Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2022 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Phát Huy Dân Chủ Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Những Điều Cần Chú Ý Khi Nuôi Dưỡng Gà Hậu Bị
  • Bài 57. Đa Dạng Sinh Học
  • Chuyên đề xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì quần chúng nhân dân là nội dung cơ bản và cốt lõi trong tư tưởng của Người. Sinh thời, Người luôn chú trọng công tác chăm lo cho đời sống của nhân dân, phát huy dân chủ. Đặc biệt Người luôn coi trọng việc xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

    HỒ CHÍ MINH VÀ XÂY DỰNG Ý THỨC TÔN TRỌNG NHÂN DÂN

    1. Nhận thức về tư tưởng trong xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng nhân dân đã thể hiện rõ vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc cũng như công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước. Tư tưởng của Người là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin khi nhìn nhận vai trò quyết định trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

    Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh thì yêu nước phải đi liền với thương dân, người cách mạng trung với nước là phải hiếu với dân. Việc này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học, cách mạng mà còn ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

    Ý thức tôn trọng Nhân dân là thể hiện thái độ của người cách mạng hiểu rõ vị trí, vai trò của Nhân dân. Người cho rằng trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân, vẻ vang bằng việc chăm lo đời sống của Nhân dân.

    Sức mạnh của Nhân dân cũng như khối đại đoàn kết dân tộc đã được thể hiện rất rõ trong sự nghiệp cách mạng của Người. Người cho rằng muốn nhận được sự tôn trọng của nhân dân thì trước hết người cán bộ phải hiểu nhân dân, chú trọng và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Nhân dân.

    Người cho rằng mỗi người cán bộ phải tạo được niềm tin trong nhân dân, phải hiểu biết những việc nên làm và không nên làm trong công việc cũng như trong cuộc sống đối với Nhân dân. Để tạo được niềm tin đó thì mỗi người cán bộ phải tự nâng cao nhận thức, có ý thức kỷ luật.

    Đánh giá cao vai trò của Nhân dân, phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tư tưởng của Người đã giải thích dân chủ là dân làm chủ và dân là chủ – nhà nước của dân, do dân và vì dân.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cho Nhân dân hiều được quyền làm chủ của mình, xây dựng một nhà nước thật sự dân chủ, tiến bộ. Nhân dân không chỉ có quyền lợi làm chủ mà phải đi đôi với nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước.

    tôn trọng Nhân dân là phải giải thích cho Nhân dân hiểu rõ, khi Nhân dân chưa hiểu, chưa được giải thích rõ thì không thể thực hành dân chủ thực sự. Khi Nhân dân đã hiểu rõ thì giải quyết vấn đề gì cũng nhanh chóng và đơn giản. Bởi vậy, muốn phát huy dân chủ thì người cán bộ phải gần dân, lắng nghe dân, học hỏi dân để lãnh đạo dân. Chú trọng chăm lo đời sống nhân dân, xóa nạn mù chữ, đặc biệt chú trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân.

    2. Nhận thức về đạo đức trong xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân:

    Tư tưởng đạo đức và tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất cao về ý thức tôn trọng Nhân dân. Trong tư tưởng đạo đức của Người thì Nhân dân không phải tầng lớp thấp kém, đáng khinh rẻ mà là những người chủ thật sự của đất nước, thực hiện quyền dân chủ của mình theo quy định của pháp luật.

    Người cho rằng mỗi cán bộ. chiến sĩ phải nâng cao tinh thần đạo đức, có ý thức tôn trọng Nhân dân vì sức dân là sức nước, việc gì dễ mà mười lần dân không chịu thì cũng thành khó, việc gì khó mà trăm lần mà dân liệu thì cũng xong.

    Đạo đức tôn trọng Nhân dân phải được cán bộ, đảng viên, chiến sĩ thực hiện thông qua việc nêu cao những tấm gương trong sạch, liêm chính. Đặc biệt phải xử lý những người tham ô, tham nhũng trong bộ máy cơ quan Nhà nước đúng theo quy định của pháp luật.

    Tư tưởng đạo đức của Người đã thể hiện rõ người cán bộ, đảng viên phải có lối sống tiết kiệm bởi vì nếu không tiết kiệm mà sống xa xỉ thì sẽ sinh ra tham lam. Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, những người trong các công sở phải làm gương cho dân bắt trước, phải được dân tin cậy.

    Trong đạo đức của người cán bộ phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chỉ có như vậy thì mới có thể làm kiểu mẫu cho Nhân dân, nhận được sự tôn trọng và tin cậy của Nhân dân.

    Nâng cao dân trí, phát triển văn hóa chính trị, tính tích cực của công dân tạo điều kiện cho Nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đất nước, phát huy quyền làm chủ của mình theo quy định của pháp luật. Nhận thức rõ mối quan hệ giữa người cán bộ Nhà nước và Nhân dân là yếu tố quan trọng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Người cán bộ phải gần gũi Nhân dân, thực sự cầu thị và không được chủ quan, phải đi đúng đường lối, kiên quyết dựa vào quần chúng, hướng dẫn quần chúng thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

    Mỗi người cán bộ, đảng viên phải hiểu được mục đích cuối cùng là phục vụ nhân dân, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của Nhân dân, không được mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh.

    Nếu người cán bộ rời xa Nhân dân, không hiểu được nguyên vọng của Nhân dân thì sẽ dẫn tới việc thiếu ý thức đạo đức tôn trọng Nhân dân. Do đó người cán bộ phải quan tâm, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân về mọi mặt kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế, văn hóa để phát huy tiềm năng của mọi người dân trong khuôn khổ pháp luật.

    Khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ Nhân dân phê bình thì việc to mấy, khó mấy cũng không làm được. Người dân trông thấy lợi ích thiết thực chứ không thể lý luận suông do đó phải nhất quán về đạo đức và tư duy của người cán bộ.

    Hồ Chí Minh đã để lại cho thế hệ sau nhiều phẩm chất đạo đức quý báu, nêu cao chủ nghĩa tập thể, bài trừ chủ nghĩa cá nhân, phát huy phẩm chất chí công vô tư trong lối sống và làm việc. Người nêu rõ là làm người cán bộ phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, lòng luôn hướng về Đảng, về Tổ quốc và đồng bào.

    Làm người cán bộ phải đấu tranh quên mình, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân, yêu nước thương dân. Lấy lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động làm động cơ để thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Theo Người, Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do đó phải chăm lo đời sống cho Nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống văn hóa người dân.

    Việc chăm lo đời sống Nhân dân không chỉ trong thời kỳ cách mạng mà cả trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chú trọng chăm lo công ăn việc làm cho người dân, giải phòng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

    Cả cuộc đời Người đã phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân, ngay cả trong Di chúc Người cũng không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình. Người quan tâm đến đời sống Nhân dân, tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo của Nhân dân, chủ trương tăng gia sản xuất và tiết kiệm hũ gạo như mọi người dân.

    3. Nhận thức về phong cách trong xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân:

    Trái tim Người có cùng nhịp đập với Nhân dân, Người sinh ra từ Nhân dân, đấu tranh vì lợi ích của Nhân dân, cuộc đời Người không dính líu tới vòng danh lợi. Người sống hết sức giản dị và mộc mạc. Đây là nhân cách lớn của Người, là cái tâm, cái đức vì dân, vì nước của Người.

    Người luôn giữ tính cách bình dị dù là khi giữ cương vị cao nhất. Luôn chú ý lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, tiếp thu phê bình của quần chúng đồng thời không ngừng học hỏi quần chúng đã làm nên phong cách tôn trọng Nhân dân của Hồ Chí Minh.

    Thể hiện thái độ yêu thương, trân trọng con người, Hồ Chí Minh luôn chú ý giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng Nhân dân, không bao giờ đặt mình cao hơn người khác hay thừa nhận mình là vĩ đại.

    Đặc biệt Người đề cao vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước. Người căn dặn Đảng, Chính phủ phải chú trọng bồi dưỡng, đảm bảo bảo một tỉ lệ phụ nữ thích đáng trong hàng ngũ cán bộ, lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Điều này đã thể hiện tư tưởng lớn của người về quyền bình đẳng cho phụ nữ. Không chỉ vậy mà người còn rất kính trọng người già và yêu thương trẻ em thể hiện nhân cách văn hóa lớn của người.

    Dù công việc bận rộn nhưng Người luôn dành thời gian để nghe dân, hiểu dân, nắm được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của Nhân dân. Người đi về cơ sở, ra thao trường cùng bộ đội, đến hầm mỏ, công trường, bệnh viện, trường học….. đã thể hiện tác phong quần chúng và phong cách phát huy dân chủ của Người. Người thấu cảm được cuộc sống xung quanh, thấu hiểu được nguyện vọng của mọi tầng lớp Nhân dân.

    Người thẳng thắn phê bình thói “quan trên về làng”. Mỗi khi cán bộ về với Nhân dân thì phải hòa nhập với cuộc sống của Nhân dân vậy thì dân mới dám nói, dám phê bình. Người rất đề cao ý thức dân chủ, phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng, tôn trọng tập thể, phát huy vai trò của quần chúng Nhân dân.

    Đối với Người, tình thương yêu dành cho nhân dân cũng chính là trách nhiệm của bản thân phải đủ lớn để Nhân dân tin cậy. Người chỉ ra rằng chính sách của Đảng và Chính phủ là phải chăm lo một cách chu đáo và tận tình cho đời sống Nhân dân. Cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục Nhân dân phát triển kinh tế, nâng cao văn hóa, không để dân đói, dân rét, dân bệnh. Đồng thời, Người luôn gương mẫu đi đầu trong việc chống lãng phí, chống tham nhũng, nói đi đôi với làm.

    NHẬN THỨC VỀ CHỦ TRƯƠNG, NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC TÔN TRỌNG NHÂN DÂN

    1. Nhận thức về chủ trương của Đảng trong xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân:

    Dân vận là việc rất quan trọng vì nếu dân vận kém thì việc gì cũng không thành công. Nhận thức sâu sắc tư tưởng của Người về công tác dân vận, coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của Nhân dân để làm cách mạng.

    Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gần dân, có trách nhiệm, bản lĩnh chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự có ý thức kỷ luật, tiên phong, gương mẫu, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

    Xây dựng cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng đất nước, đấu tranh phòng chống tham nhũng, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, công tác dân vận phải được chú trọng hơn nữa, thực hiện đổi mới và tăng cường mối quan hệ khăng khít giữa Đảng và Nhân dân.

    Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Lắng nghe ý kiến của nhân dân, giải quyết những kiến nghị, khiếu nại của quần chúng nhân dân, tạo được lòng tin và sự tôn trọng của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với từng cán bộ, đảng viên.

    Đảm bảo chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn, xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân và giải quyết được lợi ích chính đáng của nhân dân.

    Thực hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, để cao đạo đức xã hội, thực hiện quyền con người, quyền công dân, tôn trọng và bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân. Phát huy dân chủ trong Đảng, vai trò chủ động sáng tạo, giám sát và phản biện xã hội của Mặt Trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân.

    Cân bằng hài hòa lợi ích chính đáng của các giai tầng trong xã hội, gắn nghĩa vụ với quyền lợi. Coi trọng sức khỏe nhân dân, xây dựng công tác dân số, sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

    2. Nhận thức về nhiệm vụ của Đảng trong xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân:

    Thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng thành chính sách pháp luật. Quan tâm bổ sung quy chế đảm bảo phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân. Nâng cao hiệu quả của bộ máy lãnh đạo Nhà nước, nhất là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

    Thực hiện nghiêm túc, định kỳ việc tiếp dân, đối thoại với nhân dân, xử lý những kiến nghị của nhân dân.

    Xây dựng quy chế về việc lấy kiến đánh giá của nhân dân và doanh nghiệp đối cơ quan Nhà nước, các cán bộ, đảng viên đang làm việc trong bộ máy Nhà nước. Khuyến khích người dân tham gia vào công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí của Đảng, Nhà nước. Nêu cao những tấm gương tự giác trong học tập và làm theo tư tưởng đạo đức hồ Chí Minh.

    Thực hiện có trách nhiệm trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ưu tiên đầu tư ngân sách, nâng cao các dịch vụ công, đảm bảo mỗi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước.

    GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRONG XÂY DỰNG Ý THỨC TÔN TRỌNG NHÂN DÂN

    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng phải được tuyên truyền rộng rãi và đẩy đủ trong mọi tầng lớp nhân dân. Coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng chương trình kế hoạch xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Thực hiện cải cách hành chính để nhân dân tích cực tham gia sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống. Thực hiện tốt việc giám sát và phản biện xã hội, tăng cường đồng thuận trong xã hội.

    Nhận thức sâu sức, đầy đủ về mồi quan hệ giữa Đảng và Nhân dân. Phát huy tinh thần yêu nước trong nhân dân và lòng tự hào dân tộc.

    Mỗi cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, người đứng đầu phải là tấm gương sáng trong việc xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân. Vì dân, vì nước, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tạo được uy tín tốt trong nhân dân, tạo được lòng tin và sự đồng thuận, nhất trí cao trong quần chúng nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh.

    Chống các biểu hiện quan liêu, thờ ơ, xa dân, giải quyết dứt điểm những bức xúc, khó khăn của nhân dân. Chủ động đối thoại trực tiếp với nhân dân, nắm bắt được nguyện vọng của nhân dân.

    Xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về chính sách an sinh xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học. Lấy dân làm gốc, từ đó đề ra những chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với thực tiễn nhu cầu của nhân dân.

    Thực hiện công việc một cách chí công vô tư, khách quan. Trong đạo đức, lối sống và tác phong phải khiên tốn, giản dị nhất là từ những cán bộ chủ chốt ở những cấp cao cho đến những cán bộ ở các địa phương.

    Phải sâu sát thực tế thì mới kịp thời nắm bắt được ý dân, thấu hiểu lòng dân. Gương mẫu đi đầu trong công tác phòng chống tham nhũng, quan liêu và các biểu hiện tiêu cực với nhân dân. Làm việc với thái độ công tâm, nêu cao ý thức phục vụ nhân dân, nâu cao tinh thần yêu nước và ý thức xây dựng Tổ quốc trong thời đại mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Chủ Trương, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022
  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2022 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Phát Huy Dân Chủ Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Theo Bác, muốn thật sự tôn trọng nhân dân thì phải hiểu dân. Chính tài dân, sức dân, của dân, quyền dân, lòng dân, sự khôn khéo, hăng hái, anh hùng đã tạo nên “cái gốc” của dân. Cùng với thái độ đánh giá cao vai trò của nhân dân, ý thức tôn trọng nhân dân còn phải đặc biệt chú ý không xâm phạm đến lợi ích, quyền lợi hợp pháp, không xúc phạm nhân dân. Phải luôn luôn tôn trọng và giữ gìn của công, của nhân dân.

    Phát huy dân chủ là một khía cạnh biểu hiện ý thức tôn trọng nhân dân. Từ chỗ đánh giá cao vai trò của dân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm sao cho họ có năng lực làm chủ, biết hưởng, dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm.

    Dân chủ được Người giải thích ngắn gọn, súc tích là dân làm chủ và dân là chủ. Trong nước dân chủ thì địa vị cao nhất là dân, dân là quý nhất, lực lượng nhân dân là mạnh nhất. Phát huy dân chủ là phát huy tài dân. Muốn vậy, thì phải chịu khó nghe dân, gặp dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân. Học hỏi dân để lãnh đạo dân. Theo Hồ Chí Minh “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân(1).

    Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân là vì con người, do con người, trước hết là vì dân và do dân. Người nói rằng “tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(2)

    Theo Bác, muốn có sức dân, lòng dân thì phải chăm lo đời sống của dân. Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm “đầu tiên là công việc đối với con người”. Người dặn trong Di chúc “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

    Bác Hồ với Đoàn Nghệ thuật thiếu nhi Liên khu X và đội Thiếu sinh quân đến chúc mừng sinh nhật Bác 60 tuổi tại Việt Bắc năm 1950. Ảnh: Tư liệu

    Thứ hai, đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng Nhân dân thể hiện nổi bật ở sự thống nhất giữa tư tưởng đạo đức và tư tưởng chính trị của Người.

    Ý thức tôn trọng nhân dân ở khía cạnh đạo đức cần phải khai thác ở việc coi trọng, đề cao nhân dân. Tôn trọng nhân dân trong đạo đức Hồ Chí Minh là đề cao ý dân, sức dân, bởi “dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Vì vậy, “đối với dân ta đừng có làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”(3). Người yêu cầu cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, yêu kính nhân dân, thật sự tôn trọng nhân dân.

    Đạo đức Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ được hiểu ngắn gọn: dân là chủ và dân làm chủ. Từ chỗ nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức, năng lực làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào công việc của Đảng, Chính phủ, thì một điều quan trọng là tạo điều kiện cho dân “dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(4).

    Đạo đức Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân thể hiện rất rõ ở quan điểm khi Người nói về một trong những điều tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Chăm lo đời sống nhân dân là sứ mệnh của Đảng ta ngay từ khi ra đời. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(5).

    Trăn trở về đời sống Nhân dân, trong Di chúc, Người không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

    Thứ ba, phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng nhân dân xuất phát một cách tự nhiên từ nhân cách, cuộc đời, cái tâm, cái đức vì nước, vì dân của Người. Phong cách tôn trọng nhân dân của Hồ Chí Minh thể hiện nhiều cách. Hồ Chí Minh có cách giao tiếp hoàn toàn mới giữa lãnh tụ và quần chúng nhân dân, thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng con người.

    Phong cách Hồ Chí Minh phát huy dân chủ xuất phát từ chỗ tôn trọng nhân dân, đề cao vai trò, vị trí của nhân dân. Dù bận rất nhiều công việc đối nội, đối ngoại, nhưng về với dân, đến với quần chúng, những người “không quan trọng” để học dân, hỏi dân, hiểu dân, nghe dân nói, thấy dân làm, để nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý là nhu cầu thường trực của Bác.

    Để thực hiện phong cách dân chủ, cần phải hiểu: “nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích. Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”(6). Người chỉ rõ: “để phát huy ưu điểm, điều quan trọng nhất là để cho dân nói. Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(7).

    Bác Hồ thăm nông dân xã Ái Quốc, tỉnh Hải Hưng

    Phong cách Hồ Chí Minh chăm lo đời sống cho nhân dân:

    Trong sự nghiệp kiến thiết chủ nghĩa xã hội, Người cho rằng “hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ”(8). Người nói: “một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu cực khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”, Người biến tình thương thành trách nhiệm của bản thân.

    Theo Người, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải gần gũi nhân dân, quan tâm đến những việc nhỏ cho đời sống hằng ngày của Nhân dân. “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo, tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”(9).

    Nói chuyện tại hội nghị sản xuất cứu đói, Người chỉ rõ: “Khi thiếu gạo, cán bộ không biết tổ chức sản xuất tự cứu, không biết tổ chức nhân dân giúp đỡ nhau. Không biết tổ chức trưng vay. Khi nhận được gạo, lại còn cấp phát tràn lan, chậm chạp, gạo đến người đói chậm, người không đói cũng nhận được gạo. Quá tệ hơn nữa là gạo của Chính phủ giúp dân, chừng một nửa đến tay dân đói, còn một nửa bị tham ô, lãng phí”(10).

    Theo Hồ Chí Minh, tham nhũng là tội ác với dân, cần nghiêm trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai, ở cương vị nào.

    Thực hiện có hiệu quả xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân

    Năm 2022 là năm toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 – 2022); 70 năm Bác viết tác phẩm “Dân vận” (1949 – 2022); 50 năm tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969 – 2022).

    Thứ nhất, đối với tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội:

    Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về “dân làm gốc”; chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân tự do sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.

    Nghiêm túc triển khai thực hiện: Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị khóa XI ” về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội “; Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định “về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền “; Quy định 124-QĐ/TW ngày 2-2-2018 của Ban Bí thư khóa XII về ” G iám sát của M ặt trận T ổ quốc V iệt N am, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên “.

    Thứ hai, đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu, cần chủ động, tích cực trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường; phát huy sức dân, huy động nhân dân tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợi ích của nhân dân.

    Thực hiện nghiêm Quy định 08-Qđi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Nghiêm túc thực hiện yêu cầu về tiếp xúc, trao đổi, đối thoại với nhân dân được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là “cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời”.

    Thứ ba, đối với cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị:

    Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.Tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”.

    Trong đó, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân./.

    (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.432.

    Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo số 12/2018

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Trương, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Bài Thu Hoạch Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Phát Huy Dân Chủ Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Chú Ý Khi Nuôi Dưỡng Gà Hậu Bị
  • Bài 57. Đa Dạng Sinh Học
  • Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Chống Nắng, Nóng Cho Vật Nuôi Trong Mùa Hè
  • Sử Dụng Herbalife Có Phải Là Giải Pháp Dinh Dưỡng Cho Tuổi Già?
  • Herbalife Healthy Meal Giải Pháp Dinh Dưỡng Tế Bào
  • I. TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN TRỌNG NHÂN DÂN, PHÁT HUY DÂN CHỦ, CHĂM LO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân. Cùng nhau tìm hiểu và bổ sung cho mình những kiến thức quan trọng trong việc rèn luyện tư tưởng bản thân. Đừng bỏ lỡ nha!

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng Nhân dân xuất phát từ những bài học lớn được rút ra từ chiều sâu của lịch sử như Nguyễn Trãi đã kết luận: Lật thuyền mới rõ dân như nước. Đồng thời là sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin khi các nhà kinh điển khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân, Nhân dân đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng và kháng chiến thành công, đem lại giá trị lớn nhất là chế độ Dân chủ Cộng hòa. Từ đây, phạm trù “ý thức tôn trọng nhân dân” mới thật sự có ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân văn. Theo Hồ Chí Minh, người cách mạng “yêu nước” là phải “thương dân”, “trung với nước” là phải “hiếu với dân”.

    Tôn trọng Nhân dân trước hết phải có thái độ đánh giá cao vai trò, vị trí của Nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, “vô luận việc gì đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”. Người chỉ ra rằng: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”. Theo Người, “nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng… Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

    Bàn về chữ “Nhân”, Hồ Chí Minh cho rằng “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Bàn về chữ “Thiện”, Người cho rằng “Thiện là tốt đẹp. Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.

    Cùng với thái độ đánh giá cao vai trò của Nhân dân, ý thức tôn trọng Nhân dân còn phải đặc biệt chú ý không xâm phạm đến lợi ích, quyền lợi hợp pháp, không xúc phạm Nhân dân. Phải luôn luôn tôn trọng và giữ gìn của công, của Nhân dân. Hồ chí Minh chỉ rõ tôn trọng Nhân dân có nhiều cách, “không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ. Không được phung phí nhân lực vật lực của dân, Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích. Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân”.

    Phát huy dân chủ là một khía cạnh biểu hiện ý thức tôn trọng Nhân dân. Trong chế độ Dân chủ Cộng hòa, dân là chủ, thì Chính phủ, Đảng, cán bộ từ trung ương đến địa phương đều phải phụng sự Nhân dân, là công bộc của dân, “sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”. Từ chỗ đánh giá cao vai trò của dân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, làm sao cho họ có năng lực làm chủ, biết hưởng, dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm. Dân chủ được Người giải thích ngắn gọn, súc tích là dân làm chủ và dân là chủ.

    Hồ Chí Minh kiên trì xây dựng một nhà nước thật sự dân chủ – nhà nước của dân, do dân, vì dân. Mối quan tâm hàng đầu của Người là làm cho mọi người dân hiểu nhà nước mới, chế độ mới khác nhà nước cũ, chế độ cũ ở điều quan trọng nhất là giá trị dân chủ. Dân chủ tức là Nhân dân có quyền lợi làm chủ và phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Nước dân chủ, chế độ dân chủ thì bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới là trách nhiệm của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Trong nước dân chủ thì địa vị cao nhất là dân, dân là quý nhất, lực lượng Nhân dân là mạnh nhất.

    Phát huy dân chủ là phát huy tài dân. Bởi vì, “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Muốn vậy, thì phải chịu khó nghe dân, gặp dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân. Học hỏi dân để lãnh đạo dân. Theo Hồ Chí Minh “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”.

    Về chăm lo đời sống Nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh là vì con người, do con người, trước hết là vì dân và do dân. Người nói rằng “tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Từ lúc còn là người thiếu niên mười lăm tuổi, Hồ Chí Minh đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Người quyết tâm đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân.

    Cách mạng Tháng Tám thành công, một ngày sau Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách giải quyết những vấn đề về đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Người nhấn mạnh “muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó khăn đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mũ chữ cho dân. Nói tóm lại hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý”.

    Sau khi đã tranh được độc lập rồi thì vấn đề kiến quốc là hết sức quan trọng. Bởi vì, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Với nhận thức đó, cùng với chỉ đạo kháng chiến, Hồ Chí Minh tập trung vào nhiệm vụ kiến quốc. Kháng chiến và kiến quốc gắn bó chặt chẽ với nhau. Muốn kháng chiến thành công thì phải có sức dân, lòng dân. Muốn có sức dân, lòng dân thì phải chăm lo đời sống của dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập”.

    Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh vẫn quan tâm “đầu tiên là công việc đối với con người”. Người dặn trong Di chúc “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

    Đạo đức Hồ Chí Minh về tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân

    Đạo đức Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng Nhân dân thể hiện nổi bật ở sự thống nhất giữa tư tưởng đạo đức và tư tưởng chính trị của Người. Nho giáo nhấn mạnh đạo đức, cường điệu tác dụng của đạo đức là cốt trừ hại cho giới cầm quyền hơn là vì lợi ích của nhân dân. Đó là học thuyết để cho phong kiến trị dân. Trung thành với chế độ phong kiến là đi ngược lại với lẽ tiến hóa tất yếu của con người, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Sự khác nhau căn bản giữa Khổng Tử và Hồ Chí Minh, giữa học thuyết Nho giáo và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là ở chỗ: nhà vua và chế độ phong kiến – cái mà Nho giáo tôn thờ nhất, chính là cái cách mạng lên án và đánh đổ. Hồ Chí Minh không thể chấp nhận lòng trung thành tuyệt đối của Nhân dân bị áp bức đối với chính kẻ áp bức mình là nhà vua và chế độ phong kiến, mà là trung thành với sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, lên án chế độ phong kiến. Điều sâu xa trong mối quan hệ đạo đức với chính trị chính là Hồ Chí Minh đã lật ngược học thuyết Nho giáo, đưa quần chúng Nhân dân chỉ là tầng lớp thấp kém đáng khinh rẻ, cần được chăn dắt theo quan niệm của Nho giáo lên địa vị người chủ của đất nước, thực hiện quyền dân chủ của quần chúng.

    Thắng lợi của cách mạng Việt Nam được tạo nên bởi một tư tưởng lớn, đồng thời là đạo đức lớn. Nhiều luận điểm, mệnh đề trong di sản Hồ Chí Minh vừa là chính trị vừa là đạo đức, như “nước lấy dân làm gốc”; “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, v.v..

    Ý thức tôn trọng Nhân dân ở khía cạnh đạo đức cần phải khai thác ở việc coi trọng, đề cao nhân dân như Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”. Tôn trọng Nhân dân trong đạo đức Hồ Chí Minh là đề cao ý dân, sức dân, bởi “dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Vì vậy, “đối với dân ta đừng có làm điều gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân, yêu kính Nhân dân, thật sự tôn trọng Nhân dân.

    Đã là sâu mọt, khoét đục – nhất là “có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” – thì không thể gọi là trọng dân. Vì vậy, “cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”.

    Đạo đức Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ. Dân chủ như đã bàn đến, được hiểungắn gọn: dân là chủ và dân làm chủ. Từ chỗ nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức, năng lực làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích Nhân dân tham gia vào công việc của Đảng, Chính phủ, thì một điều quan trọng là tạo điều kiện cho dân “dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.

    Nhận thức khoa học và giải quyết tốt mối quan hệ giữa cán bộ và lãnh đạo với Nhân dân trong chế độ dân chủ là một nội dung trọng yếu của đạo đức trong phát huy dân chủ. Sự vi phạm đạo đức về mặt dân chủ có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên là nhận thức không đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ và lãnh đạo, dẫn đến độc quyền, mệnh lệnh, áp đặt kiểu “quan chủ”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên nắm chắc quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, phát động quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan.

    Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ rõ “làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a,b,c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”. Về tư cách người đảng viên, lãnh đạo, Người nói: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân. Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải làm “quan”nhân dân, không ra lệnh, ra oai, không làm quan cách mạng. Quan điểm “mỗi đảng viên và cán bộ phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” cần được hiểu đích cuối cùng là phục vụ nhân dân. Bởi vì, “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”. Hồ Chí Minh giải thích chế độ dân chủ và Đảng lãnh đạo rất rõ ràng: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương, đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”.

    Trong khi đề cao đạo đức về ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh. Bởi vì nguyên nhân của bệnh ấy là do nhiều cán bộ ta xa nhân dân, nên không hiểu biết tâm lý, nguyện vọng của nhân dân. Khinh nhân dân, cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình”; “cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi”.

    Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là phát huy quyền của người dân về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe…; phải quan tâm phát triển năng lực, tiềm năng của mọi người dân.

    Sợ Nhân dân, khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ Nhân dân phê bình mình. Không tin cậy Nhân dân, họ quên rằng không có lực lượng Nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong, có lực lượng Nhân dân, thì việc to mấy, khó mấy làm cũng được. Không hiểu biết Nhân dân, họ quên rằng Nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực, không thể lý luận suông, chính trị suông. Không yêu thương Nhân dân, họ chỉ biết đòi hỏi Nhân dân, không thiết thực giúp đỡ Nhân dân, thậm chí có nơi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân

    Đạo đức Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống Nhân dân. Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu, một cách rất nhất quán về đạo đức. Người để lại cho chúng ta nhiều phẩm chất đạo đức quý báu, cao nhất, cốt lõi là chí công vô tư, tức là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Điểm xuất phát tiến đến chí công vô tư là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”, làm cán bộ, đảng viên là phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

    Đạo đức Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống Nhân dân thể hiện rất rõ ở quan điểm khi Người nói về một trong những điều tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh quan niệm phẩm chất cao đẹp nhất của người cách mạng là “yêu nước, thương dân”, thương nhân loại bị áp bức, bóc lột, lấy điều đó là động cơ để làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Theo Hồ Chí Minh, người cách mạng phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, để hết lòng hết sức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Theo Hồ Chí Minh, phận sự của đảng viên và cán bộ là phải tổ chức Nhân dân, lãnh đạo Nhân dân để giải phóng Nhân dân và và nâng cao sinh hoạt, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa cho Nhân dân. Chăm lo đời sống nhân dân là sứ mệnh của Đảng ngay từ khi ra đời. “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

    Đạo đức là một nét đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thể hiện rõ nhất về đạo đức chăm lo đời sống nhân dân là trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho Nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng Nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Nêu câu hỏi mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì?, Hồ Chí Minh trả lời: “Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. Từ mục tiêu tổng quát, Hồ Chí Minh diễn đạt thành những tiêu chí cụ thể: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”.

    Cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh không chỉ ra vào chốn tù tội, xông pha hiểm nghèo, ẩn nấp nơi núi non vì mục đích phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân, mà Người còn lo toan đến tương, cà, mắm, muối cho dân. Hồ Chí Minh dạy cán bộ, đảng viên tu dưỡng đạo đức không chỉ ở những việc lớn, mà phải quan tâm đến cuộc sống hằng ngày của Nhân dân, từ cái ăn, cái mặc, đi lại, học hành, chữa bệnh. Phải biết tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo của dân. Người cho rằng khi đất nước còn khó khăn, nhân dân còn thiếu thốn thì Chủ tịch nước mặc áo vá là có phúc cho dân tộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước phải trải qua nạn đói khủng khiếp, Hồ Chí Minh chủ trương tăng gia sản xuất, mỗi người mười ngày nhịn ăn một bữa để góp gạo cứu đói và Người cũng đổ lon gạo của mình vào hũ tiết kiệm như mọi người dân.

    Trăn trở về đời sống Nhân dân, trong Di chúc, Người không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

    Phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân

    Phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng Nhân dân xuất phát một cách tự nhiên từ nhân cách, cuộc đời, cái tâm, cái đức vì nước, vì dân của Người. Hồ Chí Minh là con người sinh ra từ Nhân dân, sống giữa lòng dân và cuối đời lại muốn trở về với Nhân dân, làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em, chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi. Người thường nói không có Nhân dân thì không có Bác. Hồ Chí Minh có trái tim đập cùng nhịp, có tâm hồn biết xót xa đến thân phận của những người cùng khổ, của Nhân dân. Chính nhân cách lớn và cuộc đời oanh liệt của Hồ Chí Minh đã tạo ra phong cách tôn trọng Nhân dân ở Người.

    Đứng ở đỉnh cao quyền lực 24 năm từ năm 1945 đến năm 1969 nhưng Hồ Chí Minh không bao giờ hành xử như một người có quyền. Người luôn luôn coi Nhân dân là chủ, giữ địa vị cao nhất, còn mình chỉ là người đày tớ trung thành của dân, phục vụ Nhân dân. Khi được Quốc hội giao giữ vị trí Chủ tịch Chính phủ, Người coi việc “phải gánh chức Chủ tịch là do đồng bào ủy thác”, đảm trách nhiệm vụ Chủ tịch là thực hiện mệnh lệnh của Tổ quốc và Nhân dân. Vì vậy, khi nào “đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui”. Đọc bản Tuyên ngôn độc lập đến giữa chừng, Người dừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”” thật bất ngờ nhưng cũng thật dễ hiểu, vì đó là bản tính bình dị, hồn nhiên của Người luôn đề cao đồng bào, không đặt mình đứng trên Nhân dân. Về thăm lại Pác Bó, Cao Bằng năm 1961, thấy đồng bào tổ chức đón tiếp, Người nói: “Tôi về thăm nhà mà sao lại phải đón tôi!”. Kêu gọi kháng chiến, kiến quốc, xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh thường đặt “đồng bào” lên vị trí hàng đầu. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “từ trong quần chúng, trở lại nơi quần chúng”, và phải “theo đúng đường lối nhân dân”.

    Phong cách tôn trọng Nhân dân của Hồ Chí Minh thể hiện nhiều cách. Người chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết những kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình của quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình mình. Theo Hồ Chí Minh, lãnh đạo quần chúng, đồng thời không ngừng học hỏi quần chúng, vì “quần chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta”; tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng theo tinh thần lãnh đạo là đày tớ, quần chúng là chủ. Người không bao giờ tự đặt mình cao hơn người khác để đòi hỏi một sự tâng bốc, suy tôn; không bao giờ tỏ ra vĩ đại để đòi hỏi Nhân dân thừa nhận mình là vĩ đại. Hồ Chí Minh có cách giao tiếp hoàn toàn mới giữa lãnh tụ và quần chúng Nhân dân, thể hiện thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng con người. Người có sự độ lượng, khoan dung, nâng con người lên, chứ không phải hạ thấp, vùi dập con người.

    Hồ Chí Minh yêu trẻ, kính già, trọng phụ nữ. Đón các cháu thiếu niên, nhi đồng, Người nói với các đồng chí phục vụ rằng “ở nhà các cháu là con, là cháu của các chú, nhưng vào đây các cháu là khách của Bác”. Nhiều chuyện kể cho ta biết về phong cách Hồ Chí Minh tôn trọng phụ nữ như việc Người quan tâm một tỷ lệ nữ thích đáng trong lãnh đạo, số lượng phụ nữ dự các hội nghị và bao giờ Người cũng mời đại biểu phụ nữ lên ngồi những hàng ghế trên. Trong Di chúc, Người dặn Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Những điều đó toát lên một tư tưởng lớn về một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ. Hồ Chí Minh kính trọng người già với một thái độ khiêm nhường thật sự, “vô tiền khoáng hậu”, thể hiện một nhân cách văn hóa. Là một lãnh tụ được tôn vinh là “cha già dân tộc”, được các tầng lớp nhân dân, cả bè bạn thế giới gọi là Bác Hồ, nhưng Hồ Chí Minh vẫn xưng hô mình là cháu đối với cụ Phùng Lục 90 tuổi, một phụ lão cứu quốc ở huyện Ứng Hòa, Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) đã đem món tiền 500 đồng kính dâng Chủ tịch để sung vào Quỹ kháng chiến kiến quốc vào hồi tháng 2-1948.

    Phong cách Hồ Chí Minh phát huy dân chủ xuất phát từ chỗ tôn trọng Nhân dân, đề cao vai trò, vị trí của Nhân dân. Dù bận rất nhiều công việc đối nội, đối ngoại, nhưng về với dân, đến với quần chúng, những người “không quan trọng” để học dân, hỏi dân, hiểu dân, nghe dân nói, thấy dân làm, để nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý là nhu cầu thường trực của Bác. Người ra thao trường cùng bộ đội, “chống gậy lên non xem trận địa”, đến nhà máy, công trường, hầm mỏ, nông trường, hợp tác xã, trường học, bệnh viện. Người đến nhà giữ trẻ, lớp mẫu giáo, ra đồng ruộng, thăm nhà ở công nhân, cán bộ bình thường v.v.. Hàng trăm lần Hồ Chí Minh đi về cơ sở không đơn thuần chỉ là tác phong quần chúng, mà chứa đựng trong đó là phong cách phát huy dân chủ. Bởi vì Người đến với quần chúng là để lắng nghe và thấu hiểu, thấu cảm cuộc sống của mọi tầng lớp Nhân dân miền ngược, miền xuôi, nông thôn, thành thị. Người muốn nghe được tiếng dân, đi vào lòng Nhân dân, hiểu được nhịp đập của cuộc sống xung quanh.

    Phong cách ấy làm cho lãnh tụ và quần chúng hòa nhập với nhau trong sự đồng cảm sâu sắc nhất. Từ đó mọi người có thể nói hết những suy nghĩ trăn trở của mình, còn Người có cơ sở để giải quyết nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của Nhân dân . Người nói: “Cán bộ đi về hợp tác xã không phải chỉ đi vào nhà chủ nhiệm để có chỗ ở sạch sẽ và có cơm nước đàng hoàng mà phải đi vào nhân dân”, phải “ba cùng”. Phê bình thói “quan trên về làng”, Hồ Chí Minh yêu cầu “phải làm sao cho mỗi khi cán bộ về làng, nhân dân niềm nở vỗ vai, mời “anh” uống nước mới tốt. Nếu cán bộ về mà dân trải chiếu hoa, bắt gà làm cơm là không được. Bao giờ dân coi cán bộ là người của dân, đối với cán bộ không còn “lạy cụ ạ” thì dân mới dám nói, dám phê bình”.

    Cùng với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng với cách làm việc tập thể, dân chủ, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh, cái thông minh của tập thể, phong cách phát huy ý thức dân chủ của Hồ Chí Minh còn thể hiện rất rõ đối với quần chúng, phát huy tinh thần làm chủ tập thể của mọi người. Khi bàn cách làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt” với một số cán bộ, Người nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cũng cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa”.

    Trên cơ sở nhận thức dân chúng khôn khéo, hăng hái, anh hùng, Hồ Chí Minh căn dặn mỗi cán bộ khi thực hiện phong cách phát huy dân chủ phải bắt đầu từ mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công việc, mỗi một chính sách của chúng ta, đều phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. Muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng thì phong cách của người cán bộ phải thể hiện sự nhiệt thành, quyết tâm, khiêm tốn, chịu khó.

    a) Về xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân:

    Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân là chủ, Nhân dân làm chủ; tin tưởng ở trí tuệ của Nhân dân, tin vào sức mạnh và lực lượng của Nhân dân để làm cách mạng.

    Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

    Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

    Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; có kế hoạch thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời.

    Củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của Nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của Nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

    Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác.

    Quan tâm điều chỉnh hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội, các vùng miền, các lĩnh vực; gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng, xã hội.

    Xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng; giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện đông người phức tạp, kéo dài.

    Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân.

    c) Chăm lo đời sống cho Nhân dân:

    Động lực thúc đẩy phong trào Nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của Nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh.

    Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống.

    Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động,… Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân.

    Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

    Tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu.

    Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo, Nhân dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên,…

    Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế.

    Coi trọng chăm sóc sức khoẻ Nhân dân, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; xây dựng gia đình hạnh phúc.

    Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật

    Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung Nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

    Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, quy chế bảo đảm phát huy dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân, tôn trọng Nhân dân, chăm lo đời sống của Nhân dân.

    Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, quan tâm thực hiện tốt nhiều nội dung sau đây: “Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Tổ chức thực hiện Quy định 109-QĐ/TW, ngày 03/01/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên” (thay thế Quy định cùng tên số 55-QĐ/TW, ngày 10/01/2012 của Ban Bí thư khóa XI). Trong đó, có riêng một nội dung kiểm tra “về ý thức trách nhiệm phục vụ Nhân dân bằng những việc làm thiết thực, cụ thể; việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo chính đáng của Nhân dân; chống biểu hiện về sự vô cảm, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho Nhân dân”.

    Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định rõ các quan điểm: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các ngành, trong đó ngành Y tế là nòng cốt”; “Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; tổ chức cung cấp dịch vụ công, bảo đảm các dịch vụ cơ bản, đồng thời khuyến khích hợp tác công – tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu; “mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe; được bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và thụ hưởng các dịch vụ y tế”.

    Một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể

    a) Đối với tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội:

    Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, về “dân làm gốc”; xây dựng chương trình, kế hoạch xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ của Nhân dân, chăm lo đời sống Nhân dân trong các ngành, địa phương, cơ quan đơn vị, coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Tập trung chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân.

    Nghiêm túc triển khai thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị khóa XI về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội. Trong Quy chế nêu rõ mục đích: phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Giám sát và phản biện xã hội phải mang tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn.

    Nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền .

    b) Đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu:

    Chủ động, tích cực trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường; phát huy sức dân, huy động Nhân dân tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợi ích của Nhân dân.

    Nói đi đôi với làm, tạo uy tín tốt nhất trong nhân dân, làm gương để Nhân dân noi theo; tiền phong, gương mẫu, có trách nhiệm và chịu trách nhiệm cao nhất.

    Thực hiện nghiêm Quy định 08-Qđi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia – dân tộc và mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Không làm bất cứ việc gì có hại cho Đảng, cho đất nước và nhân dân. Lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

    Thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, hiệu quả.

    Tích cực giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp, bức xúc, tồn đọng kéo dài.

    Nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân.

    Nghiêm túc thực hiện yêu cầu về tiếp xúc, trao đổi, đối thoại với Nhân dân được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”: “cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời”.

    c) Đối với cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị:

    Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

    Thực hiện đúng các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thực hành công vụ, trong quan hệ với Nhân dân. Tích cực tham gia các chương trình mục tiêu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người do Đảng, Nhà nước đề ra và phát động, làm gương và giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, trong cộng đồng.

    Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, tự giác thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “muốn người ta theo mình, phải làm gương trước”.

    Download Bài thu hoạch xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân phát huy dân chủ chăm lo đời sống nhân dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2022 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022
  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Trương, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022
  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Nhóm giải pháp chăm lo đời sống cho người lao động

    Tổng Cty Khánh Việt đã thực hiện tốt công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động: Về đảm bảo tiền lương cho người lao động, Lãnh đạo Cty đã thực hiện tốt công tác khen thưởng và động viên người lao động kịp thời, trả lương theo phương pháp 3P, gắn kết quả công việc với tiền lương động viên người lao động luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ để đạt tiền lương tối đa. Tăng thu nhập cho người lao động, Đảng bộ Tổng công ty Khánh Việt luôn thực hiện tốt phong trào thi đua sáng kiến, cải tiến nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; mở rộng được thị trường tiêu thụ, tạo ra nhiều hơn giá trị gia tăng của sản phẩm, góp phần cải thiện tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời nghiên cứu, đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra các sản phẩm mới với tính cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả hơn.

    Chính sách chăm sóc sức khỏe cho người lao động: Cty đã thực hiện tốt công tác khám sức khỏe định kỳ hàng năm cho người lao động, hỗ trợ người lao động đau ốm, bệnh hiểm nghèo từ 5 – 30 triệu đồng, những trường hợp đặc biệt có thể được xem xét hỗ trợ vượt khung. Các chế độ bồi dưỡng độc hại, chế độ ăn ca, chế độ bảo hộ lao động được đảm bảo; môi trường làm việc luôn được cải thiện, đặc biệt chú trọng công tác an toàn – vệ sinh lao động. Ngoài ra, Đảng bộ đã lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể tổ chức cho người lao động các chuyến tham quan du lịch trong và ngoài nước; các hoạt động văn hóa, thể thao, thành lập quỹ “Mái ấm Công đoàn Khatoco” ; xây dựng website “Diễn đàn tiếng nói Người lao động”, “Bản tin nội bộ” để người lao động theo dõi các hoạt động của Cty, trao đổi kinh nghiệm công tác và các vấn đề về sinh hoạt, đời sống của Người lao động.

    Nhóm giải pháp thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phát huy ý thức tôn trọng Nhân dân, chăm lo đời sống Nhân dân

    Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện công khai, minh bạch các chế độ, chính sách, nhất là các chính sách về quy hoạch, triển khai các dự án và giá cả về đền bù thiệt hại bố trí đất tái định cư, giải phóng mặt bằng, đào tạo nghề, giải quyết công ăn việc làm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của Nhân dân. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên.

    Đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Phát huy hiệu quả và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng tại địa phương.

    Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, kịp thời chấn chỉnh sai phạm, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Tạo điều kiện để Nhân dân tiếp cận với thông tin về các chính sách, pháp luật, về quy hoạch sử dụng đất… Xử lý kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm dân chủ; vận động Nhân dân đấu tranh ngăn chặn các vụ việc tiêu cực, tham nhũng.

    Nhóm giải pháp tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính góp phần đẩy mạnh cải cách chế độ, công chức

    Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; phát huy dân chủ, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng, giám sát hoạt động của các cơ quan; Thường xuyên rà soát, bổ sung các nội quy, quy chế, quy trình làm việc của cơ quan; đặc biệt là phải ban hành chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của viên chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh; triển khai thực hiện Đề án văn hóa công vụ.

    Từng cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu các tổ chức, đơn vị cần phải xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, xác định kết quả, tiến độ thực hiện…Mỗi công chức, viên chức phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chủ động, sáng tạo, hết lòng, hết sức hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao.

    Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, văn hóa công sở… cho đội ngũ công chức, viên chức; thực hiện tốt việc sắp xếp, bố trí công chức, viên chức tại các tổ chức, đơn vị.

    Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của công chức, viên chức; nâng cao ý thức trách nhiệm và thái độ phục vụ Nhân dân; Tạo môi trường làm việc khoa học, tích cực, chủ động, để công chức, viên chức phát huy hết khả năng của mình trong công tác.

    Ông Bùi Mau- Chủ tịch Liên Hiệp các Hội Khoa học &Kỹ thuật tỉnh và ông Trần Mộng Điệp- Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đồng chủ trì Diễn đàn

    Hải Vân – BYGTU

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang
  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Chống Nóng Cho Gia Súc, Gia Cầm
  • Vì Sao Nhu Cầu Protein Ở Vật Nuôi Bị Bệnh Khác Biệt So Với Vật Nuôi Khỏe Mạnh?
  • Herbalife F1 Bữa Ăn Lành Mạnh Dinh Dưỡng Cho Cơ Thể Khỏe Đẹp
  • Thực Phẩm Theo Nhu Cầu Herbalife Protein Giải Pháp Dinh Dưỡng Lành Mạnh
  • Nguyên Nhân Giải Pháp Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em
  • Việc thực hiện tốt nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo Hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2022 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành sẽ làm tăng mối quan hệ khăng khít giữa dân với Đảng, với chính quyền; củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của năm 2022

    Việc thực hiện tốt nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo Hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2022 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành sẽ làm tăng mối quan hệ khăng khít giữa dân với Đảng, với chính quyền; củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của năm 2022.

    Bác Hồ với công nhân Nhà máy xe lửa Gia Lâm (Hà Nội) năm 1955. Ảnh tư liệu

    Hiểu rõ về “ý thức tôn trọng nhân dân”

    PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định, khi bàn tới nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phải khẳng định ý thức tôn trọng nhân dân vừa là tư tưởng, đạo đức, vừa là phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Phúc, ý thức tôn trọng nhân dân theo quan điểm của Bác thể hiện ở 5 nội dung như sau.

    Thứ nhất , thể hiện ở khía cạnh Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá đúng vai trò của nhân dân trong tiến trình lịch sử, trong sự nghiệp cách mạng.

    Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là chủ thể, là người làm nên lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh nội dung đó, nhưng Bác đi vào khía cạnh rất cụ thể, đó là: Chính nhân dân là nguồn gốc sức mạnh của Việt Nam. Nếu không có nhân dân thì sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng không thể hoàn thành được. Trong xây dựng đất nước, sự nghiệp kiến quốc, sự nghiệp đổi mới là của nhân dân.

    Trong cách mạng giải phóng dân tộc, khi mới về nước năm 1942, đồng chí Võ Nguyên Giáp có hỏi Bác: Chúng ta bắt đầu từ đâu? Bác đã trả lời, bắt đầu từ dân. “Phải lo dân trước, súng sau. Có dân thì sẽ có súng, có dân sẽ có tất cả”. Câu nói giản dị này đã đánh giá sự vĩ đại trong tầm nhìn của Bác về nhân dân. Bác Hồ đã phát triển tư tưởng coi trọng dân của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng này được bắt nguồn từ lịch sử của dân tộc Việt Nam đề cao vai trò của người dân.

    Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã căn dặn: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi đã từng nói: “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân?”. Hay Phan Bội Châu cũng đã từng nói:

    “Dân là dân nước

    Nước là nước dân.

    Được lòng dân thì sống, không được lòng dân thì chết”.

    “Mọi cán bộ, đảng viên hiện nay phải hiểu rõ, nhận thức đúng đắn về vai trò của nhân dân để không được coi thường dân hoặc có những hành vi hạ thấp vai trò của nhân dân; thậm chí coi nhân dân như lực lượng thụ động mà mình quản lý, ban ơn.” – PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc nhấn mạnh.

    Thứ hai , thể hiện ở khía cạnh vì dân. Ngay từ những năm 1920, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nói giản dị và ngắn gọn: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Sự nghiệp cách mạng của Đảng ta cũng như tư tưởng của Bác đều hướng tới lợi ích của nước, của dân.

    Năm 1927, trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, Bác Hồ khẳng định lại một lần nữa, cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Quyền ở đây được hiểu là quyền lực và lợi ích, giao cho nhân dân. Đấy là mục tiêu của cách mạng, chứ không phải quyền lực là giao cho một số người được hưởng lợi ích. Lợi ích của cách mạng phải được trao cho dân chúng.

    Năm 1945, cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã nói, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Bản thân người cầm quyền, chính quyền của ta là công bộc của dân, gánh việc chung cho dân, chứ không phải là người thống trị, cai trị dân, mà là người phục vụ dân. Đó là tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh.

    Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng của Bác cần được hiểu rõ và nhấn mạnh, để cán bộ quản lý các cấp hiện nay, từ cấp phường, xã đến cấp Trung ương đừng nghĩ mình là người có quyền hành với dân, đừng “vác mặt làm quan cách mạng”, để dân khinh, dân ghét. Từ đó, có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức cán bộ, đảng viên phải luôn là “công bộc” của dân; không được ở trên dân, mà phải hòa với dân, lo cho dân.

    Trong một lần gọi điện thoại, một đồng chí làm việc ở văn phòng Chủ tịch có nói: “Tôi ở trên Phủ Chủ tịch đây”, Bác chỉ nhẹ nhàng nhắc: Lần sau gọi điện, chú đừng có xưng danh “tôi ở trên Phủ Chủ tịch”. Bác và chú không ở trên ai cả. Bác và chú chỉ là người phục vụ dân thôi. Khi nào dân cần, Bác và chú làm việc. Khi nào dân không cần nữa, Bác và chú nghỉ. Câu nhắc nhở của Bác rất thân tình, nhưng cũng rất sâu sắc về “đạo làm quan” trong chế độ của chúng ta. Đáng buồn là, hiện nay, vẫn còn tồn tại hiện tượng, chỉ có một chút quyền lực trong tay đã hoạnh họe, “bắt nạt” người dân, nên chúng ta càng thấy thấm thía về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

    PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc trao đổi về xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

     

    Thứ tư , thể hiện ở cái khía cạnh học cái hay, cái sáng tạo của dân và để hiểu dân một cách sâu sắc, để xử lý vấn đề tích cực. Vì sự nghiệp cách mạng xét đến cùng là lợi ích vì dân. Ngày 7/6/1960, trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), Bác khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

    Một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam là: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Điều này được ghi rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bổ sung phát triển năm 2011. Điều này cũng bắt nguồn từ tư tưởng của Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng nhân dân. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi bắt đầu quá trình xây dựng, phát triển xã hội mới, Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đó là điều kiện chính trị, xã hội bảo đảm cho thi đua phát triển trong các tầng lớp nhân dân, lực lượng xã hội, lực lượng vũ trang nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược: Kháng chiến, kiến quốc. Người lãnh đạo là Đảng, là người hướng dẫn cho dân, cơ quan chính quyền là người thực thi quyền làm chủ của dân. Chúng ta phải nắm vững điều đó.

    Thứ năm,  thể hiện ở khía cạnh học hỏi nhân dân, nhưng không được “theo đuôi quần chúng”. Điều này Bác đã căn dặn ở trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Theo Bác, trong nhân dân, có bộ phận tích cực, có bộ phần lừng chừng (trung bình) và có bộ phận còn lạc hậu, hạn chế trong nhận thức. Tôn trọng nhân dân là phát huy tính tích cực, cái hay, cái sáng tạo của nhân dân. Nhưng bên cạnh đó, cần giác ngộ, giải thích nâng cao nhận thức của người dân, nhất là bộ phận còn trung bình, lạc hậu.

    Hiện nay, cần phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ người dân để nâng vị trí của người dân, để người ta làm đúng được vị trí đó. Xét đến cùng, như Bác Hồ nói, cần trở lại công tác dân vận – vận động quần chúng.

    Vận dụng tư tưởng xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân trong tình hình mới

    Thực tiễn hiện nay cho thấy, đã có những sự chuyển động tích cực trong việc xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Tây Hồ (Hà Nội)

    Trong đó, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam, tổ chức chính trị-xã hội, nhất là công tác nắm tình hình nhân dân, nhất là ở những địa bàn có vấn đề phát sinh phức tạp; nâng cao hiệu quả công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Ðảng, Nhà nước, nhất là những chính sách mới được ban hành; phát huy vai trò nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Các tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương tới địa phương chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền giải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Các cấp, các ngành nâng cao hiệu quả công tác nắm, đánh giá, dự báo tình hình các tầng lớp nhân dân để chủ động, kịp thời tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy về chủ trương, giải pháp CTDV của Ðảng đáp ứng yêu cầu tình hình mới.

    Tại các kỳ họp của Quốc hội, ý kiến của cử tri cả nước đều được phản ánh tới Quốc hội. Chỉ tính riêng tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV vừa qua, đã có 2.976 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội. Trong đó, có 365 ý kiến, kiến nghị của cử tri được phản ánh qua các Đoàn đại biểu Quốc hội và 2.611 ý kiến, kiến nghị của nhân dân được phản ánh qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên Mặt trận ở Trung ương.

    Các địa phương đã ban hành và thực hiện Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền với nhân dân. Theo đó, các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,… đều trực tiếp đối thoại với người dân. Tính riêng ở tỉnh Hậu Giang, đến nay lãnh đạo tỉnh đã tiếp xúc với người dân 6 cuộc với 3.300 người dân tham dự, với 4.758 ý kiến của người dân. Các huyện, thị, thành tổ chức tiếp xúc 73 cuộc, có 6.879 người dân tham dự, với 9.549 lượt ý kiến của người dân. Xã, phường, thị trấn tổ chức tiếp xúc: 681 cuộc, có 27.770 người dân tham dự, với 4.348 lượt ý kiến của nhân dân.

    Từ thực tiễn đó cho thấy, ý thức về sự tôn trọng nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được thực hiện và phát huy tính tích cực của nó. Từ sự nhận thức sâu sắc, hiểu rõ về ý thức tôn trọng nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có thể vận dụng tư tưởng này một cách tích cực trong tình hình mới, đẩy mạnh việc làm theo gương Bác.

    Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Phúc, để vận dụng tư tưởng ý thức tôn trọng nhân dân hiện nay, trước hết, cần thực hiện đúng và tốt các quy định của “tin dân, hiểu dân, gần dân”.

    Tin dân có nghĩa là tin vào sức mạnh, tin vào bản chất của người dân. Còn có bộ phận nào lừng chừng, lạc hậu, cần phải tuyên truyền, giải thích, giác ngộ cho người dân.

    Hiểu dân có nghĩa là tìm hiểu xem người dân đang mong muốn điều gì; cuộc sống của người dân ra sao, ý nguyện của dân là gì, đời sống của họ có thuận lợi, khó khăn gì.

    Muốn hiểu dân thì phải gần dân, cán bộ không được quan liêu, ngồi bàn giấy dự thảo các chỉ thị, nghị quyết. Cần phải xuống cơ sở, hòa mình với người dân, lắng nghe ý kiến của dân, chống xa dân.

    Nếu có điều gì sai, cần thành thật nhận lỗi trước dân. Bác Hồ đã căn dặn điều này trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. “Nghị quyết gì mà người dân cho là không đúng, thì phải để họ đề nghị sửa chữa”. Phải căn cứ vào đề nghị của người dân rồi mới tính toán các yếu tố khác để có những quyết sách hợp lòng dân, để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống.

    Thứ hai, cần nhất quán phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được thụ hưởng”. Trong đó,  Dân biết: phải công khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để dân biết.

    Dân làm: dân là người làm trực tiếp, người cán bộ chỉ là hướng dẫn.

    Dân kiểm tra: dân là người giám sát xem việc làm có đúng không.

    Quan trọng, dân phải là người được thụ hưởng kết quả tốt đẹp đó.

    Chắc chắn, việc thực hiện tốt nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo Hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2022 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành sẽ làm tăng mối quan hệ khăng khít giữa dân với Đảng, với chính quyền; củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Trường Mầm Non Hạnh Phúc
  • Tập Trung Xây Dựng Tổ Chức Hội Lhpn Vững Mạnh, Tích Cực Tham Gia Xây Dựng Đảng, Xây Dựng Chính Quyền
  • Xây Dựng Tổ Chức Hội Vững Mạnh, Toàn Diện
  • Những Kinh Nghiệm Và Giải Pháp Trong Xây Dựng, Củng Cố Tổ Chức Hội Vững Mạnh Của Hội Lhpn Huyện Hồng Dân
  • Xây Dựng Khách Sạn 3, 4, 5, 6 Sao Theo Tiêu Chuẩn Quy Định Bộ Xây Dựng
  • Chủ Trương, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022
  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2022 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Chủ trương của Đảng về xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân là quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân là chủ, Nhân dân làm chủ; tin tưởng ở trí tuệ của Nhân dân, tin vào sức mạnh và lực lượng của Nhân dân để làm cách mạng. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; có kế hoạch thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân; tập hợp, vận động Nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của Nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của Nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng cây ở xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội, mở đầu Tết trồng cây lần thứ 10, nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Dậu, ngày 16-2-1969 (mồng 1 Tết). Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh

    Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác.

    Quan tâm điều chỉnh hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội, các vùng miền, các lĩnh vực; gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng, xã hội.

    Xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng; giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện đông người phức tạp, kéo dài.

    Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân.

    Về chăm lo đời sống cho Nhân dân: Động lực thúc đẩy phong trào Nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của Nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống.

    Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động,… Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân. Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo, Nhân dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên,… Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế. Coi trọng chăm sóc sức khoẻ Nhân dân, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em; xây dựng gia đình hạnh phúc.

    2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật

    Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung Nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

    Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, quy chế bảo đảm phát huy dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân, tôn trọng Nhân dân, chăm lo đời sống của Nhân dân.

    Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, quan tâm thực hiện tốt nhiều nội dung sau đây: “Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Tổ chức thực hiện Quy định 109-QĐ/TW, ngày 03-01-2018 của Ban Bí thư khóa XII về “công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên” (thay thế Quy định cùng tên số 55-QĐ/TW, ngày 10-01-2012 của Ban Bí thư khóa XI). Trong đó, có riêng một nội dung kiểm tra “về ý thức trách nhiệm phục vụ Nhân dân bằng những việc làm thiết thực, cụ thể; việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo chính đáng của Nhân dân; chống biểu hiện về sự vô cảm, quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho Nhân dân”.

    Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định rõ các quan điểm: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các ngành, trong đó ngành Y tế là nòng cốt”; “Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; tổ chức cung cấp dịch vụ công, bảo đảm các dịch vụ cơ bản, đồng thời khuyến khích hợp tác công – tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu; “mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe; được bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia bảo hiểm y tế và thụ hưởng các dịch vụ y tế”.

    3. Một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể

    Tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, về “dân làm gốc”; xây dựng chương trình, kế hoạch xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ của Nhân dân, chăm lo đời sống Nhân dân trong các ngành, địa phương, cơ quan đơn vị, coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Tập trung chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân.

    Nghiêm túc triển khai thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị khóa XI về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội. Trong Quy chế nêu rõ mục đích: phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Giám sát và phản biện xã hội phải mang tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính xây dựng, tính khoa học và thực tiễn.

    Nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền .

    Triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định 124-QĐ/TW, ngày 02-02-2018 của Ban Bí thư khóa XII về “giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”. Quy định xác định rõ, chủ thể giám sát không chỉ là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương đến cơ sở, mà còn là Nhân dân và Nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; phản ảnh, kiến nghị đến cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan có thẩm quyền về những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

    Cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu chủ động, tích cực trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường; phát huy sức dân, huy động Nhân dân tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợi ích của Nhân dân. Nói đi đôi với làm, tạo uy tín tốt nhất trong nhân dân, làm gương để Nhân dân noi theo; tiền phong, gương mẫu, có trách nhiệm và chịu trách nhiệm cao nhất.

    Thực hiện nghiêm Quy định 08-Qđi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia – dân tộc và mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Không làm bất cứ việc gì có hại cho Đảng, cho đất nước và nhân dân. Lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

    Thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, hiệu quả.

    Tích cực giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp, bức xúc, tồn đọng kéo dài.

    Nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân.

    Nghiêm túc thực hiện yêu cầu về tiếp xúc, trao đổi, đối thoại với Nhân dân được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”: “cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời”.

    Cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

    Thực hiện đúng các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thực hành công vụ, trong quan hệ với Nhân dân. Tích cực tham gia các chương trình mục tiêu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người do Đảng, Nhà nước đề ra và phát động, làm gương và giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, trong cộng đồng.

    Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, tự giác thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “muốn người ta theo mình, phải làm gương trước”.

    Tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư khóa XI về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Trong đó, có yêu cầu cán bộ, đảng viên phải: (1) “Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân”; (2) Về đạo đức, lối sống, tác phong, phải: “Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú”; (3) Về quan hệ với Nhân dân phải: “Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của Nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với Nhân dân và cán bộ dưới quyền. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà Nhân dân”.

    Ban Tuyên giáo Trung ương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022
  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2022 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Phát Huy Dân Chủ Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Những Điều Cần Chú Ý Khi Nuôi Dưỡng Gà Hậu Bị
  • 1- Chủ trương của Đảng

    a) Về xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân

    – Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ; tin tưởng ở trí tuệ của nhân dân, tin vào sức mạnh và lực lượng của nhân dân để làm cách mạng.

    – Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

    b) Về phát huy dân chủ

    – Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện; tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

    – Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội; quy định về việc MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; quy định về giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên; quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác.

    – Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị tập trung giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chú trọng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là điều kiện sống, lao động, học tập, sáng tạo. Quan tâm điều chỉnh hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội, các vùng, miền, các lĩnh vực; gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng, xã hội. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.

    c) Chăm lo đời sống nhân dân

    – Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa với các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế – xã hội; đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả.

    – Tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu. Thực hiện tốt chính sách với người có công; hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi; phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên… Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống nhân dân, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh, an toàn.

    2- Thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật

    – Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; tiếp tục quan tâm, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, quy chế bảo đảm phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng.

    – Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có kết quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện học tập và làm theo gắn với đánh giá, nhận xét cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hàng năm và cả nhiệm kỳ. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

    – Tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy định số 109-QĐ/TW ngày 03/01/2018 của Ban Bí thư (khóa XII) về “Công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”.

    3- Một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể

    Năm 2022 là năm toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 – 2022); 70 năm Bác viết tác phẩm “Dân vận” (1949 – 2022); 50 năm tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969 – 2022).

    Thứ nhất, đối với tổ chức đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội:

    Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về “dân làm gốc”; chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Nhân dân tự do sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Nghiêm túc triển khai thực hiện: Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) “về việc ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội”; Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị quy định “về việc MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”; Quy định số 124-QĐ/TW ngày 2/2/2018 của Ban Bí thư (khóa XII) về “Giám sát của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”.

    Thứ hai, đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu, cần chủ động, tích cực trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường; phát huy sức dân, huy động nhân dân tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợi ích của Nhân dân.

    Thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Nghiêm túc thực hiện yêu cầu về tiếp xúc, trao đổi, đối thoại với nhân dân được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là “cán bộ chủ chốt và cán bộ dân cử các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời”.

    Thứ ba, đối với cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị:

    Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Thực hiện đúng các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực hành công vụ, trong quan hệ với nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, tự giác thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Tự giác thực hiện nghiêm Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

    Trong đó, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Chủ Trương, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Chuyên Đề Tháng 07 Năm 2022 “các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Theo Tư Tưởng,đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2022 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Phát Huy Dân Chủ Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Những Điều Cần Chú Ý Khi Nuôi Dưỡng Gà Hậu Bị
  • Bài 57. Đa Dạng Sinh Học
  • Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Chống Nắng, Nóng Cho Vật Nuôi Trong Mùa Hè
  • Tăng cường xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân là nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo động lực to lớn cho công cuộc đổi mới; đồng thời là giải pháp quan trọng, cấp bách trong xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị giai đoạn hiện nay. Năm 2022 là năm chúng ta kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Người (1969-2019); 70 năm Bác viết tác phẩm Dân vận (1949-2019); 50 năm tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969-2019). Để thực hiện tốt các mục tiêu trọng tâm nêu trên chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau đây:

    a) Đối với Đảng ủy, các Chi ủy, Ban giám đốc, Công đoàn và Đoàn ủy Bệnh viện

    – Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, về “dân làm gốc”; xây dựng chương trình, kế hoạch xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống cán bộ, nhân viên và người lao động xem đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển bệnh viện.

    – Tập trung chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cán bộ, nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị theo pháp luật, góp phần phát triển Bệnh viện, không ngừng nâng cao đời sống cán bộ, viên chức và người lao động.

    – Nghiêm túc triển khai thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị khóa XI về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội.

    – Nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền .

    – Triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định 124-QĐ/TW, ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”.

    b) Đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu Đảng ủy, Chi ủy, Ban giám đốc và các Trưởng khoa/ phòng

    – Chủ động, tích cực trong thực hiện các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển Bệnh viện; phát huy sức mạnh tập thể tham gia thực hiện các mục tiêu đề ra vì lợi ích của tập thể và Nhân dân.

    – Nói đi đôi với làm, tạo uy tín tốt nhất trong cán bộ, viên chức và người lao động, làm gương để cán bộ, viên chức và người lao động noi theo; tiền phong, gương mẫu, có trách nhiệm và chịu trách nhiệm cao nhất.

    – Thực hiện nghiêm Quy định 08-Qđi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, vì lợi ích của Nhân dân, của quốc gia-dân tộc và mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Không làm bất cứ việc gì có hại cho Đảng, cho đất nước và Nhân dân. Lấy ấm no, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

    – Thực hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, hiệu quả.

    – Tích cực giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp, bức xúc, tồn đọng kéo dài.

    – Nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của Nhân dân.

    – Nghiêm túc thực hiện yêu cầu về tiếp xúc, trao đổi, đối thoại với Nhân dân được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với cán bộ, viên chức và người lao động, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, viên chức và người lao động và có biện pháp giải quyết kịp thời.

    c) Đối với cán bộ, đảng viên, viên chức trong Bệnh viện

    – Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và viên chức.

    – Thực hiện đúng các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong thực hành công vụ, trong quan hệ với cán bộ, viên chức và người lao động.

    – Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, tự giác thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vận động cán bộ, viên chức và người lao động tham gia, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “muốn người ta theo mình, phải làm gương trước”.

    – Tự giác thực hiện nghiêm Quy định 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Trong đó, có yêu cầu cán bộ, đảng viên phải:

    + Gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của Nhân dân;

    + Về đạo đức, lối sống, tác phong, phải: “Nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú”;

    + Về quan hệ với Nhân dân phải: “Nêu cao ý thức phục vụ Nhân dân; làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của Nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, chủ động đối thoại với Nhân dân và cán bộ dưới quyền. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà Nhân dân”./.

    BSCKII. Châu Quốc Lượng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân 2022
  • Chủ Trương Của Đảng, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Chủ Trương, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Về Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Nâng Cao Ý Thức Pháp Luật Nhằm Xây Dựng Lối Sống Tuân Thủ Pháp Luật Của Nhân Dân Trong Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Việc Tổ Chức Thực Hiện Pháp Luật Trong Bối Cảnh Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Ở Nước Ta
  • Toàn Quân Tiếp Tục Phấn Đấu, Rèn Luyện Để Mãi Xứng Danh “bộ Đội Cụ Hồ”
  • Phẩm Chất “bộ Đội Cụ Hồ” Là Một Hệ Thống Chuẩn Mực, Giá Trị Nhân Cách Của Người Quân Nhân Cách Mạng
  • Giữ Gìn Và Phát Huy Giá Trị Cốt Lõi Phẩm Chất “bộ Đội Cụ Hồ”
  • 4 Nhóm Giải Pháp Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Một Cửa Liên Thông
  • Xây dựng lối sống, nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện là một trong những chủ trương luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện để xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn; cao về trí tuệ, năng lực, kỹ năng sáng tạo; khỏe về thể chất; nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật”(*). Chính vì vậy, cùng với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, việc nghiên cứu, tìm hiểu về giáo dục nâng cao ý thức pháp luật từ đó xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật của nhân dân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.

    Ý thức pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

    Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đã được đặt thành nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta, được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 và nhiều văn kiện của Đảng. Điều 8 Hiến pháp 2013 đã quy định: ” Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật… “. Đối với mọi công dân với tính chất là thành viên của cộng đồng xã hội, nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi sự ứng xử của người dân và hành vi của họ phải trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi nhà nước phải có một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội; đòi hỏi sự tuân thủ pháp luật nghiêm minh của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân; yêu cầu phải bảo vệ nghiêm ngặt pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống mọi hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân đã được pháp luật quy định.

    Trong một nhà nước pháp quyền XHCN, ý thức pháp luật đóng vai trò quan trọng. Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội.

    Ý thức pháp luật là điều kiện trước tiên để nhà nước thực hiện được vai trò quản lý đối với mọi hoạt động xã hội. Hoạt động quản lý của nhà nước thể hiện trên ba khía cạnh cơ bản, đó là xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Cả ba hoạt động này không thể tiến hành có hiệu quả nếu các chủ thể xã hội không có ý thức pháp luật hoặc ý thức pháp luật không cao. Ý thức pháp luật góp phần quan trọng vào việc duy trì trật tự, kỷ cương của nhà nước và xã hội. Các chủ thể trong xã hội có ý thức pháp luật sẽ đảm bảo việc thực hiện các quy định pháp luật của nhà nước một cách nghiêm minh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Ý thức pháp luật còn góp phần bảo đảm quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của nhà nước; ý thức pháp luật đảm bảo thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân.

    Nhà nước pháp quyền XHCN mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng là nhà nước được xây dựng và hoạt động trên cơ sở pháp luật, là nhà nước trong đó pháp luật được đặt lên hàng đầu, mọi quan hệ xã hội đều phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Điều đó có nghĩa các chủ thể trong xã hội đều cần phải coi pháp luật là thước đo hành vi xử sự, là tiêu chí đánh giá hành vi của con người, muốn vậy cần phải có ý thức pháp luật, cần phải có sự hiểu biết nhất định về pháp luật, có tình cảm đối với pháp luật, từ đó mới có xử sự hợp lý khi tham gia các quan hệ xã hội. Một nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật đòi hỏi mọi thành viên xã hội đều phải tuân thủ pháp luật trong mọi hành vi của mình. Như vậy, không thể nói nhà nước pháp quyền nếu không chú ý đến việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi thành viên xã hội trong nhà nước đó.

    Một số biện pháp nâng cao ý thức pháp luật nhằm xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay

    Việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật là một công việc quan trọng, vừa có tính cấp thiết, vừa là công việc có tầm chiến lược lâu dài. Điều đó xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, của yêu cầu phát huy hơn nữa vai trò của ý thức pháp luật trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay. Để nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

    Trước hết, phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, làm cơ sở cho mọi hoạt động xã hội.

    Pháp luật có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, được coi là phương tiện cơ bản để nhà nước quản lý xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quá trình xã hội. Nói đến một nhà nước pháp quyền là phải nói đến một nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, đủ để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, là cơ sở cho mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân. Trong những năm qua, nhà nước ta cũng đã rất quan tâm đến công tác xây dựng pháp luật và có nhiều hoạt động tích cực đẩy mạnh công tác xây dựng pháp luật, bằng chứng là rất nhiều văn bản pháp luật mới, có chất lượng ra đời, tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ xã hội vận động và phát triển. Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng, quản lý đất nước, hệ thống pháp luật nước ta còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết nhất định, chưa đáp ứng các yêu cầu của một hệ thống pháp luật hoàn thiện như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và các tiêu chuẩn về kỹ thuật pháp lý. Còn có những lĩnh vực của đời sống xã hội chưa được luật hoá, nhiều quan hệ xã hội mới chỉ được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật, do vậy hiệu quả điều chỉnh không cao. Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành còn bộc lộ sự mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đảm bảo tính thống nhất hài hoà, sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật với nhau, giữa văn bản luật và văn bản dưới luật, các văn bản dưới luật với nhau còn khá phổ biến. Đây là hạn chế lớn nhất của hệ thống pháp luật nước ta, điều đó gây khó khăn rất nhiều cho công tác tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật.

    Trong điều kiện hiện nay, để có được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhà nước pháp quyền cần chú ý một số công việc cụ thể như: (1) Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý để cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược pháp luật, các chương trình, kế hoạch xây dựng và hoàn thiện pháp luật; (2) Xây dựng chiến lược phát triển pháp luật gắn với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; (3) Có những biện pháp để nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội với tư cách là cơ quan có chức năng chuyên làm luật; (4) Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ đối với công tác xây dựng các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; (5) Nâng cao chất lượng, năng lực của các cơ quan pháp chế bộ, ngành trong việc ban hành văn bản pháp quy; (7) Nhà nước cần thường xuyên tổ chức công tác rà soát, hệ thống hoá pháp luật và tổng kết kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

    Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong mọi tầng lớp nhân dân.

    Để nâng cao ý thức pháp luật, chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thôi chưa đủ, bên cạnh đó còn cần phải không ngừng bồi dưỡng, giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân. Bồi dưỡng, giáo dục pháp luật là sự tác động một cách có hệ thống, thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật. Để công tác giáo dục nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân đạt hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ một số biện pháp cơ bản sau:

    (1) Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giải thích pháp luật để nhân dân hiểu đầy đủ nội dung của các văn bản pháp luật được ban hành trong từng giai đoạn. Các hình thức thông tin cần được cải tiến cho phù hợp với mỗi nhóm đối tượng trong xã hội để đạt hiệu quả cao nhất. Để thực hiện tốt công tác này, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng để có những hình thức và phương pháp thích hợp, mở rộng tính dân chủ công khai bảo đảm quyền được thông tin của nhân dân.

    (2) Đưa việc giảng dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng và Nhà nước. Công tác giảng dạy pháp luật cần được tổ chức sâu rộng, cho mọi đối tượng, từ các trường phổ thông, trưng học đến đại học và bồi dưỡng ở mọi ngành nghề, lĩnh vực. Để công tác giảng dạy pháp luật đạt hiệu quả, cần xây dựng chương trình, nội dung, giáo trình phù hợp cho từng loại đối tượng theo từng cấp học khác nhau.

    (3) Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp lý có năng lực và trình độ, có phẩm chất chính trị và phong cách làm việc tốt để bố trí vào các cơ quan làm công tác pháp luật, pháp chế. Hoạt động của đội ngũ cán bộ pháp lý này sẽ góp phần nâng cao vai trò của pháp luật, củng cố pháp chế XHCN, góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.

    (5) Thực hiện kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, văn hoá, nâng cao trình độ chung của nhân dân. Đạo đức và văn hoá là những yếu tố quan trọng để tạo ra ý thức pháp luật đúng đắn, đồng thời giữa đạo đức, văn hoá và pháp luật XHCN có quan hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, để giáo dục pháp luật đạt kết quả, cần kết hợp với giáo dục đạo đức và giáo dục nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân.

    Bên cạnh việc ban hành văn bản pháp luật, việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đó, đưa các văn bản đó vào cuộc sống, làm cho chúng phát huy được vai trò điều chỉnh, tác động vào các quan hệ xã hội cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

    Do vậy, để nâng cao ý thức pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, cần tổ chức cho nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật của nhà nước, thông qua quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, nhân dân sẽ được trang bị thêm kiến thức pháp luật và ý thức tôn trọng thực hiện pháp luật. Đối với hoạt động áp dụng pháp luật, đây là hình thức nhà nước thông qua các cơ quan và người có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật. Áp dụng pháp luật được tiến hành khi có những chủ thể không muốn hoặc không đủ khả năng thực hiện pháp luật nếu thiếu sự tham gia của cơ quan nhà nước hoặc cán bộ có thẩm quyền. Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện chức năng của nhà nước, do vậy phải đảm bảo tính sáng tạo, tính tổ chức cao và chặt chẽ. Về nguyên tắc, hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, tuy nhiên hoạt động này sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu có sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân. Hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng để xét xử các hành vi vi phạm pháp luật sẽ tác động đến nhận thức của các đối tượng trong nhân dân, từ đó có tác dụng giáo dục đối với nhân dân, khiến nhân dân có ý thức tuân thủ pháp luật cao hơn.

    Có thể khẳng định, nâng cao ý thức pháp luật, qua đó xây dựng lối sống tuân thủ pháp luật là yêu cầu quan trọng và cấp thiết trong công cuộc xây dựng và quản lý đất nước hiện nay. Công việc này đòi hỏi phải có những đổi mới sâu sắc về nhận thức và thực hiện nhiều giải pháp trên nhiều lĩnh vực, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi cán bộ, nhân dân. Thực hiện đồng bộ một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao dân trí pháp lý, xây dựng ý thức tôn trọng thực hiện pháp luật, đảm bảo cho vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước. Đó cũng chính là mục tiêu, là nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay./.

    TS. GVCC Vũ Thị Hoài Phương

    Học viện Chính trị Khu vực I (*) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XII. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật. Hn 2022, tr29

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Áp Dụng Pháp Luật
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi Pháp Luật Thời Gian Tới
  • Đánh Giá Thực Trạng Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000 Qua Thực Tiễn Giải Quyết Các Vụ Việc Về Hôn Nhân Và Gia Đình Của Ngành Tòa Án
  • Sơ Kết Thi Hành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2014
  • Hội Thảo Khoa Học: Một Số Vấn Đề Về Thực Hiện Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2014
  • Nâng Cao Ý Thức Cá Nhân Để Xây Dựng Không Gian Mạng Lành Mạnh .công An Tra Vinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đấu Tranh Trên Không Gian Mạng Của Lực Lượng 47 Học Viện Lục Quân
  • Tăng Cường Đấu Tranh Trên Không Gian Mạng
  • Một Số Giải Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Quan Điểm Sai Trái Trên Không Gian Mạng Của Đội Ngũ Sĩ Quan Trẻ Ở Học Viện Lục Quân Hiện Nay
  • Bàn Về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đấu Tranh Trên Không Gian Mạng Ở Các Trường Sĩ Quan Trong Quân Đội
  • Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái, Thù Địch Trên Không Gian Mạng
  • Không gian mạng ngày nay trở thành một không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Tuy nhiên, cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng Internet và mạng xã hội để xuyên tạc cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; phát tán tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ngay sau khi Luật An ninh mạng của nước ta được ban hành cũng bị một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí xuyên tạc, phản đối, phủ nhận.

    Một là, Mỗi cá nhân cần nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng.

    Theo đó, Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

    Luật An ninh mạng quy định rõ những hành vi bị cấm như: sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử…). Những quy định này không xâm phạm đến quyền con người, không cản trở tự do ngôn luận, không tạo rào cản, không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân như những thông tin trên mạng xã hội, blog, web phản động tuyên truyền, xuyên tạc trong thời gian vừa qua. Thực hiện đúng Luật, nghĩa là bảo vệ chính mình, người thân và gia đình, đồng thời, góp phần bảo vệ an ninh mạng quốc gia.

    Hai là, Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời…; các thủ đoạn tạo vỏ bọc “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”,… để chống phá; các website giả mạo, các trang mạng có nhiều nội dung thông tin xấu, độc.

    Ba là, Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc các đường link; cảnh giác với trang web lạ (web đen), E-mail chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.

    Sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như tạo thói quen quét virus; thực hiện sao lưu dự phòng trên ổ cứng ngoài, trên mạng nội bộ hoặc trên các dịch vụ lưu trữ đám mây; kiểm tra lộ lọt thông tin tài khoản cá nhân qua Trung tâm xử lý tấn công mạng Việt Nam. Khi phát hiện bị tấn công mạng, nhanh chóng ngắt kết nối mạng; sử dụng các công cụ giải mã độc; báo cho người có trách nhiệm qua đường dây nóng.

    Bốn là, cần biết cách tận dụng, sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mang kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hóa mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

    Với đặc tính không biên giới, không gian mạng có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và tác động đến toàn thế giới. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng bảo đảm an toàn, an ninh mạng của các doanh nghiệp đến ý thức tham gia xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tạo Không Gian Mạng Phát Triển An Toàn, Lành Mạnh
  • Làm Gì Để Có Một Không Gian Mạng Lành Mạnh Tại Việt Nam?
  • Nâng Cao Ý Thức, Trách Nhiệm Để Xây Dựng Không Gian Mạng Lành Mạnh
  • Để Xây Dựng Không Gian Mạng Lành Mạnh, Nhà Nước Và Công Dân Cần Làm Gì?
  • Quản Lý Không Gian Mạng: Cần Xác Định Rõ Trách Nhiệm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100