Giải Pháp Xây Dựng Kho Chứa Hàng Thông Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Truyền Thông Thiên An Minh
  • Hướng Tới Bệnh Viện Thông Minh
  • Công Nghệ Bán Lẻ Trong Kỷ Nguyên Kỹ Thuật Số Mới Do Intel Cung Cấp
  • Giải Pháp Chiếu Sáng Thông Minh
  • Hệ Thống Chiếu Sáng Thông Minh Lumi Hoạt Động Như Thế Nào
  • Tự động hóa trong sản xuất, lắp ráp, kiểm tra, giải pháp tự động hóa đã dần trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, giúp cho nhiều công việc của chúng ta dễ dàng hơn với năng suất tăng theo cấp số nhân. Hệ thống kho thông minh có thể kể đến là đại diện cho một số ví dụ tốt nhất về các doanh nghiệp thức thời, luôn cập nhật và nắm bắt những công nghệ mới này. Trước khi bàn đến các giải pháp xây dựng kho chứa hàng thông minh, Eiindustrial muốn định nghĩa khái quát hơn như thế nào là một kho hàng thông minh.

    Kho Hàng Thông Là Gì?

    Hệ thống chuyển làn hàng hóa có hoạt động hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào loại hàng hóa lưu trữ và cách thức vận hành; nó được chia làm một số loại chính như sau: Chuyển làn 90 độ, chuyển làn 180 độ và chuyển làn 30 độ.

    Là một trong các hệ thống vận chuyển hàng hóa nhanh nhất hiện nay được lắp đặt trong kho. Nó còn có một số ưu điểm nổi trội như: Hiệu suất cao, Di chuyển liên tục. Có 2 dạng mô hình với các ứng dụng khác nhau.

    • Băng tại điện treo
    • Băng tải điện chạy sàn

    Hệ thống cần cẩu tự động được thiết kế phù hợp với hệ thống kho thông thường và hệ thống kho thông minh với chiều cao trần của kho hàng lên đến 15m hoặc cao hơn. Một ưu điểm lớn của hệ thống cần cầu là không cần phải sửa đổi cấu trúc kho hàng. Vì nó đủ linh hoạt để có thể bốc dỡ pallet ở nhiều vị trí khác nhau: phía trước, bên trái, bên phải.

    Hệ thống thang máy nâng hàng là một phần không thể thiếu trong hệ thống kho hàng thông minh. Nó vận chuyển hàng hóa lên các tầng cao hơn trong nhà kho. Một hệ thống thang nâng hàng tiêu chuẩn luôn bao gồm một hệ thống an toàn và cảnh báo an toàn đi kèm. Hệ thống thang nâng hàng phù hợp với các mô hình nhà kho cỡ vừa và nhỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kho Thông Minh Là Gì? Các Thành Phần Của Một Kho Thông Minh
  • Giải Pháp Khách Sạn Thông Minh: 7 Cách Để Làm Cho Khách Sạn Của Bạn Trở Nên Thông Minh Hơn
  • Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Hà Nội – Msc Smarthome
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Phần Mềm Vietsoft
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Phần Mềm Số 1
  • Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Huyện Tổ Chức Sinh Hoạt Chuyên Đề Giải Pháp Xây Dựng Chi Hội Chủ Động Trong Công Tác; Xây Dựng Gia Đình 5 Không

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Phụ Nữ Huyện Yên Sơn Thực Hiện Hiệu Quả Cuộc Vận Động “5 Không, 3 Sạch”
  • Đà Nẵng: Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Phải Thực Hiện “5 Xây”, “3 Chống”
  • ‘5 Xây, 3 Chống’ Làm Thay Đổi Phong Cách Làm Việc Của Công Chức, Viên Chức
  • Phát Huy Hiệu Quả Mô Hình, Điển “Dân Vận Khéo” Trên Địa Bàn Thị Xã Hoàng Mai
  • Đẩy Mạnh Phong Trào Thi Đua “Dân Vận Khéo”, Góp Phần Thực Hiện Tốt Nhiệm Vụ Chính Trị Của Địa Phương, Đơn Vị
  • Sáng ngày 10/6, tại nhà văn hóa – thể thao xã Long Hòa, Hội LHPN huyện tổ chức sinh hoạt chuyên đề về giải pháp xây dựng chi hội chủ động trong công tác; xây dựng gia đình 5 không – 3 sạch; đô thị văn minh gắn với thực hiện chỉ thị 19 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện cuộc vận động người dân thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì thành phố sạch và giảm ngập nước.

    Toàn huyện có 33 chi hội phụ nữ, với 489 tổ hội, tổng số hội viên hiện nay là 17.930 hội viên. Qua 2 năm triển khai thực hiện mô hình đã tạo được lực lượng nòng cốt luôn đi đầu tham gia tích cực các phong trào của Hội; đồng thời góp phần trong việc thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và thực hiện chỉ thị 19 của Ban Thường vụ Thành ủy và phong trào chống rác thải nhựa, hạn chế sử dụng túi ni lông có phân hủy bằng nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực như vận động người dân không xả rác, hạn chế sử dụng túi ni lông, phân loại rác tại nguồn; không sử dụng sản phẩm nhựa dùng chỉ một lần mà thay vào là những sản phẩm thân thiện với môi trường; tổ chức thành lập mô hình nguyên góp xanh tại các chi hội, có trên 70 chị tham gia thực hiện mô hình với hình thức hàng tuần vận động, thu gom các loại rác thải nhất là các loại chai nhựa, túi ni lông có phân hủy từ các hộ gia đình hội viên phụ nữ, người dân tại các khu phố, ấp cũng như từ các cuộc hội họp của cơ quan, đơn vị trên địa bàn để tập kết về nhà, hàng quý sẽ được bán gây quỹ, với mục đích là hỗ trợ bữa ăn dinh dưỡng cho người già, phụ nữ bị bệnh và trao tặng dụng cụ học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn; đến nay đã thu được nguồn quỹ gần 9 triệu đồng từ mô hình trên tại 20 chi hội.

     

     

     

     

    Qua việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề góp phần nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của cán bộ, hội viên, phụ nữ trong việc tham gia nâng cao chất lượng các hoạt động của chi hội; đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động của chi hội trong công tác tham mưu, định hướng hoạt động và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của chi hội xây dựng mô hình chi tổ hội chủ động trong công tác; xây dựng gia đình 5 không -3 sạch; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh gắn với thực hiện chỉ thị 19 của Ban Thường vụ Thành ủy và phong trào chống rác thải nhựa.

    Tra cứu các chữ viết tắt trong bài viết.

    HN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Từ Cuộc Vận Động “5 Không 3 Sạch” Và Hoạt Động Hỗ Trợ Xây Dựng Gia Đình Hạnh Phúc, Bền Vững
  • Tài Liệu Tuyên Truyền: 50 Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh (1969
  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ Gắn Với Chỉ Thị 05
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Tinh Thần Dân Chủ Cho Sinh Viên Qua Các Học Phần Lý Luận Chính Trị
  • Hiệu Quả Từ Phong Trào Thi Đua “Dân Vận Khéo” Tại Huyện Văn Giang
  • Giải Pháp Xây Dựng Thế Trận Quốc Phòng Toàn Dân Trên Vùng Biển Và Ven Biển Đông Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Khu 2 – Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh, Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nhiệm Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh
  • Xây Dựng Cơ Quan, Đơn Vị Văn Hóa: Sự Cần Thiết
  • Phong Trào Xây Dựng Cơ Quan, Đơn Vị Văn Hóa Ở Ngân Sơn
  • Hiệu Quả Thiết Thực Từ Phong Trào Xây Dựng Cơ Quan, Đơn Vị, Doanh Nghiệp Đạt Chuẩn Văn Hóa
  • 10/26/2020 10:22:08 AM

    Vùng biển và ven biển Đông Bắc có vị trí rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Để bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, nghiên cứu giải pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn này là vấn đề hết sức cần thiết hiện nay.

    Những năm qua, quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng, quân sự, nhất là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân; trong đó, có thế trận quốc phòng toàn dân của Đảng, toàn đảng, toàn dân và toàn quân nói chung, quân, dân các tỉnh ven biển Đông Bắc nói riêng đã tập trung mọi nỗ lực xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật là, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực; “thế trận lòng dân” thường xuyên được củng cố, tăng cường. Hệ thống công trình trong các khu vực phòng thủ huyện, tỉnh, như: căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần, kỹ thuật thường xuyên được điều chỉnh, củng cố và nâng cấp, xây mới ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cả trong thời bình và thời chiến. Những kết quả đó, trực tiếp góp phần tạo lập thế trận quốc phòng toàn dân khu vực Đông Bắc có đủ sức mạnh và khả năng vô hiệu hóa các hoạt động gây rối, kích động tại địa phương; kịp thời phát hiện và xử lý các mưu đồ bạo loạn, tệ nạn và tội phạm, thách thức an ninh phi truyền thống,… giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội; giành quyền chủ động cho các lực lượng chiến lược tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu trọng điểm, các cơ quan đầu não khi có tình huống bất trắc.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng còn một số hạn chế; công tác quy hoạch, kinh phí bảo đảm, số lượng các công trình đã được xây dựng trong khu vực phòng thủ huyện, tỉnh qua sử dụng bộc lộ nhiều bất cập, do sự phát triển nhanh kinh tế, xã hội. Hiện nay, xuất hiện các loại hình chiến tranh mới: chiến tranh thông tin, chiến tranh trên không gian mạng, chiến tranh ủy nhiệm, nhất là sự phát triển của vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, đặt ra yêu cầu cao đối với việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Để giải bài toán này, ở địa bàn khu vực Đông Bắc Tổ quốc cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

    Một là, tổ chức, điều chỉnh, bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội khu vực Đông Bắc. Thực hiện tốt nhiệm vụ này, nhằm từng bước thống nhất kế hoạch, phù hợp với Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình mới để ngăn ngừa, đối phó thắng lợi mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến. Lực lượng quốc phòng ở vùng biển, ven biển Đông Bắc, gồm lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang ba thứ quân; trong đó, lực lượng vũ trang ba thứ quân là nòng cốt. Lực lượng toàn dân có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, bởi lực lượng này nằm trong dân, trực tiếp nắm bắt tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và là lực lượng tại chỗ, chịu trách nhiệm xử trí nhanh mọi tình huống xảy ra tại địa bàn; đồng thời, báo cáo theo phân cấp. Lực lượng này, gồm: nhân dân các địa phương, lực lượng trực tiếp công tác, lao động, sản xuất ở các cấp, các ngành, các đơn vị kinh tế, cùng với các đơn vị chấp pháp là Chi cục kiểm ngư vùng, hải đội, hải quan, v.v. Đây là lực lượng chủ yếu, trực tiếp xây dựng, phát triển kinh tế biển và tự bảo vệ trong quá trình lao động, sản xuất ở ven biển, trên biển, đảo; lực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất có thể huy động tham gia phối hợp với lực lượng đứng chân trên địa bàn để thực hiện nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, đấu tranh quốc phòng, xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình trên vùng biển và ven biển Đông Bắc. Vì vậy, việc điều chỉnh, bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng cần được cấp ủy, chính quyền các tỉnh ven biển Đông Bắc quan tâm ngay trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển, đảo, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc các ngành, lĩnh vực kinh tế biển hay trong quá trình xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị ven biển và xây dựng kết cấu hạ tầng, khu kinh tế – quốc phòng vùng biển, đảo Đông Bắc, trong thực hiện các chính sách di dân, phân bố lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới, v.v. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, hợp tác quốc tế trên biển, ven biển, như: vận tải biển, khảo sát, thăm dò dầu khí, khai thác khoáng sản, nghiên cứu khoa học biển, đánh bắt xa bờ,… nhằm tăng cường các hoạt động dân sự trên địa bàn, tạo thế đan cài lợi ích vừa để đấu tranh quốc phòng, vừa khẳng định và bảo vệ chủ quyền vùng biển, ven biển Đông Bắc.

    Đối với lực lượng vũ trang ba thứ quân gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ trên vùng biển, ven biển Đông Bắc; trong đó, bộ đội chủ lực (Hải quân, Phòng không – Không quân, Pháo binh, Đặc công, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển) đóng quân trên địa bàn là lực lượng quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển, lực lượng nòng cốt xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, chỗ dựa vững chắc để nhân dân yên tâm lao động, sản xuất trên biển, đảo. Do đó, cần sớm có kế hoạch điều chỉnh, bố trí lực lượng, tiềm lực quốc phòng theo hướng rộng khắp, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với phương án, kế hoạch phòng thủ dân sự bảo vệ biển, đảo, chức trách, nhiệm vụ được giao, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược, khu vực nhạy cảm về quốc phòng, như: Khu Kinh tế Cửa khẩu Móng Cái, Vân Đồn, đảo tiền tiêu, khu vực biển giáp ranh với các nước và vùng biển quốc tế.

    Hai là, tiếp tục rà soát, bổ sung, củng cố, xây mới hệ thống công trình quân sự, quốc phòng, hệ thống các căn cứ chỉ huy, tác chiến, hậu cần, kỹ thuật,… đảm bảo đấu tranh quốc phòng và sẵn sàng đấu tranh vũ trang chống lại các hành động, hành vi xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia, dân tộc, v.v. Việc xây dựng các công trình quân sự, quốc phòng, căn cứ bảo đảm tác chiến, hậu cần, kỹ thuật tuyến ven biển và đảo gần bờ cần được kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo, nâng cấp với xây mới, theo hướng: cơ bản, đồng bộ, vững chắc và từng bước hiện đại, tạo chiều sâu của thế trận phòng thủ biển, đảo, bờ; đồng thời, tạo điểm tựa, bàn đạp vững chắc, sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho các lực lượng hoạt động trên các tuyến biển xa. Theo đó, các đơn vị phòng thủ biển, đảo, dân quân tự vệ cần nắm chắc địa hình, triệt để khai thác, tận dụng địa hình có sẵn, như: điểm cao, rừng núi, hang động, sông, suối tự nhiên,… xác định hướng tiến công chủ yếu của địch để kịp thời điều chỉnh, xây mới hệ thống các căn cứ: sở chỉ huy, điểm tựa, cụm điểm tựa trọng điểm, khu vực phòng ngự, khu giấu quân bí mật, trận địa hỏa lực, công trình ngầm, đường hầm sở chỉ huy trên đảo, các chốt chiến dịch; các công trình chiến đấu cho các đơn vị: bộ binh, binh chủng, quân chủng. Đó còn là công trình cất giấu vũ khí, trang bị; hệ thống đường cơ động, vật cản; khu vực chống đổ bộ đường biển, đường không ở ven biển, trên các đảo,… ưu tiên trên các hướng trọng điểm, địa bàn xung yếu và coi trọng công tác ngụy trang, nghi trang giữ bí mật. Đồng thời, chú trọng xây dựng các công trình lưỡng dụng, như: sân bay, cảng biển, đường xuyên đảo, ven biển, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, dịch vụ nghề cá, v.v.

    Đối với lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng đóng quân nơi đây cần triệt để lợi dụng thế thiên hiểm của địa hình ven biển, đảo, đặc điểm môi trường, thủy văn, luồng, lạch để xây dựng các công trình, như: bến cảng, sở chỉ huy, trận địa pháo binh, tên lửa của hải quân, hệ thống công sự trận địa trong các căn cứ hải quân, cảnh sát biển, đồn, trạm biên phòng, các điểm trú đậu tàu, thuyền, khu sơ tán bí mật, vị trí quan sát, trinh sát trên biển, dưới biển, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, hệ thống thông tin, liên lạc, thông báo hàng hải, cứu hộ, cứu nạn trên biển, v.v. Đối với lực lượng Phòng không – Không quân, tổ chức xây dựng toàn diện; trong đó, chú trọng hệ thống sở chỉ huy, công sự, trận địa, đài quan sát, trinh sát trên không, trên biển, hệ thống sân bay, bãi cất, hạ cánh dã chiến; chủ động xây dựng một số đoạn đường trên quốc lộ cao tốc để các loại máy bay chiến đấu có thể cất, hạ cánh. Ngoài ra, các lực lượng khác, như: pháo binh, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử,… cũng cần xây dựng các công trình chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, phục vụ cho đấu tranh quốc phòng trong thời bình và tác chiến khi có chiến tranh. Những đảo tiền tiêu được xác định là trọng điểm ưu tiên, cần chú trọng xây dựng hệ thống công trình chiến đấu, bảo đảm chiến đấu một cách cơ bản, đồng bộ, hoàn chỉnh, có chính diện, chiều sâu phù hợp, tạo thế trận liên hoàn, vững chắc, đáp ứng yêu cầu tác chiến độc lập, tác chiến hiệp đồng dài ngày, làm chỗ dựa vững chắc cho các lực lượng vũ trang mở rộng chiến tranh nhân dân trên biển.

    Ba là, kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên biển và vùng ven biển. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng: Quân đội, Công an và lực lượng toàn dân, đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội, v.v. Bởi lẽ, đây là các lĩnh vực mà thế lực thù địch luôn tìm cách tiến công ta ngay trong thời bình, khi chúng chưa tập hợp đủ các lý do để tấn công quân sự. Do vậy, muốn giữ vững hòa bình, ổn định, không thể xử lý bằng bạo lực hoặc bằng sức mạnh quân sự, mà phải dùng nội trị sáng suốt, ngoại giao mềm dẻo, trí tuệ uyên bác,… để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Khi xây dựng, cơ quan quân sự và công an các tỉnh khu vực Đông Bắc chủ động tham mưu cho tỉnh ủy, ủy ban nhân dân các tỉnh cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước thành các đề án, kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ở địa phương mình; các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội đều gắn với củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Thực hiện tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, công tác dân vận, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, tạo sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh.

    Thượng tá, ThS. CẢNH CHÍ CƯỜNG, Học viện Quốc phòng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Quân Đội Nhân Dân Vững Mạnh Toàn Diện, Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Xây Dựng Quân Đội “Cách Mạng, Chính Quy, Tinh Nhuệ, Từng Bước Hiện Đại”
  • Tiếp Tục Xây Dựng Qđnd Cách Mạng Chính Quy, Tinh Nhuệ, Từng Bước Hiện Đại
  • Giải Pháp Private Cloud Hiệu Quả Của Vmware
  • Bộ Tổng Tham Mưu Qđnd Việt Nam Với Sự Nghiệp Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh
  • Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Việt Nam: Nhìn Từ Hải Dương

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Gắn Với Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa: Lan Tỏa Và Đa Dạng Cách Làm
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Hợp Tác Xã Trên Địa Bàn Tỉnh Bến Tre
  • Phát Triển Kinh Tế Htx Theo Hướng Bền Vững Gắn Với Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Sơn La
  • Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ Tỉnh Vững Chắc, Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Thực trạng đội ngũ công nhân tỉnh Hải Dương

    Một số đặc điểm của đội ngũ công nhân Hải Dương

    Đội ngũ công nhân tỉnh Hải Dương là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam. Bên cạnh những thuộc tính, đặc điểm chung của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân của tỉnh cũng có những điểm riêng.

    Về ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, đội ngũ công nhân tỉnh đã phát huy vai trò giai cấp tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Là lực lượng nòng cốt trong khối liên minh với nông dân và trí thức, góp phần tạo nên cơ sở chính trị – xã hội vững chắc cho Đảng và Nhà nước.

    Tuy nhiên, sự phát triển đội ngũ công nhân Hải Dương trên cả 3 mặt số lượng, cơ cấu và chất lượng chưa đủ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tỉnh. Công nhân mới chỉ tập trung đa số trong những ngành nghề sản xuất gia công giản đơn; thiếu hụt lớn lực lượng công nhân lao động có trình độ chuyên môn cao; phần lớn công nhân có xuất thân từ nông dân chuyển sang lao động công nghiệp nên giác ngộ giai cấp, ý thức kỷ luật và bản lĩnh chính trị còn hạn chế…

    Gải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam  - Nhìn từ Hải Dương

    Công nhân mới chỉ tập trung đa số trong những ngành nghề sản xuất gia công giản đơn. Ảnh: Áo thun Cần Thơ

    Tình hình đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ công nhân Hải Dương

    Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, địa phương những năm qua, đời sống, việc làm của công nhân Hải Dương ngày được cải thiện. Hoạt động chăm lo đời sống cho người lao động của tổ chức Công đoàn cũng ngày càng thực chất hơn thông qua các hoạt động “Tháng Công nhân”, “Tết Sum vầy”. Nhất là các hoạt động thiết thực mang lại “quyền lợi đảm bảo, phúc lợi tốt hơn” cho đoàn viên, người lao động.

    Song, về cơ bản, thu nhập của công nhân Hải Dương, nhất là công nhân tham gia sản xuất trực tiếp còn thấp. Họ ít có điều kiện chi trả cho các nhu cầu vui chơi, giải trí. Điều kiện làm việc còn nhiều thiếu hụt, chưa đảm bảo an toàn, còn nhiều bất đồng trong quan hệ lao động giữa công nhân và chủ doanh nghiệp. Việc thực hiện BHYT, BHXH và bảo hiểm thất nghiệp của các doanh nghiệp cho công nhân còn nhiều bất cập.

    Dạo quanh một số khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Hải Dương, không khó bắt gặp những căn phòng trọ nhỏ bé, xập xệ được công nhân lựa chọn làm nơi ở, do đồng lương eo hẹp. Tính đến hết năm 2021, Hải Dương có khoảng 27.000 lao động làm việc trong các khu công nghiệp phải đi thuê nhà trọ, mức giá thuê bình quân khoảng 600.000 đồng/phòng/tháng. Các khu nhà trọ do người dân tự xây, diện tích chật hẹp, đơn giản, ít tiện nghi sinh hoạt, điều kiện vệ sinh môi trường không bảo đảm, tình hình an ninh phức tạp. Việc sắm các thiết bị để giải nhiệt mùa nóng, nhất là điều hòa không dễ với đa số công nhân.

    Gải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam  - Nhìn từ Hải Dương

    Các khu trọ của công nhân thường diện tích chật hẹp, đơn giản, ít tiện nghi sinh hoạt. Ảnh: Nguyễn Liên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Lớn Mạnh Là Nhiệm Vụ Quan Trọng Và Cấp Bách
  • Xây Dựng “Thế Trận Lòng Dân” Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Chi Đoàn Mạnh Kiểu Mẫu Và Tiêu Chí Đánh Giá Công Nhận Chi Đoàn Mạnh Kiểu Mẫu, Giai Đoạn 2021
  • Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh Là Cơ Sở Quyết Định Chất Lượng Hoạt Động Của Tổ Chức Công Đoàn
  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Lựa Chọn Giải Pháp Xây Dựng Thương Hiệu Từ Đơn Vị Chuyên Nghiệp – Navee Corporation

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giảm Chi Phí Nhân Sự Của Doanh Nghiệp
  • Lấy Doanh Nghiệp Làm Trung Tâm, Tạo Điều Kiện Thuận Lợi Cho Khởi Nghiệp Sáng Tạo
  • Tạo Điều Kiện Cho Các Doanh Nghiệp Khởi Nghiệp Sáng Tạo
  • Tập Trung Triển Khai Giải Pháp Phục Hồi Hoạt Động Du Lịch Trong Năm 2021
  • Thứ Trưởng Nguyễn Văn Hùng: Doanh Nghiệp Lữ Hành Phải Tái Cấu Trúc Chính Mình
  • Nội dung hấp dẫn và đầy sáng tạo luôn là yếu tố rất quan trọng để doanh nghiệp xây dựng hình ảnh thương hiệu nổi bật hơn trên các kênh Social Media. Một chiến lược nội dung hiệu quả, mang về tỷ lệ chuyển đổi cao là mong muốn của rất nhiều doanh nghiệp hiện nay. Và để làm được điều đó, bạn cần đầu tư cho mình một đội ngũ marketing chuyên nghiệp ngay từ bây giờ.

    Khó khăn của doanh nghiệp trong việc xây dựng hiện nay

    Trong thời đại số hóa, tương tác giữa khách hàng và doanh nghiệp ngày càng được thực hiện nhiều hơn trên các nền tảng trực tuyến. Social Media dần trở thành công cụ quan trọng để quảng bá thương hiệu và thu hút khách hàng. Đây chính là nhân tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược marketing. 

    Tuy nhiên, việc định hướng cho chiến lược xây dựng thương hiệu trên Social Media không hề dễ dàng. Rất nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn với vấn đề này bởi họ vẫn chưa định hình được thương hiệu của chính mình. Doanh nghiệp sở hữu sản phẩm, dịch vụ tốt nhưng lại quá “nhạt nhòa”, không thể hiện “cá tính riêng” của mình trên các kênh Social Media. Bạn sẽ không thể nào thuyết phục khách hàng lựa mình thay vì đối thủ. 

    Đi tìm giải pháp cho những nêu vấn đề trên 

    Để giải quyết tốt hai vấn đề nêu trên và gia tăng giá trị thương hiệu trên các kênh Social Media, bạn cần xây dựng một cho mình một đội ngũ marketing chuyên nghiệp, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong quá trình xây dựng thương hiệu cho chính mình. Một đội ngũ marketing chuyên nghiệp cần hội đủ các yếu tố: Nhưng không phải ai cũng có đủ điều kiện để làm điều đó. Giải pháp tốt nhất cho vấn đề này chính là tìm đến sự giúp đỡ của các chuyên gia.

    Đơn vị cung cấp giải pháp xây dựng thương hiệu chuyên nghiệp

    NAVEE là đơn vị cung cấp giải pháp xây dựng chiến lược thương hiệu chuyên nghiệp dành cho đa dạng các lĩnh vực kinh doanh. NAVEE  hỗ trợ bạn đo lường “sức khỏe” thương hiệu. Và đánh giá hoạt động mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện và đưa ra định hướng tốt nhất cho chiến lược xây dựng thương hiệu trên các kênh social media. 

    Bên cạnh đó, NAVEE sẽ tư vấn giúp bạn xây dựng kế hoạch nội dung hoàn hảo nhất dành cho từng kênh Social Media và giúp bạn thực hiện hóa nó. Với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và giàu kinh nghiệm, NAVEE chính là địa chỉ uy tín để bạn trao gửi niềm tin. 

    NAVEE tặng bạn ưu đãi 5% dịch vụ sáng tạo nội dung thương hiệu chuyên nghiệp.

    Nếu bạn cần tư vấn về chiến lược nội dung, xây dựng thương hiệu trên các kênh Social Media, hãy để lại thông tin dưới dây để được hỗ trợ tốt nhất:

      Nội dung có hữu ích cho bạn?

      Bình chọn 5 sao nếu bạn tìm được thông tin hữu ích!

      Xếp hạng: 5 / 5. Lượt bình chọn: 1

      Liên hệ

      Hãy để lại thông tin của bạn

      NAVEE luôn sẵn sàng

      Liên hệ

      Gọi ngay

      ℡ (+8428) 7770 8989

      Email

      ✉ Info Navee

        --- Bài cũ hơn ---

      • Đẩy Mạnh Chính Sách Tín Dụng Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
      • Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ, Siêu Nhỏ Có Thêm Cơ Hội Vay Vốn
      • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Tiếp Cận Vốn Tín Dụng Cho Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
      • Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Tiếp Cận Tín Dụng
      • Tư Vấn Giải Pháp Công Nghệ Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
      • Smart City – Thành Phố Thông Minh Và Các Giải Pháp Xây Dựng

        --- Bài mới hơn ---

      • Chiến Lược Xây Dựng Thành Phố Thông Minh
      • Công Ty Cổ Phần Quốc Tế Giải Pháp Xanh
      • Công Ty Cổ Phần Thương Mại Giải Pháp Xanh
      • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Sạch Vững Mạnh
      • Xây Dựng Đoàn Kết Nội Bộ Để Đơn Vị Luôn Phát Triển Và Vững Mạnh Toàn Diện – Trang Chủ
      • Trong thời gian gần đây, tần suất cụm từ “Smart City – Thành phố thông minh” được nhắc đến ngày càng cao. Khi bàn về thành phố thông minh, có rất nhiều quan điểm về cách định nghĩa cũng như phương thức xây dựng. Trong loạt bài viết bàn về Smart City này, Sunmedia sẽ gửi đến bạn đọc góc nhìn của một SI (System Integrator – đơn vị tích hợp công nghệ) trong việc xây dựng nên các đô thị thông mình.

        Smart City – thành phố thông minh là gì

        Như vừa đề cập bên trên, Để định nghĩa được về Smart City có rất nhiều góc nhìn khác nhau. Với mọi câu hỏi đặt ra cho từng người khác nhau, với các vai trò – nghề nghiệp khác nhau trong xã hội bạn sẽ nhận được những câu trả lời không giống nhau về một thành phố thông minh. Thật khó để nói đâu là chính xác và đâu là không.

        Giới thiệu về Smart City – Thành phố thông minh và các giải pháp xây dựng

        Thành phố thông minh dưới góc nhìn của Sunmedia là một đô thị ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông kết nối các cảm biến, mạng không dây tốc độ cao, xử lý dữ liệu lớn để nâng cao chất lượng cuộc sống nơi đô thị, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền thành phố, giảm tiêu thụ năng lượng, quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nhìn chung, để đánh giá thành phố thông minh sẽ phải dựa trên mức độ thông minh của cơ sở hạ tầng tác động lên các lĩnh vực giao thông, y tế, xây dựng, năng lượng, quản trị…

        Các yếu tố hình thành nên Smart City

        Nói một cách đơn giản hơn, thành phố thông minh là nơi biến dữ liệu thu thập từ cảm biến thành hành động, là nơi sở hữu cơ sở hạ tầng được quản lý tốt hơn với khả năng thay đổi được, dựa trên dữ liệu đầu vào và điều chỉnh để tận dụng tốt nhất các nguồn tài nguyên hay nâng cao an ninh.

        Giải pháp xây dựng nên một Smart City

        Với tôn chỉ biến dữ liệu trực quan thu thập hàng ngày thành định hướng cho mọi hoạt động của thành phố, đồng thời giúp triển khai các chính sách, chương trình hành động từ chính quyền địa phương đến với người dân một cách nhanh chóng hơn. Sunmedia xin điểm qua 3 điểm trọng tâm trong việc đặt nền móng hình thành nên một đô thị thông minh gồm:

        • Hệ thống cơ sở dữ liệu về quản lý công (data center) được đồng bộ hóa toàn diện từ chính quyền cấp tỉnh/ thành phố đến cấp phường/ xã.

        Data Center - yếu tố quan trọng hình thành nên giải pháp về smart city

        • Hệ thống màn hình chuyên dụng, hiển thị các thông tin quan trọng – chính sách của thành phố tại các địa điểm công cộng;

        Màn hình chuyên dụng Digital Signage - yếu tố quan trọng hình thành nên giải pháp về smart city

        • Hệ thống truyền thông hợp nhất, tích hợp công nghệ họp trực tuyến hiện đại. Liên tục kết nối giữa các sở ban ngành với nhau hỗ trợ chính quyền tổ chức cuộc họp liên ngành với chi phí thấp nhất.

        Truyền thông hợp nhất - yếu tố quan trọng hình thành nên giải pháp về smart city

         

        --- Bài cũ hơn ---

      • Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bền Vững
      • Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Tiềm Năng Du Lịch Biển Mỹ Thuỷ
      • Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Biển Đảo Ở Quảng Ngãi Và Các Tỉnh Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ – Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch (Itdr)
      • Giải Pháp Nhân Rộng Mô Hình Du Lịch Cộng Đồng Ở Vùng Ven Biển Tỉnh Thanh Hóa Hướng Tới Bền Vững
      • Du Lịch Cộng Đồng: Cần Chính Sách Hỗ Trợ Để Phát Triển Bền Vững
      • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Nhà Giáo Và Cán Bộ Quản Lý Đáp Ứng Yêu Cầu Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trên Địa Bàn Tỉnh

        --- Bài mới hơn ---

      • Đà Nẵng Triển Khai Hiệu Quả Các Dự Án Oda
      • Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý, Sử Dụng Vốn Oda Của Ngành Giáo Dục
      • Làm Sao Để Chống Nóng Cho Ô Tô Hiệu Quả Nhất
      • Tiếp Tục Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng
      • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Tệ Nạn Ma Túy
      • Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đây chính là cơ sở để hệ thống giáo dục, đào tạo quốc dân nói chung, các cơ sở giáo dục phổ thông nói riêng tiến hành đổi mới toàn diện và triệt để.

        Đ/c. Trần Tuấn Nam – Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Giang

        Đ/c. Trần Tuấn Nam – Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Giang

        Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động đến giáo dục, đào tạo trên các phương diện như: mục tiêu giáo dục và đào tạo, nội dung chương trình dạy học, mô hình tổ chức hoạt động dạy – học; phương thức quản lý nhà trường; vai trò và phương pháp giảng dạy của người thầy; đặc biệt là vai trò của người quản lý. Sự tác động này đòi hỏi phải thay đổi phương thức quản lý nhà trường, qua đó trực tiếp tác động đến việc bố trí đội ngũ giáo viên và nhân viên. Trong các nhà trường, sẽ có sự thay đổi về quy mô và cơ cấu giáo viên (cả về trình độ chuyên môn và kỹ năng); các môn học có tính hàn lâm, lý thuyết sẽ giảm dần thời lượng, thay vào đó sẽ hình thành những môn học về phát triển năng lực, kỹ năng tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Do đó cần phải nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng của giáo dục và đào tạo.

         

        Để phát triển và nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục mà mục tiêu Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương (khóa XI) đã đề ra cũng như yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Giáo dục Bắc Giang tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

        Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

        Đây là một giải pháp có tính nguyên tắc. Các cấp uỷ Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, thông qua các tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên. Các cấp uỷ Đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác cán bộ. Vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là một yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc làm cho đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, mạnh về chất lượng, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế – xã hội địa phương, góp phần đắc lực vào nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo, sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước.

        Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, sử dụng, luân chuyển cán bộ quản lí, tuyển dụng giáo viên

        Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, sử dụng cán bộ quản lý phải căn cứ vào Quyết định số 27/2003/NĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo và các văn bản chỉ đạo hiện hành. Việc bổ nhiệm cán bộ quản lý được tiến hành khi có nhu cầu, nhưng là một công việc quan trọng trong công tác cán bộ. Bởi người cán bộ quản lý là người góp phần quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức và hoạt động của nhà trường. Do đó, việc lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ quản lý có đủ phẩm chất và năng lực cho các nhà trường vừa củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực lãnh đạo và chất lượng công tác, vừa làm căn cứ để các cấp quản lí xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện các chính sách đối với cán bộ. Việc miễn nhiệm cán bộ quản lý nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh bộ máy quản lí, tạo môi trường lành mạnh cho nhân tố mới phát triển; miễn nhiệm đúng đối tượng, đúng thời điểm là đem lại niềm tin cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường và còn có tác dụng giáo dục cán bộ. Việc giáng cấp, hạ bậc quản lí, hạ bậc công chức đối với cán bộ quản lí giáo dục ít xảy ra, nhưng vấn đề này phải thường xuyên được quán triệt như một biện pháp có tính ngăn ngừa, răn đe nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí. Luân chuyển cán bộ quản lý sẽ khắc phục được tình trạng quan liêu, trì trệ, kinh nghiệm, chủ quan, không chịu đổi mới, yếu kém về công nghệ thông tin, từ đó tự thân chủ động rèn luyện, phấn đấu trong hoàn cảnh mới, môi trường mới.

        Việc tuyển dụng giáo viên căn cứ vào thực tế và chỉ tiêu biên chế đã được tỉnh phê duyệt, các nhà trường chủ động xây dựng kế hoạch biên chế đến từng môn học và vị trí việc làm trong nhà trường, duyệt với cấp có thẩm quyền. Công tác tuyển dụng giáo viên phải được thực hiện theo đúng quy trình, điều kiện tiêu chuẩn, đảm bảo tính khách quan, công bằng và minh bạch; tuyển đặc cách đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc theo Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017 của Chính phủ.

        Thứ ba, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo

        Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò và yêu cầu về năng lực của đội ngũ cán nhà giáo càng được nâng cao. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên cũng cần được chuẩn hóa. Đội ngũ này phải có đủ năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo cao và tự chịu trách nhiệm; dám đề xuất và thực hiện các giải pháp đổi mới. Do đó, họ cần được đào tạo, bồi dưỡng năng lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp giáo dục, đào tạo thông qua hoạt động đào tạo, tự đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý; phải kết hợp vừa bồi dưỡng tập trung theo kế hoạch và tự bồi dưỡng, trong đó coi trọng việc tự bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tương xứng với vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, định kì theo hình thức tập trung, tại chức, tự bồi dưỡng, trao đổi kinh nghiệm; đa dạng hoá hình thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Mỗi cán bộ quản lý cần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Cụ thể phải tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo hướng nghiên cứu ứng dụng. Chính vì vậy để thực hiện được hai nhiệm vụ trọng tâm trên, ngoài những kiến thức và kỹ năng về chuyên môn chung thì cán bộ quản lý và giáo viên cần phải trang bị cho mình kỹ năng phát triển chương trình kỹ năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ trong học thuật và trong quản lý. Thường xuyên tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý đi nghiên cứu, học tập kinh nghiệm ở các địa phương trong nước và quốc tế để tăng cường kiến thức thực tiễn và kỹ năng quản lý.

        Đối với cán bộ trong quy hoạch cán bộ quản lý thì công tác đào tạo, bồi dưỡng trước và sau quy hoạch đều có ý nghĩa quan trọng. Trước quy hoạch, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn đưa vào quy hoạch. Trình độ cán bộ được đào tạo càng cao thì nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch càng phong phú và có chất lượng. Không có nguồn cán bộ đã được đào tạo sẽ phải quy hoạch gượng ép hoặc làm một cách hình thức. Sau quy hoạch, việc đào tạo, bồi dưỡng có vai trò quyết định kết quả thực hiện quy hoạch. Xây dựng xong quy hoạch mới là bước khởi đầu, sau đó sẽ là một quá trình phải đào tạo, bồi dưỡng đặc biệt là bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị, thử thách, rèn luyện đối với cán bộ trong quy hoạch. Vì vậy, khi tiến hành quy hoạch cán bộ hàng năm, cần lựa chọn những giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp, thời gian công tác trong ngành ít nhất 5 năm trở lên, có tinh thần cống hiến, có uy tín trong cán bộ, giáo viên. Việc đào tạo bồi dưỡng phải gắn với bố trí, sử dụng cán bộ sau đào tạo bồi dưỡng.

        Thứ tư, đổi mới công tác tự đánh giá, đánh giá đội ngũ nhà giáo

        Đây là một giải pháp để không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ, là một trong những căn cứ để tuyển chọn, xây dựng quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỉ luật và thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý.

        Đối với ngành Giáo dục thực hiện đánh giá giáo viên theo Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, đánh giá cán bộ quản lý theo Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông. Đây là cơ sở vững chắc để đào tạo và sử dụng hợp lí cán bộ, tạo ra động lực để cán bộ, đảng viên cống hiến sức lực, tâm trí hoàn thành tốt  nhiệm vụ được giao. Đánh giá cán bộ không đúng, không chính xác dẫn đến sử dụng cán bộ một cách tuỳ tiện, làm mất đi động lực phấn đấu của từng cá nhân, có khi làm xáo trộn tâm lí của cả một tập thể, gây nên sự trầm lắng, trì trệ trong công việc. Bởi vậy, tự đánh giá và đánh giá cán bộ phải được xem xét thực hiện thống nhất trên nền tảng những quan điểm và phương pháp đúng đắn, khoa học.

        Thứ năm, thực hiện chế độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo

        Đây là một giải pháp quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đội ngũ nhà giáo, yêu cầu Nhà nước phải thực hiện đầy đủ các chế độ về lương và các loại phụ cấp theo quy định hiện hành; đầu tư thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cần kết hợp đào tạo bồi dưỡng những kiến thức mang tính hàn lâm với tham quan học tập các mô hình, điển hình tiên tiến; có chính sách hỗ trợ cho nhà giáo được đào tạo nâng cao trình độ học vấn, trình độ chính trị. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lí; đầu tư kinh phí, trang bị các phương tiện, điều kiện làm việc cho đội ngũ nhà giáo các nhà trường theo hướng hiện đại hoá đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Mặt khác, cần đổi mới công tác thi đua, khen thưởng để việc đánh giá mức độ tiến bộ của các nhà trường gắn với vai trò, trách nhiệm cán bộ quản lý; có biện pháp mạnh đối với những cán bộ quản lý không hoàn thành nhiệm vụ, có vi phạm ảnh hưởng tới uy tín nhà trường, uy tín của người cán bộ quản lý. Thực hiện tốt chế độ chính sách với nhà giáo sẽ tạo được sự chuyển biến tự bên trong mỗi nhà giáo; khơi dậy lương tâm, trách nhiệm, nhiệt huyết, nhiệt tình để nhà giáo có khát vọng cống hiến cho sự nghiệp đổi mới GD&ĐT, bởi lẽ chính họ là những chủ thể thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.

        Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đủ sức, đủ tầm, đủ tâm, đủ chí để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo có ý nghĩa then chốt, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới hiện nay nhất là khi toàn ngành đang tích cực chuẩn bị cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông mới từ năm 2021.

        Trần Tuấn Nam – Giám đốc Sở GD&ĐT

        --- Bài cũ hơn ---

      • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giảng Viên Đáp Ứng Với Xu Thế Phát Triển Của Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư
      • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới
      • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Huyện Triệu Sơn
      • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Qủa Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Cho Học Sinh Lớp 11 Trường Thpt Lam Kinh
      • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
      • ​​​​hội Thảo “Bàn Giải Pháp Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu”

        --- Bài mới hơn ---

      • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Thực Hiện Công Tác Gdqp&an Trong Tình Hình Mới
      • Xây Dựng Giải Pháp Network Cho Khách Sạn Và Resort
      • Nỗ Lực Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
      • Ielts Speaking Chủ Đề “Vấn Nạn Kẹt Xe”
      • Nguyên Nhân Gây Ra Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
      • Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới Trung ương phối hợp với Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh Ninh Bình vừa tổ chức Hội thảo “Bàn giải pháp xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu”.

        Tham dự Hội thảo có đại biểu của các tỉnh, thành phố Khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ; đại diện lãnh đạo một số sở, ngành, các huyện, thành phố của tỉnh Ninh Bình.Theo báo cáo của văn Phòng điều phối NTM Trung ương, đến thời điểm hiện tại cả nước có trên 5.300 xã đạt chuẩn NTM và 158 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM. Trong đó nhiều tỉnh có 100% xã, huyện đạt chuẩn NTM. Cùng với triển khai xây dựng, nhiều tỉnh thành phố trong cả nước đã ban hành Bộ tiêu chí NTM kiểu mẫu phù hợp với tình hình thực tế và áp dụng triển khai trên địa bàn.

        Tại tỉnh Ninh Bình, sau 3 năm triển khai thực hiện chương trình đã có 8 xã: Khánh Thiện, Yên Từ, Gia Vân, Khánh Thành, Đồng Phong, Yên Hòa, Quang Sơn, Ninh Giang đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, chiếm gần 35% tổng số xã NTM kiểu mẫu của cả nước.

        Tại hội thảo, các địa phương đã thông tin về tình hình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh mình, đóng góp ý kiến, trao đổi về một số nội dung trong quá trình thực hiện để tìm ra giải pháp, định hướng xây dựng NTM kiểu mẫu, NTM nâng cao. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương; sự chung sức đồng lòng của cán bộ, nhân dân. 

        Nhiều đại biểu cũng chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu, tiêu chí môi trường, cải tạo cảnh quan khu dân cư, phát triển kinh tế nông thôn theo đặc trưng, thế mạnh địa phương; phát triển du lịch cộng đồng gắn với xây dựng NTM…

        Thanh Nga (nbtv.vn)

        --- Bài cũ hơn ---

      • Tọa Đàm Về Kinh Nghiệm, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Khu Dân Cư Tiêu Biểu, Khu Dân Cư Kiểu Mẫu
      • Giáo Dục Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em
      • Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển
      • Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ngân Hàng Thương Mại Với Chiến Lược Phát Triển Ngành Ngân Hàng Đến Năm 2025 Và Định Hướng 2030
      • Nâng Cao Chất Lượng Lao Động, Kết Nối Cung
      • Giải Pháp Xây Dựng Các Bộ Sưu Tập Tài Liệu Số

        --- Bài mới hơn ---

      • Giải Pháp Thư Viện Tổng Thể
      • Giải Pháp Kết Nối Mạng An Toàn Và Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
      • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy
      • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Chia Số Thập Phân Cho Học Sinh Lớp 5 Trường Tiểu Học Thiệu Nguyên
      • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ngoại Ngữ Trong Nhà Trường: Vẫn Còn Nhiều Khó Khăn
      • GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC BỘ SƯU TẬP TÀI LIỆU SỐ (PGS.TS. Hoàng Đức Liên,TVVC. Nguyễn Hữu Ty,Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐH Nông nghiệp I)

        Thư viện điện tử và Thư viện số là những khái niệm đang còn rất mới ở Việt nam và cũng tồn tại nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau: Thư viện điện tử (TVĐT): Khái niệm về thư viện điện tử được định nghĩa như sau: “Một hệ thống thông tin trong đó các nguồn thông tin đều có sẵn dưới dạng có thể xử lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng kỹ thuật số”.

        Có thể hiểu theo nghĩa tổng quát là một loại hình thư viện đã tin học hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện. Là nơi người sử dụng có thể tới để tra cứu, sử dụng các dịch vụ thường làm như với một thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa. Nguồn lực của Thư viện điện tử  bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã được số hóa. Có thể hiểu theo nghĩa tổng quát là một loại hình thư viện đã tin học hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện. Là nơi người sử dụng có thể tới để tra cứu, sử dụng các dịch vụ thường làm như với một thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa.Nguồn lực của Thư viện điện tử  bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã được số hóa.

        1.Thư viện số (TVS) là một Thư viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và được quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức giúp người dung dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông.

        Một Thư viện số hoàn chỉnh phải thực hiện được tất cả các dịch vụ cơ bản của thư viện truyền thống kết hợp với việc ứng dụng các lợi thế của công nghệ thông tin trong việc lưu trữ, tìm kiểm và phổ biến nội dung thông tin.

        Ví dụ: bộ sưu tập số về chủ tịch Hồ Chí Minh gồm các văn bản, các tác phẩm văn học, các văn kiện chính trị do Bác viết và  do người khác viết về Bác;  Những  bài hát, bản nhạc viết về Hồ chí Minh; những đoạn phim, những băng video phản ánh cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng  của Người.

        Trong điều kiện về kinh phí, nhân lực và cơ sở hạ tầng nói chung của các thư viện đại học hiện nay thì việc đặt ra mục tiêu trước mắt để xây dựng một Thư viện số  là chưa có tính khả thi. Nhưng với mục tiêu xây dựng các bộ sưu tập số thì các thư viện hoàn toàn có thể thực hiện được.

        2. Ý NGHĨA CỦA BỘ SƯU TẬP SỐ

        Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch chiến lược phát triển của một trường đại học, đó  là  việc tăng cường mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thiết  thực và hiệu quả cho công tác quản lý, công tác đào tạo, nghiên cứu hướng tới mục tiêu trở thành trường đại học tiên tiến đạt chuẩn trong khu vực và trên thế giới.

        Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà Trường là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu mà nhà Trường đề ra trong Kế hoạch chiến lược phát triển . Để nâng cao  chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; Trước hết phải tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ giảng viên, tạo cho giảng viên có nhiều thời gian hơn dành cho nghiên cứu khoa học, nắm bắt những vấn đề mới, sát với thực tiễn khoa học công nghệ  cũng như  kinh tế, xã hội đất nước; Tăng cường và khuyến khích giảng viên trẻ nâng cao trình độ; Hệ thống giáo trình, bài giảng phải từng bước được cập nhật và biên soạn mới để đảm bảo nội dung chất lượng, phải được thiết kế trên cơ sở áp dụng được những công nghệ hiện đại trong đào tạo – Hệ thống công nghệ thông tin và dịch vụ thông tin – thư viện nhà trường.Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006 – Chúng ta bắt đầu hội nhập toàn diện với quốc tế, thực hiện hàng loạt các cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo trợ trong nước, mở cửa thị trường…. Trong Giáo dục và đào tạo đến năm 2009 Nhà nước cho các cơ sở đào tạo nước ngoài đầu tư 100% vốn vào Việt Nam sẽ làm tăng tính cạnh tranh đối với các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam. Do đó yêu cầu các cơ sở đào tạo cần phải đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng, từng bước hội nhập với quốc tế, tạo sự cạnh tranh với các đối tác nước ngoài thì mới tồn tại và phát triển.

        Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, công tác Thông tin – Thư viện ở các trường đại học phải có sự đổi mới mạnh mẽ và phải đi trước một bước mới đáp ứng được yêu cầu phục vụ thông tin – tri thức cho nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Giải pháp xây dựng  các Bộ sưu tập số trong các thư viện đại học là một bước đi cần thiết để góp phần giải quyết các vấn đề về đổi mới và nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của nhà trường. Bởi lẽ bộ sưu tập số có những đặc tính nổi trội mà dịch vụ thư viện truyền thống chưa có như:

        – Bộ sưu tập số tạo ra một môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mở cho tất cả mọi người đều có cơ hội sử dụng nguồn tài liệu học tập bởi STS không bị giới hạn về không gian và thời gian. Loại bỏ khoảng cách tri thức giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các quốc gia.

        – Tính linh hoạt và khả năng đáp ứng của tài liệu số trong đào tạo thể hiện ở chỗ một bản tài liệu số có thể cùng lúc phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau, không phụ thuộc vào số lượng người dùng, thời gian và  vị trí địa lý của người học.

        – Tình hiệu quả của bộ sưu tập số là tiết kiệm thời gian và kinh phí: thư viện đỡ tốn  kinh phí xây dựng kho tàng, kinh phí bổ sung tài liệu, bảo quản và kinh phí trả lương cho người phục vụ. Hơn hết là giúp cho người dùng tin được dễ dàng thuận tiện, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc trong việc tìm thông tin.

        –  Bộ sưu tập số kết hợp với phương thức thư viện truyền thống sẽ phục vụ có hiệu quả hơn cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo theo  tín chỉ, đào tạo trực tuyến của nhà trường. Giúp cho người học chủ động trong việc sắp xếp thời gian học tập, họ không phải đến thư viện cũng có thể lấy được tài liệu qua hệ thống mạng thông tin ở mọi lúc, mọi nơi.

        –  Trong điều kiện còn thiếu nguồn tài liệu tham khảo học tập in giấy, thì việc có thêm giải pháp tài liệu số hóa sẽ giúp cho người học có thêm nhiều lựa chọn để phục vụ cho kế hoạch học tập của cá nhân.

        – Bộ sưu tập số góp phần giải phóng kiến thức, mở rộng đối tượng phục vụ: Phạm vi phục vụ các tài liệu của thư viện không bị bó hẹp trong khuôn viên của nhà trường mà nó vươn tới các vị trí địa lý khác.

        – Bộ sưu tập số là lựa chọn tối ưu để bảo tồn được lâu dài các tài liệu quý hiếm, ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai, khí hậu và tần suất sử dụng.

        3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP TÀI LIỆU SỐ.

        Quy trình để xây dựng một bộ sưu tập số bao gồm:

        – Lựa chọn tài liệu đầu vào;

        – Lựa chọn công nghệ thực hiện;

        – Số hóa nguồn tài liệu;

        – Tạo siêu dữ liệu liên kết;

        – Vận hành, bảo quản và cung cấp dữ liệu;

        – Xuất, nhập dữ  liệu từ bên ngoài để trao đổi.

        3.1 Lựa chọn tài liệu đầu vào:

        Trước khi thực hiện số hóa nguồn tài liệu, chúng ta phải đưa ra các tiêu chí để làm căn cứ lựa chọn những tài liệu nào cần thiết đưa vào bộ sưu tập. Có những tiêu chí mà chúng ta phải quan tâm như sau:

        – Tiêu chí tình trạng bản quyền của tài liệu: Vấn đề bản quyền thực sự đang là rào cản làm nhụt chí những người có tâm huyết với công việc số hoá tài liệu thư viện. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta chưa thực sự nắm vững những quy định cụ thể của Luật bản quyền (Luật sở hữu trí tuệ). Các cơ quan chức năng nhà nước cũng chưa có những văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành.

        Theo Luật sở hữu trí tuệ của Việt nam ban hành năm 2005 thì tại điều 25 khoản (a) và (đ) có quy định: những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao:cụ thể như sau:

        a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân;

        đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

        Khái niệm về phạm vi không gian khuôn viên thư viện hiện nay cũng cần phải xem xét lại: đối với một thư viện truyền thống thì phạm vi khuôn viên thư viện là một không gian nằm trong hàng rào của trụ sở thư viện. Nhưng với một thư viện số thì khuôn viên thư viện không phải như vậy mà là phạm vi những  bạn đọc được thư viện cho phép truy cập sử dụng tài liệu dưới sự giám sát bằng một công cụ tin học cho dù người đó sử dụng từ bên ngoài thư viện. Với khái niệm này thì việc vận dụng Luật sở  hữu trí tuệ vào số hoá tài liệu thư viện sẽ dễ dàng hơn.

        – Theo tiêu chí nhóm người dùng mà thư viện xác định mức độ ưu tiên phục vụ:

        + Cán bộ lãnh đạo;

        + Giảng viên, cán bộ nghiên cứu;

        + Cán bộ kỹ thuật;

        + Sinh viên;

        + Các đối tượng khác.

        – Theo tiêu chí điều kiện bảo quản hiện tại: Tùy tình hình cụ thể của từng thư viện trong tình trạng điều kiện bảo quản kêt hợp với nội dung tài liệu mà quyết định lựa chọn tài liệu đưa vào. Ví dụ: ưu tiên cho các tài liệu in trên giấy ròn, dễ rách, có hóa chất bảo quản.

        – Theo tiêu chí các loại tài liệu đặc biệt: Tài liệu độc bản, tài liệu quý hiếm, thời gian xuất bản (Luận án tiến sỹ, tài liệu cổ, tài liệu cẩm nang chuyên ngành)…

        3.2 Lựa chọn công nghệ

        Việc lựa chọn công nghệ để tiến hành thực hiện rất quan trọng bởi vì nó là công cụ đắc lực giúp ta thực hiện các công việc trong quy trình tạo lập và vận hành của bộ sưu tập số. Do đó công nghệ để thực hiện phái đáp ứng các yêu cầu:

        – Là công cụ, môi trường để đảm bảo các tài liệu số hóa sau khi được tạo lập sẽ dễ dàng, thuận tiện cho người dùng tiếp cận;

        – Có đủ độ tin cậy cho người quản trị và kỹ thuật viên trong quá trình tạo lập, bảo quản và cung cấp dữ liệu trong  quá trình hoạt động của bộ sưu tập;

        – Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về chuẩn nghiệp vụ thông tin – thư viện;

        – Dễ dàng trao đổi dữ liệu với các chuẩn khác, có công cụ sao lưu an toàn dữ liệu.

        Dựa theo các yêu cầu  nêu trên, để bộ sưu tập số phát huy được hết tác dụng, thư viện khi thực hiện tạo lập bộ sưu tập số cần  phải có cơ sở hạ tầng sau:

        + Phải có hệ thống mạng Intranet được kết nối Internet với đường truyền đủ đáp ứng cho số người dùng tối thiểu của thư viện (hiện nay hầu hết các trường đều đã xây dựng. Mạng LAN của thư viện là một nhánh của hệ thống Intranet của trường ).

        + Hệ thống máy chủ đủ mạnh để đáp ứng việc lưu trữ, bảo quản, cung cấp dữ liệu và quản lý người dùng và các phần mềm hệ thống có bản quyền.

        + Trang Web đăng tải và là cổng truy cập của  người dùng vào bộ sưu tập.

        + Phần mềm quản lý tài liệu số:

        Hiện nay cũng có nhiều phần mềm, trong đó có phần mềm nguồn mở  Greenstone (Hòn đã xanh) và một số phần mềm do các công ty và cá nhân xây dựng. Công ty Tinh Vân đã phát triển thêm một phân hệ quản lý tài liệu số trong hệ quản trị thư viện điện tử LIBOL phiên bản 6.0.

        Phần mềm quản lý tài liệu số phải đáp ứng các yêu cầu  như:

        + Tạo siêu dữ liệu: có 3 dạng siêu dữ liệu:

        – Siêu dữ liệu mô tả: Mô tả các thông tin về tài liệu;

        – Siêu dữ liệu quản trị: gồm tạo kích cỡ tập tin;  Định dạng tài liệu (PDF); Đặc tính sử dụng và tình trạng của tài liệu.

        + Mô tả dữ liệu: (theo một trong các chuẩn siêu dữ liệu: MARC; Dublin core; MODS; METS, ISO 2709 ) trong đó chuẩn Dublin Core là dùng tương đối phổ biến vì có khả năng tùy biến cho các tiêu chuẩn khác với 16 trường biên mục.

        + Quản lý các nguồn dữ liệu truy cập được cho phép (phần này chưa có trong các phần mềm nguồn mở) . Theo đó chỉ có các thành viên đã được đăng ký mới được quyền truy cập vào tài liệu (hoặc quản lý chế độ dowload của tài liệu).

        + Xuất –  nhập dữ liệu để trao đổi với các hệ thống khác theo các chuẩn chung.

        3.3. Số hoá nguồn tài liệu

        Đây là công đoạn đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, kinh phí nhưng lại là khâu dễ dàng thực hiện nhất. Bởi vì hiện nay công nghệ số hóa tài liệu đã tiến bộ rất nhiều. Nếu như trước đây, khi ta muốn số hóa một cuốn sách khoảng 2000 trang thì phải mất hàng mấy ngày để quét từng trang sách. Nhưng hiện nay cũng với cuốn sách đó chỉ mất vài giờ đồng hồ là cho ra một sản phẩm tài liệu số đảm bảo chất lượng tốt, sắc nét, hình ảnh đẹp, giống 100% bản gốc và đặc biệt còn cho phép tự động tạo các siêu dữ liệu mô tả và siêu dữ liệu cấu trúc của tài liệu ở định dạng XML.  Hiện nay ở Việt nam đã có các thiết bị số hóa tài liệu của công nghệ KIRTAS APT 1200, công nghệ này cùng với thiết bị  BookScan APT 1200 có thể giúp các thư viện có thể số hóa nguồn tài liệu với số lượng lớn, giá cả hợp lý và đảm bảo chất lượng, thiết bị nhận dạng quang học OCR. Đặc biệt là công nghệ KIRTAS APT 1200 có một phần mềm biên tập BookScan Editor cho phép tự động biên tập, tạo siêu dữ liệu theo yêu cầu; BookScan APT 1200 không làm hư hỏng tài liệu gốc do không phải tháo gáy tài liệu đối với tài liệu có độ dày trang khi thực hiện Scan.

        Một tương lai với nhiều cơ hội đang chờ đón chúng ta.

        Tài liệu tham khảo

        1.      TS. Nguyễn Huy Chương, Ths.Trần Mạnh Tuấn. Quan điểm xây dựng chiến lược và mục tiêu phát triển hoạt động TT-TV đại học Việt Nam giai đoạn 2006 –2010.

        2.      chúng tôi Nguyễn Minh Hiệp. Thư viện số với hệ thống nguồn mở. Bản tin thư viện công nghệ thông tin, 8-2006.

        3.      TS. Vũ văn Sơn. Thư viện địện tử – phúc đáp và trích dẫn . Theo http://www.folis.info

        4.      Chỉ thị số 29/2001/CT-Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục, giai đoạn 2001-2005 của Bộ GD & ĐT.

        5.      Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/11 ngày 29-11-2005 của nước CHXHCN

        --- Bài cũ hơn ---

      • Thư Viện Số Và Vấn Đề Xây Dựng Thư Viện Số Ở Việt Nam
      • Skkn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc
      • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Thư Viện Trường Học
      • Một Số Giải Pháp Phát Huy Hiệu Quả Phòng Đọc Sách Thư Viện
      • Phần Mềm Thư Viện Điện Tử Số
      • Skkn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học Xuân Lộc

        --- Bài mới hơn ---

      • Thư Viện Số Và Vấn Đề Xây Dựng Thư Viện Số Ở Việt Nam
      • Giải Pháp Xây Dựng Các Bộ Sưu Tập Tài Liệu Số
      • Giải Pháp Thư Viện Tổng Thể
      • Giải Pháp Kết Nối Mạng An Toàn Và Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
      • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy
      • Lý do chọn đề tài.

        Ai cũng biết sách là kho tàng tri thức của nhân loại, nhưng trong những năm gần đây văn hóa đọc trong giới trẻ dường như bị lãng quên, nhường chỗ cho văn hóa nghe nhìn phát triển mạnh. Đây là một vấn đề cấp bách cần xây dựng thói quen đọc sách trong mỗi học sinh để hình thành nhân cách, tích lũy tri thức và khôi phục, xây dựng văn hóa đọc trong cộng đồng người Việt Nam. Chính vì vậy, Thư viện đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng thói quen đọc sách, phát triển văn hóa đọc cho thế hệ trẻ.

        Thư viện trường phổ thông là một bộ phận của cơ sở vật chất chủ yếu, trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường. Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học cho học sinh, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp dạy và học, đồng thời tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn hoá mới cho các thành viên trong nhà trường.

        Thư viện trường học không đơn thuần thực hiện chức năng là kho lưu trữ sách mà nhiệm vụ hàng đầu của nó là tìm ra các giải pháp hiệu quả xây dựng môi trường Thư viện, có nghĩa là xây dựng Thư viện thân thiện, xây dựng văn hóa đọc, phục vụ tốt nhu cầu bạn đọc, thu hút bạn đọc yêu mến sách và thường xuyên tìm đến Thư viện như một địa chỉ lý tưởng, nơi tổ chức nhiều hoạt động phong phú và đa dạng như tra cứu và đọc sách, giới thiệu sách, tự học, biên soạn tài liệu giảng dạy và học tập, vui chơi giải trí…

        Việc thực hiện những nhiệm vụ trên sẽ phát huy tối đa vai trò và chức năng của Thư viện trong việc giáo dục toàn diện học sinh, xây dựng một Thư viện Mở có khả năng thu hút đông đảo bạn đọc đến thư viện đọc sách và yêu mến sách.

        Thực hiện Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, để các hoạt động giáo dục trong nhà trường đảm bảo an toàn, thân thiện và hiệu quả thì vai trò của thư viện trong nhà trường là hết sức quan trọng. Thư viện phải làm thế nào để thu hút được nhiều bạn đọc, tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh khi tham gia đọc sách, phát triển văn hóa đọc trong nhà trường và nâng cao chất lượng dạy và học. Song song với hoạt động giáo dục của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thì tại trường Tiểu học Xuân Lộc, mô hình xây dựng thư viện thân thiện được quan tâm nhằm đáp ứng các yêu cầu đó.

        Việc xây dựng môi trường đọc sách gần gũi thân thiện trở nên cấp thiết hiện nay. Làm sao để các thư viện trường lâu nay vẫn bị xem là “kho sách” có thể phát huy vai trò hỗ trợ giáo dục đào tạo, trở thành những nơi thú vị, không chỉ kích thích đọc sách mà còn là môi trường khơi gợi sự sáng tạo. Góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em học sinh tiểu học đã và đang là những trăn trở của các nhà quản lý giáo dục và những người làm nhiệm vụ Thư viện- Thiết bị trường học.

        Xây dựng thư viện trường học thân thiện phải được xây dựng dựa trên hướng tiếp cận của mô hình trường học thân thiện lấy quyền trẻ em là nền tảng cho mọi hoạt động. Phải tạo được một không gian học tập mở, để cho học sinh có cơ hội tiếp cận thông tin, xây dựng thói quen đọc sách; Mặt khác, thư viện tạo điều kiện và để học sinh tích cực tham gia các hoạt động của thư viện một cách linh hoạt, hiệu quả, từ đó hỗ trợ cho việc dạy học tích cực, dạy và học mọi lúc, mọi nơi, nhằm góp phần phát triển mối quan hệ thân ái, cởi mở tích cực giữa các đối tượng trong nhà trường.

        Tuy nhiên một thực trạng hiện nay là trẻ em đang bị chi phối bởi rất nhiều các phương tiện và văn hóa nghe nhìn khiến các em trở nên không còn hứng thú với việc đọc sách. Điều chúng ta nên làm hơn bao giờ hết, để thúc đẩy nhu cầu và hứng thú đọc sách cho các em lứa tuổi tiểu học là tạo ra môi trường đọc sách phù hợp, thân thiện, biến những cuốn sách trong thư viện trở thành thú vị, dần dần xây dựng xã hội đọc sách và cao hơn là xã hội học tập.

        Để khắc phục những tồn tại phổ biến hiện nay trong các thư viện trường học, đồng thời mong muốn xây dựng mô hình thư viện thân thiện thật sự hiệu quả tại trường Tiểu học Xuân Lộc, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp xây dựng thư viện thân thiện ở trường tiểu học Xuân Lộc”.

        II. Mục đích nghiên cứu

        Xây dựng môi trường Thư viện đạt hiệu quả chính là việc xây dựng văn hóa đọc, tạo niềm thú vui đọc sách tri thức truyền thống của cha ông ta từ ngàn đời xưa để lại; thu hút lượng đông đảo bạn đọc đến thư viện để tra cứu và đọc sách, tham gia vào các hoạt động giới thiệu sách bổ ích và hấp dẫn, biến Thư viện thành địa chỉ sinh hoạt văn hóa và nghỉ ngơi, giải trí thích thú, lành mạnh sau những giờ giảng dạy và học tập căng thẳng trên lớp, trở thành “Điểm hẹn” quý báu của giáo viên và học sinh.

        III. Đối tượng nghiên cứu

        – Đặc điểm tình hình của giáo viên và học sinh trong nhà trường

        – Tổ chức mô hình thư viện trường học thân thiện tại trường Tiểu học Xuân Lộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.

        IV- Phương pháp nghiên cứu:

        Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu:

        – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế việc đọc sách của học sinh.

        – Thu thập thông tin, thống kê và xử lý thông tin.

        – Tham quan thực tế vận dụng linh hoạt để tổ chức hoạt động phù hợp.

        – Khảo sát, so sánh có biện pháp điều chỉnh và động viên phong trào.

        B- NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

        I. Cơ sở lý luận.

        Thư viện trường học là một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường, nó được xem như cầu nối giữa thế giới tri thức của nhân loại với đội ngũ cán bộ giáo viên và học sinh trong trường. Để Thư viện trường học phát huy tốt vai trò, ý nghĩa của nó – là điểm đến cần thiết của giáo viên, học sinh, đồng thời tạo cơ hội thuận lợi nhất cho học sinh phát huy tiềm năng của thư viện một cách toàn diện – là nơi các em học sinh thỏa sức sáng tạo và hứng thú tham gia các hoạt động Thư viện thì vấn đề về vốn sách, địa điểm, cách bài trí Thư viện, cách sắp xếp sách một cách khoa học để bạn đọc dễ dàng lựa chọn, tổ chức không gian Thư viện đẹp mắt, thoáng đãng, thái độ phục vụ của cán bộ Thư viện, trình độ chuyên môn, tâm huyết với nghề và sự năng động biết tập hợp, đề ra những kế hoạch hoạt động của thư viện nhằm thu hút sự tham gia tích cực của học sinh sẽ là nhân tố quyết định chất lượng và thành công của một Thư viện thân thiện. Thư viện đạt hiệu quả chính là tiền đề nhằm xích gần học sinh đến với văn hóa đọc nhiều hơn, góp phần phát triển mối quan hệ thân ái, cởi mở, tích cực giữa thầy và trò, giữa trò và trò. Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường.

        Việc khai thác, bổ sung đầu sách, phân loại sách, mô tả sách, biên soạn thư mục hàng tháng của Thư viện cũng là một trong những yếu tố thu hút bạn đọc tìm đến thư viện đọc sách. Đầu sách cần được cập nhật thường xuyên, phong phú về chủng loại, đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh một cách thiết thực nhất.

        Công tác phục vụ cũng như thái độ làm việc của cán bộ Thư viện cũng rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của Thư viện. Thông qua cán bộ Thư viện, vốn tài liệu quý giá mới được cập nhật, khai thác và sử dụng. Giá sách được bố trí một cách khoa học, bặt mắt, có nhiều hình thức hoạt động mới của Thư viện. Thực tiễn hoạt động của các Thư viện cho thấy việc xây dựng môi trường Thư viện “thân thiện” có hiệu quả, phục vụ tốt nhu cầu bạn đọc đến thư viện, xây dựng văn hóa đọc trong học sinh là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong giai đoạn hiện nay.

        Trong khi đó hiện nay sự phát triển của công nghệ thông tin, nào là games, chat…, với nhiều trò chơi ngày càng da dạng, phong phú, hấp dẫn đã lôi cuốn giới trẻ vào tham gia rất nhiều. Vì vậy việc ham mê đọc sách, báo của các em ngày càng mai một dần.

        Mặt khác, ở độ tuổi học sinh Tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng nhiều màu sắc, hấp dẫn và gần gũi, thích đọc các thể loại sách báo với những đặc trưng nổi bật, tham gia các hình thức đọc sách sinh động, khi đó sẽ kích thích nhu cầu tìm đọc của học sinh.

        Tư duy hình tượng đã chi phối quá trình đọc sách và lựa chọn sách của các em. Sự chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý chủ định. Trẻ thường chỉ quan tâm tìm đọc truyện tranh với các hình ảnh trực quan sinh động, màu sắc tươi sáng và các tình tiết diễn biến nhanh. Vốn từ ngữ của các em chưa nhiều, tranh ảnh hình vẽ hỗ trợ cho các em hiểu và cảm thụ tác phẩm sâu sắc hơn. Sự tập trung chú ý của trẻ còn thiếu tính bền vững, lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình đọc sách. Bởi vậy là người cán bộ thư viện cần trang trí những góc đọc sách sinh động có hình ảnh trực quan phong phú để thu hút các em tham gia đọc sách một cách hứng thú, say mê, yêu sách.

        II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

        Trước đây thư viện trường ít hoạt động và chưa có hiệu quả cao, chủ yếu là đầu năm cho học sinh, giáo viên mượn sách báo. Không gian phong đọc hạn chế không đảm bảo cho nhu cầu đọc của học sinh.

        Ngay từ những ngày đầu thư viện tuy còn rất nhiều những khó khăn về cơ sở vật chất, phòng đọc chung với kho chứa sách, mà hầu hết sách trong kho lại là sách lạc hậu, rách nát không phong phú về chủng loại, số lượng bản còn hạn chế. Cùng với sự trưởng thành không ngừng và những thành tích lớn lao của nhà trường, thư viện từng ngày càng được củng cố và ngày càng được phát huy góp phần tích cực trong việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh trong trường. Qua nhiều năm phấn đấu liên tục, được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, thư viện trở thành thư viện đạt chuẩn theo Quyết định 01. Năm học 2006 – 2007 được Sở giáo dục và đào tạo về thẩm định xét công nhận thư viện đạt chuẩn và thư viện Tiên Tiến.

        Trường Tiểu học Xuân Lộc toàn trường có 21 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Có 10 lớp học với tổng số 257 em học sinh. Giờ đây thư viện trường đã được đặt trong một toà nhà đẹp đẽ khang trang. Với một phòng kho rộng rãi có diện tích 48m2, hai phòng đọc riêng biệt mỗi phòng có diện tích 48m2. Tổng số sách trong thư viện có 3582 bản sách với trên 450 tên sách các loại, có10 loại báo và tạp chí.

        Nhìn chung, thư viện trường tiểu học Xuân Lộc có kho sách chưa thể nói là đồ sộ về số lượng nhưng cũng đã đáp ứng đủ cho giáo viên và học sinh tham khảo khi có nhu cầu một cách thân thiện.

        Hàng năm tổng số vốn tài liệu được bổ sung bằng nhiều nguồn quỹ khác nhau, làm cho kho sách ngày càng phát triển phong phú về chủng loại và chất lượng. Hơn nữa trong những năm qua việc triển khai đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, cải tiến phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh thì vai trò của thư viện trường lại càng trở lên quan trọng trong hoạt động dạy và học. Vốn sách được bổ sung đầy đủ, kịp thời hàng năm đáp ứng nhu cầu bạn đọc, phục vụ tốt cho công tác đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Thư viện có 1 quy chế hoạt động phù hợp với chương trình dạy học và các hoạt động khác của nhà trường. Song tình trạng học sinh đến thư viện đọc sách, báo với niềm say mê còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ thu hút số ít học sinh hoàn thành tốt. Một số em thích đọc các loại truyện mang tính giải trí, một số học sinh chỉ đến thư viện sau những buổi giới thiệu sách. Hầu hết các em chưa có phương pháp đọc, thường đọc theo sở thích qua loa, chưa có niềm đam mê tìm tòi, khám phá, chưa thấy hết giá trị, tầm quan trọng của từng cuốn sách và sự cần thiết của việc đọc sách báo đối với học tập và rèn luyện của mình.

        – Ngay từ đầu năm học tôi đã thống kê số học sinh khối 4,5 vào thư viện đọc sách

        STT

        Lớp

        Sĩ số

        Số học sinh vào thư viện

        Tổng số %

        1

        5A

        25

        19

        76%

        2

        5B

        26

        20

        77%

        3

        4A

        26

        21

        80%

        4

        4B

        26

        20

        77%

        Qua thống kê tôi nhận thấy do những nguyên nhân sau:

        – Do đầu sách báo còn hạn chế, các hình thức tổ chức đọc còn đơn điệu, chưa hấp dẫn, chưa phù hợp với việc học của học sinh. Do học sinh chưa nhận thức đúng đắn tác dụng của thư viện trong việc học tập, chưa biết cách đọc, chưa có thói quen tự học, tự tìm hiểu trong sách, chưa hiểu hết mối liên hệ, tầm quan trọng giữa việc học trên lớp với việc tham khảo sách nên chưa thấy hết giá trị của từng cuốn sách.

        – Do quỹ thời gian học tập ở lớp (2 buỗi trên ngày) nên học sinh ít có thời gian đọc sách báo ở thư viện (chỉ đọc vào giờ ra chơi)

        – Cán bộ thư viện chưa nắm hết được tâm lí của học sinh, cách giới thiệu sách chua hấp dẫn, tạo hứng thú đọc cho các em, hoạt động của thư viện chưa có nhiều điểm mới để thu hút bạn đọc,…

        Chính vì những điều như trên, để nâng cao chất lượng hoạt động thư viện. Tôi xin được mạnh dạn đưa ra những cách làm của bản thân để góp phần cho nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ của năm học. Xây dựng “Thư viện thân thiện” của trường.

        III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

        1. Giải pháp 1: Xây dựng nội quy thư viện

        Ngay từ đầu năm học, để đảm bảo chất lượng hoạt động, tôi đã xây dựng nội quy thư viện. Thư viện là tài sản vô giá của nhà trường. Tất cả thành viên trong trường đều là bạn đọc của thư viện, có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng thư viện. Bạn đọc cần thực hiện đúng các quy định sau:

        1. Vào thư viện phải giữ gìn trật tự và giữ vệ sinh chung, tôn trọng người xung quanh.

        2. Mỗi lần mượn không quá 4 quyển sách. Thời hạn mượn sách là 1 tuần. Nếu đọc chưa xong bạn đọc phải đến thư viện xin gia hạn.

        3. Báo chí, từ điển, sách quý hiếm chỉ được sử dụng tại chỗ.

        4. Bạn đọc cần giữ gìn sách báo cẩn thận, không được làm rách, làm bẩn, không vẽ viết vào sách báo, cần tham gia bọc và tu sửa sách thường xuyên.

        5. Bạn đọc làm mất sách phải đền sách mới hoặc đền tiền tương đương với giá trị thực tế. Nếu làm hư hỏng, tùy mức độ phải bồi thường thỏa đáng.

        6. Mỗi học kì nhà trường xét duyệt khen thưởng các bạn đọc sử dụng thường xuyên và có nhiều đóng góp cho thư viện.

        7. Khi chọn sách phải để sách ngay ngắn gọn gàng, không để sách trên mặt giá, giữ gìn sách cẩn thận.

        Tôi đã tổ chức cho học sinh phát thanh viên măng non nhằm tuyên truyền đến từng học sinh qua tiết sinh hoạt tập thể đầu tuần hay giờ ra chơi. Bên cạnh đó, tôi treo bảng nội quy ngay ở vị trí dễ thấy trong thư viện, mỗi khi học sinh vào thư viện tôi thường hướng dẫn học sinh đọc, nghiên cứu lại yêu cầu, từ đó học sinh toàn trường đều nắm được nội quy thư viện và có ý thức thực hiện đảm bảo.

        2. Giải pháp 2. Xây dựng kho tài liệu:

        Kho tài liệu là cơ sở vật chất quan trọng của Thư viện. Nó đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của bạn đọc về việc tra cứu, tìm tư liệu trong quá trình giảng dạy và học tập. Vì vậy, xây dựng kho sách Thư viện là một việc làm cần thiết và thường xuyên. Cán bộ Thư viện phải tâm huyết và có trách nhiệm với nghề, để luôn tìm cách nâng cao vốn tài liệu của Thư viện bằng nhiều hình thức khác nhau. Tổ chức xây dựng kho tài liệu một cách có khoa học và hệ thống, tạo lập một trật tự sắp xếp hợp lý, dễ tìm, bảo quản tốt, tổ chức phục vụ được thuận tiện, đồng thời

        – Phát huy có hiệu quả nguồn lực trong nhà trường, đây là nguồn nhân lực chủ chốt và quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động của Thư viện trường học. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tham khảo ý kiến của các đồng chí tổ trưởng chuyên môn các khối để tìm hiểu nhu cầu về tài liệu và sách đọc của giáo viên nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy. Sau đó, tôi lập danh sách tên các đầu sách Giáo khoa, sách tham khảo và sách nghiệp vụ còn thiếu, trình lên Ban Giám Hiệu nhà trường mua và cán bộ Thư viện có trách nhiệm xử lý nghiệp vụ . Kịp thời tổ chức giới thiệu sách để mọi người đến Thư viện đọc và mượn sách.

        Ngày đầu năm học đã phối hợp với tổ chức Đoàn, Đội phát động phong trào quyên góp sách, xây dựng tủ sách dùng chung của Thư viện, như phong trào “Góp một cuốn sách nhỏ, đọc ngàn cuốn sách hay”, hay trong Ngày Hội đọc sách cũng có nội dung “Trao đổi sách cũ”. Đây thực sự là những phong trào thiết thực đối với việc bổ sung vốn sách cho Thư viện, xây dựng kho tài liệu phong phú về số lượng cũng như thể loại sách.

        Một trong những yếu tố khích lệ giáo viên và học sinh tích cực tặng nhiều sách cho Thư viện là những lời cảm ơn nồng nhiệt của Thư viện dành cho những bạn đọc tặng sách đăng trên bảng Tin trước cửa Thư viện, Thư viện có những phần thưởng khen ngợi, tuyên dương trước toàn trường các cá nhân hay tập thể có sách tặng cho Thư viện với số lượng lớn.

        – Đối với nguồn nhân lực ngoài trường, tôi đã tham mưu với Ban giám hiệu tổ chức trao đổi, hợp tác với trung tâm học tập cộng đồng địa phương, với Ban đại diện cha mẹ học sinh, Hội Khuyến học xã để tăng cường nguồn sách cho thư viện. Với những việc làm đó Thư viện của trường đã tăng được: 245 Cuốn .

        BẢNG THỐNG KÊ CÁC TỔ CHỨC ỦNG HỘ SÁCH

        STT

        Số lượng

        Gi chú

        1

        Hội phụ huynh học sinh

        60 cuốn

        2

        Trung tâm học tập cộng đồng

        30 cuốn

        3

        Hội khuyến học xã

        30 cuốn

        4

        Tập thể giáo viên

        125 cuốn

        Việc tổ chức xây dựng kho tài liệu cần phân loại và sắp xếp tài liệu theo nội dung: sách Giáo khoa, sách Tham khảo, sách nghiệp vụ, truyện đặt chúng ở một vị trí trong kho sách, kí hiệu cho mỗi kệ để phục vụ bạn đọc một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Để thống nhất những ấn phẩm của nhiều tác giả viết về một môn học hay một đề tài nhất định vào một giá sách. Ngoài ra, Thư viện bố trí thêm nhiều tủ sách, như: Tủ sách về Bác Hồ, Tủ sách Kỹ năng sống, Tủ sách Pháp luật, Sáng kiến – kinh nghiệm, Tủ sách truyện Thiếu nhi, Tủ Báo chí.

        3. Giải pháp 3: Tăng cường nghiệp vụ thư viện

        Sau khi Thư viện đã có nguồn sách, tài liệu, thì làm tốt công tác kỹ thuật thư viện, bao gồm các nội dung sau:

        + Sách, báo, tài liệu mua về tiến hành đăng ký;

        + Phân loại, mô tả;

        + Đóng dấu, dán nhãn vào sách, ghi ký hiệu;

        + Xếp sách, kiểm kê bảo quản kho sách;

        + Biên soạn thư mục.

        – Tổ chức phục vụ người đọc trong thư viện:

        4. Giải pháp 4: Trang bị cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động tại phòng đọc của học sinh.

        Tại phòng đọc của học sinh nhà trường đã chia ra các góc hoạt động như góc đọc sách, góc viết, góc nghệ thuật, … Mỗi góc đều có biển tên

        --- Bài cũ hơn ---

      • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Thư Viện Trường Học
      • Một Số Giải Pháp Phát Huy Hiệu Quả Phòng Đọc Sách Thư Viện
      • Phần Mềm Thư Viện Điện Tử Số
      • Dspace, Giải Pháp Phần Mềm Cho Thư Viện Điện Tử Quản Lý Và Khai Thác Nguồn Số Nội Sinh Ở Các Trường Đại Học Hiện Nay
      • Ứng Dụng Các Giải Pháp Công Nghệ Trong Hoạt Động Của Thư Viện
      • Web hay
      • Guest-posts
      • Chủ đề top 10
      • Chủ đề top 20
      • Chủ đề top 30
      • Chủ đề top 40
      • Chủ đề top 50
      • Bài viết top 10
      • Bài viết top 20
      • Bài viết top 30
      • Bài viết top 40
      • Bài viết top 50