Những Giải Pháp Bước Đầu Trong Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người
  • Bí Quyết Lập Lịch Bảo Trì Và Giám Sát Thực Hiện Công Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Làm Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
  • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Biểu diễn nghệ thuật tại Ngày hội Văn hóa các dân tộc Việt Nam năm 2014.

    Các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa đã đề xuất nhiều ý kiến thiết thực để thực hiện và đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, lối sống; về văn hóa chính trị – kinh tế, tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển công nghiệp văn hóa, thực hiện hội nhập quốc tế.

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành T.Ư Ðảng khóa XI (Nghị quyết T.Ư 9 khóa XI – Nghị quyết số 33 NQ/TW) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã được ban hành ngày 9-6-2014. Nghị quyết thể hiện tầm nhìn chiến lược và bước phát triển quan trọng trong tư duy, lý luận của Ðảng ta về văn hóa; về vị trí, vai trò của văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng cùng quá trình toàn cầu hóa với nhiều biến động về kinh tế – chính trị thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Trong phát biểu đề dẫn hội thảo, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ Anh Tuấn đã nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng mang tính chiến lược của Nghị quyết T.Ư 9 khóa XI (Nghị quyết T.Ư 9); là sự tiếp nối, kế thừa Nghị quyết T.Ư 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” thời kỳ đổi mới, nhưng ở tầm cao hơn, mang lại những nhận thức mới về văn hóa, thể hiện quyết tâm của Ðảng ta trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    Xây dựng hệ giá trị cốt lõi con người Việt Nam

    Mục tiêu của Nghị quyết T.Ư 9 là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; đưa văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững. Trong đó, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện là nhiệm vụ đầu tiên, được đặt ở vị trí quan trọng trong sáu nhiệm vụ của Nghị quyết nêu ra. Ðề cập về nhiệm vụ này, GS, TS Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư khẳng định: Suy cho cùng, mọi hoạt động phát triển văn hóa cũng đều hướng đến xây dựng con người, bởi con người là chủ thể của sáng tạo, là tài nguyên, nguồn lực quan trọng nhất để phát triển quốc gia. Vì thế, cần tập trung xây dựng con người Việt Nam với việc cụ thể hóa những chuẩn mực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các chuẩn mực đó chính là “hệ giá trị con người”, là những giá trị cốt lõi mà con người cần hướng tới như Nghị quyết T.Ư 9 đã chỉ ra: có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật…, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo… Ðể làm được điều này, cần huy động được mọi nguồn lực từ gia đình, nhà trường và cộng đồng cũng như sự chung tay giúp sức của toàn xã hội. Từ góc nhìn mở rộng mang tính thực tiễn về xây dựng con người, chăm lo bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, GS, TS Ðinh Xuân Dũng, Ủy viên Hội đồng Lý luận T.Ư cho rằng, việc lập kế hoạch và lộ trình để xây dựng và hoàn thiện hệ thống các hệ giá trị mới của con người Việt Nam là đòi hỏi rất cao và mới đối với văn hóa giai đoạn tới, bởi những năm qua, cuộc vận động xây dựng con người mới, tuy có bề rộng, nhưng chưa sâu, chưa bền vững, hiệu quả còn hạn chế và hình ảnh con người Việt Nam hiện đại còn mờ nhạt trong sáng tạo văn hóa, văn học – nghệ thuật. Do đó, cần tập trung cho việc cụ thể hóa hệ giá trị đó thành những mẫu hình, chuẩn mực phù hợp với từng giới, từng ngành, địa phương, đơn vị, kết hợp sâu sắc giữa giá trị truyền thống tốt đẹp và giá trị mới. Ðấu tranh kiên quyết chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo sư cũng đề nghị cần triển khai chương trình giáo dục văn hóa, giáo dục thẩm mỹ, nâng cao chất lượng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường, từ phổ thông đến đại học, bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, thiếu niên; nhấn mạnh tới bốn giá trị lớn mà văn hóa phải chăm lo nuôi dưỡng cho thanh niên là: lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, vẻ đẹp đạo đức, bản lĩnh văn hóa. Ðể làm được điều này, cần phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ, những người hoạt động văn hóa. GS, TS Ðinh Xuân Dũng cũng thẳng thắn cảnh báo về tình trạng đường lối, chủ trương nghị quyết là đúng, nhưng tổ chức thực hiện kém, làm một cách hời hợt, hình thức, kết quả là chủ trương không đi vào được cuộc sống, vẫn nằm trên các trang giấy. Chính từ những lo ngại đó, GS, TS Ðinh Xuân Dũng đã đề nghị cần Thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Ðảng về văn hóa thành pháp luật, chính sách của Nhà nước, bảo đảm quá trình chăm lo bồi dưỡng nhân cách thế hệ trẻ, xây dựng con người phát triển một cách toàn diện.

    Bổ sung vào quan điểm nêu trên, PGS, TS Từ Thị Loan, quyền Viện trưởng Văn hóa – Nghệ thuật quốc gia Việt Nam lưu ý: Cần nhanh chóng xác lập và hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Theo đó, kế thừa tất cả những gì tinh hoa trong cội nguồn văn hóa dân tộc, đồng thời bổ sung những giá trị mới của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hệ giá trị mới, định hướng giá trị của con người Việt Nam hiện nay cần được xây dựng và củng cố trong các mối quan hệ đa chiều: truyền thống và hiện đại, cá nhân và cộng đồng, lý tưởng và hiện thực, dân tộc và quốc tế, địa phương và nhân loại…, kiên quyết khắc phục các thói hư, tật xấu và những mặt hạn chế của con người Việt Nam, ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Có như vậy, việc hiện thực hóa hệ giá trị đó trong thực tiễn mới có tính khả thi, hiệu quả và có sức sống.

    Ðể tạo dựng các giá trị văn hóa tốt đẹp trong con người, cần xây dựng và củng cố một môi trường văn hóa lành mạnh. Theo TS Vũ Thị Phương Hậu, Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong bối cảnh môi trường văn hóa Việt Nam còn nhiều tình trạng lai căng, ngoại lai, tệ nạn xã hội, tội phạm… có chiều hướng gia tăng, để làm trong sạch môi trường văn hóa, trước hết, cần tập trung xây dựng văn hóa gia đình và nâng cao nhận thức của xã hội, nhất là của lớp trẻ về gia đình, về văn hóa gia đình. Các lớp học tiền hôn nhân cần được tổ chức rộng khắp trên cả nước để trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết cho các bạn trẻ trước khi quyết định xây dựng tổ ấm cho mình. Bên cạnh đó, cần xây dựng và hình thành văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính Nhà nước, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi mà trong đó mọi thành viên đều có thể phát huy hết khả năng sáng tạo của mình, gánh vác nhiệm vụ do Nhà nước và nhân dân giao phó, đồng thời đáp ứng nhu cầu của nhân dân và phục vụ xã hội được tốt hơn. Một biện pháp quan trọng là kiện toàn hệ thống thiết chế văn hóa để các chính sách, giá trị văn hóa đi vào cuộc sống. Ðồng thời, phát triển và quản lý tốt thị trường văn hóa phẩm, vừa đáp ứng được mọi nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp trong xã hội, vừa tạo ra những định hướng, tác động tích cực đối với công chúng. Bàn về giải pháp thể chế hóa các chính sách về văn hóa, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai TS Trần Hữu Sơn nhấn mạnh, phải đặc biệt chú ý đến việc xây dựng cơ chế đặc thù để phát triển văn hóa cho từng vùng, miền. Ông đã nêu lên thực tiễn hoạt động và phát triển văn hóa ở khu vực miền núi phía bắc về cơ chế vận hành của đời sống văn hóa dân gian, người dân không chỉ có nhu cầu hưởng thụ mà còn trực tiếp tham gia sáng tạo, phân phối các sản phẩm văn hóa… Từ thực tế này, cần quan tâm nghiên cứu cơ chế vận hành dân gian để đề xuất các chính sách hỗ trợ, tổ chức các hoạt động văn hóa ở miền núi một cách phù hợp.

    Trong xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa, không thể không chú trọng đến giải pháp giáo dục, đào tạo, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu con người PGS, TS Mai Quỳnh Nam khẳng định: Bản chất của xây dựng con người là đào tạo con người, và bản chất của đào tạo con người là đào tạo học vấn. Do đó, cần nâng cao chất lượng đào tạo ở các cơ sở giáo dục, bên cạnh đó, cũng cần có cái nhìn thẳng thắn vào những hạn chế trong tư tưởng, tính cách của người Việt Nam, xác định những rào cản trong vấn đề xây dựng con người để tìm giải pháp khắc phục, thay đổi. Theo TSKH Phạm Ðỗ Nhật Tiến, Bộ Giáo dục và Ðào tạo, việc xây dựng quan hệ đối tác giáo dục – văn hóa là lời giải cơ bản cho bài toán xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Quan hệ này cần được thiết lập dựa trên thế mạnh của từng đối tác, cùng chia sẻ trách nhiệm và nguồn lực, nhằm đem lại kết quả đầu ra mong muốn trong xây dựng con người Việt Nam. Trưởng Ban Tuyên truyền – lý luận Báo Nhân Dân, nhà báo Nguyễn Hòa đã nêu bật văn hóa khoa học và giáo dục là tiền đề quan trọng để phát triển bền vững. Ðể định hướng cho văn hóa giáo dục trong một tương lai dài, cần chấn chỉnh lại các đơn vị kiến thức giảng dạy trong trường học các cấp. Cần thiết phải nhấn mạnh nội dung giáo dục truyền thống, giáo dục công dân, không để tình trạng những môn học này thuần túy thi lấy điểm mà thiếu tác động tới sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ. Trong giáo dục, sự chệch hướng rất dễ nảy sinh từ các vấn đề nêu trên và hậu quả sẽ hết sức tai hại khi thế hệ tương lai không được đào tạo một cách đúng đắn.

    Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa

    Ðể văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển, nhất thiết phải xác định được vai trò của văn hóa trong tổ chức, hoạt động chính trị cũng như phát triển kinh tế – xã hội. GS, TS Hoàng Chí Bảo, Hội đồng Lý luận Trung ương nhấn mạnh: Xây dựng văn hóa trong chính trị là đòi hỏi tất yếu, làm cho chính trị vì con người, vì dân phải là chính trị có văn hóa, chính trị trở thành văn hóa chính trị và sự trưởng thành của mỗi con người chính trị, mỗi tổ chức chính trị, mỗi hoạt động, hành vi chấp chính cũng như tham chính đều được đo lường, đánh giá bằng thước đo văn hóa. Muốn xây dựng văn hóa trong chính trị, phải chú trọng xây dựng con người, hoàn thiện nhân cách trong hoạt động chính trị, từ những công dân của nhà nước pháp quyền đến cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ chức vụ, được giao trọng trách ở các cấp, các ngành. Theo ông, văn hóa trong chính trị, nhất là trong Ðảng, Nhà nước phải biểu hiện thành văn hóa trong Ðảng – văn hóa lãnh đạo, cầm quyền và trở thành văn hóa trong Nhà nước – văn hóa quản lý và quản trị. Ðội ngũ cán bộ, đảng viên của Ðảng, đội ngũ công chức của Nhà nước, của chính quyền các cấp trong hệ thống công quyền được giáo dục và thực hành văn hóa trong chính trị phải tỏ ra là những chủ thể của văn hóa chính trị, tận tụy, trách nhiệm, gương mẫu trong công việc, trong quan hệ, trong ứng xử với dân theo yêu cầu trọng dân và trọng pháp. Bàn về giải pháp xây dựng văn hóa trong Ðảng, GS, TS, NGND Trần Văn Bính, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Trong tình hình hiện nay, để xây dựng văn hóa trong Ðảng, phải tập trung chống chủ nghĩa cá nhân. Chỉ có quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì mới xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân…

    Xây dựng văn hóa trong Ðảng cũng là cách để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Ðảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực văn hóa, mà giải pháp nòng cốt là tập trung xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý đến cán bộ làm công tác khoa học, đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ… Theo Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật T.Ư PGS, TS Ðào Duy Quát, để thực hiện giải pháp cơ bản và quan trọng này, cần chú ý đến bốn nội dung: Thứ nhất, tập trung xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa, trong đó coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; bố trí cán bộ làm công tác khoa học. Thứ hai, quan tâm xây dựng các trường văn hóa nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo. Thứ ba, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, thể thao ở các nước phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ trong các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa phương. Chú trọng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các chuyên ngành văn hóa. Thứ tư, có chính sách phát hiện, bồi dưỡng sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Ðiều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù.

    Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc hội nhập văn hóa và tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa thế giới là xu hướng tất yếu của phát triển văn hóa. PGS, TS Phạm Duy Ðức, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, một trong những giải pháp quan trọng để chủ động hội nhập văn hóa là cần xây dựng môi trường đối ngoại văn hóa lành mạnh, nhất là xây dựng một số trung tâm văn hóa ở trong nước và nước ngoài có chức năng “môi giới”, lựa chọn, phiên dịch, giới thiệu những thành tựu văn hóa của thế giới vào Việt Nam và Việt Nam ra nước ngoài. Ðặc biệt chú ý tới vai trò của thông tin văn hóa đối ngoại trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, các trường đại học, các viện nghiên cứu.

    Bàn về việc thúc đẩy thế chủ động trong hội nhập quốc tế về văn hóa, nhiều đại biểu tham dự Hội thảo đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của việc phát huy “sức mạnh mềm” của các giá trị văn hóa. TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện Nghiên cứu Trung Quốc (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã đưa ra khái niệm phổ biến và mang tính toàn vẹn mà thế giới đang công nhận như sau: “Sức mạnh mềm văn hóa là sức hấp dẫn, thu phục, khả năng ảnh hưởng, lôi cuốn của một quốc gia đối với các quốc gia khác bằng các giá trị văn hóa, tinh thần, hệ tư tưởng được thực hiện thông qua các phương thức mang tính phi cưỡng chế… nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế. Sức mạnh mềm văn hóa còn là khả năng một quốc gia chủ động tiếp nhận, hấp thu, tiếp biến có chọn lọc những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài, đồng thời có sức chống đỡ, hóa giải được những tác động nguy hại, gây xói mòn các giá trị nền tảng và làm suy yếu bản sắc văn hóa, gây tổn hại chủ quyền văn hóa quốc gia”. Với nội hàm đó, theo Viện trưởng Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh TS Nguyễn Toàn Thắng, để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước tiên cần tôn trọng luật pháp quốc tế, thực hiện đạo lý nhân loại, phát huy sức cảm hóa và sức hấp dẫn của CNXH. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển truyền thông đại chúng, quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam trên toàn cầu; tập trung xây dựng “sức mạnh mềm” văn hóa trong cộng đồng dân cư, thường xuyên giáo dục nâng cao dân trí cộng đồng trên cơ sở coi trọng và phát huy vai trò của triết học mác-xít, khoa học xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Phát Triển Lĩnh Vực Văn Hóa, Gia Đình Của Tỉnh Giai Đoạn 2022
  • Thực Trạng,giải Pháp Phát Triển Nền Văn Hóa Trong Thời Kỳ Mới
  • Câu 1. Cho Biết Đoạn Thơ Trên Thuộc Thể Thơ Nào? (0,25 Điểm)
  • Hội Thảo “các Giải Pháp Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Nhằm Phát Triển Văn Hóa Đọc”
  • Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa Đọc Trong Cộng Đồng
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng, Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cho Nền Nông Nghiệp Sạch
  • Những Giải Pháp Cho Một Nền Nông Nghiệp Thông Minh
  • Tìm Giải Pháp Cho Nền Nông Nghiệp Thông Minh
  • Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Nào Cho Vấn Nạn Thất Nghiệp?
  • 12/13/2020 3:40:00 PM thanhnga 55 lượt xem Giới thiệu

    Thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 2022, sáng ngày 10 tháng 12 năm 2022, Hội đồng nghiệm thu đề tài khoa học khoa Lý luận đại cương, Trường CĐ VHNT Nghệ An tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học Thực trạng và giải pháp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay của TS Phạm Thị Thanh Nga, giảng viên khoa Lý luận đại cương. Trong đề tài của mình, TS Phạm Thị Thanh Nga đã đề cập đến thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đường lối, chính sách của Đảng xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc qua các kỳ đại hội, đặc biệt là qua Cương lĩnh của Đảng năm 2011.

    Nếu Đại hội VI của Đảng mở đầu cho công cuộc đổi mới thì với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991), Đại hội VII đã hoạch định đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có đường lối về văn hóa. Trên cơ sở xác định “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong sáu đặc trưng của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Cương lĩnh năm 1991 chỉ ra nội dung, phương hướng căn bản xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước nhằm “tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”.

    Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI của Đảng đã tổng kết, đánh giá những kết quả to lớn đạt được cùng với những hạn chế, khó khăn và những vấn đề còn tiếp tục phải giải quyết. Từ những bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình tổng kết thực tiễn ấy, Đảng ta đã có nhiều nhận thức mới về mặt lý luận làm cơ sở cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng – Cương lĩnh năm 2011. Đối với lĩnh vực văn hóa, từ quan điểm nhất quán về một “nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”, Cương lĩnh năm 2011 và Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-NQ/TW), đã tiếp tục làm sâu sắc hơn nội dung, tính chất, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, cũng như mối quan hệ giữa văn hóa với con người và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

    Trong định hướng đường lối, Nghị quyết số 33-NQ/TW yêu cầu ” Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội “. Đây là một đòi hỏi xuất phát từ nhận thức về bản chất, tầm quan trọng của văn hóa. Đồng thời, đó cũng chính là yêu cầu từ thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Trên thực tế, trong khi những thành tựu về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của chúng ta rất to lớn, thì thành tựu trong lĩnh vực văn hóa là “chưa tương xứng”, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra với tính chất “nền tảng tinh thần” cho sự phát triển đất nước. Sự hạn chế về văn hóa thể hiện trên nhiều khía cạnh, từ đạo đức, lối sống, môi trường văn hóa, cơ sở hạ tầng văn hóa, đến đời sống văn hóa, quản lý, giáo dục văn hóa, văn hóa truyền thông, chất lượng các công trình văn hóa, nghệ thuật… Nguyên nhân của những hạn chế đó bắt nguồn từ nhận thức về văn hóa chưa rõ, chưa đủ, dẫn đến tập trung quan tâm cho chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác mà chưa coi trọng đúng tầm cho văn hóa, chưa có những giải pháp tích cực, cách làm hiệu quả, chưa có sự đầu tư các nguồn lực hợp lý để xây dựng, phát triển nền văn hóa đất nước.

    Cương lĩnh năm 2011 cũng đã có bước đi quan trọng trong nhận thức về con người. Đó là sự kế thừa nhất quán, sáng tạo những nhận thức đúng đắn, nhân văn của Đảng ta về con người, thể hiện ở mục đích của cuộc cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo thực hiện chính là vì giải phóng con người, vì hạnh phúc nhân dân. Nhưng muốn đạt đến mục đích chung nhất ấy cần phải nắm được tính chất, yêu cầu của vấn đề con người, mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa con người với văn hóa và các lĩnh vực khác trong những điều kiện cụ thể. Trong điều kiện đất nước bị thực dân đô hộ, đế quốc giày xéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và cũng là đặt ra mục tiêu cụ thể của cách mạng là “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu có tính lịch sử, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề con người được Đảng quan tâm toàn diện hơn, sâu rộng hơn. Bởi thế, Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Từ nhận thức con người là nhân tố quyết định, là mục tiêu của phát triển, đồng thời là “tác giả”, là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển, Nghị quyết số 33-NQ/TW triển khai thành quan điểm chỉ đạo: “Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế”. Cương lĩnh năm 2011 cũng đồng thời đề ra yêu cầu quan tâm đầy đủ hơn, toàn diện hơn đến con người về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, về điều kiện, khả năng phát triển một cách toàn diện, về việc được bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng trong mối quan hệ hài hòa với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Và toàn bộ sự phát triển xã hội là nhằm mục đích “vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ trong mối quan hệ gắn bó với “quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Nhận thức đó cũng là sự kế thừa, tiếp nối quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, dựa vào “sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Tóm lại, x ây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII , ngày 16 tháng 7 năm 1998. Trong đó, tính tiên tiến và bản sắc dân tộc được hòa quyện, gắn bó hữu cơ trong các yếu tố cấu thành của nền văn hóa, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, vừa giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đảm bảo tính mở, tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại. Đồng thời, nội hàm của tính tiên ti ến và bản sắc văn hóa cũng được xác định rõ, phù hợp với mục tiêu, đặc điểm, truyền thống của đất nước trong quá trình đi lên CNXH. Theo đó, tiên tiến trong văn hóa trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức thể hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung; bản sắc văn hóa dân tộc, là các giá trị đặc trưng, tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, bản chất riêng của nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, đó cũng là tổng hòa các khuynh hướng sáng tạo văn hóa, được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, thể chế chính trị…trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Bản sắc văn hóa được thể hiện rõ trong truyền thống dân tộc, là các giá trị văn hóa tiêu biểu được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được khai thác và phát huy, tiếp tục bồi đắp, tạo nên dòng chảy văn hóa của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

    Mục tiêu chung hướng đến của quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam là phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, hướng tới chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có bước đi phù hợp, thích ứng với điều kiện, trình độ phát triển về kinh tế, xã hội, bối cảnh trong nước và quốc tế. Trong quá trình đó, việc từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 2011 đã chỉ rõ, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”, Nghị quyết 33-NQ/TW, khóa XI ngày 9 tháng 6 năm 2014, đưa ra 5 quan điểm: (1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. (2) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. (3) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, có lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. (4) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. (5) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội đều phải đề cao nhân tố văn hóa, con người. Mọi hoạt động văn hóa, từ bảo tồn, phát huy các di sản lịch sử, văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản đến bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa tôn giáo, xây dựng các thiết chế văn hóa,… đều phải phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người”.

    Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã giúp cho đời sống vật chất được cải thiện không ngừng – một điều kiện cơ bản, hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển của con người Việt Nam. Thu nhập bình quân đầu người trong cả nước năm 2022 đã tăng hơn 2 lần so với thời điểm năm 2010. Đầu tư của Nhà nước cho khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhất là đường giao thông, hạ tầng giáo dục, được quan tâm hơn. Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước từ 14,2% giảm còn dưới 3% năm 2022 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Chương trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả quan trọng, thực sự góp phần cải thiện toàn diện cuộc sống của cư dân nông thôn. Dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng, thuận lợi về điều kiện tiếp cận. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh, từ 60,9% năm 2010 lên 90,7% năm 2022. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam được cải thiện từng năm, thuộc nhóm nước có chỉ số phát triển con người trung bình cao của thế giới. Công tác bảo vệ môi trường sống, ứng phó với những nguy cơ từ an ninh phi truyền thống, như nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường… được chú trọng, bắt đầu từ hoàn thiện thể chế, chính sách đến việc dự báo, phát hiện và xử lý kịp thời.

    Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện rộng rãi với những chế định bảo đảm ngày càng chặt chẽ. Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện quyền làm chủ của người dân, bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của họ trong các quyết định về kinh tế – xã hội ở các địa phương. Việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã thúc đẩy sự hình thành văn hóa đảng, văn hóa trong chính trị, với nội dung cơ bản là tôn vinh và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh, các đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu đi đầu trước nhân dân của cán bộ, đảng viên và toàn hệ thống chính trị. Hàng loạt các phong trào, như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022 – 2022”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, xây dựng gia đình văn hóa mới, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân… đã góp phần tạo nên chuyển biến to lớn trong xây dựng con người, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, xuống cấp về đạo đức xã hội, tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, tích cực.

    Các hoạt động văn hóa, như văn học, nghệ thuật, thư viện, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, đều được quan tâm phát triển, có những công trình, tác phẩm có giá trị, có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Chỉ tính riêng năm 2022, 59 nhà xuất bản trong cả nước đã xuất bản trên 33.000 đầu sách với 400 triệu bản in, hàng nghìn sách điện tử đã được phát hành. Hệ thống báo chí, truyền thông đại chúng phát triển nhanh, ngày càng hiện đại. Hàng trăm kênh phát thanh, truyền hình đang hoạt động, trong đó có nhiều kênh kết nối, hợp tác quốc tế. Theo số liệu thống kê năm 2022, ở Việt Nam đang có 64 triệu người sử dụng in-tơ-nét, chiếm 66% dân số, 143,3 triệu thuê bao điện thoại, bằng 148% dân số, trong đó phần lớn người dân sử dụng điện thoại thông minh, loại phương tiện có thể truy cập in-tơ-nét mọi nơi, mọi lúc trên lãnh thổ Việt Nam. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại tạo điều kiện mở và thuận lợi cho người dân Việt Nam có nhiều cơ hội để mở mang tri thức, giao lưu, kết nối văn hóa với các dân tộc, các nền văn hóa trên thế giới. Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao đều có sự mở rộng, đạt nhiều kết quả tích cực.

    Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích . Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.

    Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập. T ình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.

    Cùng với những kết quả to lớn trong 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, lĩnh vực văn hóa cũng đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên lĩnh vực này cũng còn không ít hạn chế.

    về văn hóa và mối quan hệ giữa xây dựng văn hóa với phát triển con người, về vai trò, vị trí của văn hóa trong xây dựng, phát triển đất nước, có nơi, có lúc chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Triển khai đường lối xây dựng văn hóa của Đảng trong Cương lĩnh và các nghị quyết Đại hội Đảng chưa thật đồng bộ và toàn diện. Một số cấp ủy đảng, chính quyền còn lúng túng trong việc thể chế hóa yêu cầu coi văn hóa ngang bằng với chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Việc xây dựng và xác định hệ giá trị chuẩn mực văn hóa, con người Việt Nam còn chậm, kéo theo sự lúng túng, không thống nhất trong việc xây dựng các quy định, chuẩn mực văn hóa trong chính trị, kinh tế, trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.

    Trong , tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội tuy đã được cải thiện, song vẫn còn diễn biến phức tạp. Hưởng thụ văn hóa giữa đô thị với nông thôn, giữa đồng bằng, trung du với khu vực vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch. Tệ nạn xã hội, tội phạm còn phức tạp, tồn tại nhiều hiện tượng trái với thuần phong, mỹ tục, làm cho môi trường văn hóa chưa thật lành mạnh. Những kết quả trong hoạt động văn học, nghệ thuật, trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển nhanh nhưng chưa hợp lý; còn có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích trong một số cơ quan, đơn vị; công tác quản lý các phương tiện truyền thông mới chưa chặt chẽ, nhiều thông tin tiêu cực, sai trái trên mạng in-tơ-nét và các kênh truyền thông xã hội gây nhiễu loạn nhận thức, bức xúc cho người dân. Đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc còn nhiều hạn chế. Nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa còn nhiều hạn chế, bất cập. Hợp tác quốc tế về văn hóa hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

    Từ yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình và kết quả thực hiện Cương lĩnh năm 2011, người nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp để xây dựng nền văn hóa đất nước trong thời gian tới

    hát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng

    ở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa; đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước con người Việt Nam với thế giới

    Có thể khẳng định rằng, cho đến nay những đánh giá về thực trạng văn hóa nước ta; về phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa mà các nghị quyết từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, mỗi cấp ủy và chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần xem xét nghiêm túc trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, đẩy mạnh công tác phát triển văn hóa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh”chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phải, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”… Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước. Tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người suy thoái, tha hóa về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, XII)về xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị”.

    Hội đồng bỏ phiếu đánh giá xếp loại đề tài đạt loại xuất sắc. Kết luận phiên nghiệm thu, T h.S Lê Thị Thắng , Chủ tịch Hội đồng ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được của đề tài, yêu cầu t ác giả tiếp thu đầy đủ những ý kiến đánh giá, nhận xét của Hội đồng để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện đề tài đạt chất lượng cao hơn và sớm đưa vào thực hiện, phục vụ hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Bai 10 Chủ Trương, Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc”.
  • Những Định Hướng Xây Dựng Nền Văn Hóa Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Tim Giải Pháp Cho Giao Thông Hà Nội
  • Quy Hoạch Chung Chưa Quyết Định Giải Pháp Cho Giao Thông Hà Nội
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Để Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Thông Qua Đổi Mới Tổ Chức Hoạt Động Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Một Vài Giải Pháp Giúp Nâng Cao Văn Hoá Đọc Của Sinh Viên Saigonact
  • Đề Thi Thử Thpt Lần 3 Môn Văn
  • Các đại biểu đều đánh giá cao những kết quả mà TP. Hồ Chí Minh đã đạt được trong thời gian qua, tuy nhiên, trong thời gian tới TP cần đẩy mạnh triển khai thực hiện NQ 33 hơn nữa để xứng tầm là một đô thị đặc biệt của cả nước

    Đó là ý kiến của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng trong buổi làm việc giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy TP Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết33) sáng ngày 20/4, tại TP Hồ Chí Minh.

    Báo cáo tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến cho biết, quán triệt quan điểm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, TP Hồ Chí Minh luôn xem trọng nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa, xác định rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.

    Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết 33, nhận thức về vai trò của văn hóa trong đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc về trách nhiệm xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân TP được nâng lên, thể hiện rõ trong nhận thức và hành động. Truyền thống yêu nước, cách mạng, năng động, sáng tạo của TP tiếp tục được bồi đắp, phát huy. Lòng nhân ái, tình yêu thương đồng bào, đồng chí được vun đắp và tiếp tục phát triển. Đức tính nghĩa tình từng bước trở thành nét văn hóa phổ biến, đặc trưng của người dân TP, thể hiện qua nhiều phong trào.

    Bên cạnh đó, công tác xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa đạt kết quả quan trọng, đời sống văn hóa ở cơ sở được cải thiện, nâng cao. Các phong trào thi đua yêu nước với sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân đem lại hiệu quả thiết thực. Xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, người tốt việc tốt, góp phần xây dựng lối sống văn hóa trong mỗi cá nhân, gia đình.

    Đồng chí Trần Lưu Quang, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại buổi làm việc

    Hoạt động văn học – nghệ thuật phong phú, sôi động, có nhiều sáng tạo. Đội ngũ văn nghệ sĩ của TP không ngừng phát triển. Hệ thống thiết chế văn hóa từng bước được củng cố. Hoạt động của hệ thống bảo tàng, thư viện, di tích, di sản văn hóa, các đoàn nghệ thuật, các trung tâm, nhà văn hóa… đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, đáp ứng tốt nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân.

    Đồng chí Trần Vĩnh Tuyến nhấn mạnh, bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 33 của TP cũng còn tồn tại một số hạn chế như: công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về văn hóa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa thường xuyên; nhận thức về xây dựng và phát triển văn hóa, con người của một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa thật sâu sắc. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có một số lãnh đạo TP đã tác động tiêu cực ảnh hưởng tới niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tác động của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và mặt trái của kinh tế thị trường dẫn tới nhiều hệ quả tiêu cực, lối sống thực dụng, văn hóa ngoại lai thiếu lành mạnh thâm nhập làm xói mòn, phai nhạt giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc.

    Đồng chí Trần Vĩnh Tuyến cũng thẳng thắn cho rằng, những thành tựu đạt được trong lĩnh vực văn hóa chưa ngang tầm với vị trí, vai trò, khả năng và yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển TP.

    Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, TP sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về văn hóa và đạo đức xã hội, góp phần kéo giảm phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo quản lý văn hóa đúng thực chất. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa và phát triển con người.

    TP sẽ chú trọng xây dựng văn hóa trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục củng cố, hình thành và phát triển những giá trị tinh thần mang nét đặc trưng của nhân dân TP mang tên Bác. Đẩy mạnh hơn nữa các phong trào thi đua yêu nước nhằm chăm lo nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân; nâng chất lượng, chiều sâu của những phong trào có tính đặc trưng của TP và củng cố, phát triển đa dạng, sáng tạo mô hình mới.

    Phát biểu tại buổi làm việc, các đại biểu đánh giá cao những kết quả mà TP Hồ Chí Minh đã đạt được khi triển khai thực hiện Nghị quyết 33. Đồng tình với báo cáo của TP, các đại biểu cho rằng, TP Hồ Chí Minh là một địa phương có vị trí, vai trò đặc biệt do đó trong xu hướng phát triển đặc biệt là hội nhập quốc tế sâu rộng, TP cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng yêu cầu chính trị và nhu cầu của người dân. TP cũng cần quan tâm rút ngắn khoảng cách về mức hưởng thụ văn hóa giữa người dân khu vực thành thị và khu vực nông thôn; cần đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 33 gắn chặt với các Nghị quyết của Đảng, của TP.

    Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang ghi nhận và tiếp thu ý kiến các đại biểu. Đồng chí Trần Lưu Quang cho rằng, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người luôn được TP quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả nhất định. Tuy nhiên, các kết quả đạt được chưa như kỳ vọng và yêu cầu thực tế. Đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủy cũng chia sẻ về tình hình kinh tế – xã hội của TP hiện nay, trong đó có nhiều khó khăn mà TP đang phải đối mặt và đang xây dựng những giải pháp để giải quyết như ô nhiễm môi trường, quá tải bệnh viện, tệ nạn xã hội…Trong thời gian tới, cùng với nỗ lực của TP trong việc triển khai các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai Nghị quyết 33, TP mong muốn Trung ương tiếp tục quan tâm sâu sát hơn nữa, hỗ trợ TP trong quá trình triển khai các chương trình, nhiệm vụ.

    Ghi nhận những kết quả mà TP. Hồ Chí Minh đã đạt được, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng cho rằng TP cần nỗ lực hơn nữa để xứng tầm với vị trí, vai trò của mình

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng ghi nhận và đánh giá cao kết quả thực hiện Nghị quyết 33 tại TP. Hồ Chí Minh. Đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng vấn đề xây dựng phát triển văn hóa, con người. Trong nhận thức của Đảng, đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế và chính trị. Từ Đại hội XII và các nghị quyết của Trung ương luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng phát triển văn hóa, con người. Gần đây nhất trong hội nghị tổng kết kinh tế – xã hội năm 2022, triển khai nhiệm vụ năm 2022, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đề ra yêu cầu phải cân bằng giữa vấn đề kinh tế – văn hóa, giữa văn hóa – con người và kinh tế, không chỉ tập trung cho kinh tế đồng thời nhấn mạnh rằng, kinh tế suy yếu một vài năm có thể sẽ phục hồi nhưng nếu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, văn hóa phải mất nhiều thời gian để phục hồi.

    Đối với TP Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt, là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo, giao lưu và hội nhập quốc tế của vùng và cả nước, có vị trí chính trị quan trọng, có sự hội tụ và lan tỏa. Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời gian vừa qua, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng phát triển văn hóa, con người. TP đã ban hành chương trình kế hoạch, có nhiều giải pháp cụ thể, thực hiện đạt kết quả quan trọng và toàn diện.

    Trong nhận thức, TP đã đặt văn hóa ngang bằng với kinh tế và chính trị, coi sự “văn minh, nghĩa tình” là những thành tố ngang bằng với phát triển kinh tế hiện đại, xây dựng TP “có chất lượng sống tốt”. TP có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, đầu tư đáng kể cho văn hóa, nghệ thuật; Công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa của TP phát triển mạnh mẽ; giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, giao lưu quốc tế về văn hóa của TP bài bản và phong phú…

    Tuy nhiên, đồng chí Võ Văn Thưởng cũng nhấn mạnh, so với vị trí và tiềm lực quan trọng của TP, với kỳ vọng của vùng và cả nước đối với TP thì còn nhiều vấn đề cần phải nỗ lực, cố gắng hơn. Việc đầu tư cho văn hóa còn chưa xứng tầm. TP là đô thị đặc biệt như thế, nhưng chưa có một “thánh đường” nghệ thuật nào, hệ thống bảo tàng, thư viện cũng chưa có thiết chế nào xứng tầm. Tác phẩm văn học nghệ thuật chưa phản ảnh được nhịp sống sôi động, mới mẻ của TP, chưa có những tác phẩm văn học nghệ thuật xứng tầm…

    Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đặt vấn đề tại sao trước đây đời sống còn nhiều khó khăn, kinh tế chưa phát triển, chính sách còn gò bó nhưng vẫn có những tác phẩm văn học đột phá như thế, mà bây giờ lại thiếu?

    Đồng chí Võ Văn Thưởng lắng nghe những chia sẻ của lãnh đạo TP bên lề buổi làm việc

    TP luôn vì cả nước, mọi quyết sách, việc làm của TP luôn là tâm điểm của dư luận, thu hút sự quan tâm của cả nước, việc thực hiện tốt hay không tốt Nghị quyết 33 của TP nói riêng hay các nghị quyết của Đảng nói chung đều có ý nghĩa lớn, tác động đến việc thực hiện các nghị quyết của Đảng trên phạm vi cả nước. Do đó, đồng chí Võ Văn Thưởng đề nghị TP hệ thống lại cái gì đã làm tốt thì cần làm tốt hơn, chưa tốt thì làm cho tốt, cái gì đã nhận thức và có kế hoạch rồi thì cố gắng triển khai.

    “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người luôn đòi hỏi cả việc xây và chống, trong đó xây là cơ bản, còn chống phải quyết liệt. TP cần nỗ lực hơn nữa để đạt được những kết quả tốt hơn, tương xứng với tiềm lực của mình và yêu cầu phát triển bền vững. TP phải là nơi đóng góp để hoàn thiện đường lối của Đảng, kinh nghiệm về thực hiện các mô hình hay nhân rộng cho cả nước”, đồng chí Võ Văn Thưởng nhấn mạnh./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tọa Đàm Các Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Kon Tum: Giải Pháp Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Trong Thời Gian Tới
  • Bộ Công An Đề Ra 6 Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Tham Nhũng “vặt”
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Các Đơn Vị, Địa Phương
  • Giải Pháp Phát Triển Mô Hình Du Lịch Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Tâm Linh Tại Khu Di Tích Gò Tháp
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Di Sản Văn Hóa
  • Tphcm Đẩy Mạnh Phát Triển Các Loại Hình Du Lịch Văn Hóa
  • Nguyễn Phúc Lưu. Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Di Sản Văn Hóa
  • Phát Triển Công Nghiệp Văn Hóa Đi Đôi Với Xây Dựng, Hoàn Thiện Thị Trường Văn Hóa
  • 1. Du lịch văn hóa: Những chiều tác động và tính bền vững trong phát triển / Nguyễn Thị Phương Châm

    Tóm tắt: Nội dung bài viết trình bày về khái niệm du lịch văn hóa, những chiều hướng tác động của du lịch văn hóa đến các giá trị văn hóa. Từ đó, tác giả cho thấy tính bền vững trong quá trình phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

    Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, 2022, Số 3 (183), tr. 3-11

    2. Vai trò của du lịch văn hóa trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hoàng Anh

    Tóm tắt: Bài viết đề cập đến đôi nét về du lịch văn hóa, thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra định hướng phát triển du lịch văn hóa trong thời gian tới: (1) tiếp tục đầu tư việc khai thác bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa; (2) đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững; (3) tăng cường mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch; (4) đầu tư cho việc bảo tồn và tôn tạo các giá trị văn hóa.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 8/2019, Số 422, tr. 5-8

    3. Phát huy giá trị của bảo tàng trong du lịch văn hóa / ThS. Phan Thị Thái Hà

    Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vai trò của ngành Bảo tàng trong phát triển mô hình du lịch văn hóa. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp về nguồn nhân lực; đổi mới nội dung trình bày, đa dạng hóa hình thức trưng bày hiện vật tại Bảo tàng; xác định thị trường khách tham quan du lịch; đầu tư xây dựng của hàng lưu niệm; xây dựng biểu tượng độc đáo, đặc trưng cho từng địa điểm; xây dựng kế hoạch tuyên truyền quảng bá để thu hút khách tham quan, …

    Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2022, Số 9, tr. 32-33

    4. Những quan điểm tiếp cận mới trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa qua con đường du lịch ở Việt Nam hiện nay / Dương Văn Sáu

    Tóm tắt: Bài viết trình bày các quan điểm tiếp cận mới về bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa. Từ đó, tác giả đưa ra các nhiệm vụ trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị của di sản văn hóa qua con đường du lịch: biến di sản thành tài sản, biến văn hóa thành hàng hóa, biến tài nguyên thành tài chính, biến môi trường thành thị trường, biến nguồn lực thành động lực, biến giá trị thành giá cả.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 9/2019, Số 423, tr. 49-52

    5. Phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững / Tô Đức Hạnh

    Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của du lịch Việt Nam qua các khía cạnh; tốc độ phát triển du lịch; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch; các điểm đến các sản phẩm du lịch và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một só giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2022, Số 7, tr. 74-82

    Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD – Tài liệu KH&CN Việt Nam) Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

    1. Du lịch văn hóa ở Việt Nam – một cách nhìn toàn cảnh / Trần Thúy Anh, Phan Quang Anh

    Tóm tắt: Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch khám phá và trải nghiệm bản sắc văn hóa với tham gia của cộng động theo tôn chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Các nước đang phát triển được thế giới công nhận là điểm đến trong thời đại mới của loại hình du lịch này và Việt Nam, với tư cách là một nền kinh tế đang đà đi lên hội nhập quốc tế cũng không phải là ngoại lệ.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 49-54

    2. Hướng tới quy hoạch du lịch văn hóa hiệu quả ở vùng ven biển / Geoffrey Wall

    Tóm tắt: Khu vực duyên hải là môi trường phức tạp về mặt hình thái, văn hóa và hành chính. Về mặt hình thái lãnh thổ, chúng bao gồm cả phần đất liền, biển và làn ranh giới khúc khuỷu ở giữa. Chúng có độ rộng thay đổi tùy theo khu vực và thẩm quyền, cũng như độ cao và chiều sâu. Hơn nữa, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quá trình diễn ra sâu trong đất liền mà cụ thể ở đây là những nguồn nước có khối lượng và chất lượng khác nhau từ những con sông tạo ra và những ảnh hưởng này được phân bố bởi các dòng chảy.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 30-36

    3. Nghiên cứu giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch gắn với đời sống văn hóa cộng đồng tỉnh An Giang thời kỳ hội nhập / Nguyễn Phú Thắng

    Tóm tắt: An Giang là nơi sinh sống của nhiều thành phần dân tộc, trong đó có người Kinh, Hoa, Chăm, Khơ – me. Các cộng đồng dân tộc với những nét văn hóa phong phú là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng. Trong bối cảnh hoạt động du lịch của tỉnh còn đơn điệu về hình thức, việc phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với đời sống văn hóa cộng đồng là một hướng đi quan trọng nhằm thu hút khách du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Trên cơ sở phân tích các lợi thế, thách thức trong phát triển sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng tỉnh An Giang thời kì hội nhập, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở An Giang.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Giáo dục (Đại học Sư phạm – Đại học Huế), 2022, Số 2, tr. 96-104

    4. Du lịch văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa / Vũ Thị Lương, Nguyễn Thị Thảo

    Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa, bài viết đánh giá những tác động của toàn cầu hóa tới văn hóa và phát triển du lịch văn hóa. Đồng thời, nhận định việc khai thác các giá trị văn hóa trong du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa.

    Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2022, Số 8, tr. 39-41

    5. Phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc thù văn hóa truyền thống, địa lí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực trạng và giải pháp / Nguyễn Thị Hằng

    Tóm tắt: Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Mỗi quốc gia, vùng, miền đều coi trọng sự phát triển du lịch văn hóa, nhằm góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong qua trình hội nhập. Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong bảy vùng du lịch của cả nước có nguồn tài nguyên và văn hóa đa dạng, với các sản phẩm du lịch phong phú. Tuy nhiên, trong hoạt động du lịch, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu điểm nhấn. Vì vậy, cần tìm ra giải pháp để phát triển mạnh mẽ du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, việc tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái phù hợp với đặc thù Đồng bằng Sông Cửu Long là cấp thiết.

    Nguồn trích: Tạp chí Khoa học chính trị, 2022, Số 7, tr. 79-83

    Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Các Ngành Công Nghiệp Văn Hóa: Cần Những Bước Đột Phá
  • Chiến Lược Phát Triển Các Ngành Công Nghiệp Văn Hóa
  • Đề Xuất Giải Pháp Xây Dựng Công Nghiệp Văn Hóa
  • Phát Triển Công Nghiệp Văn Hóa Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Cần Giải Pháp Thích Hợp Để Phát Triển Ngành Công Nghiệp Văn Hóa
  • Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Công Tác Cán Bộ Và Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Nhận Rõ Hơn Nữa Quan Điểm Và Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chiến Lược Của Đảng Ta
  • Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Chiến Lược
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Cơ Sở Tại Thành Phố Đà Nẵng
  • Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ, Giáo Viên Tại Trường Mẫu Giáo Hoa Phượng Quận Thốt Nốt
  • Nhận diện văn hóa doanh nghiệp

    Khái niệm về văn hoá doanh nghiệp (DN) đã được đưa ra luận bàn từ lâu trên thế giới song cho đến nay vẫn còn khá nhiều cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho rằng, văn hoá DN là văn hoá của một tổ chức, vì vậy nó không đơn thuần là văn hoá giao tiếp hay văn hoá kinh doanh. Nó là giá trị, niềm tin, chuẩn mực được thể hiện trong thực tế và trong các hành vi mỗi thành viên DN. Bằng những quan niệm khác nhau mà người ta ứng xử nó cũng khác nhau trong chính mỗi DN. Cũng có quan điểm cho rằng, văn hóa DN thể hiện thông qua suy nghĩ, hành vi ứng xử, thói quen của những con người trong tổ chức chứ không phải những điều khắc ghi trên giấy…

    Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên viết: Văn hoá DN là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của mỗi DN trong môi trường chung, đó là những quan niệm, tập quán, truyền thống của dân tộc, tác động của môi trường tới hoạt động của DN, tác động này chi phối tình cảm, lý trí, cách suy nghĩ và hành vi ứng xử của mỗi thành viên trong DN và trong cộng đồng DN với người sử dụng sản phẩm của DN.

    Văn hoá DN còn được coi là nền tảng để phát triển DN, được cấu thành bởi mục đích kinh doanh và phương pháp kinh doanh. Là tổng hoà các quan niệm về giá trị được tạo ra từ đạo đức, ý tưởng kinh doanh, triết lý kinh doanh, mục đích kinh doanh, phương pháp kinh doanh và hiệu quả phục vụ cho chính những con người cần cù lao động sáng tạo để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội… Dù có diễn giải thế nào thì văn hoá DN vẫn phải dựa trên cơ sở là cách thức ứng xử của mỗi thành viên trong DN mà biểu hiện của nó là các hành vi quản lý lao động, sáng tạo lao động và các hoạt động của DN phải phù hợp với các quy định của pháp luật trong mặt bằng chung và của hiệp hội ngành nghề nói riêng.

    Kinh nghiệm xây dựng văn hóa doanh nghiệp

    Nghiên cứu tại một số nước tiên tiến trên thế giới cũng cho thấy, hầu hết các DN thành công trên thế giới đều duy trì, gìn giữ nếp văn hoá DN của mình thành nếp sinh hoạt truyền thống để giáo dục cho cán bộ, công nhân, người lao động của DN đó. Đi sâu nghiên cứu văn hóa của các DN Nhật Bản bài viết rút ra được nhiều bài học quý báu cho quá trình xây dựng văn hóa DN Việt Nam. Trong đó, có thể tóm lại một số nét độc đáo của văn hóa DN Nhật Bản như sau:

    Về triết lý kinh doanh: Phần lớn các DN Nhật Bản hiện nay đều có triết lý kinh doanh. Triết lý kinh doanh có ý nghĩa giúp cho nhân viên công ty có thể trả lời cho các câu hỏi quan trọng: “Công ty này tồn tại vì cái gì? Tiến hành công việc kinh doanh này với mục đích gì và theo cách nào?”. Thông qua triết lý kinh doanh, các DN Nhật Bản truyền tải và tôn vinh các giá trị chủ đạo xác định nền tảng cho sự phát triển, gắn kết mọi người và làm cho khách hàng biết đến DN. Triết lý kinh doanh của các DN Nhật Bản luôn đi kèm với quan niệm phát triển DN không chỉ vì lợi nhuận mà còn vì phục vụ con người, phát triển đất nước.

    Theo quan niệm của người Nhật: “Trong bất kỳ ai cũng đồng thời tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, tài năng dù ít nhưng đều ở đâu đó trong mỗi cái đầu, khả năng dù nhỏ nhưng đều nằm trong mỗi bàn tay, cái tâm có thể còn hạn hẹp nhưng đều ẩn trong mỗi trái tim, nhiều khi còn ở dạng tiềm ẩn, hoặc do những cản trở khách quan hay chủ quan. Vấn đề là gọi thành tên, định vị nó bằng các chuẩn mực của tổ chức, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, thúc đẩy bằng đào tạo, sẵn sàng cho mọi người tham gia vào việc ra quyết định theo nhóm hoặc từ dưới lên”. Chính quan niệm này đã khiến cho các DN Nhật Bản rất quan tâm đến con người, xem công tác đào tạo và phát triển nhân viên là đầu tư chứ không phải chi phí, từ đó đề ra được nhiều giải pháp phát huy tính tích cực, sáng tạo của nhân viên.

    Còn tại Mỹ và các nước phương Tây, việc quyết định số phận của một DN là các cổ đông. Cổ đông lại luôn yêu cầu nhà quản lý phải nâng cao lợi nhuận của DN thông qua việc nâng cao chỉ số cổ tức. Vì mục đích lợi nhuận được đặt lên hàng đầu nên văn hóa DN được đặt sang hàng thứ yếu, và vì vậy ngày càng xuất hiện nhiều người bị thất nghiệp do không có công việc làm. Đây là mặt trái, nhưng qua đó cũng cho thấy, người lao động dù bất cứ ở lĩnh vực nào cũng phải luôn cố gắng, tự nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề để đảm bảo có công ăn việc làm, đảm bảo cuộc sống cho cá nhân, gia đình.

    Tóm lại, khi bàn về vận dụng văn hoá DN như thế nào tức là chúng ta phải giải bài toán mối quan hệ của cá nhân với cá nhân, cá nhân với lãnh đạo, cá nhân với DN, DN trong nước với DN trong nước, DN trong nước với DN nước ngoài… trên nền tảng lợi ích và mục tiêu, quyền lợi và trách nhiệm…

    Giải pháp xây dựng và phát huy văn hoá doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn hiện nay

    Để có được văn hoá DN thời hội nhập theo đúng nghĩa, thì trách nhiệm của từng cá nhân và lãnh đạo DN Việt Nam là phải chủ động tìm hiểu các quy định của luật pháp quốc tế trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh; Tìm hiểu kinh nghiệm ứng xử khi có các sự kiện tranh chấp thương mại; Nghiên cứu, cập nhật thông tin kinh doanh, bám sát thị trường để ra các quyết định hợp lý, nhằm đem lại lợi nhuận ngày một cao.

    Một là, tạo môi trường thuận lợi cho văn hoá kinh doanh Việt Nam hình thành và phát triển. Trước hết, cần tạo dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Thể chế kinh tế là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến văn hoá DN. Văn hoá kinh doanh không thể được phát huy một cách có hiệu quả dưới thể chế kinh tế tập trung, bao cấp. Vì vậy, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần đẩy mạnh thực hiện nghiêm chỉnh, hiệu quả luật sở hữu trí tuệ, luật bảo hộ thương hiệu, trợ giúp các DN đăng ký bảo hộ thương hiệu trong và ngoài nước. Hoàn thiện và quản lý nghiêm ngặt việc thực thi luật bảo hiểm xã hội, luật lao động để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, khuyến khích các DN nâng cao ý thức tôn trọng và bảo vệ người lao động của mình.

    Hai là, Nhà nước cần khuyến khích hình thành và phát triển các trung tâm tư vấn về văn hóa DN như cấp giấy phép hoạt động nhanh, không thu hoặc thu thuế thu nhập thấp trong một số năm nhất định… Bên cạnh giải cúp vàng doanh nhân văn hóa, Nhà nước cần có thêm giải DN văn hóa để khuyến khích, động viên và tôn vinh các DN đầu tư xây dựng văn hóa mạnh, làm tấm gương cho các DN khác học hỏi.

    Ba là, các hiệp hội ngành nghề hỗ trợ các DN tăng cường nhận thức về văn hóa DN và văn hóa kinh doanh bằng các hoạt động cụ thể như tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các hội thảo, các chương trình đào tạo, tham quan học hỏi hoặc cấp các dự án cấp bộ về vấn đề văn hóa kinh doanh và văn hóa DN.

    Bốn là, xây dựng chiến lược đầu tư cho con người để phát huy tài năng và sức sáng tạo lao động của mỗi cá nhân trong DN qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Năm là, tích cực tuyên truyền, phổ biến các kiến thức pháp luật và kiến thức chuyên ngành cho tất cả mọi thành viên trong DN.

    Sáu là, tổ chức các cuộc thi, giao lưu văn hoá và tìm hiểu biết pháp luật giữa các thành viên của các DN.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Thời Kỳ Hội Nhập
  • Giải Pháp Tối Ưu Cho Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Tốt Văn Hóa Công Sở Thông Qua Họat Động Giao Tiếp Trong Trường Học Hiện Nay
  • Văn Hóa Công Sở: Không Chỉ Thực Hiện Nghiêm Ở Nơi Làm Việc Mà Còn Ở Nơi Sinh Sống
  • Quận 11: Đẩy Mạnh Giải Pháp Thực Hiện Văn Hóa Công Sở
  • Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022
  • Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục
  • Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua
  • Kinh tế Việt Nam từ những năm 1986 đến nay đã trải qua sự biến đổi sâu sắc : từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trưòng theo định hướng Xã hội chủ nghĩa; từ tăng trưởng thấp những năm 80 sang tăng trưởng cao những năm 90; khủng hoảng rối loạn sang ổn định và phát triển. Năm 1985, Gorbacher đã nên nắm chính quyền tại Liên xô, cùng với sự sụp đổ của các nước Đông Âu cũ, Việt Nam bị cắt giảm nguồn viện trợ từ nước ngoài và đến năm 1991 thì bị cắt hẳn. Do đó, nguyên vật liệu đầu vào như sắt thép, dầu hoả, máy móc thiết bị.Việt Nam hoàn toàn phải mua với giá cao làm cho chi phí sản xuất tăng nhanh. Lạm phát chi phí đẩy xảy ra. Khi lạm phát chi phí đẩy xảy ra, càng đẩy các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn và để hỗ trợ nền sản xuất trong nước, đặc biệt là các xí nghiệp quốc doanh, Chính phủ Việt Nam lại in thêm tiền làm tăng mức cung ứng tiền trong nền kinh tếlại dẫn đến lạm phát tiền tệ , điều đó càng đẩy tỉ lệ lạm phát lên cao. Đồng thời năm 1985, Việt Nam thực hiện cuộc cải cách giá, tiền lương, tiền mà đỉnh cao là sự kiện đổi tiền vào tháng 9 và lạm phát cũng bùng nổ ngay sau đó. Năm 1986 chúng ta đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát với ba chữ số 775% vào năm 1986 trong khi đó tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2,33%. Đến năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương thực cuối năm giảm 3,5% và đầu năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi phí đẩy lại tiếp diễn. .Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng hoá , lương thực, vàng và đô la càng nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3,78%. Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với mức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995. Như vậy, trong giai đoạn này lạm phát xảy ra ban đầu là do chi phí đẩy, sau đó là do tăng mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí đẩy, tiếp tục sau đó lạm phát cầu kéo xảy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480
  • Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt 8 Nhóm Giải Pháp Trong Đó Kiềm Chế Lạm Phát Là Hàng Đầu
  • Một Số Vấn Đề Mới Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo “chất Lượng Công Tác Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị: Thực Trạng Và Giải Pháp”
  • Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị Khu Vực Kinh Thành Huế: Hiện Trạng Và Những Giải Pháp Cải Thiện
  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị
  • Giáo Dục Trẻ Mầm Non Giữ Gìn Vệ Sinh Môi Trường
  • Giữ Gìn Vệ Sinh Môi Trường
  • Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

    Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

    Thiếu tướng, PGS, TS. Nguyễn Vĩnh Thắng

    TCCSĐT- Nhận thức rõ tầm quan trọng, vai trò to lớn của văn hóa, con người trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước gần 30 năm qua, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng “con người xã hội chủ nghĩa”.

    Những thành quả to lớn của công cuộc xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. TrongTrong

    Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Sự ra đời của Nghị quyết đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết của yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong thời kỳ mới, khi mà tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ có nhiều diễn biến mới. Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu khí Hải Dương – 981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đang đe dọa nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, bên cạnh kết quả, thành tựu đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, làm xuất hiện những vấn đề phức tạp mới ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

    Trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa, con người, thì sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đã, đang và sẽ tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống trong xã hội. Quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế với sự du nhập của những văn hóa phẩm độc hại đang len lỏi, tác động vào đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, làm suy giảm phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Sự chống phá của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong đang hằng ngày, hằng giờ tác động làm xói mòn những giá trị, những quan hệ văn hóa, đạo đức, lối sống tốt đẹp trong xã hội.

    Trên cơ sở kế thừa những quan điểm, chủ trương, nội dung và giải pháp của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, tổng kết lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong những năm qua, nhất là từ việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người, Đảng ta đã có sự đổi mới trong tư duy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Những đổi mới tư duy lý luận, những vấn đề phát triển mới về xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI được thể hiện trên một số nội dung sau đây:

    Trong bối cảnh hiện nay, khi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong điều kiện mới, cùng với những thời cơ, thuận lợi, là những khó khăn, thách thức mới, cho nên hơn lúc nào hết, vấn đề phát triển bền vững đất nước được đặt ra với yêu cầu cao hơn. Chỉ có phát triển bền vững mới bảo đảm cho dân tộc ta, đất nước ta giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, mới bảo đảm cho chúng ta đứng vững và tiếp tục phát triển. Vì vậy, không thể thiếu vai trò của văn hóa, của con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực tinh thần to lớn của sự phát triển bền vững. Thứ nhất, việc đặt tên của Nghị quyết “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam…” đã thể hiện sự phát triển mới về tư duy của Đảng ta khi khẳng định: Một mặt, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người đều phải được đặt ra, không chỉ có xây dựng, mà còn phải có phát triển, phát triển trên cơ sở đã xây dựng; ngược lại, không chỉ có phát triển, mà còn phải có cả xây dựng mới. Có nội dung phải bắt đầu xây dựng mới do yêu cầu mới của thực tiễn, mà trước đây chưa xây dựng được, có nội dung trước đây đã xây dựng nhưng trước sự đòi hỏi mới của thực tiễn phải có sự bổ sung, phát triển, hoàn thiện hơn. Mặt khác, xây dựng và phát triển văn hóa phải gắn chặt với vấn đề xây dựng và phát triển con người Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đặc biệt, Nghị quyết đã nhấn mạnh quan điểm phát triển con người, gắn phát triển văn hóa với sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa thì trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp. Ở đây xây dựng, phát triển văn hóa và con người luôn gắn kết chặt chẽ, tác động lẫn nhau, hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau nhằm đạt tới mục tiêu chung là văn hóa và con người đều được xây dựng, phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

    Thứ hai, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật Đảng ta đã khẳng định sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng về tư duy, nhận thức, về đời sống văn hóa, về những giá trị chuẩn mực văn hóa, các sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật… cũng như về các phong trào, hoạt động văn hóa, công tác quản lý, đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém về xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng con người, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội; về đời sống văn hóa tinh thần, nhất là vùng sâu, vùng xa; về cơ chế, chính sách, về quản lý văn hóa; về hệ thống thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác văn hóa. Nghị quyết cũng đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên nhân chủ quan từ nhận thức, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; công tác quản lý nhà nước về văn hóa, việc đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, cũng như việc quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực…

    Thứ ba, quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013, các Nghị quyết, Kết luận của các hội nghị Trung ương khóa XI, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang và sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường.

    mục tiêu chung, Nghị quyết đã nhấn mạnh đến vấn đề “Xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Tư tưởng xây dựng nền văn hóa và con người phải “thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, coi đây là các đặc trưng của nền văn hóa mà chúng ta phải xây dựng và phát triển là một luận điểm mới. Đó là sự kế thừa tinh thần của Đề cương Văn hóa năm 1943 để bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vừa đúng với quan điểm lý luận, vừa đáp ứng đúng yêu cầu mới của thực tiễn. Đồng thời, trong mục tiêu chung về xây dựng và phát triển văn hóa, Nghị quyết đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa, phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh hiện nay không thể thiếu vai trò của văn hóa, thậm chí mất văn hóa là mất tất cả. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không thể thiếu sức mạnh của văn hóa nói chung, văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng. Trong điều kiện một nước đất không rộng lắm, người không đông lắm, kinh tế, khoa học chưa phát triển mạnh, vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự chưa thật nhiều và hiện đại lại phải đương đầu với những thế lực xâm lược có kinh tế, khoa học, quân sự phát triển thì sức mạnh của văn hóa, của văn hóa quân sự có vai trò cực kỳ quan trọng.

    các mục tiêu cụ thể, Nghị quyết đã giành vị trí và nội dung thỏa đáng cho vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa với những luận điểm mới về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nhất là quan niệm “Xây dựng văn hóa trong chính trị, kinh tế và trong gia đình” và “Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa”. Đây là những vấn đề khá mới mẻ trong tư duy mới về xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng ta. Quán triệt quan điểm gắn xây dựng và phát triển văn hóa với xây dựng và phát triển con người, Nghị quyết đã giành vị trí và dung lượng thỏa đáng cho vấn đề xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với việc xác định “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”.

    Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là hoàn toàn phù hợp với những yêu cầu, giá trị, chuẩn mực của văn hóa Việt Nam, của con người Việt Nam trong thời kỳ mới, khi mà chúng ta đang xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, mà nét nổi bật là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế trong điều kiện khoa học và công nghệ đang có bước phát triển mới, các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động chống phá nước ta bằng “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, con người.

    Thứ tư, nhằm thực hiện mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết đã chỉ ra năm quan điểm chỉ đạo. Trong đó có những nội dung đã thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng văn hóa, con người như: “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Đây là một luận điểm mới thể hiện Đảng ta đã rất coi trọng vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa. Thực tiễn công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là trong những cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định vai trò to lớn của sức mạnh văn hóa Việt Nam. Đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội thể hiện rõ quan điểm sức mạnh tổng hợp của đất nước phải là sức mạnh của cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Theo đó, việc đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ thể hiện trong nhận thức, quan điểm, tư tưởng, tình cảm… mà điều quan trọng hơn là phải được thể hiện trong tổ chức hoạt động thực tiễn xây dựng và phát triển bền vững đất nước.

    Trong điều kiện hiện nay, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới thì vấn đề xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được đặt ra với yêu cầu mới cao hơn. Đó phải là những con người tiêu biểu về tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội với những nét biểu hiện mới. Chẳng hạn, yêu nước ngày nay là phải trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, khẳng định vai trò và sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, kiên quyết đấu tranh phê phán những quan điểm hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Yêu nước ngày nay là phải quyết tâm xây dựng đất nước vững mạnh toàn diện, ngày càng phát triển bền vững, giữ vững độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài; đồng thời, phải góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Thứ năm, Nghị quyết đã đặt nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách lên hàng đầu. Có thế giới quan khoa học, hướng tới chân – thiện – mỹ. Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường. Nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm con người. Nâng cao thể lực, tầm vóc, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống… Trong xác định nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế, Đảng ta cũng nhấn mạnh “trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân”.

    Việc xác định rõ và cụ thể nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là sự thể hiện tư duy mới của Đảng ta khi đặt vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới với những đặc điểm mới đã, đang và sẽ chi phối, tác động đến văn hóa, con người, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế tri thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo quan niệm mới về phát triển bền vững đất nước.

    Nghị quyết đã xác định rõ những giải pháp, biện pháp toàn diện, đồng bộ, cụ thể và có tính khả thi trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong điều kiện mới, từ những giải pháp, biện pháp về nhận thức, trách nhiệm của tổ chức, con người, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, xây dựng đội ngũ nòng cốt hoạt động trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa, con người, đến cơ chế, chính sách, đầu tư nguồn lực cả nhân lực, vật lực cho hoạt động xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước chỉ có thể đem lại những thành tựu to lớn khi chúng ta quan tâm sâu sắc, đầy đủ đến việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp cao cả xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Thứ sáu, để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết đã chỉ ra những giải pháp mới về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa; tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa. Có thể thấy, trong Nghị quyết lần này Đảng ta hết sức coi trọng vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa cho phù hợp với thời kỳ mới. Đặc biệt nhấn mạnh đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa và vai trò của chính những con người, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Việc ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay, thể hiện tư duy mới trong lãnh đạo văn hóa của Đảng ta, trên cơ sở kế thừa và phát triển tư duy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người được thể hiện trong các kỳ Đại hội Đảng, trong các Nghị quyết Hội nghị Trung ương các khóa trước, nhất là từ Đề cương Văn hóa năm 1943 và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Việc tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc, đầy đủ, nhất là những vấn đề phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng và phát triển văn hóa, con ngườiViệt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, trên cơ sở đó tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết, nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống, nhất định chúng ta sẽ thổi được một luồng gió mới vào công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

    Thiếu tướng, PGS, TS. Nguyễn Vĩnh Thắng

    --- Bài cũ hơn ---

  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Nội Dung Và Giải Pháp Xây Dựng Trường Xanh Sạch Đẹp Mot So Noi Dung Va Giai Phap Xay Dung Xanh Sach Dep Doc
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững
  • Vai Trò Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Vai Trò Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển
  • Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện
  • Xây Dựng Con Người Việt Nam Phát Triển Toàn Diện Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Một Số Vấn Đề Về Xây Dựng Con Người Việt Nam
  • MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 3 1. Bản chất của kinh tế tư nhõn 3 2. Tớnh tất yếu tồn tại kinh tế tư nhõn ở Việt Nam 4 3. Vai trũ của kinh tế tư nhõn 8 II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 13 1. Thực trạng phỏt triển 13 2. Nguyờn nhõn 18 III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 19 1. Những thuận lợi và khú khăn trong phỏt triển kinh tế tư nhõn 19 2. Một số giải phỏp phỏt triển kinh tế tư nhõn 22 2.a Cỏc vấn đề kinh tế vĩ mụ 22 2.b Cỏc vấn đề kinh tế vi mụ 27 IV. KẾT LUẬN 29 LỜI MỞ ĐẦU Trong xu thế toàn cầu húa hiện nay,đặc biệt là vấn đề hội nhập nền kinh tế thế giới đó và đang đặt ra những cơ hội cũng như những thỏch thức đối với nền kinh tế Việt Nam.Việt Nam đó và đang cú những bước tiến vững chắc trong việc phỏt triển nền kinh tế thị trường địng hướng xó hội chủ nghĩa,hội nhập cựng thế giới bằng việc phỏt huy nội lực đồng thời tranh thủ cỏc nguồn lực bờn ngoài thụng qua việc phỏt huy sức mạnh của cỏc thành phần kinh tế.Trong đú phải kể đến sự đúng gúp quan trọng của thành phần kinh tế tư nhõn trong việc phỏt triển nền kinh tế. Hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương khúa IX khẳng định: “kinh tế tư nhõn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dõn.Phỏt triển kinh tế tư nhõn là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xó hội chủ nghĩa”. Vậy trong việc phỏt triển kinh tế Việt Nam thành phần kinh tế tư nhõn đó cú vai trũ như thế nào? Hay tại sao Việt Nam lại phải phỏt triển kinh tế tư nhõn trong khi chỳng ta muụn hướng tới một xó hội xó hội chủ nghĩa nơi sở hữu tư liệu sản xuất là của tập thể.Việc xỏc định đỳng vai trũ của kinh tế tư nhõn và con đường đỳng đắn cho sự phỏt triển của thành phần kinh tế này là việc làm cấp thiết hiện nay, bởi vỡ hiện nay toàn cầu húa là một xu thế phỏt triển tất yếu trong tiến trỡnh phỏt triển của nhõn loại, chỳng ta khụng muốn bị cuốn vào vũng xoỏy dú một cỏch thụ động thỡ chỳng ta phải biết phỏt huy sức mạnh của cỏc thành phần kinh tế trong đú cú thành phần kinh tế tư nhõn, nú là một mắt xớch quan trọng trong việc nối kết nền kinh tế thị trường Việt Nam với nền kinh tế thị trường thế giới. Vỡ vậy em xin làm rừ về vai trũ của kinh tế tư nhõn ở Việt Nam và thực trạng phỏt triển của thành phần kinh tế này trong thời gian qua cũng như xin đưa ra một số ý kiến về giải phỏp phỏt triển thành phần kinh tế này. vai trò và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam hiện nay I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 1. BẢN CHẤT CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN: Việt Nam đang trong giai đoạn quỏ độ lờn chủ mghĩa xó hội, việc đổi mới đường lối phỏt triển kinh tế xó hội trong thời gian qua đó đem lại cho chỳng ta những bước tiến vượt bậc. Chỳng ta chấp nhận mở cửa hội nhập với thế giới, xõy dựng đường lối phỏt triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, phỏt huy nội lực đồng thời tranh thủ cỏc nguồn lực bờn ngoài để xõy dựng và phỏt triển kinh tế đất nước. Việc xõy dựng đường lối phỏt triển kinh tế như vậy là sự phự hợp với thực tế khỏch quan hiện nay ( phự hợp với điều kiện thực tế của kinh tế Việt Nam hiện nay và quỏ trỡnh toàn cầu húa đang diễn ra như một điều tất yếu trong quỏ trỡnh phỏt triển của lịch sử) vỡ vậy đó mang lại cho chỳng ta những thành tựu đỏng kể. Trong kết quả chỳng ta cú hụm nay phải kể đến sự đúng gúp ngày càng quan trọng vào sự phỏt triển kinh tế xó hội Việt Nam của khu vực kinh tế tư nhõn nhất là sau khi cú sự đổi mới đường lối phỏt triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Kinh tế tư nhõn là một loại hỡnh Kinh tế dựa trờn sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất, gắn liền với lao động cỏ nhõn người chủ sở hữu và lao động làm thuờ. Kinh tế tư nhõn ra đời, tồn tại và phỏt triển trong những điều kiện kinh tế xó hội nhất định, do trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất quyết định. Như vậy bản chất của lọai hỡnh kinh tế này đú là dựa trờn sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất. Người sở hữu tư liệu sản xuất là người chủ và họ luụn cú xu hướng tối đa húa lợi ớch mà mỡnh thu được vỡ vậy họ phải búc lột sức lao động của cụng nhõn làm thuờ. Mỗi phương thức sản xuất cú một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ỏnh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đú. Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thỡ chế tạo ra giỏ trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của nú. Thật vậy giỏ trị thặng dư, phần giỏ trị mới dụi ra ngoài giỏ trị sức lao động của cụng nhõn làm thuờ tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt phản ỏnh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ búc lột lao động làm thuờ. Mục đớch của sản xuất tư bản chủ nghĩa khụng phải là giỏ trị sử dụng mà là sản xuất ra giỏ trị thặng dư, là nhõn giỏ trị lờn. Theo đuổi giỏ trị thặng dư tối đa là mục đớch và động cơ thỳc đẩy sự hoạt động mỗi nhà tư bản, cũng như toàn bộ xó hội tư bản. Cỏc nhà tư bản luụn được bộ mỏy chớnh quyền tư bản bảo vệ lợi ớch nờn họ đó tỡm đủ mọi cỏch để búc lột giỏ trị thặng dư như tăng cường độ lao động, kộo dài thời gian lao động, tăng năng suất lao động… Chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy cú những điều chỉnh nhất định về hỡnh thức sỏ hữu,quản lớ, phõn phối để thớch nghi với điều kiện mới nhưng về bản chất thỡ khụng thay đổi. Nhà nước tư bản hiện nay tuy cú tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế xó hội nhưng về cơ bản nú vẫn là bộ mỏy thống trị của giai cấp tư sản. Xột trong điều kiện quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam hiện nay thỡ kinh tế tư nhõn chịu sự kiểm soỏt quản lý của nhà nước xó hội chủ nghĩa nờn khụng cũn hoàn toàn giống như kinh tế tư nhõn trong xó hội tư bản chủ nghĩa. Khỏi niệm kinh tế tư bản tư nhõn chỉ xuất hiện gắn liền với sự hỡnh thành và phỏt triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quỏ trỡnh đổi mới ở nước ta với sự xuất hiện và phỏt triển cỏc loại hỡnh doanh nghiệp của tư nhõn khụng đồng nghĩa với sự xuất hiện trở lại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản. Cỏc loại hỡnh doanh nghiệp tư nhõn hoạt động theo luật doanh nghiệp ở nước ta, được hỡnh thành và phỏt triển trong điều kiện cú sự lónh đạo của Đảng cộng sản, chịu sự quản lý của Nhà nước xó hội chủ nghĩa, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, được nhà nứơc khuyến khớch và bảo vệ khụng hoàn toàn do quy luật giỏ trị thặng dư chi phối. Hơn nữa cỏc loại hỡnh doanh nghiệp của tư nhõn và đội ngũ doanh nhõn ở nước ta được hỡnh thành và phỏt triển trong điều kiện mới, khụng hàm chứa tớnh chất giai cấp hay bản chất tư bản như dưới xó hội tư bản điều này được chứng minh là đó cú rất nhiều doanh nhõn là đảng viờn. Cỏc doanh nghiệp của tư nhõn nước ta đại diện cho một lực lựơng sản xuất mới, là một trong những động lực thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế, phỏt triển nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhõn bao gồm kinh tế cỏ thể, tiểu chủ, tư bản tư nhõn… 2.TÍNH TẤT YẾU TỒN TẠI KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM: * Quan điểm về kinh tế tư nhõn của Đảng trước khi đổi mới (1986) Kinh tế tư nhõn là đối tượng chớnh phải cải tạo, xúa bỏ. Vỡ kinh tế tư nhõn luụn đồng nghĩa với làm ăn cỏ thể búc lột, tự phỏt lờn con đường chủ nghĩa tư bản, vỡ thế kinh tế tư nhõn khụng thể là một chủ thể kinh tế để xõy dựng chr nghĩa xó hội. Sau cỏch mạng dõn tộc dõn chủ ở nước ta thỡ Đảng và Nhà nước đứng trước hai hỡnh thức sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất là sở hữu tư nhõn của những người sản xuất nhỏ(cỏ thể, thợ thủ cụng, tiểu thương…) và sở hữu tư nhõn của giai cấp tư sản dõn tộc Việt Nam. Đối với sở hữu tư nhõn của những ngừơi sản xuất nhỏ thỡ Nhà nước cải tạo bằng con đường vận động thuyết phục để đưa họ vào làm ăn tập thể. Cũn đối với sở hữu tư nhõn của giai cấp tư sản dõn tộc thỡ Nhà nước phõn làm hai đối tựơng, một đối tượng đú là cỏc nhà tư sản dõn tộc nhưng cú cụng với cỏch mạng và khỏng chiến thỡ Nhà nước cải tạo hũa bỡnh bằng cỏch chuộc lại hay chưng mua rồi sau đú chuyển thành sở hữu Nhà nước (sau đú vận động họ kết hợp với nhà nước để kinh doanh hỡnh thành cỏc xớ nghiệp cụng tư hợp doanh) Đối với nhà tư sản làm tay sai cho đế quốc phong kiến thỡ Nhà nước cải tạo bằng cỏch quốc hữu húa hay tịch thu toàn bộ tài sản biến thành sở hữu Nhà nước. Tuy nhiờn trong giai đoạn này ngay cả ở trong nghiệp là nơi diễn ra quỏ trỡnh xúa bỏ tư nhõn mạnh nhất nhưng sở hữu tư nhõn vẩn cũn tồn tại,trong thời gian này những ngừơi khụng vào tập thể hợp tỏc xó, làm ăn cỏ thể, tiểu thương… thường khụng được coi trọng, bị phõn biệt trong nhiều việc. * Từ sau đại hội VI kinh tế tư nhõn được thừa nhận tồn tại khỏch quan lõu dài cú lợi cho quốc kế dõn sinh trong thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội. Hội nghị lần thứ 5 BCH trung ương khúa IX khẳng định: ” Kinh tế tư nhõn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dõn. Phỏt triển kinh tế tư nhõn là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xó hội chủ nghĩa”. Tuy nhiờn trong thời kỳ hiện nay về mặt tõm lý vẫn cũn nhiều người nghi ngờ về tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhõn, họ vẫn giữ quan niệm cũ trước đổi mới cho rằng khụng nờn phỏt triển kinh tế tư nhõn, kinh tế tư nhõn đi liền với sự búc lột của tư bản, kinh tế tư nhõn là một rào cản trong con đường đi lờn chủ nghĩa xó hội của chỳng ta. Điều này đó tạo nờn tõm lý lo ngại cho một bộ phận khụng nhỏ trong xó hội và tạo thành một rào cản về mặt tõm lý trong việc xõy dựng phỏt triển kinh tế tư nhõn theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước. Việc Đảng và Nhà nước ta chủ trương xõy dựng phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xó hội chủ nghĩa là một việc làm đỳng đắn, thể hiện tầm nhỡn sõu, rộng, xuyờn suốt của Đảng. Việc xõy dựng đường lối chủ trương của Đảng đó gắn với thực tế, xuất phỏt từ thực tế phự hợp với điều kiện và tỡnh hỡnh phỏt triển của Việt Nam. Xuất phỏt từ thực tế thỡ nhà nước ta đó khuyến khớch phỏt triển kinh tế tư nhõn trong gần 20 trở lại đõy vỡ sự tồn tại phỏt triển của kinh tế tư nhõn hay phỏt triển nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quỏ độ đi lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam hiện nay là một sự tất yếu khỏch quan xuất phỏt từ những lý do sau: Thứ nhất: phự hợp với thực trạng của lực lượng sản xuất phỏt triển chưa đồng đều ở Việt Nam. Đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam là điểm xuất phỏt rất thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Điều đú cú nghĩa là trỡnh độ của lực lượng sản xuất ở nước ta cũn rất thấp kộm và do đú sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất vẫn cũn phự hợp với trỡnh độ của lực lượng sản xuất, là nhõn tố thỳc đẩy sự phỏt triển của lực lượng sản xuất. Bởi vậy trong giai đoạn đầu của thời kỳ quỏ độ lờn chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, sở hữu tư nhõn về tư liệu sản xuất chẳng những khụng cần phải xúa bỏ mà cũn cần được tạo mọi điều kiện để phỏt triển. Trỡnh độ lực lượng sản xuất của chỳng ta khụng những cũn rất thấp kộm mà cũn phỏt triển khụng đồng đều cú nhiều trỡnh độ khỏc nhau do đú trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hỡnh sở hữu khỏc nhau về tư liệu sản xuất dẫn đến tồn tại nhiều thành phần kinh tế. Trong lịch sử mỗi phương thức sản xuất cú một loại hỡnh sở hữu tư liệu sản xuất đặc trưng nhưng điều đú khụng cú nghĩa là mỗi phương thức sản xuất chỉ cú một hỡnh thức sở hữu tư liệu sản xuất mà cú thể cú nhiều loại hỡnh sở hữu tư liệu sản xuất khỏc nhau cựng tồn tại. Sự xuất hiện của cỏc hỡnh thức sở hữu tư liệu sản xuất do tớnh chất và trỡnh độ phỏt triển của cỏc lực lượng sản xuất quy định, lực lượng sản xuất khụng ngừng vận động biến đổi làm cho quan hệ sản xuất cũng khụng ngừng vận động biến đổi, tương ứng với mỗi trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất sẽ cú một kiểu quan hệ sản xuất. Do vậy sự chủ quan núng vội duy ý chớ trong việc xúa bỏ sở hữu tư nhõn, xỏc lập sở hữu cụng cộng về tư liệu sản xuất đều trỏi với yờu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phự hợp với tớnh chất trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất và phải trả giỏ. Điều này đó được thực tế ở Việt Nam trong những năm sau khi giành độc lập đến 1986 chứng minh. việc xúa bỏ vội vàng sở hũu tư nhõn, phỏt triển kinh tế kế hoạch húa tập trung đó làm cho kinh tế Việt Nam trỡ trệ, lõm vào khủng hoảng, lạm phỏt tăng cao…Vỡ vậy từ một nền sản xuất nhỏ với nhiều loại hỡnh sở hữu khụng thể tiến thẳng lờn chủ nghĩa xó hội thụng qua việc xúa bỏ chế độ tư hưu ngay. Thứ hai: trong quỏ trỡnh phỏt triển do điều kiện lịch sử đó để lại nhiều thành phần kinh tế như thành phần kinh tế tư nhõn, thành phần kinh tế cỏ thể tiểu chủ, thành phần kinh tế tự nhiờn của đồng bào dõn tộc ở dẻo cao phớa bắc và tõy nguyờn… mà chỳng ta khụng thể cải biến nhanh được. Hơn nữa sau nhiều năm cải tạo và xõy dựng quan hệ sản xuất mới mới đó xuất hiện thờm một số thành phần kinh tế mới: thàh phần kinh tế Nhà nước,thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư bản nhà nước… cỏc thành phần kinh tế này tồn tại khỏch quan và cú quan hệ với nhau. Thứ ba: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần là phự hợp với xu thế phỏt triển kinh tế khỏch quan của thời đại ngày nay, thời đại cỏc nước hướng về phỏt triển kinh tế thị trường cú sự quản lý vĩ mụ của Nhà nước. Quỏ trỡnh toàn cầu húa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trờn toàn thế giới, đõy là quỏ trỡnh phỏt triển tất yếu của lịch sử nhõn loại, nú tỏc động đến tất cả cỏc quốc gia trờn thế giới. Việc phỏt triển kinh tế thị trường sẽ giỳp Việt Nam cú những cơ hội to lớn để thỳc đẩy phỏt triển kinh tế trong quỏ trỡnh hội nhập với thế giới. Chỳng ta đang đàm phỏn để được gia nhập tổ chức WTO vỡ vậy nếu chỳng ta khụng phỏt triển thị trường thỡ chỳng ta sẽ khụng thể cạnh tranh được với cỏc nước trờn thế giới, dẫn tới việc lạc hậu, bị cuốn theo vũng xoỏy của toàn cầu húa. Thứ tư: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần phự hợp với lũng mong muốn thiết tha của người dõn Việt Nam là được đem hết tài năng, sức lực để lao động làm giàu cho đất nước và cho cả bản thõn mỡnh, làm cho cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phỳc. Thứ năm: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần cho phộp khai thỏc cú hiệu quả nhất cỏc tiềm năng hiện cú và đang cũn tiềm ẩn trong nước, cú thể tranh thủ tốt nhất sự giỳp đỡ từ bờn ngoài nhằm phỏt triển kinh tế hướng vào mục tiờu tăng trưởng nhanh và hiện đại húa. Chỉ cú phỏt triển nhiều thành phần kinh tế chỳng ta mới cú khả năng huy động mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật, tiềm năng về con người, mới cú thể ỏp dụng nhanh chúng cỏc thành tựu khoa học kỹ thuật để phỏt triển kinh tế và xõy dựng đất nước. Thứ sỏu: phỏt triển kinh tế nhiều thành phần mới cú khả năng giải quyết được vấn đề việc làm của chỳng ta. Nước ta cũn cú lực lượng lao động dồi dào (hơn 40 triệu lao động) cần cự thụng minh, song số người chưa cú việc làm hay thiếu việc làm cũn nhiều, vừa lóng phớ sức lao động, vừa gõy ra những khú khăn lớn về kinh tế xó hội ( thất nghiệp, tệ nạn…) Trong khi khả năng thu hỳt lao động của khu vực kinh tế nhà nước khụng nhiều thỡ việc khai thỏc, tận dụng tiềm năng của cỏc thành phần kinh tế khỏc là một trong những giải phỏp quan trọng để tạo thờm nhiều cụng ăn việc làm cho người lao động. Từ những lý do phõn tớch như trờn chỳng ta cú thể thấy việc Đảng và Nhà nước chủ trương phỏt triển kinh tế nhiều thành phần cú sự quản lý của Nhà nước là việc làm hết sức đỳng đắn phự hợp với thực tế, mong muốn của người dõn và lựa chọn đỳng con đường phỏt triển giữ vững định hướng xó hội chủ nghĩa. 3. VAI TRề CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN: Hội nghị lần thứ 5 BCH trung ương khúa IX đó khẳng định: “Kinh tế tư nhõn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dõn. Phỏt triển kinh tế tư nhõn là vấn đề chiến lược lõu dài trong phỏt triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xó hội chủ nghĩa…” Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của kinh tế tư nhõn đó được Đảng khẳng định và trờn thực tế khu vực kinh tế tư nhõn cũng đó và đang thể hiện được vai trũ của mỡnh trong nền kinh tế, và ngày càng cú những đúng gúp quan trọng trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhõn đang thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phỏt triển kinh tế xó hội ở nước ta. * Khu vực kinh tế tư nhõn đúng gúp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước GDP và thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng sản phẩm của khu vực kinh tế tư nhõn nhỡn chung tăng ổn định trong những năm gần đõy. Nhịp độ tăng trưởng năm 1997 là 12,89%; năm 1998 là 12,74%; năm 1999: 7,5%; năm 2000: 12,55% và chiếm tỷ trọng tương đối ổn định trong GDP, tuy năm 2000 cú giảm chỳt ớt so với năm 1996 (từ28,45% năm 1996 cũn 26,87% năm 2000). Tỷ trọng GDP của khu vực kinh tế tư nhõn trong tổng GDP giảm đi chỳt ớt do sự tham gia và đúng gúp của khu vực cú vốn đầu tư nước ngũai. Bảng đúng gúp GDP của khu vực kinh tế tư nhõn: Chỉ tiờu Đơn vị Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Tổng GDP toàn quốc Tỷ đ 272.036 313.623 361.017 399.943 444.140 chúng tôi vưc tư nhõn – 77.481 87.475 98.625 106.029 119.337 % trong GDP toàn quốc % 28.48 27.89 27.32 26.51 26.87 2. hộ kinh doanh cỏ thể Tỷ đ 57.879 65.555 73.321 78.054 87.604 Tỷ trọng hộ trong GDP % 21.28 20.9 20.31 19.52 19.72 Tỷ trọng hộ trong khu Vực kinh tế tư nhõn – 74.7 74.94 74.34 73.62 73.41 3. Doanh nghiệp tư nhõn Tỷ đ 19.602 21.920 25.304 27.975 31.733 Tỷ trọng trong GDP % 7.21 6.99 7.01 6.99 7.14 Tỷ trọng trong khu vực Tư nhõn % 25.3 25.06 25.66 26.38 26.59 Nguồn:Bỏo cỏo tổng hợp tỡnh hỡnh và phương hướng,giải phỏp phỏt triển kinh tế tư nhõn. Ban kinh tế trung ương ngày 26-11-2001 Trong 4 năm (2000-2003) tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhõn trong cụng nghiệp đạt mức 20% năm. Trong nụng nghiệp kinh tế tư nhõn đó cú đúng gúp đỏng kể trong trồng trọt chăn nuụi và đặc biệt là trong cỏc ngành chế biến và xuất khẩu. Nhờ sự phỏt triển của kinh tế tư nhõn, cơ cấu kinh tế nụng nghiệp đó cú sự chuyển dịch quan trọng theo hướng sản xuất hàng húa, đẩy nhanh quỏ trỡnh CNH-HĐH khu vực nụng nghiệp nụng thụn. * Đúng gúp về xuất khẩu và tăng nguồn thu ngõn sỏch: Theo số liệu thống kờ của bộ thương mại, đến năm 2002 khu vực kinh tế tư nhõn trong nước đúng gúp khoảng 48% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, kinh tế tư nhõn là nguồn lực chủ yếu phỏt triển cỏc mặt hàng mới, số lượng hàng húa tham gia xuất khẩu ngày càng tăng, mở rộng thị trường xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp của khu vực kinh tế tư nhõn đến nay đó tăng khỏ, 9 thỏng đầu năm 2001 đạt 2.189.330.000 USD, trong đú cỏc cụng ty cổ phần đạt 361.759.900 USD, cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn đạt 1.606.489.900 USD, cụng ty tư nhõn đạt 211.900.000 USD(số liệu của tổng cục hải quan) Cỏc doanh nghiệp tư nhõn đó tham gia tớch cực vào xuất nhập khẩu trực tiếp, đến năm 2000 số doanh nghiệp tư nhõn tham gia xuất khẩu trực tiếp tăng lờn 16.200 doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đó vươn lờn chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu về một số mặt hàng quan trọng( sản phẩm thủ cụng mỹ nghệ, thực phẩm chế biến…), đó cú một số doanh nghiệp cú kim ngạch xuất khẩu trờn 100 triệu USD / năm, ở một số địa phương kinh tế tư nhõn là khu vực đúng gúp chủ yếu về xuất khẩu ( Hà Giang: 60%,Bỡnh Thuận 45%, Quảng Ngói 34% ).Vỡ thế khu vực ngũai quốc doanhtrong nước từ chổ chỉ chiếm 11% giỏ trị xuất khẩu vào năm 1997 thỡ đến quý I-2002 dó tăng lờn khoảng 31% ( Thời bỏo kinh tế Việt Nam số 66 ngày 3-6-2002 ). Đúng gúp của khu vực kinh tế tư nhõn đó trở thành nguồn thu quan trọng cho ngõn sỏch Nhà nước và cú xu hướng ngày càng tăng, từ khoảng 6,4% năm 2001 lờn hơn 7% năm 2002.Nhiều địa phương mức đúng gúp của doanh nghiệp dõn doanh chiếm trờn 20% nguồn thu ngõn sỏch địa phương ( Bỡnh Định 33% Tiền Giang 24%…). Thu từ thuế cụng thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001. * Kinh tế tư nhõn cú đúng gúp rất lớn trong việc thu hỳt cỏc nguồn vốn đầu tư xó hội phục vụ cho nhu cầu phỏt triển kinh tế xó hội. Trong 10 năm gần đõy vốn đầu tư cho khu vực tư nhõn tăng nhanh, chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xó hội. Năm 1999 tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế tư nhõn đạt 31.542 tỷ đồng chiếm 24.05% , năm 2000 đạt 55.894 tỷ đồng tăng 13.8% so với năm 1999,chiếm 24.31% tổng số vốn đầu tư toàn xó hội,và trong gần 4 năm thực hện luật doanh nghiệp số vốn cỏc doanh nghiệp đầu tư là hơn 145.000 tỷ đồng. Đặc biệt số vốn đăng kớ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò & Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Công Trình Xanh & Các Giải Pháp Kiến Trúc
  • Sách Các Giải Pháp Kiến Trúc Khí Hậu Việt Nam
  • Các Giải Pháp Kiến Trúc Khí Hậu Việt Nam
  • Giải Pháp Đối Với Tăng Trưởng Kinh Tế Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Hướng Giải Pháp Phát Triển Cho Các Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đảng Trong Các Doanh Nghiệp Tư Nhân Hiện Nay
  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Phát Triển Đảng Trong Các Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đảng Trong Doanh Nghiệp Ngoài Khu Vực Nhà Nước
  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Trong Doanh Nghiệp
  • CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

    DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

    I / TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN

    1. Định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước ( DNNN )

    Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 1995 thì DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp quản lý. DNNN là bộ phận chủ yếu của khu vực kinh tế nhà nước – một lực lượng vật chất cơ bản, đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nhà nước

    2. Các bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước

    Xét theo lĩnh vực hoạt động: Hoạt động trực tiếp trong sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ và hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội

    Xét về hình thức tổ chức: Khu vực KTNN bao gồm nhiều bộ phận hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế quốc dân. Mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều nhằm thực hiện vai trò chủ đạo của khu vực KTNN ở một mức độ nhất định. Cụ thể như sau:

    Ngân sách nhà nước:Thực hiện chức năng thu chi ngân sách và có nhiệm vụ điều chỉnh quản lý, kiểm soạt các hoạt động của khu vực KTNN và các thành phần kinh tế khác theo mục tiêu kinh tế xã hội đã định. Có tác dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt động knh doanh tiền tệ, đặc biệt là xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ để phát triển kinh tế xã hội

    Kho bạc nhà nước: Với chức năng quản lý quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước đồng thời kiểm soát quá trình thu chi ngân sách

    Các quỹ dự trữ quốc gia: là một bộ phận của khu vực KTNN, nhằm bảo đảm cho khu vực này hoạt động bình thường trong mọi tình huống, là lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết, quản lý bình ổn giá thị trường, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội

    Các tổ chức sự nghiệp có thu: Hoạt động gần giống như DNNN trong cung ứng một số dịch vụ công, đặc biệt trong giáo dục, y tế, dịch vụ hành chính công

    Hệ thống DNNN: Đây là bộ phận chủ yếu then chốt của khu vực KTNN. Để được gọi là một DNNN thì cần phải có ba điều kiện

    Thứ nhất: nhà nước là cổ đông chính, có thể nhà nước sở hữu 100% vốn, sở hữu cổ phần chi phối ( trên 51 % ) hoặc sở hữu cổ phần đặc biệt ( cổ phần quy định quyền quản lý của nhà nước )

    Thứ hai: doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để bán

    Nếu thiếu điều kiện một thì đó là doanh nghiệp tư nhân và thiếu điều kiện hai và ba thì đó không phải là doanh nghiệp mà là cơ quan nhà nước

    3. Sự cần thiết phải củng cố và phát triển DNNN

    Sự cần thiết của DNNN

    Nhìn lại quá trình lịch sử, chúng ta đi lên từ cơ sở vật chất, kỹ thuật rất nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế mất cân đối trầm trọng, lực lượng thù địch bao vây cấm vận kinh tế triệt để. Trong hoàn cảnh đó chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ bằng biện pháp huy động nguồn lực lớn của đất nước và viện trợ quốc tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân dưới hình thức DNNN làm nòng cốt, cùng với khu vực kinh tế hợp tác xã làm nền tảng đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Thực tiễn đã chứng minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nếu không phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã để xây dựng hậu phương vững mạnh, giải quyết hậu cần tại chỗ thì không thể huy động tổng lực của dân tộc, chi viện cho tiền tuyến để tiến tới thắng lợi hoàn toàn. Sau khi thống nhất đất nước nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi lệnh bao vây cấm vận kinh tế của đế quốc Mỹ, sự duy trì quá lâu của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trong điều xây dựng hoà bình và sau đó là sự tan rã của hệ thống XHCN. Đại hội VI đã đề ra chủ trương đổi mới và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay kiên trì với chủ trương này nền kinh tế của nước ta đã phát triển khá cao trong nhiều năm và thoát khỏi khủng hoảng đảm bảo được những cân đối lớn, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị xã hội tạo thế và lực mới để tiếp tục đưa sự nghiệp mới đi lên

    Nếu nhìn hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật và những đóng góp của DNNN hiện nay rõ ràng là DNNN đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế nước ta, thể hiện trên những nét chủ yếu sau:

    Để tải tài liệu này xin mời bạn mua thẻ điện thoại VietTel mệnh giá 20.000đ sau đó gửi mã số thẻ cào cùng địa chỉ email của bạn và mã tài liệu KC176 đến số điện thoại: 0988.44.1615Sau khi nhận được tin nhắn tôi sẽ gửi tài liệu cho bạn và thông báo cho bạn biết

    Tài liệu này không có hình ảnh khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Tư Nhân Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Đảng Trong Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Thủ Tướng Duyệt 6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Giải Pháp Nào Để Doanh Nghiệp Tư Nhân Phát Triển Bứt Tốc?
  • Luận Văn Khóa Luận Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Lữ Hành Của Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Thương Mại Tập Đoàn
  • Vấn Đề Phát Triển Công Nghiệp Văn Hóa Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Công Việc Hiệu Quả
  • Giải Pháp Quản Lý Các Công Việc Trong Công Ty Để Đạt Hiệu Quả Tốt Nhất
  • Những Giải Pháp Cho Phát Triển Đô Thị Tại Việt Nam
  • Vấn Đề Nghiện Internet Ở Thanh – Thiếu Niên Việt Nam Và Một Số Yếu Tố Tác Động
  • Công Tác Quản Lý Mạng Xã Hội Trong Tình Hình Mới
  • Đổi mới thể chế văn hóa gắn liền với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã mở ra một thời kỳ mới đối với sự phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Hiện nay, phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những nhiệm vụ cơ bản của xây dựng văn hóa để đạt mục tiêu văn hóa là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh bảo đảm cho sự phát triển bền vững đất nước.

     

    Đặc điểm cơ bản của công nghiệp văn hóa ở nước ta: Nhìn từ thực tiễn

    Công nghiệp văn hóa Việt Nam có đặc điểm cơ bản là tính chuyển loại hình, tính phức tạp và tính tăng trưởng. Tính chuyển đổi loại hình gắn liền với quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Tính phức tạp của nó gắn liền với sự xuất hiện của nhiều chủ thể sản xuất và tiêu dùng, cũ mới đan xen, hợp pháp và bất hợp pháp cùng tồn tại. Tính tăng trưởng tuy đã có nhưng còn nhiều hạn chế. Những biểu hiện ấy có thể nhìn thấy rõ trong thực tiễn công nghiệp văn hóa còn hết sức khiêm tốn ở nước ta. 

    Chẳng hạn, trong lĩnh vực điện ảnh, công nghiệp văn hóa chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh trên cả hai lĩnh vực sản xuất và phát hành phim. Sự hình thành các cơ sở ngoài công lập trong lĩnh vực này ngày càng nhiều và hiệu quả về kinh tế, xã hội tương đối nổi bật. Năm 2007, Hãng phim Phước Sang tham gia sản xuất phim Áo lụa Hà Đông đạt giải thưởng “Cánh Diều Vàng” tại Liên hoan phim toàn quốc do Hội Điện ảnh tổ chức đã phản ánh dấu hiệu mới và bước tiến mới của điện ảnh tư nhân nước ta.

    Hệ thống rạp chiếu phim chất lượng cao Magastar do hãng phim Thiên Ngân liên kết với nước ngoài triển khai tại một số thành phố lớn đã tạo ra cách nhìn mới trong thị trường phát hành phim. Ngoài các hãng phim nhà nước, các hãng phim tư nhân cũng bắt đầu tham gia sản xuất phim truyện nhựa. Điều đó đã tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và góp phần nâng cao chất lượng phim, làm phong phú đề tài cũng như cách thể hiện đối với tác phẩm điện ảnh. Các bộ phim do các hãng phim tư nhân sản xuất đã thu hút khán giả như, Những cô gái chân dài, Áo lụa Hà Đông, Trai nhảy, Nụ hôn thần chết, Dòng máu anh hùng… Việc hợp tác liên doanh với nước ngoài cũng được mở rộng, tạo ra những phim có chất lượng cao, như các phim Thời xa vắng, Mùa len trâu, Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Hà Nội – Hà Nội,… Các nghệ sĩ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia làm phim ngày càng nhiều. Đây là những tín hiệu rất đáng mừng. Theo thống kê năm 2022, có 8 phim truyện nhựa chiếu rạp, 36 phim tài liệu, 10 phim hoạt hình do Nhà nước đặt hàng, còn số lượng phim do tư nhân sản xuất là 32 phim.

    Năm 2022 doanh thu phim chiếu rạp đạt khoảng 102 triệu USD, trong đó doanh thu chiếu phim Việt Nam chiếm 30%. “Cơn sốt” phim Việt trong những tháng cuối năm 2022, đầu năm 2022 và thời gian gần đây với sự xuất hiện của các phim, như Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015), Em là bà nội của anh (2016), Tháng năm rực rỡ(2018)… đã cho thấy sự phát triển của thị trường điện ảnh Việt Nam trong những năm qua.

    Về lĩnh vực phát hành phim, ngoài Công ty Xuất nhập khẩu và phát hành phim Trung ương (FAFILM Việt Nam) còn có các cơ sở tư nhân tham gia nhập khẩu phim và hệ thống phát hành phim ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước với những tên gọi rất khác nhau. Khu vực sản xuất phim cũng chính là khu vực sản xuất, kinh doanh. Các cụm rạp phim tư nhân ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và một số địa phương khác đã xuất hiện đáp ứng nhu cầu của người xem, thu hút khán giả đến rạp, cung cấp cho khán giả những tác phẩm điện ảnh mới nhất của thế giới. Một số kênh truyền hình lớn của nước ngoài cũng tham gia vào các rạp chiếu kỹ thuật cao ở các đô thị lớn như HBO, Star Movies, Star World, Cinemax, Hallmark. Đến cuối năm 2022, số lượng rạp chiếu phim ở nước ta là 156 rạp và 561 phòng chiếu (số liệu của Công ty Thiên Ngân Galaxy). Câu lạc bộ sân khấu thử nghiệm Võ Văn Tần 5B, Công ty Trách nhiệm hữu hạn sân khấu nghệ thuật Thái Dương, Công ty Cổ phần Phước Long cũng tham gia vào các loại nghệ thuật biểu diễn.

    Nghệ thuật biểu diễn có vở xiếc Làng tôi, À Ố Show, chương trình múa rối Nhịp điệu quê hương, vở kịch múa đương đại Mùa hạn hán và cơn mưa, dàn dựng Ionah Show là một chương trình nghệ thuật giải trí gây ấn tượng và thu hút người xem. Theo thống kê của Cục Nghệ thuật biểu diễn, doanh thu trong năm 2022 của ngành đạt khoảng 5,2 triệu USD, tăng trưởng doanh thu ước đạt 5% mỗi năm(1). 

    Việt Nam hiện nay có 149 bảo tàng, 300 cửa hàng mua bán tranh tượng, 63 nhà xuất bản thuộc sở hữu nhà nước hoạt động với nhiều loại hình khác nhau được xem là những cấu phần quan trọng của công nghiệp văn hóa.

    Hằng năm, kinh phí của Việt Nam chi cho hoạt động văn hóa chiếm 1,8% tổng chi ngân sách nhà nước. Năm 2022, vốn đầu tư phát triển cho lĩnh vực văn hóa đạt 26,7 triệu USD và cho chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đạt 12,7 triệu USD. Về cơ bản, ở Việt Nam đã bước đầu hình thành thị trường văn hóa và các kết cấu hạ tầng có khả năng thúc đẩy 12 ngành công nghiệp văn hóa phát triển, hình thành các ngành, nghề công nghiệp văn hóa mới, mở rộng thị trường và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế của các ngành công nghiệp văn hóa. Nhưng nhìn chung công nghiệp văn hóa Việt Nam còn yếu, hiệu quả kinh tế của nó chiếm tỷ trọng thấp trong kinh tế quốc dân, vị trí trụ cột của nó chưa được xác lập, khu vực tư nhân chưa mạnh.

    Những hạn chế chủ yếu của công nghiệp văn hóa ở Việt Nam 

    Theo thống kê chưa đầy đủ, năm 2022 các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đóng góp khoảng 8,039 tỷ USD, chiếm gần 2,68% GDP cả nước.

    Theo quan sát và phân tích của chúng tôi, hạn chế của công nghiệp văn hóa ở nước ta có thể quy về mấy phương diện như sau:

    – Công nghiệp văn hóa chiếm tỷ trọng thấp, hiệu quả kinh tế không cao.

    Cho đến nay, tỷ trọng công nghiệp văn hóa nước ta trong nền kinh tế quốc dân là hết sức nhỏ bé. Điều đó càng rõ nếu so sánh với các quốc gia phát triển trên thế giới. Mức xuất khẩu công nghiệp bản quyền của điện ảnh, máy tính, phương tiện truyền thông của Mỹ đứng đầu mọi ngành, nghề, giá trị sản xuất trong năm 1996 lên tới 425 tỷ USD, chiếm 6,7% GDP của Mỹ. Quy mô và doanh lợi của Disney đã lọt vào 10 doanh nghiệp hàng đầu. Chỉ riêng thu hồi bán vé bộ phim Titanic đã tới hơn trăm triệu USD. Từ vị trí thứ 11 trong nền kinh tế quốc dân năm 1985, công nghiệp văn hóa đã tiến lên vị trí thứ 6 năm 1994 và trở thành ngành xuất khẩu thứ 2, chỉ sau công nghiệp sản xuất máy bay (chiếm 40% thị trường quốc tế). Tờ Thời báo toàn cầu ngày 18-6-1999 cho biết, hiện nay số lượng báo chí trên thế giới do Mỹ và quốc gia phương Tây chiếm tới hơn 90%, trong đó Mỹ khống chế 75% sản xuất và chế tác các tiết mục toàn cầu. Sản lượng phim ảnh Mỹ chiếm 6% – 7% tổng sản lượng phim toàn cầu nhưng lại chiếm hơn 50% tổng số thời gian chiếu. Tập đoàn Metalman của Đức có mức doanh thu 1997 – 1998 là 25.700 triệu mác, trong đó ngành xuất bản sách đạt tới 7,3 tỷ mác. Ngành kinh doanh tác phẩm nghệ thuật ở Anh có quy mô công nghiệp 17 tỷ USD, sánh vai ngang bằng với công nghiệp ô-tô, 27% thu nhập của ngành du lịch đến từ tác phẩm nghệ thuật. Ở Nhật Bản, công nghiệp văn hóa cũng chỉ xếp sau công nghiệp chế tạo ô-tô. Đây là những con số buộc chúng ta phải suy tính khi tư duy về phát triển công nghiệp văn hóa.

    – Phát triển manh mún, không cân bằng.

    Tình trạng này thể hiện ở chỗ:

    Một là, mất cân bằng về khu vực phát triển. Phần lớn năng lực sản xuất và tài nguyên công nghiệp văn hóa nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị còn ở nông thôn, miền núi, hải đảo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa thì công nghiệp văn hóa dường như chưa có gì, thậm chí nhiều người chưa từng biết đến nó. Có những nơi một năm người dân chỉ được xem một bộ phim, có nơi chưa có cả đài phát thanh cho dân. Hệ thống văn hóa công cộng vô cùng yếu kém.

    Hai là, mất cân bằng trong phát triển giữa các bộ phận. Đó là sự phát triển chênh lệch giữa các ngành văn hóa truyền thống và các ngành văn hóa hiện đại. Nhiều làng nghề bị quên lãng, nhiều khu di tích văn hóa thiếu sự đầu tư cần thiết, nếu đầu tư thì rất dễ làm biến dạng di sản. Các ngành văn hóa hiện đại nhìn bề ngoài được quan tâm hơn, nhưng thiếu chiều sâu, thiếu sự đồng bộ. 

    – Cơ sở công nghiệp văn hóa yếu kém.

    Công nghiệp văn hóa nước ta khởi đầu khá muộn và yếu kém, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Nền tảng yếu, quy mô nhỏ hẹp, manh mún. Trong khi đó, theo Báo cáo năm 1994 của Bộ Thương mại Mỹ, 420 công ty phát thanh có tài sản trên 10 triệu USD và tổng thu nhập của các công ty này là 152 tỷ 528 triệu USD, đó là chưa nói đến rất nhiều công ty quy mô vừa và nhỏ ở Mỹ. Ở nước ta hiện nay, đại đa số các tập đoàn doanh nghiệp nghệ thuật còn thuộc về đơn vị văn hóa loại hình sự nghiệp. Do thị trường trình diễn không đủ, cơ chế kinh doanh văn hóa không hoàn thiện, trong quá trình chuyển đổi quỹ đạo văn hóa ở nước ta gặp phải rất nhiều khó khăn, như sắp xếp tổ chức, phân công lao động, xây dựng đội ngũ…

    – Kết cấu công nghiệp văn hóa không hợp lý, chất lượng vận hành thấp.

    Kết cấu nội bộ công nghiệp văn hóa ở nước ta vẫn ở trạng thái phát triển mò mẫm, khiến cho chất lượng vận hành tổng thể của công nghiệp văn hóa không cao, không đủ sức phát triển lâu dài. Việc bố trí hết sức bất cập. Trong khi ở các đô thị lớn có nhiều trung tâm sang trọng để phục vụ các đối tượng có thu nhập cao thì lại thiếu hụt những điểm vui chơi đại chúng cho người có thu nhập thấp. Về phương thức sản xuất kinh doanh, các đơn vị theo mô hình công nghiệp văn hóa truyền thống chiếm đại đa số, trong khi số lượng doanh nghiệp văn hóa dựa vào phương thức sản xuất hiện đại, kỹ thuật cao còn rất ít. Về nội dung kinh doanh, các đơn vị kinh doanh văn hóa bán lẻ chiếm đại đa số, còn số lượng các đơn vị kinh doanh văn hóa tổng hợp và các siêu thị văn hóa thì hết sức khiêm tốn. 

    Nguyên nhân yếu kém của phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa thì nhiều, nhưng có thể quy về 5 vấn đề chính: 

    Một là, quan niệm, nhận thức về phát triển văn hóa chưa thích ứng với điều kiện mới. Nếu như quá trình chuyển đổi tư duy trong lĩnh vực kinh tế tuy gian nan nhưng tốc độ diễn ra khá nhanh thì chuyển biến trong quan niệm, nhận thức về lĩnh vực văn hóa rất chậm. Sự lạc hậu và chậm chạp của nó biểu hiện trước hết ở chỗ chúng ta không nhận thức được chính xác quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, giữa phát triển văn hóa với tư cách phúc lợi xã hội và với tư cách một nghành kinh tế dịch vụ. Trên thế giới xu hướng thị trường hóa các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ văn hóa, nhất là dịch vụ văn hóa – giải trí được đặc biệt chú ý, bởi trong kinh tế có văn hóa, trong văn hóa có kinh tế, văn hóa cũng như khoa học kỹ thuật đều là sức sản xuất. Đây là điều mà phải mất thời gian khá lâu chúng ta mới nhận thức được. Mặt khác, quan niệm về công nghiệp văn hóa ở nước ta còn mờ nhạt. Lâu nay, nhiều người chỉ coi văn hóa là một hoạt động sự nghiệp mà không nhận thấy thuộc tính kinh tế của văn hóa, không coi tài nguyên văn hóa là một loại năng lượng tài nguyên tồn tại ở cả dạng vật chất và phi vật chất. Điều đó dẫn tới việc chưa có cái nhìn đúng đắn đối với công nghiệp văn hóa. Hơn nữa quan niệm về thị trường văn hóa không theo kịp thực tiễn. Trong khi nhiều ngành, nghề đều đi vào thị trường thì lĩnh vực văn hóa lại phản ứng rất chậm chạp. Quan niệm về thị trường công nghiệp văn hóa nước ta đã không kịp thời bám sát, không được điều chỉnh có hiệu quả trước yêu cầu của một nền kinh tế thị trường khiến cho sức sống nội tại và sức sáng tạo của công nghiệp văn hóa không được giải phóng và phát triển đầy đủ. Đến thời điểm hiện nay, quan niệm về thị trường dịch vụ sản phẩm văn hóa mới bắt đầu được Đảng và Nhà nước ta nhận thức và đi vào đời sống sản xuất, kinh doanh, phát triển văn hóa.

    Hai là, cơ chế vận hành xơ cứng, thể chế quản lý thiếu sức sống. Đã tồn tại quá lâu cách quản lý theo mô hình các đơn vị sự nghiệp công lập mà ở đó Nhà nước đầu tư không hoàn lại, thống nhất bao tiêu sản phẩm, còn xã hội tiêu dùng không phải trả phí. Nhà nước chỉ tính đến đầu tư cho công nghiệp văn hóa mà không tính đến sản xuất và hiệu quả sản xuất, coi trọng hiệu quả xã hội mà xem nhẹ hiệu quả kinh tế, tuy làm nổi bật tính công ích và tính phúc lợi của văn hóa nhưng lại phủ nhận thuộc tính kinh tế của nó. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới việc coi nhẹ tính chất công nghiệp của công nghiệp văn hóa, không đưa công nghiệp văn hóa vào trong vận hành chỉnh thể của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, thể chế quản lý chia cắt ngành, nghề theo kiểu bảo hộ địa phương đã làm cho cơ chế vận hành văn hóa trở nên xơ cứng. Ngay cả hiện nay, thể chế quản lý công nghiệp văn hóa ở nước ta về các mặt quản lý vĩ mô, bố trí công nghiệp, tài chính, nhân sự, cơ chế vận hành, đầu tư sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ, mở rộng tái sản xuất còn chênh lệch rất xa so với yêu cầu đẩy mạnh, phát triển công nghiệp văn hóa. 

    Bốn là, thiếu nhân tài kinh doanh. Điều quan trọng để phát triển văn hóa là cần phải có những nhân tài tinh thông cả về kinh tế lẫn văn hóa. Rất nhiều đơn vị do thiếu nhân tài kinh doanh, tuy điều kiện kinh doanh tốt nhưng lại làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ. Do vậy, thiếu nhân tài kinh doanh văn hóa là yếu tố quan trọng hạn chế sự phát triển công nghiệp văn hóa nước ta.

    Năm là, chính sách kinh tế văn hóa không đồng bộ, thực thi không đến nơi đến chốn. Chính phủ đã công bố khá nhiều chính sách kinh tế văn hóa nhưng lại thiếu tính đồng bộ, liên tục, có chính sách sai lầm lại không được chỉnh sửa kịp thời, có chính sách cần thiết nhưng lại không được thực thi nhanh chóng. Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là thay đổi nhận thức và quan điểm phát triển công nghiệp văn hóa ở nước ta một cách triệt để. Song song với nó là phải xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa. Chỉ như thế, văn hóa mới thực sự là một động lực cho phát triển kinh tế – xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội.

    Phương hướng và giải pháp phát triển 

    Để đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp văn hóa ở nước ta, cần chú trọng làm tốt những vấn đề sau:

    Một là, hoàn chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở điều tra nghiên cứu rộng rãi và chính xác thực trạng xây dựng công nghiệp văn hóa hiện nay để xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp văn hóa hợp lý. Những cơ sở sản xuất công nghiệp văn hóa chưa phù hợp thì phải cân đối, điều chỉnh. Phải đặt công nghiệp văn hóa vào trong quy hoạch tổng thể phát triển xã hội và kinh tế quốc dân, định ra chính sách và biện pháp nâng đỡ tương ứng, điều chỉnh hài hòa các ngành chức năng hữu quan để hình thành hợp lực. Nhà nước phải nhanh chóng định hình quy hoạch phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa chỉ đạo vĩ mô. Đồng thời, phải chú trọng sự cân đối, xây dựng các trọng điểm, căn cứ vào thực tiễn và thế mạnh của từng địa phương, xác định rõ sự phù hợp giữa công nghiệp văn hóa của địa phương, vùng, miền với quy hoạch chung về phát triển kinh tế – xã hội ở từng địa phương, vùng, miền cụ thể. 

    Tối ưu hóa hơn nữa môi trường chính sách bên ngoài của công nghiệp văn hóa, như chính sách về sở hữu, quyền sở hữu sử dụng tài nguyên văn hóa, chính sách tiền tệ, tài chính, thuế, chính sách phân phối bố trí nhân tài, chính sách khuyến khích đầu tư góp vốn, tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển công nghiệp văn hóa liên tục, ổn định.

    Định hình và hoàn thiện hệ thống chính sách công nghiệp văn hóa, từng bước hình thành các chính sách chủ đạo bao gồm chính sách cơ cấu công nghiệp, chính sách kỹ thuật công nghiệp, chính sách tổ chức công nghiệp, chính sách thị trường công nghiệp, thông qua tối ưu hóa môi trường chính sách công nghiệp văn hóa để điều chỉnh và thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển.

    Ba là, xây dựng hệ thống thể chế quản lý phát triển công nghiệp văn hóa. Trước đây, quản lý văn hóa ở nước ta chủ yếu dựa vào biện pháp hành chính, coi nhẹ việc xây dựng thể chế pháp luật trong lĩnh vực văn hóa. Điều này càng rõ khi tìm hiểu hệ thống chính sách quản lý công nghiệp văn hóa. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, cách quản lý trước đây rõ ràng không còn phù hợp. Vì vậy, phải đẩy nhanh tiến trình lập pháp văn hóa là việc cấp bách hàng đầu. Một mặt, phải thông qua pháp luật để đặt khuôn khổ thể chế cho hình thành và phát triển thị trường công nghiệp văn hóa, đặc biệt là tạo lập vai trò các chủ thể trên thị trường công nghiệp văn hóa, các luật lệ bảo đảm quyền bình đẳng giữa các chủ thể trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhất là tính phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO và các hiệp định tự do thế hệ mới. Mặt khác, thông qua thể chế pháp luật để tăng cường quản lý văn hóa, bảo đảm sự đúng đắn trong phương hướng xây dựng văn hóa, phát triển lành mạnh của công nghiệp văn hóa, giảm thiểu những hành vi đi ngược lại quy luật phát triển văn hóa và quy luật phát triển công nghiệp văn hóa trong điều kiện mới.

    Hoàn thiện nhanh chóng thể chế hành chính, và khi đủ điều kiện chín muồi thì luật hóa để tạo hành lang pháp lý ổn định cho phát triển công nghiệp văn hóa. Vận dụng pháp luật để thực hiện có hiệu quả công năng kiểm tra, giám sát, làm cho việc quản lý công nghiệp văn hóa sớm đi vào quỹ đạo phát triển pháp chế hóa, quy phạm hóa.

    Phải đẩy nhanh việc cải cách thể chế văn hóa, không ngừng hoàn thiện chức năng quản lý của Nhà nước đối với công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần hình thành nhiều cục diện, nhiều chủ thể, nhiều phương diện làm văn hóa, trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, và đẩy nhanh phát triển các doanh nghiệp văn hóa theo hướng thực sự là chủ thể trong nền kinh tế thị trường với tư cách vừa là người sản xuất, vừa là người quản lý, tự chủ hạch toán kinh doanh. Chú trọng cơ cấu lại các đơn vị sản xuất, cung ứng dịch vụ văn hóa. Phải căn cứ vào yêu cầu của thị trường để bố trí và tổ chức lại theo hướng tối ưu hóa tài nguyên và nhân lực sản xuất của công nghiệp văn hóa, định hình chính xác các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu thụ, phân phối, tiêu dùng. Chỉ khi nào chúng ta xây dựng được thể chế và cơ chế văn hóa phù hợp thì lúc đó mới thúc đẩy tốt sự giải phóng sức sản xuất văn hóa.

    Bốn là, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của công nghiệp văn hóa. Trình độ khoa học kỹ thuật của Việt Nam so với các quốc gia phát triển còn có khoảng cách lớn. Điều đó tất sẽ cản trở sự phát triển công nghiệp văn hóa. Vì vậy, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của công nghiệp văn hóa phải được coi là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Trước hết, việc chú trọng đổi mới khoa học kỹ thuật, tích cực thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiến bộ của công nghiệp văn hóa sẽ làm cho trình độ khoa học kỹ thuật của tự thân văn hóa được nâng cao. Thứ hai, việc vận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại sẽ góp phần mở rộng và nâng cao hàm lượng và sự tinh xảo của các khâu chế tác, đóng gói, truyền bá các sản phẩm văn hóa,… làm cho việc phát triển công nghiệp văn hóa luôn luôn đồng bộ nhịp nhàng với tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải thiện hình ảnh văn hóa nhằm đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng, thẩm mỹ và tính đa dạng của người tiêu dùng văn hóa. Thứ ba, tạo ra sự hòa nhập, đối ứng giữa khoa học kỹ thuật và văn hóa. Ngành văn hóa và ngành khoa học kỹ thuật một khi hòa nhập tốt sẽ hình thành mạng lưới tin tức, quản lý khoa học kỹ thuật hiện đại, tạo ra sự hỗ trợ kỹ thuật kịp thời, hiệu quả đối với phát triển công nghiệp văn hóa.

    Năm là, tăng cường xây dựng “phần cứng” của công nghiệp văn hóa.

    Việc xây dựng “phần cứng” của công nghiệp văn hóa là cơ sở vật chất để công nghiệp văn hóa phát triển nhanh và bền vững. Muốn vậy, cần chú ý:

    – Tối ưu hóa kết cấu hạ tầng văn hóa, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phát triển công nghiệp văn hóa để xây dựng mới những kết cấu hạ tầng văn hóa do Nhà nước đầu tư ở cả ba cấp độ: toàn quốc, vùng, và địa phương. Các địa phương phải tiến hành xây dựng có trọng điểm kết cấu hạ tầng văn hóa bảo đảm tính đại chúng, khu vui chơi giải trí một cách hợp lý, khoa học.

    – Khuyến khích xã hội hóa việc xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa, thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước, xây dựng cơ chế đầu tư nhiều kênh, đặc biệt là đối tác công – tư, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Trong thu hút tư nhân tham gia, cần lựa chọn các đối tác không chỉ có tiềm lực tài chính mạnh mà cơ bản hơn là có hiểu biết sâu sắc các phân khúc thị trường công nghiệp văn hóa, đặc thù tổ chức sản xuất, lưu thông, quảng bá, tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa. Cao hơn cả chính là văn hóa kinh doanh lĩnh vực công nghiệp văn hóa – một lĩnh vực tác động đến đời sống tinh thần của con người, bảo đảm cho xã hội phát triển cân bằng và hài hòa.

    – Chú ý hiệu quả lâu dài và phát huy hiệu quả thường xuyên của kết cấu hạ tầng văn hóa. Kết cấu hạ tầng văn hóa phải phục vụ trực tiếp cho phát triển công nghiệp văn hóa. Tăng cường quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng văn hóa, phát huy đầy đủ công năng của nó để hình thành nền tảng vững chắc cho phát triển công nghiệp văn hóa một cách lâu dài, ổn định. /.

    (1) Báo cáo tổng kết của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch năm 2022

     

    PGS.TS. Mai Hải Oanh

     

    Nguồn: Tạp chí Cộng sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Quyết Khó Khăn, Thúc Đẩy Phát Triển Công Nghiệp Văn Hóa
  • Tình Hình Ngành Công Nghiệp Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Phát Triển Văn Hóa, Xã Hội Phục Vụ Tốt Hơn Nhu Cầu Của Nhân Dân
  • Phát Triển Toàn Diện Các Lĩnh Vực Văn Hoá, Xã Hội; Nâng Cao Đời Sống Vật Chất Và Tinh Thần Của Nhân Dân
  • Kế Hoạch Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100