây sẽ là

    những thách thức lớn đối với các tổ chức trung gian dưới áp lực cạnh tranh

    Những hạn chế và yếu kém về chất

    lượng chuyên môn; Về đạo đức nghề nghiệp thể hiện chưa có các chuẩn mực đạo đức

    nghề nghiệp của đội ngũ kinh doanh chứng khoán; Về năng lực tài chính thể hiện

    mức vốn điều lệ còn thấp so với các nước trong khu vực; Về cơ sở vât chất kỹ

    thuật ứng dụng công nghệ thông tin; về công bố các thông tin, công tác quản trị

    doanh nghiệp chưa được đáp ứng đươc yêu cầu về quản lý thị trường đối với cả

    các công ty niêm yết lẫn các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán cũng như Sở

    GDCK và TTGDCK

    Với sự phát triển của nền kinh tế

    và thị trường vốn, quy mô thị trường chứng khoán và nhu cầu về dịch vụ chứng

    khoán trong thời gian tới sẽ tăng mạnh. Sự xuất hiện của các quỹ  đầu tư và nhà ĐTNN có tác động mạnh tới phát

    triển thị trường, tuy nhiên cũng tiềm ẩn nguy cơ cao khi cơ sở hạ tầng chứng

    khoán phát triển không tương ứng  với thị

    trường. Đồng thời, với xu hướng mở rộng áp dụng công nghệ thông tin, thì đây sẽ

    là thách thức lớn đối với việc giám sát rủi ro, duy trì sự phát triển bền vững

    của thị trường chứng khoán.

    Trong điều kiện hội nhập thì nguy

    cơ thâu tóm, thao túng từ các nhà đầu tư nước ngoài và nguy cơ ảnh hưởng đến

    cân đối vĩ mô của nền kinh tế là những điều có thể xẩy ra. Ngoài ra còn các

    nguy cơ tiềm tàng khác, như : mất chủ quyền do các nước mạnh áp đặt các nguyên

    tắc hoăc áp đặt các ràng buộc mà các thể chế tài chính quốc tế quy định; Nguy

    cơ biến dạng thị trường; Khả năng lây lan rủi ro; v,v..

    Việt nam gia nhập WTO sẽ mang lại

    nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng

    khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động

    trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những

    thách thức.

    Luật Chứng khoán đã được Quốc hội

    Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua. Luật chứng khoán ra đời đã tạo kênh

    huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Luật chứng khoán tạo

    cơ sở cho thị trường chứng khoán phát triển nhanh và ổn định, tạo tâm lý yên

    tâm cho tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, đầu tư vào thị trường chứng

    khoán và đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư; giúp công chúng dễ dàng hiểu biết  về chứng khoán, thị trường chứng khoán và có

    cơ sở pháp lý để công chúng tham gia thị trường khi có điều kiện. Đồng thời

    giúp việc phân định rõ vai trò của từng thị trường vốn trung , dài và ngắn hạn

    trong cơ cấu thị  trường tài chính; bảo

    đảm và phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường

    chứng khoán, giảm gánh nặng trong việc dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn của hệ

    thống ngân hàng hiện nay và góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong

    cộng đồng và các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Luật chứng khoán đã đáp ứng

    yêu cầu của các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, đặc biệt là các cam

    kết về hệ thống pháp luật phục vụ quá trình đàm phán gia nhập WTO

    3- Những giải pháp phát c¬ b¶n cho sù  ph¸t triÓn lµnh m¹nh cã hiÖu qu¶ cña TTCK

    trong ®iÒu kiÖn héi nhËp KTQT.

    Ngày 2/8/2007, Thủ tường Chính phủ Việt

    Nam đã phê duyệt : “ Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và

    tầm nhìn đến năm 2022”. Nội dung của quyết định này đã nêu rõ các giải pháp

    thực hiện đề án phát triển thị trường vốn trong những năm tới. Đó là :

    Về giải pháp dài hạn : Phát triển thị trường vốn theo

    hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc. 

    Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị

    trường, mở rộng hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức;

    phát triển đầy đủ các định chế trung gian; đa dạng hóa các dịch vụ cung

    cấp,..đảm bảo đầy các yếu tố cấu thành một thị trường vốn phát triển trong khu

    vực; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; hài hòa

    giữa mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững thị

    trường vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh tài

    chính quốc gia. Tăng cướng quản lý Nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năng

    thanh tra, kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân

    tham gia hoạt động trên thị trường

    Về giải pháp trước mắt : Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các

    loại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường; từng bước hoàn chỉnh cấu trúc của

    thị trường vốn đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước; Phát triển các

    định chế trung gian và dịch vụ thị trường ; Phát triển hệ thống nhà đầu tư

    trong nước và ngoài nước ; Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu

    quả quản lý, giám sát của nhà nước; Chủ động mở cửa hội nhập với khu vực và

    quốc tế; Đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

    Từ thực trạng hoạt động của thị

    trường chứng khoán Việt Nam những năm qua và đặc biệt là sau gần 2 năm Việt Nam

    trở thành thành viên thứ 150 của WTO, qua diễn biến giao dịch trên TTCK khá

    phức tạp; Hoạt động của các tổ chức niêm yết; của các tổ chức trung gian; về

    hoạt động đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở dự báo xu hướng về phát triển kinh tế

    kho¸n, đó là :

    Nền kinh tế Việt nam năm 2009 gạp nhiều khóa khăn, song vẫn duy trì tốc

    độ tăng trưởng kinh tế, nhưng có nhiều nhân tố suy giảm. Chỉ số giá tiêu dùng

    có chiều hướng diễn biến phức tạp. Những vấn đề đó đã ảnh hưởng đến các cân đối

    vĩ mô, tới hoạt động của các doanh nghiepj, tới đời sống xã hội của mọi đối

    tượng trong nền kinh tế.

    Do Việt nam cải thiện môi trường đầu tư, vị thế của Việt nam trên trường

    quốc tế ngày càng được nâng cao và khẳng định. Do vậy, luồng vồn đầu tư cả trực

    tiếp và gián tiếp của nước ngoài cũng sẽ được tăng nhanh.

    – Tiến trình cổ phần hóa các doanh

    nghiêp lớn, thông qua các đợt đấu giá cổ phần lần đầu trên thị trường chứng

    khoán ( IPO) sẽ tác động mạnh tới nguồn cung hàng hóa chứng khoán , tạo ra sự

    mất cân đối cung cầu, làm cho giá chứng khoán khó phục hồi. Số lương các công

    ty phát hành cổ phiếu và đưa vào niêm yết trong năm 2008 khoảng trªn 80 công ty, tạo nên nguồn hàng lớn

    cho thị trường chứng khoán

    -  Cuéc

    khñng ho¶ng tµi chÝnh cña thÕ giíi, ®Æc biÖt cña Mü vµ Ch©u ©u, nên diễn biến TTCK quốc tế kh«ng

    cã  dấu hiệu tăng trưởng ®ang

    trong thời kú suy giảm mạnh

    Từ những nội dung phân tích trên,

    chúng tôi xin đưa ra những giải pháp nhằm phát triển TTCK Viêt nam trong những

    năm tới một cách bền vững :

    Về giải pháp kinh tế vĩ mô :

    – Kiểm soát lạm phát ( CPI ) , đây là một trong những điều

    kiện và tiền đề rất quan trong  để thị

    trường chứng khoán Việt nam phát triển lành mạnh, hiệu quả và ổn định.

    -  Thị trường chứng

    khoán là một kênh huy động vốn quan trọng, cần được quan tâm phát triển theo

    hướng tăng cung hàng hóa cho thị trường cả về số lượng, chất lượng và chủng

    loại; phát triển các thị trường giao dịch trái phiếu; triển khai thực hiện thị

    trường trái phiếu chuyên biệt và thị trường giao dịch chứng khoán chưa niêm

    yết.

    Để khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán

    đồng bộ với các quy định khác của Việt Nam, phù hợp với các cam kết quốc tế và

    đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế,  ngành tài chính cần tiến hành sửa đổi và bổ

    sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán và một số điểm của Nghị

    định về kinh doanh chứng khoán và xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng

    khoán; Xây dựng Đề án chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến 2022 và

    trình Chính phủ ban hành Nghị định phát hành chứng khoán riêng lẻ.

    – Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ và chính sách tài

    khóa, hài hòa giữa mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triển

    bền vững thị trường vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo

    sự an ninh tài chính

    – Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh

    về cấu trúc ( bao gồm cổ phiếu tập trung, thị trường quản lý OTC, thị trường

    trái phiếu vận hành theo thông lệ quốc tế tốt nhất có khả năng liên kết với các

    thị trường khu vực và quốc tế.

    Trước mắt cần thành lập thị trường

    giao dịch trái phiếu Chính phủ ( TPCP) . Thị trường TPCP có vai trò quan trọng

    trong phát triển kinh tế. Đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền

    kinh tế, mà còn tạo ra sự đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn,

    cho phép các nhà đầu tư có thêm lựa chọn đầu tư ít rủi ro hơn. Thị trường TPCP

    còn là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của thị trường trái phiếu công ty

    thông qua cung cấp có sở cho định giá chuẩn tin cậy cho các công cụ khác nhờ

    vậy thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính nói chung. Thị trường TPCP

    còn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng

    TW thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và các biến

    số kinh tế vĩ mô khác

    Xây dựng và phát triển thị trường

    trái phiếu, đặc biệt là thị trường TPCP, đó là một trong những nội dung quan

    trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt nam từ

    nay đến năm 2022. Nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp của sự kém phát triển thị

    trường TPCP của Việt nam chủ yếu đều từ thị trường sơ cấp. Phát triển thị

    trường trái phiếu thứ cấp  có ý nghĩa rất

    quan trọng đối với hoạt động phát hành trên thị trường sơ cấp nói riêng và sự

    phát triển thị trường trái phiếu và thị trường vốn nói chung. Thị trường phát

    hành giúp cho Chính phủ huy động vốn phục vụ nhu cầu phát triển trong từng thời

    kỳ và đồng thời tạo nguồn hàng cho thị trường thứ cấp, góp phần  bình ổn và thức đẩy thị trường giao dịch TPCP

    phát triển. Thị trường giao dịch TPCP là nơi thể hiện rõ nét nhất những bất cập

    trên thị trường sơ cấp và nếu được tổ chức tốt thì cũng phản hồi một cách nhanh

    nhậy nhất các diễn biến về lãi suất trên thị trường. Do vậy, cần xây dựng một

    mô hình giao dịch phù hợp cho thị trường TPCP ở Việt nam với lộ trình phù hợp

    với những cải cách trên thị trường giao dịch trái phiếu ở Viêt  nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

    Những giải pháp về quản lý và cơ chế chính sách :

    – Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và có những biện

    pháp hạn chế những mặt trái của  các đối

    tượng trên thị trường chứng khoán; Tăng cường công bố thông tin trên thị trường

    chứng khoán, nâng cao tính minh bạch của thị trường. Đặc biệt là việc công bố

    các thông tin về các tổ chức niêm yết và công ty chứng khoán.

    – Cần ban hành Nghị định của Chính phủ về quản lý phát hành

    riêng lẻ; Chính phủ cho phép mở chi nhánh và thành lập công ty quản lý Quỹ đầu

    tư chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sớm hơn lộ trình cam kết trong

    đầu tư nước ngoài và công bố ra thị trường. Trước mắt, duy trì mức sở hữu nước

    ngoài 49% vốn điều lệ đối với công ty niêm yết và công ty đại chúng theo luật

    chúng khoán. Bộ Tài chính triển khai tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán

    của công ty đại chúng chưa niêm yết tại TTGDCK Hà nội thông qua phương thức

    giao dịch OTC tại công ty chứng khoán và thanh toán bù trừ tại trung tâm Lưu ký

    chứng khoán. Trình Thủ tướng sửa đổi bổ xung Nghị định 14/CP để tăng quy mô

    vốn, công nghệ, nghiệp vụ, giấy phép hành nghề khi thành lập công ty chứng

    khoán khắc phục hiện tượng quá tải xin thành lập hiện nay.

    Về giải pháp điều chỉnh cung cầu :

     Chính phủ cần có lộ trình cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ( IPO)  thật hợp lý đối vói các doanh nghiệp cổ phần

    hóa và các doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu.  Căn cứ vào thực trang và năng lực của từng  ngân hàng mà kiểm soát mức cho vay đầu tư

    chứng khoán, có thể cho phép ngân hàng tăng dự nợ cho vay chứng khoán, nhưng

    đồng thời cũng phải tăng mức ký quỹ đảm bảo tương ứng

    Về địa vị của UBCKNN, hiện nay vẫn là cơ quan trong Bộ Tài

    chính có chức năng và thẩm quyền, đảm bảo tính độc lập cần thiết và thực quyền

    trong việc xử lý các vấn đề nghiệp vụ chứng khoán. Về lâu dài, theo chúng tôi

    khi thị trường chứng khoán đã phát triển ổn định sẽ sắp xếp lại cho phù hợp với

    yêu cầu của kinh tế thị trường.

    Qua những năm hoạt động thị trường

    chứng khoán và gần 2 năm thực hiện theo Luật chứng khoán cũng cần xem xét loại

    bỏ các thủ tục hành chính, các loại giấy phép không cần thiết, nhưng cũng đảm

    bảo yêu cầu của quản lý Nhà nước để thị trường này phát triển an toàn , ổn

    định. Hoạt động  kinh doanh chứng khoán

    là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, còn mới đối với Việt Nam, có nhiều rủi ro.

    Vì vậy trong quá trình thực hiện Luật chứng khoán  ở Việt Nam cần phải luôn xem xét và đánh giá

    tính khả thi và những nội dung của Luật đã đi vào cuộc sống và còn những điều

    gì bất cập cần phải hoàn thiện và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện cũng như

    đặc thù thể chế của Việt nam, nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với cam kết và

    thông lệ quốc tế.

    4- Những giải pháp trước mắt

    nhằm vực dậy  và phát triển thị trường

    chứng khoán ViÖtnam

    Năm 2008, thị trường chứng khoán Việt nam liên tục biến

    động phức tạp, dù Bộ Tài chính đã triển khai nhiều giải pháp tích cực. Chỉ số

    VN-Index tháng 11 đã giảm tới 70% so với hồi cuối năm 2007. Theo nhận định của

    Bộ Tài chính, trước tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước và khủng

    hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, sự phục hồi của thị trường còn nhiều khó

    khăn. Đến thời điểm này đã có gần 330 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên thị

    trường chứng khoán với tổng giá trị vốn hoá cổ phiếu đạt khoảng 19% GDP.

    Đứng trước những khó khăn và thách thức của thị trường

    chứng khoán hiện nay, báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tại Diễn đàn Kinh

    tế 2008 diễn ra ngày 2/10/2008 ở Hà Nội chỉ rõ những nhân tố khách quan và chủ

    quan ảnh hưởng đến thị trường . Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết trước mắt

    sẽ kiến nghị Chính phủ thông qua đề án “Phát triển bền vững, ngăn ngừa khủng

    hoảng trên thị trường chứng khoán” nhằm chủ động đối phó với những diễn biến

    phức tạp có thể xảy ra.

    Năm 2009, nền kinh tế Mỹ và thế giới được dự báo vẫn tiếp

    tục xấu đi nếu các biện pháp của các chính phủ 

    không đạt được kết quả tốt. Điều đó cũng sẽ tác động đến sự phát triển

    của TTCK ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Nhưng tác động mạnh nhất là những

    yếu tố bên trong của chúng ta.

    Theo chúng tôi, khi thị trường thế giới bất ổn thì Việt Nam

    chính là nơi có điều kiện đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều hơn. Do đó nếu

    có những chính sách đúng đắn, thì thị trường sẽ tăng trưởng hợp lý. Điều đó còn

    phụ thuộc vào các chính sách nuôi dưỡng và khuyến khích của Nhà nước. Hiện TTCK

    Việt Nam vẫn chưa đủ độ lớn và độ mạnh như chúng ta đã đánh giá về nó. Số lượng

    tài khoản chứng khoán chỉ mới hơn 300.000 nhưng thật sự giao dịch chỉ khoảng

    1/2. Đó là một con số rất nhỏ nếu so với dân số của Việt Nam. Theo tôi, tối

    thiểu phải đạt mức 2% dân số tham gia vào thị trường này thì mới tải được hết

    dung  lượng của thị trường.

    Bên cạnh đó, bình quân lượng giao dịch mỗi ngày chỉ đạt

    khoảng 1.000 tỉ đồng so với tổng lượng vốn hóa của thị trường là 500.000 tỉ

    đồng cũng là quá nhỏ. Bất kể sự chuyển dịch nguồn vốn nào cũng sẽ khiến thị

    trường bị hụt hẫng ngay. Vì vậy, các chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước

    phải theo hướng khuyến khích NĐT tham gia hơn là tính đến chuyện xiết chặt và

    thu hoạch từ nó. Nếu được cần nới lỏng chính sách về nguồn vốn, thuế thu nhập

    chứng khoán.

    Về mặt quản lý chuyên ngành, cần tạo nên sự chuyên nghiệp,

    chuẩn mực và trật tự để NĐT không bị thiệt hại trong quá trình đầu tư của mình,

    đặc biệt là không làm tổn hại đến quyền lợi của NĐT cá nhân. Cụ thể như những

    yêu cầu về công bố thông tin của các công ty niêm yết phải được xây dựng theo

    các tiêu chí rõ ràng và có sự kiểm tra thường xuyên. Bên cạnh đó, các công ty

    khi phát hành cổ phiếu phải thực hiện chuyên nghiệp hơn. Không tự mình phá

    giá cổ phiếu theo những kiểu như đã làm từ trước đến nay và khiến cho NĐT thiệt

    hại, ảnh hưởng đến chất lượng của thị trường.

    TTCK Việt Nam còn mới và nhỏ, vì thế vai trò của Nhà nước

    là hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ, kiểm soát, và định hướng để thị trường

    phát triển lành mạnh và bền vững. Để hỗ trợ vực dậy thị trường chứng khoán phát

    triển trong trước mắt chúng ta cần có các biện pháp sau : 

    Một là, Chính phủ có thể

    xem xét cho lùi thời hạn áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với lợi nhuận từ đầu

    tư chứng khoán và có lộ trình ưu đãi thuế. Đối với NĐT, ưu đãi thuế sẽ khuyến

    khích họ đầu tư vào thị trường vốn. Đối với doanh nghiệp, ưu đãi thuế gián tiếp

    giảm chi phí vốn, tăng hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, và

    kích thích kinh tế nước nhà tăng trưởng. Kinh tế tăng trưởng thì nguồn thu từ

    thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác nhờ đó sẽ bù đắp, thậm chí còn

    lớn hơn nhiều so với khoản thu tạm thời mất đi từ ưu đãi thuế thu nhập chứng

    khoán.

                Từ

    ngày 1/1/2009 tới, thuế thu nhập cá nhân trong kinh doanh chứng khoán bắt đầu

    được triển khai.Cộng đồng NĐT vẫn cho rằng, trong giai đoạn hiện tại, tạm hoãn

    sắc thuế này là việc nên làm, như là một biện pháp hỗ trợ tốt cho thị trường,

    trương giãn thu thuế chứng khoán. Về vấn đề thuế đánh vào hoạt động kinh doanh

    chứng khoán, từ kinh nghiệm của TTCK nhiều nước như Úc, Anh, Mỹ, cho thấy đã

    kinh doanh thì phải nộp thuế là vấn đề bình thường. Ở nhiều nước, hoạt động

    kinh doanh chứng khoán thậm chí còn chịu nhiều loại thuế. Nhưng đối với nước

    ta, vấn đề cơ bản là đánh thuế bao nhiêu cho hợp lý, hình thức đánh thuế như

    thế nào cho phù hợp.

    Hiện nay, hầu hết NĐT ở lại với  thị trường đến thời điểm này đều

    đang bị thua lỗ. Nếu phải nộp thêm thuế thì tất nhiên ngày càng nhiều người

    chán nản vì thấy mình bị đối xử “chưa tốt”, vì trong lúc khó khăn không ai san

    sẻ, điều đó sẽ làm cho NĐT không còn hứng thú với thị trường. Thanh khoản của

    thị trường thấp thì NĐT có tổ chức trong và ngoài nước cũng không thấy hứng thú

    đầu tư. Vì vậy sàn vắng, thị trường kém thanh khoản, khó thêm hàng hóa cho thị

    trường do cổ phần hóa chậm, doanh nghiệp lớn ngại lên sàn vì sợ giá cổ phiếu

    không được như mong muốn. Đó là vòng luẩn quẩn. 

    Do vậy, để vừa giữ sự nhất quán trong chính sách, vừa hỗ

    trợ được thị trường, theo chúng tôi  vẫn

    có thể tìm một giải pháp trung dung. Chúng ta vẫn áp dụng đánh thuế trong hoạt

    động kinh doanh chứng khoán, nhưng có thể áp dụng mức thuế suất 0% trong một

    thời gian , như kinh nghiệm một số nước áp dụng giải pháp tạm miễn thuế.  Như vậy là thuế chứng khoán vẫn làm đúng lộ

    trình, nhưng giải pháp thuế tạm thời hỗ trợ thị trường vẫn được thực thi, mọi

    NĐT hiểu rằng đã kinh doanh chứng khoán là phải nộp thuế. Mặt khác, với cơ quan

    quản lý, luật thuế cũng đã được thực hiện, chỉ là điều chỉnh thuế suất cho phù

    hợp, cũng là một cách điều tiết thị trường, một giải pháp hỗ trợ tạm thời cho

    NĐT. Ví dụ như Trung Quốc trong giai đoạn 2006 – 2007  khi thị trường tăng nóng thì Chính phủ nước

    này tăng thuế, gần đây khi thị trường sụt giảm mạnh thì họ miễn thu.

    Nếu thuế thu nhập cá nhân chỉ luôn bảo vệ quan điểm điều tiết thu nhập

    mà quên vai trò đòn bẩy kinh tế thì chưa hiểu đầy đủ vai trò của thuế. Do vậy,

    cần phân biệt tầm quan trọng khác nhau giữa TTCK ( là thị trường vốn rất cần

    cho nền kinh tế đang tăng trưởng nóng) và thị trường bất động sản (là thị trường

    đầu tư sinh lời). Nếu chỉ đứng trên quan điểm điều tiết, điều này sẽ làm chùn

    tay những người muốn tham gia TTCK

    Thị trường đi xuống cũng có mặt tích cực của nó. Đó là một

    sự phản hồi rõ ràng về một thị trường vốn trong cơ chế thị trường và hội nhập,

    song đòi hỏi phải có những chính sách và cơ chế quản lý phù hợp. Còn nếu chỉ

    tìm cách khai thác cho nhiều mục đích thu lợi thì nó sẽ khó có điều kiện phát

    triển. TTCK Việt Nam đã có mức phát triển vượt bậc trong năm 2007, nhưng so với

    quy mô và nhiệm vụ phát triển thị trường vốn đến năm 2010 – 2022 của Chính phủ

    thì TTCK cần phải được những cơ chế đặc biệt và đủ mạnh để đạt được mục tiêu

    này. Qua quan sát các chính sách và điều hành trong những năm qua, tôi thấy có

    nhiều điểm thiếu nhất quán và đồng bộ.

                Hai là, Vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Đối với doanh

    nghiệp ngoài quốc doanh, việc chọn thời điểm và xác định giá chào bán cổ phần

    ra công chúng thường được tính toán làm sao có lợi nhất cho doanh nghiệp hay cổ

    đông hiện tại. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nhà nước, lợi ích của doanh

    nghiệp và mục tiêu phát triển kinh tế chung cần được cân đối. Để đạt được điều

    đó, Chính phủ cần quyết tâm thực hiện lộ trình cổ phần hóa đã vạch ra. Giá chào

    bán cổ phần ra công chúng cần được tính toán hợp lý hơn, căn cứ vào khả năng

    sinh lợi thực sự của doanh nghiệp, để khuyến khích người dân tham gia. Nguồn

    vốn nhàn rỗi trong dân nhờ đó sẽ được huy động tối đa vào phát triển kinh tế

    thay vì chảy vào những kênh khác kém hiệu quả, không có lợi cho phát triển kinh

    tế và xã hội.

    Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ quan

    trọng là chuyển đổi cơ chế sở hữu và quản lý sang công ty cổ phần còn việc bán

    để thu vốn cho ngân sách không nhất thiết phải thu ngay một lượng lớn. Do vậy,

    nếu việc IPO chỉ bán một phần nhỏ (dưới 10%) và lộ trình bán có thể kéo dài

    nhiều lần trong 3 – 5 năm thì nguồn cung cũng không tăng đột biến mà nhiệm vụ

    chuyển đổi doanh nghiệp cũng hoàn thành.

    Quy mô TTCK Việt Nam vẫn còn nhỏ thì việc cổ phần hóa các doanh

    nghiệp lớn, đưa các công ty này lên sàn sẽ tạo nên một thị trường lớn hơn. Khi

    TTCK có đủ độ lớn, đủ tính thanh khoản thì các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ đưa vào

    nghề… Tất nhiên việc định giá khi bán cổ phần phải được tính toán hợp lý chứ

    không nên đưa giá bán lên quá cao sẽ là “lợi bất cập hại”. Lộ trình

    thực hiện cũng phải được xem xét kỹ hơn để thị trường không có phản ứng tiêu

    cực với điều đó. Theo tôi, quý 2 năm nay TTCK sẽ bắt đầu tăng trưởng tốt hơn.

    Tuy nhiên, sự tăng trưởng năm nay cũng phụ thuộc nhiều vào các chính sách mới

    của Nhà nước và chỉ số lạm phát đứng ở mức nào

    Ba là, Ngân hàng Nhà

    nước cần có dự báo tốt về nguồn ngoại tệ đổ vào TTCK và giải quyết đúng đắn trong

    mối quan hệ với lạm phát. Nếu có bước dự đoán đúng thì NHNN có thể phát hành

    trái phiếu thu tiền đồng để mua USD của NĐT nước ngoài, điều này giúp NĐT có

    tiền để mua chứng khoán mà không tăng lượng cung tiền gây lạm phát… Từ đó có

    thể nói rằng, việc TTCK phát triển như thế nào là tùy thuộc vào các cơ quan

    hoạch định chính sách.

    Bốn là, Cơ quan quản lý

    là người điều phối thị trường, giữ nhịp cho thị trường phát triển nên các chính

    sách phải có sự ổn định. Phải giải quyết được những vướng mắc hiện nay để tạo

    dựng niềm tin NĐT trong và ngoài nước. Tâm lý NĐT đang cực thấp nên phải

    “tiêm” vào một “liều thuốc hồi sinh”. Vấn đề quan trọng là

    khơi thông được nguồn tiền để đầu tư vào TTCK. TTCK phát triển mạnh lên thì

    nguồn vốn từ các nơi khác như bất động sản, vàng… sẽ tự động chảy về. Khi đó,

    thị trường bất động sản cũng sẽ tự lắng dịu mà không cần Nhà nước phải có những

    chính sách kiềm chế. Các thị trường như bình thông nhau nên sự điều tiết sẽ

    diễn ra tự nhiên hơn mà không cần cơ quan quản lý nhà nước phải can thiệp quá

    sâu.

     

     

     

     

     

     

     

     

    CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Tin Tức) Nhiều Giải Pháp Cho Hoạt Động Xuất Khẩu Trong Năm 2022
  • Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Tập Trung, Ứng Dụng Công Nghệ Nâng Cao Giá Trị
  • Định Hướng Phát Triển Lành Mạnh, Lâu Dài Quan Hệ Việt
  • Giải Pháp Định Vị Gps Cho Xe Máy
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Định Vị Gps – Giải Pháp Chống Trộm Hiệu Quả
  • Giải Pháp Nâng Cao Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Khóa Luận Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Môi Giới Chứng Khoán Của Các Công Ty Chứng Khoán Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Khóa Luận Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Môi Giới Chứng Khoán Của Các Công Ty Chứng Khoán Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Giải Pháp Mạng Gpon Cho Chung Cư
  • Giải Pháp Mạng Cho Chung Cư Cao Cấp
  • Nỗi Lòng Chỉ Người Dùng Internet Tại Chung Cư Mới Hiểu
  • III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Để xây dựng một công trình, người thợ xây cần phải có sẵn một bản vẽ chi tiết. Để hình thành và phát triển một doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh thích hợp là công cụ không thể thiếu. Tương tự, để hình thành được một thị trường chứng khoán đủ mạnh và pháp triển vững chắc, cần phải hoạch định trước các mục tiêu chiến lược. 1. Hoàn thiện khung pháp lý. Có thể xem hành lang pháp lý là rào chắn bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động nhịp nhàng, có hiệu quả. Nếu một hoạt động nào đó trong thị trường chứng khoán không được pháp lý điều chỉnh thì thị trường sẽ trở nên hỗn loạn. Vì vậy, chỉ có bằng luật pháp và bằng các quy chế mang tính pháp lý chặt chẽ thì thị trường chứng khoán mới thực sự trở thành nơi đầu tư lành mạnh, mới khuyến khích người dân đầu tư mạnh mẽ vào các chứng khoán và do đó mới huy động tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong dân để phát triển sản xuất. Đây là mục đích cuối cùng với thị trường chứng khoán. 2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Kinh nghiệm thực tiễn trong gần mười lăm năm thực hiện chính sách đổi mới ở nước ta đã chỉ rõ rằng, trong bất cứ một lĩnh vực hoạt động nào, nhân tố giữ vai trò quyết định trong mọi hoàn cảnh, tình huống không phải là ở máy móc thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật mà là ở nhân tố con người. Là thị trường cao cấp, thị trường chứng khoán cũng cần rất nhiều đội ngũ chuyên viên có trình độ cao trong nhiều lĩnh vực để tồn tại và phát triển. Rõ ràng, để có thể giúp người dân hiểu rõ về bản chất các loại chứng khoán và lựa chọn một tổ hợp các chứng khoán tối ưu, ngoài việc am hiểu các luật lệ mua bán, nhân viên làm việc tại các công ty chứng khoán phải thật sự là các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực quản trị tài chính, quản trị đầu tư, phân tích đầu tư, tiếp thị…. 3. Tăng nguồn cung chứng khoán. Cung chứng khoán trên thị trường chứng khoán chịu tác động bởi nhiều yếu tố chủ quan: ý muốn, khả năng phát hành và bán chứng khoán của các tác nhân kinh tế để gây vốn hoặc để cân bằng thu chi ngân sách. Các yếu tố này, đến lượt chúng, lại chịu sự chi phối trực tiếp bởi những lợi ích, các thuận lợi có được khi phát hành và bán chứng khoán so với kênh vay mượn truyền thống. 4. Chính sách kích cầu chứng khoán Trước hết, cũng như cầu các loại hàng hoá khác, sức cầu chứng khoán trên thị trường được quyết định bởi mức thu nhập trung bình của dân cư. Ước tính hàng năm người Việt nam ở nước ngoài gửi về nước cho thân nhân khoảng 2 tỷ đô la Mỹ. Như vậy, có thể thấy rằng, tiềm năng vốn đầu tư trong bộ phận công chúng vào thị trường chứng khoán vẫn còn rất lớn nếu biết khai thác đúng mức. Một yếu tố khác chi phối đến sức cầu chứng khoán là mặt bằng chung về sự thành thạo tài chính và sự ưa thích đầu tư chứng khoán. Gần đây, với sự hình thành HSTC, nghề đầu tư chứng khoán với suất sinh lời hấp dẫn đã góp phần tạo nên cầu đầu tư chứng khoán. Như vậy, rõ ràng khi nguồn cung chứng khoán gia tăng mạnh, sức cầu chứng khoán hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán trong tương lai. 5. Đẩy mạnh cổ phần hoá và tư nhân hoá Trong những năm gần đây, mặc dù không chịu ảnh hưởng trực tiếp của khủng hoảng tài chính khu vực nhưng nhịp độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam có chiều hướng chậm lại. * Xây dựng và ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách xác định giá trị tài sản doanh nghiệp, giải quyết công nợ khó đòi, cơ chế thực hiện quyền sở hữu của nhà nước trên số cổ phần nhà nước hiện tại có các công ty cổ phần để giải toả kịp thời các vướng mắc phát sinh hiện nay trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sở hữu. * Các chủ trương chính sách đổi mới doanh nghiệp phải thể hiện quyết tâm chính trị cao để đoạn tuyệt hẳn với quan niệm xem cổ phần hoá là bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh. Quan điểm này là nguồn gốc nảy sinh tư tưởng chần chừ do dự hoặc thực hiện cổ phần hoá, tư nhân hoá không triệt để. * Xoá bỏ tận gốc tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế dân doanh thể hiện trong các chủ trương, chính sách. * Kiên quyết cắt đứt tín dụng ưu đãi khi con đường tiếp cận tới nguồn ưu đãi bị cắt đứt, khi ngân hàng có thể tự lựa chọn khách hàng và áp đặt mức lãi suất theo mức độ rủi ro được chính ngân hàng thẩm định từ dự án, từ doanh nghiệp, tất yếu các doanh nghiệp nhà nước sẽ hoạt động có hiệu quả hơn để tự tồn tại và phát triển. 6. Chính sách công khai hoá thông tin Để đầu tư thành công cần phải có đầy đủ thông tin về thị trường, về ngành nghề, về tình trạng tài chính của doanh nghiệp mà mình định đầu tư. Chính vì vậy, trong đầu tư, nắm được thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác là đã nắm một nửa của sự thành công: nửa còn lại tuỳ thuộc vào khả năng phân tích, phán đoán, sự nhậy cảm và tính năng động của mỗi nhà đầu tư. 7. Xây dựng một hệ thống các ngân hàng thương mại đa năng Trong xu hướng đổi mới của ngành công nghiệp dịch vụ tài chính hiện nay trên thế giới, việc dựng nên bức tường ngăn cách giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán không phải là một giải pháp tốt bởi lẽ: Một là, rõ ràng hoạt động kinh doanh chứng khoán là một trong những hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính có nhiều rủi ro nhất. Tuy nhiên, vận dụng Lý thuyết hiện đại về tổ hợp đầu tư vào tổ hợp các hoạt động ngân hàng thương mại kinh doanh chứng khoán có thể thấy rằng: dường như một hoạt động có thể là rất rủi ro khi nó được xem xét trong trạng thái cô lập thế nhưng khi nó kết hợp với các hoạt động khác, rủi ro của sự kết hợp này có thể giảm đi rất nhiều, thậm chí bằng không. Hai là, dù xét về mặt bản chất, kinh doanh ngân hàng có sự khác biệt so với kinh doanh chứng khoán nhưng suy cho cùng, trong các loại hình kinh doanh chứng khoán mà công ty chứng khoán được phép thực hiện thì không nghiệp vụ nào không cần đến kỹ năng phân tích kinh tế, phân tích ngành và phân tích tài chính doanh nghiệp. Những kỹ năng này không hề xa lạ đối với cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ tín dụng, người phải luôn nắm chắc tình hình tài chính của doanh nghiệp, của ngành. Ba là, ngoài đội ngũ chuyên viên phân tích và thẩm định dự án dồi dào, hệ thống ngân hàng thương mại, nhất là các ngân hàng thương mại quốc doanh có hệ thống các chi nhánh tồn tại ở tất cả các Tỉnh, Thành, ở nhiều địa bàn Quận, Huyện với hệ thống các kho két kiên cố rất thuận lợi để tổ chức triển khai các đại lý nhận lệnh và lưu chứng khoán cũng như tư vấn đầu tư. 8. Xây dựng một lãi suất chuẩn Một trong những thành tố quan trọng nhất của quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán là lãi suất. Lãi suất thay đổi sẽ tác động lợi ích kinh tế của nhà đầu tư và do đó ảnh hưởng đến giá cả chứng khoán. Chẳng hạn, đối với trái phiếu, giá trái phiếu sẽ giảm khi lãi suất thị trường tăng và ngược lại, Lãi suất chuẩn này được sử dụng như một thước đo để xác định mức lãi suất hiện hành của thị trường, chiều hướng vận động trong tương lai của lãi suất. Thế nhưng, để lãi suất của các công cụ tài chính này có thể giữ vai trò định hướng của lãi suất tham chiếu, cần phải: Một là, phải từng bước nới lỏng việc kiểm soát tiền tệ và lãi suất, tiến tới tự do hoá hoàn toàn lãi suất để lãi suất không bị bóp méo và phản ánh đúng giá trị thực của thị trường. Hai là, lãi suất của trái phiếu chính phủ dùng làm lãi suất chuẩn phải được định giá trên cơ sở tham khảo lãi suất LIBOR, lãi suất được xem là lãi suất chuẩn trên các thị trường tài chính quốc tế. Ba là, phải phát hành với số lượng lớn, đều đặn loại trái phiếu chính phủ ngắn hạn với kỳ hạn 3 tháng để giúp thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất cao nhất và thấp nhất, giữa lãi suất thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, tạo cơ sở hình thành lãi suất chuẩn. 9. Các chính sách hỗ trợ khác Hoạt động của thị trường chứng khoán phản ánh sức khoẻ của nền kinh tế. Để thị trường chứng khoán hoạt động ổn định và phát triển, các tế bào của nền kinh tế mà trước hết là các thị trường, đặc biệt là thị trường chứng khoán cũng phải cần: 1. Khẩn trương xây dựng một hệ thống các ngân hàng và các thị trường tiền tệ, tín dụng, thị trường ngoại tệ tương đối hoàn chỉnh, hoạt động có hiệu quả để hỗ trợ tích cực cho tiến trình phát triển, hoàn thiện thị trường. 2. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hơn nữa chính sách và cơ chế điều hành lãi suất để lãi suất phản ánh đúng quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, làm chuẩn mực để so sánh, định giá các công cụ tài chính khác. 3. Kiểm soát chặt chẽ thị trường bất động sản, thị trường ngoại tệ và các dạng thị trường ngầm khác để định hướng nguồn tiền nhàn rỗi của công chúng để đầu tư vào các mục tiêu phát triển và tăng trưởng kinh tế:

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Năm 2022
  • Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn Tự In (Điều Kiện, Thủ Tục Đăng Ký, Mẫu)
  • Quản Lý Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn Tự In Trên Máy Tính : Hướng Dẫn Từ Bộ Tài Chính
  • Điều Kiện, Thủ Tục Để Cấp Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tự In
  • Ba Giải Pháp Phong Thủy Cho Căn Hộ Chung Cư
  • Năm Giải Pháp Trọng Tâm Để Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Nông Sản Sạch
  • Tìm Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Nông Sản Việt Nam
  • Thị Trường Xuất Khẩu Nông Sản Việt Nam
  • Phát Triển Thị Trường Tiền Tệ
  • Luận Án: Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong thực hiện nghi thức đánh cồng đầu Xuân Canh Tý 2022 tại HoSE

    Ngày 3/2 (tức mùng 10 tháng Giêng năm Canh Tý), Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM (HoSE) đã tổ chức Lễ đánh cồng đầu Xuân Canh Tý 2022. Buổi lễ có sự tham dự của ông Nguyễn Thành Phong, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TPHCM; Ông Huỳnh Quang Hải, Thứ trưởng Bộ Tài chính, cùng đại diện lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam,…

    Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong đã chúc mừng HoSE và các thành viên thị trường về những thành quả đã đạt được trong năm qua, góp phần tạo nên sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như thị trường tài chính TPHCM. Ông Phong cũng hy vọng HoSE sẽ tiếp tục phát huy tối đa vai trò là kênh huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực, tạo sự kết nối và dẫn dắt các doanh nghiệp, thành viên thị trường đến những chuẩn mực quốc tế, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện tốt nhất để đưa thị trường chứng khoán thành phố gắn kết chặt chẽ với Trung tâm tài chính quốc tế và trở thành “phong vũ biểu” cho nền kinh tế.

    Ông Huỳnh Quang Hải, Thứ trưởng Bộ Tài chính cũng chỉ ra 5 giải pháp trọng tâm để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2022. Thứ nhất, hoàn thành xây dựng các Nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán (sửa đổi) đúng tiến độ nhằm tạo môi trường tốt nhất, minh bạch nhất cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn, tạo điều kiện công bằng và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán.

    Thứ hai, tập trung tái cơ cấu lại thị trường chứng khoán, trình Chính phủ thành lập Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại hai Sở giao dịch chứng khoán hiện tại để phát huy hiệu quả hơn hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán; sớm đưa hệ thống công nghệ thông tin mới đồng bộ vào vận hành theo đúng tiến độ để phục vụ tốt hơn nhu cầu giao dịch của các nhà đầu tư.

    Thứ ba, hoàn thiện cơ chế cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước gắn với việc niêm yết và đăng ký giao dịch nhằm tăng cường phát triển quy mô và chất lượng thị trường chứng khoán Việt Nam, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp để áp ứng nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và công chúng đầu tư.

    Thứ tư, triển khai các giải pháp nâng hạng Thị trường chứng khoán Việt Nam từ hạng “Thị trường cận biên” lên hạng “Thị trường mới nổi” trên bảng xếp hạng của tổ chức về xếp hạng thị trường (MSCI và FTSE); xây dựng các quy định về xếp hạng tín nhiệm và thiết lập tổ chức định mức tín nhiệm của Việt Nam.

    Thứ năm, công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm cũng được tăng cường nhằm đảm bảo kỷ cương, kỷ luật thị trường, tạo dựng lòng tin cho công chúng đầu tư, giúp thị trường phát triển một cách ổn định và bền vững.

    Năm 2022, sự bất ổn của các nền kinh tế thế giới, các xung đột thương mại và địa chính trị gia tăng đã làm giảm lòng tin của giới đầu tư và kinh doanh, từ đó tác động không thuận lợi đối với thị trường chứng khoán trong khu vực và thị trường chứng khoán Việt Nam. Thanh khoản trên thị trường cổ phiếu sụt giảm 29% so với năm 2022, tình hình đấu giá cổ phần hóa và thoái vốn cũng có xu hướng chững lại.

    Mặc dù vậy, với những thông tin tích cực từ nền kinh tế vĩ mô trong nước, Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2022 vẫn duy trì sự tăng trưởng trên nhiều khía cạnh và vẫn là điểm đến hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài. Kết thúc năm 2022, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng chỉ số trong khu vực Đông Nam Á với VN-Index đạt 960,99 điểm, tăng 7,7% so với cuối năm 2022, cao hơn các nước trong khu vực như: Singapore (tăng 5%), Malaysia (giảm 6%), Thái Lan (tăng 1%), Indonesia (tăng 1,7%).

    Tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 4,38 triệu tỷ đồng (tương đương gần 188,72 tỷ USD), tăng 10,7% so với cuối năm 2022, bằng 79,2% GDP năm 2022 và 72,6% GDP dự tính năm 2022. Trong đó, giá trị vốn hóa toàn thị trường cổ phiếu trên HOSE đạt 3,28 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 54,3% GDP ước tính 2022 và tăng 14,05% so với cuối năm 2022. Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài vẫn giữ ổn định ở mức 16% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường và mua ròng ở mức 5.532 tỷ đồng cổ phiếu, thể hiện sự đánh giá lạc quan của cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài đối với TTCK Việt Nam.

    Năm 2022 được dự báo sẽ là một năm sôi động với các sự kiện quan trọng của ngành chứng khoán. Luật chứng khoán sửa đổi đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực vào 1/1/2021 là bước ngoặt trong việc hoàn thiện các khung khổ pháp lý góp phần nâng cao chất lượng thị trường. Hệ thống công nghệ thông tin thế hệ mới, đồng bộ, tích hợp cho toàn bộ thị trường chứng khoán Việt Nam HoSE làm chủ đầu tư, dự kiến sẽ hoàn thành và vận hành nhằm góp phần hiện đại hóa nền tảng hạ tầng công nghệ, đưa thị trường chứng khoán Việt Nam tiệm cận hơn với các chuẩn mực và thông lệ tốt trên thế giới.

    Năm 2022 cũng là năm bản lề tổng kết, đánh giá kết quả của chiến lược phát triển mười năm 2010-2020, kết quả của công tác tái cấu trúc thị trường chứng khoán, chuẩn bị xây dựng tầm nhìn, định hướng phát triển cho các giai đoạn sắp tới.

    Nguyễn Hiền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Đẩy Mạnh Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam?
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Tnhh Yên Hải (Máy Tính Và Thiết Bị Tin Học Văn Phòng)
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh, Hot
  • Bắc Kạn Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Năng Lực Nặng Cạnh Tranh Cấp Tỉnh
  • Sơn La Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Năng Lực Cạnh Tranh
  • Vụ Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Đầu Tư Giá Trị Dài Hạn Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Share Mạng Internet Giữa Các Căn Hộ Chung Cư Hoặc Những Nơi Không Thể Đi Được Dây Mạng.
  • Thông Gió Trong Một Tòa Nhà Chung Cư: Lắp Đặt Hệ Thống Trong Các Tòa Nhà Cao Tầng. Phải Làm Gì Với Sự Lạc Hậu Trong Các Căn Hộ? Đề Án Của Bức Tường Bên Ngoài.
  • Hệ Thống Thông Gió Tòa Nhà, Chung Cư, Siêu Thị
  • Chung Cư Quá Ồn, Phải Làm Sao?
  • NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA

    VỤ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    (Theo Quyết định số 538/QĐ-BTC ngày 22 tháng 03 năm 2022)

    I. Nhiệm vụ:

      1. Trình Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để trình Bộ trưởng Bộ Tài chính:

      a) Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, trung hạn về phát triển thị trường chứng khoán, các đề án về tổ chức, hoạt động của các thị trường giao dịch chứng khoán;

      c) Ý kiến tham gia các chính sách, chế độ về thuế, phí, lệ phí, quản lý ngoại hối.

      2. Chủ trì nghiên cứu, xây dựng các chính sách và đề xuất các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán, đảm bảo cho thị trường hoạt động công khai, công bằng và đúng pháp luật.    

      3. Trình Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định:

      c) Chấp thuận cho các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán nước ngoài mở chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện tại Việt Nam hoặc các Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam, Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam mở chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện tại nước ngoài;

      d) Chấp thuận việc đưa vào giao dịch các loại chứng khoán mới, các sản phẩm phái sinh, thay đổi và áp dụng các phương thức, các nghiệp vụ giao dịch và hệ thống giao dịch mới.

      4. Tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc quản lý hoạt động của các Sở Giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán.

      5. Phối hợp với các đơn vị thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc quản lý, giám sát các hoạt động công bố thông tin của các đối tượng tham gia thị thị trường chứng khoán.

      6. Xây dựng các báo cáo hàng năm hoặc báo cáo đột xuất về hoạt động của thị trường chứng khoán theo phân công của Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; tổ chức thực hiện công tác thống kê, phân tích thuộc phạm vi quản lý của Vụ.

      7. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước giao.

    II. Quyền hạn:

    1. Tổ chức chỉ đạo triển khai lĩnh vực công tác được giao thống nhất trong Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; tham gia biên soạn tài liệu và đào tạo công chức; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.

      3. Được ký thừa lệnh Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước các văn bản hướng dẫn, giải thích, trả lời các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của đơn vị theo Quy chế làm việc của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Mềm Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn
  • Giải Pháp Kỹ Thuật In Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Trên Máy Tính
  • Những Lưu Ý Quan Trọng Về Phong Thủy Khi Mua Nhà Chung Cư
  • Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Hoạt Động Công Chứng Và Đấu Giá Tài Sản
  • Quản Lý, Vận Hành, Sử Dụng Nhà Chung Cư: Hà Nội Bàn Nhiều Giải Pháp Mạnh
  • 5 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Dự Phòng Giải Pháp Mạnh Cho Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Thuế Cho Doanh Nghiệp
  • Luật Sư Tư Vấn Báo Cáo Thuế
  • Luật Sư Tư Vấn Điều Kiện Kinh Doanh Karaoke
  • Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam Thời Kỳ Hội Nhập
  • Năm 2022, trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, tuy nhiên nhờ sự ổn định kinh tế vĩ mô, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính, TTCK Việt Nam tiếp tục ổn định, phát triển. Theo đó, các doanh nghiệp niêm yết đăng ký giao dịch đều có lợi nhuận khả quan, tiết mục mở rộng sản xuất, quy mô thị trường ngày càng lớn, hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán ngày càng chuyên nghiệp và là cầu nối quan trọng trong hoạt động thị trường; công tác quản lý, giám sát đều được siết chặt hơn, nhiều vụ việc trên thị trường đã được xử lý nghiêm minh và công bố công khai, mang tính răn đe; thị trường hoạt động đã vào nền nếp, tính tuân thủ ngày càng được nâng cao.

    Trao đổi về định hướng phát triển TTCK năm 2022, ông Phạm Hồng Sơn, Phó Chủ tịch UBCKNN cho biết: Nhằm tiếp tục phát triển TTCK bền vững, trong năm 2022, UBCNNN tập trung 4 một số mục tiêu và 5 giải pháp trọng tâm sau:

    Một là, bảo đảm duy trì sự ổn định và bền vững của TTCK.

    Hai là, tiếp tục triển khai và quyết liệt công tác tái cấu trúc TTCK.

    Ba là, tiếp tục phát triển các sản phẩm mới cho TTCK.

    Bốn là, tăng cường hội nhập quốc tế, triển khai, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế và các giải pháp nâng hạng TTCK.

    iải pháp phát triển thị trường chứng khoán bền vững

    Để có thể thực hiện tốt các mục tiêu đặt ra trong năm 2022, UBCKNN tập trung vào một số giải pháp cụ thể sau:

    Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực quản lý, giám sát: Hoàn thành dự thảo Luật Chứng khoán (sửa đổi); trình Chính phủ, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2019); nghiên cứu, dự thảo các Nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán (sửa đổi). Đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, điều hành TTCK, hoạt động giám sát và cưỡng chế thực thi nhằm bảo đảm an toàn cho TTCK.

    Thứ hai, tăng cung hàng hóa và cải thiện chất lượng nguồn cung:

    Về thị trường cổ phiếu: Tiếp tục đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước từ DN gắn với việc niêm yết và đăng ký giao dịch. Tăng cường rà soát xử lý kịp thời các DN không tuân thủ việc niêm yết/đăng ký giao dịch sau khi đã cổ phần hóa; Triển khai Thông tư số 40/2018/TT-BTC hướng dẫn bán cổ phần lần đầu…; và chuyển nhượng vốn theo phương thức dựng sổ… Cùng với đó, triển khai cơ chế tạo lập thị trường, phát hành Bộ nguyên tắc quản trị công ty (CG code); Tăng cường kiểm tra, giám sát về tính minh bạch các thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty đại chúng về vấn đề sử dụng vốn;

    Về đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán: UBCKNN triển khai sản phẩm chứng quyền có đảm bảo (Covered Warrant) và hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ trong đầu năm 2022. Cùng với đó, nghiên cứu xây dựng các chỉ số mới để làm tài sản cơ sở cho các sản phẩm phái sinh như chỉ số chung của hai Sở (VNXMid/Small, VNX200); chỉ số High Dividend Index, chỉ số QTCT, các chỉ số theo nhu cầu của các Quỹ đầu tư.

    Về hoàn thiện và phát triển thị trường trái phiếu: UBCKNN tập trung triển khai đề án tổ chức giao dịch trái phiếu DN. Theo đó, hoàn thiện phương án tổ chức thị trường trái phiếu DN và xây dựng, ban hành các quy định, quy chế về trái phiếu DN; khuyến khích các công ty đưa trái phiếu lên niêm yết; xây dựng cổng thông tin trái phiếu DN.

    Thứ hai, phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường: Triển khai Đề án tái cấu trúc TTCK và DN bảo hiểm sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tiếp tục tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán để giảm số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ… Đối với công ty quản lý quỹ, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định pháp lý, kiểm soát vấn đề quản lý tách bạch tài sản của các nhà đầu tư ủy thác, kiểm tra chỉ tiêu an toàn tài chính, đưa công ty quản lý quỹ không đáp ứng điều kiện vào tình trạng kiểm soát, kiểm soát đặc biệt…

    Thứ ba, tái cấu trúc tổ chức thị trường, cơ sở hạ tầng, công nghệ: Triển khai các công tác thành lập Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam theo Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 7/1/2019 của Thủ tướng Chính phủ; Hoàn thiện mô hình đối tác bù trừ trung tâm; Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác, quản lý, giám sát TTCK…

    Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát TTCK và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cụ thể như: Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị của UBCKNN, 2 Sở Giao dịch Chứng khoán trong giám sát, phát hiện và xử phạt nghiêm các vi phạm về thao túng, nội gián, các hành vi gian lận, vi phạm về nghĩa vụ báo cáo…

    Thứ năm, triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK Việt Nam từ hạng frontier market lên hạng emerging market trên bảng xếp hạng MSCI và FTSE như: Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đa dạng hóa và gia tăng chất lượng sản phẩm trên thị trường; tăng cường tính công khai, minh bạch; cắt giảm và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các nhà đầu tư…

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Khách Sạn Việt
  • Vietsolutions Mang Tới Giải Pháp Khách Sạn Toàn Diện
  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Chè Của Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Hoạt Động Xuất, Nhập Khẩu Việt Nam
  • 6 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán
  • Luận Văn Khóa Luận Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Môi Giới Chứng Khoán Của Các Công Ty Chứng Khoán Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Khóa Luận Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Môi Giới Chứng Khoán Của Các Công Ty Chứng Khoán Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Giải Pháp Mạng Gpon Cho Chung Cư
  • Giải Pháp Mạng Cho Chung Cư Cao Cấp
  • Một là, hoàn thành Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi, trình Chính phủ, trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, trình Quốc hội xem xét, thông qua vào tháng 10/2019; Dự thảo các Nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán sửa đổi.

    Đồng thời, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, điều hành thị trường chứng khoán, hoạt động giám sát và cưỡng chế thực thi nhằm đảm bảo an toàn cho thị trường chứng khoán.

    Hai là, tăng cung hàng hoá và cải thiện chất lượng nguồn cung. Theo đó, về thị trường cổ phiếu, tiếp tục đẩy mạnh công tác cổ phần hoá, thoái vốn của các doanh nghiệp nhà nước gắn với niêm yết và đăng ký giao dịch; tăng cường rà soát xử lý kịp thời các doanh nghiệp không tuân thủ việc niêm yết/đăng ký giao dịch sau khi đã cổ phần hoá; triển khai Thông tư hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và chuyển nhượng vốn theo phương thức dựng sổ.

    Đồng thời, nghiên cứu dịch vụ quản lý tài sản thế chấp tập trung và hoạt động giao dịch bảo đảm tại Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam; triển khai cơ chế tạo lập thị trường, phát hành Bộ nguyên tắc quản trị công ty; nghiên cứu triển khai nghiệp vụ giao dịch trong ngày và thanh toán chứng khoán chờ về.

    Bên cạnh đó, tăng cường kiểm tra, giám sát về tính minh bạch các thông tin trong Báo cáo tài chính của các công ty đại chúng vấn đề sử dụng vốn, công bố thông tin và quản trị công ty; nghiên cứu, tham gia xây dựng, triển khai Đề án áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Việt Nam.

    Dự kiến năm 2022, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước sẽ triển khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm và hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ. Đồng thời, triển khai nghiên cứu xây dựng các chỉ số mới để làm tài sản cơ sở cho các sản phẩm phái sinh.

    Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện tổ chức thị trường trái phiếu doanh nghiệp và xây dựng, ban hành các quy định, quy chế về trái phiếu doanh nghiệp; khuyến khích các công ty đưa trái phiếu lên niêm yết; xây dựng cổng thông tin trái phiếu doanh nghiệp.

    Ba là, phát triển, nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường. Theo đó, triển khai Đề án tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tiếp tục tái cấu trúc hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán để giảm số lượng, nâng cao chất lượng dịch vụ; thực hiện giám sát dự vào rủi ro trên cơ sở quy chế hướng dẫn phân loại và cảnh báo sớm các tổ chức kinh doanh chứng khoán.

    Đồng thời, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định pháp lý, kiểm soát vấn đề quản lý tách bạch tài sản của nhà đầu tư uỷ thác, kiểm tra chỉ tiêu an toàn tài chính, đưa các công ty quản lý quỹ không đáp ứng điều kiện vào tình trạng kiểm soát, kiểm soát đặc biệt.

    Bốn là, tái cấu trúc tổ chức thị trường, cơ sở hạ tầng, công nghệ: Nghiên cứu việc tái cấu trúc các Sở Giao dịch Chứng khoán và phát triển, phân định các khu vực thị trường.

    Cùng với đó, chỉ đạo và phối hợp với Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam hoàn thiện mô hình đối tác bù trừ và quyết toán chứng khoán với hệ thống thanh toán liên ngân hàng để thực hiện thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán khác; hoàn thiện, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, giám sát thị trường chứng khoán.

    Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát thị trường chứng khoán và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về thao túng, nội gián, hành vi gian lận, vi phạm về nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin.

    Sáu là, triển khai các giải pháp nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ hạng thị trường cận biên lên hạng thị trường mới nổi trên bảng xếp hạng MSCI và FTSE.

    Tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2022, triển khai công tác năm 2022 của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, ông Phạm Hồng Sơn, Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, năm 2022, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã tiếp tục trao đổi thường xuyên với MSCI và FTSE để cập nhật thông tin, giải đáp cụ thể về những nội dung còn chưa rõ ràng, giúp MSCI và FTSE đánh giá xác thực hơn về thị trường chứng khoán Việt Nam.

    “Kết quả đánh giá sơ bộ của FTSE tháng 9/2018 cho thấy, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đủ tiêu chuẩn để được nâng hạng từ hạng thị trường cận biên lên hạng thị trường mới nổi”, ông Phạm Hồng Sơn chia sẻ.

    Thời gian tới, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài như: Tháo gỡ vướng mắc trong việc tăng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc ban hành Luật Chứng khoán sửa đổi; Tăng cường tính công khai, minh bạch hoá trên thị trường chứng khoán, đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin của nhà đầu tư nước ngoài; Tiếp tục cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

    PL

    Nguồn: MOF

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn Tự In (Điều Kiện, Thủ Tục Đăng Ký, Mẫu)
  • Quản Lý Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tncn Tự In Trên Máy Tính : Hướng Dẫn Từ Bộ Tài Chính
  • Điều Kiện, Thủ Tục Để Cấp Chứng Từ Khấu Trừ Thuế Tự In
  • Ba Giải Pháp Phong Thủy Cho Căn Hộ Chung Cư
  • Giải Pháp Phong Thủy Cho Căn Hộ Chung Cư
  • Dự Phòng Giải Pháp Mạnh Cho Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Thuế Cho Doanh Nghiệp
  • Luật Sư Tư Vấn Báo Cáo Thuế
  • Luật Sư Tư Vấn Điều Kiện Kinh Doanh Karaoke
  • Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam Thời Kỳ Hội Nhập
  • Thực Trạng Nguồn Nhân Lực Của Việt Nam Hiện Nay
  • TTCK toàn thế giới đã giảm từ trên 10% đến gần 40% kể từ mức đỉnh đầu năm 2022 đến cuối tuần qua. Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan… đã công bố thực thi các chính sách tiền tệ, tài khóa mạnh và giải pháp cho TTCK.

    Tại Việt Nam, VN-Index đến nay đã giảm 30,4% vì đại dịch, câu hỏi nhà đầu tư đau đáu nhất lúc này là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Chính phủ đang và chuẩn bị những giải pháp gì cho TTCK Việt Nam?

    Ứng phó với dịch bệnh, hành động của Chính phủ và UBCK các nước Khác với 2 cuộc khủng hoảng xảy ra năm 2000 và 2008, là những khủng hoảng bắt nguồn từ yếu tố tài chính – tiền tệ nên hệ thống tài chính – tiền tệ chịu tác động mạnh đầu tiên, cuộc khủng hoảng hiện nay lại bắt nguồn từ dịch bệnh, dẫn đến suy thoái kinh tế do chuỗi cung ứng toàn cầu bị phá vỡ.

    Các doanh nghiệp vùng dịch ngừng sản xuất, các nước áp dụng nhiều biện pháp mạnh đóng cửa biên giới, cấm xuất nhập cảnh… để phòng ngừa dịch bệnh, khiến sản xuất – kinh doanh bị đình trệ trên phạm vi toàn thế giới, từ đó tác động mạnh đến cung – cầu, gây nên các cú sốc về cả tổng cung và tổng cầu.

    TTCK vốn được coi là “phong vũ biểu” của mỗi nền kinh tế, nên chịu tác động của dịch bệnh, các TTCK đều rơi. Dow Jones (Mỹ) giảm 28,3%, Nikkei 225 (Nhật) giảm 18,8%, KOSPI (Hàn Quốc) giảm 24,8%, Hang Seng (Hồng Kông) giảm 19%, FTSE 100 (Anh) giảm 25,9%, SET (Thái Lan) giảm 32,5%, PSEI (Philippines) giảm 35,9%…

    Riêng thị trường Trung Quốc không sụt giảm quá mạnh do về cơ bản đã kiểm soát được dịch bệnh, chỉ số Shanghai hiện chỉ giảm 10,7%.

    Các nước đã và đang ứng xử với hiện trạng trên như thế nào? Tính đến cuối tháng 3, Chính phủ nhiều nước đã tung ra không ít giải pháp, cả chính sách tiền tệ và tài khóa, để hỗ trợ nền kinh tế, hỗ trợ hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp – là đối tượng chịu tác động trực tiếp của dịch bệnh.

    Các gói kích thích tiền tệ chủ yếu nhằm vào các nội dung tăng cung tiền trong lưu thông, giảm lãi suất điều hành và giãn nợ cho doanh nghiệp.

    Cụ thể tại TTCK Philippines, cơ quan quản lý thông báo đóng cửa TTCK ngày 17/3 và cơ quan quản lý TTCK Palestin thông báo đóng cửa Sở GDCK Palestin từ ngày 22/3. Tuy nhiên, trước sức ép lớn của nhà đầu tư, TTCK Philippines phải tiếp tục mở cửa trở lại sau 2 ngày (19/3) và ngay lập tức bị sụt giảm tiếp 24%.

    Các thị trường khác áp dụng nhiều giải pháp khác nhau để duy trì hoạt động của TTCK. Chẳng hạn, Tây Ban Nha ra chỉ thị cấm bán khống đối với 69 loại cổ phiếu; Italia, Anh cấm bán khống đối với số loại sản phẩm; Hàn Quốc tạm dừng bán khống trong vòng 6 tháng; Ðài Loan xem xét giải pháp cấm toàn bộ hoạt động bán khống…

    Một số thị trường cho phép kéo dài thời hạn nộp báo cáo tài chính theo quy định, như UBCK Mỹ cho phép gia hạn việc nộp báo cáo tài chính của các công ty đại chúng trong vùng ảnh hưởng của dịch bệnh thêm 45 ngày.

    Cơ quan Quản lý tài chính Anh (FCA) cho phép gia hạn trước mắt là 2 tháng. UBCK Italia cho phép hoãn nộp báo cáo tài chính thường niên của các tổ chức phát hành cho đến khi có thông báo mới.

    Cùng với đó, nhà quản lý TTCK các nước cũng cho phép gia hạn thời gian tổ chức các cuộc họp đại hội đồng cổ đông và khuyến khích doanh nghiệp niêm yết mua cổ phiếu quỹ để bình ổn giá.

    Chẳng hạn, Cơ quan dịch vụ tài chính Indonesia cho phép các công ty niêm yết mua cổ phiếu quỹ đến 20% tổng vốn góp mà không cần có sự thông qua trước của đại hội đồng cổ đông, Ủy ban Giám sát dịch vụ tài chính Ðài Loan (FSC) khuyến nghị các công ty mua lại cổ phiếu quỹ.

    Trong bối cảnh đại dịch, các dịch vụ trực tuyến và từ xa như tổ chức đại hội đồng cổ đông trực tuyến, biểu quyết từ xa (evoting), tổ chức họp trực tuyến đều được các thị trường thúc đẩy thực hiện. Nhiều nước cũng miễn, giảm các loại phí, lệ phí trên thị trường để hỗ trợ thành viên và nhà đầu tư.

    Việt Nam, dự phòng giải pháp mạnh cho TTCK

    Quan sát của Ðầu tư Chứng khoán cho thấy, kể từ khi dịch bệnh bắt đầu có ảnh hưởng tiêu cực trên TTCK đến nay, có 3 giải pháp được áp dụng.

    Thứ nhất, Chủ tịch UBCK Trần Văn Dũng khẳng định việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ mua cổ phiếu quỹ của các doanh nghiệp (DN) từ 7 ngày xuống còn 1 ngày, để hỗ trợ DN thực hiện nhanh giải pháp mua vào cổ phiếu của chính mình khi giá rơi quá xa so với giá trị nội tại của DN.

    Thứ hai, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 14/2020/TT-BTC ngày 18/3/2020, trong đó giảm giá và miễn hoàn toàn không thu đối với 15 loại dịch vụ chứng khoán.

    Thứ ba, UBCK đã có hướng dẫn các DN niêm yết gia hạn thời gian tổ chức đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2022, tổ chức đại hội trực tuyến và đảm bảo yêu cầu phòng chống dịch Covid-19.

    Các giải pháp được đưa ra khá nhanh, nhưng thực tế TTCK vẫn rơi mạnh mẽ cho thấy, tâm lý hoảng loạn của nhà đầu tư vẫn bao trùm lên toàn thị trường. Ðây cũng là tâm lý chung của nhà đầu tư tài chính toàn cầu.

    Về phía nhà đầu tư, đã có nhiều đề xuất được nêu ra về giải pháp nhà quản lý cần làm để giảm tác hại của đại dịch.

    Ông Dominic Scriven, Tổng giám đốc Dragon Capital cho rằng, sẽ khó có giải pháp thay đổi tình thế, nhưng lúc này, nhà quản lý nên tập trung giải quyết các vấn đề nền tảng của TTCK, như soạn thảo các nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán một cách tốt nhất và tập trung tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia TTCK Việt Nam.

    Tổng giám đốc CTCK Bảo Việt, ông Nhữ Ðình Hòa cho rằng, trong hoàn cảnh nào thì sự minh bạch và thanh khoản của thị trường cũng là những yếu tố tạo ra sự yên tâm cho nhà đầu tư.

    Do vậy, các giải pháp dài hạn cần hướng đến sự phát triển bền vững, còn trong ngắn hạn cần sự hỗ trợ đến nhà đầu tư, hỗ trợ các thành viên thị trường.

    Các giải pháp cần thực hiện là đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống công nghệ, cải thiện nền tảng giao dịch, thanh toán bù trừ, đề xuất phương án để giảm hoặc miễn thuế giao dịch chứng khoán, thuế cổ tức cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian.

    Cùng với đó, cần mở rộng khả năng tiếp cận vốn để mua chứng khoán của nhà đầu tư như kéo dài hợp đồng vay ký quỹ (margin), hạ tỷ lệ ký quỹ…

    Vậy về phía nhà quản lý, sau những giải pháp đã công bố, tiếp theo sẽ là gì?

    Về vấn đề này, cơ quan quản lý TTCK nêu quan điểm, sự sụt giảm của TTCK Việt Nam hiện nay chủ yếu là do tác động trực tiếp của dịch bệnh làm suy giảm tăng trưởng của doanh nghiệp niêm yết, đồng thời do tâm lý bất an của nhà đầu tư trong bối cảnh dịch bệnh.

    Diễn biến của thị trường phụ thuộc phần lớn vào khả năng kiểm soát dịch bệnh, sự hỗ trợ từ các chính sách kích thích để hỗ trợ doanh nghiệp và việc ổn định tâm lý của nhà đầu tư.

    Theo đó, quan điểm điều hành TTCK trong giai đoạn hiện nay là đảm bảo hoạt động liên tục, thông suốt, an toàn, minh bạch trên cơ sở tôn trọng quy luật quan hệ cung cầu, hạn chế tối đa can thiệp hành chính và kỹ thuật vào thị trường.

    Cùng với đó, sẽ tăng cường theo dõi giám sát các diễn biến của thị trường để kịp thời đưa thông tin chính thống, minh bạch; trấn an tâm lý nhà đầu tư.

    Thực tế, TTCK Việt Nam giảm mạnh, song khác với giai đoạn 2008, ngay cả những phiên giảm điểm mạnh nhất, thanh khoản trên 3 sàn vẫn duy trì ở mức 6.000 tỷ đồng/phiên. Ðiều đó có nghĩa là thị trường vẫn còn lực cầu tốt.

    Nhiều ý kiến nhà đầu tư cho rằng, nhà quản lý nên xem xét thu hẹp biên độ dao động giá, nhưng quan điểm của Bộ Tài chính là chưa cần thiết phải điều chỉnh biên độ giá trong bối cảnh hiện nay.

    Tuy nhiên, cơ quan này cho biết sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của thị trường để cân nhắc áp dụng khi thực sự cần thiết.

    Về dòng tiền margin, thống kê của UBCK cho biết, tổng mức dư nợ ký quỹ trên TTCK giảm dần đều, giảm gần 7.000 tỷ đồng so với cuối năm 2022.

    Việc nới tỷ lệ margin không phải là giải pháp ưu tiên trong bối cảnh hiện tại, thay vào đó, nhà quản lý TTCK nghiêng về phương án kiến nghị tăng hạn mức tín dụng cho ngành chứng khoán, khi hiện nay, dư nợ của ngân hàng cho vay kinh doanh chứng khoán mới ở mức thấp, chưa tới 30.500 tỷ đồng, chỉ chiếm 0,37% tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành ngân hàng.

    Một số giải pháp cũng đang được nhà quản lý nghiên cứu, đề xuất Chính phủ xem xét chỉ đạo như việc chỉ đạo Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tổng công ty Ðầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và các tập đoàn kinh tế nhà nước nghiên cứu, sử dụng nguồn tiền mặt chưa sử dụng thực hiện mua vào cổ phiếu của một số DN lớn, quan trọng, hoạt động hiểu quả khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp xuống sâu hơn giá trị nội tại.

    Người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này đề xuất hội đồng quản trị thực hiện mua cổ phiểu quỹ. Những giải pháp này có khả năng hỗ trợ sức cầu và tâm lý thị trường. Tuy nhiên, giải pháp chỉ được thực thi khi Thủ tướng chấp thuận.

    Ðược biết, Bộ Tài chính cũng kiến nghị Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép một số DN chịu ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh được lùi thời hạn nộp các báo cáo tài chính theo Luật Kế toán, lùi thời hạn tổ chức họp đại hội đồng cổ đông theo Luật Doanh nghiệp để hỗ trợ DN trong thời gian dịch bệnh.

    Cùng với đó là việc sớm xem xét cho phép DN có vốn đầu tư nước ngoài đủ điều kiện được niêm yết/đăng ký giao dịch trên TTCK để tạo tác động tích cực tới tâm lý của nhà đầu tư nước ngoài về môi trường đầu tư của Việt Nam, nhất là thời điểm hiện nay.

    Theo báo Đầu Tư Chứng Khoán

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Bền Vững
  • 9 Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Khách Sạn Việt
  • Vietsolutions Mang Tới Giải Pháp Khách Sạn Toàn Diện
  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Chè Của Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Chính Phủ Tại Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn, Tài Chính Việt Nam
  • Luận Văn Luận Án Đánh Giá Thực Trạng Và Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Tại Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Vốn Ở Việt Nam
  • Tiếp Tục Phát Triển Thị Trường Vốn Cả Về Chiều Rộng Và Chiều Sâu
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Gạo Bền Vững
  • TÓM TẮT: Trong xu thế hội nhập và mở cửa nền kinh tế, phát triển thị trường trái phiếu để huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) đang được các quốc gia quan tâm bởi những tác động tích cực của nó đến nền kinh tế. Phát triển thị trường TPCP có ảnh hưởng không nhỏ đến việc khuyến khích tiết kiệm và thu hút nguồn vốn đầu tư trong toàn xã hội, góp phần điều chỉnh quan hệ cung cầu tiền tệ. Thị trường TPCP còn là một công cụ hiệu quả để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Phát triển thị trường TPCP về các sản phẩm trái phiếu mới; về hệ thống nhà đầu tư, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân hàng thương mại, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh sự minh bạch hóa thông tin, tiếp tục hiện đại hóa công nghệ thông tin là những vấn đề cần thiết hiện nay.

    TỪ KHÓA: Trái phiếu Chính phủ, thị trường trái phiếu Chính phủ.

    ABSTRACT: There has been a trend of integration and opening up in the economy, the development of the bond market to raise capital through the issuance of government bonds is being considered because of its positive effects on the economy. The development of the government bond market has had a considerable impact on encouraging savings and attracting capital investment in the society, contributing to the adjustment of monetary and supply-side relations. The government bond market is also an effective tool to regulate the macro economy. Developing new bond products; system of investors, gradually reducing dependence on commercial banks, attracting foreign investors; promoting information transparency, continuing to modernize information technology are the necessary issues in the market now.

    KEYWORDS: Government bonds, government bond markets.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra mua bán các loại TPCP nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vốn đầu tư của các chủ thể trong xã hội. TPCP phát hành có nhiều kỳ hạn khác nhau, khối lượng phát hành và giao dịch mỗi lần tương đối lớn nên có tác động không nhỏ đến t

    hị trường tài chính và đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, cùng với việc phát hành TPCP của các cơ quan chính phủ, các cơ quan địa phương góp phần làm phong phú khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển và tạo hàng hóa cho thị trường vốn. Phát triển thị trường TPCP là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu phát triển của quốc gia và là công cụ để điều chỉnh nền kinh tế cần được quan tâm. Trong bài báo, tác giả sẽ đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP để khai thác những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế.

    2. NỘI DUNG 2.1. TPCP và thị trường TPCP * Lợi ích của TPCP

    Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

    TPCP là trái phiếu được phát hành bởi chính phủ một quốc gia. Những trái phiếu này được phát hành nhằm bù đắp sự thiếu hụt ngân sách nhà nước, để xây dựng các công trình công cộng hoặc để giải quyết những khó khăn về tài chính, ổn định nền kinh tế vĩ mô.

    Đầu tư TPCP sẽ mang lại cho người đầu tư một khoản lãi suất ổn định và không phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Lãi suất có thể thấp hơn tiền gửi ngân hàng nhưng độ an toàn cao, ít rủi ro do TPCP được đảm bảo chắc chắn bởi uy tín của chính phủ và tài sản của quốc gia. TPCP có tính thanh khoản cao. Người đầu tư có khả năng cầm cố và chuyển nhượng TPCP để chuyển thành tiền trên thị trường thứ cấp một cách dễ dàng. Lợi ích này vượt trội hơn hẳn so với đầu tư trên thị trường bất động sản. TPCP là công cụ an toàn, khối lượng phát hành lớn, có nhiều ưu đãi, do đó TPCP là kênh đầu tư quan trọng của những trung gian tài chính có nguồn tiền lớn, đòi hỏi tính an toàn trong đầu tư như các công ty bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí tự nguyện…

    * Các yếu tố cơ bản của TPCP

    TPCP cũng như các loại trái phiếu khác, có 4 yếu tố cơ bản cấu thành: Mệnh giá, lãi suất, kỳ hạn và giá phát hành.

    Mệnh giá: Là giá trị ghi trên trái phiếu, nó xác định tổng số tiền gốc mà trái chủ được nhận cho tới hết thời hạn của trái phiếu. Mệnh giá là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả.

    Lãi suất: Là yếu tố xác định quyền lợi về thu nhập định kỳ cho người sở hữu trái phiếu (chủ nợ). Lãi suất thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bố trong đợt phát hành. Lãi suất được xác định theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá của trái phiếu. Lãi suất trái phiếu là một trong những yếu tố cơ bản của trái phiếu, là yếu tố quan tâm của nhà đầu tư trái phiếu. Lãi suất trái phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn trái phiếu, chỉ số lạm phát và những biến động của thị trường.

    Kỳ hạn: Là độ dài thời gian cho đến khi người phát hành trái phiếu trả lại toàn bộ tiền gốc cho trái chủ và nhận lại trái phiếu. Ngày hoàn trả lại tiền gốc trái phiếu lần cuối gọi là ngày đáo hạn. Ngày đáo hạn còn là cơ sở quan trọng để xác định các kỳ trả lãi.

    Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường, giá phát hành được phát hành theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá. Tùy theo tình hình của người phát hành và tình hình thị trường mà giá phát hành được ấn định một cách hợp lý. Giá phát hành có 3 trường hợp: Giá phát hành thấp hơn mệnh giá, giá phát hành ngang bằng mệnh giá, giá phát hành lớn hơn mệnh giá.

    * Thị trường TPCP

    Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường chứng khoán nói riêng và của thị trường tài chính nói chung. Thị trường TPCP là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi TPCP, việc này diễn ra cả trên thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch (thị trường thứ cấp). TPCP là một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành. Vì vậy, thị trường TPCP được coi là thị trường nợ.

    Thị trường sơ cấp là thị trường để thực hiện việc phát hành mới các loại TPCP. Thị trường sơ cấp là nơi cung cấp vốn, thông qua hoạt động của thị trường này, những luồng tiền nhàn rỗi trong dân chúng và các tổ chức kinh tế – xã hội có thể chuyển được thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán. Thị trường này hoạt động không liên tục, chỉ hoạt động khi có đợt phát hành trái phiếu mới.

    Thị trường thứ cấp là nơi mua bán các loại trái phiếu đã phát hành trước đó. Hoạt động của thị trường thứ cấp tạo ra khả năng dễ dàng, thuận tiện chuyển đổi trái phiếu thành tiền. Trên thị trường này diễn ra việc mua bán TPCP giữa các nhà đầu tư, tiền thu được từ việc bán trái phiếu không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán trái phiếu nhường lại quyền sở hữu trái phiếu cho nhà đầu tư khác.

    Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; nếu không có thị trường sơ cấp thì không có hàng hóa lưu thông trên thị trường thứ cấp; nếu không có thị trường sơ cấp thì thị trường thứ cấp khó có thể hoạt động hiệu quả và phát triển.

    2.2. Thực trạng thị trường TPCP tại Việt Nam hiện nay

    Hiện nay tại Việt Nam, các nhà đầu tư mua bán TPCP trên hai thị trường truyền thống: Thị trường sơ cấp (mua trái phiếu trong đợt phát hành lần đầu) và thị trường thứ cấp (việc mua bán trái phiếu của những người đang nắm giữ).

    Theo số liệu thống kê được công bố trên trang chúng tôi tháng 01/2018, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã tổ chức 12 phiên đấu thầu, huy động được tổng cộng 19365 tỷ đồng trái phiếu, tăng 63.3% so với tháng 12/2017. Tất cả trái phiếu trúng thầu trong tháng 01/2018 đều do Kho bạc Nhà nước phát hành với tỷ lệ giá trị trúng thầu so với giá trị gọi thầu đạt 97.3%. Khối lượng đặt thầu của tháng 01 cao gấp 4.2 lần khối lượng gọi thầu. Theo đó, lãi suất trúng thầu của trái phiếu kỳ hạn 5 năm là 4.30%/năm, 7 năm là 4.35%/năm, 10 năm trong khoảng 4.38 – 5.15%/năm, 15 năm trong khoảng 4.50 – 5.20%/năm, 20 năm là 5.20%/năm, 30 năm là 5.40%/năm. So với cuối năm 2022, lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước giảm trên tất cả các kỳ hạn, theo đó kỳ hạn 5 năm giảm 0.22%/năm, 10 năm giảm 0.27%/năm, 20 năm giảm 0.82%/năm, 30 năm giảm 0.70%/năm.

    Trên thị trường TPCP thứ cấp, tháng 01/2018, tổng khối lượng giao dịch TPCP theo phương thức giao dịch thông thường (outright) đạt hơn 1.06 tỷ trái phiếu, tương đương với giá trị giao dịch đạt hơn 118 nghìn tỷ đồng, tăng 4.3% về giá trị so với tháng 12/2017. Tổng khối lượng giao dịch TPCP theo phương thức giao dịch mua bán lại (repos) đạt hơn 1.15 tỷ trái phiếu, tương đương với giá trị giao dịch đạt hơn 118 nghìn tỷ đồng, giảm 2.6% về giá trị so với tháng 12/2017. Giá trị giao dịch mua outright của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) đạt hơn 8.9 nghìn tỷ đồng, giá trị giao dịch bán outright của NĐTNN đạt hơn 8.1 nghìn tỷ đồng. Giá trị giao dịch mua repos của NĐTNN đạt hơn 220 tỷ đồng, giá trị giao dịch bán repos của NĐTNN đạt hơn 247 tỷ đồng. Nhìn lại hoạt động của thị trường TPCP năm 2022 có thể thấy những điểm mạnh sau đây:

    Về khung khổ pháp lý: Trong năm 2022, khung khổ pháp lý về phát triển thị trường trái phiếu nói chung, thị trường TPCP nói riêng đã tiếp tục được hoàn thiện từ cấp nghị định đến thông tư hướng dẫn. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 1911/QĐ-TTg năm 2022 lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2022 – 2022, tầm nhìn đến năm 2030. Hiện nay, việc điều chỉnh thị trường TPCP thực hiện theo quy định tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, Thông tư số 111/2015/TT-BTC hướng dẫn về phát hành TPCP, Thông tư số 234/2012/TT-BTC hướng dẫn giao dịch TPCP, Thông tư số 150/2011/TT-BTC ngày 9/11/2011 về hướng dẫn hoán đổi TPCP, Thông tư liên tịch số 92/2016/TTLT-BTC-NHNN ngày 27/6/2016 hướng dẫn phát hành tín phiếu kho bạc qua Ngân hàng Nhà nước. Các văn bản pháp lý hướng dẫn đã quy định rõ về quy trình thủ tục phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch TPCP nhằm tăng tính công khai minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư tham gia trên thị trường.

    Về tổ chức thị trường: Trong giai đoạn đầu của thị trường, khi thị trường chứng khoán chưa phát triển và sự tham gia của nhà đầu tư có tổ chức còn hạn chế, Bộ Tài chính chủ yếu phát hành trực tiếp TPCP cho người dân theo phương thức bán lẻ nhưng khối lượng phát hành thấp.

    Khi thị trường chứng khoán đã phát triển ở mức độ nhất định và đã hình thành nhiều nhà đầu tư có tổ chức chuyên nghiệp, Bộ Tài chính đã chuyển dần phát hành TPCP trực tiếp cho người dân theo phương thức bán lẻ sang phát hành TPCP cho các nhà đầu tư có tổ chức theo phương thức đấu thầu. Đặc biệt năm 2009, Sàn Giao dịch chứng khoán được thành lập, TPCP được tổ chức đấu thầu và niêm yết, giao dịch tập trung qua sàn giao dịch để tăng tính thanh khoản của thị trường; đăng ký lưu ký tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, Bộ Tài chính đã hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin trên thị trường để đảm bảo hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu diễn ra thông suốt; rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết trái phiếu tạo thanh khoản trên thị trường. Trong giai đoạn này, việc huy động vốn TPCP đã đạt hiệu quả cao hơn so với giai đoạn trước đây.

    Về cơ cấu nhà đầu tư: Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường tập trung chủ yếu là các ngân hàng thương mại nắm giữ khoảng 77% khối lượng TPCP. Các nhà đầu tư khác (công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài…) nắm giữ khoảng 23% khối lượng TPCP. Tuy nhiên thời gian qua, Bộ Tài chính đã thực hiện đầy đủ các giải pháp để phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường để giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại và xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

    Về tổ chức trung gian tài chính: Từ năm 2012, theo quy định của Nghị định số 01/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 17/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành TPCP tại thị trường trong nước, đã hình thành hệ thống thành viên đấu thầu TPCP với quyền lợi, nghĩa vụ cơ bản như khối lượng mua TPCP tối thiểu, cam kết niêm yết giá chào mua chào bán… Hiện nay, hệ thống thành viên đấu thầu của Việt Nam gồm có 24 thành viên với 18 ngân hàng thương mại, 6 công ty chứng khoán. Bộ Tài chính tiếp tục phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường với nền tảng là các thành viên đấu thầu TPCP hiện nay với đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi tương tự như các nước trên thế giới.

    Về khối lượng: Trong năm 2022, Kho bạc Nhà nước đã thành công trong việc phát hành trái phiếu dài hạn 20 năm, 30 năm với lợi suất trúng thầu giảm sâu. Kho bạc Nhà nước đã huy động được 182462 tỷ đồng trái phiếu. Nếu như các năm trước, Kho bạc Nhà nước hoặc là giữ nguyên, hoặc là điều chỉnh tăng kế hoạch phát hành thì năm 2022 lại điều chỉnh giảm kế hoạch phát hành từ mức 183.4 nghìn tỷ đồng xuống còn 169.3 nghìn tỷ đồng, vào tháng 11/2017. Đây là một dịch chuyển hết sức tích cực, đặc biệt trong bối cảnh mối lo về nợ công gia tăng nhanh trong những năm gần đây.

    Về phương thức phát hành: Toàn bộ khối lượng trái phiếu phát hành ra thị trường trong năm 2022 thực hiện theo phương thức đấu thầu qua Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (đối với trái phiếu) và Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (đối với tín phiếu). Vì vậy, kế hoạch, lịch biểu, thông tin về đợt phát hành, kết quả phát hành, thanh toán TPCP được công khai minh bạch tới tất cả các nhà đầu tư.

    2.3. Một số giải pháp phát triển thị trường TPCP tại Việt Nam hiện nay

    Trên cơ sở thực trạng và sự cần thiết về phát triển thị trường TPCP như trên, tác giả đã đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP như sau:

    Nhóm thứ nhất: Hoàn thiện cơ chế chính sách, khuôn khổ pháp lý

    – Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý để đảm bảo phù hợp với sự phát triển của thị trường trái phiếu và thông lệ quốc tế;

    – Đẩy mạnh minh bạch hóa thông tin, tiếp tục hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin thông qua xây dựng trang thông tin điện tử chuyên biệt cho thị trường trái phiếu để rút ngắn quy trình từ đấu thầu đến giao dịch trái phiếu nhằm tăng thanh khoản trên thị trường thứ cấp;

    – Tập trung phát triển và hoàn thiện hệ thống chỉ báo thị trường, đặc biệt là các chỉ báo về đường cong lợi suất, chỉ số trái phiếu. Riêng với mục tiêu thu hút nhà đầu tư nước ngoài, việc hoàn thiện các chỉ báo định lượng này có ý nghĩa rất quan trọng.

    Nhóm giải pháp thứ hai: Đa dạng hóa sản phẩm và sự hỗ trợ nhà đầu tư khi họ tham gia thị trường

    – Tạo dựng niềm tin lâu dài và ổn định cho nhà đầu tư. Trên thị trường TPCP, Chính phủ là người đi vay và người cho vay chính là các nhà đầu tư (trong nước và quốc tế). Do vậy, Chính phủ cần tiếp tục kiên định, đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nâng cao chất lượng nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư công nói riêng, tạo lập sự ổn định của kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện hiệu quả sử dụng vốn TPCP, qua đó nâng cao uy tín, xếp hạng tín nhiệm của Chính phủ trong nước cũng như trên trường quốc tế;

    – Phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường như quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm…, giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại và xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài;

    – Phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cơ sở hệ thống thành viên đấu thầu TPCP với các nghĩa vụ và quyền lợi đầy đủ tương tự như các nước trên thế giới;

    Phát triển các sản phẩm trái phiếu mới trên thị trường cũng như các công cụ phòng ngừa rủi ro để thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước như xây dựng và phát triển các sản phẩm trái phiếu phái sinh như hợp đồng kỳ hạn… để phòng ngừa rủi ro trên thị trường trái phiếu;

    – Tạo lập kênh đối thoại thường xuyên với nhà đầu tư. Các hội nghị, hội thảo, đối thoại định kỳ được thực hiện hàng quý nhằm chuyển tải thông tin, định hướng chính sách, giới thiệu, quảng bá thị trường TPCP để chuyển tải thông tin tới nhà đầu tư tiềm năng cũng như nắm bắt nhu cầu, giải quyết vướng mắc kịp thời;

    – Phát hành TPCP trên thị trường vốn quốc tế. Đề án phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế đã được Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài chính cần phối hợp tổ chức phát hành thành công.

    3. KẾT LUẬN

    Năm 2022, với việc chính sách tài khóa đã được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ công có xu hướng giảm nhẹ, thị trường TPCP phát triển mạnh mẽ. Năm 2022 tiếp tục được kỳ vọng là một năm phát triển mạnh mẽ của thị trường TPCP Việt Nam trên cơ sở môi trường vĩ mô ổn định và kỳ vọng về khả năng kết hợp hiệu quả, linh hoạt và nhịp nhàng hơn trong điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Phát triển thị trường TPCP nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô, tạo nguồn vốn cho ngân sách nhà nước, tác động mạnh mẽ đến thị trường vốn, là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả của các nhà đầu tư. Với những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế, các giải pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu luôn và cần được quan tâm, chú trọng o

    Tài liệu tham khảo

    . PGS. TS. Vũ Văn Ninh (2015), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB. Tài chính.

    . PGS. TS. Lê Văn Tề, TS. Nguyễn Văn Hà, TS. Nguyễn Đắc Sinh (2015), Thị trường chứng khoán tại Việt Nam, NXB. Thống kê.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gỡ ‘nút Thắt’ Thị Trường Mua Bán Nợ Xấu
  • Những Giải Pháp Tạo Lập Thị Trường Mua Bán Nợ
  • Phát Triển Thị Trường Mua, Bán Nợ Xấu Tập Trung Giải Pháp Bền Vững Cho Xử Lý Nợ Xấu Tại Việt Nam
  • 6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm Tại Công Ty Giầy Thượng Đình
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100