Top 17 # Giải Pháp Xây Dựng Trường Học Đạt Chuẩn Quốc Gia / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Giải Pháp Xây Dựng Trường Mn Đạt Chuẩn Quốc Gia / 2023

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG XÂY DỰNGTRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA MỨC ĐỘ I

I. PHẦN MỞ ĐẦU:Từ năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 16/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo kèm theo Quy chế công nhận trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia. Quyết định này thay thế cho Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 26 tháng 12 năm 2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) về việc ban hành Qui chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia giai đoạn từ năm 2002-2005 và Quyết định số 25/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 8 năm 2005 của bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sủa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2002-2005 ban hành kèm theo Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 26 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo quy định chung, một trường đạt chuẩn quốc gia phải đạt 5 tiêu chuẩn: tổ chức quản lí; đội ngũ giáo viên và nhân viên; chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ; qui mô trường lớp, cơ sở vật chất (CSVC)và thiết bị; xã hội hóa giáo dục (XHHGD); đây là điều kiện vững chắc để góp phần xây dựng một nền giáo dục phát triển trong tương lai. Chính vì vậy, từ nhiều năm nay, các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường trên địa bàn huyện Buôn Đôn đã tập trung huy động các nguồn lực, tích cực xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn theo quy định, để được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia. Từ khi có Quyết định 36/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 16/7/2008 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Trường Mầm non Hoa Hồng được Phòng Giáo dục và Đào tạo Buôn Đôn chọn làm đơn vị thứ 2 trong xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 của huyện Buôn Đôn. Sau hơn 2 năm tổ chức thực hiện (cuối năm 2012), ngày 20 tháng 12 năm 2012, trường được Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh kiểm tra và công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 (Quyết định số 75/QĐ-UBND ngày 07 tháng 01 năm 2013 của UBND tỉnh Đắk Lắk); là trường mầm non thứ 2 của huyện Buôn Đôn được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1. Trong quá trình xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, nhà trường đã đạt được nhiều kết quả. Chính vì lí do đó bản thân tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp trong xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1”. Đề tài được thực hiện tại Trường mầm non Hoa Hồng và có thể vận dụng được cho tất cả các trường mầm non đang tập trung xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. II. PHẦN NỘI DUNG:1. Cơ sở lí luận: Với quan điểm “Giáo dục là sự nghiệp cách mạng của quần chúng, giáo dục đào tạo vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội”. Với quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục và coi giáo dục là một trong những quốc sách hàng đầu để xây dựng và phát triển. Trên cơ sở quan điểm trên, trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Tân Hòa về Đề án phát triển giáo dục giai đoạn 2010 – 2015 đã đề ra các mục tiêu: “Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, xây dựng xã hội học tập góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, làm cho giáo dục phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế và xã hội”; “Tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia theo hướng hiện đại hoá, chuẩn hoá, xã hội hoá về cơ sở vật chất, về công tác quản lí, công tác tổ chức dạy và học nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện thực chất. Từ nay đến năm 2015 phấn đấu 80% các trường trên địa bàn xã Tân Hòa đạt trường chuẩn quốc gia mức độ 1, trong đó có từ 1 – 2 trường được công nhận trường chuẩn quốc gia mức độ 2”.Nhận thức từ chủ trương và tình hình thực tế của các địa phương trên cả nước, nơi nào xây dựng được trường chuẩn quốc gia thì nơi đó giáo dục có điều kiện phát triển toàn diện. Vì vậy, quyết tâm xây dựng nhà trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đã trở thành nhiệm

Một Số Giải Pháp Đẩy Nhanh Tiến Độ Xây Dựng Trường Học Đạt Chuẩn Quốc Gia / 2023

I. Phần mở đầu

Chuẩn quốc gia về trường học được xem là thước đo đánh giá hình thức hoạt động và hiệu quả đạt được của các loại hình trường, trên cơ sở đó để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Là một huyện còn khó khăn về kinh tế, đời sống nhân dân ở mức trung bình, địa bàn rộng, giao thông chưa thuận lợi, cơ sở vật chất trường lớp đầu tư chưa nhiều, nguồn lực hạn chế, nhưng thời gian qua huyện Trần Văn Thời luôn là đơn vị dẫn đầu trong công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia (ĐCQG) của tỉnh Cà Mau, đặc biệt là hai năm trở lại đây. Tuy nhiên so với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển giáo dục thì kết quả đó chưa đáp ứng yêu cầu.

Theo Nghị quyết của huyện Đảng bộ Trần Văn Thời lần thứ XII, đến năm 2015 toàn huyện có ít nhất 70% trường ĐCQG. Đây là chỉ tiêu mang tính đột phá đối với sự nghiệp giáo dục của huyện. Bởi vì, để nâng cao chất lượng giáo dục, để giáo dục phát triển, không có giải pháp nào khác là xây dựng trường theo hướng ĐCQG. Bên cạnh, xây dựng trường ĐCQG cũng là một tiêu chí quan trọng trong đề án xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Với kinh nghiệm bản thân trong việc xây dựng trường ĐCQG thời gian qua cho thấy, xây dựng được một trường ĐCQG là một quá trình chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt, phải có sự nỗ lực, quyết tâm cao của các ngành, các cấp cùng với sự hỗ trợ tích cực của xã hội, bên cạnh là vai trò nòng cốt là ngành giáo dục. Tỷ lệ 70% trường ĐCQG đến năm 2015 thật sự là một thách thức, nếu không có biện pháp, giải pháp tốt thì khó có khả năng đạt được.

II. Phần nội dung

1. Cơ sở lý luận:

– Xây dựng trường học ĐCQG là mục tiêu quan trọng trong phát triển sự nghiệp giáo dục, đồng thời là yêu cầu phát triển mới của đất nước, của địa phương. Yêu cầu đó phải được quán triệt cả về nhận thức và hành động từ cấp ủy Đảng, chính quyền, đến các đoàn thể, các tổ chức chính trị- xã hội và nhân dân ở địa phương; phải đặt dưới sự lãnh đạo sâu sắc của Đảng.

– Trong chỉ đạo phải có trọng tâm, trọng điểm để tập trung, tránh đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp. Trong thực hiện phải gắn chặt mục tiêu phổ cập giáo dục, chất lượng giáo dục và các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương; phải chú trọng số lượng và chất lượng trong đó chất lượng là quan trọng.

– Việc đầu tư xây dựng phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường lớp gắn với đề án xây dựng nông thôn mới. Hệ thống nhà trường phải được phân bổ hợp lý, vừa đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh, phù hợp với phân bố dân cư lâu dài, vừa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

2. Thực trạng và nguyên nhân công tác xây dựng trường học ĐCQG giai đoạn 2000 – 2010.

2.1. Thực trạng:

Trường học ĐCQG được Bộ GD&ĐT triển khai từ năm 1996. Huyện Trần Văn Thời là một trong những đơn vị đầu tiên của tỉnh Cà Mau xây dựng đề án triển khai thực hiện trên địa bàn huyện từ những năm 2000. Qua 10 năm thực hiện (tính đến năm 2010), toàn huyện có 9 trường được công nhận ĐCQG, chiếm tỷ lệ 11,1%. Mặc dù có nhiều cố gắng trong triển khai thực hiện, nhưng kết quả đạt được còn thấp, chưa đáp ứng với kế hoạch đề ra. Vì thế mà chất lượng giáo dục giữa các trường trong huyện chưa được đồng đều, tỉ lệ học sinh, kưu ban, bỏ học, học sinh xếp loại học lực yếu kém còn cao, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển giáo dục.

2.2. Nguyên nhân:

Có nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân chủ yếu sau: Công tác tham mưu, đề xuất chưa được thường xuyên, hiệu quả chưa cao; công tác quy hoạch, kế hoạch chưa phù hợp với thực tế và yêu cầu phát triển. Công tác tuyên truyền chưa mang tính chiều sâu; một số cấp ủy, chính quyền, ban ngành, đoàn thể và một bộ phận nhân dân chưa thật sự quan tâm đến công tác xây dựng trường học ĐCQG. Cán bộ quản lý một số trường chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và kiến thức phụ trợ khác; một số giáo viên chưa nhiệt tình trong công tác, tay nghề yếu, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy…; tỷ lệ học sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học khá cao, bình quân trên 5%. Nguồn vốn hạn hẹp, đầu tư thiếu tập trung; nhiều điểm trường thiếu diện tích, mặt bằng để xây dựng; công tác xã hội hoá giáo dục còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp.

Từ những nguyên nhân trên nên tiến độ, kết quả xây dựng trường học ĐCQG giai đoạn 2001- 2010 chưa đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra.

3. Một số giải pháp, biện pháp xây dựng trường học ĐCQG đã được triển khai thực hiện trong thời gian qua tại huyện

Giai đoạn trước đây, Phòng GD&ĐT chỉ tham mưu ban hành kế hoạch xây dựng trường ĐCQG giai đoạn 2001-2010 không có tham mưu ban hành Nghị quyết, Kế hoạch của Huyện ủy, HĐND huyện; không có điều tra thực trạng, không có giải pháp cụ thể…Cho nên, trong thực hiện không tập hợp được sức mạnh và nguồn lực của hệ thống chính trị, của xã hội để đầu tư xây dựng trường học ĐCQG.

– Thứ hai, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tuyên truyền phải mang tính chiều sâu, bằng nhiều hình thức. Đây là giải pháp quan trọng để qua đó, làm cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội; cán bộ, giáo viên ngành giáo dục và cha mẹ học sinh hiểu được sự cần thiết phải đầu tư xây dựng trường học ĐCQG mà có trách nhiệm phối hợp với ngành giáo dục để cùng thực hiện.

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, nên những năm qua, công tác xây dựng trường học ĐCQG đã được các ngành, các cấp và nhân dân tham gia tích cực, từ việc xây dựng trường sở, cảnh quan, môi trường sư phạm đến việc quan tâm chất lượng giáo dục, tạo điều kiện cho con em đến trường học tập…. Trước đây, công tác này chỉ có ngành giáo dục thực hiện.

– Thứ ba, nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng, cán bộ, giáo viên. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy, phải thường xuyên tiến hành rà soát, đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng để nâng cao năng lực của đội ngũ CBQL, giáo viên các trường học đảm bảo đạt chuẩn kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng với yêu cầu mà trước mắt phục vụ cho việc xây dựng trường học ĐCQG.

Hiện nay, năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên của ngành giáo dục huyện đã được nâng lên một bước đáng kể. Trình độ đào tạo đạt chuẩn gần 100%, trong đó trên chuẩn hơn 70% (tỷ lệ này trước đây là 80% và 30%). 100% hiệu trưởng đạt trình độ đào tạo trên chuẩn và đảm bảo các kiến thức phụ trợ khác.

– Thứ tư, chỉ đạo tốt hoạt động dạy và học và các phòng trào thi đua trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và các hoạt động. Chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Có kế hoạch mở rộng lớp học trên 6 buổi/tuần đối với THCS, 9-10 buổi/ngày đối với tiểu học và bán trú đối với mầm non ở những nơi có điều kiện.

Thực tế cho thấy, chất lượng các mặt giáo dục nói chung những năm gần đây đã được nâng lên rõ rệt. Cụ thể, chất lượng giáo dục năm học 2008 – 2009, tỷ lệ học sinh khá giỏi chiếm khoản 40%, yếu kém hơn 10%; năm học 2011 – 2012, tỷ lệ này là 60% và 5%. Chất lượng giáo dục mũi nhọn tăng lên đáng kể, tỷ lệ học sinh giỏi các cấp năm sau cao hơn năm trước. Đối với các trường học ĐCQG, tỷ lệ học sinh khá, giỏi, học sinh giỏi các cấp đều cao hơn các trường khác. Tỷ lệ lớp học 2 buổi/ngày trên mức quy định.

– Thứ năm, cần tranh thủ các nguồn vốn của tỉnh, của huyện, các chương trình, dự án để đầu tư và đầu tư theo hướng tập trung, tránh dàn trải, hiệu quả thấp. Đối với kinh phí sự nghiệp giáo dục hàng năm phải dành ít nhất từ 30% từ kinh phí hoạt động để phục vụ xây dựng trường học ĐCQG. Tranh thủ sự hỗ trợ từ ngân sách huyện cho việc mở rộng diệc tích, san lắp mặt bằng, xây dựng công trình phụ, phòng chức năng, phòng hiệu bộ…

Do nguồn vốn khó khăn, nên việc lập kế hoạch xây dựng trường học ĐCQG phải thực hiện theo thứ tự ưu tiên từ “dễ đến khó”. Những trường có đủ điều kiện, suất đầu tư thấp thực hiện trước; những trường khó khăn về diện tích, mặt bằng, suất đầu tư lớn thực hiện sau; nhưng trong thời gian này phải có kế hoạch khắc phục, đầu tư dần, như xây dựng các công trình phụ, tạo cảnh quan, môi trường xanh-sạch-đẹp…Trước đây do đầu tư dàn trải, không tranh thủ tốt các nguồn vốn, chương trình, dự án, nên tiến độ thực hiện rất chậm.

– Thứ sáu, thực hiện tốt công xã hội hóa giáo dục. Đây là giải pháp quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực của xã hội phục vụ cho giáo dục theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chính vì thực hiện tốt công tác này, trong những năm qua đã huy động đáng kể sự đóng góp của xã hội cho giáo dục nói chung, xây dựng trường ĐCQG nói riêng. Trong hai năm qua, vận động nhân dân hiến được 3.000 m2 đất để mở rộng diện tích xây dựng các trường đạt chuẩn; đóng góp công sức, vật chất để chăm lo, tu sửa, xây dựng trường lớp trị giá hơn 5 tỷ đồng. Việc xây dựng trường ĐCQG được xem là trách nhiệm chung của các ngành, các cấp và của xã hội.

III. Phần kết luận

1. Kết luận

Qua việc triển khai thực hiện các giải pháp, biện pháp nêu trên về xây dựng trường học ĐCQG trong thời gian qua đã đem lại kết quả thiết thực. Trong hơn hai năm đã xây dựng được 13 trường, tăng 4 trường so với mười năm trước đây. Điều này có thể khẳng định rằng, những giải pháp, biện pháp đó là đúng đắn, phù hợp và hiệu quả.

Tuy nhiên, cái khó lớn nhất hiện nay trong xây dựng trường học ĐCQG là nguồn vốn, trong khi kế hoạch xây dựng trường học ĐCQG thời gian tới rất nặng nề, số lượng nhiều, suất đầu tư lớn, ngân sách eo hẹp. Theo tôi, để đạt được kế hoạch, UBND tỉnh, Sở GD&ĐT Cà Mau cần nghiên cứu và có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo vận dụng linh hoạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để nhằm giảm suất đầu tư, giải quyết khó khăn về nguồn vốn, như: sáp nhập và giảm bớt số phòng chức năng không cần thiết, giảm bớt qui mô đầu tư một số hạng mục công trình (sân, hàng rào…) bằng thảm cỏ, cây xanh…

2. Khuyến nghị và đề xuất

– Như đã trình bày ở trên, công tác xây dựng trường học ĐCQG đòi hỏi phải có sự chung tay vào cuộc của các ngành, các cấp, trong đó vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền là rất quan trọng. Không nên xem nhiệm vụ xây dựng trường học ĐCQG là riêng của ngành giáo dục, từ đó giao khoán cho ngành giáo dục thực hiện. Làm như vậy sẽ dẫn đến tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm và không huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị, của xã hội để đầu tư phát triển cho giáo dục.

– Hiện nay theo phân cấp của tỉnh, kinh phí đầu tư xây dựng trường ĐCQG đối với cấp THCS do ngân sách tỉnh đảm nhiệm; cấp mầm non, tiểu học do ngân sách huyện đảm nhiệm. Trên thực tế số trường tiểu học, mầm non gấp hai đến ba lần trường THCS, tương ứng số trường ĐCQG theo kế hoạch cũng như vậy. Cho nên, theo phân cấp như trên, ngân sách huyện không thể nào thực hiện đạt kế hoạch. Đề xuất với cấp tỉnh cần có cơ chế phù hợp hơn để hỗ trợ cho cấp huyện trong việc đầu tư xây dựng trường ĐCQG thời gian tới.

Biện Pháp Xây Dựng Trường Trung Học Cơ Sở Đạt Chuẩn Quốc Gia Ở Huyện Từ Liêm / 2023

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU HẢI

BIỆN PHÁP XÂY DỰNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Ở HUYỆN TỪ LIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2008

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU HẢI

BIỆN PHÁP XÂY DỰNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Ở HUYỆN TỪ LIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN LÊ

HÀ NỘI – 2008

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu

2

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

2

4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3

5. Giả thuyết khoa học

3

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

3

7. Phương pháp nghiên cứu

3

8. Cấu trúc luận văn

4

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG

5

HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

5

1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng trường chuẩn Quốc gia

7

1.2.1.Các văn bản, chiến lược xây dựng trường chuẩn Quốc gia

8

1.2.2. Lý luận chung về xây dựng trường chuẩn Quốc gia.

15

1.2.3. Quản lý việc xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia.

20

Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA PHÒNG GIÁO DỤC

33

VÀ ĐÀO TẠO, CÁC TRƢỜNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Ở HUYỆN TỪ LIÊM 2.1. Vài nét chung về tình hình giáo dục huyện Từ Liêm

33

2.1.1. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội

33

2.1.2. Tình hình giáo dục Trung học cơ sở của huyện Từ Liêm trong

36

những năm gần đây 2.2. Thực trạng xây dựng các trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc

49

gia và thực trạng quản lý việc xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia ở huyện Từ Liêm. 2.2.1. Thực trạng phấn đấu xây dựng trường Trung học cơ sở đạt

50

chuẩn quốc gia ở huyện Từ Liêm. 2.2.2. Thực trạng quản lý việc xây dựng trường Trung học cơ sở đạt

51

chuẩn Quốc gia của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Từ Liêm. 2.2.3. Thực trạng phối hợp quản lý xây dựng trường Trung học cơ sở

56

đạt chuẩn Quốc gia của hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở và phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Từ Liêm. 2.2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý việc xây dựng trường

58

Trung học cơ sở đạt chuẩn QG ở huyện Từ Liêm. Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA PHÒNG

61

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, CÁC TRƢỜNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Ở HUYỆN TỪ LIÊM 3.1. Một số nguyên tắc có tính chất định hướng cho việc đề ra các biện pháp

61

3.2. Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng trường Trung học cơ sở

61

đạt chuẩn Quốc gia của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Từ Liêm 3.2.1. Nhóm 1: Biện pháp chỉ đạo việc xây dựng các tổ chức trong nhà

61

trường Trung học cơ sở theo chuẩn Quốc gia 3.2.2. Nhóm 2: Biện pháp tổ chức chỉ đạo và bồi dưỡng nâng cao trình

66

độ đội ngũ cán bộ Quản lý, giáo viên và nhân viên trường Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu trường chuẩn Quốc gia 3.2.3. Nhóm 3: Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giấo dục toàn diện học sinh Trung học cơ sở theo chuẩn Quốc gia

75

3.2.4. Nhóm 4: Tăng cường quản lý khai thác sử dụng và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất nhà trường Trung học cơ sở theo chuẩn Quốc gia

84

3.2.5. Nhóm 5: Quản lý thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục góp phần xây dựng trường chuẩn Quốc gia

88

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

95

3.4. Khảo nghiệm về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp

96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

102

1. Kết luận

102

2. Khuyến nghị

103

TÀI LIỆU THAM KHẢO

108

PHỤ LỤC

: Chưa đạt : Cán bộ quản lý : Công nghiệp hoá : Cơ sở vật chất : Cha mẹ học sinh : Chuyên môn nghiệp vụ : Đạt : Đoàn Thị Điểm : Đồng chí : Giáo dục : Giáo dục thường xuyên : Giáo dục và Đào tạo : Giáo viên : Giáo viên chủ nhiệm : Hiện đại hoá : Học sinh : Hội đồng nhân dân : Huyện ủy : Kế hoạch : Nghị quyết : Nhân viên : Phương pháp : Phương pháp dạy học : Quốc gia : Quản lý : Thiết bị dạy học : Trung học cơ sở : Trung học phổ thông : Trần Quốc Tuấn : Trung Ương : Ủy ban nhân dân : Văn hóa xã hội : Xã hội hóa giáo dục : Xây dựng trường chuẩn

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục là nền tảng, là động lực phát triển đất nước. Trong giai đoạn phát triển đất nước ta hiện nay để nhằm đáp ứng công cuộc CNH và HĐH đất nước, đưa nước ta, về cơ bản, trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, sánh vai cùng các cường quốc trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận định: GD là quốc sách hàng đầu, điều này thể hiện ở Điều 35, Chương III, Hiến pháp nước cộng hoà XH chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi bổ sung vào năm 2001: “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và XH phát triển GD nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu của GD là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo những lao động có tay nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, người có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tuy nhiên, về cơ bản nền GD nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, chưa làm thoả mãn được nhu cầu và nguyện vọng học tập của quần chúng nhân dân trong thời gian qua. Chất lượng GD còn bất cập ở tất cả các bậc học, ngành học, đội ngũ GV không đồng bộ vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu, các điều kiện thiết yếu, cơ sở vật chất phục vụ cho GD còn nhiều hạn chế, hiện tượng tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong GD còn phổ biến, hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước về GD còn chưa hoàn thiện, thiếu hiệu lực… Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên đó là mức đầu tư cho sự nghiệp GD, đầu tư cho các điều kiện CSVC phục vụ cho GD còn rất thấp so với tầm quan trọng và vị trí của GD trong hệ thống kinh tế quốc dân, trong đó có đầu tư cho GD THCS. Việc tăng cường đầu tư cho GD, xây dựng một hệ thống trường chuẩn QG là nhằm từng bước nâng cao chất lượng GD, khắc phục những tình trạng bất cập, yếu kém, đáp ứng nhu cầu của đất nước, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân, đưa nền GD Việt Nam phát triển mạnh và bền vững, hội nhập với nền GD thế giới. Ngay từ đầu, công tác xây dựng một hệ thống trường THCS đạt chuẩn QG được Đảng bộ , các cấp uỷ Đảng , Chính quyền Huyện Từ Liêm xác định là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt trong việc nâng cao chất lượng GD học sinh

1

phổ thông một cách toàn diện nói chung, và chất lượng học sinh THCS nói riêng. Về các tiêu chí để đánh giá, công nhận trường THCS đạt chuẩn QG, Bộ GD&ĐT đã có Quyết định số: 27/2001- QĐ/BGD&ĐT ngày 5/7/2001, Quyết định “V/v Ban hành Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn QG (giai đoạn 2001 đến 2010)”, Quyết định số: 08/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/3/2005 của Bộ GD&ĐT “V/v Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn QG (giai đoạn 2001 đến 2010)”, Công văn số: 3481/GDTrH ngày 6/5/2005 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn xây dựng trường chuẩn QG. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện còn nhiều lúng túng, nhiều vấn đề cần được quan tâm, để tìm ra giải pháp cho phù hợp nhằm vừa có thể hoàn thành nhiệm vụ đề ra, vừa có thể đáp ứng được nhu cầu của địa phương trong thời đại mới. Ngành GD huyện Từ Liêm trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng khích lệ , là huyện hoàn thành phổ cập GD tiểu học , giáo dục THCS đúng độ tuổi, và đang tiến tới phổ cập THPT, tuy nhiên công tác này cũng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đối với các trường vùng sâu xa trong huyện. Xuất phát từ yêu cầu và thực tiễn công tác chỉ đạo các trường THCS, tôi chọn đề tài “Biện pháp xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia ở huyện Từ Liêm ” nhằm góp phần xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG giai đoạn 2008-2010 trên địa bàn Huyện, đáp ứng yêu cầu của địa phương trong thời kỳ đổi mới. 2. Mục đích nghiên cứu Đề xuất các biện pháp xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG trong giai đoạn 2008 – 2010 trên địa bàn huyện Từ Liêm nhằm giúp cho các trường THCS phấn đấu đạt chuẩn QG, góp phần nâng cao chất lượng GD, xây dựng thương hiệu ở các trường THCS trong Huyện. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Hoạt động quản lí của Phòng GD&ĐT, các trường trung học cơ sở trong việc xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Các biện pháp quản lí của Phòng GD&ĐT, các trường THCS huyện Từ Liêm trong việc xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG.

2

4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4.1. Phạm vi đối tượng Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lí của Phòng GD&ĐT, các trường THCS trong việc xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG huyện Từ Liêm. 4.2. Phạm vi địa bàn Đề tài được triển khai nghiên cứu ở Phòng GD&ĐT và ở 21 trường THCS Huyện Từ Liêm . 4.3. Phạm vi thời gian Nghiên cứu về các biện pháp quản lí việc xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG ở Huyện Từ Liêm giai đoạn 2000 – 2005, 2005-2008, đề xuất các biện pháp thực hiện giai đoạn 2008-2010. 5. Giả thuyết khoa học Hiện nay công tác quản lí của Phòng GD&ĐT nhằm tổ chức thực hiện xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG trên địa bàn Huyện Từ Liêm tuy đã có nhiều kinh nghiệm nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề quản lí của Phòng GD&ĐT, các trường THCS. Nếu tìm ra các biện pháp quản lí của Phòng GD &ĐT và của các trường THCS phù hợp thực tế sẽ giúp các trường THCS trên địa bàn Huyện Từ Liêm sớm đạt chuẩn QG sẽ tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng GD trong các nhà trường THCS. 6. Nhiệm vụ nghiên cứu 6.1. Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lí, xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia 6.2. Khảo sát thực trạng quản lí của Phòng Giáo dục và Đào tạo và thực trạng phấn đấu của các trường Trung học cơ sở trong việc xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia lí giải nguyên nhân của thực trạng này. 6.3. Đề xuất các biện pháp quản lí của Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường Trung học cơ sở trong việc xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp nêu ra 7. Phƣơng pháp nghiên cứu 7.1. Nhóm phương phấp nghiên cứu lí luận: Phân tích khái quát các tài liệu lí luận và các văn bản.

3

4

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chất lượng GD là vấn đề được quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam. Cải cách GD và QL GD thường có khuynh hướng chuẩn hoá hoặc dựa vào chuẩn. Vấn đề cải cách GD không phải bây giờ mới được đặt ra. Trong lịch sử đã có những nhân sĩ đã từng đưa ra những cuộc cải cách GD, trong đó phải kể đến Nguyễn Trường Tộ. Ông đã có những bản điều trần gửi lên triều đình yêu cầu cải cách GD, coi đó là điều kiện cần thiết để cứu đất nước khỏi nạn ngoại xâm. Đến đầu thế kỷ XX, một phong trào cải cách GD rầm rộ khắp cả nước do các chí sĩ duy tân tiến hành mà đỉnh cao là Đông Kinh nghĩa thục. Có thể nói đó là một cuộc cải cách tận gốc về GD từ mục đích, chương trình giảng dạy, tài liệu giảng dạy và đội ngũ GV. Tuy nhiên, thực dân Pháp đã sớm thấy nguy cơ phát triển của Đông Kinh nghĩa thục và những mầm mống cách mạng của nó nên đã thẳng tay đàn áp. Trường học bị đóng cửa, những người sáng lập hầu hết bị đầy ra Côn Đảo. Từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 146/SL ngày 10/8/1946, trong đó chỉ rõ “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và xác định các nguyên tắc cơ bản của nền GD nước ta là “Đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá và tôn chỉ phụng sự lý tưởng QG và dân chủ”. Vì vậy, ngay từ khi mới giành độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã bắt tay ngay vào cải tạo và xây dựng nền GD quốc dân. Tháng 9/1946, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về nhiệm vụ công tác GD ở miền núi đã chỉ rõ: “Thầy tìm trò, trường gần dân, quy mô nhỏ, nhà nước và nhân dân cùng phối hợp quyết tâm mở rộng cánh cửa của nhà trường XHCN cho các dân tộc”. Tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ thông qua Đề án cải cách GD lần thứ nhất, trong đó nêu rõ:”Tính chất của nền GD mới của ta là một nền GD của dân, do dân và vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng”. Tháng 1/1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách GD và xác định phương châm: “Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức

5

lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xuởng trường, vườn trường”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã khẳng định: “GD là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Phê phán thói lười học. Mọi người chăm lo GD” [22]. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống QL GD; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá” [20]. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “GD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đồng thời chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế QL, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá” [21]. Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá” thực chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển GD&ĐT nhằm chấn hưng nền GD Việt Nam. Những năm gần đây, việc xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn QG đã được tiến hành và đã đạt được những kết quả khả quan. Sau giai đoạn I của trường chuẩn QG tiểu học là công tác xây dựng trường chuẩn QG ở bậc mầm non và trung học. Có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề GD. Tuy nhiên nghiên cứu về vấn đề xây dựng trường chuẩn QG là đề tài còn chưa được quan tâm nhiều. Có thể kể đến một số công trình như: Luận án tiến sĩ “Thực trạng và những giải pháp xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn QG ở Tây Ninh của Nguyễn Ngọc Dũng”. – “Bồi dưỡng cán bộ QL trường mầm non – một biện pháp xây dựng trường mầm non thành thị đạt chuẩn QG ở Hải Phòng” của Phạm Thị Loan. – “Biện pháp QL của hiệu trưởng trong việc xây dựng trường THPT chuẩn QG ở Quảng Ninh”, luận văn thạc sĩ của Đặng Lộc Thọ, năm 2004. – “Biện pháp QL việc xây dựng trường chuẩn QG của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Tuyên Quang”, luận văn thạc sĩ khoa học GD của Đoàn Văn Ninh, năm 2006. Ngoài ra còn có một số công trình đăng rải rác trên các báo, tạp chí như:

6

Xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG giai đoạn 2001-2010 của Hà Thế Truyền trên tạp chí GD. Chuẩn QG về GD phổ thông – thách thức lớn trong lý luận chương trình dạy học của thế giới ngày nay của Hồ Viết Lương. – Trường tiểu học chuẩn QG – một khái niệm mới trong GD của Trịnh Quốc Thái đăng trên tạp chí GD. Các công trình nghiên cứu đều tập trung vào một số nội dung xây dựng trường THPT đạt chuẩn QG có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ở từng địa phương. Như vậy, cho đến nay, vấn đề lý luận về xây dựng trường chuẩn QG vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được quan tâm thoả đáng. Đặc biệt, trường THCS đạt chuẩn QG mới được quan tâm trong mấy năm gần đây nên vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện về QL, xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay.

1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng trƣờng chuẩn Quốc gia Nghị Quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng nêu rõ “Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học…, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá”. Phát huy tinh thần độc lập, chủ động và sáng tạo trong học tập của học sinh, đề cao năng lực tự học tập, tự hoàn thiện học vấn và kỹ năng XH. Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống XH”. Chuẩn hoá; hiện nay nước ta đã có được một hệ thống GD tương đối hoàn chỉnh, một nền GD của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong bối cảnh phát triển kinh tế chính trị XH đang diễn ra, yêu cầu về chuẩn hoá nhà trường, hoạt động dạy – học, từ thầy cô giáo, nội dung chương trình, đến các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy – học như CSVC, trang thiết bị đồ dùng dạy học,… đều phải đạt chuẩn, lúc đầu là đạt chuẩn QG và tiến dần đến đạt chuẩn quốc tế. Hiện đại hoá; song song với đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa thì mọi phương tiện như CSVC, trang thiết bị và đồ dùng dạy học phải được hiện đại hoá để đáp ứng phương pháp dạy – học hiện đại nhằm phát huy tối đa năng lực sáng tạo của thầy và trò trong hoạt động dạy và hoạt động học để đạt được kết quả GD toàn diện nhất.

7

Dân chủ hoá; là thực hiện công minh, công khai, công bằng trong GD, thực hiện dân biết, dân bàn, dân được làm và dân kiểm tra thể hiện GD thực sự là của dân, do dân và vì dân. XH hoá GD; Sự nghiệp GD không chỉ của riêng nhà nước mà là của toàn XH, mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, xây dựng phong trào học tập và môi trường GD lành mạnh, phối hợp với nhà trường để thực hiện mục tiêu GD. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD, thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức GD, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD; xây dựng XH thành XH học tập, tạo cơ hội học tập thường xuyên liên tục học tập suốt đời cho mọi người dân nhằm đạt được mục tiêu GD đề ra. Tóm lại, Phương hướng tổng quát của GD và đạo tạo Việt Nam hiện nay là xây dựng nền GD theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá và phát triển GD toàn diện. 1.2.1.Các văn bản, chiến lược xây dựng trường chuẩn Quốc gia 1.2.1.1. Các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Bộ GD&ĐT về xây dựng trường chuẩn Quốc gia a, Các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT, đã đưa ra một số quan điểm chỉ đạo như sau: GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. Phải coi đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển, tạo điều kiện cho GD phải là lĩnh vực luôn đi trước phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế – XH. Huy động toàn XH tham gia làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự QL của Nhà nước; Phát triển GD nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đào tạo con người có trình độ về kiến thức văn hoá khoa học đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; GD phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước, vừa phải phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân; đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng XH trong GD. Nghị quyết cũng đề ra một số chủ trương, chính sách và biện pháp lớn đổi mới phương pháp dạy – học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành,… Áp

8

dụng những phương pháp GD hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề; Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức XH, mọi gia đình và mọi người cùng với ngành GD chăm lo xây dựng sự nghiệp GD theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xây dựng môi trường GD: Nhà trường – Gia đình và XH; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp Uỷ đảng đối với sự nghiệp GD, xây dựng đội ngũ GV, cán bộ QL, đổi mới QL GD&ĐT. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về định hướng phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đã chỉ ra các giải pháp chủ yếu để phát triển GD&ĐT như: “Ban hành chuẩn QG về trường học”, “Đảm bảo diện tích đất đai về sân chơi, bãi tập theo đúng quy định của Nhà nước…”. Nghị quyết này đã chỉ đường để ngành GD thực hiện những nhiệm vụ chiến lược. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng nêu rõ: “Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển XH, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy – học, hệ thống trường lớp và hệ thống QL GD; thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá”. b, Các quyết định của Quốc hội và Chính phủ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001 QH 10 ngày 25-12-2001, Luật GD 2005 và chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001-2010 đã chỉ rõ các quan điểm GD nước ta là: GD là quốc sách hàng đầu, phát triển GD là nền tảng của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; xây dựng nền GD có tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Thực hiện công bằng XH trong GD, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học hành. Nhà nước và XH có cơ chế chính sách giúp đỡ người nghèo học tập, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. GD con người Việt Nam phát triển toàn diện Đức – Trí – Thể – Mỹ, phát triển

9

năng lực cá nhân, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Phát triển GD phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ, củng cố quốc phòng và an ninh, đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, mở rộng quy mô trên cơ sở chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng; thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, GD gắn với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thức tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD XH. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế – XH 2001 – 2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa”. “Con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhẩy vọt…”. Để đạt được các mục tiêu nêu trên, GD và khoa học công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển GD là rất bức thiết. Sau gần 15 năm đổi mới, GD Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng còn những yếu kém, bất cập. Chiến lược phát triển GD năm 2001 – 2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, XH hóa, xây dựng một nền GD có tính thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng đưa nền GD nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế – XH 2001 – 2010. Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001 – 2010, đã nêu ra bảy nhóm giải pháp phát triển GD trong 10 năm đầu thế kỷ XXI là: (1) Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình GD; (2) Phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp GD; (3) Đổi mới QL GD; (4) Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống GD quốc dân và phát triển mạng lưới trường lớp và các cơ sở GD; (5) Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho GD; (6) Đẩy mạnh XH hóa GD; (7) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về GD. Trong đó, đổi

10

mới chương trình GD, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm; đổi mới QL GD là khâu đột phá. Các giải pháp này đã nêu khá rõ về chuẩn cần phấn đấu như: Mục tiêu, nội dung, chương trình cần được đổi mới theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá…Chuẩn hoá và hiện đại hoá trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho công tác dạy – học; phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, Xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ QL GD; Hoàn thiện cơ cấu hệ thống GD quốc dân theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá; Phát triển mạng lưới trường phổ thông rộng khắp trên toàn quốc, xây dựng trên mỗi địa bàn xã phường ít nhất có một trường tiểu học và THCS đạt chuẩn QG. Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong XH để phát triển GD, đổi mới cơ chế QL hành chính; Chuẩn hoá và hiện đại hoá trường sở, trang thiết bị đồ dùng dạy – học; Các địa phương có KH cụ thể xây dựng thêm số lượng trường lớp cần thiết để đẩy nhanh tiến độ phổ cập GD THCS tiến đến phổ cập THPT, tạo điều kiện để học sinh được học cả ngày tại trường đến 70%, nâng tỉ lệ các trường được xây dựng theo chuẩn QG lên tới 50% vào năm 2010. Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001 – 2010 đã khẳng định rõ các yêu cầu về tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá và XH hoá trên các mặt: Mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ GV, cán bộ QL GD các cấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy – học, XH hoá GD mà Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu. c, Các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Quyết định số 27 /2001/ QĐ-BGD & ĐT ngày 05 tháng 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn QG (Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010). – Quyết định số 08/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 14 tháng 03 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn QG (giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010) ban hành kèm theo Quyết định số 27/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/07/2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, về qui định trường trung học đạt chuẩn QG mức độ 1 và mức độ 2. 11

Các quyết định kèm theo Qui chế công nhận nhà trường đạt chuẩn QG đều nêu rõ tiêu chuẩn trường chuẩn và qui trình xây dựng, kiểm tra công nhận trường đạt chuẩn QG. 1.2.1.2. Chiến lược giáo dục và đào tạo của Thành phố, những yêu cầu đặt ra đối với chất lượng giáo dục , xây dựng đội ngũ nhà giáo, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, công tác xã hội hoá giáo dục theo tiêu chí trường Trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia Quyết định 05/2003/QĐ-UB ngày 09 tháng 01 năm 2003 và Quyết định số 06/2003/QĐ-UB ngày 10/01/2003 của UBND Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường học Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và phê duyệt qui hoạch phát triển GD&ĐT Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định: * Về quan điểm phát triển – Giữ vững mục tiêu và định hướng XH chủ nghĩa, chú trọng GD và phát triển toàn diện nhân cách con người Thủ đô văn minh – thanh lịch – hiện đại, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa XH và phong cách lao động sáng tạo của con người Việt Nam; Phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, thời đại nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Đảm bảo công bằng và tiến bộ XH, xây dựng ngành GD&ĐT Hà Nội xứng đáng với tầm vóc của Thủ đô Hà Nội văn minh – thanh lịch – hiện đại, với truyền thống văn hoá Thủ đô ngàn năm văn hiến. – Phát triển GD&ĐT vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế XH của Thủ đô và phải đi trước một bước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế XH và tiến bộ khoa học – công nghệ đồng thời thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế XH trong khu vực đồng bằng Bắc bộ và cả nước. Xây dựng XH học tập, chuẩn bị thích ứng với kinh tế tri thức trong thập kỷ đầu của thế kỉ XXI; ưu tiên đầu tư cho ngoại thành để rút ngắn khoảng cách phân cực trong phát triển GD giữa nội và ngoại thành, hoàn thành sớm các yêu cầu phổ cập GD trung học và tương đương. Thực hiện mục tiêu Hà Nội phải trở thành một trung tâm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao của cả nước. – Nâng chất lượng và hiệu quả công tác QL GD, chuẩn hoá, hiện đại hoá, đa dạng hoá, XH hoá các hoạt động GD&ĐT Thủ đô. Huy động thêm

12

nguồn nhân lực cho GD&ĐTtừ ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương và từ XH. * Mục tiêu – Xây dựng và phát triển hệ thống GD&ĐT Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nâng cao chất lượng GD toàn diện, coi trọng GD đạo đức, lý tưởng, GD lối sống, nhân cách, GD truyền thống Thủ đô thanh lịch và GD pháp luật cho thanh thiếu niên học sinh; Nâng chất lượng đại trà, coi trọng đầu tư mũi nhọn; thực hiện tốt công tác đổi mới nội dung GD và thay sách giáo khoa. Nâng cao chất lượng phổ cập GD tiểu học và THCS. Phấn đấu trước năm 2010 phổ cập THPT và tương đương trên toàn Thành phố; Đến năm 2005 đạt tỉ lệ 80% học sinh tiểu học và 40% học sinh THCS được học 2 buổi/ ngày, nâng số năm đi học trung bình của người dân Hà Nội lên 12 năm vào năm 2010, đảm bảo từ 90% số dân trong độ tuổi từ 6-23 được đi học. – Xây dựng đội ngũ cán bộ QL đủ về số lượng, đồng bộ và đạt chuẩn hoá. Hiện đại hoá các cơ sở GD&ĐT, đặc biệt là mạng lưới trường trọng điểm chất lượng cao ở các bậc học, ngành học. Phấn đấu đến năm 2005 có 30% trường đạt chuẩn QG, và tỉ lệ này là 60% vào năm 2010 và phần lớn các trường đạt chuẩn vào năm 2020. Trong đó có một số trường đạt chuẩn khu vực và quốc tế. – Nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình đa dạng hoá, XH hoá các hoạt động GD&ĐT, huy động mọi nguồn lực cho GD&ĐT tăng dần tỉ trọng đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT, tạo thế và lực cho GD Hà Nội tiếp cận và hội nhập kịp với GD của các nước trong khu vực và trên thế giới. * Yêu cầu đạt đƣợc – Đến năm 2005 tất cả các trường THCS có cơ sở vật chất riêng biệt và kiên cố. Đến năm 2010 có ít nhất 80 trường THCS có cơ sở vật chất học 2 buổi/ngày, có từ 50 – 60% số trường đạt chuẩn QG. – Hàng năm bố trí cho từ 8 – 10% số GV được đi học nâng cao trình độ và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để đến năm 2010 đảm bảo 50% số GV đạt trên chuẩn. – Đổi mới công tác QL GD; Hoàn thiện cơ chế QL nhà nước ngành GD&ĐT Thủ đô theo hướng phân cấp QL hợp lý cho tất cả các cấp cơ sở,

13

thực hiện QL thống nhất theo luật và các qui định, qui chế chung của nhà nước. Xây dựng hệ thống thông tin QL GD của ngành GD Hà Nội, tin học hoá công tác QL. – Hình thành hệ thống kiểm định chất lượng GD&ĐT của các cơ sở đào tạo theo các chuẩn chất lượng QG. Từ những yêu cầu nêu trên trong chiến lƣợc phát triển GD Thủ đô đã đặt ra nhƣng chƣơng trình hành động cụ thể nhằm phát triển GD nhƣ sau: Chương trình hiện đại hoá nhà trường: Mục tiêu cơ bản là hình thành mạng lưới các cơ sở GD&ĐT có đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng theo các tiêu chuẩn QG ở tất cả các bậc học ngành học, phấn đấu đến năm 2005 có từ 20-30% số trường đạt chuẩn QG, năm 2010 là 50 – 60% và đến năm 2020 là 90 – 100% số trường đạt chuẩn QG trong đó có 1 trường đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Đổi mới và hiện đại hoá nội dung đào tạo, giáo trình và sách giáo khoa đầu tư trang bị đồng bộ các thiết bị dạy – học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, giải quyết cơ bản tình trạng dạy chay, học chay ở các cấp bậc học; Thực hiện kết nối Internet trong các nhà trường. Chương trình phổ cập GD trung học: với mục tiêu cơ bản là thực hiện phổ cập trung học và tương đương cho thanh thiếu niên trong độ tuổi vào năm 2005 trên cơ sở giữ vững và nâng cao kết quả phổ cập tiểu học, THCS. Chương trình phát triển đội ngũ GV: mục tiêu là chuẩn hoá đội ngũ GV ở tất cả các bậc học, ngành học, đủ đảm bảo về cả số lượng, cơ cấu loại hình và trình độ đào tạo cơ bản thích hợp, trên cơ sở đó từng bước hình thành đội ngũ GV, chuyên viên có trình độ cao. Chương trình XH hoá GD&ĐT có các mục tiêu cơ bản: Làm cho toàn XH quan tâm và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp GD&ĐT theo quan điểm GD là sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân với sự lãnh đạo của Đảng và QL của nhà nước; Tăng cường nguồn lực cho GD&ĐT ngoài ngân sách nhà nước, mở rộng các loại hình ngoài công lập; Hoàn thiện cơ chế QL Nhà nước về GD&ĐT, đảm bảo công bằng và tạo cơ hội học tập cho mọi người, xây dựng các quỹ phát triển GD từ các tổ chức kinh tế – XH, và nhân dân đóng góp. Cùng với xây dựng các chương trình phát triển là một số hệ thống giải pháp thực hiện như: Tăng dần tỉ trọng chi ngân sách cho GD&ĐT từ 16% NSNN lên 22% vào năm 2005 và hàng năm tăng 2% NSNN cho GD; Thực

14

Đề Tài Một Số Biện Pháp Trong Xây Dựng Trường Mầm Non Đạt Chuẩn Quốc Gia Mức Độ I / 2023

ểu tham luận trong trong các lần họp Hội đồng nhân dân xã, họp sơ kết, tổng kết của UBND xã, các buổi họp giao ban có đầy đủ các ban ngành đoàn thể trong toàn xã để nâng cao nhận thức trong cộng đồng về công tác xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia cần có sự chung tay, chung sức của toàn thể các tập thể cá nhân trong toàn xã. Qua đó các lãnh đạo, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và cha mẹ học sinh đã có nhận thức sâu sắc hơn về xây dựng trường chuẩn. Tập thể cán bộ giáo viên nhân viên hiểu rõ hơn về các văn bản chỉ đạo xây dựng trường chuẩn, các văn bản quy phạm về giáo dục mầm non, từ đó thực hiện và có trách nhiệm trong nhiệm vụ của mình. Lãnh đạo địa phương cũng như các các tổ chức xã hội trong toàn xã, các bậc phụ huynh cũng ngày càng hiểu rõ hơn về tầm quan trong của việc đưa nhà trường đạt trường đạt trường chuẩn quốc gia. Kết quả: Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của phòng giáo dục về chuyên môn cũng như các diều kiện xây dựng trường chuẩn quốc gia. 3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ đẩy mạnh các phong trào thi đua, chăm sóc giáo dục. Để xây dựng trường chuẩn Quốc gia thì chất lượng đội ngũ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trong nhà trường là vô cùng quan trọng. Để khẳng định được chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục thì phải có đội ngũ giỏi, năng động, sáng tạo, yêu nghề, mến trẻ. Để nâng cao chất lượng đội ngũ trong nhà trường tôi đã thực hiện những giải pháp nhỏ như sau : 3.3.1. Bồi dưỡng nhận thức tư tưởng cho giáo viên - Để nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác này tôi đã quan tâm đến công tác bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên phù hợp với khả năng, năng lực chuyên môn, sở trường công tác và điều kiện gia đình để giáo viên có điều kiện hỗ trợ nhau trong công tác chuyên môn, đồng thời có sự phân công rõ ràng, phù hợp để giáo viên có cơ hội và điều kiện phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. VD: Tôi sắp xếp 1 đồng chí giáo viên trẻ có chuyên môn khá hơn với 1 đồng chí giáo viên có tuổi hạn chế hơn về chuyên môn nhưng tận tụy và nhiệt huyết. Hay 1 cô giáo có gia đình ở xa với 1 cô giáo có gia đình ở gần, giáo viên có con nhỏ với giáo viên có con lớn hơn có sức khỏe, năng lực. Với cách làm như trên trong quá trình vừa thực hiện tôi vừa theo dõi, quan sát, lắng nghe xem nhận thức tư tưởng của từng giáo viên như thế nào để có hướng bồi dưỡng phù hợp. Qua thực tế tôi nhận thấy được toàn thể giáo viên trong nhà trường có ý thức rất cao, cùng thể hiện tinh thần quyết tâm phấn đấu. 3.3.2. Bồi dưỡng chuyên môn đội ngũ giáo viên Để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên có hệ thống trước hết tôi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên cụ thể rõ ràng. Kế hoạch bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu và quy định đối với trường đạt chuẩn Quốc gia. Trong kế hoạch tôi chỉ rõ đối tượng nào cần bồi dưỡng những nội dung bồi dưỡng, và xây dựng thời điểm bồi dưỡng cụ thể, phù hợp với thời gian và tình hình đội ngũ của nhà trường, và đồng thời giúp bản thân giáo viên tự thấy mình yếu ở những mặt nào để tự có kế hoạch bồi dưỡng, tự học cho bản thân sát với thực tế và hiệu quả. Các biện pháp thực hiện kế hoạch như: tổ chức hội thảo chuyên đề bám sát theo kế hoạch chỉ đạo của bậc học, kế hoạch năm học, và những nội dung cần thiết phải bồi dưỡng theo thực tế những mặt hạn chế của giáo viên, tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi, viết sáng kiến, kiểm tra chuyên đề, kiểm tra đột xuất, kiểm tra hoạt động sư phạm . Phát động các phong trào thi đua, quan tâm chất lượng đội ngũ giáo viên mũi nhọn, xây dựng lớp xach, sạch, đẹp, đưa ra các quy chế thi đua trong nhà trường để các giáo viên cùng nhau phấn đấu và đạt kết quả cao. Bản thân tôi trực tiếp là người bồi dưỡng cho các đồng chí giáo viên tham gia hội thi các cấp để đạt kết quả tốt đồng thời chỉ đạo đồng chí phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn luôn quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên. Tôi đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên cốt cán, đó là các đồng chí tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, chủ tịch công đoàn, thanh tra nhân dân ,nhằm trang bị thêm cho họ kiến thức chuyên môn, năng lực quản lý và lãnh đạo, giúp cho họ có thêm những kiến thức và một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng kế hoạch tổ, quản lý, điều hành hoạt động của tổ; hướng dẫn họ xây dựng kế hoạch sinh hoạt, bồi dưỡng cho các thành viên trong tổ họ phụ trách một cách cụ thể, trên cơ sở thực tế chất lượng đội ngũ của mỗi tổ chuyên môn để họ có năng lực để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Tôi đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên trong nhà trường, động viên kịp thời những đồng chí có nguyện vọng tự giác tham gia học các lớp nâng cao trình độ chuyên môn. Bên cạnh đó tôi quan tâm đến chế độ, đời sống vật chất tinh thần cho giáo viên như thường xuyên quan tâm đến chế độ tiền lương, nâng lương sớm trước kỳ cho giáo viên, khen thưởng kịp thời cho giáo viên có thành tích điển hình như giáo viên đạt giải trong hội thi giáo viên giỏi cấp thị xã, tổ chức cho giáo viên đi thăm quan, học tập trường bạn, thăm hỏi kịp thời những giáo viên gặp khó khăn, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của giáo viên và lắng nghe những ý kiến phản ánh của giáo viên để kịp thời có những biện pháp thực hiện hiệu quả công việc. Kết quả: Trong những năm qua hhờ việc thực hiện nghiêm túc và linh hoạt kế hoạch bồi dưỡng giáo viên, chất lượng giáo viên, nhân viên của nhà trường có sự chuyển biến nổi bật, Giáo viên tích cực trong các phong trào thi đua và tham gia các hoạt động tập thể sôi nổi. Có 66.7% giáo viên biết sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Trong phong trào viết SKKN cấp trường có 5 SKKN được xếp loại A, còn lại xếp loại B, loại C. sáng kiến gửi cấp thị xã đạt loại khá và trung bình. Giáo viên tham dự thi giáo viên giỏi cấp trường 8/8 gv đều đạt, 2 năm học 2014- 2015, 2015- 2016 nhà trường có giáo viên tham gia hội thi giáo viên đạt giỏi cấp thị xã đạt giải ba và giải khuyến khích. Giáo viên được đánh giá chuẩn nghề nghiệp loại xuất sắc là 6/14. Giáo viên xếp loại khá 8/14 . Đánh giá viên chức cuối năm học, có 94% cán bộ, giáo viên, nhân viên xếp loại hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt năm học 2015-2016, Nhà trường nhiều năm liền đạt đạt tập thể lao động tiên tiến. Chiến sĩ thi đua 2 đồng chí và lao động tiên tiến 14 đồng chí. 3.4. Làm tốt công tác tham mưu, xã hội hóa giáo dục xây dựng cơ sở vật chất. Việc xây dựng trường chuẩn quốc gia không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường, mỗi đồng chí cán bộ giáo viên mà còn là nhiệm vụ của các cấp chính quyền địa phương, của cha mẹ học sinh và của cộng đồng. Vì vậy tôi xác định đâu là nhiệm vụ của nhà trường, đâu là nhiệm vụ của các tổ chức xã hội, nội dung nào cần hổ trợ đầu tư của nhà nước, của địa phương. Chính vì vậy trong quá trình xây dựng trường chuẩn bản thân tôi đã tích cực và mạnh rạn trong công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo Sở giáo dục, Phòng giáo dục, UBND thị xã, địa phương quan tâm đến nhà trường về mọi mặt, chuyên môn, chất lượng đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị đồ dùng. Một trong 5 tiêu chuẩn quy định trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ I đó là tiêu chuẩn quy định về cơ sở vật chất. Cơ sở vật chất khang trang, đầy đủ theo quy định tạo cho giáo viên có cơ hội được thể hiện hết khả năng, năng lực của mình, các cháu được tiếp cận với các trang thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn sẽ phát triển toàn diện về mọi mặt, nhanh nhẹn và thông minh hơn. Với tình hình thực tế để về đích trường chuẩn theo kế hoạch đề ra, về cơ sở vật chất nhà trường còn vô vàn những khó khăn, các phòng chức năng chưa được hoàn thiện, trang thiết bị dạy và học thiếu thốn, hệ thống nội thất bếp ăn bán trú theo chuẩn chưa đạt, hệ thống biểu bảng chưa phụ hợp, công trình nước sạch chưa đảm bảo, hệ thống cây xanh còn nhiều ít. Do vậy đặt trên vai người hiệu trưởng những khó khăn thử thách lớn. trước tình hình đó tôi đã chỉ đạo nhà trường tiếp tục duy trì mọi nề nếp hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ chăm sóc giáo dục, đẩy mạnh các phong trào thi đua, đồng thời quan tâm nhiều đến công tác tham mưu và xã hội hóa giáo dục nhằm huy động mọi nguồn lực cho công tác đàu tư xây dựng cơ sở vật chất. Nhận thức được xã hội hoá giáo dục có tầm quan trọng thiết thực trong sự nghiệp phát triển giáo dục. VD: Công rình vệ sinh của trẻ, tôi đã tham mưu để khoảng cách ngăn lửng giữa các phòng 1,2m đúng quy cách xây dựng cho trẻ( So với thiết kế là 1,8m). Tham mưu thay đổi 1 phòng chức năng thành 1 phòng bếp để có khu sơ chế rộng rãi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Tham mưu thành công chuyển 1 phòng làm việc của nhân viên thành 1 nhà vệ sinh cho trẻ sử dụng bằng nguồn xã hội hóa giáo dục. - Tôi đã mạnh rạn đề nghị UBND xã đẩy nhanh tiến độ xây dựng vườn trải nghiệm cho trẻ trong đó có hệ thống cây xanh, sân bóng bằng cỏ nhân tạo, bể cát có mái che cho trẻ hoạt động. 4. Kết quả. Khu nhà hiệu bộ với đầy đủ các phòng chức năng đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng tháng 5 năm 2016. Với tổng giá trị đầu tư : 3.100.000.000đ. Các phòng chức năng được trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết cho từng phòng tạo điềukiện cho cán bộ và nhân viên làm việc. Các công trình phụ trợ như ; Nhà để xe, sân trải nghiệm cho trẻ với tổng giá trị : 1.700.000.000đ. Các lớp học có đầy đủ bàn ghế, bảng, giá để đồ chơi, tủ đựng đồ dùng dạy học, trang trí lớp phù hợp. Nhà bếp có đầy đủ các đồ dùng cần thiết mới đúng quy cách phục vụ cho công tác bán trú như : Tủ cơm ga, tủ sấy bát, bàn sơ chế, hệ thống bếp ga đúng tiêu chuẩn. Nhận thức của đội ngũ giáo viên và các lực lượng xã hội trong xây dựng trường chuẩn ngày càng được nâng cao tiêu biểu như : giáo viên nhiệt tình trong mọi công tác, chất lượng giảng dạy ngày một nâng cao. Công tác tham mưu, xã hội hóa tích cực đạt kết quả cao : tiêu biểu được Sỏ giáo dục và đào tạo, UBND xã hõ trọ đồ dùng, trang thiết bị trị giá hơn 600.000.000đ, Sau hơn 2 năm phấn đấu, nhà trường được vinh dự đón đoàn kiểm tra của các cấp có thẩm quyền về thẩm định đánh giá 5 tiêu chuẩn trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; kết quả qua kiểm tra được đoàn đánh giá cao và đề nghị UBND tỉnh công nhận Trường mầm non đạt trường chuẩn quốc gia mức độ 1 và nhà trường đã được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ I theo (QĐ số 73/QĐ-UBND tỉnh ngày 07/07/2016). Chi bộ được Thị Ủy tặng giấy khen "Chi bộ đã có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng Đảng".Các tổ chức đoàn thể của trường luôn đạt vững mạnh xuất sắc. 100% cán bộ giáo viên trình độ đạt chuẩn, trong đó trên chuẩn đạt hơn 50%, danh hiệu lao động tiên tiến đạt 70%, chiến sĩ thi đua 13% tập thể trường nhiều năm liền đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến. Năm học 2015- 2016 nhà trường được chủ tịch UBND thị xã tặng giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong năm học. Số lượng trẻ đến trường tăng hàng năm từ 5 đến 10%, 100% số lượng trẻ học bán trú đạt, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng hàng năm từ 2-3%, trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 100%. 5. So sánh đối chứng: + Về cơ sở vật chất: STT Năm học Biển cổng trường Phòng học kiên cố Bếp một chiều Sân chơi Bộ đồ chơi đa năng Phòng chức năng Lớp có đủ đồ dùng dạy học 1 2014- 2015 1 7 1( Chưa đúng quy cách) 1 0 1 2 2 Đầu năm 2015- 2016 1 7 1 1 1 2 2 3 2016- 2017 2 7 1 2 1 7 7 + Chất lượng đội ngũ: TT Năm học Trình độ Phong trào thi đua Chuẩn nghề nghiệp Chuẩn Trên chuẩn CSTĐ LĐTT Xuất sắc Khá TB Yếu 1 2014- 2015 19 6 1 14 4 5 4 0 2 2015- 2016 20 8 2 15 6 6 2 0 3 2016- 2017 20 9 ( Phần Ô trống chờ kết quả cuối năm học 2016- 2017) Nhìn vào bảng so sánh cho thấy trong quá trình gần 2 năm với lộ trình xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia nhà trường đã có kết quả thay đổi đáng kể trước hết về cơ sở vật chất: Đã có đủ 2 biển trường cho 2 điểm trường, bếp đã khang trang đúng quy cách theo quy định, đã xây dựng hoàn thiện 2 sân chơi, bổ sung đầy đủ đồ dùng đồ chơi ngoài trời và trong lớp, đặc biệt đã xây dựng thêm 6 phòng chức năng kiên cố đảm bảo theo yêu cầu. Về chất lượng đội ngũ: Từ trình độ đào tạo đến các phong trào thi đua và xếp loại chất lượng chuẩn nghề nghiệp đều tăng theo năm học. 6. Bài học kinh nghiệm. Qua thời gian áp dụng các biện pháp thực hiện xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đến nay đã đạt được kết quả tốt. Trong quá trình thực hiện tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm sau: Người lãnh đạo phải có năng lực, nhiệt huyết, trách nhiệm với công việc và xây dựng kế hoạch thật cụ thể bám sát theo điều kiện của nhà trường và địa phương. Trong quá trình thực hiện, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các thành viên và có hướng điều chỉnh kịp thời. Phát huy sức mạnh của tập thể, xây dựng mối đoàn kết nội bộ cùng nhau quyết tâm vượt qua mọi khó khăn xây dựng trường mầm non đtạ chuẩn quốc gia. 7. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng. - Về điều kiện trang thiết bị: Điều kiện đầy đủ trang thiết bị đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện nay. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận. Một lần nữa khẳng định qua việc thực hiện các giải pháp về xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ trong thời gian qua đã đem lại kết quả thiết thực cùng sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp Ủy đảng, chính quyền địa phương, sự nỗ lực quyết tâm của ngành giáo dục, của cán bộ và giáo viên nhà trường cùng với sự đồng thuận của người dân, nhà trường đã được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ I, đánh giá một bước phát triển mới, tạo nên một diện mạo mới cho nhà trường, giáo viên và học sinh được hưởng những điều kiện tốt nhất trong việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Đây cũng là bước đà tạo động lực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. 2. Khuyến nghị. Hiện nay kinh phí đối với xây dựng trường chuẩn còn gặp rất nhiều khó khăn. Đề xuất với cấp tỉnh cần có cơ chế phù hợp để hỗ trợ các nhà trường trong việc đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia trong thời gian tới. Đề nghị các nhà quản lý giáo dục luôn có tinh thần nhiệt huyết đem hết khả năng của mình trong công tác tham mưu xây dựng nhà trường đạt chuẩn theo kế hoạch đã xây dựng. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO - Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật Giáo dục sửa đổi số 44/2009/QH12 ngày 25/11/2009 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Thông tư số 02/ 2014/BGD- ĐT ngày 08 tháng 02 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia - Điều lệ trường mầm non theo Quyết định số 05/VBHN- BGD ĐT ngày 13 tháng 02 năm 2014 của Bộ giáo dục và đào tạo. - Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kì 2015 - 2020. MỤC LỤC Nội dung Trang Tên đề tài 1 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1 II. NỘI DUNG: 2 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến 4 2. Thực trạng của vắn đề 5 2.1. Thuận lợi 5 2.2. Khó khăn 5 3. Một số giải pháp thực hiện 6 3.1. Giải pháp 1 7 3.2. Giải pháp 2 9 3.3. Giải pháp 3 11 3.4. Giải pháp 4 14 4. Kết quả 15 III. KẾT LUẬN 20 1. Kết luận 20 2. Kiến nghị 21 Tài liệu tham khảo 21 22