Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

--- Bài mới hơn ---

  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Bình đẳng giới trong gia đình được thể hiện như thế nào? Trên thực tế vấn đề này được đảm bảo thực hiện ra sao?

    Dưới góc độ khoa học pháp lý, bình đẳng giới trong gia đình là việc vợ và chồng, con trai và con gái, các thành viên nam và nữ trong gia đình có vị trí, vai trò ngang nhau, quyền được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình như nhau, quyền được thụ hưởng về thành quả phát triển của gia đình và xã hội ngang nhau, quyền được tham gia quyết định các vấn đề của bản thân và của gia đình. Trên cơ sở các quyền đó, các thành viên trong gia đình được tự do tham gia vào các công việc gia đình và ngoài xã hội tùy theo khả năng và sở thích của mình, được tự do lựa chọn những vai trò giống nhau hoặc khác nhautrong gia đình tùy theo mục đích của mỗi người, được tự do lựa chọn cách thức thụ hưởng các thành quả tùy theo sở thích của mỗi người. Tuy nhiên, bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau, do đặc điểm sinh học khác nhau và tính chất vai trò khác nhau mà sẽ có những sự bình đẳng thực chất phù hợp với từng cá nhân trong gia đình.

    Vai trò, ý nghĩa của bình đẳng giới trong gia đình

    Phụ nữ bình đẳng với nam giới không chỉ góp sức cho xã hội giàu mạnh, văn minh mà trong gia đình là ngọn nguồn của hạnh phúc, đã sản sinh và nuôi dưỡng thế hệ trẻ tốt đẹp. Bình đẳng nam nữ là nền tảng văn hoá của con người, của gia đình và hạnh phúc. Vai trò của phụ nữ được phát huy bình đẳng trong xã hội và trong gia đình, mang một ý nghĩa lớn đối với sự giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và truyền thống văn hoá của dân tộc. Văn hoá gia đình là nền tảng của văn hoá xã hội, ở đó vai trò của người phụ nữ với chức năng sàng lọc và giữ gìn văn hoá dân tộc mang ý nghĩa đặc biệt. Để phụ nữ làm được chức năng quan trọng này với gia đình và dân tộc, trước hết họ phải được bình đẳng để tiến bộ và theo kịp thời đại. Trong cuộc sống đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta lấy dân làm gốc, lấy việc trồng người để mưu cầu lợi ích trăm năm. Trồng người là sự nghiệp tạo dựng thế hệ công dân mới có đức, có tài, thể lực tốt mà gia đình là cái nôi ban đầu và người mẹ đồng thời cũng là người thầy dạy con ngay từ thời mới còn chập chững. Không phải ngẫu nhiên mà phương Đông ta đề cao Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Nguyễn Du có câu “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Trong dân gian truyền tụng câu “Làm mẹ phải biết để đức cho con”, đức thuộc phạm trù văn hoá.

    Người mẹ ViệtNam thời đại hôm nay đứng trước sứ mệnh sàng lọc và truyền nối để bảo vệ nền văn hoá dân tộc, trước tiên gia đình mình phải là người có đức, có trí, có lực. Họ phải được bình đẳng thì mới đạt được những chuẩn mực mang nội dung thời đại để từ đó xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dưỡng con cái trở thành con người mới, công dân mới xã hội chủ nghĩa. Trong gia đình, vợ chồng thương yêu, tôn trọng lẫn nhau thì con cái mới được chăm sóc đầy đủ và cảm nhận được sự ấm êm, hạnh phúc, luôn luôn là điển tựa cho con người vượt qua mọi thử thách.

    – Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước về thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới

    – Pháp luật quy định thế nào là bình đẳng giới?

    – Xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình

    Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: [email protected]

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    – Tư vấn luật miễn phí qua điện thoại

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kính Cận Chơi Đá Bóng Chính Hãng, Giá Tốt. Giao Hàng Toàn Quốc.
  • Tư Vấn Mua Kính Cận Đá Bóng
  • Kính Đá Bóng Cho Người Cận Thị
  • Giải Pháp Giúp Người Cận Thị An Toàn Chơi Bóng Đá
  • Giải Pháp Cho Người Cận Thị Đá Bóng
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014
  • Bình đẳng giới là nam và nữ đều được tiếp cận với giáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị,… Bình đẳng giới có nghĩa rằng không còn sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính, phụ nữ và nam giới cùng có địa vị bình đẳng trong xã hội. Bình đẳng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ hoàn toàn như nhau mà là các điểm tương đồng và khác biệt giữa họ được thừa nhận và tôn trọng.

    Tại sao phải thực hiện bình đẳng giới? Thực hiện bình đẳng giới là đảm bảo quyền con người. Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Thực hiện bình đẳng giới đem lại lợi ích cho phụ nữ và xã hội.

    – Nam giới ít khi làm việc nhà vì họ nghĩ rằng: Nam giới là trụ cột gia đình nên chỉ làm việc lớn; nam giới làm việc vặt sẽ mất thể diện với mọi người trong gia đình, bạn bè, hàng xóm; trong khi phụ nữ làm việc nhà khéo hơn nam giới; Trách nhiệm của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi dạy con gắn với nội trợ trong gia đình; Mẹ nói năng nhẹ nhàng, tình cảm nên để mẹ dạy con tốt hơn còn bố nóng tính, hay quát mắng con làm con dễ sợ và bố chỉ dạy con việc lớn. Do vậy, nam giới không thường xuyên làm việc nhà, họ chỉ làm khi không có người phụ nữ nào giúp; nhưng trong thực tế nam giới cũng có thể làm tốt các công việc như đi chợ, nấu ăn, chăm sóc người già, trẻ con, người ốm, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo, chăm sóc, dạy dỗ con.

    – Cùng nhau chia sẻ việc nhà sẽ mang lại nhiều lợi ích:

    Nếu không được người chồng chia sẻ việc nhà thì người vợ phải làm quá nhiều việc nhà, bản thân người vợ phải chịu nhiều thiệt thòi, sức khỏe giảm sút, gầy yếu, nhanh già hơn chồng; có ít thời gian nghỉ ngơi, giải trí; thiếu thời gian học tập nên thiếu kiến thức về mọi mặt; không có thời gian tham gia các hoạt động chung của cộng đồng, nên thiếu mạnh dạn, tự ti, vị trí xã hội thấp dần; thiếu hiểu biết để cùng chồng bàn bạc các công việc gia đình và xã hội; quan hệ vợ chồng thiếu đồng cảm.

    Nếu được người chồng cùng gánh vác công việc gia đình, người vợ sẽ giảm gánh nặng công việc, có thời gian học tập, tham gia hoạt động xã hội để nâng cao kiến thức, mạnh dạn, tự tin trong cuộc sống, địa vị người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội được nâng cao; chị em có thời gian tham gia hoạt động thể dục thể thao rèn luyện sức khoẻ; có thời gian nghỉ ngơi, giải trí làm phong phú đời sống tinh thần, vui vẻ, trẻ lâu và không khí gia đình hòa thuận, hạnh phúc.

    Khi người bố không chia sẻ công việc gia đình thì quan hệ tình cảm giữa bố và con ít gần gũi, thiếu sự cảm thông; trẻ phát triển không toàn diện vì thiếu sự chăm sóc, dạy dỗ của người bố; trẻ em trai chịu ảnh hưởng của tính gia trưởng và thiếu trách nhiệm; trẻ em gái trở lên tự ti, mặc cảm, an phận.

    Khi người bố tham gia nhiều hơn vào việc nhà sẽ mang lại nhiều lợi ích cho con cái; trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh, thông minh, ngoan ngoãn; con cái tự hào về bố, mẹ và gia đình; con học tập gương bố để tự giác làm việc nhà; quan hệ tình cảm bố con gắn bó hơn; trẻ sớm có hiểu biết về bình đẳng giới.

    Người chồng cũng tự hào có gia đình hạnh phúc, vợ đẹp, con khôn; thông cảm hơn với sự vất vả, khó khăn của người vợ; thạo việc gia đình và dạy con làm tốt hơn; là tấm gương tốt cho con noi theo; có uy tín hơn đối với các con.

    – Vẫn còn các bậc cha mẹ quan niệm con gái chỉ cần học vừa đủ. Khi gia đình gặp khó khăn về kinh tế hoặc thiếu lao động thì các bậc cha mẹ thường nghĩ đến việc cho con gái nghỉ học, không xem xét khả năng các con. Một số bậc cha mẹ thường nghĩ rằng con gái là con người ta nên ở nhà giúp đỡ bố mẹ một thời gian rồi đi lấy chồng.

    Nhiều ông bố không quan tâm tới việc việc học hành của con mà giao phó hoàn toàn cho nhà trường và người mẹ. Nhiều ông bố cho rằng: bố nóng tính hay quát mắng con nên dạy con thường làm con sợ, khó tiếp thu bài.

    – Song thực tế nam giới hoàn toàn có khả năng làm tốt và làm chu đáo tất cả các công việc giáo dục con, giúp con phát triển toàn diện bằng cách hướng dẫn, khuyến khích, quan tâm tới việc học tập của con như: Mua sách vở, đồ dùng học tập cho con; họp phụ huynh; đưa con đi học; hàng ngày kiểm tra sách vở, nhắc nhở con học bài; giải đáp thắc mắc của con; dạy con biết cách cư xử với mọi người trong gia đình và ngoài xã hội; tâm tình, trò chuyện với con; động viên, khen ngợi khi con làm được những việc tốt.

    – Cả bố và mẹ phải hiểu rằng việc học hành là cần thiết đối với cả trẻ em gái và trẻ em trai, việc phân biệt đối xử giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong giáo dục là vi phạm quyền trẻ em.

    – Vợ, chồng có kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ tự tin, chủ động lựa chọn và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản có lợi nhất.

    – Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ có sức khoẻ, trẻ trung, nhan sắc tốt hơn; bên cạnh đó người chồng được hưởng hạnh phúc nhiều hơn do được vợ quan tâm chăm sóc nhiều hơn. Gia đình có điều kiện và cơ hội phát triển kinh tế, nuôi dạy con tốt hơn. Vợ, chồng có điều kiện tham gia hoạt động xã hội, được tận hưởng hạnh phúc nhiều hơn.

    – Đời sống vợ chồng sẽ bền vững và hạnh phúc hơn khi cả nam và nữ đều chủ động tự nguyện kiểm tra sức khỏe trước khi đăng kí kết hôn, để biết về nhau xem có ai bị mắc các bệnh di truyền, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV… để sức khoẻ gia đình được tốt hơn.

    4. Trong phòng, chống bạo lực gia đình

    – Khi vợ mang thai người chồng cần: giúp vợ làm việc nhà; đưa vợ đi khám thai; đảm bảo dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi, động viên tinh thần cho vợ; không để vợ tiếp xúc với chất độc hại như phun thuốc trừ sâu…Sau khi sinh: vợ, chồng lựa chọn một biện pháp tránh thai phù hợp; cùng chăm sóc, nuôi dạy con với tất cả tình yêu thương và khả năng tốt nhất; cha và mẹ tạo điều kiện để các con được tiếp cận các thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

    – Nam giới, người chồng hãy tránh xa các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện rượu, nghiện ma tuý, mại dâm,…

    – Phụ nữ, người vợ chủ động tìm hiểu các quyền mà phụ nữ được hưởng theo quy định của pháp luật, từ đó có hành vi đúng đắn trong quan hệ ứng xử với chồng và mọi người trong gia đình.

    – Người bị bạo hành cần báo ngay với với các tổ chức, cơ quan có chức năng để được tư vấn và hỗ trợ giải quyết.

    – Mỗi người dân khi phát hiện các trường hợp bị bạo hành phải báo ngay cho lực lượng an ninh địa phương biết để xử lý kịp thời.

    1. Trách nhiệm của gia đình 2. Trách nhiệm của c án bộ, hội viên, phụ nữ:

    5. Vợ, chồng cùng tham gia bàn bạc, quyết định các vấn đề của gia đình như :Phát triển kinh tế gia đình, mua sắm tài sản gia đình; định hướng nghề nghiệp cho con…

    – Tích cực học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới; đồng thời là thành viên tích cực tuyên truyền về bình đẳng giới nhằm góp phần nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới.

    – Gương mẫu thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;

    – Chia sẻ công việc gia đình cùng chồng con, các thành viên trong gia đình để có thêm thời gian nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ, tham gia học tập nâng cao trình độ về mọi mặt và trình độ chuyên môn nghề nghiệp;

    3. Trách nhiệm của các cấp Hội phụ nữ

    – Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

    – Giáo dục, truyền thông và vận động xã hội thay đổi nhận thức về vai trò giới, bình đẳng giới trong gia đình

    – Tuyên truyền, phổ biến, vận động gia đình hội viên, phụ nữ thực hiệnLuật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình tới cán bộ, hội viên; tổ chức các hình thức truyền thông về bình đẳng giới trong gia đình nhân ngày gia đình Việt Nam 28/6; tháng hành động bình đẳng giới;…

    – Xây dựng các mô hình sinh hoạt tổ nhóm hoặc câu lạc bộ phụ nữ; tổ chức các diễn đàn trao đổi về bình đẳng giới; tổ chức thi tìm hiểu luật;…nhằm thu hút, nâng cao nhận thức cho hội viên, phụ nữ và nam giới về bình đẳng giới; tập trung vào các nội dung như chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ quyền lợi giữa vợ và chồng, vai trò của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, giáo dục con, phòng chống bạo lực gia đình;

    – Tập huấn cho đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở và đội ngũ công tác viên, huy động cả nam giới, trang bị kiến thức và kỹ năng lồng ghép giới cho thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ cùng cấp.

    – Tổ chức các hình thức biểu dương, nêu gương các gia đình, cá nhân thực hiện tốt bình đẳng giới xây dựng gia đình hạnh phúc.

    – Tổ chức các hoạt động hỗ trợ các gia đình phấn đấu đạt bình đẳng giới trong gia đình như: hỗ trợ vốn, kiến thức để chị em có điều kiện khởi nghiệp tăng thu nhập khẳng định địa vị kinh tế; hỗ trợ đào tạo về kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, khởi nghiệp; nuôi dạy con; tư vấn và dạy nghề….

    Theo nghiên cứu của trường đại học tại Anh Quốc thì “Đàn ông sắp mất vai trò trụ cột của gia đình”. Nghiên cứu này cho biết như sau:

    Phụ nữ trẻ trong độ tuổi từ 22 – 29 tuổi đang được trả lương trung bình nhiều hơn nam giới. Trung bình một giờ tiền lương theo giờ của phụ nữ là hơn 10 bảng Anh một giờ và với nam giới chỉ dưới 10 bảng một giờ. Một cuộc điều tra từ Viện Quản lý Chartered nhận thấy, phụ nữ trong độ tuổi 20 bây giờ đã được trả nhiều hơn nam giới khi cùng làm công việc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, lương của phụ nữ trong năm tăng lên 2,4% so với 2,1% đối với nam giới.

    Mary Curnock Cook, Giám đốc điều hành của các trường Đại học và Cao đẳng Admission Service cho biết, tại cùng một nơi làm việc, cùng công việc thì hiệu quả công việc của phụ nữ cao hơn nam giới.

    Điều này có nghĩa là có sự đảo ngược vai trò, với nhiều phụ nữ đi ra ngoài để làm việc trong khi các đối tác của họ ở nhà để tận dụng tìm kiếm thu nhập cao hơn, Cook tin tưởng. “Đối với tôi đây là một điểm đặc biệt thú vị bởi vì nếu ở giữa tuổi hai mươi phụ nữ kiếm được nhiều hơn nam giới, điều này chứng minh khả năng của phụ nữ, họ có thu nhập cao trong gia đình, họ phải làm việc cả ngày, còn cánh đàn ông phải dành một phần thời gian chăm sóc con cái”. (Daily Mail dẫn lời Mary Curnock Cook).

    Câu chuyện tôi sắp kể ra đây, sẽ không có gì là phân biệt giới tính, đối xử bất bình đẳng giới trong gia đình của một cặp vợ chồng trí thức, chồng là chủ một doanh nghiệp, vợ là cán bộ ngân hàng, thừa khả năng để chăm sóc chu toàn cho hai đứa con, một trai một gái, cách nhau 2 tuổi… nếu như vào một ngày kia…

    4. Chuyện đôi đũa

    Trong giờ Tập làm văn, cô giáo ra đề bài “Em hãy cho biết ước mơ của bản thân và em có suy nghĩ gì về ước mơ đó?”. Cô giáo rất ngạc nhiên khi đọc được bài làm của một học sinh nữ. Nội dung bài viết “Kể từ ngày cha mẹ có thêm em Bo thì em đã có ước mơ trở thành một đứa con trai giống như em Bo. Vì nếu được là con trai, em sẽ không cô đơn và bị ghẻ lạnh như thế, em sẽ có nhiều đồ chơi mà mình mơ ước, em sẽ được ba mẹ chở đi chơi mỗi buổi chiều cuối tuần hoặc sẽ được đi du lịch vào mỗi dịp hè. Và vui hơn hết là được ba mẹ quan tâm đến công việc học hành, mỗi ngày được ba mẹ dùng xe hơi đưa đón đến trường…”. Cô giáo cũng đã qua thời gian tìm hiểu và biết được những điều cô học trò ghi trong bài tập là đúng sự thật. Ba mẹ cô bé kể từ ngày sinh thêm em Bo, em trai của cô bé thì như là không còn thấy hình dáng cô bé trong nhà nữa. Tất cả mọi yêu thương, chăm sóc dồn về cho cậu con trai quý tử kia. Hoàn toàn không đếm xỉa, đả động đến cô bé…

    Câu chuyện của tôi bắt đầu từ đôi đũa. Trước đây tôi rất lười, và tôi cho rằng việc nấu cơm, rửa bát tôi không thạo nên để vợ làm hết. Có một hôm vợ tôi sắp cơm và sắp thiếu một đôi đũa nên đã nhờ tôi xuống bếp lấy. Tôi thấy việc này cứ lặp đi lặp lại vài hôm, tôi nghi ngờ tại sao dọn cơm lại cứ thiếu 1 đôi đũa. Dần dần, đến bữa cơm, vợ tôi lại bảo con trai hôm lấy cái này thiếu, cái kia thiếu. Vậy là một bữa cơm cả 3 người đều cùng dọn.

    5. Chuyện anh trưởng ấp giặt đồ cho gia đình

    Đến mùa đông, có sự thay đổi mà đầu tiên tôi không nhận ra. Đó là do trời lạnh quá, vợ tôi nhờ tôi chở đi làm. Nhưng bình thường vợ tôi hay đưa con đi học, nên tôi sẽ kiêm luôn cả chở con đến trường luôn. Không ngờ mùa đông kéo dài quá lâu khiến việc chở con đi học và đưa vợ đi làm đã thành thói quen của tôi. Đến khi thời tiết ấm lên thì thói quen này của tôi đã rất khó bỏ rồi.

    Tôi có dịp được xem đoạn phim tại ấp Bắc huyện Thanh Bình thuộc tỉnh Đồng Tháp, anh Sơn được xem là người đầu tiên trong ấp đem đồ ra bờ sông để giặt mà không chỉ giặt đồ cho anh mà cho cả gia đình anh nữa.

    Theo câu chuyện trên đoạn video đó, lần đầu tiên anh rất ngại, mỗi lần đi giặt đồ như thế anh thường làm lén lén có thể đi vào sáng sớm tinh mơ hoặc vào lúc trưa mọi người không ai để ý vì rất ngại và rất mắc cỡ vì sợ mọi người nhìn thấy.

    Sau khi sinh bé Anh 3 tháng, Hạnh đề nghị chồng sử dụng bao cao su để tránh thai nhưng anh không nghe và cho rằng việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình là của phụ nữ. Thấy chồng nói vậy, Hạnh cũng không có ý kiến gì. Bản thân Hạnh cũng không thực hiện biện pháp tránh thai nào. Khi bé Anh tròn 01 tuổi thì Hạnh lại có thai. Hạnh nghĩ có thai thì đẻ, nhưng chồng chị muốn Hạnh đi phá thai, vì anh cho là con còn nhỏ, kinh tế gia đình khó khăn. Thấy chồng có lý vả lại sức khỏe Hạnh không tốt nên đẻ dày sẽ ảnh hưởng, Hạnh cứ phân vân mãi không biết nên như thế nào. Dùng dằng mãi, khi Hạnh đến Trạm y tế gặp bác sĩ thì thai đã lớn. Vừa khóc, Hạnh vừa kể lại câu chuyện chồng muốn phá thai. Các bác sĩ động viên Hạnh cứ yên tâm và khuyên Hạnh ngày mai cùng chồng đến gặp họ. Rất may chồng Hạnh đồng ý đi. Sau khi nghe Bác sĩ phân tích tác hại của việc phá thai to, anh đã thay đổi ý định và đồng ý không để vợ phá thai. Các bác sĩ giới thiệu cho cả 2 vợ chồng các biện pháp tránh thai. Chồng Hạnh đã hiểu ra việc kế hoạch hóa gia đình là trách nhiệm của cả 2 vợ chồng và thống nhất sau khi sinh cháu thứ 2 sẽ dùng bao cao su để không có thai ngoài ý muốn. Anh cũng đã giới thiệu với mọi người về tác hại của việc phá thai đã lớn và các biện pháp tránh thai ngoài ý muốn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Trong đời sống hàng ngày, nam giới ít chia sẻ công việc nội trợ và chăm sóc con cái; người phụ nữ phải chịu nhiều công việc hơn, họ không có thời gian để tham gia các hoạt động chính trị – xã hội, họ thiếu thời gian nghỉ ngơi và giải trí so với nam giới…

    T rong đời sống hàng ngày, nam giới ít chia sẻ công việc nội trợ và chăm sóc con cái; người phụ nữ phải chịu nhiều công việc hơn, họ không có thời gian để tham gia các hoạt động chính trị – xã hội, họ thiếu thời gian nghỉ ngơi và giải trí so với nam giới. Đặc biệt trong những năm gần đây hành vi bạo lực gia đình có xu hướng tăng lên ( trong đó 95% nạn nhân là phụ nữ). Có gia đình, người chồng hành hạ vợ con, thậm chí chỉ vì nấu ăn không vừa ý đã hất cả mâm cơm vào mặt vợ. Có trường hợp vợ ốm, chồng để mặc không chăm sóc trông nom. Còn nhiều phụ nữ phải “nặng gánh hai vai”, vừa phải làm tốt công tác xã hội, vừa phải đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng như mọi người, sức khỏe lại hạn chế. Trong đời sống xã hội, phụ nữ và chị em thường là đối tượng chịu thiệt thòi, bị phân biệt đối xử, bị tụt hậu so với nam giới ở nhiều lĩnh vực.

    Mặt khác, trong gia đình, nhiều chị em còn mang nặng tư tưởng tự ti, cam chịu, không dám đấu tranh để bảo vệ mình và không tự khẳng định mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Những thực tế nêu trên đã và đang là những rào cản đối với việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, cản trở mục tiêu xây dựng gia đình văn hóa mới và con người mới ở xã hội chủ nghĩa.

    Để khắc phục thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình như đã nêu trên, thiết nghĩ, các cấp, các ngành cần thực hiện tốt các nội dung sau:

    chúng ta cần thay đổi nhận thức và đề cao vai trò to lớn của phụ nữ, ngoài thiên chức làm mẹ, họ có khả năng làm việc, kể cả công việc gia đình và công việc xã hội không thua kém đàn ông. Lịch sử dân tộc ta cũng đã chứng minh, phụ nữ Việt Nam có thể làm được và làm tốt mọi công việc to lớn mà lịch sử đòi hỏi, đất nước trao cho.

    tăng cường giáo dục các chuẩn mực gia đình, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tàn dư, những tập tục thói quen coi thường phụ nữ khó thay đổi ( tư tưởng nho giáo phong kiến), xem nhẹ khả năng làm việc xã hội của phụ nữ. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống có hiệu quả tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, bạo lực gia đình; ngăn ngừa tình trạng lấy chồng nước ngoài bất hợp pháp, vì vụ lợi…

    phải có sự kết hợp giữa cấp ủy đảng với chính quyền, mặt trận và đoàn thể trong tuyên truyền Luật Bình đẳng giới, Nâng cao nhận thức về giới để thực hiện sự thay đổi không ngừng nhằm loại trừ và hạn chế các định kiến giới cho cả phụ nữ và nam giới. Gắn với xây dựng đời sống văn hóa trong khu dân cư, xây dựng gia đình văn hóa mới, các hình thức bạo lực gia đình đặc biệt ở nông thôn. Tăng cường sự chia sẻ của nam giới, giảm bớt gánh nặng công việc gia đình, giải phóng phụ nữ ra khỏi công việc bếp núc…

    phụ nữ Việt Nam phải phấn đấu về mọi mặt, không tự ti cam chịu, phải mạnh dạn đấu tranh chống tư tưởng phong kiến, hẹp hòi, lạc hậu đối với phụ nữ. Đồng thời chống chủ nghĩa cá nhân ” cố níu áo nhau” trong nội bộ giới mình.

    Thay đổi nhận thức trong mỗi con người và trong cộng đồng gia đình, xã hội là một quá trình từng bước, không phải một sớm một chiều là xong. Tuy nhiên, chỉ có thực hiện đầy đủ các nội dung trên mới thực sự góp phần chống bất bình đẳng giới trong gia đình truyền thống, góp phần xây dựng ” gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” như Đảng ta đã xác định.

    Trần Đình Phú

    10,947

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Mục Tiêu, Giải Pháp Vấn Đề Tôn Giáo
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014
  • Giải Pháp Nào Cho Bình Đẳng Giới Tại Trung Tâm Học Tập Cộng Đồng?
  • Bình đẳng giới trong gia đình có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời đại, đặc biệt là trong điều kiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa hiện nay. Bình đẳng giới trong gia đình là môi trường lành mạnh để con người, đặc biệt là trẻ em được đối xử bình đẳng, được giáo dục về quyền bình đẳng, được hành động bình đẳng; là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; góp phần tăng chất lượng cuộc sống của các thành viên gia đình, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước; góp phần giải phóng phụ nữ và góp phần xây dựng thể chế gia đình bền vững.

    Tuy nhiên, định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở trong gia đình và một bộ phận dân cư trong xã hội tiếp tục là hệ quả xấu đối với nam giới trong đối xử với nữ giới, là rào cản trong quá trình thực hiện bình đẳng giới. Sự bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực như về quyền lợi, nghĩa vụ, phân công lao động, cơ hội việc làm, tiền lương, thu nhập, cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ.

    Hiện tượng bất bình đẳng vẫn phổ biến ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, phụ nữ là lao động chính song lại không có tiếng nói trong gia đình. Những người đàn ông thường giành thời gian cho việc làng, việc nước, họ hàng, rồi rượu chè, các tệ nạn xã hội… nên gánh nặng gia đình cũng như cường độ lao động và sự vất vả đều dồn lên đôi vai người phụ nữ.

    Thực tế hiện nay, phụ nữ thường làm nhiều công việc cùng một lúc, thời gian làm việc của phụ nữ nhiều hơn và phụ nữ cũng làm những công việc đơn giản hơn và như vậy phụ nữ thể hiện đa vai trò hơn. Song phụ nữ lại làm những việc có giá trị thấp và vì vậy giá trị xã hội của phụ nữ cũng thấp. Còn về việc nhà là loại công việc quan trọng vì nó giúp gia đình tồn tại nhưng lại không được xã hội nhìn nhận và chính bản thân nam giới cũng không coi trọng công việc gia đình. Do vậy vị trí càng thấp, mà khi vị trị thấp nên ít được lựa chọn công việc mà làm theo sự phân công truyền thống.

    Không ít trẻ em quan tâm về vấn đề bình đẳng giới đã tỏ rõ thái độ bất mãn đối với việc bất bình đẳng giới ngay trong chính gia đình em. Hoài Mơ (12 tuổi – Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh) bất bình tâm sự: “Cháu không thể hiểu nỗi lúc nào cha mẹ cũng bảo cháu phải chăm chỉ siêng năng lo việc cơm nước, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa. Trong khi đó, anh trai cháu đã 14 tuổi rồi mà chẳng phải động chân động tay vào việc gì. Lắm lúc cháu lau nhà mệt bở hơi tai mà ba cháu còn nhắc nhở: “Con gái phải làm tốt những việc nhỏ nhặt trong nhà. Để anh con sau này làm những việc to tát ngoài xã hội, con đừng có mà tị nạnh lung tung. Mấy cái việc nữ công gia chánh cỏn con như thế, hai mẹ con chia sẻ với nhau, đừng có nhiều chuyện”. Mẹ cháu tối ngày tất bật với công ty, thế mà về đến nhà, chỉ có cháu san sẻ việc nội trợ, còn ba và anh hai không một chút quan tâm. Vậy mà mẹ còn chịu đựng và khuyên cháu: “Phụ nữ thì phải biết hi sinh để gia đình được êm ấm con ạ! Cháu được tuyên truyền và giáo dục về bình đẳng giới, nhưng chỉ thấy toàn là lý thuyết, chứ ở gia đình cháu còn lâu mới đưa vào cuộc sống”.

    Một câu chuyện khác đáng để chúng ta suy ngẫm. Trong gia đình của một cặp vợ chồng trí thức, chồng là chủ một doanh nghiệp, vợ là cán bộ ngân hàng, thừa khả năng để chăm sóc chu toàn cho hai đứa con, một trai một gái, cách nhau 2 tuổi… Vào một ngày kia, trong giờ Tập làm văn, cô giáo ra đề bài “Em hãy cho biết ước mơ của bản thân và em có suy nghĩ gì về ước mơ đó?”. Cô giáo rất ngạc nhiên khi đọc được bài làm của một học sinh nữ. Nội dung bài viết “Kể từ ngày cha mẹ có thêm em Bo thì em đã có ước mơ trở thành một đứa con trai giống như em Bo. Vì nếu được là con trai, em sẽ không cô đơn và bị ghẻ lạnh như thế, em sẽ có nhiều đồ chơi mà mình mơ ước, em sẽ được ba mẹ chở đi chơi mỗi buổi chiều cuối tuần hoặc sẽ được đi du lịch vào mỗi dịp hè. Và vui hơn hết là được ba mẹ quan tâm đến công việc học hành, mỗi ngày được ba mẹ dùng xe hơi đưa đón đến trường…”. Cô giáo cũng đã qua thời gian tìm hiểu và biết được những điều cô học trò ghi trong bài tập là đúng sự thật. Ba mẹ cô bé kể từ ngày sinh thêm em Bo, em trai của cô bé thì như là không còn thấy hình dáng cô bé trong nhà nữa. Tất cả mọi yêu thương, chăm sóc dồn về cho cậu con trai quý tử kia. Hoàn toàn không đả động đến cô bé.

    Nguyên nhân trên do một bộ phận xã hội hiểu không đúng về bình đẳng và bình đẳng giới, còn quan niệm cho rằng bình đẳng giới là ưu tiên cho phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ và của Hội phụ nữ Việt Nam. Nhận thức mang tính định kiến giới còn tồn tại trong xã hội, nhất là lãnh đạo, cán bộ, công chức và nam giới…

    Ngoài ra, công tác tuyên truyền, giáo dục về giới và bình đẳng giới chưa thực sự đạt hiệu quả cao. Nội dung tuyên truyền chưa được chuyển tải thường xuyên, sâu rộng, chưa sát với đối tượng. Các cấp, các ngành, đoàn thể chưa có sự quan tâm đúng mức về vấn đề này. Nhận thức của phụ nữ về quyền lợi của mình còn nhiều hạn chế, nhất là phụ nữ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

    Để khắc phục tình trạng trên, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới như: Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình…mà trọng tâm là Luật bình đẳng giới và thông qua các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em… nhờ đó mà phụ nữ và trẻ em đều được bảo vệ.

    Gần 5 năm triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho cán bộ và nhân dân ở các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước đã đạt được những kết quả đáng kể. Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới đã giúp cho các cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức và công dân thấy rõ nguy cơ, thực trạng của vấn đề bất bình đẳng giới đang ngăn cản sự phát triển của đất nước, từ đó có được nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển xã hội, cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực Của Đời Sống Xã Hội Và Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vấn Đề Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Qua Môn Đạo Đức Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Việc Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Cho Nạn Đói Thế Giới
  • Trang chủTìm hiểu pháp luật Lao động và Công đoàn

    Bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình 

    Luật Bình đẳng giới 2006 quy định cụ thể bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo; khoa học công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và bình đẳng giới trong gia đình. 

    Theo đó tại Điều 11 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị cụ thể:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

    3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

    4. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

    5. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

    a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

    b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

    Tại Điều 12 luật Bình đẳng giưới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế cụ thể:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

    2. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

    a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

    b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

    Tại Điều 13 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động cụ thể:

    1. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

    2. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

    3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

    b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

    c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

    Tại Điều 14 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

    1. Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo.

    3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

    4. Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

    5. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

    a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

    b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

    Tại Điều 15 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.

    Tại Điều 16 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin.

    Tại Điều 17 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

    2. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

    3. Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

    Tại Điều 18 luật Bình đẳng giới 2006 quy định về Bình đẳng giới trong gia đình:

    2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

    3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

    4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

    5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

     

     Thu Hà (tổng hợp)

     

    [Trở về]

    Các tin đã đăng

    • 5 chính sách mới có hiệu lực trong tháng 12-2020 công chức, viên chức cần biết 
    • Chấm dứt hợp đồng đúng luật có khó? 
    • Chế độ người lao động được nhận khi doanh nghiệp phá sản năm 2022 
    • Cách tra cứu mã số BHXH đơn giản 
    • Những lưu ý về chế độ trợ cấp thất nghiệp người lao động cần biết 
    • Mức hưởng BHYT sẽ tăng 100% khi đi khám, chữa bệnh trái tuyến 
    • Những trường hợp không bắt buộc tham gia BHXH 2022 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Tài Xử Lý ? , Hãng Luật Anh Bằng
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng
  • Nguyên Tắc Và Biện Pháp Bảo Vệ An Ninh Mạng
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Quân Khu 2 – Chấn Chỉnh Chấp Hành Quy Định Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Từ lâu, các cấp ủy Đảng và chính quyền trong tỉnh ta rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, xem đây là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển của địa phương. Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, đến nay nhiều thành tựu về bình đẳng giới từng bước đã được khẳng định. Đặc biệt, với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đang từng bước thực hiện có hiệu quả việc thúc đẩy bình đẳng giới.

    Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình là vợ chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong các hoạt động của gia đình, có ý thức trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách công bằng như: Quyền quyết định số con, khoảng cách sinh, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái… trên cơ sở chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, tạo sự đồng thuận. Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau của cả vợ và chồng giúp cho sự phát triển của gia đình được ổn định và bền vững.

    Ngày nay, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội nói chung và gia đình nói riêng đã được nâng lên rất nhiều so với trước. Tuy nhiên, xét về thực trạng vấn đề giới vẫn còn những bức xúc trong gia đình như: Phụ nữ vẫn phải làm những công việc nội trợ là chủ yếu; vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quá trình sinh con, nuôi con, chăm sóc con cái, kế hoạch hóa gia đình; tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn còn tồn tại và xảy ra ở một số nơi…

    Nguyên nhân chính dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình là do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng với sự thay đổi chậm chạp của ý thức xã hội và hầu như nam giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột của mình với gia đình, chính họ đã tự đặt cho mình trọng trách lớn. Phụ nữ thì còn tự ti, luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng.

    Đối với những gia đình ở khu vực nông thôn, sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị đã làm cho những người phụ nữ ở lại địa phương thêm gánh nặng, vừa đảm nhận lao động sản xuất vừa lo toan việc nội trợ.

    Mặt khác, trình độ học vấn cũng góp phần quan trọng trong việc tạo quyền quyết định trong gia đình. Nếu trong gia đình cả hai vợ chồng có học vấn cao thì sự bàn bạc, thỏa thuận chiếm tỷ lệ lớn; nếu người vợ có trình độ học vấn thấp thì quyền quyết định mọi mặt chủ yếu vẫn là chồng và ngược lại. Về vấn đề kinh tế gia đình cũng là nguyên nhân dẫn đến mất bình đẳng trong gia đình.

    Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình giúp con cái mỗi gia đình được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, học hành tốt, lớn lên trở thành những công dân tốt của xã hội. Sự quan tâm, giáo dục của gia đình đối với con cái là môi trường quan trọng giúp mỗi người hòa nhập vào cộng đồng và xã hội, thích ứng với đòi hỏi về nghề nghiệp, đạo đức, vốn sống của mỗi người và giúp con cái tránh những tệ nạn xã hội nảy sinh.

    Quá trình xã hội hóa giáo dục được tạo bởi 3 môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau của mỗi thành viên trong gia đình giúp mỗi người có điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ lẫn tinh thần.

    Vì vậy, để thực hiện bình đẳng giới trong gia đình hiện nay, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục các vấn đề giới, bình đẳng giới trong gia đình được quy định trong các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    Xem việc thực hiện bình đẳng giới là một công việc lâu dài và cần sự phối hợp đồng bộ của toàn xã hội. Từ đó mỗi người ý thức tốt về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình. Trách nhiệm bình đẳng giới không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mà là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội; là cơ sở quan trọng để xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”.

    Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi để mỗi phụ nữ ý thức và tự phấn đấu vươn lên, tự giải phóng mình; không ngừng cố gắng học tập nâng cao kiến thức để khẳng định vai trò, ví trí của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Đẩy mạnh giáo dục khoa học giới trong hệ thống nhà trường (đặc biệt là các trường THPT), giúp cho thanh, thiếu niên nhận thức được những vấn đề giới và bình đẳng giới một cách cơ bản và có hệ thống; giúp các em ý thức được trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình sau này.

    Ngoài ra cũng cần nâng cao trình độ dân trí, tăng cường vai trò gia đình và bình đẳng giới. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý về bình đẳng giới. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các hành vi bạo lực gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, mỗi thành viên trong gia đình được bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau thì xã hội sẽ công bằng và văn minh.

    Để có được bình đẳng giới bền vững trong xã hội phải bắt đầu từ trong mỗi gia đình. Thực hiện tốt bình đẳng giới trong gia đình là biện pháp hữu hiệu để xây dựng một xã hội no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách
  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Kính Cận Chơi Đá Bóng Chính Hãng, Giá Tốt. Giao Hàng Toàn Quốc.
  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Nâng Cao Năng Lực Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Và Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Lãnh Đạo, Quản Lý Thời Kỳ Cách Mạng 4.0
  • Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Quản Lý Cán Bộ, Công Chức
  • Tại hội thảo “Bình đẳng giới (BĐG) góp phần nâng cao cuộc sống gia đình”, nhiều tổ chức, cá nhân đã bày tỏ chính kiến, cũng như đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị để thúc đẩy việc thực hiện công tác BĐG thông qua những tham luận súc tích, ý nghĩa. * Thượng tá Trần Phương Đại, Phó trưởng Phòng PX 16, Công an tỉnh: Thực hiện công tác BĐG thông qua ngăn chặn bạo lực gia đình

    Bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Việt Nam là vấn đề phức tạp, được dung dưỡng bởi những hủ tục, đặc biệt là quan điểm bất bình đẳng về giới. “Giá trị truyền thống” này đã tác động đến tâm thức văn hóa của mỗi cá nhân và gia đình, hình thành lối suy nghĩ và hành động theo “chuẩn” tương đối phổ biến là chấp nhận hành vi BLGĐ, thậm chí coi đó như một phương pháp giáo dục, răn dạy con người. Điều này đã đẩy phụ nữ vào vị trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới trong tất cả các hoạt động: kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, và cả trong sinh hoạt gia đình…

    Tuyên truyền về BĐG trong gia đình và phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm nạn BLGĐ là vấn đề cấp bách hiện nay. Việc làm này không chỉ mang tính xã hội sâu sắc, mà còn là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ quyền con người, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, phục vụ tốt sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội tỉnh nhà.

    Hội đã chủ động đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền về chính sách đào tạo cán bộ nữ, chính sách trợ cấp thai sản, tiền thưởng thêm cho cán bộ nữ nhận bằng khen trở lên. Đồng thời tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật cho phụ nữ; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về phòng chống BLGĐ…

    Bên cạnh đó, nhiều mô hình hay về BĐG, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ… được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, thúc đẩy việc thực hiện BĐG trên địa bàn tỉnh.

    * Ông Nguyễn Trung Kết, Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện Phước Long: Thúc đẩy BĐG góp phần xây dựng nông thôn mới

    Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, cũng như sự ra đời của Luật BĐG, các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ… đến nay, công tác BĐG đã và đang từng bước được thực hiện có hiệu quả.

    Mặt khác, địa phương còn hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập; vận động chị em thực hiện phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc gắn với học tập và làm theo gương Bác; thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Giải Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Chính Sách, Pháp Luật Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Đối Với Nữ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Giai Đoạn 2022
  • #1 Thi Hành Biện Pháp Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Và Đào Tạo
  • 5 Giải Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Từ Sửa Đổi Bộ Luật Lao Động
  • Tờ Trình Chính Phủ Nghị Định Qui Định Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Bình Đẳng Giới
  • Yêu Cầu Áp Dụng Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Được Không?
  • Ngày đăng: 19/08/2020 01:51

    Toàn cảnh Hội nghị đánh giá tác động xã hội và tác động giới của chính sách trong đề nghị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022 và điều chỉnh chương trình năm 2022 do Ủy ban Về các vấn đề xã hội phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức ngày 03/3/2020, đại diện Cơ quan soạn thảo cho biết đã tiến hành lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi).

    BĐG là mục tiêu nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới BĐG thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Các biện pháp nhằm duy trì BĐG thực chất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Mở rộng phạm vi của bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật có thể tiếp cận ở cả góc độ thực thi, theo dõi thi hành các chính sách, pháp luật đó trong thực tế.

    Chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay đã cụ thể hóa Công ước quốc tế (CEDAW, ILO) và thể hiện đầy đủ 8 lĩnh vực của BĐG: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao, y tế, gia đình 1. BĐG và quyền phụ nữ là quyền hiến định. Nguyên tắc bình đẳng đã được khẳng định ngay trong Điều 26 Hiến pháp năm 2013: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội Bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

    Nội dung BĐG cũng được quy định trong các luật và bộ luật điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2022 tại Điều 2 quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này”. Ngoài ra, khoản 3 Điều 8 của Luật cũng nêu rõ: “số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ”.

    Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, tại Điều 3 quy định “bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh”. Về giáo dục, tại khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2022 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “vợ chồng bình đẳng”.

    Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2022 quy định: “Bảo đảm Bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”. Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động nữ và vấn đề BĐG nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản của họ trong khi làm việc (Chương X).

    Luật BĐG năm 2006 đánh dấu bước phát triển về thể chế và hệ thống hóa trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam bằng việc tăng cường BĐG trong đời sống cá nhân và xã hội. Bên cạnh những văn bản trên, BĐG còn được thể hiện trong nhiều văn bản khác như: Chương trình hành động của Chính phủ, Chiến lược quốc gia về BĐG và các văn bản khác.

    Trong triển khai thực thi chính sách, pháp luật bảo đảm BĐG, những biện pháp thúc đẩy BĐG quy định trong Luật BĐG có thể đã được quy định hoặc chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam.

    Đối với những biện pháp đã được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam, ví dụ: biện pháp thúc đẩy BĐG đối với tỷ lệ nữ đại biểu tham gia vào mỗi khóa Quốc hội ít nhất chiếm 35% tổng số đại biểu Quốc hội đã được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cần chú ý tới những nội dung chính sau: đánh giá tác động lên nam giới và phụ nữ về những chênh lệch, bất BĐG, phân biệt đối xử về giới được giải quyết trên thực tế sau khi áp dụng; xác định nguồn nhân lực, tài chính cần thiết để triển khai một cách hiệu quả; chấm dứt thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định rằng các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ đã thay đổi dẫn đến việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy BĐG không còn cần thiết.

    Đối với những biện pháp thúc đẩy BĐG chưa được quy định trong chính sách và pháp luật hiện hành, ví dụ: quy định việc khuyến khích các cơ quan, tổ chức hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi; tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con, cần chú ý tới những nội dung chính sau: kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định về các biện pháp thúc đẩy BĐG theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá sự chênh lệch, bất BĐG, phân biệt đối xử về giới trên thực tế và tác động của biện pháp thúc đẩy BĐG sẽ được ban hành đối với nam, nữ; dự báo tác động của biện pháp thúc đẩy BĐG đối với nữ và nam sau khi được ban hành.

    Những giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay Thứ nhất, nâng cao nhận thức về BĐG trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam.

    Báo cáo chỉ số BĐG toàn cầu 2022, dựa vào kết quả đánh giá 149 quốc gia về tiến bộ BĐG, Việt Nam xếp thứ 77/149 quốc gia2. Thành tựu này chứng minh những kết quả quan trọng trong bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để thúc đẩy hơn nữa vấn đề bảo đảm BĐG của Việt Nam, cần nâng cao nhận thức của các cá nhân, cơ quan (xây dựng pháp luật) về vấn đề này. Việc nâng cao có thể thực hiện thông qua truyền thông, tập huấn phổ biến kiến thức về BĐG, lồng ghép trong các chương trình đạo tạo của các trường học.

    Thứ ba, thúc đẩy thực thi chính sách, pháp luật về BĐG của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội.

    Bảo đảm BĐG trong xây dựng pháp luật vẫn là chưa đủ, bởi vì đó mới là tiền đề, còn giải pháp quan trọng phải duy trì là mỗi người dân phải nỗ lực nghiêm chỉnh thực hiện các chính sách bảo đảm BĐG đã được quy định. Trong lĩnh vực đất đai quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được ghi tên của cả vợ và chồng”, nhưng thực tế vấn đề này còn “xa vời” đối với nhiều chị em ở các địa phương hiện nay. Lý do có thể họ chưa biết về quyền của mình hoặc sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tập quán, luật tục địa phương cũng là một rào cản.

    Thứ tư, thúc đẩy việc đôn đốc, theo dõi thi hành chính sách, pháp luật về BĐG của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Một trong những giải pháp then chốt góp phần bảo đảm BĐG trong chính sách pháp luật là phải nâng cao ý thức, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp) trong theo dõi, thi hành pháp luật. Trong quá trình theo dõi, thi hành pháp luật, nếu phát hiện những vi phạm về bảo đảm BĐG thì phải xử lý nghiêm minh.

    Thứ năm, thúc đẩy xóa bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật về BĐG.

    Định kiến xã hội (phong tục tập quán lạc hậu) là yếu tố chủ yếu dẫn đến tình trạng bất bình đẳng. Trong xã hội Việt Nam tồn tại nhiều tư tưởng, tập quán lạc hậu như: trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng… đã hạn chế bảo đảm BĐG ở nước ta hiện nay. Ví dụ, để bảo đảm BĐG trong lĩnh vực thừa kế, cần loại bỏ định kiến “con gái là con người ta” để thực hiện việc chia tài sản thừa kế như nhau đối với con trai và con gái.

    Thứ sáu, khôi phục các hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy thực hiện BĐG trong chính sách, pháp luật.

    Bên cạnh những định kiến xã hội, trong cộng đồng còn duy trì nhiều hương ước tiến bộ, phù hợp có tác dụng thúc đẩy BĐG, như: thực hiện BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Ví dụ, tại Điều 11- Hương ước thôn Lương Thịnh, ban hành kèm theo Quyết định số 1932/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một ví dụ điển hình. Tại Hương ước này quy định:

    1) Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về BĐG, phòng và chống bạo lực gia đình. Các cá nhân, đặc biệt là nam giới cần tích cực chủ động tham gia các phong trào xã hội ở địa phương, sinh hoạt câu lạc bộ, học tập kiến thức về gia đình, về BĐG, các quyền của phụ nữ và phòng, chống bạo lực trong gia đình thông qua truyền thông. Bản thân người phụ nữ cần hiểu được quyền và trách nhiệm của mình trong công tác BĐG và phòng, chống bạo lực gia đình. Cần có kiến thức cũng như kỹ năng phòng tránh, tự bảo vệ mình và các con trước khi có sự trợ giúp từ phía các đoàn thể xã hội.

    2) Giáo dục các thành viên trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình; thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, BĐG, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác.

    3) Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác3.

    Nói đến BĐG về cơ bản là nói đến sự bình đẳng về quyền của phụ nữ với nam giới nói riêng và giữa các nhóm với nhau trong xã hội nói chung. Chính vì vậy, ở góc độ chung nhất, đấu tranh cho BĐG cũng chính là đấu tranh cho các quyền con người của phụ nữ/nhóm yếu thế và ngược lại. Sự đấu tranh hiệu quả nhất cho BĐG là lồng ghép giới trong xây dựng chính sách, pháp luật, đẩy mạnh trách nhiệm thực thi pháp luật về BĐG của chủ thể có thẩm quyền, nâng cao ý thức, hiểu biết về thực hiện chính sách BĐG của người dân./.

    Ghi chú:

    1. UNFPA – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tài liệu tập huấn thực hiện Luật Bình đẳng giới, Hà Nội, 2009.

    2. Khoảng cách giới ở Nam Á sẽ được san bằng sau 70 năm nữa. https://phunuvietnam.vn. Oxfam, ngày 08/3/2020.

    3. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài: Bảo đảm bình đẳng giới trong chính sách, pháp luật ở Việt Nam hiện nay của Trường Đại học Luật Hà Nội, 2022.

    TS. Trần Thị Quyên – Trường Đại học Luật Hà Nội

    Theo: quanlynhanuoc.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Hình Thức Của Bảo Đảm Tiền Vay
  • Khái Niệm Chung Về Bảo Đảm Tiền Vay
  • Bảo Đảm Tiền Vay Của Tổ Chức Tín Dụng
  • Bảo Đảm Tiền Vay Là Gì ? Khái Niệm Bảo Đảm Tiền Vay ?
  • Các Biện Pháp Bảo Đảm Đầu Tư Nhằm Thu Hút Đầu Tư Trong Và Ngoài Nước
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình
  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Giám đốc Sở LĐTBXH, Đặng Hồng Sơn tặng quà cho các cháu trong lễ phát động tháng Bình đẳng giớiTrước mắt, trong lĩnh vực BĐG Kiên Giang vẫn còn một số tồn tại do công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về nội dung này ở cơ sở đôi lúc chưa đủ mạnh để chuyển đổi hành vi, tài liệu truyền thông còn ít, chưa phù hợp với điều kiện thực tế. Điều tra, khảo sát, thống kê toàn diện về BĐG trên địa bàn toàn tỉnh chưa được thực hiện, thiếu cơ sở dữ liệu để xây dựng bộ chỉ số hoàn chỉnh về BĐG và VSTBCPN, thiếu thông tin cần thiết, nhiều số liệu chưa tách biệt giới tính.

    Công tác phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức, một số chỉ tiêu đạt thấp so với kế hoạch đề ra như tỷ lệ nữ trong các cấp ủy Đảng, tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp (nhất là cấp xã), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt thấp. Một số Ban VSTBCPN hoạt động còn mang hình thức; đội ngũ cán bộ làm công tác BĐG và VSTBCPN hầu hết kiêm nhiệm, thường xuyên luân chuyển công tác và nhiều vị trí năng lực chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, ít có sự đầu tư, nghiên cứu, chưa đáp ứng yêu cầu mục tiêu, chiến lược về BĐG đặt ra.

    Đại diện các ban, ngành hưởng ứng tháng hành động…

    Tình trạng bạo lực gia đình, tảo hôn, tệ nạn mại dâm, xâm hại, buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn biến phức tạp, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Số phụ nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư khỏi địa phương vẫn còn cao. Một số chính sách, phương pháp công tác vận động phụ nữ chưa cụ thể, chưa phù hợp ở một số nơi đặc thù. Phụ nữ cao tuổi, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật có hoàn cảnh khó khăn chưa được quan tâm đúng mức…

    Mọi hành động hướng tới mục tiêu “Chung tay xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái”

    Tiếp đó, đặt nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong công tác cán bộ của cấp ủy từng cấp; đổi mới công tác đánh giá cán bộ nữ theo quan điểm phát triển, chú trọng yếu tố giới; quy hoạch, đào tạo phải nhất thiết bảo đảm tỷ lệ nữ theo từng cấp. Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng đối với cán bộ nữ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, để có đủ năng lực tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể. Thực hiện công tác luân chuyển cán bộ, công chức nữ phù hợp với điều kiện, sở trường công tác để đào tạo, bồi dưỡng làm cơ sở cho việc đề bạt, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ nữ. Mạnh dạn đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ, trẻ có triển vọng phát triển.

    Công tác BĐG và VSTBCPN chủ yếu là hoạt động lồng ghép, vì vậy cần có cơ chế và chỉ đạo phối hợp liên bộ, liên ngành từ trung ương đến địa phương. Thực hiện lồng ghép BĐG vào các chương trình, đề án, dự án của các ngành, đơn vị, địa phương. Có chính sách cho huyện, xã có 01 cán bộ chuyên trách làm công tác này nhằm giúp Ban VSTBCPN hoạt động có hiệu quả. Ưu tiên đầu tư nguồn lực đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu Chương trình về BĐG đến năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Mục Tiêu, Giải Pháp Vấn Đề Tôn Giáo
  • ​tìm Hiểu Thực Trạng Vấn Đề Tôn Giáo Và Dân Tộc Trong Phát Triển Hiện Nay Ở Gia Lai
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014
  • Giải Pháp Nào Cho Bình Đẳng Giới Tại Trung Tâm Học Tập Cộng Đồng?
  • Luận Văn Đề Tài Ảnh Hưởng Của Định Kiến Giới Đối Với Việc Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Giải Pháp Xóa Bỏ Định Kiến Giới
  • Tiền Giang: Giải Pháp Đảm Bảo Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực
  • Ngày đăng: 06/03/2019 03:22

    1. Thực trạng thực hiện bình đẳng giới đối với công chức, viên chức nữ

    Bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức thể hiện ở các nội dung cơ bản là: nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ nữ; tăng cường công tác tạo nguồn quy hoạch cán bộ nữ và bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức nữ bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới; nâng cao năng lực đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chuyên ngành và liên ngành về thực hiện quy định về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới.

    Thời gian qua, các bộ, ngành và địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bình đẳng giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật và các chương trình, kế hoạch góp phần nâng cao năng lực thực hiện bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho đội ngũ cán bộ pháp chế ở các bộ, ngành, địa phương được quan tâm thông qua các lớp tập huấn chuyên sâu; tổ chức hội thảo, tập huấn cho thành viên các ban soạn thảo, tổ biên tập các văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động triển khai Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    Đặc biệt từ năm 2022, môn học “Giới trong lãnh đạo, quản lý” được chính thức đưa vào các hệ đào tạo thuộc chương trình cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, từ đó góp phần nâng cao năng lực về bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quy hoạch lãnh đạo các cấp. Nội dung nhận thức giới, bình đẳng giới cũng được đưa vào chương trình đào tạo chính khóa tại Trường Sĩ quan Chính trị của Bộ Quốc phòng nhằm nâng cao năng lực bình đẳng giới cho đội ngũ sĩ quan quân đội.

    Trong năm 2022, có gần 1.600 lượt cán bộ được tập huấn nội dung bình đẳng giới, công tác bình đẳng giới, trong đó có gần 1.000 lượt cán bộ nữ, chiếm khoảng 70%(1). Ngoài ra, nhiều cơ quan, đơn vị đã lồng ghép tập huấn trong các hoạt động đoàn thể của cơ quan, đơn vị cho hàng nghìn lượt cán bộ…

    Các chỉ tiêu của mục tiêu này về cơ bản đã được thực hiện và đánh giá từ đầu nhiệm kỳ và kết quả bầu cử tại Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2022 – 2022:

    – Đảng bộ, chi bộ cơ sở: tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 19,69% (tăng 1,59% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ bí thư là 8,0% (tăng 1,8% so với nhiệm kỳ trước);

    – Đảng bộ cấp huyện và tương đương: tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 14,3% (tăng 0,3% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ bí thư là 7,4% (tăng 2,6% so với nhiệm kỳ trước);

    – Đảng bộ trực thuộc Trung ương: tỷ lệ cấp ủy viên là nữ chiếm 13,3% (tăng 1,9% so với nhiệm kỳ trước); tỷ lệ nữ bí thư là 6,3% (tăng 3,1% so với nhiệm kỳ trước).

    Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2022-2021 đạt được như sau:

    – Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 26,72%, tăng 2,62% so với nhiệm kỳ trước.

    – Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2022-2021 cấp tỉnh đạt 26,54% (tăng 1,37%); cấp huyện đạt 27,85% (tăng 3,23%); cấp xã đạt 26,59% (tăng 4,88%).

    Năm 2022, có thêm 02 nữ lãnh đạo chủ chốt được bổ nhiệm tại Thông tấn xã Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nâng tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo nữ lên 40% (12/30).

    Về tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt của Ủy ban nhân dân các cấp: cấp tỉnh là 17/289 người, chiếm tỷ lệ 6%; cấp huyện là 230/2.377 người, chiếm tỷ lệ 10%; cấp xã là 2.834/26.044 người, chiếm tỷ lệ 11%(2).

    Về tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt tại cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội đạt tỷ lệ 30% trở lên thống kê tại khối cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương). Tại cấp trung ương, trong số 1.200 cơ quan nhà nước tại các bộ, ngành có khoảng 30% nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, trong đó có 640 cơ quan có lãnh đạo chủ chốt là nữ (chiếm tỷ lệ 53%); cấp tỉnh là 375/989 cơ quan, đơn vị (tương đương 38%); cấp huyện là 1.571/2.606 cơ quan, đơn vị (tương đương 60%); cấp xã là 1.600/3.375 cơ quan, đơn vị, tương đương 48%(3).

    Mặc dù các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ tham gia các vị trí quản lý, lãnh đạo chưa đáp ứng yêu cầu của Chiến lược đề ra, song tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội khóa XIV đạt 26,8% cao hơn mức 19% của Châu Á và 21% trung bình toàn cầu(4). Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, năm 2022 Việt Nam đứng thứ 97/144 quốc gia về tỷ lệ nữ tham gia chính trị.

    – Tuy nhiên, việc triển khai công tác bình đẳng giới tại một số đơn vị, địa phương còn mang tính hình thức, chưa được quan tâm lồng ghép vào trong các hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn.

    Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế – xã hội tại các bộ, ngành, địa phương còn ở mức độ hạn chế, thực hiện còn mang tính thủ tục và chưa đi vào thực chất.

    Công tác phát triển, tạo nguồn cán bộ nữ chưa được quan tâm đúng mức. Các bộ, ngành và địa phương hầu như chưa có chính sách riêng đủ mạnh để hỗ trợ, khuyến khích nữ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng. Việc phát hiện và giới thiệu nguồn cán bộ nữ chưa được triển khai hiệu quả và mang tính chiến lược.

    Một số vấn đề nảy sinh có tác động, ảnh hưởng tiêu cực đối với phụ nữ và trẻ em gái trong đời sống, việc làm, an sinh xã hội, nhất là tình trạng bạo lực, xâm hại tình dục. Tình trạng vi phạm quy định đối với lao động nữ tại các khu công nghiệp, lao động nữ làm việc tại khu vực phi chính thức chưa được xử lý kịp thời còn gây bức xúc trong xã hội.

    – Có thể nêu một số nguyên nhân của những hạn chế nêu trên như sau:

    + Nguyên nhân chủ quan:

    Nhận thức về vấn đề bình đẳng giới của một bộ phận tầng lớp nhân dân còn hạn chế. Tư tưởng xem nhẹ nữ giới vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo đã tạo ra những rào cản hạn chế phụ nữ khẳng định bản thân trong công việc và cuộc sống.

    Sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền một số địa phương, bộ, ngành (nhất là người đứng đầu) còn chưa thật sự sát sao, chưa thực chất nên chưa dành nguồn lực thỏa đáng cho công tác bình đẳng giới tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

    Chưa có chế tài xử lý việc không hoàn thành các chỉ tiêu của Chiến lược đối với các địa phương hoặc các bộ, ngành phụ trách thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.

    + Nguyên nhân khách quan:

    Liên hợp quốc ban hành các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 đặt ra yêu cầu cao cho mỗi quốc gia trong việc hoàn thành các chỉ tiêu về bình đẳng giới; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn đến những yêu cầu cấp bách trong việc hỗ trợ lao động nữ đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và lao động nữ làm việc trong khu vực phi chính thức.

    Chưa có đủ nguồn lực và kỹ thuật thực hiện điều tra quốc gia về bình đẳng giới để đánh giá, xác định những tồn tại và thách thức đối với công tác bình đẳng giới nói chung và đối với các nhóm phụ nữ yếu thế nói riêng như lao động nữ ở khu vực phi chính thức, nữ dân tộc thiểu số, bạo lực trên cơ sở giới…

    Ban hành hướng dẫn thực hiện quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đối với các trường hợp lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018 phù hợp với tình hình thực tế.

    Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới quốc gia đảm bảo tính khả thi, hiệu quả.

    Đẩy mạnh việc triển khai các giải pháp để thực hiện các chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2022 thông qua các chương trình, đề án.

    Nghiên cứu, ban hành các chính sách nhằm tạo điều kiện và khuyến khích phụ nữ tự trau dồi, nâng cao trình độ và tham gia tích cực vào các hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Ba là, phát triển nguồn nhân lực nữ đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển đất nước. Từng bước thu hẹp dần khoảng cách giới trong quy định về tuổi nghỉ hưu tại Bộ luật Lao động hiện hành nhằm tạo điều kiện và cơ hội tham gia cho lao động nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống, chính trị, văn hóa, xã hội.

    Đẩy mạnh thực hiện các chương trình, mô hình cho lãnh đạo nữ trẻ, phát triển kết nối mạng lưới cán bộ nữ, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn giữa cán bộ nữ có kinh nghiệm và cán bộ nữ trẻ.

    Bốn là, bố trí nguồn lực, nâng cao năng lực cán bộ. Cân đối, bố trí nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của các chương trình, đề án, dự án đã được phê duyệt của các bộ, ngành, địa phương. Củng cố tổ chức, nhân lực và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là đội ngũ nữ cán bộ tiềm năng và cán bộ tham mưu về công tác bình đẳng giới, đặc biệt đối với nữ lãnh đạo trẻ, nữ cán bộ dân tộc thiểu số.

    Năm là, đẩy mạnh việc huy động nguồn lực trong nước và quốc tế dành cho công tác bình đẳng giới; trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và tăng cường kiểm tra việc thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; thực hiện pháp luật về bình đẳng giới./.

    Ghi chú:

    (1),(2),(3),(4),(5) Báo cáo số 377/BC-CP ngày 12/9/2018 của Chính phủ về việc thực hiện Mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2022.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100