Công Tác Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới

--- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Bài 3. Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Các Vùng Biển, Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Biển Đông đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, chúng ta đã tích cực triển khai các hoạt động nhằm quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, bảo vệ các lợi ích quốc gia trên biển. Vị trí, tầm quan trọng của Biển Đông và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo

    Biển Đông có vị trí chiến lược quan trọng cả về mặt an ninh – quốc phòng lẫn thương mại quốc tế đối với các quốc gia trong khu vực do nằm trên tuyến đường hàng hải nhộn nhịp bậc nhất thế giới với mật độ tàu thuyền trọng tải lớn qua lại trung bình khoảng trên 41.000 chiếc/năm. Theo tài liệu nước ngoài, hơn 90% lượng vận tải thương mại thế giới được thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông với trị giá khoảng 5.000 tỷ USD/năm, hơn 80% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản, Hàn Quốc và vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) được chuyên chở qua đây; lượng khí hóa lỏng được vận chuyển qua Biển Đông chiếm 2/3 tổng số lượng khí hóa lỏng được buôn bán trên thị trường thế giới.

    Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Biển Đông trở thành một trong những khu vực tồn tại nhiều tranh chấp phức tạp nhất thế giới, nếu xử lý không thích hợp, dễ dẫn đến nguy cơ xung đột quân sự, thậm chí chiến tranh, tác động tiêu cực đến ổn định, hòa bình, phát triển của khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc trong và ngoài khu vực cũng khiến tranh chấp và tình hình ở khu vực Biển Đông thêm phức tạp, khó lường.

    Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, quân và dân ta đã tích cực triển khai các hoạt động nhằm quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, bảo vệ các lợi ích quốc gia trên biển. Thành tựu về quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đã được Đại hội XII của Đảng khẳng định: “quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(1). Tuy nhiên, tình hình quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp hơn đòi hỏi các giải pháp tổng thể về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế, kinh tế, xã hội.

    Hiện nay, tình hình quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta khá phức tạp, hàm chứa nhiều nhân tố bất ổn, đó là: tranh chấp ở Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, tác động và ảnh hưởng đến an ninh, hòa bình và phát triển của đất nước ta; tình hình khu vực và thế giới diễn biến nhanh chóng, khó lường, xuất hiện nhiều nhân tố mới có tác động sâu sắc đến trật tự và cục diện thế giới, tác động trực tiếp đến phát triển tình hình ở khu vực Biển Đông; sự phối hợp, thống nhất về nhận thức và hành động trong nhân dân và một số cán bộ về vấn đề chủ quyền biển, đảo còn chưa cao, dẫn đến khó khăn trong chỉ đạo, điều hành; các thế lực phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lợi dụng vấn đề biển, đảo để chống phá Đảng và Nhà nước ta; kinh nghiệm quản lý biển, đảo của chúng ta còn hạn chế, năng lực, trang thiết bị của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển cần tiếp tục được củng cố và tăng cường.

    Là một bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia Việt Nam, không gian sinh tồn và là điều kiện vật chất để xây dựng, phát triển đất nước, biển, đảo có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và phát triển của đất nước ta. Do đó, quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam không chỉ có ý nghĩa là bảo vệ không gian lãnh thổ, lợi ích mọi mặt mà còn là bảo vệ chế độ, Nhà nước.

    Công tác quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo

    Quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo chính là quá trình thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước ta trên các đảo, vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước với các hoạt động kinh tế – xã hội, các hoạt động trên biển, đảo nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ, các hoạt động đó trong trật tự, theo đúng quy định của Nhà nước. Quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo vừa mang yếu tố đối nội, vừa mang yếu tố đối ngoại. Công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo bao gồm những lĩnh vực sau:

    1- Xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Nhận thức rõ tầm quan trọng, vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán về biển, đảo. Đặc biệt là Nghị quyết số 09-NQ/TW (khóa X), ngày 9-2-2007, “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022”, đây là lần đầu tiên Đảng ta có một Chiến lược biển toàn diện, có tầm nhìn chiến lược rộng, tính bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường…

    2- Tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Trong bối cảnh tình hình tranh chấp ở Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, song với truyền thống bất khuất của dân tộc, ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã bảo vệ vững chắc chủ quyền. Cụ thể là, bảo vệ tốt danh nghĩa chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa; quản lý và bảo vệ vững chắc 21 đảo, bãi với 33 điểm đóng quân ở quần đảo Trường Sa, bảo vệ tốt vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý.

    Cùng với đó là việc ta đã giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, quyền và lợi ích trên các vùng biển Việt Nam thông qua việc duy trì hệ thống và hoạt động của 15 nhà giàn DK trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.

    3- Kiên trì, kiên quyết đấu tranh đối với các vi phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Nhà nước Việt Nam trước sau như một khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường này được thể hiện nhất quán trong các văn bản pháp luật về biển đã được ban hành, như Nghị quyết của Quốc hội năm 1994 phê chuẩn Công ước Luật Biển cũng như trong các phát biểu, tuyên bố chính thức khác của Việt Nam.

    Các lực lượng thực thi pháp luật trên biển, như cảnh sát biển, biên phòng, kiểm ngư tích cực, chủ động tiến hành hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật Việt Nam trên vùng biển Việt Nam, qua đó góp phần tích cực vào việc duy trì an ninh trật tự, an toàn trên biển, thể hiện rõ vai trò quản lý và bảo vệ vùng biển của Việt Nam.

    4- Phát triển kinh tế biển, đảo, gắn phát triển kinh tế với an ninh, quốc phòng. Thực hiện Chiến lược biển, trong thời gian qua, kinh tế biển, đảo đã có bước phát triển mạnh mẽ.

    Thứ nhất, chúng ta đã phát triển được hệ thống 15 khu kinh tế biển với trên 100 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký gần 39 tỷ USD và hàng nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng vạn lao động và là động lực để phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, vùng và cả nước.

    Thứ hai, kinh tế thủy sản tăng trưởng liên tục ở mức bình quân 5% – 7%/năm, trong đó giá trị xuất khẩu của năm 2006 tăng 250 lần so với năm 1981. Xuất khẩu thủy sản năm 2022 đạt 8,3 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2022.

    Thứ ba, trong nhiều năm qua, việc khai thác dầu khí ở các vùng biển Việt Nam đóng góp từ 18% – 26%/năm cho GDP, góp phần tăng trưởng GDP toàn quốc.

    Thứ tư, du lịch biển, đảo luôn thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước (trên 70% tổng lượng khách quốc tế và trên 50% tổng lượng khách nội địa). Chỉ tính riêng năm 2022, ngành du lịch đóng góp 6,6% GDP quốc gia, trong đó du lịch biển, đảo chiếm tỷ trọng lớn.

    7- Hoàn thiện thiết chế quản lý biển, đảo. Từng bước xây dựng và hoàn thiện thiết chế quản lý biển, đảo thông qua việc hình thành một số lực lượng thực thi pháp luật trên biển đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của lực lượng biên phòng, hải quân. Về tổ chức, từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo cùng với sự phân công trách nhiệm cụ thể về các lĩnh vực quản lý nhà nước về biển, đảo giữa các bộ: Ngoại giao, Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… Kết hợp giữa quản lý nhà nước theo ngành và lãnh thổ về biển, đảo.

    8- Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Công tác đào tạo, hình thành nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới được chú trọng và quan tâm. Bên cạnh việc đào tạo chính khóa cho các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý và bảo vệ biển, đảo, nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước tổng hợp về biển, đảo, kiến thức pháp luật đã được tổ chức ở các bộ, ngành, địa phương. Việc hợp tác quốc tế nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực biển, đảo cũng được mở rộng với nhiều đối tác khác nhau.

    Các bài học kinh nghiệm

    Trên cơ sở đánh giá các thành tựu cũng như những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm.

    Một là, chủ quyền biển, đảo là vấn đề thiêng liêng đối với Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Do đó, bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần phải phát huy sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, chỉ đạo của Nhà nước, trong đó có sự phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của từng ngành, từng cấp.

    Hai là, quản lý và bảo vệ chủ quyền phải dựa trên nền tảng bất biến là chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, không thể để bị xâm phạm, song cũng cần linh hoạt trong biện pháp triển khai theo từng thời điểm, từng hoàn cảnh với mục tiêu cao nhất là bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

    Bốn là, tạo sự đồng thuận và nhất trí cao giữa các cơ quan nhà nước, giữa các bộ và nhân dân về chủ trương, đường lối quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo để phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

    Năm là, tích cực, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm chủ quyền của Việt Nam thông qua hợp tác chính trị, quốc phòng – an ninh; răn đe về mặt quân sự; đề cao ý chí bất khuất, kiên cường, anh dũng của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

    (1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr. 58 – 59

    (2) Chúng ta đã giải quyết dứt điểm vấn đề phân định biển với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ; với Thái Lan trong Vịnh Thái Lan; giải quyết vấn đề phân định thềm lục địa với In-đô-nê-xi-a; tiến hành khai thác chung dầu khí với Ma-lai-xi-a; hợp tác nghề cá với Trung Quốc; thiết lập đường dây nóng giữa Hải quân Việt Nam với Hải quân Trung Quốc; Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Cam-pu-chia… Đồng thời, ta tiến hành tuần tra chung với Thái Lan, Cam-pu-chia và Trung Quốc; hợp tác nghiên cứu khoa học biển với Phi-líp-pin

    Theo Tạp chí Cộng sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Sao Để Quản Lý Được Thời Gian Của Bản Thân
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Làm Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Bí Quyết Lập Lịch Bảo Trì Và Giám Sát Thực Hiện Công Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý, Bảo Vệ Chủ Quyền, An Ninh Biên Giới, Biển Đảo Quốc Gia
  • Bài 2: Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Giải Pháp Quy Hoạch Và Phát Triển Đô Thị Bền Vững Trong Tạo Lập Công Trình Xanh
  • Giải Pháp Quy Hoạch Đô Thị Nhìn Từ Các Quốc Gia
  • Bốn Nhóm Giải Pháp Quy Hoạch Và Tài Chính Để Cải Tạo Và Phát Triển Đô Thị Tp. Hcm
  • Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Biển không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, cửa ngõ mở rộng quan hệ giao thương với quốc tế mà còn đóng vai trò quan trọng bảo đảm an ninh, quốc phòng đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc không chỉ thể hiện tư duy của Đảng ta trong các nghị quyết đại hội mà còn trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị.

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Khẳng định của Người không chỉ thôi thúc cả dân tộc quyết tâm đánh bại đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc mà còn đặt trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam phải biết chăm lo phát huy lợi thế và bảo vệ vững chắc vùng trời, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Vì vậy, trong suốt tiến trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay nói riêng, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát huy lợi thế của đất nước về biển, kết hợp với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, coi đó là một trong những động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đảng ta xác định “Trong khi không một phút lơi lỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân ta phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội”[1] . Đại hội lần thứ VII của Đảng còn chỉ rõ: Từng bước khai thác toàn diện các tiềm năng to lớn của kinh tế biển, phát triển kinh tế ở hải đảo, làm chủ lãnh hải và thềm lục địa, thực hiện chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế. Đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng tiếp tục xác định: .

    Hiện nay mật độ dân cư trên biển, đảo và quần đảo thấp, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội các vùng ven biển, trên biển và trên các đảo còn chưa hoàn thiện; khả năng bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia còn nhiều hạn chế… Do đó, cần phải đầu tư một cách thích đáng về mọi mặt, bảo đảm cho phát triển kinh tế và tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển; kết hợp chặt chẽ các yếu tố: Kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, tạo sự liên kết giữa biển, đảo và bờ nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Vì vậy, Đại hội IX của Đảng chủ trương: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu kilômét vuông thềm lục địa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”.

    Quy hoạch phát triển kinh tế ở các đảo và quần đảo phải gắn bó với công tác xây dựng địa bàn quốc phòng và an ninh, xây dựng thế trận “quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân” trên biển. Đại hội X của Đảng ta khẳng định: . Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2022” xác định: .

    Tình hình mới, nhất là từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam việc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo đối với nước ta càng đặt ra yêu cầu cao hơn trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong xử lý các mối quan hệ quốc tế và khu vực hiện nay đặt ra phải luôn tỉnh táo, bình tĩnh, khôn khéo, không bị kích động, xúi giục gây xung đột vũ trang, chiến tranh; giải quyết mọi vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực. Vì vậy, trước sự biến đổi khôn lường của tình hình thế giới, khu vực và trên biển Đông thời gian qua, nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước nhất là an ninh trên biển trở thành nhiệm vụ nặng nề, đặt trước nhiều khó khăn, thách thức. Phát huy lợi thế kết hợp với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam đang trở thành nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định: . Đồng thời, Đảng ta chủ trương: Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy lợi thế kết hợp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam không chỉ thể hiện sự phát triển năng lực tư duy lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình mới, mà còn là ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trước bối cảnh quốc tế phức tạp như hiện nay.

    Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đặt ra nhiệm vụ cấp bách không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Trong đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt. Vì vậy, để phát huy lợi thế kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trước mắt và lâu dài, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

    1. X ây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế.

    Để kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta và gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển cần:phát triển mạnh nghề đánh bắt xa bờ thông qua việc hỗ trợ cho ngư dân vay vốn và phát triển lực lượng quốc doanh. Chống ô nhiễm môi trường biển, sông ngòi, ao hồ và nghiêm cấm khai thác thuỷ hải sản bằng phương pháp huỷ diệt. Phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hải sản, dịch vụ biển; đẩy nhanh ngành công nghiệp đóng tàu biển và công nghiệp khai thác, chế biến hải sản, trong đó, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo. Xây dựng công nghiệp quốc phòng trong hệ thống công nghiệp quốc gia dưới sự chỉ đạo, quản lý điều hành trực tiếp của Chính phủ, đầu tư có chọn lọc theo hướng hiện đại, vừa phục vụ quốc phòng vừa phục vụ dân sinh. Tiếp tục điều tra tài nguyên và sinh vật biển để có kế hoạch khai thác, bảo vệ. Phát triển mạnh công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển.

    Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản chất lượng cao… Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất, nhập khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, vận tải biển … Phát triển kinh tế các vùng đảo, quần đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của từng đảo, quần đảo. Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

    2. X ây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền biển, đảo vững mạnh đáp ứng yêu cầu quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới.

    Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, trong đó, lực lượng trực tiếp và tại chỗ là nòng cốt. Với lẽ đó, cả trong thời gian trước mắt và lâu dài, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến các hoạt động xây dựng lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo như lực lượng Hải quân, Biên Phòng, Cảnh sát biển, dân quân tự vệ biển đủ mạnh, có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở. Chú trọng nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật, trình độ hợp đồng tác chiến giữa các lực lượng, đảm bảo khả năng xử lý linh hoạt và hiệu quả các tình huống có thể xảy ra trên biển; quan tâm đúng mức đến công tác đảm bảo vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các lực lượng nòng cốt như Hải quân và Cảnh sát biển phù hợp với xu thế phát triển trong khu vực và yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị. Kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnhcủa bộ đội chủ lực với khả năng xử lý tình huống mau lẹ, trực tiếp của các lực lượng quân sự và dân sự ở các địa phương ven biển, luyện tập các phương án hợp đồng tác chiến trên biển, trong đó kết hợp chặt chẽ nghệ thuật tác chiến truyền thống của dân tộc với các phương án tác chiến sử dụng vũ khí công nghệ cao trong xử lý các tình huống có thể xảy ra. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng lực lượng quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, đặc biệt là vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội ở các địa phương có biển.

    3. Kiên trì đối thoại tìm kiếm giải pháp hoà bình, tham gia xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo.

    4. Kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa trên biển, nhất là ở một số vùng biển, đảo có vị trí chiến lược kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng – an ninh trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

    Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là cơ sở để chúng ta khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, vừa là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng – an ninh trên biển. Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2022, Đảng ta đã khẳng định: “. Đây là một chủ trương chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Chủ trương này đã và đang được hiện thực hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam trên biển.

    Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, công tác dân sự hóa trên các vùng biển, đảo, nhất là ở những vùng biển, đảo chiến lược đã được đẩy mạnh, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để củng cố và xây dựng thế trận lòng dân trên biển. Ở một số đảo có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng, quá trình dân sự hoá bước đầu được thực hiện có hiệu quả, tạo được dư luận tốt đối với quần chúng nhân dân trong và ngoài nước. Cơ sở hạ tầng trên nhiều đảo được xây dựng ngày càng khang trang; đời sống của nhân dân trên các đảo từng bước đi vào ổn định; tư tưởng của nhân dân định cư trên các đảo tiền tiêu của Tổ quốc hoàn toàn tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng.

    Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh. Việc quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở các khu vực ven biển, trên biển và các đảo phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của khu vực phòng thủ địa phương, phải mang tính hệ thống, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa biển, đảo với đất liền; kết hợp chặt chẽ giữa thế trận “tĩnh” của đảo và bờ với thế “động” của lực lượng tác chiến cơ động trên biển tạo nên thế trận liên hoàn, vững chắc. Trang bị kỹ thuật phục vụ cho mục đích kinh tế – xã hội phải phù hợp với hệ thống trang bị kỹ thuật quốc phòng – an ninh trong hệ thống các cụm lực lượng trên biển, thực hiện kiểm soát, giám sát, báo động, chi viện, hỗ trợ nhau trong đấu tranh phòng chống các hoạt động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia. Các cơ sở hậu cần, kỹ thuật kinh tế – xã hội ven bờ, trên biển và trên các đảo phải sẵn sàng huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, ưu tiên xây dựng các đảo tiền tiêu xa bờ có công sự kiên cố, trang bị hoả lực mạnh, có khả năng tác chiến dài ngày. Quá trình thiết kế, xây dựng hạ tầng cơ sở trên biển, đảo phải mang tính lưỡng dụng cao, không chỉ bền vững trước tác động của môi trường biển mà còn phải bền vững khi chuyển sang phục vụ mục đích quốc phòng – an ninh.

    Xây dựng lực lượng kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ việc khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân trên biển, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn trên biển; đồng thời kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn các hành động khai thác hải sản trái phép của nước ngoài trên vùng biển của Việt Nam. Các địa phương ven biển, huyện đảo phải có lực lượng dân quân tự vệ vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia.

    Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Phát huy lợi thế, khai thác tiềm năng thế mạnh kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả đó, hơn lúc nào hết phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nói chung, xây dựng một nước Việt Nam ” dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nước ta thực sự trở thanh quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.

    Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị – Hành chính, H.2011, tr.125.

    Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Thời Gian Tới
  • Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Tối Ưu Dành Cho Người Bận Rộn: Đừng Nghĩ Đầu Tắt Mặt Tối Sẽ Giúp Bạn Làm Việc Hiệu Quả Và Sáng Tạo Hơn
  • 20 Cách Giúp Bạn Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả (Phần 1)
  • Bộ Kỹ Năng Và Phương Pháp Quản Lý Thời Gian Không Thể Thiếu Trong Doanh Nghiệp
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Vệ Chủ Quyền Các Vùng Biển, Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Tuyên Truyền Đối Ngoại Về Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Quân Chủng Hải Quân
  • Kiến Nghị Bộ Chính Trị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo
  • Kiến Nghị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Thế Giới Biến Động
  • Cán bộ, chiến sĩ tàu tuần tra cao tốc Hải đội Biên phòng 2 quán triệt mệnh lệnh trước khi lên đường làm nhiệm vụ. Ảnh: Biên Cương

    Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Lãnh thổ Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm, diện tích đất liền khoảng 332.698km2, với 4.550km đường biên giới, có bờ biển dài 3.260km, có chủ quyền vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng 1 triệu km2, có trên 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nơi sinh sống của trên 90 triệu dân thuộc 54 dân tộc anh em đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

    Trong mọi giai đoạn lịch sử, việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhất là bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc là một nội dung đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

    Đảng ta khẳng định: Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ngày nay là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, của các lĩnh vực… kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân”.

    Quán triệt quan điểm của Đảng vào đặc điểm tình hình trên biển nước ta trong những năm qua và dự kiến sự phát triển tình hình trong những năm tới, phương thức bảo vệ biển, đảo cần có sự kết hợp sức mạnh của mọi ngành, mọi lực lượng, vận dụng linh hoạt các hình thức, với tinh thần tự lực là chính; duy trì, giữ vững an ninh trật tự, an toàn – xã hội trên biển và vùng ven biển; sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi, đánh thắng các hành động xâm lấn của kẻ thù để bảo vệ biển, đảo.

    Bối cảnh hiện nay và trong những năm tới, tình hình trên Biển Đông vẫn là điểm nóng thu hút dư luận của cộng đồng quốc tế và còn diễn biến hết sức phức tạp. Cần nêu cao tinh thần cảnh giác, không mơ hồ, chủ quan khi phân tích, đánh giá tình hình trên biển, dự báo đúng âm mưu, ý đồ, khả năng, thủ đoạn của các đối tượng để có biện pháp đối phó kịp thời, phù hợp. Trong mọi trường hợp đều phải tính đến những tác động có thể có đối với mục tiêu hòa bình, ổn định để xử lý, nhằm triệt tiêu những nhân tố đối phương có thể lợi dụng để gây mất ổn định, dẫn tới xung đột vũ trang trên biển, đẩy đất nước vào tình thế khó khăn. Kiên quyết đấu tranh đẩy lùi những nguy cơ xung đột; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, có phương án xử lý với các tình huống phức tạp có thể xảy ra.

    Quản lý, bảo vệ biển, đảo là sự nghiệp của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Phát huy sức mạnh của mọi lực lượng dân sự và quân sự, trong đó có xác định lực lượng nòng cốt. Vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, đồng thời phải dựa vào sức mình là chính để ngăn chặn, đẩy lùi xung đột vũ trang, giành thắng lợi trong mọi tình huống để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.

    Quốc Hùng (lược trích)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 3. Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Công Tác Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Làm Sao Để Quản Lý Được Thời Gian Của Bản Thân
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 3. Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Các Vùng Biển, Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Tuyên Truyền Đối Ngoại Về Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Quân Chủng Hải Quân
  • Cán bộ, chiến sĩ Trạm kiểm soát biên phòng Bình Thắng tuyên truyền cho ngư dân về Chỉ thị số 01 của thủ tướng Chính phủ. Ảnh: Biên Cương

    Vệt Nam có bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của Việt Nam xấp xỉ 0,01 (cứ 100km 2 đất liền thì có 1km bờ biển), trung bình của thế giới là 600km 2 đất liền thì có 1km bờ biển. Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km. Trong đó, có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và 2.577 đảo lớn nhỏ, gần bờ và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển.

    Trong 63 tỉnh, thành của cả nước thì 28 tỉnh, thành có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển, trong đó có Bến Tre. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển, đảo luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Đường biển nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông tạo điều kiện cho giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển. Khí hậu biển là vùng nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển, tồn tại tốt; có tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm.

    Từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, Biển Đông trở thành cửa mở lớn để giao lưu giữa nước ta với thế giới. Đi đôi với đó thì việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biển, đảo có ý nghĩa vô cùng quan trọng về chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Chỉ có xây dựng quản lý, bảo vệ biển, đảo mới tạo điều kiện, cơ sở cho giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa hoạt động xâm nhập, phá hoại từ bên ngoài, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

    Quản lý, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài. Diện tích biển của Việt Nam chiếm khoảng 29% Biển Đông. Việt Nam còn có chủ quyền với hàng ngàn hòn đảo và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài nguyên vùng biển và ven biển nước ta rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên dải đất liền, ven biển đến các vùng nước ven bờ, các hải đảo và các vùng biển. Cả nước có 63 tỉnh, thành phố thì có 28 tỉnh, thành ven biển, trong đó có 11 huyện đảo. Trên 50% số dân của nước ta sống ở các tỉnh ven biển. Đó vừa là những điều kiện khách quan thuận lợi để chúng ta phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn trong quản lý, bảo vệ biển, đảo và khai thác lợi thế kinh tế từ biển, đảo.

    Biển Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương, nằm ở phía Đông lục địa Việt Nam, tiếp giáp với nhiều nước và vùng lãnh thổ. Vì vậy, quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài; phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 22-9-1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhấn mạnh: “Vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước, là tiềm năng và thế mạnh quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Làm Sao Để Quản Lý Được Thời Gian Của Bản Thân
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Làm Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Bàn Về Xây Dựng Chiến Lược Quản Lý, Bảo Vệ Chủ Quyền Biên Giới Quốc Gia Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Để Hạn Chế Sự Nóng Lên Toàn Cầu
  • Những Giải Pháp Làm Mát Trái Đất
  • Hạn Chế Sự Nóng Lên Toàn Cầu: Đừng Kỳ Vọng Vào Công Nghệ, Hãy Tập Trung Quản Lý Đất Và Bảo Tồn Rừng
  • 3 Giải Pháp Giúp Giảm Thiểu Việc Chặt Phá Rừng
  • Thêm Giải Pháp Chống Xâm Nhập Mặn
  • Thứ năm, 14 Tháng 11 2013 14:37

    (LLCT) – Biên giới quốc gia trên đất liền, trên không, trên biển, đảo thuộc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Biên giới có vị trí địa chiến l­ược quan trọng, là “tuyến đầu”, “cửa ngõ”, là “phên dậu” của mỗi quốc gia. Chủ quyền, an ninh biên giới là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của đất nước và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Bởi vậy, xây dựng Chiến lược quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước và tạo động lực để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và cùng phát triển với các nước trong khu vực và thế giới.

    Một quốc gia có biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và phát triển có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự vững mạnh của chế độ, của dân tộc. Lịch sử hàng nghìn năm tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, dựng nư­ớc phải đi đôi với giữ nư­ớc. Do đó, trong tâm thức của mỗi ngư­ời Việt Nam, biên giới, vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc, là chủ quyền lãnh thổ phải đư­ợc bảo vệ vững chắc. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các lực l­ượng vũ trang nhân dân, trong đó Bộ đội Biên phòng (BĐBP) giữ vai trò quan trọng, nòng cốt trong quản lývà bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc.

    Đất nước ta đang tiến vào thời kỳ phát triển mới, bối cảnh thế giới và khu vực đang có những thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường, thời cơ và thuận lợi đang mở ra, đồng thời cũng còn không ít khó khăn. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao… còn tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh,… sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp. Cạnh tranh kinh tế, thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao,… giữa các nước ngày càng gay gắt”(1).

    Cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc vẫn diễn biến phức tạp. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, là khu vực phát triển năng động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố mất ổn định; đặc biệt vấn đề biên giới, vùng trời và trên biển đảo tiếp tục xảy ra những tranh chấp, một số nước đẩy mạnh các hoạt động quân sự với quy mô, cường độ ngày càng tăng, phô trương sức mạnh, công khai yêu sách về chủ quyền biên giới, biển đảo, làm ảnh hưởng đến môi trường hoà bình, đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia. Trước tình hình đó, nhiệm vụ quản lý‎và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, vùng trời, vùng biển, đảo của nước ta đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải ra sức phấn đấu, phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử của ông cha ta trước đây về quản l‎ý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, và trên cơ sở thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, những định hướng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là: “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”(2). Đảng ta nêu ra định hướng về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là rất cơ bản và toàn diện, bao gồm cả việc xác định phạm vi, đối tượng bảo vệ và xác định mức độ, tính chất bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân (QPTD), gắn với thế trận an ninh nhân dân (ANND) và thế trận biên phòng toàn dân trên các địa bàn chiến lược biên giới, biển đảo, góp phần quan trọng vào quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới của Tổ quốc.

    Quá trình xây dựng và BVTQ qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc đã chứng minh rất rõ vai trò của quần chúng nhân dân là cực kỳ quan trọng. Sức mạnh của dân tộc ta ở mọi thời đại đều từ sức mạnh của toàn dân. Khi dân chúng một lòng, đồng tâm, hiệp lực; khi lòng dân đã quyết, chí dân đã bền thì không khó khăn, trở ngại nào ngăn cản đ­ược. Thực tế là ở đâu có nền QPTD vững chắc, nhân dân đoàn kết, yên tâm, phấn khởi, tin t­ưởng ở lãnh đạo thì mọi việc ở đó đều thực hiện thành công. Ngược lại, nơi nào để cho dân bất bình, mất lòng tin ở lãnh đạo thì nơi ấy tình hình không ổn định, luôn có diễn biến phức tạp. Những nơi cơ sở chính trị yếu kém, vai trò lãnh đạo bị buông lỏng, không nắm được quần chúng, lòng dân không yên, mất niềm tin thì ở đó các thế lực thù địch sẽ lợi dụng lôi kéo, kích động, chia rẽ nhân dân, gây nên nhiều vụ việc phức tạp, làm mất ổn định chính trị. Chính vì vậy, việc tạo dựng cho đ­ược “thế trận lòng dân” vững chắc trong thế trận QPTD và thế trận ANND là một nội dung cực kỳ quan trọng, là nhân tố quyết định của sức mạnh quốc phòng và thế trận QPTD vững chắc để quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc.

    Nh­ư vậy, vấn đề cơ bản xây dựng chiến lược quản bảo vệ biên giới quốc gia trong thời kỳ mới, trước hết cần tăng c­ường xây dựng sức mạnh quốc phòng trên cơ sở nền QPTD, gắn với thế trận QPTD và thế trận ANND vững chắc.

    Hai là, kết hợp phát triển kinh tếxã hội với tăng cườngQP-AN để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trên các địa bàn biên giới trọng điểm.

    Kết hợp phát triển kinh tế – xã hộivới tăng cường QP-AN, xây dựng thế trận QP-AN để bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo là một nhiệm vụ lớn mang tính lâu dài đòi hỏi có sự kết hợp đan xen nhiều yếu tố: xây dựng lực lượng, xây dựng khu vực phòng thủ, kết hợpkinh tế với quốc phòng, tổ chức hiệp đồng tác chiến giữa các lực lượng hoạt động trên khu vực biên giới, biển, đảo; phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành theo kế hoạch thống nhất, nắm chắc tình hình, chủ động xử lý có hiệu quả các tình huống không để bị động, bị bất ngờ…Do đó, mọi hoạt động kinh tế đều phải gắn liền với nhiệm vụ xây dựng thế trận và lực lượng QP-AN để quản lý bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

    Phải tổ chức, bố trí các lực lượng kinh tế với tiềm lực, lực lượng QP-AN, gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội với củng cố QP-AN trên từng địa bàn, hướng chiến lược trong một chỉnh thể thống nhất. Những nội dung trên phải được tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo trong thời bình, trọng tâm là: Quy hoạch xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận ANND và thế trận biên phòng toàn dân trên từng vùng phải nằm trong thế trận phòng thủ chung của cả nước; xây dựng chiến lược quản lý bảo vệ biên giới quốc gia phải gắn với thế trận QP-AN của các khu vực phòng thủ địa phương; kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật gắn với xây dựng công trình quốc phòng, căn cứ hậu cần – kỹ thuật đáp ứng yêu cầu tác chiến trong mọi tình huống; quy hoạch các khu công nghiệp, khu kinh tế quốc phòng, các dự án kinh tế, bố trí điều chỉnh dân cư… phải gắn với yêu cầu quản lý bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia và gắn với yêu cầu tự bảo vệ; xây dựng các kế hoạch phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang, lực lượng vũ trang với các bộ, ngành trong xây dựng, phát triển kinh tế và trong xử lý các tình huống QP-AN trên các địa bàn chiến lược.

    Ba là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, toàn diện, có trọng điểm, gắn chặt với thế trận ANND và nền biên phòng toàn dân.

    Đây là vấn đề chiến lược, bởi xây dựng thế trận QPTD là thế trận toàn dân giữ nước, khi xây dựng cần nắm vững yêu cầu: phải dựa vào dân; xây dựng thế trận QPTD, nền biên phòng toàn dân gắn với thế trận QPTD và thế trận ANND; thế bố trí của các ngành kinh tế, xã hội, ngoại giao và với chiến l­ược phát triển kinh tế… nhằm tạo thành “thế trận tổng hợp, đa năng, nhiều tầng, nhiều tuyến”.Thế trận QPTD gắn với thế trận ANND và biên phòng toàn dân nhằm mục tiêu đối phó thắng lợi với mọi tình huống, như­ng tr­ước hết là chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, ly khai, xung đột vũ trang trên tuyến biên giới, biển, đảo. Xây dựng thế trận QPTD, toàn diện, trên cả nước, từ xa, liên hoàn, vững chắc, linh hoạt và phải tập trung vào trọng điểm các khu vực biên giới, vùng biển, hải đảo biên cư­ơng của Tổ quốc, có khả năng chuyển hoá nhanh chóng,tạo được sự răn đe đối với thù trong và giặc ngoài.

    Xây dựng thế trận QPTD và thế trận ANND toàn diện vững chắc, thực chất là quy hoạch và bố trí tiềm lực, lực l­ượng hoạt động của quân đội gắn với lực lư­ợng ANND theo ý định chiến l­ược. Bởi vậy, cần tập trung đẩy nhanh quy hoạch bố trí nâng chất lư­ợng tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) trọng điểm; hoàn thiện việc phân vùng khu vực biên phòng chiến l­ược; xác định và tổ chức xây dựng các đơn vị công an, đồn biên phòng trong điều kiện mới; hoàn chỉnh thế bố trí lực l­ượng chuyên trách thời bình, thời chiến; hoàn thành cơ bản bố trí các khu kinh tế -quốc phòng trên đất liền và trên biển đảo kết hợp quốc phòng với kinh tế. Chăm lo cải thiện nâng cao đời sống nhân dân, quy hoạch bố trí lại các vùng dân c­ư trên một số tuyến biên giới, biển đảo trọng điểm, kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với xây dựng thế trận QPTD trên các địa bàn chiến lược.

    Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, các văn bản pháp luật về biên giới quốc gia đã trở thành nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, nó được thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được nhiều văn bản, pháp lệnh, nghị định và thu thập được những chứng cứ pháp lý có giá trị về chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc, đồng thời ta cũng đã xây dựng được lực lượng quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Nhà nước cũng đã tranh thủ mọi thời cơ thuận lợi tăng cường đàm phán ký‎ kết, tham gia các điều ước quốc tế về biên giới, biển đảo của Tổ quốc. Tuy đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả quan trọng, song nhìn chung hệ thống pháp luật về quản lý bảo vệ biên giới quốc gia còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, chưa toàn diện, còn nhiều văn bản pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn, nhất là các văn bản pháp luật về biển, đảo và quản lý biên giới, biển đảo. Do vậy, để bảo đảm xây dựng “Chiến lược quản lý bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia”, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về biên giới quốc gia cần tập trung nghiên cứu, sớm bổ sung hoàn thiện kịp thời đầy đủ.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2012

    Thiếu tướng Phạm Huy Tập

    Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Vững Chắc Chủ Quyền Biên Giới, Lãnh Thổ
  • Mấy Biện Pháp Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế Bảo Vệ Chủ Quyền An Ninh Biên Giới Quốc Gia Trong Tình Hình Mới
  • Thực Hiện Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Chiến Lược Quốc Phòng, Chiến Lược Quân Sự Trong Tình Hình Mới
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Quản Lý, Bảo Vệ Chủ Quyền, An Ninh Biên Giới, Biển Đảo Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Giải Pháp Quy Hoạch Và Phát Triển Đô Thị Bền Vững Trong Tạo Lập Công Trình Xanh
  • Giải Pháp Quy Hoạch Đô Thị Nhìn Từ Các Quốc Gia
  • Bốn Nhóm Giải Pháp Quy Hoạch Và Tài Chính Để Cải Tạo Và Phát Triển Đô Thị Tp. Hcm
  • Giải Pháp Nào Cho Công Tác Quản Lý Quy Hoạch Đô Thị?
  • Bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới, vùng biển đảo, vùng trời của Tổ quốc là một nội dung đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm”; “Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”.

    Xây dựng thế trận biên phòng toàn dân là nghệ thuật tổ chức, bố trí, sử dụng lực lượng và là một bộ phận trong nghệ thuật quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, trong đó, lực lượng BĐBP là nòng cốt, chuyên trách để tiến hành các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận biên phòng toàn dân là nhiệm vụ của Đảng, của Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện có biên giới trong việc xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương.

    Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, BĐBP cần phải nắm vững những quan điểm cơ bản của Đảng, những yếu tố tác động và thực trạng nền biên phòng hiện nay để xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Đặc biệt, phải nắm vững thành phần, mối quan hệ, yêu cầu, nội dung của thế trận biên phòng trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, vùng biển, đảo của Tổ quốc. Bài viết xin đề cập một số nội dung cơ bản trong xây dựng thế trận biên phòng toàn dân trong tình hình mới.

    Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ sở chính trị – nền tảng của thế trận biên phòng toàn dân. Xây dựng nền tảng chính trị ở khu vực biên giới ngày càng vững mạnh có vị trí rất quan trọng trong xây dựng thế trận biên phòng toàn dân, vì đây là “cái gốc”, cái nền tảng của hệ thống cơ sở chính trị ở khu vực biên giới, bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, công an, dân quân, mặt trận, các tổ chức quần chúng ở địa phương. Đây là những nhân tố cơ bản, là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của nhân dân các dân tộc, là nơi tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương nói chung và là nhiệm vụ bảo vệ khu vực biên giới nói riêng.

    Trong xây dựng thế trận biên phòng toàn dân thì điều quan trọng nhất là xây dựng “thế trận lòng dân”, đồng thời phải hết sức chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, trước hết là chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị – tư tưởng. Việc hoạch định chính sách đối với lực lượng vũ trang phải tạo được sức mạnh, động lực tinh thần, vật chất, chính sách hậu phương quân đội, hậu phương quốc phòng, an ninh, hoạch định chính sách thời bình phải nghĩ đến thời chiến.

    Trong quá trình quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ kinh tế với quốc phòng, an ninh và tạo cơ sở vật chất vững chắc cho thế trận biên phòng toàn dân. Đồng thời, tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng nhằm phát huy thế mạnh của từng vùng, từng dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cộng đồng các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. BĐBP phải chủ động, tích cực làm tham mưu cho chính quyền địa phương và giúp nhân dân xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí. Đây là vấn đề rất quan trọng trong xây dựng thế trận biên phòng toàn dân để quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

    Thứ hai, tổ chức bố trí các cụm dân cư đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh ở địa phương và tổ chức huy động nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ biên giới. Trước tình hình hiện nay, cần phải tổ chức lại các cụm dân cư, thực hiện định canh, định cư trên toàn tuyến biên giới, xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh tạo thế và lực mạnh cho thế trận biên phòng toàn dân. Đồng thời tổ chức đưa dân ra biên giới, trong quy hoạch các cụm dân cư phải gắn với xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện, đảm bảo giữ vững ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội, văn hóa lành mạnh, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị.

    Đưa dân ra biên giới phải nhằm mục đích phát triển sản xuất, khai thác tiềm năng kinh tế, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc, ổn định cuộc sống tinh thần, vật chất của nhân dân. Trong chỉ đạo thực hiện cần căn cứ vào các điều kiện cụ thể của từng địa phương khi đưa dân ra biên giới. Tổ chức đưa dân ra biên giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là vấn đề chiến lược hết sức quan trọng và cấp bách, có tác dụng trên nhiều mặt đối với việc xây dựng thế trận biên phòng toàn dân.

    Do đó, cần tập trung làm tốt những nội dung chủ yếu sau: Tổ chức đưa dân ra biên giới gắn chặt với đầu tư ổn định dân cư tại chỗ, đảm bảo dân sở tại có vững thì dân mới đến có chỗ dựa yên tâm sản xuất. Việc đầu tư ổn định dân cư tại chỗ, trước mắt phải củng cố hệ thống chính trị cơ sở, nhất là các tổ chức Đảng, chính quyền ở các xã bản biên giới; xây dựng củng cố lực lượng dân quân tự vệ, công an vững mạnh làm nòng cốt giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương.

    Cơ sở chính trị ở các xã biên giới vững mạnh sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất hết sức to lớn đối với thế trận biên phòng toàn dân, là điều kiện cơ bản để nhân dân ổn định sản xuất, xây dựng cuộc sống mới; đi đôi với việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở phải đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, trong đó, phải xóa được đói ăn, đói chữ, đói thuốc, đói thông tin… giảm được nghèo, giải quyết được những khó khăn, nhất là khó khăn về cơ sở hạ tầng như: Giao thông, thủy lợi, thủy điện, trường học, trạm xá, bưu điện, chợ, thông tin liên lạc… tạo thuận lợi cho khu vực biên giới phát triển sản xuất là cơ sở hết sức quan trọng của thế trận biên phòng toàn dân.

    Thứ ba, tổ chức bố trí lực lượng quân sự, quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trong mọi tình huống. Tổ chức, bố trí sử dụng lực lượng quân sự, quốc phòng – lực lượng chức năng ở biên giới là yêu cầu rất quan trọng của thế trận biên phòng toàn dân. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ở biên giới (quân sự, công an, BĐBP, dân quân tự vệ…) vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, thành thạo về kỹ thuật, chiến thuật đủ sức thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, tấn công tội phạm, bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Lực lượng vũ trang, vũ khí, phương tiện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ biên phòng và tác chiến phòng thủ.

    Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, bố trí sử dụng hợp lý, đạt hiệu quả cần quan tâm xây dựng các lực lượng chức năng quản lý Nhà nước theo chuyên ngành (BĐBP, Hải quan, Kiểm dịch…) đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bố trí sử dụng các lực lượng trong thế trận biên phòng toàn dân phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng phát huy tốt sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ biên giới, tác chiến phòng thủ huyện biên giới tạo thành thế trận biên phòng toàn dân liên hoàn, vững chắc vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ biên phòng trong thời bình và tác chiến phòng thủ khi có chiến tranh.

    Thứ tư, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng thế trận biên phòng toàn dân. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó, quân đội và công an là lực lượng nòng cốt.

    Thế trận biên phòng toàn dân là một bộ phận cấu thành nền biên phòng toàn dân, có đặc điểm nổi bật là tổ chức bố trí lực lượng toàn diện, tổng hợp các tiềm lực của đất nước ở khu vực biên giới, vùng biển theo ý định chiến lược quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, lấy chiến lược quốc phòng, an ninh làm nòng cốt. Vì vậy, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy điều hành tập trung thống nhất trong phạm vi toàn quốc, trên từng tuyến biên giới, vùng biển, hải đảo ở từng địa phương là nguyên tắc đảm bảo cho thế trận biên phòng toàn dân thực hiện đúng nhiệm vụ, đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

    Đại tá, PGS, TS KHQS Trần Nam Chuân Viện Chiến lược Quốc phòng, Bộ Quốc phòng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Tình Hình Mới
  • Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Thời Gian Tới
  • Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Tối Ưu Dành Cho Người Bận Rộn: Đừng Nghĩ Đầu Tắt Mặt Tối Sẽ Giúp Bạn Làm Việc Hiệu Quả Và Sáng Tạo Hơn
  • 20 Cách Giúp Bạn Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả (Phần 1)
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyên Truyền Đối Ngoại Về Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Quân Chủng Hải Quân
  • Kiến Nghị Bộ Chính Trị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo
  • Kiến Nghị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Thế Giới Biến Động
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Bối Cảnh Mới
  • Giải Pháp Nào Cho Quy Hoạch Đô Thị Bình Dương
  • Thực hiện Chương trình phối hợp hoạt động tuyên truyền về biển, đảo thường xuyên và thường niên, thiết thực chào mừng Kỷ niệm 73 năm ngày truyền thống Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật (5-12-1945 – 5-12-2018), ngày 22-11-2018, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân tổ chức buổi Hội nghị Thông tin thời sự biển, đảo.

    Tham dự Hội nghị, về phía Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân có các đồng chí: Thượng tá Nguyễn Văn Minh, Thiếu tá Phạm Đức Cần, Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Quân chủng Hải quân.

    Về phía Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật có các đồng chí: Đỗ Quang Dũng, Phó Giám đốc, Phó Tổng Biên tập, Bí thư Đảng ủy; Vũ Trọng Lâm, Phó Giám đốc, Phó Tổng Biên tập, Phó Bí thư Đảng ủy; Trần Quốc Dân, Phó Giám đốc Nhà xuất bản; các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Chấp hành Công đoàn, Ban Chấp hành Hội cựu chiến binh, Ban Chấp hành Đoàn thanh niên, lãnh đạo các đơn vị trực thuộc và đông đảo biên tập viên Nhà xuất bản.

    Đồng chí Đỗ Quang Dũng, Phó Giám đốc, Phó Tổng Biên tập Nhà xuất bản phát biểu khai mạc Hội nghị.

    Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Đỗ Quang Dũng, Phó Giám đốc, Phó Tổng Biên tập Nhà xuất bản khẳng định: “Buổi thông tin thời sự biển, đảo là một hoạt động mang ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc, thiết thực, có sức lan tỏa, thể hiện tinh thần trách nhiệm của hai cơ quan là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân với Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong công tác thông tin, tuyên truyền về biển, đảo nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nói chung, cũng như giúp cho cán bộ, viên chức và người lao động của Nhà xuất bản nói riêng nắm bắt, hiểu rõ hiểu hơn tình hình biển, đảo của Việt Nam; diễn biến tình hình, xu hướng và chiến lược của các bên trên biển Đông; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về biển, đảo trong tình hình mới và Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XII”.

    Thiếu tá Phạm Đức Cần, Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Quân chủng Hải quân báo cáo tại Hội nghị.

    Thông qua buổi Hội nghị, Báo cáo viên của Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã mang đến những thông tin thiết thực, giá trị xoay quanh chuyên đề Quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó có 3 nhóm vấn đề lớn được tập trung đàm luận, thông tin là những động thái mới trên biển Đông trong thời gian gần đây; quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc; kết quả bảo vệ chủ quyền biển đảo của Quân chủng Hải quân năm 2022 và mục tiêu xây dựng lực lượng hải quân hiện đại, tiến bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.

    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chụp ảnh lưu niệm tại Hội nghị.

    Nội dung Hội nghị thiết thực, bổ ích, giúp cho mỗi cán bộ, viên chức, người lao động của Nhà xuất bản nắm bắt, hiểu rõ hiểu hơn tình hình biển, đảo của Việt Nam và đường lối của Đảng và Nhà nước ta về biển, đảo trong tình hình mới. Từ đó tiếp thêm niềm tin, lòng tự hào dân tộc, thúc đẩy ứng dụng hiệu quả thông tin thời sự biển đảo trong quá trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời xây dựng Nhà xuất bản ngày càng vững mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Vệ Chủ Quyền Các Vùng Biển, Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Bài 3. Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Công Tác Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Các Vùng Biển, Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Tuyên Truyền Đối Ngoại Về Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Quân Chủng Hải Quân
  • Kiến Nghị Bộ Chính Trị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo
  • Kiến Nghị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Thế Giới Biến Động
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Bối Cảnh Mới
  • Nắm chắc tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo. (Nguồn: Báo Giáo dục Việt Nam)

    Bảo vệ chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ này, chúng ta phải quán triệt, thấu suốt quan điểm của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định và giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.

    Trong thời đại ngày nay, sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép con người mở rộng khả năng khai thác tài nguyên biển vượt qua các giới hạn về độ sâu và tiến tới khả năng sống ở môi trường biển. Trước sức ép ngày càng tăng về dân số và cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền, tiến ra biển và bảo vệ chủ quyền, tài nguyên biển trở thành một chiến lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia ven biển, có những lợi thế về vị trí địa lý tự nhiên và tiềm năng kinh tế, nên tiến ra biển, khai thác và bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền các vùng biển, đảo là một nhiệm vụ chiến lược.

    Lịch sử dân tộc ta còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí con người Việt Nam như lời thề non nước; trong đó, có lời căn dặn của Bác Hồ khi về thăm Bộ đội Hải quân năm 1961: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Lịch sử dân tộc cũng chứng tỏ rằng, Việt Nam tuy là nước nhỏ (xét cả về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế và quân sự so với nhiều nước đã từng xâm lược nước ta), nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược: “Dĩ đoạn chế trường” (lấy ngắn chế dài) của Trần Quốc Tuấn; “Dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng” (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều), “Dĩ đại nghĩa nhi hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo” (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo) theo lời Nguyễn Trãi. Đặc biệt, để tạo nên sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến 30 năm (1945 – 1975) của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã biết khai thác và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại để đánh thắng kẻ thù.

    Ngày nay, bối cảnh thế giới, khu vực và tình hình trong nước đã đổi thay so với những thời kỳ trước, song truyền thống giữ nước cùng bài học chống ngoại xâm của ông cha vẫn giữ nguyên giá trị. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có các vùng biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.

    1. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về biển, đảo.

    2. Kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

    Trước tham vọng kiểm soát phần lớn Biển Đông của nước ngoài, chúng ta cần có những biện pháp thích đáng ở các cấp độ khác nhau: song phương, khu vực và toàn cầu. Một mặt, kiên trì theo đuổi các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS; mặt khác, coi trọng sử dụng hiệu quả cơ chế toàn cầu và khu vực, thông qua các diễn đàn của Liên hợp quốc và ASEAN để các tổ chức này có tiếng nói, thể hiện rõ quan điểm đối với hành vi vi phạm chủ quyền của một quốc gia thành viên.

    3. Tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh.

    Trong bối cảnh bất ổn trên các vùng biển của Tổ quốc hiện nay, việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam,

    Bộ đội Biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao là một yêu cầu bức thiết. Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển – giữ vai trò nòng cốt và gánh vác trách nhiệm nặng nề trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là các lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo ở khơi xa. Cần phấn đấu để trong tương lai gần, Hải quân ta có đủ các lực lượng: tàu mặt nước, tàu ngầm, Không quân Hải quân, Hải quân đánh bộ và pháo – tên lửa bờ biển…, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ nhân dân ta lao động sản xuất trên biển, sẵn sàng ngăn ngừa và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược từ hướng biển. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên các vùng biển của Tổ quốc cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và đáp ứng cho sự phát triển trong tương lai. Lực lượng Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư bảo đảm đủ trang bị kỹ thuật, phương tiện khí tài, phương tiện cơ động…, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ – cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên vùng biển được phân công. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển theo phương châm “rộng khắp”, ở đâu có tàu, thuyền hoạt động trên biển, có dân định cư ở ven biển và trên đảo, ở đó có dân quân tự vệ; lấy các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng địa phương, bảo đảm tạo thành 3 tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng xây dựng lực lượng hoạt động trên biển, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Kiểm ngư là lực lượng cần sớm được xây dựng, đi vào hoạt động trong thời gian tới, với các đội tàu được trang bị hiện đại từ cấp Trung ương đến các vùng, các chi cục thuộc 28 tỉnh (thành phố) ven biển. Đây là lực lượng kiểm soát dân sự của Việt Nam, có đầy đủ thẩm quyền để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu cá nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia ở các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

    PHẠM TRANG – QUANG CHUYÊN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Bài 3. Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia
  • Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Công Tác Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới
  • Làm Sao Để Quản Lý Được Thời Gian Của Bản Thân
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Đề Tài: Một Số Giải Pháp Thiết Kế Quy Hoạch Và Kiến Trúc Nhằm Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường Trong Một Số Khu Ở Đô Thị Và Nông Thôn Đồng Bằng Sông Hồng
  • Đẩy Mạnh Xúc Tiến, Quảng Bá Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
  • Giải Pháp Tăng Lượng Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Với Việt Nam
  • Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Sống Cho Sinh Viên
  • Tương Lai Của Rpa: Những Xu Hướng Đổi Mới Trong 2022
  • Trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông hiện nay, Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp chiến lược, nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia – dân tộc trên biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

    Thế giới và khu vực đang trải qua một thời kỳ nhiều biến động phức tạp, khó đoán định, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, dòng chảy chính và vì lợi ích chung của các nước. Xu thế đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét, trở thành xu thế chủ đạo, vai trò của các tổ chức khu vực trên các châu lục ngày càng gia tăng, tạo mối quan hệ đan xen vừa tăng cường hợp tác, vừa cạnh tranh chiến lược. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông ngày càng quyết liệt, phức tạp, chưa có dấu hiệu lắng xuống, cùng với sự can dự của một số nước lớn ngoài khu vực đã làm cho vùng biển này có lúc trở thành điểm nóng, khó đoán định.

    Đối với nước ta, những thắng lợi sau 35 năm đổi mới tiếp tục tạo đà cho kinh tế – xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sáng suốt, quyết liệt, hiệu quả của Đảng, Nhà nước, nhất là trong phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và chủ động, quyết liệt, linh hoạt ứng phó với đại dịch Covid-19 vừa qua càng khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng thêm niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tăng cường sử dụng các biện pháp tấn công mềm, tập trung làm chuyển biến về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kích động, chia rẽ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội; hạ thấp, phủ nhận vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    Những thuận lợi và thời cơ, khó khăn và thách thức trên đặt ra yêu cầu mới đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Do vậy, thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp; trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

    Một là, xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển vững mạnh, chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển từ sớm, từ xa. Tận dụng thời cơ, phát huy, khai thác lợi thế của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học – công nghệ; phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, huy động cao nhất các nguồn lực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng này, cần đẩy mạnh xây dựng lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh, mở rộng, phát triển lực lượng, sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ tác chiến.

    Đẩy nhanh lộ trình hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, làm cho các lực lượng này đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế, giữ vững nguyên tắc chiến lược, khôn khéo và linh hoạt về sách lược, nhận thức đúng về đối tác, đối tượng theo quan điểm của Đảng, làm sâu sắc hơn mối quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược, các nước láng giềng, các nước trong khối ASEAN và các nước lớn. Bên cạnh đó, duy trì nghiêm các lực lượng trực sẵn sàng chiến đấu, tăng cường tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, nắm tình hình trên các vùng biển, nhất là các khu vực biển nhạy cảm, kịp thời phát hiện, xử lý, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, chủ động điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch, phương án, biện pháp ứng phó phù hợp đối với các vấn đề có thể nảy sinh trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển.

    Hai là, không ngừng chăm lo, củng cố, xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng chính trị, tinh thần vững chắc, sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển với một số lực lượng hữu quan, cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân ven biển, trên đảo. Tăng cường lòng tin của ngư dân với các lực lượng: Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Dân quân tự vệ biển khi đồng hành, cứu hộ, cứu nạn ngư dân trên biển, v.v. Đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân, Bộ đội Biên phòng và nhân dân ven biển, đảo, góp phần nâng cao trình độ, năng lực công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Các lực lượng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia tiếp tục đồng hành cùng ngư dân hoạt động trên biển, bảo vệ ngư dân, ngư trường, tuyên truyền pháp luật cho nhân dân ven biển, đảo, thực hiện lấy dân làm gốc, phát huy tinh thần yêu nước, trách nhiệm, sự cống hiến, sức sáng tạo của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thực thi pháp luật trên biển.

    Ba là, đánh giá đúng tình hình trên các vùng biển, đảo, làm cơ sở cho việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước những diễn biến phức tạp hiện nay, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là các lực lượng hoạt động trên biển cần đánh giá đúng tình hình, thấy rõ thuận lợi, thời cơ và khó khăn, nguy cơ, thách thức, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước. Mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cố gắng gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu, tránh bị lệ thuộc, cô lập, tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tạo cơ sở, nền tảng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển ngày càng vững chắc. Chủ động, tích cực chuẩn bị tốt mọi mặt, chú trọng tạo môi trường trong ấm, ngoài êm, lấy giữ vững bên trong là chủ yếu, bảo đảm cho đất nước thích nghi nhanh, hòa bình, ổn định và phát triển – điều kiện tiên quyết đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch và những tác động từ bên ngoài.

    Để có cơ sở đánh giá đúng tình hình trên các vùng biển, đảo, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải luôn vững vàng, kiên định đường lối, quan điểm quốc phòng, an ninh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo và đường lối đổi mới của Đảng. Thực hiện nhất quán: kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích chính đáng của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng và sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Kiên quyết, kiên trì giữ vững hòa bình, ổn định, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, kỷ cương, bảo đảm an ninh kinh tế, xã hội, an ninh mạng, an ninh con người. Trên cơ sở đó, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, phát hiện sớm, xa và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố bên trong có thể gây đột biến. Tiếp tục thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, là thành viên và tham gia có trách nhiệm, góp phần tích cực vào bảo vệ hòa bình, ổn định, an ninh của khu vực và thế giới; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.

    Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là điều kiện bảo đảm cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thắng lợi. Do vậy, cần tập trung xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong các đơn vị trực tiếp tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, thật sự là hạt nhân lãnh đạo trong cơ quan, đơn vị; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Chú trọng kiện toàn cơ quan, đội ngũ cán bộ làm công tác thực thi pháp luật trên biển, bổ sung, hoàn thiện và phát huy vai trò của các biện pháp công tác Cảnh sát biển trong bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển theo quy định của Luật Cảnh sát biển Việt Nam. Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật chặt chẽ, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, nhất là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Luật Biển Việt Nam, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, v.v. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

    Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là bảo vệ Tổ quốc trên hướng biển, nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của toàn dân tộc, nên trong quá trình thực hiện cần nghiên cứu, bổ sung các giải pháp cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm mục tiêu cuối cùng là bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia – dân tộc trên biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

    Đại tá Đào Bá Việt,

     Phó Tham mưu trưởng Cảnh sát biển Việt Nam

    Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân

    Tâm Trang (st)

    --- Bài cũ hơn ---

  • “Bỏ Túi” Cách Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Trong Công Việc
  • Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp – Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Phát Triển Nông Nghiệp Việt Nam: Kiến Nghị Một Số Giải Pháp
  • Phát Triển Nông Nghiệp, Nông Thôn Bền Vững Ở Nước Ta
  • Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý, Rèn Luyện Kỷ Luật Trong Quân Đội
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • Skkn Rèn Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Chuyên Đề Gd Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs Bien Phap Quan Ly Giao Duc Ky Nang Song Cho Hoc Sinh Trung Hoc Co So Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Bán Trú Thông Qua Các Hoạt Động Ngoại Khóa Tại Trường Ptdtbt Thcs Bản Hon
  • I – MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

    Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; những nội dung chủ yếu về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước ta trong tình hình hiện nay.

    Hiểu đúng đủ nội dung của bài Nâng cao lòng tự hào yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân trong việc góp phần xây dựng, bảo vệ và giữ gìn toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Lãnh thổ Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm, với diện tích đất liền là 331.689 km 2, với 4.550 km đường biên giới, là nơi sinh sống của trên 84 triệu dân thuộc 54 dân tộc anh em đoàn kết trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị – xã hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nước ta.

    Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”.

    2.1: XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUỐC GIA.

    2.1.1: Chủ quyền lãnh thổ quốc gia:

    là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, dân cư và quyền lực công cộng. Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật quốc tế. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia. Theo luật pháp quốc tế hiện đại, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền.

    Quốc gia có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước. Hai khái niệm đó có thể được dùng thay thế cho nhau.

    Lãnh thổ quốc gia là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia. Lãnh thổ quốc gia Việt Nam bao gồm : vùng đất quốc gia, vùng biển quốc gia (nội thuỷ và lãnh hải), vùng trời quốc gia, ngoài ra còn gồm lãnh thổ quốc gia đặc biệt.

    Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo) là phần mặt đất và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia ; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ quốc gia, làm cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, nội thuỷ, lãnh hải. Vùng đất quốc gia có thể gồm những lục địa ở những điểm khác nhau (tách rời nhau), nhưng các vùng đất đó đều thuộc lãnh thổ thống nhất của quốc gia ; hoặc cũng có thể chỉ bao gồm các đảo, quần đảo ở ngoài biển hợp thành quốc gia quần đảo. Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa là đất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo, bao gồm từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau ; các đảo như Phú Quốc, Cái Lân… và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

    Việt Nam có ba mặt trông ra biển: Đông, Nam và Tây Nam, với bờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc. Riêng Vịnh Bắc Bộ đã tập trung một quần thể gần 3.000 hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long; các đảo Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ; xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phía Tây Nam và Nam có các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu.

    Nội thuỷ là vùng biển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải. Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thuỷ triều thấp nhất dọc theo bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định và công bố 1. Vùng nước thuộc nội thuỷ có chế độ pháp lí như lãnh thổ trên đất liền. Nội thuỷ của Việt Nam bao gồm: Các vùng nước phía trong đường cơ sở; vùng nước cảng được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các công trình thiết bị thường xuyên là bộ phận hữu cơ của hệ thống cảng.

    Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lí như lãnh thổ đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển. Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước ven biển. Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo. Nước ta có thềm lục địa rộng lớn, là vùng đất và lòng đất đáy biển kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ đất liền ra đến bờ ngoài của rìa lục địa, giới hạn 200 hải lí tính từ đường cơ sở lãnh hải. Việt Nam có chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với thềm lục địa; chủ quyền của nước ta đối với thềm lục địa là đương nhiên, không phụ thuộc vào việc có tuyên bố hay không.

    Lãnh thổ quốc gia đặc biệt là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế. Ví dụ như trụ sở làm việc và nơi ở của cơ quan đại diện ngoại giao.

    Vùng trời quốc gia là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia; là bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia đó. Việc làm chủ vùng trời quốc gia trên vùng lãnh thổ quốc gia đặc biệt được thực hiện theo quy định chung của công ước quốc tế.

    Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.

    Tất cả các nước, không tính đến quy mô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng chính trị và pháp lí thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác.

    Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng định quyền làm chủ của quốc gia đó trên vùng lãnh thổ của mình. Mỗi nước có toàn quyền định đoạt mọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ và can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia; mọi tư tưởng và hành động thể hiện chủ quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia của mình đều là hành động xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.

    2.1.2: Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia

    Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thực hiện tổng thể các giải pháp, biện pháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh nhằm thiết lập và bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của quốc gia. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là sử dụng tổng hợp các lực lượng và biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyền nhà nước đối với lãnh thổ quốc gia. Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nội dung của việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam gồm :

    – Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh của đất nước.

    – Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi lãnh thổ của mình.

    – Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam.

    – Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại mọi hành động chia cắt lãnh thổ Việt Nam; mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cả bên trong lẫn bên ngoài hòng phá hoại quyền lực tối cao của Việt Nam.

    Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn bó chặt chẽ và đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trực tiếp góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    2.2: XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

    Luật biên giới quốc gia của Việt Nam năm 2004 xác định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt phẳng thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    Biên giới quốc gia của Việt Nam được xác định bằng hệ thống các mốc quốc giới trên thực địa, được đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ và thể hiện bằng mặt phẳng thẳng đứng theo lãnh thổ Việt Nam. Biên giới quốc gia Việt Nam bao gồm biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không, trong lòng đất.

    Biên giới quốc gia trên biển là phân định lãnh thổ trên biển giữa các quốc gia có bờ biển liền kề hay đối diện nhau; là ranh giới phía ngoài của lãnh hải. Biên giới quốc gia trên biển của quốc gia quần đảo là đường BGQG phân định lãnh thổ quốc gia với biển cả. Đối với các đảo của một quốc gia nằm ngoài phạm vi lãnh hải của quốc gia, biên giới quốc gia trên biển là đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải bao quanh đảo.

    Biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam được hoạch định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam, được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.

    Biên giới quốc gia trên không là biên giới phân định vùng trời giữa các quốc gia liền kề hoặc các vùng trời quốc tế, được xác định bởi mặt phẳng thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên trên vùng trời. Trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển, việc xác lập biên giới quốc gia trên không có ý nghĩa ngày càng quan trọng trong việc thực hiện chủ quyền đối với vùng trời quốc gia. Đến nay chưa có quốc gia nào quy định độ cao cụ thể của biên giới quốc gia trên không.

    Biên giới quốc gia trong lòng đất là phân định lãnh thổ quốc gia trong lòng đất phía dưới vùng đất quốc gia, nội thuỷ và lãnh hải, được xác định bởi mặt phẳng thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất. Độ sâu cụ thể của biên giới trong lòng đất được xác định bằng độ sâu mà kĩ thuật khoan có thể thực hiện. Đến nay, chưa có quốc gia nào quy định độ sâu cụ thể của biên giới trong lòng đất.

    Khu vực biên giớilà vùng lãnh thổ tiếp giáp biên giới quốc gia có quy chế, quy định đặc biệt do Chính phủ ban hành nhằm bảo vệ an toàn biên giới. Khu vực biên giới Việt Nam bao gồm: khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia Việt Nam trên đất liền; khu vực biên giới quốc gia Việt Nam trên biển được tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo; khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng mười kilômét tính từ biên giới Việt Nam trở vào.

    2.2.2: Nội dung xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia

    Xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia là thực hiện tổng thể các biện pháp để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường, lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới; giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Do vị trí địa lí và chính trị, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia luôn là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển đất nước. Xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia là một nội dung của xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, là một biện pháp hiệu quả chống lại sự xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

    Trong hoà bình, bảo vệ biên giới quốc gia là tổng thể các biện pháp mà hệ thống chính trị, xã hội, các lực lượng vũ trang khu vực biên giới áp dụng nhằm tuần tra, giữ gìn nguyên vẹn, chống lại sự xâm phạm biên giới quốc gia. Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách và làm nòng cốt trong bảo vệ biên giới quốc gia. Khi có xung đột hoặc chiến tranh, các biện pháp bảo vệ biên giới quốc gia được thể hiện rõ qua các trạng thái sẵn sàng chiến đấu: thường xuyên, tăng cường và cao.

    Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2004 xác định: “Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí. Nhà nước và nhân dân thực hiện kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”. Xây dựng, bảo vệ bao gồm các nội dung sau:

    – Ưu tiên đầu tư xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; có chính sách ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân khu vực biên giới định cư ổn định, phát triển và sinh sống lâu dài ở khu vực biên giới; điều chỉnh dân cư theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh khu vực biên giới.

    – Tăng cường, mở rộng quan hệ đối ngoại các cấp trên khu vực biên giới; phát triển kinh tế đối ngoại, tăng cường hợp tác nhiều mặt nhằm xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.

    – Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Sử dụng tổng hợp các lực lượng và biện pháp của Nhà nước chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia.

    – Bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường. Sử dụng tổng hợp các biện pháp đấu tranh ngăn chặn mọi hành động xâm phạm tài nguyên, đặc biệt là xâm phạm tài nguyên trong lòng đất, trên biển, trên không, thềm lục địa của Việt Nam. Ngăn chặn, đấu tranh với mọi hành động phá hoại, huỷ hoại, gây ô nhiễm môi sinh, môi trường khu vực biên giới, bảo đảm cho người Việt Nam, nhân dân khu vực biên giới có môi trường sinh sống bền vững, ổn định và phát triển lâu dài.

    – Bảo vệ lợi ích quốc gia trên khu vực biên giới. Thực thi quyền lực chính trị tối cao (quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên khu vực biên giới ; chống lại mọi hành động xâm phạm về lợi ích kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước trên khu vực biên giới. Bảo đảm mọi lợi ích của người Việt Nam phải được thực hiện ở khu vực biên giới theo luật pháp Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế và các hiệp định mà Việt Nam kí kết với các nước hữu quan.

    – Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Đập tan mọi âm mưu và hành động gây mất ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới quốc gia. Đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành động chia rẽ đoàn kết dân tộc, phá hoại sự ổn định, phát triển khu vực biên giới.

    – Phối hợp với các nước, đấu tranh ngăn chặn mọi hành động phá hoại tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước láng giềng. Trấn áp mọi hành động khủng bố, tội phạm xuyên biên giới quốc gia.

    2.3: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, BIÊN GIỚI QUỐC GIA

    – Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được hình thành và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; là sự kế thừa và phát triển mới Tổ quốc, đất nước, dân tộc và con người Việt Nam suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước trong điều kiện mới.

    Lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan trọng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lãnh thổ và biên giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước Việt Nam. Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm.

    – Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.

    Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là nơi sinh ra và lưu giữ, phát triển con người và những giá trị của dân tộc Việt Nam. Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu mới xây dựng nên, mới giữ gìn, bảo vệ được lãnh thổ quốc gia toàn vẹn, thống nhất và tươi đẹp như ngày hôm nay. Nhờ đó mà con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có thể tồn tại, sinh sống, vươn lên và phát triển một cách độc lập, bình đẳng với các quốc gia, dân tộc khác trong cộng đồng quốc tế; những giá trị, truyền thống, bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam được khẳng định, lưu truyền và phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu.

    Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử. Từ thủa Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, đứng trước những kẻ thù to lớn và hung bạo, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức và quyết tâm bảo vệ. Dù phải trải qua hàng chục cuộc chiến tranh lớn nhỏ, phải chịu dưới ách đô hộ của các thế lực phong kiến, thực dân, đế quốc, người Việt Nam luôn phất cao hào khí anh hùng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong dựng nước và giữ nước, xây dựng và giữ gìn biên cương lãnh thổ quốc gia, xây dựng và BVTQ. Tư tưởng “Sông núi nước Nam vua Nam ở”, của ông cha ta được tiếp nối, khẳng định và nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

    Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó. Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước”.

    Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau.

    Về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về vấn đề này. Tuy nhiên, vì lợi ích an ninh chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán hoà bình để giải quyết, trước mắt là đạt tới sự thoả thuận về “Bộ quy tắc ứng xử” trong khi tiếp tục tìm kiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông.

    -.Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt.

    Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thống nhất quản lí việc xây dựng, quản lí, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; có chính sách ưu tiên đặc biệt xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về mọi mặt. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới …

    Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật.

    2.2.2: Trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam.

    Trách nhiệm của công dân Việt Nam đối với xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam được Nhà nước ban hành cụ thể trong Hiến pháp và luật. Điều 44, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) quy định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định”. Điều 1, Luật nghĩa vụ quân sự chỉ rõ: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”. Điều 10, Luật biên giới quốc gia cũng xác định: “Xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới là sự nghiệp của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí”.

    Thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, mọi công dân Việt Nam phải :

    – Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nơi cư trú đều có nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) nêu rõ: “Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật”. Đồng thời phải luôn nâng cao ý thức quốc phòng, an ninh, xây dựng ý thức, thái độ và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc; có những hành động thiết thực góp phần vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    – Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, trước hết thực hiện nghiêm và đầy đủ Luật Quốc phòng, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    – Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghiêm chỉnh các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. “Công dân phải trung thành với Tổ quốc, làm nghĩa vụ quân sự, được giáo dục về quốc phòng và huấn luyện về quân sự; tham gia dân quân tự vệ, phòng thủ dân sự ; chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp của Nhà nước và người có thẩm quyền khi đất nước có tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng”.

    2.2.3:Trách nhiệm của sinh viên trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

    – Sinh viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; từ đó xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

    – Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    – Thực hiện tốt những quy định về chương trình giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh đối với sinh viên trong Học viện; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời gian học tập tại Học viện.

    – Sẵn sàng tham gia các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi Nhà nước và người có thẩm quyền huy động, động viên. Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện, tự giác tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tích cực, tự giác, tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế – quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới, hải đảo vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghiêm chỉnh Luật biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Biên giới quốc gia là gì? Nội dung xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia là như thế nào ?

    3. Trình bày quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia ? Liên hệ trách nhiệm của công dân ?

    Nguyễn Tuấn Anh @ 06:36 21/08/2015

    Số lượt xem: 7173

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Hạn Chế Tai Nạn Giao Thông Dịp Tết Ất Mùi 2022
  • Hành Động Vì Một Thế Hệ Không Nạn Đói
  • (Thvl) Nạn Đói Ở Vùng Sừng Châu Phi: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Thói Quen Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 2
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×