Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam Xhcn

--- Bài mới hơn ---

  • 102 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Vui Lòng Giúp Em Một Số Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Và Giải Thích. Xin Chân Thành Cảm Ơn!
  • Nhận Định Đúng Sai Môn Lí Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • So Sánh (Phân Biệt) Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa (Xhcn) Và Tư Sản
  • Bài 3- Tập A

    Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền

    xã hội chủ nghĩa

    Mục đích yêu cầu:

    – Làm rõ bản chất, chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    – Những quan điểm cơ bản cuả Đảng về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    – Góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho mỗi quân nhân trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Nội dung

    I . bản chất, chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam

    II. xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền

    xã hội chủ nghĩa

    1. Sự ra đời của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    2. Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

    Việt Nam

    3. Chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    I . bản chất, chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam

    II. xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền

    xã hội chủ nghĩa

    1. Phát huy dân chủ gắn với tăng

    cường pháp chế xã hội

    chủ nghĩa

    2. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội

    chủ nghĩa

    3. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống

    tham nhũng.

    1. Sự ra đời của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    – Ngày 3/2/1930, Đảng CSVN do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ra đời. Với đường lối đúng đắn, sáng tạo Đảng lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tiến hành cuộc đấu tranh giành chính quyền.

    – Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước VNDCCH- Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á ra đời. Ngay sau khi thành lập, Nhà nước công- nông non trẻ phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược.

    – Ngày 30/4/1975, Chiến dịch HCM toàn thắng, kết thúc cuộc CMDTDCND trong cả nước. Năm 1976 nhân dân 2 miền Nam- Bắc tiến hành bầu cử Quốc hội chung, thống nhất đất nước vê mặt Nhà nước.

    – Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VI đã quyết định đổi tên nước VNDCCH thành nước CHXHCNVN.

    2. Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    – Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân do nhân dân vì nhân dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của tổ quốc và nhân dân.

    Bản chất Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

    a. Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta.

    b. Tính nhân dân, tính dân tộc của nhà nước ta.

    c. Bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhà nước ta .

    3. Chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    * Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hai chức năng: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

    a. Chức năng đối nội.

    Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế.

    – Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước được thể hiện ở các nhiệm vụ sau.

    – Chức năng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, và bảo vệ quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân.

    b) Chức năng đối ngoại.

    Chức năng bảo vệ tổ quốc.

    Chức năng mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước.

    1. Phát huy dân chủ gắn với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    – Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    – Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên, công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân; mỗi chính sách của Nhà nước điều thể hiện ý nguyện của nhân dân.

    – Phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý Nhà nước bằng pháp luật.

    2. Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    – Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, tính khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật, xây dựng và hoan thiện cơ chế kiêm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

    – Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, nhằm hợp lý đại biểu chuyên trách, phát huy tốt vai trò của đại biểu Quốc hội.

    – Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ.

    – Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh dân chủ.

    – Nâng cao chất lượng hoạt động hội đồng nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp, phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân.

    – Xây dựng bộ máy và đội ngũ công chức nhà nước, thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy công chức, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng năng lực và phẩm chất đạo đức.

    – Bổ xung và hoàn thiện các cơ chế, quy định về quản lý kinh tế- tài chính, quản lý tài sản công, ngân sách nhà nước, các quỹ do nhân dân đóng góp và do nước ngoài viện trợ.

    – Tiếp tục cải cách hành chính bảo đảm cho nền hành chính trong sạch, vững mạnh, thông suốt đáp ứng với yêu cầu công cuộc đổi mới.

    3. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng.

    * Để đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng có hiệu quả cần thực hiện tốt nội dung biện pháp sau:

    – Hoàn thiện cơ chế dân chủ và thực hiện tốt quy chế dân chu ở cơ sở, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm: Dân biết dân lam dân bàn, dân kiểm tra. Phát huy tốt vai trò cơ quan dân cử của mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chín trị xã hội của nhân dân trong việc kiểm tra giám sát cán bộ công chứcvà cơ quan công quyền.

    – Xử lý kiên quyết kịp thời công khai những người tham nhũng, không phân biệt địa vị xã hội, chức vụ, người đương chức hay đã nghỉ hưu xử lý nghiêm theo kỷ luật Đảng và pháp luật nhà nước, những người bao che cho tham nhũng, hoặc cố tình lợi dụng chống tham nhũng để vu khống làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ.

    – Thực hiện đồng bộ luật phòng chống tham nhũng và luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

    – Xây dựng chương trình hành động phòng, chống tham nhũng, kiên quyết và triệt để tập trung chỉ đạo và kiểm tra thanh tra việc thanh lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý tài chính trong danh nghiệp Nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Chung Về Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Giao An Phap Luat Dai Cuong
  • Câu Hỏi Ôn Tập Pháp Luật Đại Cương
  • Giáo Trình: Đại Cương Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • #1 Chức Năng Bảo Vệ Tổ Quốc Của Nhà Nước Việt Nam Hiện Nay
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Của Nhân Dân, Do Nhân Dân Và Vì Nhân Dân
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Trước đây, theo tư duy của mô hình nhà nước tập quyền XHCN, thì quyền lực nhà nước tuy thuộc về nhân dân, nhưng nhân dân chỉ thực hiện quyền lực nhà nước của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội; không có sự phân công thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mô hình tổ chức quyền lực nhà nước này phù hợp với điều kiện chiến tranh và nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp, với ưu điểm bảo đảm cho nhà nước ban hành quyết định nhanh chóng và thống nhất. Tuy nhiên, mô hình này trong điều kiện mới – điều kiện kinh tế thị trường nhiều thành phần – bộc lộ nhiều hạn chế.

    Do vậy, trong điều kiện mới, mô hình nhà nước tập quyền XHCN không còn phù hợp với việc phát huy đầy đủ vai trò của quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, quan liêu, tham nhũng trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước.

    Nhận rõ những hạn chế của mô hình tập quyền XHCN, tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, lần đầu khẳng định trong văn kiện của mình chủ trương “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”. Với nguyên tắc mới: Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với sự phân công rành mạch ba quyền. Theo đó, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trở thành nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, có tầm chiến lược, bao gồm toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; trở thành định hướng cho quá trình cải cách bộ máy nhà nước trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nội dung chủ yếu của nhiệm vụ này là: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng ta lãnh đạo”. Để thực hiện nhiệm vụ này, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa VII) chuyên đề bàn về vấn đề nhà nước đã ra Nghị quyết: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính”.

    Sau 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN với những tổng kết bước đầu cả về nhận thức lẫn thực tiễn, năm 2001, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi một số điều về tổ chức bộ máy nhà nước của Hiến pháp năm 1992. Điểm nổi bật trong lần sửa đổi này là thể chế hóa các tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001) khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân …”.

    “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

    Tiếp theo là tại các Đại hội lần thứ X và XI của Đảng – các đại hội có bước phát triển về chất trong nhận thức và vận dụng chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Tại Đại hội X, trong mục tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN đã đề cập tới vấn đề: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” trong đó đã đề cập sâu về vấn đề “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Có thể nói, đây là nhận thức và là quan điểm mới về sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực nhà nước trong chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng ta. Theo đó, tại Đại hội XI của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển năm 2011) đã bổ sung một yếu tố mới vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Đó là yếu tố kiểm soát quyền lực nhà nước. Lần đầu trong Văn kiện của Đảng ta đã ghi nhận một nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN, chứa đựng đầy đủ các giá trị mới về chất so với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước tập quyền XHCN trước đây. Đó là nguyên tắc: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Thể chế hóa các quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong gần 30 năm của Đảng ta, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 tuyên bố: “1. Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; 2. Nước CHXHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

    Như vậy, việc chuyển từ mô hình nhà nước tập quyền xã hội chủ nghĩa sang mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi và phát triển tư duy lý luận. Bởi “việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm”.

    2. Căn cứ vào đường lối chính trị và cơ sở hiến định về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, bộ máy nhà nước ta 30 năm qua ngày càng được cải cách, đổi mới, hiệu lực và hiệu quả; quản lý nhà nước ngày càng được tăng cường.

    Về thực hiện quyền hành pháp: không ngừng tiến hành đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính cả trên bốn thành tố hợp thành: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách đội ngũ cán bộ công chức và cải cách hệ thống quản lý tài chính công. Trong hệ thống các chủ thể của nền hành chính quốc gia, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp cũng được cải cách đổi mới không ngừng, để ngày càng đáp ứng mục tiêu chung của cải cách hành chính là, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng phát triển đất nước.

    Về thực hiện quyền tư pháp: Công cuộc cải cách tư pháp cũng được đẩy mạnh trên cả ba mặt: thể chế, tổ chức và đội ngũ cán bộ. Vì thế, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan điều tra từng bước được đổi mới; chất lượng điều tra, truy tố và xét xử được tăng cường. Pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, từ thủ tục tố tụng cho đến pháp luật về nội dung đều được đổi mới theo tư duy đề cao quyền con người, quyền công dân, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm công bằng và công lý về thực hiện quyền tư pháp.

    3. Tuy đạt được những thành tựu quan trọng cả về phương diện nhận thức lý luận lẫn phương diện tổ chức và hoạt động thực tiễn, nhưng sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong 30 năm qua cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn về phương diện lý luận, nhận thức và tổ chức thực hiện. Theo chúng tôi, trong thời gian tới cần tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau đây: Trước hết, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” là một nguyên tắc mới, chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nhưng cho đến nay không phải đã có sự nhận thức thống nhất, đầy đủ. Vì thế, trên thực tế việc thể chế hóa một cách minh bạch, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giữa Trung ương và địa phương chưa thật sự hợp lý, chưa phát huy đầy đủ hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm của mỗi quyền. Đây là vấn đề vừa mang tính chất lý luận, nhận thức, lẫn tổ chức thực hiện cần được tiếp tục làm rõ.

    Hai là, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thì nhiệm vụ hàng đầu là phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mặc dù, đã có nhiều tiến bộ, nhưng nhìn chung hoạt động lập pháp của Quốc hội thời gian qua chỉ mới chú trọng theo chiều rộng (để đáp ứng đủ luật trên các lĩnh vực) chứ chưa chủ động nhiều theo chiều sâu. Vì thế, nâng cao chất lượng lập pháp để có những đạo luật, bộ luật thật sự trở thành rường cột, ổn định lâu dài, đủ sức đảm đương vai trò là phương tiện hàng đầu trong xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế và xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN. Đây là nhiệm vụ quan trọng trong những năm tới.

    Ba là, thủ tục hành chính là “kinh thánh tự do” của công dân trong mối quan hệ với công quyền của một nhà nước dân chủ và pháp quyền. Vì thế, trong 30 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng cải cách hành chính. Tuy nhiên, cải cách hành chính còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, cho nên thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, phiền hà, là những rào cản lớn đối với việc tạo lập môi trường xã hội thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh lành mạnh, minh bạch có hiệu quả. Tiếp tục cải cách hành chính là nhiệm vụ phải tiếp tục một cách quyết liệt trong những năm tới.

    Bốn là, cải cách tư pháp tuy được quan tâm, nhưng tiến hành còn chậm, nền tư pháp nước nhà chưa thật sự là biểu tượng của công bằng và công lý của một quốc gia dân chủ và pháp quyền, cho nên vẫn còn xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan sai, tồn đọng án, bỏ lọt tội phạm trong hoạt động tư pháp. Vì thế, tiếp tục cải cách tư pháp vẫn là nhiệm vụ rất nặng nề và phải với quyết tâm cao hơn nữa trong thời gian tới.

    Năm là, kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề mới, nhưng có vai trò to lớn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ngày càng thật sự của dân, do dân và vì dân; phòng chống sự lạm quyền, lộng quyền từ phía quyền lực nhà nước, góp phần đấu tranh có hiệu quả với phòng chống tham nhũng, lãng phí trong các cơ quan nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, công chức. Vì thế, phải khẩn trương xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài nhà nước (đó là cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước gồm: Mặt trận Tổ quốc, các thành viên, tổ chức, các cá nhân tiêu biểu và công dân thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp); cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (cơ chế kiểm soát bên trong nội bộ nhà nước) và cơ chế bảo vệ Hiến pháp chuyên trách theo luật định được điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định. Xây dựng đồng bộ các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong những năm tới.

    GS, TS Trần Ngọc Đường

    Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

    (Nguồn: Báo Nhân Dân)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới
  • Về Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Chú Trọng Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Huyện Thọ Xuân Xây Dựng ” Cơ Quan, Đơn Vị Kiểu Mẫu” Theo Lời Dạy Của Bác Hồ Kính Yêu !
  • Về Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tiếp Tục Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Của Nhân Dân, Do Nhân Dân Và Vì Nhân Dân
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Sự phát triển mới của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XII biểu hiện ở một số nội dung sau đây:

    Thứ nhất, Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật.

    Đảng ta đã thể chế hoá vai trò, quyền lãnh đạo, địa vị cầm quyền, chế định, hiến định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng. Đảng ta lãnh đạo Nhà nước không có mục đích nào khác là đem lại quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. Đảng lãnh đạo không có nghĩa là áp đặt, ra lệnh, bao biện làm thay công việc của Nhà nước.

    Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa bằng quan điểm, đường lối chính trị và cầm quyền lãnh đạo bằng pháp luật. Đảng ta khẳng định: “Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền”. Nhà nước thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng trở thành hiện thực trong đời sống xã hội của nhân dân; luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ quyền con người.

    Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cả phương diện chính trị và pháp lý; đồng bộ cả lập pháp, hành pháp và tư pháp. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước theo hướng ngày càng thực hiện và mở rộng dân chủ trong quan hệ Đảng – Nhà nước – Nhân dân. Vì vậy, Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn bảo đảm cho nhà nước tồn tại để phục vụ nhân dân, chứ không phải nhân dân tồn tại để phục vụ nhà nước; Nhà nước pháp quyền đó thực sự của dân, do dân, vì dân.

    Thứ hai, hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Đại hội XII của Đảng xác định: “Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát quyền lực Nhà nước. Chú trọng cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Phân định rõ chức năng của các cơ quan nhà nước, nhất là ở Trung ương, giảm bớt sự chồng chéo.

    Thứ ba, hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước.

    Hoàn thiện tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Trong đó, kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước được coi trọng. Khẳng định về sự thống nhất của quyền lực nhà nước trong phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước cả trong lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát tối cao đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước; kịp thời thể chế hoá đường lối của Đảng bằng các đạo luật, nghị quyết, pháp lệnh. Đảng xác định: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước”.

    Hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Phối hợp hoạt động giữa các cơ quan của Chính phủ với các cơ quan Trung ương và giữa Chính phủ với chính quyền địa phương. Thông qua đó, Quốc hội kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động và cơ chế điều hành của Chính phủ, bảo đảm cho Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng.

    Xác định đúng vị trí, chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ tư pháp trong mối liên hệ với khâu trung tâm là xét xử theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, dân chủ, minh bạch, theo tinh thần độc lập, khách quan, phụng công, thủ pháp, chí công vô tư, đúng nguyên tắc, chuẩn mực pháp luật, xét xử công minh, công khai, đúng người đúng tội, khắc phục tình trạng oan sai và tính không nghiêm minh trong xét án, định án và thi hành án. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của toà án, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý Nhà nước của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hướng gần dân hơn và phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    Thứ tư, Đảng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, “Đảng tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức”. Đảng bố trí cán bộ, đảng viên có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng giữ những cương vị chủ chốt trong bộ máy chính quyền các cấp, bảo đảm giữ vững sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với hệ thống chính trị. Đồng thời, “xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài” với thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức là đảng viên và xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật.

    Đảng ta còn xác định: “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm” kết hợp với đấu tranh phòng, chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, công chức để làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chú Trọng Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Huyện Thọ Xuân Xây Dựng ” Cơ Quan, Đơn Vị Kiểu Mẫu” Theo Lời Dạy Của Bác Hồ Kính Yêu !
  • Hà Nội Xây Dựng Trường, Lớp Mầm Non Hạnh Phúc: Nâng Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Giải Pháp Xây Dựng Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Nói Không Với Bạo Hành Trẻ Em
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Private Cloud Của Viettel Idc
  • Hướng Dẫn Các Bước Tự Xây Dựng Một Hệ Thống Private Cloud
  • Giới Thiệu Và Triển Khai Private Cloud
  • Xây Dựng Phong Cách Lãnh Đạo Của Người Đứng Đầu Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, biến Nghị quyết Đại hội thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, trước hết chúng ta cần nhìn lại một cách khái quát những gì đã làm được cả trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận lẫn hoạt động thực tiễn; đồng thời phải giải quyết một cách hiệu quả nhất những vấn đề mới đặt ra trong tiến trình phát triển đất nước.

    1. Về phương diện lý luận, các nhà khoa học đã đi tới một số khẳng định quan trọng: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.

    Với quan niệm này, nhà nước pháp quyền đã được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Các giá trị phổ biến của nó được trình bày dưới các dạng thức khác nhau và phụ thuộc vào lập trường chính trị – pháp lý, quan điểm học thuật của mỗi người. Ngay cả cách trình bày cũng có thể khác nhau, nhưng về thực chất, đều nhấn mạnh các giá trị sau đây:

    – Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Theo đó, dân chủ vừa là bản chất, vừa là điều kiện, là tiền đề để xây dựng nhà nước pháp quyền.

    – Bộ máy nhà nước pháp quyền được tổ chức và vận hành trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức quyền lực một cách dân chủ.

    – Một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, cơ quan xét xử chỉ tuân theo pháp luật với một chế độ tố tụng công khai, dân chủ.

    Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:

    – Chỉ từ khi dân chủ tư sản xuất hiện, mới có cơ hội và điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền. Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản đang được xây dựng ở hầu hết các nước tư bản phát triển và đang phát triển .

    – Nhà nước pháp quyền với tư cách cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội không những được xây dựng ở chế độ tư bản, mà còn được xây dựng ở chế độ xã hội chủ nghĩa. Nh­ư vậy, trong nhận thức lý luận cũng như­ trong thực tiễn, có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    – Ngoài các giá trị phổ biến, nhà nước pháp quyền còn bao hàm các giá trị đặc thù. Tính đặc thù của nhà nước pháp quyền được xác định bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố này, về thực chất, là hết sức đa dạng, phong phú và rất phức tạp, được xác định bởi các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, tâm lý xã hội và môi trường địa lý của mỗi quốc gia dân tộc. Chúng không chỉ tạo ra cái đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển, mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền. Việc thừa nhận tính đặc thù của nhà nước pháp quyền có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng. Với ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền là một phạm trù vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù; vừa là giá trị chung của nhân loại, vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc, quốc gia. Do vậy, không thể có một nhà nước pháp quyền như­ một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Mỗi quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp.

    2. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như­ một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan.

    Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 1946, năm 1959. năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946, được định hướng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục đẩy mạnh trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.

    Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhằm xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”(2). Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như­ vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hoá. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sau khi nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đòi hỏi chúng ta tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính Nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

    3. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, vừa khẳng định được bản sắc đặc thù của riêng mình.

    Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng, có thể khái quát trên các nét chính sau:

    Một là, cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật khách quan của thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo ra nét đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Hai là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khối đại đoàn kết dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ.

    Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện đảm bảo ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì các mục tiêu chung của sự phát triển.

    4. Những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc trưng cơ bản, được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta và được thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy nhà nước.

    Ba là, Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thư­ợng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật thể hiện đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật là của tất cả công dân, không loại trừ đối với bất cứ ai.

    Bốn là, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Mục tiêu cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thể chế hoá thành luật và được Nhà nước ta tổ chức thực hiện có kết quả.

    Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và thực hiện đầy đủ các điều ư­ớc quốc tế mà Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

    Sáu là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản chủ nghĩa.

    5. Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần được tiến hành đồng bộ, từ việc xác định vị trí trụ cột của Nhà nước trong hệ thống chính trị, cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hành và phát huy dân chủ đến việc đổi mới từng bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương.

    a) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng nâng cao chất lượng, thực hiện tốt chức năng lập pháp và giám sát tối cao.

    Hiến pháp năm 1992 đã xác định Quốc hội nước ta là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với 3 chức năng: lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao.

    Cần đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của Quốc hội trong tổng thể bộ máy nhà nước, theo đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng không phải toàn bộ quyền lực nhà nước đều thuộc về Quốc hội. Vấn đề đặt ra là, cần phải xây dựng được một Quốc hội thực quyền chứ không phải là Quốc hội toàn quyền.

    Đối với chức năng lập hiến và lập pháp, cần quán triệt nguyên tắc hiến định: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Để đảm bảo quyền này của Quốc hội, cần nghiên cứu để hạn chế quyền ban hành pháp lệnh của Uỷ ban Th­ường vụ Quốc hội, tiến tới quy định Uỷ ban Thư­ờng vụ Quốc hội không ban hành pháp lệnh, đồng thời phân định rõ thẩm quyền lập pháp của Quốc hội với thẩm quyền lập quy của Chính phủ, từng bước hạn chế uỷ quyền lập pháp.

    Để tạo lập được cơ chế giám sát tối cao một cách thực tế đối với hoạt động của nhà nước, cần tổ chức nghiên cứu để tiến tới thành lập một cơ quan bảo hiến, đảm bảo địa vị tối cao, thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của nước ta.

    Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), bảo đảm sự t­ương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp. Chúng ta không những phải soạn thảo và thông qua nhiều đạo luật mới, mà còn phải rà soát, sửa đổi toàn bộ những đạo luật đã có sao cho đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. Do vậy, công tác lập pháp của nước ta trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII trở nên cấp bách hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây.

    b) Xây dựng một Chính phủ gọn về tổ chức, rõ về chức năng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động.

    Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ gồm hai nhóm cơ bản sau đây:

    – Nghiên cứu chính sách thể chế;

    – Điều hành mang tính chất hành chính công quyền.

    Để thực hiện tốt chức năng hành pháp của Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X ghi rõ: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. Luật hoá cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu t­ư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương”(3).

    Cụ thể, chính phủ cần thực hiện bốn nhóm quyền hạn và nhiệm vụ sa­u đây:

    – Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, đảm bảo cho toàn bộ hệ thống này hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đủ mạnh để hoàn thiện các chức năng của quyền hành pháp.

    – Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội.

    – Thống nhất quản lý hành chính nhà nước về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và đối ngoại. Thực hiện chính sách xã hội, trong đó cần quan tâm đến chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo.

    – Thi hành những biện pháp hữu hiệu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước, xã hội và bảo vệ môi trường.

    c) Đổi mới các cơ quan tư pháp và thủ tục tư pháp theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Trọng tâm của cải cách tư pháp chính là cải cách tổ chức và hoạt động của Toà án với quan điểm Toà án là trung tâm của hệ thống tư pháp và sự độc lập của Toà án trong xét xử là điều kiện cơ bản bảo đảm cho Toà án thực hiện vai trò của mình với tư cách cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.

    Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã xác định: “Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người… Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”(4).

    Cần nghiên cứu để tiến tới tổ chức lại Viện Kiểm sát thành viện công tố; xác định lại vị trí, phạm vi thẩm quyền của các cơ quan điều tra. Cơ cấu lại tổ chức và quản lý việc thi hành án; nghiên cứu khả năng xã hội hoá các hoạt động bổ trợ t­ư pháp, như­ luật s­ư, công chứng, giám định tư pháp…

    Đổi mới mạnh mẽ pháp luật thủ tục về hoạt động tư pháp trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính… theo hướng chuyển các hoạt động xét xử của Toà án sang chế độ tranh tụng để thật sự bảo đảm quyền bình đẳng của các bên trong quá trình tranh tụng tại Toà án.

    d) Đổi mới chính quyền địa phương đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Vấn đề này, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo”(5).

    Mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp cần bảo đảm sự thống nhất không gian kinh tế và không gian pháp lý. Quyền tự chủ của chính quyền địa phương phải đặt trong sự quản lý của Trung ương về thể chế và chính sách vĩ mô. Mỗi cấp chính quyền là một bộ phận cấu thành của hệ thống hành chính nhà nước thống nhất. Do đó, không thể coi việc đảm bảo quyền tự chủ của chính quyền địa phương như­ là sự thoát ly, tách rời khỏi Nhà nước Trung ương và không thể làm phát sinh tình trạng cát cứ, cục bộ địa phương, không để tạo ra sự đối lập lợi ích giữa địa phương và Trung ương.

    Đổi mới, cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải gắn liền với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng ở các cấp địa phương.

    e) Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh những mặt trư­ởng thành, đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều mặt yếu kém, điều có tính phổ biến là còn thiếu tính chuyên nghiệp.

    Do vậy, nhiệm vụ hiện nay cần quan tâm trước hết là xây dựng và áp dụng chức danh, tiêu chuẩn của các loại cán bộ công chức trong bộ máy hành chính, các tổ chức sự nghiệp. Tiến hành phân cấp quản lý biên chế hành chính, biên chế sự nghiệp nhà nước và thực hiện cơ chế quản lý mới đối với biên chế sự nghiệp, thực hiện cơ chế hợp đồng đối với biên chế sự nghiệp để tạo quyền tự chủ về nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu công chức, viên chức cho các đơn vị sự nghiệp. Đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, chuyển từ phương thức xét tuyển sang phương thức thi tuyển để lấy người có trình độ vào làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời chú ý đến các vùng sâu, vùng xa, đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên cần có những vận dụng phù hợp trong tuyển dụng.

    Đội ngũ cán bộ, công chức luôn giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với toàn bộ xã hội. Ngoài trình độ chuyên môn, đội ngũ cán bộ công chức phải tận tuỵ phục vụ nhân dân mà tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn toả sáng trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động và đang được toàn Đảng, toàn dân hưởng ứng. Thiết nghĩ, đây là dịp tốt để mọi cán bộ, công chức, viên chức liên hệ vào công việc của mình đang đảm nhiệm, tạo chuyển biến tốt để phục vụ nhân dân một cách thiết thực thì chắc chắn, Đảng và Nhà nước ta tăng thêm được uy tín của mình đối với nhân dân. Đó cũng là cách thức tốt nhất để nhân dân góp phần thiết thực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii
  • Luận Văn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay
  • Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Vấn Đề Dân Chủ Hóa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Phong Cách Lãnh Đạo, Phong Cách Làm Việc Của Cán Bộ, Đảng Viên, Người Đứng Đầu.
  • Xây Dựng Phong Cách Lãnh Đạo, Quản Lý Dân Chủ Của Cán Bộ Cơ Sở
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Private Cloud Của Viettel Idc
  • Hướng Dẫn Các Bước Tự Xây Dựng Một Hệ Thống Private Cloud
  • Giới Thiệu Và Triển Khai Private Cloud
  • Nhà nước pháp quyền là một mô hình, phương thức tổ chức nhà nước và xã hội dựa trên nền tảng dân chủ và tinh thần thượng tôn pháp luật. Đảng ta đã nhận thức được tính tất yếu khách quan, cấp thiết việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng ta đã chính thức nêu vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân. Trải qua các hội nghị và các kỳ Đại hội Đảng, nhất là từ Đại hội VIII (năm 1996) đến nay, nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền XHCN và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng được bổ sung và có những bước phát triển quan trọng. Tại Đại hội XII, Đảng ta có những bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó vừa làm sâu sắc thêm những quan điểm, tư tưởng đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện trước đó của Đảng, vừa có những phát triển mới đáp ứng đòi hỏi của tình hình thực tiễn.

    Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng nêu vấn đề: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN”. “Xây dựng” và “hoàn thiện” Nhà nước pháp quyền đều là những nhiệm vụ quan trọng, được tiến hành đồng thời, bổ khuyết cho nhau, xây dựng cũng chính là hoàn thiện, vừa xây dựng vừa hoàn thiện; ngược lại, trong hoàn thiện có xây dựng. Tuy nhiên, khi đặt vấn đề “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN”, Đảng ta đã xác định đi vào chiều sâu của nhiệm vụ này. Quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN sẽ là quá trình không ngừng nâng cao nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền nói chung và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng. Theo tinh thần đó, Đảng, Nhà nước sẽ chú trọng rà soát lại toàn bộ hệ thống thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách và môi trường, điều kiện để đạt được mục đích thiết lập bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, bảo đảm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân, vừa bảo đảm là công cụ quan trọng nhất để giữ vững định hướng chế độ, vừa phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới. Quá trình hoàn thiện sẽ bổ khuyết những gì còn thiếu mà chúng ta đã xây dựng, thay thế những gì đã có nhưng không còn phù hợp. Đây không phải là sự chuyển hướng trong cách tiếp cận, mà là sự nhấn mạnh của Đảng về những nhiệm vụ cần làm đối với vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong thời gian tiếp theo.

    Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhìn nhận thẳng thắn, đánh giá đúng những ưu điểm và nghiêm khắc chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong thời gian qua, đồng thời xác định những nguyên nhân cốt lõi nhất của hạn chế, khuyết điểm. Theo đó, những tồn tại, hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta trong thời gian qua được Đảng ta chỉ ra bao gồm cả những vấn đề thuộc về thể chế, cơ chế, chính sách; cả về tổ chức và hoạt động; cả về yếu tố con người. Về nguyên nhân của những hạn chế, Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng không trình bày dàn trải mà chỉ tập trung vào hai nguyên nhân cơ bản nhất: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới đối với nước ta. Sự phân định giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn nhiều điểm chưa được chế định rõ và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Tổ chức thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN chưa nghiêm”. Nếu nguyên nhân thứ nhất là khách quan, thì nguyên nhân thứ hai là chủ quan, trong đó tập trung trọng tâm vào vai trò của Đảng. Cách nhìn nhận, đánh giá như vậy cho thấy, Đảng ta đã sẵn sàng cho một sự “chuyển mình” cả về nhận thức và hành động trong thời gian tới, nhằm tháo gỡ, minh bạch, chính xác hóa mối quan hệ Đảng – Nhà nước. Đây cũng chính là then chốt cho sự hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.

    Vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN được Đại hội XII của Đảng khẳng định sâu sắc hơn. So với Báo cáo chính trị Đại hội XI, Báo cáo chính trị Đại hội XII đã dành riêng một ý trong phần phương hướng, nhiệm vụ để khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”. Tuy đây là sự tiếp tục quan điểm nhất quán của Đảng ta, song việc nhấn mạnh này trong văn kiện Đại hội đã cho thấy rõ quyết tâm chính trị của toàn Đảng. Đảng ta chỉ rõ: “Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn. Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa-xã hội”. Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị là một trong tám mối quan hệ lớn cần nắm vững và tập trung giải quyết đã được Đảng ta xác định. Trong đổi mới chính trị thì nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm, có vai trò chi phối, quyết định đến các nhiệm vụ khác và đến việc giải quyết mối quan hệ lớn này.

    Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu rõ hơn những nhiệm vụ, giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời gian tới. Đây là những điểm mới nổi bật so với các văn kiện trước đây của Đảng, bao gồm: “Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”. Đây là giải pháp giữ vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả của nhiệm vụ hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Hiến pháp năm 2013, với vai trò “đạo luật gốc”, đã khẳng định Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; đồng thời bổ sung thêm một nguyên tắc mới về kiểm soát quyền lực nhà nước. Các nguyên tắc này là cơ sở hiến định để các cơ quan nhà nước về lập pháp, hành pháp và tư pháp phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm và thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được nhân dân giao cho mỗi quyền; hạn chế và ngăn ngừa tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Dựa trên các nguyên tắc đó, bộ máy Nhà nước trong Hiến pháp sửa đổi đã có những điều chỉnh để làm rõ hơn, minh bạch hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, bảo đảm sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp có hiệu lực, hiệu quả.

    Báo cáo chính trị Đại hội XII chỉ rõ: “Đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền XHCN. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội”. Xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật theo các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp năm 2013 là nhiệm cụ cấp bách, cần nhanh chóng triển khai thực hiện. Đây cũng chính là biện pháp nhằm khắc phục khâu yếu nhất, thiếu nhất trong hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.

    Bên cạnh đó, nhiệm vụ, giải pháp mới của Đảng chỉ ra cũng xác định cần phải quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Quan điểm này thể hiện rõ tính nhân văn trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta. Để bảo đảm tính bền vững của pháp luật, kỷ cương xã hội, đồng thời vẫn bảo đảm tính nhân văn, nhân đạo, thì con người không chỉ cần được điều chỉnh, kiểm soát hành vi bằng luật, mà còn bằng cả lương tâm và trách nhiệm. Đây cũng chính là giải pháp nhằm khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức đang trở thành một vấn nạn khá nhức nhối ở nước ta hiện nay.

    “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”. Nhiệm vụ, giải pháp này cũng nhằm hiện thực hóa một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở nước ta đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013. Kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề khó khăn và phức tạp. Bởi kiểm soát quyền lực nhà nước, một mặt để phòng, chống sự tha hóa và lạm dụng quyền lực nhà nước, mặt khác là làm sao để không phải vì kiểm soát quyền lực nhà nước mà làm mất đi tính năng động, mềm dẻo cần phải có trong thực hiện chức năng của Nhà nước. Đây cũng chính là cơ sở để chúng ta tiếp tục đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước ở nước ta hiện nay bằng việc hoàn thiện các thể chế về tổ chức bộ máy nhà nước.

    “Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện. Mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính”. Đây là giải pháp nhằm thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, thông qua đó vừa hoàn thiện các hình thức dân chủ, vừa bảo đảm cho nhân dân thực sự được thực hiện quyền làm chủ của mình đối với Nhà nước và xã hội.

    Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là chủ trương, đường lối có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, xuất phát từ đòi hỏi tất yếu, khách quan của thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu cả về nghiên cứu lý luận lẫn thực tiễn triển khai xây dựng Nhà nước pháp quyền đã có, Đại hội XII đã có nhiều phát triển mới về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cả trên phương diện hình thức trình bày, cách diễn đạt, cả trên phương diện nội dung các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Trên cơ sở nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, mỗi tổ chức, cá nhân cần xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, góp phần củng cố chế độ, đưa nước ta hội nhập sâu rộng với quốc tế, ngày càng phồn vinh, phát triển.

    Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN DŨNG (Phó viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Một Số Giải Pháp Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay
  • Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Vấn Đề Dân Chủ Hóa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Phong Cách Lãnh Đạo, Phong Cách Làm Việc Của Cán Bộ, Đảng Viên, Người Đứng Đầu.
  • Xây Dựng Phong Cách Lãnh Đạo, Quản Lý Dân Chủ Của Cán Bộ Cơ Sở
  • Xây Dựng Phong Cách, Tác Phong Công Tác Của Người Đứng Đầu
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tiếp Tục Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Của Nhân Dân, Do Nhân Dân Và Vì Nhân Dân
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Ngày đăng: 18/08/2016 02:28

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Hiến pháp năm 2013

    Về bản chất, đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (Điều 2, Hiến pháp năm 2013). Từ bản chất đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:

    Thứ nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2, Hiến pháp năm 2013).

    Đặc điểm này yêu cầu xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền.

    Thứ hai, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp quy định những điều luật nền tảng cho toàn bộ nền luật pháp của chế độ xã hội; và những điều luật này vừa được thực hiện một cách trực tiếp, vừa có thể được cụ thể hóa thành bộ luật hoặc luật để thực hiện tùy theo sự đòi hỏi của thực tế xã hội. Cần nhấn mạnh rằng, nếu Hiến pháp không được thực hiện trực tiếp trong xã hội, và nếu Hiến pháp không được liên thông với các bộ luật và luật của đất nước thì nền tảng pháp luật của đất nước sẽ bị hạn chế căn bản.

    Hiến pháp quy định cấu trúc (khuôn mẫu) cho nền pháp luật của chế độ xã hội. Với vị trí, vai trò như vậy của Hiến pháp, nên quyền lập hiến phải trực tiếp thuộc về toàn thể nhân dân, để thể hiện một cách căn bản tư tưởng “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Chỉ với tính chất như vậy, Hiến pháp mới giữ vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật.

    Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân (Điều 8, Hiến pháp năm 2013). Và mọi chủ thể trong xã hội (Nhà nước, các tổ chức chính trị và xã hội, tập thể và cả nhân) đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

    Thứ ba, sự bình đẳng của mọi người (hay không phân biệt đối xử) trong thụ hưởng và phát triển quyền, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội.

    Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và các tập thể, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Tức là nhà nước pháp quyền phải xác lập được thể chế bảo đảm cho mọi chủ thể như nhà nước, tập thể và cá nhân không (và không thể) đòi hỏi cái ở ngoài hoặc ở trên những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Các thể chế, nhất là thể chế hành pháp, tồn tại, hoạt động không rời rạc, mà là một thể thống nhất, chế ước lẫn nhau. Bởi vì, tính hiệu lực, hiệu quả của mỗi thể chế chỉ có được khi thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế liền sát bên trên và bên dưới cũng như tất cả các thể chế khác. Trong điều kiện, môi trường thể chế như vậy, chỉ tòa án mới có quyền phán xử việc tuân thủ pháp luật. Việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống tòa án độc lập. Hệ thống tòa án độc lập đảm bảo cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại sự tùy tiện của nhà nước; và từ đó, hình thành, phát triển một cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của pháp luật và các hoạt động, kể cả hành vi, của bộ máy lập pháp và hành pháp, ở cả 3 khía cạnh: tổ chức; văn bản pháp luật (Hiến pháp, pháp luật, văn bản quản lý hành chính các cấp); đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Thứ tư, sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

    Điều 4, Hiến pháp năm 2013 chế định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

    Thứ năm, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người, mọi công dân và của mỗi người, mỗi công dân, được pháp luật và các chủ thể trong xã hội, đặc biệt Nhà nước, thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy.

    Thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong những năm đổi mới

    Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

    Trong những năm đổi mới, việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể: (1) Quyền lực nhà nước đã được xác lập, thực hiện trên cơ sở ý chí của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Nhà nước tôn trọng những quyết định của nhân dân, sự lựa chọn chính trị của nhân dân trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, tiếp thu ý kiến của nhân dân trong các đợt lấy ý kiến của nhân dân đóng góp vào xây dựng Hiến pháp, pháp luật. (2) Các cơ quan nhà nước đã xây dựng nhiều cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền giám sát của mình đối với hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước. Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc – tổ chức chính trị – xã hội rộng rãi của nhân dân, đã được ban hành và đang triển khai thực hiện. (3) Các hình thức dân chủ trực tiếp, quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện cũng được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả hơn. Quốc hội, Hội đồng nhân dân thực quyền hơn, ngày càng thể hiện là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. (4) Cùng với việc mở rộng dân chủ, Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh chống lại tình trạng dân chủ cực đoan, vô chính phủ, lợi dụng dân chủ để kích động, gây rối, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân cũng còn những hạn chế không nhỏ: (1) Việc thực hiện các hình thức dân chủ còn nhiều hạn chế, nhất là trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. (2) Trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội, còn có tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ cương. Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ; còn hiện tượng mất dân chủ, dân chủ mang tính hình thức.

    Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

    Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nội dung cơ bản của xây dựng nhà nước pháp quyền và trong lĩnh vực này, Việt Nam đã triển khai tích cực, đạt được kết quả khả quan. Cụ thể: (1) Hệ thống pháp luật được hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, cả về số lượng và chất lượng văn bản quy phạm pháp luật. (2) Việc ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đã góp phần tác động tích cực đến sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước, phục vụ kịp thời yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới của đất nước.

    Tuy vậy, những hạn chế vẫn đang nổi lên là: (1) Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao, chưa ổn định; tính toàn diện, thống nhất, khả thi còn nhiều hạn chế; chưa bảo đảm tính công khai, minh bạch; cơ chế xây dựng, sửa đổi bổ sung pháp luật vẫn còn một số bất cập. (2) Các thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu; năng lực phân tích chính sách, đánh giá tác động của văn bản pháp luật tới đời sống xã hội, xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật của các cơ quan, cán bộ, công chức còn yếu; ý thức pháp luật chưa cao, việc thi hành pháp luật chưa nghiêm.

    Về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

    Trong những năm đổi mới, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đã đạt được những kết quả chủ yếu sau: (1) Các quy định của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước đã có những điều chỉnh để làm rõ hơn, minh bạch hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan. Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chính phủ không chỉ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan chấp hành của Quốc hội mà còn là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

    Bên cạnh đó, những hạn chế chủ yếu là: (1) Một số nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa được nhận thức đầy đủ, sâu sắc, chưa làm rõ nội hàm của nguyên tắc dẫn đến vẫn còn sự lúng túng trong tổ chức và thực hiện. (2) Tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước vẫn còn một số điểm bất cập, hạn chế. Ví dụ, số lượng các Ủy ban của Quốc hội còn ít, chưa đủ để bảo đảm tính chuyên môn hóa trong hoạt động xây dựng pháp luật, giám sát; còn sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa một số bộ, cơ quan ngang bộ… (3) Cải cách hành chính, cải cách tư pháp còn chậm. Trong cải cách hành chính chưa đảm bảo đồng bộ giữa cải cách thể chế, bộ máy hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức và chế độ tài chính công. (4) Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước chưa cao; tính chủ động, năng động, trách nhiệm của địa phương chưa được phát huy đầy đủ. (5) Thiếu thiết chế chuyên trách bảo vệ Hiến pháp, chưa có cơ chế phán quyết về vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Quy định và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân

    Những kết quả đạt được ở nội dung này của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện trên các khía cạnh: (1) Hệ thống pháp luật, chính sách về quyền con người đã được hoàn thiện một bước; được triển khai đồng bộ và xuyên suốt trong chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội và các chính sách, cơ chế nhằm triển khai thực hiện pháp luật trên thực tế. Nhà nước sử dụng Hiến pháp như là một trong những công cụ quan trọng hàng đầu để bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. (2) Tăng cường và mở rộng chương trình giáo dục, đào tạo về quyền con người cho cán bộ của các cơ quan nhà nước. Các nội dung giáo dục về quyền con người đã và đang từng bước được đưa vào chương trình ở các trường phổ thông, lồng ghép vào một số môn học chuyên sâu trong các trường đại học có đào tạo chuyên ngành luật. (3) Đã thực thi có hiệu quả hơn các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người. Về cơ bản, Việt Nam hoàn thành tốt nghĩa vụ báo cáo đối với các công ước mà Việt Nam là thành viên; tiến hành rà soát các quy định của luật pháp quốc gia về các quyền dân sự, chính trị. (4) Tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên thực tế. Các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam đã được bảo đảm ngày càng tốt hơn nhờ sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung.

    Những hạn chế chủ yếu của nội dung này biểu hiện ở 2 điểm: (1) Hệ thống pháp luật về quyền con người ở Việt Nam chưa đồng bộ, một số lĩnh vực chưa theo kịp với sự thay đổi của cuộc sống, chậm được sửa đổi, bổ sung. (2) Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật và việc tuyên truyền pháp luật về quyền con người đến các ngành, các cấp, các địa phương vẫn còn hạn chế, khiến cho việc triển khai còn khó khăn, bất cập.

    Về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    Vai trò lãnh đạo của của Đảng đối với nhà nước là vấn đề rất cơ bản bảo đảm chính quyền của nhân dân. Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng đã đề ra những quan điểm, phương hướng, nội dung cơ bản nhằm xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đề ra định hướng chính trị đúng đắn cho hoạt động của Nhà nước; lãnh đạo hoạt động bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc lựa chọn các đại biểu xứng đáng vào các cơ quan này./.

    Huy Khiên

    Theo: tapchicongsan.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Chú Trọng Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Huyện Thọ Xuân Xây Dựng ” Cơ Quan, Đơn Vị Kiểu Mẫu” Theo Lời Dạy Của Bác Hồ Kính Yêu !
  • Hà Nội Xây Dựng Trường, Lớp Mầm Non Hạnh Phúc: Nâng Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Tiếp Tục Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Của Nhân Dân, Do Nhân Dân Và Vì Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện
  • Chủ tịch nước Trần Đại Quang.

    Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đặt ra rất cấp bách. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị… Xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội”.

    Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là phương hướng cơ bản để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, siết chặt kỷ luật; quyền đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ; dân chủ được thể chế hóa thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật. Tăng cường tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội. Đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nội bộ các cơ quan, tổ chức nhà nước; đề cao trách nhiệm kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới, của các cấp chính quyền đối với mọi cơ quan, tổ chức trên địa bàn, lãnh thổ. Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự, khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối an ninh, trật tự; làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” để chống phá chế độ ta.

    Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) để các cơ quan này thực sự là cơ quan đại diện của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước trong việc xem xét và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương. Hoàn thiện và phân định rõ mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo luật định. Tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và sự giám sát của nhân dân. Các cơ quan hành chính nhà nước phải nghiêm túc chấp hành các quyết định của cơ quan dân cử trong trách nhiệm, quyền hạn được pháp luật quy định và chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của nhân dân. Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; chú trọng tiêu chuẩn về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài.

    Xác định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền, thủ trưởng cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Xử lý nghiêm minh các hành vi trì hoãn, làm sai lệch, can thiệp trái pháp luật hoặc lẩn tránh trách nhiệm đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Xây dựng, hoàn thiện những quy định để người dân trình bày nguyện vọng, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, tạo sự đồng thuận trong xã hội; đồng thời ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, trật tự.

    Cùng với tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”, cần coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, kết hợp sức mạnh của pháp luật với sức mạnh đạo đức, văn hóa và dư luận xã hội. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên trong việc xây dựng, bảo vệ chính quyền, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thu hút sự tham gia ngày càng rộng rãi của nhân dân vào công việc quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước cũng như trong đời sống xã hội.

    Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung và hoàn thiện lý luận, rút ra những bài học kinh nghiệm về cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trên cơ sở đó, cung cấp những luận cứ khoa học để tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; Nhà nước hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả; nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào các công việc của Nhà nước.

    Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới đất nước, tận dụng mọi thời cơ, vượt lên mọi khó khăn, thách thức, nhất định công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

    [1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t. 9, tr. 586.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Trong Những Năm Đổi Mới
  • Về Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Chú Trọng Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Giải Pháp Dịch Vụ Công Trực Tuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đẩy Mạnh Sử Dụng Dịch Vụ Công Trực Tuyến Mức Độ 3, Mức Độ 4 Trên Địa Bàn Tỉnh Đắk Lắk
  • Biện Pháp Duy Trì Danh Hiệu Trường Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Năm Học Mới Và Giải Pháp Duy Trì Trường Học Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Một Số Kinh Nghiệm Duy Trì Phát Triển Hiệu Quả Trường Tiểu Học Đạt Chuẩn Quốc Gia Mức Độ Ii
  • Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Trường Chuẩn Quốc Gia
  • Một trong những mục tiêu quan trọng nhất hiện nay của Chính phủ là nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính nhằm mang lại sự hài lòng và thuận tiện cho người dân. Để hoàn thành mục tiêu này thì Nhà nước cần tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tế, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện và triển khai đồng bộ giải pháp dịch vụ công trực tuyến ở tất cả các bộ, ngành và địa phương.

    Trên cơ sở định hướng mang tính chiến lược trên, CMC SOFT đã xây dựng và phát triển thành công Giải pháp Dịch vụ công trực tuyến với những tính năng ưu việt, trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giảm thiểu áp lực công việc, nâng cao chất lượng dịch vụ công, đồng thời đảm bảo được tính minh bạch và giúp người dân tránh được tệ nhũng nhiễu, quan liêu, phiền hà, hách dịch từ một bộ phận cán bộ công quyền. Cụ thể hơn thì Giải pháp Dịch vụ công trực tuyến được triển khai trên cơ sở Cổng thông tin điện tử (Internet Portal), thông qua việc tích hợp phần mềm người dùng có thể thực hiện đăng ký kinh doanh, xin cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, đăng ký tạm trú, tạm vắng hay đề xuất, khiếu nại, tố cáo một cách thuận tiện, nhanh chóng…

    Về thực chất, Dịch vụ công trực tuyến là một giải pháp phần mềm được thiết kế đặc biệt dành cho các cơ quan nhà nước để thúc đẩy hiệu quả việc ứng dụng Internet vào cuộc sống. Nói cách khác, Giải pháp Dịch vụ công trực tuyến giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích cho người dân khi mà công nghệ thông tin đang dần trở thành một phần không thể thiếu trong các hoạt động của đời sống, đặc biệt là giúp thay đổi cách thức tiếp cận/ trao đổi thông tin và cách thức giao tiếp, quản lý và điều hành/ hợp tác giữa Nhà nước với người dân,… Nhờ việc triển khai Cổng thông tin điện tử có tích hợp giải pháp công trực tuyến mà Nhà nước đã thực hiện được mục tiêu nâng cao trách nhiệm, trình độ chuyên môn và kiến thức về công nghệ thông tin cho các cán bộ công chức trực tiếp là công tác xử lý hồ sơ thủ tục hành chính.

    Với ưu điểm nổi bật của mình, Giải pháp Dịch vụ công trực tuyến do CMC SOFT xây dựng, hoàn thiện và triển khai trên thực tế đã giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian, chi phí đi lại, làm việc và nhiều chi phí khác (mặt bằng, văn phòng phẩm,…) cho toàn xã hội, do đó góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Đẩy Mạnh Giải Pháp Thực Hiện Dịch Vụ Công Trực Tuyến Mức Độ 3 Và 4
  • Những Giải Pháp Để Các Đô Thị Việt Nam Phát Triển Bền Vững
  • Chuyển Đổi Số Là Gì? Những Lợi Ích Mang Lại Cho Doanh Nghiệp
  • Chuyển Đổi Số Để Thay Đổi Thứ Hạng, Đưa Việt Nam Phát Triển Thịnh Vượng
  • Xây Dựng Và Hoàn Thiện Chính Quyền Cấp Xã Theo Tinh Thần Hiến Pháp Năm 2013

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Cđcs Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh
  • Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Vững Mạnh Xuất Sắc
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Công Đoàn Cơ Sở Trường Học Vững Mạnh
  • Cho đến nay, nhiều vấn đề quan trọng đang đặt ra trong phương thức quản lý của chính quyền xã, như: thể chế quản lý một cách dân chủ và hiệu lực, hiệu quả phù hợp với đặc điểm vùng miền, tộc người và phát huy đúng mức được truyền thống tự quản của thôn/làng; nội dung, cấu trúc, chức năng quản lý của chính quyền xã đối với phát triển xã hội; năng lực, kỹ năng thực hành, các phương thức, điều kiện, thủ tục, quy trình quản lý một cách dân chủ và hiệu quả; mối quan hệ giữa cơ chế quản lý với ý thức dân chủ, văn hóa pháp luật, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình,… của chính quyền xã.

    Một số nội dung về công tác quản lý trong hoạt động của chính quyền xã, tuy đã được thể chế hóa và thực hiện trên thực tế, nhưng do việc nhận thức chưa thống nhất, các thiết kế cụ thể của mô hình chính quyền xã chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, nên sau khi thể chế hóa đã không vận hành được. Trong công tác quản lý của chính quyền địa phương nói chung, chính quyền xã nói riêng, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa sự lãnh đạo/chỉ đạo của tổ chức Đảng với thực hành quản lý của chính quyền và sự giám sát, phản biện của hội đồng nhân dân và các tổ chức xã hội ở xã; chưa giải quyết được mối quan hệ giữa quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các chủ thể phát triển kinh tế – xã hội và chủ thể quản lý phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn xã; nhất là giữa quản lý của chính quyền xã với việc bảo đảm truyền thống tự quản của các thôn/làng.

    Đây là những nguyên nhân căn bản dẫn tới những bất cập trong công tác quản lý của chính quyền xã thời gian qua, đề ra yêu cầu đổi mới, hoàn thiện tổ chức hoạt động của chính quyền xã trong điều kiện triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013.

    Xác định rõ vai trò của chính quyền xã trong quản lý

    Hiện nay, cả nước có 11.112 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 1.403 phường, 624 thị trấn, 9.085 xã. Như vậy, trong số những đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nước ta thì đơn vị xã chiếm số lượng lớn nhất. Ở xã, tính cộng đồng của những người dân cao hơn so với phường, thị trấn, do đơn vị xã gắn liền với văn hoá làng (xã) lâu đời. Trong phạm vi xã thường có các đơn vị dân cư nhỏ hơn là thôn/làng (xóm, bản, buôn, ấp,…). Hầu hết đơn vị thôn/làng (xóm, bản, buôn, ấp,…) là những cộng đồng dân cư tồn tại đã lâu đời, có sự gắn bó chặt chẽ với nhau về nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục, tập quán, cách thức sản xuất – kinh doanh,…; do vậy có tính tự quản trên nhiều phương diện của đời sống xã hội.

    Đơn vị hành chính xã, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng núi, hải đảo, thường có tính tự quản cao hơn so với các đơn vị hành chính cấp cơ sở khác như phường, thị trấn. Trong phạm vi mỗi xã, các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định (pháp luật, hương ước hay luật tục, phong tục, tập quán,…) và thiết chế (tổ chức chính trị – xã hội, quỹ, hội, họ mạc, thôn/làng, …) khác nhau, có tính chính thức hoặc phi chính thức; trong đó có cả những quy định và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra như quỹ, hội, …

    Vai trò của chính quyền xã thể hiện tính chất đặc thù của hệ thống chính quyền ở cơ sở xã; đồng thời, phải phản ánh tính chất tự quản khá cao của nó, nhất là trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay. Chính quyền xã có các vai trò là: a/ Cầu nối giữa Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã; b/ đại diện cho Nhà nước và nhân danh Nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước; c/ Trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ở xã; d/ Điều tiết sự tự quản của các thôn/làng trên địa bàn xã về phát triển nông thôn. Vì thế, hiện nay yêu cầu đặt ra đối với chính quyền xã là:

    – Phải đủ mạnh, thể hiện đầy đủ quyền lực của mình trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó;

    – Đồng thời, phải mềm dẻo, linh hoạt trong tiếp xúc, làm việc với người dân – những người luôn luôn bị các mối quan hệ cộng đồng truyền thống chi phối, nhằm đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi đa dạng của mỗi người dân, mỗi dòng họ, mỗi thôn làng, sao cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi địa phương, mỗi tộc người.

    Bởi lẽ, một đặc trưng nổi bật ở cấp cơ sở, trong đó có cấp xã, là sự thống nhất, đôi khi đến mức nhất thể hóa, quá trình lãnh đạo, quản lý với quá trình trực tiếp triển khai thực hiện trên thực tế các đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước. Do phải quản lý một địa bàn lãnh thổ nhất định với một số thôn/làng có truyền thống tự quản khá cao và chịu sự chế ước của một số đặc điểm vùng miền, có khi của cả đặc điểm tộc người và tôn giáo, nên chính quyền xã có vai trò độc lập tương đối. Vì thế, xét về nguyên tắc, trong tổ chức và hoạt động của chính quyền xã, luôn đòi hỏi tính chất đa ngành, liên ngành với một số nét đặc thù và tính độc lập nhất định tùy từng loại hình xã (xã đồng bằng, xã vùng ven đô, xã vùng núi, xã vùng đông dân tộc ít người, xã có nhiều tín đồ các tôn giáo,…).

    Thực tế hiện nay cho thấy chính quyền cơ sở không thể làm tất cả mọi việc giống như một nhà nước thu nhỏ trên địa bàn. Theo quy định của pháp luật cũng như trên thực tế, chính quyền địa phương các cấp đã có sự xác định lại vai trò, chức năng của mình. Trong quá trình tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng quản lý kinh doanh, chính quyền địa phương và cơ sở không còn là chủ thể trực tiếp tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh. Điều này phù hợp với quá trình chuyển đổi vai trò nhà nước nói chung, từ một nhà nước quản lý là chủ yếu sang một nhà nước phục vụ. Theo đó, chính quyền cơ sở cũng đã có sự giảm bớt các lĩnh vực quản lý, đồng thời đẩy mạnh việc phát triển xã hội – văn hóa, như phát triển mạng lưới y tế, giáo dục, bảo đảm cung cấp các dịch vụ công cho cộng đồng và người dân, hỗ trợ và mở rộng quyền tự quản của các thôn/làng trong việc phát triển và giải quyết các vấn đề văn hóa – xã hội trên cơ sở kế thừa và phát huy hương ước hay luật tục.

    Chính quyền địa phương và cơ sở còn có vai trò điều phối, khắc phục các khiếm khuyết do sự phát triển của kinh tế thị trường gây ra, bảo vệ môi trường, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện bảo trợ xã hội đối với các đối tượng chính sách và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, nhằm thực hiện dân chủ và công bằng trong phát triển. Tuy vậy, ngay cả trong lĩnh vực này chính quyền địa phương và cơ sở cũng không hoàn toàn tự mình làm tất cả, mà chỉ là chủ thể chính, đứng ra thu hút và huy động toàn thể xã hội cùng tham gia thực hiện.

    Đổi mới tổ chức và hoạt động của hội đồng nhân dân xã

    Trong nhiều năm, khi tổng kết hoạt động của hội đồng nhân dân (HĐND) cấp địa phương và cơ sở, trong đó có xã, một thực tế được nhiều người thừa nhận là tình trạng hoạt động còn hình thức, kém hiệu quả và thường bị ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp chi phối. Trước tình hình trên, hiện đang thực hiện thí điểm mô hình Bí thư Đảng uỷ kiêm Chủ tịch HĐND xã. Việc thực hiện mô hình này sẽ đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND xã, sẽ gắn được chức năng kiểm tra, kiểm soát của Đảng với chức năng giám sát của HĐND xã. Từ đó có thể nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tổ chức Đảng và HĐND trên địa bàn xã.

    Đây là những vấn đề không đơn giản. Ví dụ, do những đặc điểm về địa lý, dân cư và những đặc điểm khác mà mỗi địa phương có sự phát triển xã hội và cách thức quản lý phát triển xã hội có tính đặc thù (miền núi, đồng bằng, hải đảo, địa phương có đông một tộc người thiểu số sinh sống,…). Mỗi địa phương đều có những nhu cầu, điều kiện khác nhau, nên cần phải được tổ chức, quản lý phát triển xã hội khác nhau.

    Thực tế đó đòi hỏi bộ máy quản lý nhà nước ở mỗi nơi cũng cần có những tính chất đặc thù nhất định. Chẳng hạn, ở những vùng nông nghiệp thì trong UBND xã cần có một cán bộ chuyên trách về nông nghiệp; còn tại những vùng rừng núi thì nên có một cán bộ chuyên phụ trách về lâm – nông nghiệp,…. Như vậy, mỗi địa phương khác nhau có thể tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với những đặc thù của địa phương, nhưng vẫn phải bảo đảm những nguyên tắc chung về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của một UBND xã.

    Nâng cao năng lực, tiến tới tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ xã

    Cán bộ xã hiện nay chủ yếu xuất thân từ nông dân, lớn lên và trưởng thành trong môi trường nông thôn, nên năng lực và trình độ còn nhiều hạn chế. Công tác đào tạo cán bộ xã, đặc biệt kỹ năng thực hành có tính nghề nghiệp lại chưa được chú ý đúng mức.

    Trong điều kiện trình độ dân trí của nhân dân đã được nâng cao, tính chất quản lý ngày càng phức tạp, đòi hỏi việc quản lý nhà nước cần phải khoa học, bài bản, nên cán bộ cấp xã cần phải có trình độ, nhất là kỹ năng thực hành tổng hợp. Nếu cán bộ cấp trên cần phải chuyên sâu, thì cán bộ cấp xã lại phải có tri thức ở diện rộng, đa năng, có thể giải quyết được hoặc ít ra cũng biết được thủ tục và cách giải quyết nhiều vấn đề rất khác nhau trực tiếp nảy sinh ở cơ sở, để hướng dẫn cho người dân thực hiện.

    Hiện nay, chúng ta mới có nhiều trường đào tạo chuyên sâu, nên về cơ bản chỉ đáp ứng được việc đào tạo cán bộ cho các cơ quan trung ương hoặc địa phương, mà hầu như chưa đáp ứng được nhu cầu của cơ quan chính quyền cấp xã, đặc biệt tại các địa phương vùng núi, vùng sâu, vùng biên giới, hải đảo, hay vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

    Do vậy, cần nghiên cứu đổi mới tiêu chuẩn các chức danh cán bộ xã, kể cả cơ chế điều chuyển cán bộ cấp huyện cho các cơ quan cấp xã và nghiên cứu đổi mới tại các cơ sở đào tạo cán bộ cấp cơ sở theo hướng đa chức năng hơn, coi trọng kỹ năng thực hành hơn.

    Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng và công tác mặt trận, các đoàn thể nhân dân tại xã

    Trong đó, đặt trọng tâm vào việc đổi mới việc ra nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, của cấp uỷ đảng, nhất là đối với những vấn đề lớn, quan hệ tới cuộc sống và quyền lợi của đông đảo nhân dân trong xã, đòi hỏi sự phối hợp của cả hệ thống chính trị ở cơ sở và đối với những chủ trương công tác thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền và đoàn thể. Cần coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa bí thư cấp uỷ với chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, chủ tịch uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và những người đứng đầu các tổ chức chính trị – xã hội. Đồng thời, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội sát hợp với nhu cầu, lợi ích của hội viên, đoàn viên; đáp ứng yêu cầu tham gia giám sát, phản biện đối với công tác lãnh đạo, quản lý của tổ chức đảng và chính quyền xã./.

    PGS, TS. Nguyễn Thanh Tuấn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    Theo: http://www.tapchicongsan.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Chính Quyền Cơ Sở Vững Mạnh
  • Xây Dựng Bộ Máy Chính Quyền Vững Mạnh Từ Cơ Sở
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử Phải Có “công Dân Điện Tử”
  • Tiền Giang: Đồng Bộ Các Giải Pháp Trong Xây Dựng Chính Quyền Điện Tử
  • Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Của Dân, Do Dân Và Vì Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Mới Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Tổng Cục Dự Trữ Nhà Nước
  • Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Tổng Cục Dự Trữ Nhà Nước
  • Lập Pháp Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Lập Pháp
  • Cơ Quan Tư Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Cơ Quan Tư Pháp
  • Tổ Chức Thực Hiện Quyền Tư Pháp Theo Hiến Pháp 2013
  • Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân trong hệ thống chính trị của đất nước. Hệ thống chính trị của nước ta bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Mỗi thành phần trong hệ thống chính trị có vai trò riêng của mình trong sự nghiệp cách mạng.

    Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể lãnh đạo toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bộ máy quyền lực của nhân dân, có chức năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi lĩnh vực của đời sống đất nước bằng luật pháp. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp các tổ chức chính trị của nhân dân, đại diện cho lợi ích và vị trí của từng cộng đồng xã hội khác nhau, tham gia vào công việc bảo vệ lợi ích thiết thực của người lao động và động viên cộng đồng nỗ lực trong cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy liên minh công nông với đội ngũ trí thức làm nền tảng và là cơ sở chính trị của chính quyền nhà nước. Giữa các bộ phận của hệ thống chính trị có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, và mỗi bộ phận có vai trò riêng của mình. Vai trò đó thể hiện ở chức năng của từng bộ phận: Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ.

    Nhân dân là người chủ của đất nước. Nhân dân lập ra bộ máy nhà nước thay mặt mình xây dựng pháp luật và quản lý đất nước thực hiện quyền làm chủ và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân.

    Đảng lãnh đạo là vấn đề cốt tử để Nhà nước có thể thực hiện và phát huy chức năng quản lý xã hội của mình. Đảng không làm thay công việc cụ thể của Nhà nước trong công cuộc quản lý đất nước, quản lý xã hội. Đảng chỉ lãnh đạo Nhà nước và sự lãnh đạo đó được thực hiện thông qua đường lối, cương lĩnh, chiến lược, các định hướng… Sự lãnh đạo của Đảng không hề đối lập với việc tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước và chính sự lãnh đạo đó là cội nguồn của sức mạnh và hiệu quả hoạt động quản lý của Nhà nước. Và Nhà nước ta cũng chỉ có thể làm được chức năng của mình một khi có mối liên hệ gắn bó với nhân dân, biết dựa vào dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

    Bộ máy của Nhà nước ta gồm có: Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp và Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, cử ra cơ quan hành pháp, tư pháp và thực hiện việc giám sát theo đúng pháp luật.

    Nhà nước tư sản lấy phân chia quyền lực của ba cơ quan: nghị viện, chính phủ, tòa án – lấy tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp) làm nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước. Các lý luận gia tư sản hết lời ca tụng nguyên tắc tổ chức này và coi đó là biểu hiện ưu việt của nền dân chủ tư sản… Đây chỉ là điều bịa đặt để lừa mị quần chúng nhân dân vì thực chất cách tổ chức này là lấy quyền lực để hạn chế quyền lực nhằm chống lại quyền lực độc đoán, tùy tiện trong bộ máy nhà nước mà thực chất là để chế ngự lẫn nhau và bảo vệ quyền lợi của những phe cánh khác nhau của giai cấp tư sản trong bộ máy nhà nước.

    Quan điểm của chúng ta cho rằng, vấn đề bản chất của Nhà nước là nhà nước của ai, do ai và vì ai. Và từ đó mà lựa chọn cách tổ chức. Nhà nước ta thực hiện sự thống nhất ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, và có sự phân công rành mạch giữa ba quyền đó. Cách tổ chức này bảo đảm cho việc nâng cao tính hiệu quả quản lý, tăng cường pháp quyền, xây dựng một hệ thống hành pháp và quản lý hành chính thông suốt từ Trung ương đến cơ sở có đủ năng lực và quyền lực để quản lý có hiệu quả mọi lĩnh vực của đời sống đất nước.

    Nhà nước ta được xây dựng trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Không nhận thức đúng đắn nguyên tắc này thì không thể xây dựng được Nhà nước ta. Vì vậy, để xây dựng bộ máy nhà nước và quản lý có hiệu quả công cuộc xây dựng xã hội mới cần nhận rõ mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa với kỷ cương, luật pháp xã hội chủ nghĩa. Những yếu tố này chẳng những không loại trừ nhau mà còn làm tiền đề cho nhau hợp thành một chỉnh thể thống nhất và là một tất yếu khách quan của đời sống xã hội.

    Không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội trong đó người dân làm chủ xã hội, làm chủ đất nước. Quyền làm chủ đó được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước do dân cử ra. Vì vậy, bộ máy này phải lấy dân làm gốc, phải biết dựa vào dân, trung thành với lợi ích của nhân dân, biết phát huy trí tuệ của nhân dân, biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Dân chủ là bản chất của các mối quan hệ trong xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Đồng thời, cũng phải thấy rằng, không có kỷ cương, luật pháp thì cũng không có chủ nghĩa xã hội. Không có kỷ cương, luật pháp thì cũng không có nhà nước pháp quyền, không có xã hội ổn định, xã hội trở thành vô chính phủ. Chỉ có dân chủ mà không có luật pháp thì không sao chống được tệ quan liêu cửa quyền, độc đoán, tham nhũng và từ đó làm sao có được nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, và làm sao giải quyết được mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa con người với con người, con người với cộng đồng, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội và bảo vệ được tính công bằng xã hội.

    Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phải đi đôi với luật pháp xã hội chủ nghĩa. Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội được tổ chức trên cơ sở luật pháp. Pháp luật là cái thể hiện và là cái bảo đảm cho quyền làm chủ của nhân dân lao động và là công cụ để quản lý xã hội. Thiếu pháp luật sẽ không có dân chủ và một xã hội càng dân chủ bao nhiêu thì lại càng phải có luật pháp, kỷ cương và trật tự bấy nhiêu.

    Rõ ràng, nguyên tắc tập trung dân chủ định hướng cho sự phát triển của Nhà nước ta và xã hội ta. Nó còn là yếu tố để hình thành nhân cách của con người xã hội chủ nghĩa, hình thành bầu không khí chính trị đạo đức xã hội chủ nghĩa là dân chủ và kỷ luật.

    Trong những năm đổi mới vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và qua rèn luyện trong thực tiễn quản lý sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nhà nước ta đã trưởng thành về nhiều mặt, đã thể hiện rõ bản chất của một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Nổi bật nhất là những thành tựu về xây dựng hệ thống pháp luật để quản lý đất nước, về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhất là dân chủ ở cơ sở. Hoạt động của Nhà nước thể hiện được tư tưởng lấy dân làm gốc, biết dựa vào dân, thực hiện việc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nhà nước cũng đã tích cực đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng.

    1 – Sự nghiệp cách mạng hiện nay đang đòi hỏi một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để làm cơ sở cho sự thống nhất quản lý của nhà nước và hành vi của công dân. Việc xây dựng luật pháp vừa qua tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luật pháp vẫn chưa bao trùm hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội.

    Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhiều lĩnh vực của sản xuất, kinh doanh ngày càng được chia nhỏ và toàn cầu hóa đưa lại việc mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội thì luật pháp cũng phải được mở rộng để làm cơ sở cho quá trình quản lý xã hội. Hơn thế, sự nghiệp cách mạng không ngừng biến đổi và phát triển. Những biến đổi và phát triển đó cũng đòi hỏi những sửa đổi, bổ sung những quy định của luật pháp đã bị thực tiễn vượt qua. Vì thế, bên cạnh việc tiếp tục xây dựng luật pháp thì sửa đổi, hoàn thiện luật pháp là công việc thường xuyên của Nhà nước. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực thường xuyên bám sát đời sống của từng đạo luật đã ban hành trong xã hội, thường xuyên rút kinh nghiệm và đề xuất những sửa đổi, hoàn thiện pháp luật trước những biến đổi của tình hình.

    Điều cơ bản nhất trong xây dựng pháp luật là, phải thể hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, phải hướng vào việc bảo đảm cho việc thực hiện mục tiêu của cách mạng là: độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Để làm được điều đó thì luật pháp phải bảo đảm cho việc chống lại các nguy cơ mà Đảng ta đã xác định: tụt hậu xa hơn về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, “diễn biến hòa bình”, quan liêu, tham nhũng. Ví dụ: chúng ta đang thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần nhằm phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền sản xuất xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Nhưng vai trò của các thành phần kinh tế lại khác nhau trong nền kinh tế quốc dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng vật chất, là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Tùy theo từng chặng đường phát triển của cách mạng mà những điều đó phải được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã. Bỏ quên, xa rời điều đó thì không thể nói tới con đường xã hội chủ nghĩa.

    Để luật pháp thực sự là cơ sở pháp lý cho quản lý của Nhà nước và hành vi của công dân thì phải giáo dục rộng rãi luật pháp cho toàn dân. Cần sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho nhân dân. Đặc biệt, cần tùy theo đối tượng mà lựa chọn luật pháp để đưa vào giáo dục trong các nhà trường, các đoàn thể chính trị, các tổ chức xã hội, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các sinh hoạt chính trị của nhân dân.

    Việc quản lý thực hiện pháp luật phải chặt, xử lý các vi phạm phải nghiêm. Chúng ta không ảo tưởng có thể xây dựng một xã hội hoàn toàn trong sạch, loại trừ hoàn toàn mọi tiêu cực một khi các điều kiện kinh tế – xã hội khách quan với tư cách là nguồn gốc sinh ra tiêu cực còn tồn tại. Tuy nhiên, việc ngăn chặn các tệ nạn xã hội kém hiệu quả lại chính là do thiếu sót chủ quan của bộ máy nhà nước. Đó là do luật pháp chưa đầy đủ, cơ chế có nhiều sơ hở, ngay cả những vấn đề đã có luật pháp nhưng quản lý việc thi hành luật pháp không chặt chẽ và xử lý những vụ vi phạm luật pháp không nghiêm, thậm chí, còn có cả tiêu cực trong việc xử lý các vi phạm luật pháp.

    2 – Vấn đề cơ bản nhất để xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân là phải ra sức xây dựng một đội ngũ cán bộ viên chức nhà nước có đầy đủ phẩm chất và năng lực.

    Trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang thực hiện một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường chứa đựng cả mặt tích cực và tiêu cực. Kinh tế thị trường thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân phát triển, thúc đẩy xu hướng “thương mại hóa” các quan hệ xã hội, thúc đẩy con người chạy theo đồng tiền bằng mọi giá.

    Chủ nghĩa cá nhân, như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ là “bệnh mẹ” đẻ ra muôn vàn bệnh tật khác. Một khi con người rơi vào chủ nghĩa cá nhân thì đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, cộng đồng, xa rời phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, lâm vào tham ô, hối lộ, xa dân, dối trá, lời nói không đi đôi với việc làm, phá vỡ đoàn kết, phá hoại kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    Trong môi trường kinh tế – xã hội hiện nay, chủ nghĩa cá nhân trong hàng ngũ cán bộ, viên chức nhà nước đang có cơ hội phát triển. Tình trạng tham nhũng trong bộ máy Đảng, Nhà nước đang trở nên bức xúc. Tham nhũng đã được Đảng đánh giá là quốc nạn. Nó lại gắn liền với quan liêu cửa quyền, hách dịch, lãng phí… Nhiều hiện tượng sa sút phẩm chất, chạy theo quyền lực bằng mọi cách như xu nịnh, tạo phe cánh để ngoi lên, lừa đảo về bằng cấp, chứng chỉ, thành tích… thậm chí có cả việc đút lót, mua quan bán tước cũng đã diễn ra.

    Thực trạng này đang phá hoại nghiêm trọng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì nhân dân gắn bó máu thịt với Đảng không phải chỉ bằng đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng mà bằng cả tấm gương đạo đức, lối sống trong sáng hàng ngày của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Vấn đề xây dựng đạo đức đang trở thành vấn đề hàng đầu của công cuộc xây dựng bộ máy nhà nước. Trong công cuộc xây dựng này, việc chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần tập thể, cộng đồng phải là phương hướng cơ bản của công tác tư tưởng. Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là chà đạp lên cá nhân con người, phủ nhận vai trò to lớn của cá nhân trong đời sống xã hội mà là chống cái ác, cái xấu của chủ nghĩa cá nhân, làm cho cá nhân con người phát triển lành mạnh luôn luôn hành động vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng và của bản thân. Phải hết sức coi trọng giáo dục đạo đức nhưng cũng không biến quá trình giáo dục thành một quá trình đạo đức đơn thuần mà đi đôi với giáo dục phải xử lý nghiêm minh mọi sự vi phạm luật pháp của bất cứ ai.

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một việc làm mới mẻ. Mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ, mô hình mới đang được khai phá, thử nghiệm và chưa phải mọi vấn đề đã sáng tỏ.

    Kẻ thù đang ra sức xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa và đang thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ.

    Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã đưa lại sự xuất hiện kinh tế tri thức và “chính phủ điện tử”. Để việc quản lý kinh tế tri thức cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội trong thời đại ngày nay được nhạy bén, kịp thời và thực sự khoa học thì sự quản lý đó phải được thực hiện với năng lực, trí tuệ cao và phương tiện kỹ thuật hiện đại.

    Việc thực hiện nhiệm vụ từng bước phát triển kinh tế tri thức như Đại hội IX của Đảng đã đề ra cũng như việc chống lại các nguy cơ nêu trên, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước có một tầm cao về năng lực trí tuệ, phẩm chất tư duy và năng lực nghiệp vụ.

    Chúng ta hiểu quản lý một cách khoa học công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch đối với xã hội nói chung cũng như đối với từng lĩnh vực riêng lẻ của đời sống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan và các xu thế tiến bộ của sự phát triển xã hội vì lợi ích của quần chúng nhân dân lao động.

    Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải hướng vào việc chống các hiện tượng tiêu cực của bản thân người cán bộ, tiêu cực trong xã hội; phải xây dựng dân chủ và kỷ luật làm hai yếu tố cơ bản để hình thành nhân cách con người; hình thành bầu không khí chính trị đạo đức xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là xây dựng tính gương mẫu về đạo đức của người cán bộ, viên chức nhà nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước, Cơ Quan Nhà Nước Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý
  • Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật Thế Giới
  • Xã Hội Chiếm Hữu Nô Lệ
  • Hệ Thống Kho Bạc Nhà Nước Trực Thuộc Bộ Tài Chính: Chặng Đường 30 Năm Xây Dựng Và Phát Triển
  • Kế Toán Kho Bạc Nhà Nước Là Gì? Chức Năng Nhiệm Vụ Của Kế Toán Kho Bạc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100