Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Vững Mạnh

--- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Chính Quyền Cấp Xã Theo Tinh Thần Hiến Pháp Năm 2013
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh Xuất Sắc
  • Vì thế, yêu cầu đặt ra đối với chính quyền cơ sở vừa phải thực hiện đầy đủ quyền lực trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt trong tiếp xúc, làm việc với nhân dân. Xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở vững mạnh, đủ năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ là cơ sở để phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh.

    Lãnh đạo xã Đội Cấn (TP Tuyên Quang) kiểm tra việc lập danh sách cử tri tại thôn Tân Tạo chuẩn bị

    cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2022 – 2022.

    Vai trò cầu nối

    Minh chứng sinh động là từ năm 2010 đến năm 2022, trong điều kiện khó khăn chung của cả nước, cán bộ cơ sở đã vận động nhân dân hoàn thành nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch lớn của tỉnh như: Làm mới 2.700 km đường bê tông nông thôn, trong đó người dân đã hiến trên 42.000 m2 đất, đóng góp trên 800 tỷ đồng; hoàn thành phổ cập cho trẻ mầm non 5 tuổi; hoàn thành cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu cho cá nhân, hộ gia đình. Công tác giảm nghèo, chương trình xây dựng nông thôn mới triển khai có hiệu quả đã nâng cao hơn chất lượng cuộc sống của nhân dân.

    Năm 2011, xã Mỹ Bằng được chọn làm xã điểm xây dựng nông thôn mới của tỉnh. Thời điểm đó, toàn xã mới chỉ đạt 4 tiêu chí. Để lãnh đạo thực hiện việc xây dựng nông thôn mới ở Mỹ Bằng theo chỉ đạo của tỉnh, Đảng bộ, chính quyền xã đã tập trung vận động nhân dân, để nhân dân hiểu và đồng thuận thực hiện. Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mọi hoạt động từ việc xây nhà văn hóa thôn, làm đường bê tông liên thôn, xây dựng trường lớp học… đều được công khai, lấy ý kiến nhân dân, đưa vào Nghị quyết và Chương trình hành động của Đảng bộ. Theo ông Trần Văn Dậu, Chủ tịch UBND xã, trong 4 năm, xã đã huy động nhân dân đóng góp được gần 30 tỷ đồng, bình quân mỗi nhân khẩu đóng góp 300.000 đồng để xây dựng 127 km đường bê tông nông thôn, kiên cố hóa được 28 km kênh mương, đảm bảo nguồn nước tưới cho 80% diện tích ruộng 2 vụ, nâng hệ số sử dụng đất lên 2,6 lần… Những việc đó không hề có thắc mắc của người dân, bởi người dân chính là người quyết định làm cái gì, làm như thế nào, mức độ đóng góp ra sao và là người giám sát. Với sự nỗ lực, quyết tâm của cấp ủy, chính quyền, sự đồng lòng của nhân dân, xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới trong năm 2014, vượt kế hoạch trước 1 năm.

    Chính quyền xã Yên Lâm (Hàm Yên) đã khẳng định được vai trò quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo tại địa phương. Từ năm 2010 đến nay, toàn xã giảm được 302 hộ nghèo; tỷ lệ hộ nghèo còn trên 27%. Cách chính quyền xã làm ở đây là “đưa cần câu để bà con tự câu cá”. Theo đó, cán bộ luôn động viên bà con vươn lên trong phát triển kinh tế hộ gia đình, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, hỗ trợ bà con về vốn vay, con giống… Đồng chí Đoàn Long Hải, Bí thư Đảng ủy xã Yên Lâm phấn khởi: “Chúng tôi mừng nhất là nhiều hộ đã tự xin thoát nghèo bởi kinh tế gia đình đã khấm khá. Thời gian tới, xã sẽ tiếp tục phát huy lợi thế đất vườn đồi, phát triển cây cam đạt năng suất, chất lượng góp phần mở rộng vùng cam hàng hóa trên địa bàn huyện, đồng thời phát triển chăn nuôi con thế mạnh như dê, lợn đen để tăng thu nhập cho người dân, phấn đấu giảm từ 6 đến 7% hộ nghèo mỗi năm”.

    Cán bộ xã Kim Phú (Yên Sơn) kiểm tra tiến độ làm sân thể thao thôn 19. Ảnh: Trang Tâm

    Cán bộ là then chốt

    Chương trình bê tông hóa đường giao thông nông thôn giai đoạn 2011 – 2022 là chương trình thành công ngoài mong đợi, vì được nhân dân đồng tình tham gia. Để làm được việc đó, cán bộ, chính quyền cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm huy động được sức dân… Nhiều xã đã chỉ đạo, vận động nhân dân làm vượt chỉ tiêu kế hoạch như Mỹ Bằng, Nhữ Hán, Hoàng Khai (Yên Sơn), Thanh Tương (Nà Hang), Yên Nguyên (Chiêm Hóa), Phù Lưu (Hàm Yên), Ninh Lai, Minh Thanh, Hợp Hòa (Sơn Dương), An Khang, Lưỡng Vượng (TP Tuyên Quang), Lăng Can (Lâm Bình)… Nhưng địa phương nào chính quyền không quyết liệt, không làm tốt công tác dân vận thì nơi ấy làm được rất ít đường bê tông nông thôn. Trong đó, xã Kiên Đài (Chiêm Hóa) còn 7 thôn chưa thực hiện; xã Yên Thuận và Tân Thành (Hàm Yên) mỗi xã còn 6 thôn chưa thực hiện; xã Yên Hoa và Sinh Long (Nà Hang) mỗi xã còn 6 thôn chưa thực hiện; xã Công Đa (Yên Sơn) còn 6 thôn chưa thực hiện.

    Hoạt động của HTX hiện nay cũng phản ánh những hạn chế của cán bộ cơ sở. Ông Đồng Mạnh Cường, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh phân tích: Do trình độ, năng lực quản lý, điều hành của cán bộ quản lý HTX còn nhiều yếu kém như thiếu tính năng động, yếu về khả năng tìm kiếm thị trường, không có định hướng phát triển lâu dài dẫn đến sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; sự liên kết giữa nhà nông, nhà khoa học lỏng lẻo, nên phát triển chưa bền vững. Đặc biệt là các HTX nông lâm nghiệp hoạt động mới chỉ dựa theo kinh nghiệm, tự phát, không có sự liên kết, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

    Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hoàng Khai (Yên Sơn) Lưu Văn Khang (bên trái)

    thăm mô hình kinh tế của người dân Yên Mỹ 2.

    Theo Liên minh HTX tỉnh thì toàn tỉnh chỉ có 39/289 HTX hoạt động hiệu quả, chiếm 23%; 103 HTX hoạt động trung bình; 8 HTX hoạt động kém hiệu quả. Trong 823 cán bộ quản lý HTX có 88 cán bộ trình độ đại học, chiếm 10,7%; cao đẳng 23 cán bộ, chiếm 2,8%; trung cấp 298 cán bộ, chiếm 36,2%. Số người đứng đầu HTX mới qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng là 414 người, chiếm 50,3%. Nhiều cán bộ quản lý HTX chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường.

    Việc giải quyết thủ tục hành chính, chế độ cho người dân vẫn còn chậm một phần cũng do cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Ông Bùi Xuân Lẫm, xóm 16 xã Tràng Đà cho rằng, nguyên nhân là do vai trò giám sát của cấp ủy, HĐND, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể còn lỏng lẻo, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức cơ sở còn thấp so với yêu cầu thực tế; vẫn còn có cán bộ cơ sở giải quyết công việc theo ý muốn chủ quan.

    Theo ông Trần Nam Phong, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, để xây dựng, củng cố chính quyền cơ sở, góp phần đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh và thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh đề ra, cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh. Theo đó, cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền cơ sở để nâng cao kỹ năng làm việc và tinh thần trách nhiệm trong giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện tốt việc quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt trong bộ máy chính quyền địa phương; đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của các chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn hướng đến xây dựng quy chế đánh giá kết quả hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở thông qua một số tiêu chí cụ thể về hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Đồng thời, tăng cường vai trò chỉ đạo của cấp ủy Đảng, giám sát chặt chẽ của HĐND, Ủy ban MTTQ và các tổ chức đoàn thể các cấp trong việc tham gia xây dựng chính quyền.

    Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh đã xác định trong nhiệm kỳ mới cần xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Muốn vậy chính quyền từ cơ sở phải vững mạnh, thực hiện tốt chức năng quản lý, điều hành, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quản lý địa bàn. Trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở phải luôn được nêu cao để hoàn thành nhiệm vụ.

    Bài, ảnh: Trang Tâm

    Ông Đỗ Xuân Trường, Phó Chủ tịch UBND huyện Yên Sơn

    Luân chuyển, sắp xếp cán bộ cơ sở là cần thiết

    Trong những năm qua, việc luân chuyển, bố trí, sắp xếp cán bộ cơ sở trên địa bàn huyện Yên Sơn đã nâng cao năng lực lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức ở địa phương, góp phần hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Phát huy kết quả đạt được, UBND huyện Yên Sơn xác định công tác luân chuyển, bố trí, sắp xếp, đào tạo cán bộ cơ sở là việc làm cần thiết, liên tục nhằm tạo nguồn, quy hoạch, từng bước trẻ hóa, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ năng lực công tác. Huyện cũng cân đối, bố trí cán bộ theo cơ cấu dân tộc, giới tính để nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển của cơ sở trong tình hình mới và phục vụ nhân dân tốt hơn.

    Anh Hoàng Đức Dự, cán bộ Địa chính – xây dựng xã Tân An (Chiêm Hóa)

    Luôn học tập, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ

    Bà Nguyễn Thị Hoa, xóm 16, xã Tràng Đà (TP Tuyên Quang)

    Cán bộ phải lắng nghe người dân nhiều hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Bộ Máy Chính Quyền Vững Mạnh Từ Cơ Sở
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử Phải Có “công Dân Điện Tử”
  • Tiền Giang: Đồng Bộ Các Giải Pháp Trong Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Bình Dương Quyết Tâm Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Trong Sạch, Vững Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh Là Cơ Sở Quyết Định Chất Lượng Hoạt Động Của Tổ Chức Công Đoàn
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Chi Đoàn Mạnh Kiểu Mẫu Và Tiêu Chí Đánh Giá Công Nhận Chi Đoàn Mạnh Kiểu Mẫu, Giai Đoạn 2022
  • Xây Dựng “Thế Trận Lòng Dân” Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Lớn Mạnh Là Nhiệm Vụ Quan Trọng Và Cấp Bách
  • Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Việt Nam: Nhìn Từ Hải Dương
  • Bài 1: “Cầu nối” giữa Nhà nước với nhân dân

    Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, tỉnh quan tâm xây dựng, củng cố chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh toàn diện, nhất là chính quyền cơ sở; chỉ đạo chính quyền cơ sở đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động theo phương châm hành động mới của Chính phủ và của UBND tỉnh năm 2022 là “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, đột phá, hiệu quả” để xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại.

    Theo ông Lê Hữu Khang, Giám đốc Sở Nội vụ, điểm nổi bật nhất trong củng cố, xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch vững mạnh trên địa bàn tỉnh đạt được thời gian qua đó chính là việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo chuyển biến tích cực về thái độ, trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã, nhất là người đứng đầu. Ðổi mới công tác bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý lựa chọn người có năng lực, tư duy đổi mới, phẩm chất đạo đức tốt, gắn với cơ chế trách nhiệm; kịp thời thay thế cán bộ, công chức trì trệ, không hoàn thành nhiệm vụ, giảm sút uy tín. Xử lý nghiêm và kịp thời theo quy định của pháp luật các tổ chức và cá nhân có vi phạm thực thi công vụ. Tỉnh chỉ đạo tiếp tục đổi mới phương thức, lề lối làm việc của cơ quan hành chính nhà nước cấp xã, giảm hội họp, giấy tờ hành chính và chế độ báo cáo; xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp.

    Ðể đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, Sở Nội vụ đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại chính quyền cơ sở. Ðó là “cái gậy” để hàng năm, chính quyền địa phương đánh giá tổng kết công tác này; đồng thời chỉ đạo củng cố kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã, nhất là xã yếu kém, kiên quyết thay thế Chủ tịch UBND cấp xã nhiều năm xếp loại trung bình… Với các giải pháp quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả chính quyền cơ sở được nâng lên, hoạt động tuân thủ đúng quy định của pháp luật và quy chế làm việc, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đảm bảo sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chấp hành tốt sự chỉ đạo của Chính phủ, cơ quan nhà nước cấp trên; phát huy tính chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo điều hành và có nhiều chuyển biến tích cực, chủ động xử lý, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã tiếp tục được nâng lên. Ðến nay có 64/130 xã, phường, thị trấn đạt trong sạch vững mạnh; 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã tổ chức hội nghị trao đổi, đối thoại giữa UBND cấp xã với nhân dân theo quy định.

    Thanh Nưa dù không phải xã được huyện Ðiện Biên lựa chọn xã điểm xây dựng nông thôn mới của huyện, song với sự quyết tâm và tinh thần đoàn kết thống nhất của Ðảng bộ, chính quyền và sự hưởng ứng tích cực tham gia của nhân dân nên đến cuối năm 2022 xã đã “cán đích” nông thôn mới. Bà Lò Thị Vân, Chủ tịch UBND xã Thanh Nưa cho biết: Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mọi hoạt động từ việc xây nhà văn hóa bản, làm đường bê tông liên bản… đều được công khai, lấy ý kiến nhân dân rồi đưa vào Nghị quyết và Chương trình hành động của Ðảng bộ xã. Mức đóng góp cụ thể của người dân ra sao, ưu tiên thực hiện hạng mục, phần việc nào trước đều được triển khai thuận lợi và không hề có thắc mắc của người dân, bởi nhân dân là người được quyền quyết định làm cái gì, làm như thế nào và cũng chính là người giám sát.

    Còn tại xã Chiềng Ðông (huyện Tuần Giáo), năng lực của cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền được khẳng định, với uy tín của mình với người dân tại cơ sở nên nhiều vấn đề phát sinh trong thời gian qua, như: Tranh chấp đất đai, mâu thuẫn giữa các dòng họ… đã được giải quyết, hóa giải ngay từ cấp xã; đồng thời khơi gợi được sức mạnh tập thể trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Chính quyền xã Chiềng Ðông đã khẳng định được vai trò quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Ông Quàng Văn Sung, Chủ tịch UBND xã cho biết: Cùng với việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân công cán bộ xã tiếp dân, giải đáp các chế độ, chính sách cho nhân dân; xã đã chủ động tổ chức thực hiện tốt việc xây dựng, quản lý khai thác sử dụng và duy tu bảo dưỡng các công trình đường giao thông liên thôn, bản, công trình phúc lợi, xã hội. Hàng năm huy động từ 85 – 100% hộ gia đình trong xã tự nguyện đóng góp ngày công, vật chất để xây dựng, tu sửa các tuyến đường nội xã. Bảo vệ từ 95 – 100% vốn rừng hiện có, không để xảy ra trường hợp vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, nhờ đó tỷ lệ hộ nghèo qua từng năm đều giảm, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, nâng cao.

    Ông Vũ Văn Ðức, Chủ tịch UBND huyện Tuần Giáo cho biết: Xây dựng chính quyền cấp xã đoàn kết, thống nhất, hoạt động hiệu lực, hiệu quả phục vụ nhân dân; các xã trên địa bàn đã tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động; phát huy dân chủ ở cơ sở, cải tiến lề lối, tác phong làm việc của cán bộ công chức cấp xã; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng. Công tác đối thoại, trao đổi với nhân dân được UBND cấp xã quan tâm thực hiện; cán bộ xã tăng cường sâu sát cơ sở nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân từ đó đã góp phần giải quyết hiệu quả các vấn đề nổi cộm, bức xúc của nhân dân tại cơ sở. Góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương.

    Bài 2: Cán bộ là then chốt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử: Hiệu Quả Bước Đầu
  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Tên Sách: Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Bền Vững Nông Thôn Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ Trong Quá Trình Xây Dựng Và Phát Triển Các Khu Công Nghiệp (Qua Khảo Sát Các Tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình).
  • An Toàn Trường Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Xây Dựng Trường Học An Toàn, Phòng Chống Tai Nạn Thương Tích Cho Trẻ Đạt Hiệu Quả Cao Tại Trường Mầm Non Hải Vân, Huyện Như Thanh
  • Xây Dựng Bộ Máy Chính Quyền Vững Mạnh Từ Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Vững Mạnh
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Chính Quyền Cấp Xã Theo Tinh Thần Hiến Pháp Năm 2013
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Ông Nguyễn Trọng Nam.

    Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền hợp pháp, hợp hiến, dân chủ và coi trọng tính hiệu lực, hiệu quả. Người từng nói: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”. Ông có nhận xét gì về tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

    Trước hết, ta thấy rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một hệ thống các quan điểm lý luận về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trong đó, quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị lâu bền, xuyên suốt hành trình cách mạng của Người.

    Tư tưởng nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân. Đến nay, các quan điểm này của Người vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

    Những năm qua, Sở Nội vụ đã tham mưu cho UBND tỉnh những giải pháp gì xây dựng bộ máy chính quyền các cấp “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, thưa ông?

    Sở Nội vụ đã tham mưu UBND tỉnh nhiều giải pháp hết sức thiết thực. Trong đó tập trung nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND các cấp. Tiếp đó là tiếp tục đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước trên tất cả các phương diện: Thể chế, tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức và tài chính công.

    Những nhiệm vụ trên được thể hiện qua việc thực hiện các Nghị định của Chính phủ quy định các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện; thành lập các cơ quan đặc thù khác như: Ban Dân tộc, Sở Ngoại vụ, Ban quản lý Khu công nghiệp bảo đảm hệ thống cơ quan thuộc UBND tỉnh tinh gọn, phù hợp chức năng, nhiệm vụ. Chỉ đạo, tổ chức tốt các cuộc bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu hoạt động, điều hành của UBND các cấp.

    Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức bảo đảm cung cấp những kỹ năng, nội dung của cơ sở còn thiếu và yếu, có nội dung cầm tay chỉ việc. Cử cán bộ, công chức cấp tỉnh về địa phương củng cố hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở tại 10 xã của huyện Lục Ngạn.

    Tiếp tục thực hiện những giải pháp có hiệu lực để đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy chính quyền các cấp; Thường xuyên kiểm tra đột xuất việc thi hành nhiệm vụ, công vụ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính…

    Xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh không thể tách rời nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Vậy từ sự tham mưu, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của Sở Nội vụ, tỉnh ta đã thu được kết quả nổi bật gì trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền các cấp?

    Để xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh, với sự tham mưu của Sở Nội vụ, tỉnh ta đã đạt được kết quả nổi bật đó là: Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thi hành nhiệm vụ đối với cán bộ cấp xã bằng việc chuyển xếp lương của đội ngũ cán bộ cấp xã theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22-10-2009 của Chính phủ và Thông tư số 03/2010/TT-BNV của Bộ Nội vụ.

    Từng bước nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, viên chức. Khi thực hiện ưu tiên tuyển trước người có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, tốt nghiệp các lớp chất lượng cao loại giỏi. Huyện Tân Yên, TP Bắc Giang tuyển dụng những người có trình độ từ cao đẳng hệ chính quy trở lên, có trình độ thạc sĩ về cấp xã công tác. Chất lượng mặt bằng chung cán bộ, công chức cấp xã được nâng lên.

    Hàng năm, làm tốt công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo chuyên ngành, chuyên đề cụ thể và thiết thực, tập trung vào những vấn đề còn bất cập hiện nay như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết thủ tục hành chính ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; kỹ năng giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo.

    Cùng với những chuyển biến trên, kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức nâng lên; quy chế văn hóa công sở được các cơ quan, đơn vị quan tâm thực hiện.

    Quảng trường 3-2 (TP Bắc Giang) đang hoàn thiện khâu cuối để đón mừng Quốc khánh 2-9-2014. Ảnh: Lan Hương.

    Nhiều ý kiến cho rằng, ở một số địa phương, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền còn chưa đáp ứng yêu cầu; chức năng “chính quyền phục vụ nhân dân” còn chưa thể hiện rõ nét. Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên, thưa ông?

    Hiện nay, ở một số cơ sở, bộ máy chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu chính quyền phục vụ nhân dân, được thể hiện ở một số vấn đề như: Giải quyết thủ tục hành chính nói chung, giải quyết thủ tục hành chính qua bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn có thủ tục chậm được giải quyết. Số lượng đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân còn nhiều. Còn có Chủ tịch UBND cấp xã vi phạm pháp luật do tham ô, lãng phí dẫn đến xử lý kỷ luật cách chức, phạt tù giam.

    Nguyên nhân là do tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức chưa cao, chưa thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Vai trò giám sát của cấp ủy, HĐND, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể chưa được đề cao, chưa sát sao chỉ đạo kịp thời những nội dung còn bất cập trong quá trình hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương và trong giải quyết thủ tục hành chính.

    Công tác nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức làm chưa tốt, còn hiện tượng đưa vào quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, giới thiệu nhận sự ứng cử để bầu vào chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền những người không có đủ phẩm chất, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ.

    Để tiếp tục phát huy kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế, tồn tại, trong thời gian tới Sở Nội vụ có những giải pháp đột phá gì xây dựng bộ máy chính quyền các cấp vững mạnh từ cơ sở, thưa ông?

    Giải pháp trước hết là tăng cường vai trò chỉ đạo của cấp ủy đảng, giám sát chặt chẽ của HĐND, Ủy ban MTTQ và đoàn thể nhân dân các cấp và của nhân dân tham gia xây dựng chính quyền. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các vấn đề: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền để nâng cao kỹ năng làm việc và tinh thần trách nhiệm trong giải quyết thủ tục hành chính.

    Thực hiện tốt việc quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt trong bộ máy chính quyền địa phương. Tiếp tục đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của Chủ tịch UBND các cấp, hướng đến xây dựng quy chế đánh giá kết quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương thông qua một số tiêu chí cụ thể về hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương.

    Xin trân trọng cảm ơn ông!

    Thế Phương (thực hiện)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử Phải Có “công Dân Điện Tử”
  • Tiền Giang: Đồng Bộ Các Giải Pháp Trong Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Bình Dương Quyết Tâm Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Quảng Nam: Tìm Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử, Đô Thị Thông Minh
  • Giải Pháp Củng Cố, Xây Dựng Cơ Sở Đoàn Vững Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Tổ Chức Đoàn Vững Mạnh
  • Bài Tham Luận Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Tiểu Luận Những Giải Pháp Cơ Bản Để Xây Dựng Và Phát Triển Nền Dân Chủ Mới Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Giải Pháp Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Để Chống Xuống Cấp Đạo Đức Trong Đảng
  • Một là, xây dựng chi đoàn mạnh về chính trị và tư tưởng; nâng cao bản lĩnh chính trị, đoàn kết và sức chiến đấu của chi đoàn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn đối với ĐVTN trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt các giải pháp như: Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, bồi dưỡng lý tưởng, xây dựng niềm tin; tạo môi trường để ĐVTN được học tập, rèn luyện. Thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; đặc biệt là những vấn đề có tác động trực tiếp tới thanh niên và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tổ chức sinh hoạt đảm bảo đúng định kỳ để quán triệt, phổ biến các nội dung chủ điểm, kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng của đoàn viên, thanh niên.

    Môt buổi sinh hoạt chuyên đề tại nhà mẹ VNAH Ngô Thị Đồng của chi đoàn Cơ quan Tỉnh đoàn.

    Hai là, tập trung xây dựng chi đoàn vững mạnh về tổ chức, trọng tâm là xây dựng ban chấp hành chi đoàn đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; vững về kỹ năng, nghiệp vụ; có lề lối, tác phong làm việc nghiêm túc, chuẩn mực; thực hiện tốt công tác đoàn vụ, đảm bảo việc sinh hoạt, quản lý đoàn viên… theo quy định của Điều lệ Đoàn.

    Ba là, chi đoàn cần xây dựng chương trình công tác, kế hoạch hoạt động gắn với nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị; đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của ĐVTN. Nội dung các phong trào, hoạt động của Đoàn cần hợp lý, hài hòa giữa việc phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của ĐVTN với chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của ĐVTN.

    Bốn là, cần quan tâm thực hiện công tác đoàn viên đảm bảo đúng nguyên tắc, quy trình và thủ tục từ khâu phát triển đoàn viên, quản lý đoàn viên; thực hiện chương trình Rèn luyện đoàn viên; công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng và đánh giá, xếp loại đoàn viên.

    Chi đoàn UBND huyện Sơn Tịnh thăm gia đình chính sách tại xã Tịnh Phong.

    Phát triển đoàn viên đảm bảo đúng nguyên tắc, quy trình và thủ tục trong các đối tượng thanh niên trên cơ sở coi trọng chất lượng đoàn viên mới, không kết nạp ồ ạt, chạy theo số lượng; quản lý đoàn viên cần quan tâm tới hệ thống sổ sách, thực hiện đảm bảo đúng quy định về quản lý thẻ đoàn viên và có giải pháp hiệu quả để tổ chức cho đoàn viên tham gia sinh hoạt đoàn nơi cư trú; tiến hành đánh giá, xếp loại đoàn viên đảm bảo đúng quy định của Điều lệ Đoàn, từ đó có cơ sở để đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng đoàn viên để thực hiện có hiệu quả công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp.

    Năm là xây dựng chi đoàn vững mạnh cần quan nâng cao chất lượng sinh hoạt tại chi đoàn. Để thu hút ĐVTN tham gia sinh hoạt thì cần phải đổi mới cả về nội dung và hình thức sinh hoạt. Để đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt, ban chấp hành chi đoàn cần phải nắm được nguyện vọng của ĐVTN của chi đoàn trong sinh hoạt; cần nghiên cứu để sinh hoạt các nội dung sát với ĐVTN như: Chia sẻ kinh nghiệm làm giàu, tổ chức tọa đàm về tình yêu, hôn nhân gia đình…

    Bên cạnh đó, các chi đoàn có thể liên kết với nhau để tổ chức giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tạo điều kiện để đoàn viên các chi đoàn giao lưu, học hỏi lẫn nhau; đoàn cơ sở có thể tổ chức các buổi sinh hoạt chung để các chi đoàn học hỏi kinh nghiệm, phân công ủy viên ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành tham gia sinh hoạt cùng các chi đoàn để kiểm tra, đánh giá và kịp thời góp ý, bổ sung những thiếu sót, hạn chế trong buổi sinh hoạt cho ban chấp hành chi đoàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Giải Pháp Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Nghệ An: Giải Pháp Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Điều Kiện Và Giải Pháp Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Giáo Dục Góp Phần Quan Trọng Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện
  • Xây Dựng Chính Quyền Cấp Xã

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ubnd Các Cấp
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Ubnd Xã Lương Hòa Lạc Chuc Nang Nhiem Vu Cua Ubnd Cap Xa Doc
  • Kiện Toàn Tổ Chức Và Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Ban Công Tác Mặt Trận
  • Ban Công Tác Mặt Trận Ở Khu Dân Cư?
  • 1. Về Hội đồng nhân dân cấp xã

    Hội đồng nhân dân (HĐND): “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”(2). Từ đó, chức năng, nhiệm vụ của HĐND (có 8 điểm theo Luật tổ chức chính quyền địa phương(3), chủ yếu gồm: ban hành nghị quyết hoặc quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương; quyết định công tác nhân sự (bầu cử, bãi nhiệm, miễn nhiệm,…) và công tác đầu tư, thu chi ngân sách…; về tổ chức thực hiện hoạt động giám sát; …

    HĐND cấp xã đã chú ý việc thực hiện chức năng giám sát và đạt được những kết quả nhất định. Nhiều HĐND cấp xã đã chủ động tìm tòi và áp dụng các hình thức, biện pháp giám sát, kiểm tra phù hợp với tình hình thực tế. Qua việc nghe và xem xét các báo cáo, qua việc chất vấn và trả lời chất vấn, việc tổ chức các đoàn đã giám sát, kiểm tra xuống tận các thôn bản ở cơ sở để thu thập ý kiến của cử tri, giúp HĐND cấp xã nắm tình hình, có ý kiến kịp thời về nhiều vấn đề bức xúc cần được giải quyết. Hoạt động giám sát của HĐND cấp xã có những đóng góp tích cực vào việc giải quyết nhiều vụ, việc tiêu cực, hạn chế việc vi phạm pháp luật xảy ra ở địa phương. Nhiều đoàn giám sát đã phát hiện được những sai phạm trong việc chấp hành pháp luật ở cơ sở để kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết xử lý kịp thời; phát hiện những tiêu cực trên các lĩnh vực như giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, chính sách đối với giáo dục, xóa đói giảm nghèo…

    Nhiều HĐND cấp xã đã phát huy tốt hoạt động giám sát của đại biểu thông qua việc tiếp dân. Qua đó, giải quyết thắc mắc, khiếu nại, tố cáo của các cá nhân, tổ chức tại địa phương, đảm bảo thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, ngăn chặn hạn chế những hiện tượng tiêu cực trong bộ máy chính quyền cơ sở, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, ổn định chính trị, xã hội.

    Cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã gồm Thường trực HĐND (Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND), các đại biểu HĐND, Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội. Qua hoạt động, Thường trực HĐND và các đại biểu HĐND cấp xã đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã đã tích cực phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp trong việc chuẩn bị kế hoạch tổ chức hoạt động của HĐND giữa hai kỳ họp như tổ chức một số cuộc giám sát, tiếp dân, sinh hoạt với tổ đại biểu HĐND. Thường trực HĐND đã bám sát quy chế phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do HĐND bầu gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp xã. Đã phối hợp với UBND đưa ra HĐND cấp xã xem xét, bãi nhiệm những đại biểu vi phạm tư cách đại biểu hoặc cho thôi giữ các chức vụ do tín nhiệm thấp. Thường trực HĐND giữ được mối liên hệ thường xuyên với đại biểu HĐND, đôn đốc và theo dõi được việc thực hiện chính sách đối với đại biểu HĐND. Tạo điều kiện cho các đoàn công tác của HĐND cấp trên và Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương về công tác.

    Tuy nhiên, quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HĐND cấp xã còn có những hạn chế, tồn tại. Cụ thể như sau:

    Hai là, công tác giám sát là một trong các nhiệm vụ quan trọng của HĐND, nhưng một số HĐND cấp xã chưa xây dựng được lịch hoạt động giám sát định kỳ hoặc có xây dựng nhưng mang tính hình thức, không tổ chức thực hiện. Các đoàn giám sát xuống cơ sở nhiều khi chưa phân biệt rõ được mục đích, tính chất, nội dung của cuộc giám sát và việc chuẩn bị các bước cần thiết chưa chu đáo nên kết quả giám sát chưa cao, các kết luận thường chung chung, thiếu tính thuyết phục, chưa phản ánh đúng bản chất của vấn đề. Vì vậy, đánh giá, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, các kiến nghị không có hiệu quả.

    – Việc đôn đốc, kiểm tra và giám sát UBND cùng cấp trong việc thực hiện nghị quyết HĐND và giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác đóng tại địa bàn xã còn nhiều khiếm khuyết. HĐND nhiều xã không thể thực hiện được nhiệm vụ này do hạn chế về trình độ và bị cản trở việc thực hiện quyền giám sát. Việc tổ chức các cuộc họp thường xuyên của Thường trực HĐND chưa được thực hiện tốt hoặc thường lồng ghép vào các cuộc họp khác kết hợp với nhiều nội dung.

    – Luật quy định HĐND cấp xã thành lập Ban pháp chế và Ban kinh tế – xã hội nhưng lại hoạt động kiêm nhiệm, không còn các Tổ đại biểu của HĐND cấp xã như trước đây. Quá trình thực hiện luật nhiều ý kiến cho rằng như vậy làm “phình” bộ máy và phát sinh đòi hỏi chế độ, chính sách đối với người giữ chức danh Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND cấp xã(4).

    2. Về Ủy ban nhân dân cấp xã

    UBND cấp xã “do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”(5). UBND cấp xã hoạt động thông qua các phiên họp tập thể của UBND; sự chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch UBND. Với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND cấp xã phải thể hiện vai trò quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội ở địa phương; đồng thời, cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành, thực hiện các quyết định, chỉ đạo của HĐND cấp xã và UBND cấp huyện gắn với các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Thể hiện trên các hoạt động kinh tế – xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và môi trường xã hội trên địa bàn. Đến nay, phần lớn cấp xã đã có đường ô tô đến được trung tâm; cơ sở vật chất phục vụ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa được quan tâm đầu tư; đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân được duy trì, không để dịch bệnh lớn xảy ra; tỷ lệ hộ nghèo giảm hàng năm; bản sắc văn hóa được duy trì và phát huy; đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt; quốc phòng, an ninh được củng cố và giữ vững; các hoạt động tư pháp được thực hiện khá tốt; cải cách thủ tục hành chính có bước chuyển biến rõ rệt. Nhiều xã, phường, thị trấn đã xây dựng được quy chế làm việc và duy trì hoạt động theo quy chế. Quy chế làm việc của cấp xã đã đề cao được trách nhiệm cá nhân của từng thành viên UBND; trách nhiệm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã, đơn giản hóa các thủ tục hành chính; ràng buộc trách nhiệm trong giải quyết các công việc; chống phiền hà, tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phục vụ tốt nhất cho các tổ chức, đơn vị kinh tế và nhân dân.

    Tuy nhiên, hoạt động của UBND cấp xã hiện vẫn còn những mặt hạn chế, tồn tại sau:

    Một là, hoạt động quản lý hành chính của UBND một số xã, phường, thị trấn … còn yếu, tùy tiện; cá biệt ở một số nơi có biểu hiện chưa tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật, nặng về tập quán, thói quen, tình cảm… Việc ban hành các quyết định, văn bản quản lý, áp dụng pháp luật còn nhiều sai sót, không đúng thẩm quyền, thể thức. Giải quyết một số vụ việc sai luật, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, tài chính, xử lý vi phạm…

    Hai là, việc tổ chức điều hành thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh trật tự, thu, chi ngân sách… còn lúng túng. Năng lực công tác, tính chủ động trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chưa cao, chưa thực hiện tốt chức năng là cơ quan chấp hành của HĐND.

    Ba là, một số nơi UBND có xu hướng đẩy việc xuống cho thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, tự biến thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố thành cấp trung gian, làm cho các trưởng thôn, tổ trưởng dân phố phải làm những việc vốn là thuộc nhiệm vụ của UBND xã, phường, thị trấn… Ví dụ như: thu thuế, tuyên truyền phố biến pháp luật, văn hóa thông tin… trong khi tổ chức thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố chỉ thuần túy là các tổ chức cộng đồng dân cư, không phải là tổ chức hành chính cấp dưới của xã, phường, thị trấn. Từ đó, dẫn tới hiệu quả hoạt động và chất lượng công việc thấp. Công tác nắm tâm tư nguyện vọng và vận động quần chúng của nhiều xã, phường còn nhiều yếu kém.

    Năm là, trong hoạt động điều hành của UBND cấp xã còn có tình trạng không phân biệt được việc nào Chủ tịch UBND quyết định, việc nào tập thể UBND quyết định nên gây nhiều khó khăn, trở ngại khi thực hiện. Đặc biệt là khi xảy ra sai phạm khó xác định lỗi thuộc về tập thể UBND hay thuộc về Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND. Mặt khác, do chưa phân định rõ chức năng, thẩm quyền nên có nơi, cán bộ, công chức của UBND cấp xã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, gia đình thậm chí cho cả dòng họ gây ra sự bất bình trong nhân dân.

    Sáu là, do năng lực quản lý, điều hành yếu kém nên một số nơi UBND cấp xã không kiểm soát được tình hình, để mặc cho thôn xóm tự đề ra quy chế, hương ước trái với quy định của pháp luật như việc tự đặt ra các hình thức xử phạt và mức phạt không đúng quy định (bằng thóc hoặc bằng tiền), cho rằng “phép vua thua lệ làng” khiến cho tình hình trị an ở nông thôn vốn đã phức tạp nay càng phức tạp hơn. Bên cạnh đó, việc giải quyết công việc còn chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ họ mạc, làng xóm, quen biết nên làm cho nội bộ của UBND cấp xã một số nơi mất ổn định, sinh ra bè phái, làm giảm hiệu quả điều hành và làm mất lòng tin của nhân dân ở chính quyền nói chung và UBND cấp xã nói riêng.

    3. Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết đối với xây dựng chính quyền địa phương nhìn từ góc độ chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy

    Thứ nhất, cần thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng về phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương theo hướng: “Việc nào do cấp nào quản lý và giải quyết sát thực tiễn hơn thì giao nhiệm vụ và thẩm quyền cho cấp đó”, xóa bỏ dấu ấn của cơ chế cấp dưới xin ý kiến chỉ đạo hoặc phê duyệt của cấp trên. Tiếp tục rà soát, xác định rõ nhiệm vụ và thẩm quyền của chính quyền cấp xã theo hướng “một cấp”: những công việc giải quyết theo nhu cầu của người dân mà cấp xã quyết định được thì giao quyền cho chính quyền cấp xã thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật; công việc giải quyết theo nhu cầu của người dân phải qua cả chính quyền cấp xã và chính quyền cấp huyện thì giao cho cấp huyện thực hiện.

    Thứ hai, xác định và phân biệt rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể UBND cấp xã với thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Thống nhất thực hiện nguyên tắc “tuân thủ pháp luật và việc ai nấy làm”, chính quyền cấp xã chỉ giải quyết nhu cầu và phục vụ người dân theo đúng các nhiệm vụ đã được pháp luật quy định. Không chuyển việc hoặc đẩy việc thuộc trách nhiệm của cấp huyện xuống cấp xã thực hiện; không chuyển việc thuộc trách nhiệm của cấp xã cho thôn, tổ dân phố thực hiện. Khắc phục xu hướng hành chính hóa hoạt động của thôn, tổ dân phố, hạn chế tính tự quản của cộng đồng dân cư.

    Thứ ba, cần phân biệt tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của chính quyền ở khu vực đô thị, nông thôn và hải đảo với những quy định mang tính đặc thù. Nghiên cứu sửa đổi quy định HĐND cấp xã có 2 ban hoạt động kiêm nhiệm (Ban pháp chế và Ban kinh tế – xã hội), để khắc phục xu hướng “phình” bộ máy, phát sinh thêm chế độ, chính sách đối với chức danh Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND cấp xã(6). Xác định rõ nhiệm vụ của trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố theo hướng chỉ tổ chức thực hiện và quản lý các vấn đề mang tính tự quản của cộng đồng dân cư ở thôn, tổ dân phố.

    Thứ tư, khẩn trương ban hành quy chế hoạt động của HĐND cấp xã và quy chế làm việc của UBND cấp xã theo Luật tổ chức chính quyền địa phương.

    Thứ năm, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ở UBND cấp xã, trong đó tập trung rà soát nhằm bảo đảm rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa, chuẩn hóa nội dung hồ sơ thủ tục hành chính; thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Triển khai có hiệu quả Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Tổ chức thực hiện có hiệu quả việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính; các dịch vụ công phổ biến được cung cấp trực tuyến ở mức độ 3 trở lên nhằm giảm chi phí, thời gian cá nhân, tổ chức khi giải quyết thủ tục hành chính ở cấp xã những nơi có đủ điều kiện.

    TS. Trần Anh Tuấn – Thứ trưởng Bộ Nội vụ

    Ghi chú:

    (1 ) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.1995, tr. 371.

    (2) Điều 113 Hiến pháp năm 2013, Nxb Hồng Đức.

    (3) Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022, Nxb CTQG.

    (4) Ví dụ như các tỉnh Lạng Sơn, Hà Giang, Đắk Nông…

    (5) Điều 114 Hiến pháp năm 2013, Nxb Hồng Đức.

    (6) Văn bản đề nghị của các tỉnh Lạng Sơn, Hà Giang, Đắk Nông…

    1. Hiến pháp năm 2013.

    2. Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2022.

    3. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”.

    4. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa X ” Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”.

    5. Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về ” Một số vấn đề cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2022″.

    6. Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”.

    7. Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”.

    8. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Điện Tử Xã Thành Sơn Huyện Quan Hóa
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ubnd Cấp Xã
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ubnd Cấp Xã, Phường, Thị Trấn:
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ubnd Cấp Xã Là Gì?
  • 90 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Ôn Thi Học Kì 1 Môn Công Nghệ Lớp 12
  • Mường Nhé Xây Dựng, Củng Cố Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Điểm, Mục Tiêu Và Giải Pháp Tiếp Tục Đổi Mới, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Trị Tinh Gọn, Hoạt Động Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Góp Ý Vào Phương Hướng, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Công Tác Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng; Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Thủ Đô
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Cấp Xã Ở Huyện Hòa Vang Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới
  • Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch Vững Mạnh
  • Quan Tâm Xây Dựng Đảng Và Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Quảng Lâm là xã có xuất phát điểm thấp, chủ yếu là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), trước đây có năm tỷ lệ hộ đói nghèo lên tới hơn 90%. Tuy nhiên nay đã khác, hệ thống điện – đường – trường – trạm ở Quảng Lâm đã cơ bản phủ kín khắp các bản. Diện mạo nông thôn đã thay da, đổi thịt, đời sống người dân được cải thiện, an ninh chính trị ổn định, nhân dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng. Bí thư Ðảng ủy xã Quảng Lâm Nguyễn Văn Thắng chia sẻ: “Ðể Quảng Lâm đạt được thành tựu như hôm nay thì việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh chính là nhân tố quyết định”. Ðặc biệt, Ðảng bộ xã đã thực hiện có hiệu quả việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đảng viên ngay từ cơ sở; xóa thành công bản chưa có đảng viên, thu hẹp diện chi bộ sinh hoạt ghép. Ðảng bộ xã hiện có 140 đảng viên, sinh hoạt ở 13 chi bộ; 100% bản đã có đảng viên.

    Thực tiễn cho thấy, cấp ủy, chính quyền xã có vững mạnh thì mới đủ sức lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị… bởi vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn được xã đặc biệt quan tâm. Từ năm 2022 tới nay, xã có 2 cán bộ theo học đại học luật, 5 cán bộ học trung cấp chính trị… Hiện 19/23 cán bộ xã Quảng Lâm có trình độ từ trung cấp trở lên (6 đồng chí trình độ đại học). Có thể khẳng định, nhờ sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ đảng viên trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân hăng hái lao động, sản xuất, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; từ xã nghèo với nhiều “không” đến nay Quảng Lâm đã vươn mình khởi sắc với tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 1.500 tấn, bình quân lương thực ước đạt 418,2kg/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 45,12%, xã đã đạt 8/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

    Là huyện trọng điểm trên tuyến biên giới phía Tây, Ðảng bộ huyện Mường Nhé luôn xác định xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh là nhiệm vụ tiên quyết, tạo bước đột phá trong xu thế hội nhập và phát triển. Ðặc biệt, trước yêu cầu phát triển bền vững thì việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ngay từ cơ sở, được Ðảng bộ huyện xem là khâu then chốt. Ðể củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Ðảng, tổ chức đảng cơ sở phát huy vai trò luôn “đi trước về sau” của đảng viên, Ðảng bộ huyện đã chú trọng công tác phát triển đảng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh ngay từ thôn, bản. Nếu 5 năm trước (năm 2022) Ðảng bộ huyện vẫn còn 38/118 bản chưa có đảng viên, 48 bản chưa có chi bộ thì nay với nhiều giải pháp đột phá, tạo nguồn phát triển Ðảng ngay tại cơ sở, những số liệu trên đã có nhiều thay đổi. Hiện nay Ðảng bộ huyện Mường Nhé có 45 tổ chức đảng trực thuộc với 2.326 đảng viên; nhiều bản đã thành lập được chi bộ, giảm dần chi bộ sinh hoạt ghép (toàn huyện hiện còn 11/110 bản có đảng viên nhưng chưa có chi bộ và “xóa” được 38 bản chưa có đảng viên so với đầu nhiệm kỳ).

    Bên cạnh việc xây dựng, củng cố tổ chức đảng, để đưa Mường Nhé phát triển bền vững, Ðảng bộ huyện luôn coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “vừa hồng vừa chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Huyện ủy đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng về nghiệp vụ cho cán bộ, công chức các cấp theo từng lĩnh vực, vị trí công tác, đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở mỗi địa phương; coi trọng bồi dưỡng phương pháp điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, kỹ năng xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở… Hiện toàn huyện Mường Nhé có 254 công chức, cán bộ chuyên trách công tác ở 11/11 xã (trình độ đại học 43 người, cao đẳng 198). Về lý luận chính trị, 1 đồng chí trình độ cao cấp, 88 trung cấp, 20 sơ cấp; 100% số xã có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định. Ðặc biệt, Ðảng bộ huyện đã mạnh dạn đưa cán bộ trẻ là người DTTS, cán bộ nữ có năng lực, trình độ chuyên môn, uy tín về cơ sở nhận công tác, vì thế tỷ lệ cán bộ là người DTTS công tác ở các xã chiếm trên 90%.

    Xác định phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo phải gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, trước hết là hệ thống chính trị cơ sở; bảo đảm gần dân, trọng dân, thực sự gắn bó với nhân dân. Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mường Nhé đã tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ðặc biệt, trên cơ sở các chương trình, dự án (30a, Ðề án 79…) đã tạo tiền đề vững chắc để Mường Nhé hình thành các vùng chuyên canh sản xuất nông – lâm nghiệp, phát triển tiềm năng về du lịch, xây dựng các công trình, hạ tầng thiết yếu. Diện mạo NTM của Mường Nhé có nhiều khởi sắc (toàn huyện đạt bình quân 8,5 tiêu chí/xã); tỷ lệ đói nghèo giảm 3 – 4%/năm. Kết quả đó góp phần khẳng định vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong việc nâng cao chất lượng đời sống đồng bào các dân tộc vùng cao, biên giới; đặc biệt củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Ðảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở
  • Thời Kì Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Đặc Điểm, Nhiệm Vụ Của Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Luận Văn: Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Vững Mạnh Tại Tây Ninh
  • Tân Kỳ: Nhận Rõ Thực Trạng, Có Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh Xuất Sắc
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Trường Học Vững Mạnh
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Bước Đi Và Các Biện Pháp Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta
  • Theo con số công bố của Tổng cục Thống kê ngày 27/6, tính đến thời điểm 1/7/2014, lực lượng lao động cả nước ước là 53,7 triệu người, tăng 0,2 triệu người so với cùng thời điểm năm 2013. Trong đó lao động nam chiếm 51,4%; lao động nữ chiếm 48,6%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 47,3 triệu người, giảm 10.200 người so với cùng thời điểm năm trước. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế 6 tháng đầu năm ước tính 52,7 triệu người, tăng 0,3 triệu người so với cùng kỳ năm 2013. Trong 6 tháng đầu năm, số người có việc làm quý I là 52,5 triệu người, tăng 616.100 người so với cùng kỳ năm 2013; quý II là 52,7 triệu người, tăng 282.600 người.

    Đại hội XI Công đoàn Việt Nam đề ra mục tiêu “Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn theo hướng v́ đoàn viên và người lao động, v́ới sự phát triển bền vững của đất nước; tập trung hướng về cơ sở, thực hiện tốt chức năng chăm lo đời sống, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động; tham gia có hiệu quả vào công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xă hội; nâng cao chất lương công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục và tổ chức thi đua yêu nước trong đoàn viên và người lao động; đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, góp phần xây dựng giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xă hội chủ nghĩa”.

    Với phương châm hành động: “Vì quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, với sự phát triển bền vững của đất nước, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn”

    Từ mục tiêu và phương châm hành động đó, cho thấy, đích cuối cùng của hoạt động công đoàn là xây dựng cho được công đoàn cơ sở vững mạnh. Việc xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng đoàn viên và công nhân viên chức, lao động mà còn góp phần xây dựng xây dựng doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị văn hoá.

    Xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh là một công việc khó khăn đòi hỏi phải có các giải pháp phù hợp.

    Một tổ chức mạnh phải mạnh cả về số lượng và chất lượng. Hai yếu tố này luôn bổ sung thúc đẩy lẫn nhau.

    Trước hết Ban Chấp hành phải được kiện toàn. Có quy chế phân công công việc rõ ràng cho từng người để các uỷ viên phát huy khả năng của mình và giúp Chủ tịch lãnh đạo Ban chấp hành hoàn thành nhiệm vụ.

    Công tác phát triển đoàn viên phải thường xuyên được quan tâm. Luôn có kế hoạch tuyên truyền, vận động người lao động vào tổ chức Công đoàn. Các tổ Công đoàn sinh hoạt thường kỳ thực hiện phân công đoàn viên giúp đỡ lẫn nhau, làm tốt công tác thăm hỏi, động viên khi đoàn viên có việc vui, buồn.

    Phần lớn các CĐCS hiện nay chưa thể đáp ứng đủ tài chính cho hoạt động của Công đoàn. Để có nguồn tài chính, các công đoàn cơ sở cần quan tâm:

    – Đề nghị cơ quan chuyên môn trích đủ kinh phí theo quy định.

    – Đề nghị Cơ quan chuyên môn hỗ trợ khi cần thiết.

    – Thu đủ đoàn phí Công đoàn.

    – Thực hiện gây quỹ bằng lao động, tận dụng phế liệu, đăng ký đảm nhận các phần việc hoặc công trình để lấy tiền gây quỹ.

    Điều cần quan tâm trong tài chính công đoàn là phải xây dựng các quy chế để chi tiêu cho phù hợp trên nguyên tắc tài chính là “động lực”, là “chất bôi trơn” chứ không phải là “lực cản” của hoạt động công đoàn.

    Ngay từ đầu năm CĐCS phải xây dựng dự toán chi tiêu để đảm bảo các mặt hoạt động hài hoà, tránh tập trung cho một mặt hoạt động nào đó mà bỏ qua các hoạt động khác. Cũng cần phân biệt rõ: Quỹ Công đoàn không chi cho thăm quan du lịch không chi cho các ngày lễ tết. Phần này đề nghị cơ quan chuyên môn chi. Công đoàn chỉ chi hỗ trợ hoặc chi theo nội dung hoạt động Công đoàn.

    Cần vận động đoàn viên xây dựng thêm các quỹ như quỹ tình nghĩa, quỹ xoá đói giảm nghèo vv… Để hỗ trợ cho phần chi của quỹ Công đoàn.

    Hàng năm tài chính CĐ phải có quyết toán và thông báo công khai, minh bạch.

    Hoạt động phong trào là các hoạt động mang tính xã hội, đáp ứng nhu cầu tham gia và hưởng thụ của đoàn viên, gắn kết mặt xã hội của các đoàn viên, thực hiện theo yêu cầu của cấp trên và yêu cầu nguyện vọng của đoàn viên ở cơ sở.

    Các hoạt động phong trào cần phải được xây dựng kế hoạch thực hiện một chi tiết, có thời gian, điều kiện vật chất và phân công người thực hiện.

    Khi gặp khó khăn cần tìm biện pháp thực hiện, tránh trường hợp dễ làm, khó bỏ, không thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao. Cũng tránh trường hợp người lãnh đạo thích phong trào nào thì tổ chức phong trào đó mà không quan tâm tạo sân chơi mới cho đoàn viên, đáp ứng nguyện vọng của số đông đoàn viên trong cơ sở. Có thể liên kết, giao lưu với các đơn vị bạn trong phong trào văn hoá thể thao để mở rộng quan hệ…

    Trong hoạt động phong trào cần chú ý sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng động viên.

    4- Giải pháp mang tính tổng hợp

    Để xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh công đoàn cấp trên cần cung cấp đầy đủ văn bản để CĐCS thực hiện.

    Ban Chấp hành công đoàn cơ sở, đặc biệt là Chủ tịch, phó chủ tịch Công đoàn cơ sở phải nghiên cứu kỹ văn bản của CĐ cấp trên, đồng thời căn cứ vào thực tiễn sản xuất của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp, có hiệu quả, tránh việc triển khai qua loa, hình thức vừa không đem lại hiệu quả cho phong trào vừa làm mất uy tín của CĐ.

    Làm tốt công tác lưu trữ tài liệu để có tài liệu sử dụng cho các khoá sau, các cá nhân sau.

    Phải xây dựng được các quy chế cần thiết để hoạt động như: Quy chế phối hợp hoạt động với chuyên môn, quy chế hoạt động của Ban Chấp hành, quy chế thăm hỏi đoàn viên…

    Làm tốt chức năng nhiệm vụ Công đoàn theo pháp luật quy định. Xây dựng mối quan hệ hài hoà với cơ quan chuyên môn và người lao động. Đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển và đảm bảo quyền và lợi ích người lao động.

    Cổ Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Chính Quyền Cấp Xã Theo Tinh Thần Hiến Pháp Năm 2013
  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Vững Mạnh
  • Xây Dựng Bộ Máy Chính Quyền Vững Mạnh Từ Cơ Sở
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Cấp Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Công Tác Chỉ Đạo Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu Trên Địa Bàn Tỉnh Ninh Bình
  • Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Hiệu Quả
  • Tp.hcm: Đẩy Mạnh Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Đô Thị
  • Quận 7: Bàn Giải Pháp Thực Hiện Các Hoạt Động Văn Hóa, Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Đô Thị, Gia Đình Hạnh Phúc
  • Xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ nằm giáp với địa bàn Hà Nội. Năm ngoái, thực hiện chỉ đạo của tỉnh Phú Thọ về xây dựng nông thôn mới, xã này đã hoàn tất việc quy hoạch xây dựng NTM, phục vụ thực hiện giai đoạn 2 của chương trình xây dựng NTM trên địa bàn.

    Bên cạnh công tác quy hoạch, xã này cũng đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng NTM do Đảng ủy xã phụ trách và Ban quản lý xây dựng NTM do UBND xã phụ trách. Xã còn lập ra 7 tiểu ban tham gia điều hành chương trình và triển khai đồng bộ các công tác vận động tuyên truyền, vận động nhân dân chung tay xây dựng nông thôn mới, tạo chuyển biến tích cực về nhận thức của người dân về chương trình to lớn này.

    Ông Đặng Quốc Tuấn, một người dân của xã Thượng Nông cho rằng NTM không phải là gì đó quá xa xôi: ” Xây dựng nông thôn mới thì phát triển sản xuất đóng vai trò số một. Sản xuất nông nghiệp mà được thì nó sẽ kéo theo tất cả: nhà cửa khang trang, con cái học hành tốt. Mỗi gia đình là 1 tết bào, giờ gia đình tôi mạnh, gia đình hàng xóm mạnh thì cả xã hội sẽ mạnh.“- Ông Tuấn nói.

    Trao đổi với người dân Thượng Nông tại Hội nghị triển khai xây dựng NTM năm 2012 tại xã này, Bộ trưởng Cao Đức Phát đánh giá cao những mặt đạt được của các cấp ủy, chính quyền và người dân địa phương.

    Bộ trưởng nhấn mạnh, mục đích cuối cùng của việc xây dựng NTM, chính là mang lại mức sống cao hơn cho người nông dân. Vì vậy, xã Thượng Nông cũng như các địa phương cần tập trung vào những ngành nghề, những cây con vốn là thế mạnh, phù hợp với điều kiện tự nhiên, đất đai và trình độ tay nghề của bà con đồng thời đưa ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong nông nghiệp vào để lôi kéo bà con tham gia để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

    Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Cao Đức Phát đưa ra những trọng tâm trong xây dựng NTM: ” Trong xây dựng nông thôn mới, chúng ta có mấy trọng tâm, thứ nhât là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân, thứ hai là xây dựng đời sống văn hóa mới, thứ ba là xây dựng cơ sở hạ tang, thứ tư là tăng cường hệ thống chính trị của chúng ta.

    Giải đáp một số thắc mắc của người dân, của cấp ủy, chính quyền xã Thượng Nông và huyện Tam Nông về một số tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM chưa thực sự phù hợp với điều kiện địa phương, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định, tới đây sẽ trình Thủ tướng Chính phủ để điều chỉnh.

    Tuy nhiên, trước khi có những điều chỉnh này, Ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM cấp tỉnh có thể linh hoạt chỉ đạo thực hiện triển khai phù hợp với điều kiện địa phương.Xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ nằm giáp với địa bàn Hà Nội. Năm ngoái, thực hiện chỉ đạo của tỉnh Phú Thọ về xây dựng nông thôn mới, xã này đã hoàn tất việc quy hoạch xây dựng NTM, phục vụ thực hiện giai đoạn 2 của chương trình xây dựng NTM trên địa bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Và Giải Pháp Thực Hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới Trong Thời Gian Tới Tại Vĩnh Phúc
  • Nhiều Giải Pháp Sáng Tạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • 9 Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Đến Năm 2022
  • Từng Bước Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức: Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Hiệu Quả
  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử: Hiệu Quả Bước Đầu
  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh Là Cơ Sở Quyết Định Chất Lượng Hoạt Động Của Tổ Chức Công Đoàn
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Chi Đoàn Mạnh Kiểu Mẫu Và Tiêu Chí Đánh Giá Công Nhận Chi Đoàn Mạnh Kiểu Mẫu, Giai Đoạn 2022
  • Xây Dựng “Thế Trận Lòng Dân” Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  •        Có nhiều định nghĩa về “Chính quyền điện tử”, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra khái niệm mang tính tương đối: “Chính quyền điện tử” là môi trường quản lý, trong đó các cơ quan của Chính phủ sử dụng công nghệ điện tử trong hoạt động giúp cho người dân/doanh nghiệp tiếp cận các thông tin và dịch vụ công do Chính phủ cung cấp một cách thuận tiện, cải thiện chất lượng dịch vụ công và mang lại cơ hội tốt hơn cho người dân/doanh nghiệp trong cuộc sống, trong sản xuất, kinh doanh, trong việc đóng góp các ý kiến với các cơ quan của Chính phủ.

           1. Mục đích của “Chính quyền điện tử”

           – Người dân có thể đóng góp ý kiến dễ dàng hơn đối với các cơ quan của Chính phủ;

           – Người dân có thể nhận được các dịch vụ công tốt hơn từ các cơ quan của chính phủ bất kỳ lúc nào (24h x 7 ngày) tại bất kỳ đâu và vì bất kỳ lý do chính đáng nào;

           – Người dân có thể nhận được nhiều dịch vụ tích hợp hơn từ các cơ quan Chính phủ, bởi các cơ quan này sẽ phối hợp một cách hiệu quả hơn với nhau;

           – Người dân có được thông tin một cách tốt hơn vì họ có thể nhận được các thông tin cập nhật toàn diện về các chính sách và dịch vụ của Chính phủ.

           2. Cơ sở pháp lý xây dựng Chính quyền điện tử

           – Luật giao dịch điện tử năm 2005;

           – Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;

           – Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;

           – Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2022 của Chính phủ về công tác văn thư;

           – Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;

           – Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2022 – 2022, định hướng đến 2025;

           – Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước.

           Một trong những nội dung quan trọng của các văn bản quy phạm pháp luật nói trên là việc quy định tài liệu điện tử có giá trị pháp lý như tài liệu giấy, cụ thể như sau:

           – Khoản 1, Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2022 quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tư về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số  quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số; Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký số cơ quan, tổ chức”;

           – Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2022 về công tác văn thư quy định: “Văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy”.

           3. Cơ sở hạ tầng thông tin quản lý phục vụ tin học hoá của các cơ quan Chính phủ hướng tới “Chính quyền điện tử”

           Khái niệm về nền kinh tế tri thức: khi thông tin và tri thức trở thành một dạng sản phẩm hàng hoá có giá trị cao trong nền kinh tế quốc dân thì những hàng hoá này tạo ra giá trị thặng dư rất lớn, hơn nữa nó được kết tinh trong giá trị sản xuất của tất cả các sản phẩm hàng hoá vật chất khác và có các đặc trưng sau:

           – Về dạng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế tri thức là kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia;

           – Về dạng sản phẩm: sản phẩm của kinh tế tri thức có hình thái thông tin, vì vậy cả 2 thuộc tính (giá trị và giá trị sử dụng) của loại hàng hoá sản phẩm này đều có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức;

           – Về dạng nguyên liệu: để tạo ra sản phẩm của hàng hoá này là các loại thông tin được số hoá;

           – Về dạng lao động: ở đây đòi hỏi phải là loại hình lao động lành nghề được đào tạo công phu.

           Chiến lược số hoá hoạt động quản lý được coi là bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia. Trên cơ sở đó nhanh chóng hình thành cơ sở hạ tầng thông tin quản lý của Chính phủ nhằm:

           – Trợ giúp quá trình chỉ đạo điều hành của Chính phủ trong hoạch định chính sách, phân tích tiến trình thực thi chính sách, kịp thời điều chỉnh định hướng chính sách quản lý một cách hữu hiệu;

           – Tích hợp và chuyển các hoạt động dịch vụ của Chính phủ đến người dân, mà không bị ràng buộc bởi không gian và thời gian.

           4. Ứng dụng CNTT trong các cơ quan Chính phủ hướng theo mô hình “Chính phủ điện tử” – Xu thế chung của quốc tế

           Chính sách và biện pháp nhằm chuẩn bị cho việc phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin ở các nước tuy có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước, nhưng cũng có điểm chung đó là:

           – Xây dựng một kết cấu hạ tầng thông tin vững chắc trên cơ sở phát triển các trung tâm dữ liệu điện tử và mạng máy tính với siêu xa lộ thông tin (Super Hight Way Infomation);

           – Phổ cập nền “Văn hoá thông tin” trong dân chúng, tạo tiền đề hình thành xã hội tri thức;

           - Phát triển phương thức kinh doanh mới dựa trên công nghệ thông tin và tri thức để tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, hình thành nền kinh tế thông tin và môi trường thương mại điện tử;

           – Đào tạo lại nguồn lao động và tạo ra những ngành nghề, việc làm mới trong lĩnh vực kinh tế tri thức;

           – Cơ cấu lại hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước (về bộ máy, nhân sự, thông tin chính sách), số hoá các quy trình nghiệp vụ và thủ tục quản lý nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, hoàn thiện chức năng phục vụ của các cơ quan Chính phủ theo hướng “Chính phủ điện tử”.

           Các biện pháp thực hiện:

           – Đào tạo đội ngũ công chức, viên chức làm quen với kỹ năng làm việc trong môi trường điện tử;

           – Kết nối các cơ quan Chính phủ, từng bước phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông tin theo yêu cầu;

           – Đẩy nhanh việc cung cấp thông tin của Chính phủ cho người dân và doanh nghiệp thông qua môi trường mạng;

           – Triển khai hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ, làm cho thông tin của Chính phủ có khả năng đến được với người dân và doanh nghiệp nhiều hơn;

           – Thúc đẩy việc tin học hoá các dịch vụ công;

           – Nghiên cứu cách thức đưa ra các điểm giao dịch một cửa của Chính phủ, cho phép người dân có thể thực hiện các giao dịch công trên môi trường mạng.

           5. Thực trạng xây dựng “Chính quyền điện tử” hiện nay

           a) Một số kết quả đạt được

           Hiện nay, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng làm nền tảng trong triển khai xây dựng Chính phủ điện tử như: tham mưu, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy việc xây dựng Chính phủ điện tử; xây dựng và đưa vào vận hành một số cơ sở dữ liệu như Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; đang triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; đã cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan điện tử, bảo hiểm xã hội…; một số Bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; tại một số địa phương, hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực về công nghệ thông tin của Việt Nam cũng được nâng cao, đặc biệt một số kết quả nổi bật đã đạt được trong thời gian qua như sau:

           – Khai trương và đưa Cổng Dịch vụ công Quốc gia (DVCQG) vào hoạt động: Xây dựng Cổng DVCQG là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng “Chính phủ điện tử”, kết nối Chính phủ với người dân và doanh nghiệp. Với phương châm “lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm phục vụ”, Cổng DVCQG hướng tới số hóa hồ sơ, giấy tờ giấy, chuyển hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản giấy, giao dịch trực tiếp sang hoạt động sử dụng hồ sơ, văn bản điện tử, giao dịch điện tử và cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc vào thời gian, địa giới hành chính.

           Cổng DVCQG đi vào vận hành đã thúc đẩy cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin. Đến nay đã có các bộ, ngành, địa phương kết nối, tích       hợp với Cổng Dịch vụ công Quốc gia: Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; 9 tỉnh/thành phố: Thành phố Hà Nội,  Thành phố Hồ Chí Minh,  Quảng Nam, Nam Định,  Ninh Thuận, Thanh Hóa, Bắc Kạn, Hà Tĩnh,  Quảng Ninh; cơ quan khác gồm: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông quân đội Việt Nam, Tổng công ty Viễn thông Mobifone, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Vietnamobile, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam…

           – Khai trương và đưa Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) vào hoạt động: E-Cabinet chính thức đi vào hoạt động là công cụ quan trọng, góp phần đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam, hướng tới phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

           – Khai trương và đưa vào hoạt động Trục liên thông văn bản quốc gia: đã có 95/95 cơ quan ở Trung ương và địa phương (gồm Văn phòng Trung ương Đảng; 31 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) đã hoàn thành kết nối các hệ thống quản lý văn bản và điều hành trên Trục liên thông văn bản quốc gia.

           Các phần mềm quản lý văn bản của bộ, ngành, địa phương đã được kết nối, liên thông cả theo chiều dọc và chiều ngang một cách thông suốt và có tính hệ thống, văn bản điện tử được gửi, nhận nhanh chóng, an toàn giữa các cơ quan nhà nước.

           b) Khó khăn, vướng mắc

           – Thiếu khung pháp lý về phát triển Chính phủ điện tử và một số cơ chế, chính sách quan trọng;

           – Thiếu pháp lý về xác thực cá nhân, tổ chức và các giao dịch trên môi trường mạng, đặc biệt khi cung cấp dịch vụ hành chính công;

           – Thiếu quy định về tiêu chuẩn hóa thông tin và quy trình hóa công việc để tiến tới điện tử hóa;

           – Thiếu CSDL Quốc gia phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ và thiếu cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu, gửi nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan tổ chức trong hệ thống hành chính công;

           – Người đứng đầu một số Bộ, ngành, địa phương còn thiếu quyết liệt trong chỉ đạo triển khai xây dựng “Chính quyền điện tử;

           – Phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong triển khai thực hiện và bảo đảm nguồn lực còn yếu;

           – Thiếu công cụ đánh giá, giám sát việc triển khai của người đứng đầu Bộ, ngành, địa phương;

           – Thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính với ứng dụng công nghệ thông tin;

           – Chất lượng cổng dịch vụ công triển khai ở địa phương và Bộ ngành hạn chế, công bố dịch vụ công trực tuyến nhưng thực tế rất ít thực hiện; quy trình vẫn từ giấy đến điện tử – điện tử đến giấy gây phiền hà thêm cho người dân, doanh nghiệp;

           – Thiếu kỹ năng quản lý và kỹ năng công nghệ trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

           – Đầu tư phân tán, nhỏ giọt không đi kèm các chương trình kinh tế – xã hội trọng tâm trọng điểm của quốc gia hay địa phương; đầu tư cho quá trình vận hành, duy trì và phát triển hệ thống chưa thật sự được chú trọng;

           – Thiếu định danh điện tử của cá nhân, tổ chức; chi phí chứng thư số còn cao so với thu nhập của người dân (1 triệu/người/năm). Để có “Chính quyền điện tử” thì người dân và doanh nghiệp phải thực hiện các giao dịch điện tử trên các hệ thống dịch vụ công của Chính phủ. Tuy nhiên, người dân/doanh nghiệp có khi một năm chỉ có một vài giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch nào, nhưng vẫn phải có chứng thư số (theo quy định và chi phí trên), như vậy rất khó khả thi.

           6.  Một số giải pháp về công nghệ thông tin để tiến tới “Chính quyền điện tử”

           – Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Chính quyền điện tử;

           – Cần tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu xây dựng “Chính phủ điện tử”;

           – Xây dựng chương trình đào tạo theo từng đối tượng chủ thể:

           + Cán bộ, công chức, viên chức chung;

           + Công chức, viên chức quản lý vận hành các hệ thống mới;

           + Người dân, doanh nghiệp.

           – Thiết kế, xây dựng giải pháp “đơn giản hóa ứng dụng công nghệ”;

           – Đầu tư có chỉ đạo tập trung, theo ưu tiên với một số hệ thống và cơ sở nền tảng cho “Chính phủ điện tử”; ngân sách đầu tư chú trọng ngân sách hàng năm cho duy trì, vận hành, phát triển;

           – Rà soát, tìm điểm nghẽn để chỉ đạo tháo gỡ;

           – Bổ sung CSDL phục vụ chỉ đạo điều hành:

           + Chuẩn hóa CSDL về thủ tục hành chính làm nền tảng cho triển khai dịch vụ công trực tuyến.

           Trong môi trường “Chính quyền điện tử”, người dân có thể bị phân hoá nhanh chóng thành hai nhóm: Nhóm những người có kỹ năng và có công cụ để sử dụng công nghệ mới và nhóm những người không có những điều kiện nói trên. Mục đính của “Chính quyền điện tử” là đưa mọi người xích lại gần nhau, chứ không phải tách họ ra, do vậy Chính phủ phải hoạch định kế hoạch tổng thể, chương trình và lộ trình để khắc phục những bất cập này như:

           – Tạo điều kiện truy cập Internet công cộng cho những ai, vì lý do nào đó không có khả năng truy cập Internet tại nhà riêng;

           – Sử dụng các chương trình giáo dục và thông tin công cộng để giúp những người dân dù trẻ hay già sử dụng được các công nghệ mới.

           Trong giai đoàn đầu của “Chính quyền điện tử”, người dân có thể thực hiện được những việc sau:

           – Đăng ký thông tin điện tử với Chính phủ;

           – Tiến hành giao dịch tài chính với các cơ quan tài chính qua phương tiện điện tử;

           – Điền và gửi toàn bộ các mẫu giấy tờ từ một nơi trên trang Web của Chính phủ;

           – Đóng góp ý kiến về các chính sách của Chính phủ trên môi trường mạng;

           – Giảm thời gian trong các giao dịch bởi thông tin về các giao dịch đã được số hoá và các giao dịch có thể được tiến hành qua các phương tiện điện tử;

           – Cập nhật về những thay đổi cá nhân, qua đó chỉ một lần cập nhật trên Internet có thể bảo đảm việc sử dụng, xác thực thông tin cá nhân đó trong các giao dịch sau này với các cơ quan của Chính phủ.

           Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải thực hiện qua các giai đoạn sau:

           Giai đoạn 1: Phát hành/phân phối thông tin.

           Giai đoạn 2: Giao dịch hai chiều chính thức.

           Giai đoạn 3: Tạo lập các cổng truy cập đa chiều.

           Giai đoạn 4: Cá nhân hoá các cửa dịch vụ.

           Giai đoạn 5: Phân cụm các dịch vụ công.

           Giai đoạn 6: Hoàn thành việc tích hợp các dịch vụ công.

     

    Ths. Lê Văn Năng (Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia tài liệu điện tử, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước)

     

    Theo: https://luutru.gov.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Sách: Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Triển Bền Vững Nông Thôn Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ Trong Quá Trình Xây Dựng Và Phát Triển Các Khu Công Nghiệp (Qua Khảo Sát Các Tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình).
  • An Toàn Trường Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Xây Dựng Trường Học An Toàn, Phòng Chống Tai Nạn Thương Tích Cho Trẻ Đạt Hiệu Quả Cao Tại Trường Mầm Non Hải Vân, Huyện Như Thanh
  • Công Thức Thành Công Từ Urc Việt Nam – Top 10 Công Ty Uy Tín Ngành Đồ Uống
  • Urc Việt Nam Ứng Dụng Triết Lý Lean Để Đáp Ứng Các Tiêu Chuẩn Sản Xuất Toàn Cầu
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Bộ Máy Chính Quyền Vững Mạnh Từ Cơ Sở
  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Vững Mạnh
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Chính Quyền Cấp Xã Theo Tinh Thần Hiến Pháp Năm 2013
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt việc xây dựng CQĐT; trong đó tập trung thực hiện thống nhất, đồng bộ các hệ thống nền tảng, phần mềm dùng chung của tỉnh, của ngành như: Hệ thống thông tin một cửa điện tử và Cổng dịch vụ công, hệ thống Quản lý văn bản và Điều hành, hệ thống thông tin báo cáo, hệ thống Hội nghị trực tuyến, hệ thống họp không giấy… được Trung ương ghi nhận, đánh giá cao.

    Hiện tại, Internet băng thông rộng đã được triển khai, lắp đặt tại 149/151 trung tâm các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan Đảng, Nhà nước đã được triển khai, kết nối đến 100% các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND cấp huyện. Dự kiến Quý II năm 2022 sẽ hoàn thành việc thiết lập hệ thống hội nghị trực tuyến từ tỉnh đến huyện. Ngoài ra, hệ thống Quản lý văn bản và Điều hành cũng đã triển khai rộng khắp toàn tỉnh với cấu hình liên thông 3 cấp và kết nối với Trục liên thông văn bản quốc gia.

    Trong năm 2022, tỉnh đã thực hiện việc gửi, nhận văn bản (ký số) trên môi trường mạng thay thế văn bản giấy. Hệ thống Phòng họp không giấy đã được triển khai thử nghiệm tại nhiều phiên họp thường kỳ của UBND tỉnh. Hệ thống theo dõi thực hiện nhiệm vụ của UBND tỉnh cũng đã được xây dựng, triển khai ứng dụng tại Văn phòng UBND tỉnh.

    Phát biểu ý kiến tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Tiến Hoàng lưu ý một số nhiệm vụ cần thực hiện để bảo đảm nâng cao hiệu quả xây dựng CQĐT Quảng Bình, đó là cần xây dựng Trung tâm điều hành thông minh, hệ thống mạng dùng chung kết nối các đơn vị, địa phương trong tỉnh; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng để bảo đảm phát huy hiệu quả hoạt động của CQĐT…

    Kết luận cuộc họp, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Công Thuật lưu ý các sở, ngành, địa phương cần thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy việc xây dựng CQĐT nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của tỉnh; khẩn trương ứng dụng phần mềm hội nghị trực tuyến; lựa chọn các dự án đầu tư hợp lý nhằm bảo đảm chủ động nguồn tài chính và phát huy hiệu quả hệ thống phần mềm, hạ tầng phục vụ hoạt động của CQĐT; tiếp tục nâng cấp phần mềm dùng chung của tỉnh; đẩy nhanh việc thực hiện ký số văn bản, hội nghị trực tuyến…

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, địa phương trong việc phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc nhằm sớm công bố chính quyền điện tử Quảng Bình trong thời gian sớm nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử Phải Có “công Dân Điện Tử”
  • Tiền Giang: Đồng Bộ Các Giải Pháp Trong Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Bình Dương Quyết Tâm Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Quảng Nam: Tìm Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử, Đô Thị Thông Minh
  • Kết Quả Và Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Người Dân Tộc Thiểu Số Trong Bộ Đội Biên Phòng Tỉnh Kon Tum
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100