Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện

--- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang
  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • GD&TĐ – Xây dựng xã hội học tập là xu hướng tất yếu trên thế giới. Ở Việt Nam, để góp phần xây dựng cả nước thành một XHHT, Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách, chiến lược phát triển, tuy nhiên vẫn cần hơn nữa trách nhiệm của các tổ chức, trường ĐH, đặc biệt là ý thức học tập trong mỗi người dân.

    Xây dựng xã hội học tập giúp người dân cần gì học nấy

    Xu hướng thời đại

    Theo TS Trương Tiến Tùng – Hiệu trưởng Trường Đại học Mở Hà Nội, tư tưởng giáo dục liên tục, học tập suốt đời được quảng bá rộng rãi; sau đó là tư tưởng giáo dục cho mọi người, là nhận thức về bốn trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để chung sống, ngày càng được cụ thể hóa thành các chính sách giáo dục của các quốc gia.

    Trong điều kiện khoa học – công nghệ ngày càng phát triển, tri thức nhân loại ngày càng phong phú, các chính sách tiến bộ về chính trị – kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia đã được thực thi với đời sống vật chất và tinh thần của người dân dần được nâng cao, thì nhu cầu học tập để tăng cường hiểu biết, phát triển nghề nghiệp, làm phong phú cho cuộc sống cá nhân và tăng cơ hội giao lưu, hội nhập thế giới… đang ngày càng trở nên cấp thiết.

    TS Trương Tiến Tùng cũng đặc biệt nhấn mạnh: Sự nghiệp GD-ĐT cần thay đổi mạnh mẽ và toàn diện để đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập và yêu cầu phát triển văn hóa của con người trong thời đại mới. Trong đó khoa học – công nghệ phát triển cao đã và đang tạo ra những phương tiện truyền thông đa dạng cùng những công cụ có thể tích hợp kiến thức, thay đổi quan niệm, nội dung, phương pháp học tập và cả quan niệm về lao động xã hội.

    Lao động giờ đây phải có tri thức cao hơn. Điều này đòi hỏi ngành giáo dục cần đổi mới về tư duy, hướng tới một XHHT với nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đó, cách mạng khoa học – kỹ thuật cũng làm biến đổi sâu sắc cơ cấu KT-XH, trong đó có cơ cấu lao động trên phạm vi quốc tế.

    Thực tế cho thấy, quá trình CNH-HĐH đang diễn ra nhanh chóng ở nhiều nước cũng tạo ra sự thiếu hụt lớn lực lượng lao động có trình độ cao cũng như bộ phận công nhân kỹ thuật lành nghề. Đặc biệt cuộc CMCN 4.0 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện lớn cho người dân có tiếp cận tốt hơn với việc học.

    Xây dựng xã hội học tập, biến cả nước thành một xã hội học tập là vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục, chẳng những phải đào tạo những lao động lành nghề, có kỹ năng tốt, có thể làm chủ một quy trình công nghệ, mà còn cần đào tạo những lao động mới, có khả năng phát triển và thích ứng với biến đổi liên tục của thị trường lao động và môi trường xã hội cũng như sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ -TS Trương Tiến Tùng đặc biệt nhấn mạnh.

    Phải có sự chung tay của cả cộng đồng

    Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm đến xây dựng XHHT, từ việc ban hành các chính sách đến các chương trình hành động và tổ chức thực hiện. Ngày 9/1/2013 Chính phủ đã ban hành Quyết định 89/QĐ-TTg về Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2012 – 2022, với nhiều mục tiêu rất cụ thể, như việc nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ đến năm 2022.

    Việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề đối với các cán bộ, công chức, viên chức cũng đặt mục tiêu tối thiểu 80% đối với cán bộ cấp huyện trở lên và 70% cán bộ cấp xã, phường phải được đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc hàng năm theo chương trình quy định và các kỹ năng phục vụ cho vị trí công việc. Đối với lao động nông thôn, 70% lao động được tham gia học tập cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất tại các trung tâm học tập cộng đồng. Đối với công nhân lao động, phấn đấu 95% công nhân được qua đào tạo nghề.

    Từ thực tế Trường Đại học Mở Hà Nội được giao các đề tài, nghiên cứ xây dựng XHHT, TS Trương Tiến Tùng phân tích: Trong thời đại mà toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống, học tập đã trở thành nhu cầu thực sự của con người. Việc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ học tập ngày càng được phổ biến và hiện thực hóa trong thực tiễn phát triển giáo dục.

    Đối tượng của giáo dục cũng thay đổi, không chỉ là trẻ em mà tất cả mọi người mới là đối tượng thật sự và rộng lớn của giáo dục. Giáo dục không chỉ nhằm phát triển nhân cách của thế hệ trẻ mà còn “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Các hoạt động giáo dục được mở rộng, không chỉ trong nhà trường mà trở thành một lĩnh vực hoạt động thu hút sự quan tâm và đầu tư nguồn lực từ mọi phía của xã hội. Nhìn ra vấn đề và có giải pháp phù hợp, chúng ta sẽ thành công xây dựng cả nước thành một XHHT.

    Có thể thấy, mục tiêu rất cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mong muốn đó thì cần phải có những giải pháp căn cơ, đặc biệt là sự chung tay của cả cộng đồng. Đó là, cần phải đẩy mạnh các hình thức học từ xa, học qua mạng là một xu thế tất yếu và phù hợp với phương thức đào tạo trong thời đại của cuộc CMCN 4.0. Các nhà trường cần phải tăng khả năng “cung ứng học vấn đại học”, cập nhật kiến thức cho người lao động.

    Thêm nữa, việc khuyến khích, thiết lập cơ chế phối hợp nhằm huy động nguồn lực mạnh mẽ từ phía các tổ chức, doanh nghiệp là rất cần thiết. Cần có thiết chế để tự bản thân các tổ chức, doanh nghiệp phát động phong trào học tập, vì chính doanh nghiệp và các tổ chức sẽ được hưởng lợi từ những giá tích luỹ và tri thức của người lao động khi tuyển dụng và sử dụng. Đây là trách nhiệm với xã hội để bù đắp phần nào những chi phí mà xã hội đã bỏ ra để đào tạo những người lao động cho họ.

    “Xây dựng xã hội học tập, biến cả nước thành một xã hội học tập là vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục, chẳng những phải đào tạo những lao động lành nghề, có kỹ năng tốt, có thể làm chủ một quy trình công nghệ, mà còn cần đào tạo những lao động mới, có khả năng phát triển và thích ứng với biến đổi liên tục của thị trường lao động và môi trường xã hội cũng như sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ”. TS Trương Tiến Tùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Tiếp Tục Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Của Nhân Dân, Do Nhân Dân Và Vì Nhân Dân
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx
  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc
  • Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc
  • Tường Nhà Bị Ẩm Có Dán Tường Được Không
  • 3

    PHẦN 1 : KẾT QUẢ THU ĐƯỢC SAU KHI THAM GIA KHÓA BỒI DƯỠNG

    Giới thiệu tổng quan chuyên đề học tập trong Khóa bồi dưỡng.

    4

    1.2. Kết quả thu hoạch về lý luận, thực tiễn hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở.

    5

    1.2.1. Cơ sở lí xã hội hóa giáo dục

    6

    1.2.2. Cơ sở thực tiễn của xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở.

    7

    1.2.3. Một số giải pháp cụ thể để thực hiện xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở phù hợp với bối cảnh ở địa phương.

    8

    PHẦN 2: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CỦA BẢN THÂN SAU KHÓA BỒI DƯỠNG

    9

    2.1. Yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp đối với bản thân

    10

    2.1.1. Giới thiệu sơ lược về bản thân

    11

    2.1.2. Tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp của bản thân (GV THCS)

    12

    2.1.3. Tiêu chuẩn chức danh giáo viên trung học cơ sở hạng II

    13

    2.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của cá nhân trước khi tham gia khóa bồi dưỡng.

    14

    2.3. Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    STT

    Chữ viết tắt

    Nội dung viết tắt

    5

    BCH TW

    Ban chấp hành trung ương

    6

    NQ TW

    Nghị quyết trung ương

    7

    QĐ-TTg

    Quyết định thủ tướng

    MỞ ĐẦU

    Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định. Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

    Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát triểnGiáo dục.

    Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ “Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS”.

    Học sinhcả nước nói chung cũng như của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng luôn mang bên mình sựnăng động, sáng tạo, sự háo hức luôn tìm hiểu kiến thức cái mới…Cũng xuất phát từ đó, các em luôn cập nhật kiến thức trên mọi kênh thông tin (sách, báo, Internet..); với các em kiến thức không còn gói gọn trong nhà trường nữa.Từ đó,việc trò giỏi hơn thẩy không còn xa lạ gì trong thời đại ngày nay. Vì thế, nếu giáo viên chúng ta không trao dồi chuyên môn nghiệp vụ cũng như trang bị cho bản thân kiến thức sâu rộng sẽ bị tụt hậu, sẽ không tự tin khi đứng trước các em học sinh đang khao khát chinh phục kiến thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Luận Văn Chuyên Đề Công Tác Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Của Sở Tư Pháp Tỉnh Ninh Bình
  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Trường tư thục nghiên cứu xây dựng xã hội học tập

    Vì sao phải xây dựng xã hội học tập? Những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin và kỹ thuật truyền thông đã biến thế giới rộng lớn bao la trước đây trở thành cái làng toàn cầu (global village) nhỏ bé. Những kiến thức và công nghệ có được ngày hôm nay sẽ trở thành lạc hậu ngay trong ngày mai trước các phát minh và tiến bộ công nghệ mới. Nhiều nghề cũ đang mất đi, những nghề mới liên tục ra đời với nhịp độ ngày càng nhanh hơn.

    Đứng trước sự thay đổi nhanh chóng đó của thế giới ngày nay, con người phải làm gì nếu không muốn bị lạc hậu, bị đào thải hoặc đứng bên lề của sự phát triển.Câu trả lời được đưa ra là: Phải học tập thường xuyên, suốt đời, phải xây dựng một xã hội học tập cho mọi người.

    Ngày nay, xu hướng xây dựng xã hội học tập đã được cụ thể hóa và hiện thực hóa một cách mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và trong thời đại kinh tế tri thức , việc xây dựng xã hội học tập hay xã hội toàn dân học tập, quốc gia học tập… đã trở nên phổ biến đối với nhiều quốc gia dân tộc.

    Hội giảng dùng mẫu/ba-bài âm/n/ tại cụm các trường Tiểu học thuộc huyện Cái Bè (Ảnh: Thanh Hải,Phòng GDĐT Cái Bè)

    Mô hình xã hội học tập ở Tiền Giang.

    Ở Việt Nam vấn đề xây dựng xã hội học tập đã được chỉ đạo qua nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Khuyến học từ Cách mạng tháng 8/1945 cho đến nay, nhằm thực hiện các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục: ” Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “..Ai cũng được học hành”; “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”; “Cốt lõi của học là tự học”…

    Do vậy, ở Việt Nam, các vấn đề về bản chất, nội dung, nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập, các giải pháp tiến hành đã được làm sáng tỏ. Riêng đối với xây dựng mô hình xã hội học tập có hai vấn đề đặt ra là xây dựng mô hình lý thuyết , xây dựng mô hình cụ thể và hiện thực hóa mô hình.

    Mô hình lý thuyết phải mang tính bao quát với các mục tiêu, nguyên tắc chung có tính dẫn đường cho việc xây dựng các mô hình cụ thể .Mô hình cụ thể phải thể hiện sự phù hợp với thực tiễn , có tính khả thi và nhằm cụ thể hóa mô hình lý thuyết. Đi đôi với việc thiết kế mô hình cụ thể là hiện thực hóa mô hình. Hiện thực hóa mô hình có thể thực hiện qua thử nghiệm và thực hiện đại trà, nhân rộng.

    Mô hình lý thuyết:

    Dựa vào dự thảo đề án xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam ( Bộ Giáo dục và Đào tạo-2003) có thể tóm tắt mô hình xã hội học tập như sau:

    Mục tiêu xây dựng xã hội học tập:

    – Phát triển kinh tế – xã hội.

    – Giáo dục cho mọi người.

    – Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần xây dựng nền kinh tế tri thức.

    Cơ cấu hệ thống:

    – Hệ thống mở có hai khu vực: giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường.

    Nội dung hoạt động:

    – Mở rộng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo các đối tượng bên trong nhà trường (các trường mầm non, phổ thông, trung cấp, đại học).

    – Đẩy mạnh hoạt động xây dựng xã hội học tập đối với các đối tượng bên ngoài trường học (các hình thức học tập giáo dục linh hoạt, giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, các hình thức học từ xa, vừa học vừa làm, tự học ở nhà).

    Tổ chức quản lý xây dựng xã hội học tập:

    – Giao trách nhiệm cho các tổ chức giáo dục phát triển giáo dục qua đó thực hiện nhiệm vụ góp phần xây dựng xã hội học tập, các tổ chức xã hội tuyên truyên vận động thực hiện.

    – Nêu cao vai trò của Hội khuyến học nòng cốt tham mưu đề xuất cấp ủy chính quyền thực hiện, tổ chức quản lý các cơ sớ nhằm xây dựng xã hội học tâp.

    Nhiệm vụ của xây dựng xã hội học tập: Có 2 nhiệm vụ cơ bản:

    – Tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người có nhu cầu đều được học tập thường xuyên suốt đời, được tri thức hóa.

    – Khuyến khích người học, người tài, làm cho mọi người có trách nhiệm nghĩa vụ đối với việc học tập.

    Phương châm, phương pháp thực hiện:

    – Huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà nước và toàn dân.

    – Lấy phong trào gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học và tinh thần tự học, tự học, tự đào tạo làm hạt nhân xây dựng xã hội học tập.

    Các điều kiện để xây dựng xã hội học tập:

    – Nền tảng xã hội học tập là phổ cập giáo dục và phát huy truyền thống hiếu học.

    – Phát triển các hình thức giáo dục đa dạng.

    – Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và kỹ thuật truyền thông (mạng Internet phát triển).

    Mô hình cụ thể:

    Đã có nhiều mô hình cụ thể qua báo cáo tại các Hội nghị toàn quốc của Hội Khuyến học nhất là điển hình tiêu biểu của “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ khuyến học”, Ấp, Khu phố khuyến học, nhà chùa khuyến học…

    Đối với Tiền Giang, khi vận dụng mô hình chung và đúc kết học tập kinh nghiệm các mô hình tiêu biểu, chúng tôi xin đề xuất chọn 3 mô hình cụ thể:

    1./ Mô hình xã hội học tập vùng nông thôn, với qui mô theo khu dân cư, một xóm hoặc một ấp làm thí điểm.

    2./ Mô hình khu phố, khu dân cư đô thị học tập với qui mô một tổ dân phố hoặc một phường làm thí điểm xây dựng.

    3./ Mô hình tập thể, một tổ chức hoc tập với qui mô của một tổ chức, một tập thể từ 50 đến 70 người như một xí nghiệp, một cơ quan, một nhà máy làm thí điểm xây dựng.

    4./ Mô hình công dân học tập với các tấm gương học tập thành công trong các lĩnh vực, các mục tiêu học tập khác nhau, hình thức, điều kiện khác nhau trên cơ sở của phương châm học tập suốt đời.

    Trong các mô hình kể trên: mô hình 1 và 2 là có các kết cấu xã hội ổn định bền vững, mô hình 3 có kết cấu không bền vững, mô hình 4 là mô hình đặc trưng cấn hướng đến về lâu dài. Do vậy cần tập trung chỉ đạo mô hình 1 và 2 nhiều hơn.

    Vấn đề xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học thực chất chỉ là xây dựng các nhân tố, các tế bào của xã hội học tập mà thôi, chưa phải là xã hội học tập. Tuy vậy đây là giải pháp quan trọng nồng cốt trong thực hiện phong trào xây dựng xã hội học tập cần được củng cố, đẩy mạnh và nhân lên thường xuyên, liên tục, nuôi dưỡng phong trào.

    Các bước triển khai và giải pháp thực hiện:

    Theo phương pháp mô hình hóa, để thực hiện một nhiệm vụ, yêu cầu nào đó nhất là các vấn đề xã hội, người ta thu nhỏ hiện thực lại thành mẫu hìnhnhỏ hơn để giảm độ phức tạp, giảm quy mô nhưng vẫn giữ được những yếu tố cơ bản, đặc trưng của hiện thực rồi tiến hành thử nghiệm các giải pháp tác động, thu kết quả, phân tích kết luận trước khi áp dụng đại trà.

    Phương pháp thường phải qua 3 bước cơ bản: xây dựng mô hình, triển khai thử nghiệm mô hình, áp dụng đại trà mô hìh đã được kiểm nghiệm.

    Ở Tiền Giang, trên cơ sở các mô hình đã có nhất là mô hình lý thuyết, chúng ta đã thực hiện nhiều công việc để xây dựng xã hội học tập như viết đề án xây dựng mô hình xã hội học tập, tổ chức hội thảo; xây dựng phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, phát động phong trào gia đình hiếu học, dòng học khuyến học … đó là các công việc có ở cả 3 bước theo phương pháp mô hình hóa. Nhưng nhìn chung chúng ta cũng đang ở bước 1: xây dựng, tìm kiếm mô hình phù hợp, hiệu quả cho xây dựng xã hội học tập.

    Do tính chất rộng lớn của vấn đề xây dựng xã hội học tập, quá trình xây dựng xã hội học tập chịu sự tương tác rất phức tạp của nhiều yếu tố: nhận thức và tâm lý xã hội, tình hình kinh tế – xã hội, đời sống người dân, mặt bằng dân trí, kết cấu hạ tầng và hệ thống giáo dục, mạng lưới trường học, các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo …

    Do vậy, xây dựng xã hội học tập là vấn đề lâu dài. Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần sớm tìm ra mô hình phù hợp để nhân lên, mở rộng dần dần. Vì mang tính chất lâu dài, do vậy mô hình cũng không phải cầu toàn, từng lúc, từng nơi cần có sự cải tiến, nâng cao tính phù hợp, hiệu quả của nó.

    Trên tinh thần đó, với những giải pháp đã có và được bổ sung thêm, chúng ta hãy chọn một số ấp, xã, khu phố, tổ chức, tập thể thực hiện thí điểm trong vài ba năm với sự tham gia của nhiều cơ quan hữu quan, có trách nhiệm với các nhóm nghiên cứu, tổ chức hội thảo, sơ kết để đúc kết được mô hình hiệu quả.

    Dù thực hiện mô hình cụ thể nào, điều quan trọng là chúng ta làm gì, tạo điều kiện như thế nào, tác động ra sao để xã hội học tập được phát sinh, nảy nở trong một cộng đồng chứ không phải bắt cộng đồng ra sức thực hiện các tiêu chí xã hội học tập mà chúng ta mong muốn, chúng ta đặt ra.

    Mỗi một thành công như vậy dù nhỏ trên phạm vi một tổ dân phố, một xóm nhỏ ở nông thôn đều có gái trị lớn trong hiện thực hóa mô hình./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc
  • Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc
  • Tường Nhà Bị Ẩm Có Dán Tường Được Không
  • Tường Bị Ẩm Mốc Phải Làm Sao
  • 2.3. Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp .

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của

    mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một

    trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh

    công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công

    của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải

    pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định.

    Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập

    quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức

    lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

    Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn

    nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận

    lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi

    mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát

    triển Giáo dụ c.

    Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ

    ” Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền,

    các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có

    trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ,

    nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục

    Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS “.

    KẾT QUẢ THU HOẠCH ĐƯỢC SAU KHI THAM GIA

    KHÓA BỒI DƯỠNG

    Qua quá trình học tập và nghiên cứu cũng như sự hướng dẫn, truyền đạt của quý thầy, cô giảng viên phụ trách giảng dạy . Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II, tôi đã được bồi dưỡng một số chuyên đề với các nội dung như sau:

    phát triển giáo dục đào tạo. Trong đó nêu cao vai trò vị trí quan trọng về công tác “xã hội hoá” trong công tác phát triển giáo dục. Cụ thể:

    – Chính Phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP “Về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao”

      Tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước cho các trường đại học trọng điểm và viện nghiên cứu quốc gia, ưu tiên các ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn. Khuyến khích và hỗ trợ công dân Việt Nam đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng kinh phí tự túc.

    • Khuyến khích các cơ sở giáo dục trong nước hợp tác với các cơ sở giáo dục nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ khoa học và quản lý giáo dục; tăng số lượng học bổng cho học sinh, sinh viên đi học nước ngoài.
    • Trong xã hội học tập , mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại.
    • Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời.
    • Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi.

    1.2.2. Cơ sở thực tiễn về của xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường THCS

    Trên cơ sở thực hiện các quan điểm, định hướng chỉ đạo về công tác giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, sự nghiệp giáo dục của nước ta trong những năm qua đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Những thành

    nhiều năm nay. Chúng ta đã và đang huy động sức mạnh của toàn xã hội chăm lo cho giáo dục .

    Ngoài ra, vì ba mẹ không có thời gian quan tâm đến con cái nên việc các em lơ là trong việc học, ham thích các trò chơi online, bị ảnh hưởng tiêu cực từ các trang mạng xã hội Zalo, Internet ,… đó là vấn đề đáng báo động trong tình hình hiện nay. Việc các em đi học nhưng tâm trí chỉ mơ màng đến các trò chơi trong thế giới ảo là tình trạng chung, hầu như lớp nào cũng xảy ra tình trạng này (theo báo cáo váo các buổi sinh hoạt giao ban công tác chủ nhiệm hàng tuần sáng thứ hai ở trưởng).

    Vì vậy, để làm sao có biện pháp tuyên truyền huy động để không những cha mẹ học sinh, mà các tổ chức xã hội đều hướng về nhà trường bằng cả tâm huyết, để làm sao con em ở địa phương có ý thức cao trong học tập, mỗi người dân trên địa bàn thấy rõ được vai trò vị trí của công tác giáo dục, để làm sao Đảng ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương quan tâm nhiều đến sự phát triển của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs
  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang
  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • – Lượt xem: 5963

    Khái niệm và tầm quan trọng của xã hội học tập

    Xã hội học tập (XHHT) là một xã hội mà mọi người đều được học, cần phải học và tự giác học thường xuyên, học suốt đời; mọi người được tiếp cận những cơ hội học tập thuận lợi và lấy tự học cùng với ý chí, nghị lực phấn đấu kiên trì của mình là chính để đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội; mọi người không phân biệt tuổi tác, ngành nghề, trình độ đều thấy học tập là nhu cầu của cuộc sống, luôn cần phải học và học suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc.

    Để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời (HTSĐ) của người dân, các nhà trường, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các cơ quan truyền thông, mọi tổ chức và mọi người dân,… đều có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được HTSĐ.

    Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), HTSĐ là tất cả các hoạt động học tập có chủ đích xuyên suốt cuộc đời của một cá nhân từ khi chào đời đến lúc rời xa cuộc sống, theo các phương thức giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy. Trong thời đại chu kỳ thay đổi khoa học – công nghệ ngày càng rút ngắn và tuổi thọ ngày càng cao thì HTSĐ là tất yếu.

    Xây dựng xã hội học tập tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân học tập suốt đời là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam – Nguồn: chúng tôi

    Học tập suốt đời vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của công dân. Công dân có quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện, hoàn cảnh của mình để nâng cao tri thức, hiểu biết, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; học để có nghề nghiệp, có việc làm hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công việc; học để cống hiến được nhiều hơn, để làm cho mình và mọi người hạnh phúc; học để góp phần phát triển đất nước và nhân loại.

    Trên thế giới, các quốc gia đang ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng một “hệ thống giáo dục mạnh”. Trong đó, HTSĐ được đặc biệt chú trọng, bởi lẽ HTSĐ cung cấp khung vững chắc để phát triển nguồn nhân lực bền vững, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội và khuyến khích, thúc đẩy các cá nhân theo đuổi cơ hội học tập ở mọi giai đoạn của cuộc đời.

    Thực tế ở nhiều quốc gia phát triển cho thấy, HTSĐ đã thực sự góp phần quan trọng vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn lực chung cho sự phát triển, cải thiện về môi trường kinh tế – xã hội cho cộng đồng, thay đổi diện mạo văn hóa cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Nhờ HTSĐ, mỗi cá nhân đều được nâng cao khả năng thích ứng, hòa nhập và phát triển nhân cách. Với những đối tượng nhạy cảm, như trẻ em gái, phụ nữ, người dân tộc thiểu số,… HTSĐ có ý nghĩa rất to lớn trong việc hỗ trợ về cơ hội, tạo ra động lực giúp họ học tập để cập nhật kiến thức, kỹ năng, cải thiện năng suất lao động, tạo thêm thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, thay đổi thân phận và địa vị xã hội, góp phần tạo ra sự bình đẳng và tiến bộ hơn.

    Để phát triển nền giáo dục cả trong hiện tại và tương lai, xây dựng XHHT là nền tảng, là cốt lõi, trong đó xây dựng cơ hội HTSĐ vừa là phương châm, vừa là giải pháp, vừa là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục. Nghĩa là cần phải xây dựng một hệ thống giáo dục sao cho bất cứ công dân nào có nhu cầu học tập đều tìm thấy cơ hội học tập thuận lợi, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh trong những thời gian và không gian khác nhau.

    Vì những lý do trên có thể thấy rõ xây dựng XHHT, tạo cơ hội HTSĐ đang là xu thế tất yếu, là mục tiêu mang tính thời đại của mọi nền giáo dục trên thế giới.

    Một số thành tựu trong xây dựng xã hội học tập

    Trong chiến lược phát triển đất nước qua các thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự học và trong thực tế đã có những chủ trương, chính sách lớn để tạo điều kiện cho người dân được học tập thường xuyên, HTSĐ.

    Trong các văn kiện từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng nhất quán chủ trương thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người đều có thể được học tập suốt đời. Chủ trương trên của Đảng xác lập một quan niệm rõ ràng về XHHT với tư cách là một thể thống nhất giữa hệ thống giáo dục ban đầu (bao gồm trường, lớp và cơ sở giáo dục chính quy từ nhà trẻ, mẫu giáo đến đại học) và hệ thống giáo dục tiếp tục (với nhiều hình thức giáo dục chính quy và không chính quy tại các cơ sở đào tạo tại chức, cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học, đào tạo và đào tạo lại qua các khóa học, lớp học ngắn hạn…).

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.

    Nhận thức rõ vai trò, vị trí, ý nghĩa của việc xây dựng XHHT, ngày 18-5-2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010” với tiêu chí tổng quát là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi lúc, mọi nơi, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong học tập và tích cực tham gia xây dựng XHHT.

    Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 13-4-2007, Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg, ngày 08-01-2008, Về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Ngày 09-01-2013, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2022” (Đề án) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng XHHT tại nước ta. Đề án đã nêu rõ: “mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại”.

    Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT, bảo đảm cho tất cả các công dân có cơ hội bình đẳng trong học tập, đào tạo, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các tổ chức, đoàn thể, đặc biệt là Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai thực hiện Đề án. Một số hoạt động cụ thể được thực hiện, như xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện Đề án; xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 6 đề án thành phần: 1- Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2022”; 2- Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ”; 3- Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2022”; 4- Đề án “Truyền thông về xây dựng xã hội học tập”;5- Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời cho công nhân lao động trong các doanh nghiệp”; 6- Đề án “Phát triển đào tạo từ xa”; tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng HTSĐ vào tuần đầu tháng 10 hằng năm để mỗi người dân nhận thức đầy đủ hơn, đúng đắn hơn về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của HTSĐ, xây dựng XHHT đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển bền vững xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng và cá nhân; tổ chức những chương trình giáo dục mở trên sóng phát thanh, truyền hình (như Chương trình hướng dẫn ôn tập và luyện thi đại học và Chương trình dạy tiếng Anh trên VTV2; Chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên VTV4; Chương trình giáo dục các kỹ năng sống trên VTV3; các chương trình Chào buổi sáng, đời sống thường ngày trên VTV đã giúp cho người dân có được những kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện pháp luật, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe người dân; Chương trình học tiếng Anh Obla Air trên trên kênh VOV2 (Kênh Văn hóa, Xã hội và Giáo dục) và VOV5 (Hệ Phát thanh Đối ngoại Quốc gia); kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia phát sóng trên kênh truyền hình VTV7 với mục tiêu “Vì một xã hội học tập”, cung cấp các tri thức đa dạng cho nhiều tầng lớp khán giả khác nhau,…).

    Các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể các địa phương trong cả nước đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, như xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án cụ thể, phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương; thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án; ban hành chỉ thị, nghị quyết của tỉnh/thành ủy, hội đồng nhân dân tỉnh/thànhphố về việc thực hiện Đề án; tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai thực hiện Đề án.

    Ngoài vai trò chủ đạo của ngành giáo dục – đào tạo, các ngành văn hóa, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông, lao động – thương binh và xã hội, nội vụ, tài chính,..; các tổ chức, đoàn thể: Hội Khuyến học, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,…; các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thông trên địa bàn tỉnh đã tham gia tích cực trong việc xây dựng XHHT ở địa phương. Nhiều địa phương đã có giải pháp tuyên truyền về vai trò, tác dụng của HTSĐ, xây dựng XHHT thiết thực, tạo ấn tượng sâu sắc và có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân; chỉ đạo cụ thể hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng các mô hình học tập; đa dạng hóa nội dung, hình thức học tập; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, các lớp phổ biến kiến thức phục vụ nhu cầu HTSĐ của mọi tầng lớp nhân dân.

    Kể từ khi triển khai Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010” đến nay, chúng ta đã có hơn 13 năm triển khai thực tế nhiệm vụ xây dựng XHHT và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể: mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên được củng cố và phát triển, đặc biệt là mạng lưới các trung tâm học tập cộng đồng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi lứa tuổi. Hiện cả nước có 695 trung tâm giáo dục thường xuyên, bao gồm 74 trung tâm cấp tỉnh, 621 trung tâm cấp huyện (32 trung tâm giáo dục thường xuyên và 589 trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên); 11.019 trung tâm học tập cộng đồng (đạt 98,7%). Trong đó có 4.713 trung tâm học tập cộng đồng kết hợp với trung tâm văn hóa, thể thao xã (42,8%); 2.854 trung tâm ngoại ngữ – tin học, trong đó: 66 trung tâm ngoại ngữ – tin học công lập và 2.706 trung tâm ngoại ngữ – tin học ngoài công lập và 82 trung tâm ngoại ngữ – tin học có vốn đầu tư nước ngoài.

    Chỉ tính riêng từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã có hơn 100 triệu lượt người tham gia học tập các chuyên đề tại các trung tâm học tập cộng đồng; gần 5 triệu lượt người học ngoại ngữ và hơn 1 triệu lượt người học bồi dưỡng tin học ứng dụng; hơn 2 triệu lượt người tham gia học nghề ngắn hạn; hơn 235 nghìn người theo học lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ. Số lượt cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng đạt hơn 3,2 triệu lượt người (tăng khoảng 24% so với giai đoạn 2006 – 2010).

    Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập không nhỏ đối với công tác xây dựng XHHT ở Việt Nam, một số chỉ tiêu chưa đạt được so với kế hoạch đề ra trong Đề án, cụ thể như:

    Một số địa phương chưa quan tâm đến việc học tập của người lớn, xây dựng XHHT; sự phối hợp giữa các cơ quan, sở, ngành, tổ chức, đoàn thể trong việc triển khai thực hiện Đề án ở một số địa phương chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên và hiệu quả;

    Công tác tuyên truyền về khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT ở một số nơi, nhất là cấp cơ sở vẫn còn hạn chế cả nội dung lẫn hình thức;

    Tỷ lệ huy động người học xóa mù chữ còn thấp và kết quả không bền vững (ở những vùng đặc biệt khó khăn), hiện tượng tái mù chữ còn khá lớn, công tác điều tra cơ bản về số người mù chữ hằng năm của các địa phương chưa được coi trọng, số lượng báo cáo không cập nhật và thiếu chính xác, ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch, thực thi chính sách;

    Phong trào học tập trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang chưa mạnh. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa tự giác học tập để nâng cao trình độ, còn tâm lý ngại học. Chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức chưa gắn với yêu cầu công việc, vị trí việc làm, chức danh mà cán bộ, công chức đảm nhiệm;

    Nhiều địa phương chưa chủ động gắn đào tạo nghề với phát triển kinh tế – xã hội và giải quyết việc làm, công tác kiểm tra, đánh giá, thông tin, báo cáo không kịp thời, thiếu chính xác.

    Giải pháp thúc đẩy xây dựng xã hội học tập

    Để bảo đảm cho sự thành công của chủ trương xây dựng XHHT ở Việt Nam, trong thời gian tới, các địa phương cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

    Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về HTSĐ, xây dựng XHHT.

    – Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người dân về ý nghĩa, tác dụng của việc HTSĐ, xây dựng XHHT dưới nhiều hình thức khác nhau, như xây dựng các chuyên đề trên phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, tổ chức các hội thảo, diễn đàn về HTSĐ và xây dựng XHHT.

    – Phát động phong trào thi đua học tập thường xuyên, HTSĐ rộng khắp nhằm thúc đẩy việc học tập trong mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng dân cư. Mọi người đều coi học tập là nhu cầu cần thiết.

    – Nhân rộng các mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học tập” theo hướng thiết thực, hiệu quả, nhằm phát triển mạnh hơn nữa phong trào HTSĐ trong mọi gia đình, dòng họ, cộng đồng và cơ quan, tổ chức. Lựa chọn và đề xuất các thành phố tham gia mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu của UNESCO.

    – Tổ chức tuần lễ HTSĐ hằng năm với các hoạt động đa dạng, phong phú, thiết thực và hiệu quả.

    Thứ hai, củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên và các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.

    – Rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên. Trên cơ sở đó quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

    – Nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên cấp huyện sau khi sáp nhập theo hướng thực hiện nhiều nhiệm vụ: giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng ngắn hạn và tư vấn, hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng.

    – Củng cố mô hình hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng theo hướng kết hợp với nhà văn hóa, thư viện, bưu điện văn hóa xã. Các lớp học của trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người cùng tham gia (tổ chức tại các thôn, bản, tại nhà dân…).

    – Tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy học cho các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng dạy và học. Tổ chức nghiên cứu, thí điểm tại mỗi đơn vị cấp huyện có từ 2 đến 3 mô hình trung tâm học tập cộng đồng hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững để làm điểm cho các trung tâm học tập cộng đồng nghiên cứu, học tập và có thể xem xét, nhân rộng.

    – Mở rộng mạng lưới quy mô hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ, tin học; xây dựng và phát triển các cộng đồng học tập ngoại ngữ; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, nhà đầu tư tham gia hoạt động, đầu tư, thành lập các trung tâm ngoại ngữ – tin học.

    – Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.

    Thứ ba, đổi mới quản lý giáo dục thường xuyên.

    – Đổi mới việc quản lý nhà nước đối với việc xây dựng XHHT. Các cơ quan quản lý, các cơ sở giáo dục đóng vai trò là người tổ chức phát động phong trào học tập thường xuyên, HTSĐ; có các biện pháp khuyến khích người dân học tập nhằm thúc đẩy phong trào.

    – Tăng cường phân cấp quản lý trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trung tâm học tập cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi trung tâm theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, ngày 14-2-2015, của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

    – Tăng cường hiệu lực quản lý hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ – tin học, bảo đảm tất cả các trung tâm hoạt động theo đúng quy chế và các quy định của pháp luật;

    – Tăng cường quản lý, giám sát các cơ sở liên kết đào tạo, kể cả liên kết với cơ sở giáo dục của nước ngoài thực hiện đúng quy định của Nhà nước.

    Thứ tư, đổi mới chương trình giáo dục thường xuyên theo hướng đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo đáp ứng nhu cầu của người học.

    – Xây dựng chương trình xóa mù chữ và biên soạn tài liệu học tập hướng tới các đối tượng thiệt thòi trong xã hội: người dân tộc thiểu số; phụ nữ, trẻ em gái; người lao động nghèo, người khuyết tật; bảo đảm người học có các kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc viết, tính toán bằng tiếng Việt; có các hiểu biết đơn giản cần thiết về con người, về thế giới tự nhiên và xã hội phù hợp, thiết thực với cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất; giúp người học có các cơ hội tiếp cận với các bậc học cao hơn, thoát khỏi cuộc sống nghèo khó, lạc hậu.

    – Tổ chức lựa chọn hoặc xây dựng, biên soạn chương trình bồi dưỡng tin học, chương trình bồi dưỡng tiếng Anh phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện cụ thể của địa phương.

    – Đối với chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu người học: Phát triển chương trình, tài liệu học tập theo hướng đa dạng phù hợp với tính chất vùng miền, nhu cầu và đặc điểm của người học; đa dạng hóa các hình thức học tập, người học có thể học theo hình thức tập trung, không tập trung, tự học, tự học có hướng dẫn, học tập qua in-tơ-nét.

    – Tăng cường năng lực đào tạo từ xa cho các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy và học, phát triển học liệu điện tử và xây dựng các hệ thống học trực tuyến (e-learning) hỗ trợ cho học viên có thể học từ xa, tự học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể HTSĐ.

    Thứ năm, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục thường xuyên.

    – Xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cho giáo dục thường xuyên. Giáo viên ở các cơ sở giáo dục thường xuyên gồm giáo viên cơ hữu và giáo viên hợp đồng thỉnh giảng. Đối với giáo viên cơ hữu chỉ cần có số lượng tối thiểu đủ để tổ chức và quản lý các lớp học, số còn lại là giáo viên hợp đồng thỉnh giảng.

    – Bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, hướng dẫn viên của các cơ sở giáo dục thường xuyên có đủ trình độ và năng lực (tính chuyên nghiệp) về điều tra nhu cầu học tập, xây dựng chương trình học, tổ chức lớp học, vận động sự tham gia của cộng đồng…

    – Nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên đáp ứng nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho đội cán bộ, công chức và giáo viên.

    Thứ sáu, huy động các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia xây dựng XHHT.

    – Củng cố, kiện toàn và tăng cường công tác chỉ đạo của ban chỉ đạo xây dựng XHHT ở các cấp nhằm thực hiện có hiệu quả kế hoạch xây dựng XHHT.

    – Đưa việc xây dựng XHHT và HTSĐ vào nội dung bắt buộc trong chương trình, kế hoạch hoạt động, thi đua hằng năm và từng giai đoạn của các ngành, các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức và doanh nghiệp. Hằng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện và báo cáo ban chỉ đạo xây dựng XHHT cấp tỉnh.

    – Phân công nhiệm vụ rõ ràng đối với các sở, ngành, tổ chức, đoàn thể và các huyện. Tất cả các sở, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đều có trách nhiệm cung ứng HTSĐ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc ngành mình được HTSĐ.

    Thứ bảy, xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích người học.

    – Các sở, ban, ngành phải có quy định về việc học tập của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; hằng năm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, thúc đẩy việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới cơ chế tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới cơ chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.

    – Chính quyền địa phương cần tác động với chủ doanh nghiệp để hỗ trợ công nhân (thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất) tham gia học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp mà không ảnh hưởng đến công việc, đến thu nhập của công nhân lao động.

    – Các thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ,… cần có những dịch vụ học tập để người học thuận lợi trong việc tiếp cận những thông tin, tri thức mới, những công nghệ mới./.

    Nguyễn Hữu Độ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Theo Tạp chí Cộng sản)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • ​​​​hội Thảo “Bàn Giải Pháp Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu”

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Thực Hiện Công Tác Gdqp&an Trong Tình Hình Mới
  • Xây Dựng Giải Pháp Network Cho Khách Sạn Và Resort
  • Nỗ Lực Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
  • Ielts Speaking Chủ Đề “Vấn Nạn Kẹt Xe”
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới Trung ương phối hợp với Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh Ninh Bình vừa tổ chức Hội thảo “Bàn giải pháp xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu”.

    Tham dự Hội thảo có đại biểu của các tỉnh, thành phố Khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ; đại diện lãnh đạo một số sở, ngành, các huyện, thành phố của tỉnh Ninh Bình.Theo báo cáo của văn Phòng điều phối NTM Trung ương, đến thời điểm hiện tại cả nước có trên 5.300 xã đạt chuẩn NTM và 158 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM. Trong đó nhiều tỉnh có 100% xã, huyện đạt chuẩn NTM. Cùng với triển khai xây dựng, nhiều tỉnh thành phố trong cả nước đã ban hành Bộ tiêu chí NTM kiểu mẫu phù hợp với tình hình thực tế và áp dụng triển khai trên địa bàn.

    Tại tỉnh Ninh Bình, sau 3 năm triển khai thực hiện chương trình đã có 8 xã: Khánh Thiện, Yên Từ, Gia Vân, Khánh Thành, Đồng Phong, Yên Hòa, Quang Sơn, Ninh Giang đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, chiếm gần 35% tổng số xã NTM kiểu mẫu của cả nước.

    Tại hội thảo, các địa phương đã thông tin về tình hình xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh mình, đóng góp ý kiến, trao đổi về một số nội dung trong quá trình thực hiện để tìm ra giải pháp, định hướng xây dựng NTM kiểu mẫu, NTM nâng cao. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương; sự chung sức đồng lòng của cán bộ, nhân dân. 

    Nhiều đại biểu cũng chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu, tiêu chí môi trường, cải tạo cảnh quan khu dân cư, phát triển kinh tế nông thôn theo đặc trưng, thế mạnh địa phương; phát triển du lịch cộng đồng gắn với xây dựng NTM…

    Thanh Nga (nbtv.vn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tọa Đàm Về Kinh Nghiệm, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Khu Dân Cư Tiêu Biểu, Khu Dân Cư Kiểu Mẫu
  • Giáo Dục Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em
  • Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển
  • Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ngân Hàng Thương Mại Với Chiến Lược Phát Triển Ngành Ngân Hàng Đến Năm 2025 Và Định Hướng 2030
  • Nâng Cao Chất Lượng Lao Động, Kết Nối Cung
  • Hội Thảo “bàn Giải Pháp Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu”

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng, An Ninh
  • Mấy Giải Pháp Cơ Bản Tăng Cường Công Tác Giáo Dục Quốc Phòng
  • Tăng Cường Quốc Phòng, An Ninh, Bảo Vệ Vững Chắc Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Mới
  • Những Nội Dung Mới Về Tăng Cường Quốc Phòng Và An Ninh, Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Dự Thảo Các Văn Kiện Trình Đại Hội Xii Của Đảng
  • Một Số Định Hướng Cơ Bản Về Tăng Cường Củng Cố Quốc Phòng
  • Thứ tư – 14/10/2020 07:28

    Quang cảnh hội thảo.

    Dự hội thảo có đại diện lãnh đạo Văn phòng Điều phối xây dựng NTM Trung ương; đại biểu các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ; đại diện lãnh đạo một số sở, ngành, các huyện, thành phố của tỉnh Ninh Bình.

    Theo Văn phòng điều phối NTM Trung ương, cả nước có 5.385 xã (chiếm 66% tổng số xã) và 158 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM. Trong đó nhiều tỉnh có 100% xã và 100% huyện đạt chuẩn NTM. Cùng với triển khai xây dựng NTM, nhiều tỉnh thành phố trong cả nước đã ban hành Bộ tiêu chí NTM kiểu mẫu và áp dụng triển khai thực hiện trên địa bàn. Đến nay cả nước có 23 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, trong đó tỉnh Ninh Bình có 8 xã (Khánh Thiện, Yên Từ, Gia Vân, Khánh Thành, Đồng Phong, Yên Hòa, Quang Sơn, Ninh Giang).

    Tại hội thảo, các địa phương đã thông tin về tình hình xây dựng NTM trên địa bàn, đóng góp ý kiến về một số nội dung trong quá trình xây dựng NTM để tìm ra giải pháp, định hướng xây dựng NTM kiểu mẫu, NTM nâng cao. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương; sự chung sức đồng lòng của cán bộ, nhân dân trong xây dựng NTM.

    Bên cạnh đó, các địa phương cũng chia sẻ những kinh nghiệm, cách làm mới theo chuyên đề: Xây dựng khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu; triển khai hoạt động bảo vệ môi trường, cải tạo cảnh quan khu dân cư gắn với xây dựng NTM; phát triển kinh tế dân cư nông thôn theo đặc trưng, thế mạnh địa phương; phát triển du lịch cộng đồng gắn với xây dựng NTM; vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong xây dựng NTM, NTM kiểu mẫu…

    Cũng trong chương trình hội thảo, chiều ngày 9/10, các đại biểu đã thăm quan thực tế tại xã Khánh Thành, xã Khánh Thiện (huyện Yên Khánh).

    Theo chúng tôi

    Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nam Định: Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu
  • Những Cách Làm Hay Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu Ở Nam Đàn
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Khu Dân Cư Ntm Kiểu Mẫu, Vườn Mẫu Trên Địa Bàn Hà Tĩnh
  • Cổng Điện Tử Ubnd Huyện Tiên Phước
  • Giải Pháp Tổng Thể Mạng Wifi Cho Tòa Nhà Cao Tầng.
  • Xây Dựng Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Mô Tả Công Việc Giám Sát Nhà Hàng Khách Sạn
  • Bản Mô Tả Công Việc Giám Sát F&b Trong Khách Sạn
  • Đề Tài Mẫu: Vai Trò, Chức Năng Của Nhà Hàng Trong Hoạt Động Du Lịch
  • Bai 1 Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Nhiệm Vụ Của Chi Uỷ, Bí Thư Chi Bộ Bai 1 Ppt
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Thiết Kế Sản Phẩm Đầy Đủ Nhất!
  • Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức mà thông qua đó, đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; là một tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội; đó là một nhà nước kiểu mới, thay thế nhà nước tư sản nhờ kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Với tư cách là một trong những tổ chức cơ bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân. Đó là một công cụ quản lý do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra nhằm thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân, đồng thời cũng thông qua nó, giai cấp công nhân và chính đảng của mình thực hiện sự lãnh đạo đối với toàn xã hội trong quá trình bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân, được thể hiện tập trung qua hai chức năng chủ yếu của nó, đó là chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội.

    b) Đặc trưng, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa

    Khác với các hình thức nhà nước đã từng có trong lịch sử, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt. Đó là kiểu nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.

    Hai là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ chuyên chính giai cấp, nhưng vì lợi ích của tất cá những người lao động tức là tuyệt đại đa số nhân dân; thực hiện sự trấn áp đối với những lực lượng chống đối, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    Ba là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn xem mặt tổ chức, xây dựng là đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của chuyên chính vô sản. V.I.Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản không phải là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là yếu tố cơ bản của nên dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo V.I.Lênin, con đường vận động, phát triển của nó là ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện của nhân dân, mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

    Năm là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là “nửa nhà nước”. Sau khi những cơ sở kinh tế – xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi thì nhà nước cũng không còn, nhà nước “tự tiêu vong”. Đây cũng là một đặc trưng nổi bật của nhà nước vô sản.

    Những đặc trưng cơ bản đó cho thấy chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở việc quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực bằng pháp luật.

    Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa được thực hiện cả bằng tổ chức có hiệu quả công việc xây dựng toàn diện xã hội mới, cả bằng việc sử dụng những công cụ bạo lực để đập tan sự phản kháng của kẻ thù chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững an ninh xã hội.

    Bạo lực, trấn áp là cái vốn có của mọi nhà nước, do đó bạo lực, trấn áp cũng là cái vốn có của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đều cho rằng, với bản chất của nhà nước vô sản, thì việc tổ chức, xây dựng mang tính sáng tạo nhằm cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chức năng căn bản, chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Khi xác định những nấc thang, những giai đoạn phát triển của một cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đi tới giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và phát triển toàn diện con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, việc giai cấp công nhân giành lấy quyền lực nhà nước mới chỉ là giai đoạn đầu tiên. Trong giai đoạn tiếp theo, phải sử dụng quyền lực nhà nước “để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất”. Như vậy, rõ ràng chức năng tổ chức và xây dựng phải là chức năng chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    Phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề này, V.I.Lênin khẳng định, việc tích cực xây dựng chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra một xã hội mới, đó là chức năng quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, quan trọng hơn cả việc đập tan sự phản kháng của giai cấp tư sản.

    Từ hai chức năng trên, nhà nước xã hội chủ nghĩa có những nhiệm vụ chính là: quản lý kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế: cải thiện không ngừng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, quản lý văn hóa – xã hội, xây dựng nên văn hóa xã hội chủ nghĩa. thực hiện giáo dục – đào tạo con người phát triển toàn diện, chăm sóc sức khỏe nhân dân… Ngoài ra, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn có chức năng, nhiệm vụ đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì sự phát triển và tiến bộ xã hội đối với nhân dân các nước trên thế giới.

    Từ thực tế xây dựng xã hội mới ở nước Nga Xôviết. V.I.Lênin đã làm rõ nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa trên hai lĩnh vực kinh tế và xã hội

    Đối với lĩnh vực kinh tế, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà nước vô sản là phải nhanh chóng phát triển mạnh số lượng sản phẩm, cùng cố kỷ luật lao động mới và nâng cao năng suất lao động.

    Đối với lĩnh vực xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải xây dựng được quan hệ xã hội mới, hình thành những tổ chức lao động mới, tập hợp được đông đảo những người lao động có khả năng vận dụng những thành tựu của khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện từng bước cải tạo những người tiểu sản xuất hàng hóa thông qua những tổ chức thích hợp.

    c) Tính tất yếu của việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    C.Mác và Ph. Ăngghen cho rằng, giai cấp công nhân khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, xóa bỏ tình trạng người bóc lột người và mọi sự tha hóa của con người do chế độ tư hữu sản sinh ra, thì trước hết họ phải cùng với nhân dân lao động “phá hủy nhà nước tư sản” chiếm lấy chính quyền thiết lập chuyên chính vô sản. Bởi vì, “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nên chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản .

    Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân phải nắm vững công cụ chuyên chính, phải xây dựng nhà nuớc xã hội chủ nghĩa vững mạnh, trở thành một công cụ trấn áp các thế lực đi ngược lại lợi ích của nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

    Sự cần thiết tất yếu phải xác lập chuyên chính vô sản, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh còn xuất phát từ thực tiễn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ còn tồn tại các giai cấp bóc lột, chúng hoạt động chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động thông qua nhà nước phải trấn áp bằng bạo lực khi cần thiết. V.I.Lênin xem dấu hiệu tất yếu, điều kiện bất buộc của chuyên chính là trấn áp bằng bạo lực những kẻ bóc lột, phản động với tính cách là một giai cấp. Đồng thời, trong thời kỳ quá độ cũng còn có các giai cấp, tầng lớn trung gian khác và do địa vị kinh tế – xã hội vốn có, các giai cấp này thường dao động, không thể tự mình đi lên chủ nghĩa xã hội. Trước thực tế đỏ, giai cấp công nhân phải tuyên truyền, thuyết phục, lôi cuốn họ đi theo mình trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Do đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa đóng vai trò là thiết chế cần thiết bảo đảm sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với toàn xã hội.

    Để mở rộng dân chủ tới mức tối đa đối với mọi tầng lớp nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chuyên chính của nhân dân, đòi hòi phải có một thiết chế nhà nước phù hợp. Chính vì vậy trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải được củng cố, xây dựng để trở thành công cụ bảo vệ và phát triển thành quả của dân chủ. Dân chủ cần phải có chuyên chính để giữ lấy dân chủ, để những hành vi gây tác hại tới quyền dân chủ của nhân dân được xử lý kịp thời… Các quyền đó phải được thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật và được thực hiện bằng những thiết chế tương ứng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Do đó, quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa tất yếu gắn liền với quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Quá trình này cho thấy, dân chủ và pháp luật, dân chủ và kỷ cương không bài trừ và phủ định nhau, trái lại, đó chính là sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề tồn tại và phát triển của nhau.

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng. Với ý nghĩa đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa là phương thức, phương tiện, là một công cụ chủ yếu của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, để bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa – một trong những công cụ chủ yếu của quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Hành Chính Nhà Nước
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Nhà Nước
  • Những Điều Cần Biết Khi Chọn Mua Mainboard
  • Bo Mạch Chủ Trên Máy Tính Là Gì?
  • Motherboard, Mainboard Là Gì Và Có Tác Dụng Gì?
  • Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Để Chống Xuống Cấp Đạo Đức Trong Đảng
  • Xây Dựng “thế Trận Lòng Dân” Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Xây Dựng “thế Trận Lòng Dân”
  • Bộ Đội Biên Phòng Với Nhiệm Vụ Xây Dựng “thế Trận Lòng Dân” Ở Khu Vực Biên Giới Quốc Gia
  • Thế Trận Lòng Dân Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • a) Quan niệm về dân chủ và nền dân chủ

    Dân chủ và thực hiện dân chủ là nhu cầu khách quan của con người. Ngay từ xã hội công xã nguyên thủy, để duy trì sự tồn tại của mình, con người đã biết tự tổ chức ra những hoạt động có tính cộng đồng, các thành viên công xã đều bình đẳng tham gia vào mọi công việc của xã hội. Việc cử ra những người đứng đầu các cộng đồng và phế bỏ những người đứng đầu nếu không thực thi đúng những quy định chung được giao do mọi thành viên công xã quyết định thông qua đại hội nhân dân. Đây được coi là hình thức dân chủ sở khai, chất phác của những tổ chức cộng đồng tự quản trong xã hội chưa có giai cấp.

    Trong ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, khái niệm “dân chủ” được hiểu là: việc “cử ra và phế bỏ người đứng đầu” đó là “quyền và sức lực của nhân dân”. Như vậy, ngay từ buổi sơ khai của lịch sử nhân loại, dân chủ được hiểu với tư cách là quyền lực của nhân dân.

    Khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, giai cấp và bất bình đẳng xuất hiện, các hình thức tự quản của xã hội trước đây đã không còn thích hợp, xã hội cần đến những tổ chức chính trị với những công cụ bạo lực, cưỡng bức để điều chỉnh hoạt động của xã hội, giai cấp và công dân. Trong điều kiện như vậy, một tổ chức đặc biệt đã ra đời, đó là nhà nước. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô đã lập ra cơ quan quyền lực nhằm trước hết bảo vệ lợi ích của mình và sau nữa nhằm đáp ứng nhu cầu ổn định trật tự xã hội. Cơ quan quyền lực đó chính là nhà nước dân chủ đối với chủ nô, thực hiện sự thống trị của thiểu số đối với đại đa số những người lao động, tức những người nô lệ. Khi đó người ta đã ghép hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ là “Demos” có nghĩa là “dân”, “dân chúng” và “Kratos” có nghĩa là “quyền lực”, “sức mạnh” để diễn đạt nội dung của dân chủ. Nhà nước chủ nô chính thức sử dụng thuật ngữ “dân chủ” với nghĩa là nhà nước dân chủ chủ nô có “quyền lực của dân”. Nhưng cũng từ đây, nhà nước do giai cấp chủ nô nắm giữ đã quy định dân bao gồm chủ nô, quý tộc, tăng lữ, thương gia, một số trí thức và người tự do, còn tuyệt đại đa số nô lệ thì không được coi là dân.

    Như vậy, về thực chất, ngay từ thế kỷ VIII trước Công nguyên, với nhà nước đầu tiên trong lịch sử, giai cấp tư hữu, áp bức bóc lột (giai cấp chủ nô) đã dùng pháp luật và bộ máy thống trị của mình để chiếm mất quyền lực của đông đảo quần chúng nhân dân lao động là những người nô lệ.

    Sau hàng ngàn năm lịch sử, các giai cấp chúa đất phong kiến và giai cấp tư sản đã bằng mọi cách tiếp tục chiếm đoạt quyền lực của nhân dân lao động.

    Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới: lần đầu tiên trong lịch sử loài người, nhân dân lao động đã giành lại được quyền lực thực sự của mình. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó đã trở thành nhà nước đầu tiên thực hiện quyền lực của nhân dân.

    Từ thực tiễn lịch sử ra đời và phát triển của dân chủ, chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu ra những quan niệm cơ bản về dân chủ như sau:

    Thứ nhất, dân chủ là sản phẩm tiến hóa của lịch sử, là nhu cầu khách quan của con người. Với tư cách là quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự phản ánh những giá trị nhân văn, là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân chống lại áp bức, bóc lột, bất công.

    Thứ hai, dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ không có “dân chủ phi giai cấp”, “dân chủ chung chung”.

    Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn người này là đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác. Mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị.

    Thứ ba, dân chủ còn được hiểu với tư cách là một hệ giá trị phản ánh trình độ phát triển cá nhân và cộng đồng xã hội trong quá trình giải phóng xã hội, chống áp bức, bóc lột và nô dịch để tiến tới tự do, bình đẳng. Theo V.I.Lênin, dân chủ là bình đẳng. Rõ ràng là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để giành quyền bình đẳng có một ý nghĩa rất lớn, nghĩa là phải hiểu bình đẳng cho đúng, hiểu theo nghĩa xóa bỏ giai cấp.

    Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa bằng chế độ nhà nước, pháp luật và cũng từ khi xã hội có giai cấp, dân chủ được thực hiện dưới hình thức mới – hình thức nhà nước với tên gọi là “chính thể dân chủ” hay “nền dân chủ”.

    Buớc chuyền từ xã hội công xã nguyên thủy sang xã hội chiếm hữu nô lệ đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của dân chủ. Dân chủ là quyền lực của nhân dân được thực hiện bởi những tổ chức tự quản một cách tự nguvện, theo truyền thống đã chuyển sang một hình thức mới gắn với nhà nước. Từ đây dân chủ được thể chế hóa bằng chế độ nhà nước, bằng pháp luật của giai cấp thống trị chủ nô và được thực hiện chủ yếu bằng cưỡng chế. Nên dân chủ hay chế độ dân chủ đầu tiên trong lịch sử của xã hội có giai cấp xuất hiện.

    Nền dân chủ hay chế độ dân chủ là hình thái dân chủ gắn với bản chất, tính chất của nhà nước; là trạng thái được xác định trong những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội có giai cấp. Nền dân chủ do giai cấp thống trị đặt ra được thể chế hóa bằng pháp luật.

    V.I.Lênin cho rằng: “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta” 1. Do đó, nền dân chủ luôn gắn với nhà nước như là cơ chế để thực thi dân chủ và mang bản chất giai cấp của giai cấp thống trị.

    Phân tích thực tiễn quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của các nền dân chủ trong lịch sử, đặc biệt là những quy luật của nền dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định: đấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài và không thể dừng lại ở dân chủ tư sản. Sự tất yếu diễn ra và thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa cùng là sự tất yếu ra đời của một nên dân chủ mới – dân chủ xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó gắn liền với quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội.

    Sự hình thành dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, đã hình thành chế độ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân.

    Tuy nhiên, sự hình thành và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện cần thiết để giải phóng quần chúng nhân dân lao động, để mở rộng dân chủ và trên cơ sở đó cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng lôi cuốn nhân dân lao động vào công cuộc cải tạo xã hội, xây dựng nền dân chủ mới.

    Chính vì vậy, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ được hình thành, phát triển dần dần, từng bước phù hợp với quá trình phát triển của kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội.

    Trong quá trình hình thành và phát triển, dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, với tư cách là chế độ nhà nước được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó. Nhà nước bảo đảm thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu và lợi ích của nhân dân, trong đó có lợi ích của giai cấp công nhân. Đây chính là đặc trưng bản chất chính trị của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc.

    Hai là, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội. Chế độ sở hữu đó phù hợp với quá trình xã hội hóa ngày càng cao của sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên về vật chất và tinh thần của tất cả quần chúng nhân dân lao động. Đây là đặc trưng kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng này được hình thành và bộc lộ ngày càng đầy đủ cùng với quá trình hình thành và hoàn thiện của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình cải tạo và xây dựng lâu dài kể từ khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cho đến khi chủ nghĩa xã hội thực sự trưởng thành.

    Bốn là, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cần có và phải có những điều kiện tồn tại với tư cách là một nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử nhưng vẫn là nền dân chủ mang tính giai cấp. Thực hiện dân chủ rộng rãi với đông đảo quần chúng nhân dân, đồng thời hạn chế dân chủ và thực hiện trấn áp thiểu số những thế lực phản động chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong nền dân chủ đó, chuyên chính và dân chủ là hai mặt, hai yếu tố quy định lẫn nhau, tác động, bổ sung cho nhau. Đây chính là chuyên chính kiểu mới và dân chủ theo lối mới trong lịch sử.

    Năm là, nếu dân chủ xã hội chủ nghĩa không ngừng được mở rộng cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội; hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế hoạt động và trình độ dân trí.

    Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quá trình tất yếu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã có những luận điểm khái quát về chủ nghĩa xã hội, về dân chủ xã hội chủ nghĩa và tính tất yếu của việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, động lực của quá trình phát triển xã hội, của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là dân chủ. Dân chủ phải được mở rộng để phát huy cao độ tính tích cực, sáng tạo của nhân dân, để nhân dân tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý và phát triển xã hội. “Với việc phát triển chế độ dân chủ một cách đầy đủ. nghĩa là với việc làm cho toàn thể quần chúng nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi công việc quản lý nhà nước” 1.

    Như vậy, thực hiện dân chủ đầy đủ, rộng rãi trở thành một yêu cầu khách quan, một động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể có được bằng phương pháp thực hành dân chủ một cách rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. “Chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống… chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân” 1. Thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chính là quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ mới bảo đảm cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quy luật của sự hình thành và tự hoàn thiện của hệ thống chuyên chính vô sản, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng là quá trình vận động và thực hành dân chủ; là quá trình vận động biến dân chủ từ khả năng thành hiện thực trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; là quá trình đưa các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc của dân chủ vào thực tiễn xây dựng cuộc sống mới. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự trở thành một cuộc cách mạng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng thực hiện chuyển giao quyền lực thực sự về cho nhân dân với mục đích lôi cuốn nhân dân vào quá trình sáng tạo xã hội mới.

    Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là quá trình tất yếu diễn ra nhằm xây dựng, phát triển và hoàn thiện dân chủ, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Trước hết, nó trở thành điều kiện, tiền đề thực hiện quyền lực, quyền làm chủ của nhân dân; là điều kiện cần thiết, tất yếu để mỗi công dân được sống trong bầu không khí thực sự dân chủ.

    Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó, đảng cộng sản. Đây cũng là nhân tố quan trọng chống lại những biểu hiện của dân chủ cực đoan, vô chính phủ, ngăn ngừa mọi hành vi coi thường kỷ cương, pháp luật.

    Tóm lại, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, của quá trình vận động biến dân chủ từ khả năng trở thành hiện thực, để nền dân chủ “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực, và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Những Giải Pháp Cơ Bản Để Xây Dựng Và Phát Triển Nền Dân Chủ Mới Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Bài Tham Luận Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Đoàn Vững Mạnh
  • Giải Pháp Củng Cố, Xây Dựng Cơ Sở Đoàn Vững Mạnh
  • Xây Dựng Chi Đoàn Vững Mạnh
  • Thành Triệu Tập Trung Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Nông Thôn Mới Sơn La: Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Các Phường Tập Trung Xây Dựng Văn Minh Đô Thị, Hướng Tới Phát Triển Toàn Diện
  • Xây Dựng Văn Minh Đô Thị: Khi Vai Trò Của Tổ Chức Đoàn Thể Được Phát Huy
  • Nhiều Sáng Kiến Xây Dựng Nếp Sống Văn Hoá, Văn Minh Đô Thị
  • Hiệu Quả Từ Chương Trình Xây Dựng Nếp Sống Văn Minh Đô Thị
  • Các mô hình kinh tế của Thành Triệu tạo việc làm cho người dân tại địa phương. Duy trì các TC đã đạt

    Thành Triệu có 892,9ha diện tích tự nhiên, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu (trồng dừa và bưởi da xanh); thương mại, dịch vụ phát triển khá tốt.

    Theo Bí thư Đảng ủy xã Thành Triệu Nguyễn Văn Phước, trong nhiệm kỳ 2022 – 2022, Thành Triệu là một trong những xã điểm của tỉnh triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng NTM. Qua 7 năm xây dựng, tháng 1-2019, Thành Triệu đã được công nhận đạt chuẩn xã NTM, hiện xã đang tiếp tục nâng chất các TC để xây dựng NTM nâng cao.

    Ông Nguyễn Văn Phước cho rằng: Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Một vài TC khó do điều kiện khách quan, như: TC số 13 về hình thức tổ chức sản xuất; TC số 17 về chỉ tiêu quy hoạch nghĩa trang nhân dân. Sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM, trong đó tập trung cao trong nhiệm kỳ 2022 – 2022, theo đánh giá chung của Ban Chỉ đạo huyện, có 4 xã được công nhận đạt chuẩn NTM gồm: Hữu Định, Quới Sơn, Thành Triệu, Phú Túc. Đây là sự quyết tâm phấn đấu của toàn đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện nhà trong những năm qua. Song kết quả trên còn rất khiêm tốn. Nếu cho đây là nền tảng để xây dựng cơ bản đạt chuẩn huyện NTM trong nhiệm kỳ 2022 – 2025 thì cần có sự tập trung cao hơn nữa trong thời gian tới.

    Đối với xã Thành Triệu, để xây dựng đạt chuẩn xã NTM nâng cao, so với Bộ TC của UBND tỉnh giai đoạn 2022 – 2022, ngoài việc duy trì giữ vững chất lượng 11/15 TC đã đạt, xã phải tiếp tục thực hiện hoàn thành 4 TC, đó là: TC số 2 về giao thông; TC số 11 về tổ chức sản xuất; TC số 13 về môi trường và an toàn thực phẩm; TC số 14 về hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật. Các TC này được Thành Triệu xác định là TC khó, có chuẩn mới rất cao, nên cần có lộ trình và nhiều giải pháp cụ thể hiệu quả, huy động sự vào cuộc cả hệ thống chính trị, người dân.

    Vào cuộc từ đầu nhiệm kỳ

    Bí thư Đảng ủy xã Thành Triệu cho biết: Sau khi được xét đầu vào xây dựng đạt chuẩn xã NTM nâng cao, xã cần tăng cường lãnh đạo các hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức, trách nhiệm đối với hệ thống chính trị xã, ấp cũng như hộ gia đình. Cần hướng dẫn đến từng người dân nắm rõ chủ trương của xã về xây dựng xã đạt chuẩn NTM nâng cao. Thực hiện phương châm “Quyết tâm giữ vững và phát huy danh hiệu xã NTM”. Rà soát, đối chiếu tỷ lệ đạt của từng TC, xây dựng kế hoạch tập trung lãnh đạo thực hiện bổ khuyết, hoàn thiện đối với các TC có tỷ lệ đạt chưa cao trong thời gian sớm nhất.

    Xây dựng kế hoạch thực hiện Bộ TC nâng cao, tổ chức thực hiện, triển khai, vận hành đồng bộ, kiện toàn lại ban chỉ đạo, tổ giúp việc, điều chỉnh lại quy chế, phân công nhiệm vụ phù hợp, lãnh đạo chặt chẽ công tác phối hợp hành động. Tập trung lãnh đạo định hướng phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác tiềm năng của địa phương và lợi thế của xã NTM về hạ tầng cơ sở. Từng lúc nâng dần thu nhập người dân, quan tâm việc vận động, kêu gọi, huy động các nguồn lực phục vụ kế hoạch xây dựng xã NTM nâng cao.

    “Xây dựng xã đạt chuẩn xã NTM nâng cao – xã NTM kiểu mẫu là hình thức cao của Chương trình MTQG về xây dựng NTM. Trong quá trình tổ chức thực hiện, mỗi địa phương có những thuận lợi, khó khăn nhất định, song đây là chủ trương hợp ý Đảng, lòng dân, là động lực để phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, do đó luôn nhận được sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân”, Bí thư Đảng ủy xã Nguyễn Văn Phước nhấn mạnh.

    “Thành Triệu cần tổ chức triển khai thực hiện tốt, có hiệu quả “Ngày Chủ nhật NTM” theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG tỉnh, tiến tới xây dựng xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu. Tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội cùng chung tay, góp sức xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương”.

    (Bí thư Huyện ủy – Chủ tịch UBND huyện Châu Thành Dương Văn Phúc)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu, Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Của Tỉnh Đồng Tháp Đến Năm 2022 Và Giai Đoạn Sau Năm 2022
  • Tiểu Luận, Luận Án: Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Tiêu Chí Số 17 Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Nam Định: Nghiên Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Kh&cn Nhằm Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Và Giảm Nghèo